Hoạt động đấu thầu của Công ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng Hà Nội

LỜI MỞ ĐẦU Trong những năm gần đây, công tác quản lý nền kinh tế nước ta đã có những đổi mới quan trọng. Từ cơ chế quản lý tập trung với một hệ thống kế hoạch cứng nhắc, nền kinh tế nước ta đã chuyển sang vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đổi mới công tác quản lý đã có tác dụng rõ rệt trong việc giữ thế ổn định và tạo nên mức tăng trưởng cao của nền kinh tế quốc dân. Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, quy mô cũng nh

doc57 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1244 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Hoạt động đấu thầu của Công ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng Hà Nội, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ư tốc độ hoạt động trong ngành xây dựng của nước ta ngày càng được mở rộng, thị trường xây dựng ngày một trở lên sôi động hơn. Có thể thấy ở mọi nơi từ đô thị đến nông thôn, đâu đâu trên đất nước ta cũng có những công trường và công trình xây dựng. Với mục đích tạo ra một hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn thiện, Nhà nước đã thực sự quan tâm đến hoạt động đầu tư xây dựng thông qua việc ban hành hàng loạt các văn bản nhằm thống nhất quản lý hoạt động đầu tư xây dựng. Trong xây dựng cơ bản, theo cơ chế cũ chúng ta chủ yếu quản lý bằng phương pháp giao nhận thầu theo kế hoạch. Hiện nay, theo cơ chế mới, chúng ta đang tiến hành áp dụng nhiều phương thức thích hợp với cơ chế thị trường. Ngoài các hình thức giao nhận thầu xây lắp trực tiếp như trước đây ( hiện nay là chỉ định thầu cho những công trình đặc biệt ), chúng ta chủ yếu sử dụng phương thức đấu thầu. Trong khi nước ta còn thiếu vốn đầu tư xây dựng cơ bản, chúng ta không thể không sử dụng vốn có hiệu quả nhất, song chưa có phương thức quản lý nào tối ưu hơn phương thức đấu thầu. Đấu thầu đã tạo lên sức cạnh tranh mới và lành mạnh trong lĩnh vực xây dựng cơ bản. Nó đã tác động lớn đến việc nâng cao hiệu quả và chất lượng của hoạt động xây dựng các công trình giao thông, đáp ứng những đòi hỏi về tiến độ thi công, cũng như nâng cao ý thức pháp luật, tinh thần trách nhiệm của các bên trong một môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, phát huy tối đa vai trò tự chủ, tính năng động trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp xây dựng. Phương thức đấu thầu đã được áp dụng rộng rãi ở hầu hết các nước trên thế giới. Nó được thể hiện bằng Luật đấu thầu FIDIC hay còn gọi là “Điều kiện hợp đồng thi công các công trình xây dựng dân dụng ” do Hiệp hội Quốc tế các kỹ sư tư vấn soạn thảo và được ban hành từ năm 1982, đến năm 1986 có bổ sung sửa đổi. Nội dung và kết cấu của Luật FIDIC rất chặt chẽ, có thể coi là Luật chuẩn của thế giới trong Đấu thầu hiện nay. Ở nước ta, đến nay công tác đấu thầu được điều chỉnh bằng Luật đấu thầu và các văn bản pháp luật khác liên quan đến đấu thầu. Công tác quản lý Nhà nước về đấu thầu trong xây dựng ngày càng hoàn thiện phù hợp dần với thông lệ quốc tế, đã thể hiện một sự nỗ lực, cố gắng lớn của Nhà nước và các cơ quan chức năng. Điều đó chứng tỏ sự quyết tâm đẩy mạnh việc thực hiện công tác đấu thầu ở Việt Nam và khẳng định đây là hình thức không thể thiếu trong hệ thống pháp luật của nước ta. Trong thời gian thực tập tại công ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng Hà Nội, một công ty còn non trẻ trong ngành xây dựng các công trình dân dụng ( chỉ với 6 năm kinh nghiệm), em nhận thấy để công ty có thể tồn tại và phát triển, mở rộng thị trường thì điều cần thiết là phải có các biện pháp quản lý nhằm nâng cao năng lực đấu thầu của công ty, có vậy công ty mới nhận được nhiều công trình hơn, tạo ra việc làm cho người lao động. Để hoàn thành chuyên đề này, em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy – PGS.TS Mai Văn Bưu cùng các anh chị trong công ty TNHH Kỹ Thật Xây dựng Hà Nội. Chuyên đề của em gồm 3 chương: Chương I : Lý luận chung về năng lực đấu thầu của các doanh nghiệp xây dựng Chương II: Thực trạng hoạt động đấu thầu của công ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng Hà Nội Chương III: Một số giải pháp quản lý nâng cao năng lực đấu thầu của công ty. CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC ĐẤU THẦU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG I. ĐẤU THẦU ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG 1. Khái niệm chung về đấu thầu Đấu thầu là một quá trình chủ đầu tư lựa chọn được một nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của mình. Trong nền kinh tế thị trường, người mua tổ chức đấu thầu để người bán (các nhà thầu) cạnh tranh nhau. Mục tiêu của người mua là có được hàng hoá và dịch vụ thoả mãn các yêu cầu về kỹ thuật, chất lượng với chi phí thấp nhất. Mục đích của nhà thầu ( những người bán ) là giành được quyền cung cấp hàng hoá dịch vụ đó với giá đủ bù đắp các chi phí đầu vào và đảm bảo mức lợi nhuận cao nhất có thể. Có thể hiểu ngắn gọn “Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng được các yêu cầu của bên mời thầu trên cơ sở cạnh tranh giữa các nhà thầu.” Giáo trình Hiệu quả và quản lý dự án Nhà nước , tr 250. 2. Một số khái niệm liên quan - Bên mời thầu: là chủ đầu tư hoặc tổ chức chuyên môn có đủ năng lực và kinh nghiệm được chủ đầu tư sử dụng để tổ chức đấu thầu theo các quy định của pháp luật về đấu thầu. - Nhà thầu: là tổ chức kinh tế, cá nhân có điều kiện và tư cách pháp nhân để tham gia đấu thầu. - Gói thầu: là một phần của dự án, trong một số trường hợp đặc biệt gói thầu là toàn bộ dự án; gói thầu có thể gồm những nội dung mua sắm giống nhau thuộc nhiều dự án hoặc là khối lượng mua sắm một lần đối với mua sắm thường xuyên. - Hồ sơ dự thầu là toàn bộ tài liệu do nhà thầu lập theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu và được nộp cho bên mời thầu theo quy định nêu trong hồ sơ mời thầu. - Giá gói thầu: là giá trị gói thầu được xác định trong kế hoạch đấu thầu trên cơ sở tổng mức đầu tư hoặc tổng dự toán, dự toán được duyệt và các quy định hiện hành. - Giá dự thầu là giá do nhà thầu nêu trong đơn dự thầu thuộc hồ sơ dự thầu. Trường hợp nhà thầu có thư giảm giá thì giá dự thầu là giá sau khi giảm. 3. Tác dụng của công tác đấu thầu với các doanh nghiệp xây dựng Đối với các doanh nghiệp xây dựng ( các nhà thầu ): Đấu thầu là một hình thức cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh mà thông qua đó nhà thầu giành cơ hội được nhận thầu khảo sát, thiết kế, mua sắm máy móc thiết bị và xây lắp công trình thông qua việc đánh giá một cách không thiên vị ( theo cùng một chuẩn mực và được đánh giá bởi một hội đồng xét thầu có đủ năng lực và phẩm chất) giữa các đơn vị ứng thầu. Do vậy, Đấu thầu mang lại lợi ích quan trọng là đảm bảo tính công bằng đối với các thành phần kinh tế, không phân biệt đối xử giữa các nhà thầu, tạo sân chơi cho các doanh nghiệp xây dựng cạnh tranh công bằng để nhận được dự án, công trình. 4. Các loại hình đấu thầu + Đấu thầu tuyển chọn tư vấn Đây là một trong những loại hình đấu thầu chuẩn bị và thực hiện đầu tư nhằm lựa chọn nhà thầu thực hiện các công việc:- Tư vấn chuẩn bị đầu tư. - Tư vấn thực hiện đầu tư. - Các tư vấn khác. + Đấu thầu mua sắm vật tư thiết bị Đây là một trong những loại hình đấu thầu thực hiện đầu tư nhằm lựa chọn các nhà thầu thực hiện công việc mua sắm vật tư thiết bị cho dự án. Vật tư thiết bị cho dự án bao gồm thiết bị toàn bộ hoặc thiết bị lẻ, thành phẩm, bán thành phẩm, nguyên liệu và vật liệu. + Đấu thầu xây lắp Là loại hình đấu thầu thực hiện dự án nhằm lựa chọn nhà thầu thực hiện các công việc xây lắp của dự án. + Đấu thầu dự án Là loại hình đấu thầu mà dự án không cần phải chia thành các gói thầu, các dự án thực hiện theo phương thức xây dựng - chuyển giao( BT ) và các dự án thực hiện theo phương thức xây dựng - vận hành - chuyển giao(BOT). Điểm khác biệt giữa đấu thầu dự án và các loại hình đấu thầu trên là nhà thầu trong đấu thầu dự án thực hiện tất cả các hoạt động, từ tư vấn đấu thầu, mua sắm vật tư thiết bị, xây lắp và vận hành, chuyển giao.1` 5. Trình tự thực hiện đấu thầu Bước 1. Chuẩn bị đấu thầu - Lập kế hoạch đấu thầu - Chuẩn bị nhân sự cho công tác đấu thầu - Chuẩn bị hồ sơ mời thầu - Xác đinh tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu Bước 2. Mời thầu - Thông báo hồ sơ mời thầu - Gửi thư mời thầu Bước 3. Nộp và nhận hồ sơ dự thầu Bước 4. Mở thầu - Chuẩn bị mở thầu - Trình tự mở thầu + Thông báo thành phần tham dự + Thông báo số lượng và tên nhà thầu có hồ sơ dự thầu đã nộp + Kiểm tra niêm phong các hồ sơ dự thầu + Mở lần lượt các phong bì đựng hồ sơ dự thầu theo thứ tự đã quy định - Ký xác nhận hồ sơ dự thầu - Thông báo biên bản mở thầu - Đại diện bên mời thầu, nhà thầu, cơ quan quản lý nhà nước ký xác nhận vào biên bản mở thầu Bước 5. Đánh giá hồ sơ dự thầu - Đánh giá hồ sơ dự thầu lựa chọn tư vấn - Đánh giá hồ sơ dự thầu về mua sắm vật tư thiết bị - Đánh giá hồ sơ dự thầu về xây lắp - Các trường hợp xem xét lại kết quả đấu thầu Bước 6. Trình duyệt kết quả đấu thầu Bước 7. Công bố kết quả đấu thầu Bước 8. Thương thảo, hoàn thiện và ký kết hợp đồng. II. NĂNG LỰC ĐẤU THẦU 1 Khái niệm năng lực đấu thầu Khi nói đến năng lực của doanh nghiệp là nói đến nội lực bên trong của doanh nghiệp, trong đó có các năng lực về tài chính, kỹ thuật, công nghệ, đội ngũ lao động, marketing, tổ chức quản lý của doanh nghiệp. Có nội lực là điều kiện cần, còn điều kiện đủ là doanh nghiệp phải biết sử dụng, phát huy tất cả các nội lực đó để phục vụ cho các cuộc cạnh tranh khác nhau tạo ra lợi thế hơn hẳn so với các đối thủ cạnh tranh. Như vậy, năng lực của doanh nghiệp chính là nội lực của danh nghiệp và việc sử dụng nội lực đó để tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Cũng như cách hiểu về năng lực của doanh nghiệp thì năng lực đấu thầu của doanh nghiệp chính là năng lực trong công tác đấu thầu của doanh nghiệp.Nó bao gồm tất cả nội lực của doanh nghiệp và cách sử dụng các nội lực đó để tạo ra lợi thế trong việc tham gia đấu thầu, để nâng cao khả năng thắng thầu cho doanh nghiệp. Như vậy, Năng lực đấu thầu của doanh nghiệp là toàn bộ nguồn lực về tài chính, máy móc thiết bị, công nghệ thi công công trình, cách thức tổ chức quản lý, trình độ đội ngũ lao động...kết hợp với quá trình xử lý thông tin và chiến lược cạnh tranh trong công tác dự thầu của công ty. 2. Sự cần thiết nâng cao năng lực đấu thầu của các doanh nghiệp xây lắp Trong những năm gần đây, quy mô cũng như tốc độ hoạt động trong ngành xây dựng của nước ta ngày càng được mở rộng, thị trường xây dựng ngày một trở lên sôi động hơn. Có thể thấy ở mọi nơi từ đô thị đến nông thôn, đâu đâu trên đất nước ta cũng có những công trường và công trình xây dựng. Bên cạnh sự phát triển của thị trường xây dựng, các doanh nghiệp xây dựng cũng mọc ra như nấm tạo ra môi trường cạnh tranh khốc liệt trong thị trường xây dựng hiện nay. Trong điều kiện cạnh tranh đó, việc đấu thầu để nhận được hợp đồng, đặc biệt là hợp đồng có giá cao để thi công có lợi nhuận đối với các doanh nghiệp là hết sức khó khăn. Do cạnh tranh nên các doanh nghiệp phải tìm mọi cách để thắng thầu mà nhân tố quyết định đến khả năng thắng thầu chính là năng lực đấu thầu của doanh nghiệp. Do đó, năng lực đấu thầu có thể nói là nhân tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của công ty xây dựng. Năng lực đấu thầu của doanh nghiệp còn trở lên cấp bách hơn khi nền kinh tế Việt Nam chuyển sang cơ chế thị trường, hội nhập toàn cầu và ngày càng có nhiều công trình được thực hiện theo phương thức đấu thầu quốc tế - với sự tham gia của các nhà thầu nước ngoài. Năng lực đấu thầu thể hiện nội lực, khả năng thực tế của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp hiểu rõ khả năng bản thân thì doanh nghiệp sẽ đưa ra được những quyết định mang tính khả thi khi đứng trước những sự lựa chọn khi tham gia tranh thầu, để vừa giải quyết được việc làm, vừa thu được lợi nhuận cáo cho công ty. Như vậy, doanh nghiệp muốn tồn tại và nâng cao khả năng cạnh trạnh của mình trên đấu trường xây dựng buộc doanh nghiệp phải tìm cách nâng cao năng lực đấu thầu. 3. Các chỉ tiêu đánh giá năng lực đấu thầu của các doanh nghiệp xây dựng 3.1 Chỉ tiêu về năng lực tài chính Hoạt động tài chính là một trong những nội dung cơ bản của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm giải quyết các vấn đề kinh tế, kỹ thuật công nghệ, lao động… phát sinh trong quá trình kinh doanh. Hoạt động sản xuất kinh doanh ảnh hưởng đến tình hình tài chính, ngược lại tình hình tài chính tốt hay xấu sẽ có tác động thúc đẩy hay cản trở quá trình sản xuất kinh doanh. Năng lực tài chính của nhà thầu khi tham dự thầu là khả năng đảm bảo về vốn và các điều kiện tài chính của nhà thầu để có thể thực hiện phần công việc được giao trong hợp đồng. Cùng với giá bỏ thầu, đây là một trong những tiêu chí quan trọng giúp các chủ đầu tư lựa chọn được nhà thầu có đủ năng lực hoàn thành các phần việc đã đề ra trong hồ sơ mời thầu. Trước hết, năng lực tài chính của một doanh nghiệp thể hiện ở qui mô về nguồn vốn tự có, khả năng huy động và hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đó. Nếu nhà thầu nào yếu kém về mặt tài chính, khả năng huy động vốn không cao thì sẽ không đảm bảo được tiến độ thi công, chất lượng công trình trong trường hợp sự cố xảy ra. Một doanh nghiệp xây dựng với khả năng tài chính cao, có thể tham gia đấu thầu nhiều công trình trong một năm, có nhiều cơ hội để đầu tư thiết bị, máy móc nhằm đáp ứng yêu cầu thi công và đòi hỏi của quy trình công nghệ hiện đại. Đồng thời luôn giữ được uy tín đối với nhà cung cấp vật tư và các tổ chức tín dụng. Năng lực tài chính của doanh nghiệp được đánh giá thông qua các chỉ tiêu: + Cơ cấu vốn: - Tổng tài sản - Tài sản cố định/ tổng tài sản -Tài sản lưu động/ tổng tài sản Chỉ tiêu này cao chứng tỏ khả năng huy động của doanh nghiệp là cao có thể đáp ứng yêu cầu về vốn của các công trình xây dựng. + Khả năng thanh toán: - Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn ( TSLĐ và đầu tư ngắn hạn / Nợ ngắn hạn ) Khả năng thanh toán nhanh ( TSLĐ – Giá trị hàng tồn kho/ Nợ ngắn hạn) + Doanh thu, lợi nhuận: - Doanh thu trung bình từ 3-5 năm gần kề - Tỷ suất lợi nhuận trước thuế / doanh thu Tỷ suất lợi nhuận sau thuế / doanh thu Suất sinh lời của tài sản Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu ( lợi nhuận sau thuế / vốn chủ sở hữu bình quân ) + Giá trị hợp đồng đang thực hiên dở dang + Và một số chỉ tiêu khác 3.2 Chỉ tiêu về năng lực kỹ thuật Trong đấu thầu xây lắp, đây là chỉ tiêu cơ bản dùng để xét thầu. Khả năng đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật đóng vai trò quyết định đến chất lượng công trình, thể hiện rõ nét năng lực của nhà thầu. Tiêu chuẩn đánh giá về mặt kỹ thuật bao gồm các nội dung về mức độ đáp ứng đối với các yêu cầu về thiết kế kỹ thuật và tiên lượng kèm theo, cụ thể: + Tính hợp lý và tính khả thi của các giải pháp kỹ thuật, biện pháp tổ chức thi công. + Bảo đảm điều kiện vệ sinh môi trường và các điều kiện về phòng cháy, chữa cháy, an toàn lao động… + Mức độ đáp ứng của các thiết bị thi công ( số lượng, chủng loại, chất lượng và tiến độ huy động ), vật tư và nhân lực phục vụ thi công. + Mức độ đáp ứng các yêu cầu về bảo hành + Các biện pháp bảo đảm chất lượng công trìnhLuật đấu thầu, số 61/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 Chất lượng công trình cao doanh nghiệp sẽ có khả năng thắng thầu cao hơn và ngược lại. Nhà thầu nào có khả năng đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật bằng các giải pháp kỹ thuật hợp lý nhất sẽ đảm bảo chất lượng công trình cao nhất. Nhà thầu cần đảm bảo được tính khả thi, hợp lý và hiệu quả của các giải pháp thiết kế kỹ thuật, biện pháp tổ chức thi công, mức độ đáp ứng của các thiết bị thi công đã được trình bày trong hồ sơ dự thầu. 3.3 Chỉ tiêu đáp ứng về tiến độ thi công Tiến độ thi công là thời gian cần thiết để nhà thầu hoàn thành công trình. Tiến độ thi công phải được đảm bảo đúng như dự tính trong hồ sơ dự thầu, nó cũng là chỉ tiêu không nhỏ để đánh giá năng lực của nhà thầu. Nhà thầu cần có sự nghiên cứu kỹ lưỡng từng khâu, từng giai đoạn của quá trình thi công để đưa ra được thời gian thi công công trình ngắn nhất nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng công trình. Đảm bảo tốt tiến độ thi công doanh nghiệp không những tiết kiệm được phần chi phí phát sinh mà còn tạo được uy tín với chủ đầu tư và củng cố được vị trí của doanh nghiệp trên thị trường. 3.4 Chỉ tiêu về giá dự thầu Chỉ tiêu về giá là một chỉ tiêu kinh tế, có vai trò quan trọng nhất trong việc quyết định nhà thầu trúng thầu hay không và ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Giá dự thầu là giá do các nhà thầu ghi trong hồ sơ dự thầu sau khi đã trừ phần giảm giá ( nếu có) bao gồm toàn bộ các chi phí cần thiết để thực hiện gói thầu. Doanh nghiệp khi tham gia tranh thầu muốn thắng thầu phải đưa ra được mức giá dự thầu hợp lý, là mức vừa phải được chủ đầu tư chấp nhận, đồng thời phải bù đắp được chi phí và đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Thông thường mức giá dự thầu hợp lý nhất là mức giá đưa ra thấp hơn giá xét thầu từ 3-5%. Đối với các chủ đầu tư, việc xác định giá đánh giá đối với các giá dự thầu là xác định chi phí trên cùng một mặt bằng về kỹ thuật, tài chính, thương mại và các yếu tố khác nhằm so sánh, xếp hạng các hồ sơ dự thầu. Theo Luật Đấu thầu ngày 29 tháng 11 năm 2005, việc xác định giá thực hiện theo trình tự sau: -Xác định giá dự thầu - Sửa lỗi - Hiệu chỉnh các sai lệch Giá dự thầu sau sửa lỗi và hiệu chỉnh sai lệch được gọi là giá đề nghị trúng thầu. -Chuyển đổi giá đề nghị trúng thầu sang một đồng tiền chung -Đưa các chi phí về một mặt bằng để xác định giá đánh giá, bao gồm: + Các chi phí về kỹ thuật như: tiến độ thực hiện. chi phí quản lý, vận hành,duy tu, bảo dưỡng, tuổi thọ công trình và các yếu tố kỹ thuật khác tuỳ theo từng gói thầu. + Điều kiện tài chính,thương mại + Các yếu tố khác Hồ sơ dự thầu có giá đánh giá thấp nhất sẽ được xếp thứ nhất ( giá đánh giá thấp nhất là mức giá thấp nhất mà chủ đầu tư nhận thấy sau khi xác định các chi phí trên cùng một mặt bằng ). III. CÁC YẾU TỐ QUẢN LÝ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC ĐẤU THẦU CỦA DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG 1.Chính sách giá của doanh nghiệp Khi đánh giá xếp hạng nhà thầu trong trường hợp đấu thầu mua sắm hàng hoá, xây lắp và EPC nhà thầu sẽ được xem xét đề nghị trúng thầu khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau: -Có hồ sơ dự thầu hợp lệ. - Được dánh giá là đáp ứng yêu cầu về năng lực, kinh nghiệm - Có đề xuất về mặt kỹ thuật được đánh giá là đáp ứng yêu cầu theo hệ thống điểm hoặc theo tiêu chí “đạt”, “không đạt”. - Có chi phí hợp lý nhất trên cùng một mặt bằng. - Có giá đề nghị trúng thầu không vượt quá giá gói thầu được duyệt. Từ đó cho thấy giá dự thầu là một trong những yếu tố quan trọng để lựa chọn các nhà thầu trong cuộc đấu thầu. Do đó các nhà thầu phải chuẩn bị giá dự thầu riêng của mình có tính cạnh tranh cao. Để giá bỏ thầu của doanh nghiệp có ưu thế cạnh tranh đòi hỏi phải có chính sách về giá một cách linh hoạt dựa trên cơ sở: Năng lực thực sự của doanh nghiệp, mục tiêu tham gia đấu thầu, quy mô đặc điểm của dự án, phong tục tập quán của địa phương có dự án được thi công… Việc xây dựng giá bỏ thầu phụ thuộc lớn vào mục tiêu đấu thầu của doanh nghiệp. Sách lược định giá dự thầu có 2 loại: (1) định giá dự thầu để có thể đạt tới lợi nhuận dự tính khi được trúng thầu.(2) định giá dự thầu hướng tới trúng thầu dù lợi nhuận thấp, nhằm chứng tỏ năng lực nhận thầu các gói thầu tiếp theo hay để thâm nhập thị trường mới hoặc đang lúc thiếu việc làm. Nhưng dù áp dụng sách lược nào thì trước tiên phải đưa ra được ước toán về giá thành đủ độ tin cậy, sai số thấp để dựa vào đó mà định giá dự thầu. Theo điều 31 Luật đấu thầu thì doanh nghiệp có thời gian rất ngắn để định giá dự thầu, vì vậy nếu không có phương pháp ước toán nhanh và đúng đắn thì rất khó đưa ra giá dự thầu kịp thời và có độ tin cậy cao. Có hai tuyến kỹ thuật ước toán: từ trên xuống và từ dưới lên. Ước toán từ trên xuống dựa trên kinh nghiệm và sự phán đoán của các chuyên gia, của nhân viên quản lý cấp cao và cấp trung hoặc dựa trên số liệu lịch sử, tham khảo các đơn giá tổng hợp (còn gọi là chỉ tiêu tổng hợp). Ước toán theo tuyến này thì nhanh nhưng sai số lớn. Ước toán từ dưới lên do các chuyên viên tính toán cho từng hạng mục nhỏ rồi tập hợp thành ước toán cho toàn bộ dự án. Ước toán theo tuyến này thì có độ tin cậy cao nhưng lại đòi hỏi thời gian. Để tận dụng ưu điểm của mỗi loại, nhà thầu hay dùng kết hợp cả hai cách ước toán từ trên xuống và từ dưới lên như sau: chọn một hạng mục tiêu biểu nào đó của dự án để ước toán giá thành, sau đó suy rộng ra cho toàn bộ dự án bằng cách kết hợp với các phương pháp ước toán khác như phương pháp so sánh, phương pháp tham số. Sai số ước toán từ trên xuống có thể khoảng + 35% hoặc lớn hơn, nhưng ước toán hỗn hợp thì có sai số trong khoảng + 15 %. Đấy là những cách ước toán gần đúng. Còn nếu có tài liệu về công trình tương đối hoàn chỉnh thì có thể ước toán sát đúng từ các bộ phận nhỏ của công trình rời cộng lại thành ước toán chung theo cách ước toán từ dưới lên, gọi là ước toán xác thực hoặc ước toán từ gốc có sai số chỉ trong khoảng + 5 %. Ngoài việc nghiên cứu phương pháp ước toán nhanh và chính xác, doanh nghiệp cần cập nhật thông tin về vật liệu, thiết bị, công nghệ thi công mới, lao động tại địa điểm công trường để đề xuất các sáng kiến đối với các thiết kế và đề ra các phương pháp thi công để giảm chi phí, tạo uy tín với chủ đầu tư, từ đó nâng cao năng lực đấu thầu của công ty. 2. Chính sách kỹ thuật của công ty Chính sách kỹ thuật của công ty là chiến lược hay hướng phát triển về mặt kỹ thuật của công ty, nó bao gồm các biện pháp về nguồn nhân lực kỹ thuật và máy móc trang thiết bị, công nghệ thi công. Chính sách kỹ thuật ảnh hưởng rất lớn đến năng lực đấu thầu của doanh nghiệp vì điểm kỹ thuật trong hồ sơ dự thầu phải đạt 70% tổng số điểm trở lên mới được coi là đạt và mới được xem xét đến các điều kiện tiếp theo. + Về mặt nhân lực kỹ thuật Nguồn nhân lực của bộ phận kỹ thuật là yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng lớn đến sự thành công hay thất bại trong việc tham gia dự thầu.Ngay cả khi nhận được gói thầu, các cán bộ và công nhân kỹ thuật cũng có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng, tiến độ các công trình. Nếu các cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn giỏi và số lượng công nhân kỹ thuật nhiều, sẽ vừa đảm bảo được chất lượng công trình vừa đảm bảo được tiến độ thi công. Các cán bộ kỹ thuật sẽ làm nhiệm vụ nghiên cứu, tính toán các giải pháp kỹ thuật, các biện pháp tổ chức thi công, từ đó kết hợp với phòng tài chính - kế toán, phòng kinh doanh để xác định xem có nên tham gia đấu thầu hay không, giá dự thầu là bao nhiêu…Và khi nhận thầu, cán bộ kỹ thuật phải triển khai các biện pháp thi công, đôn đốc, giám sát, kiểm tra chất lượng các hạng mục của công trình, do vậy chất lượng công trình tốt hay xấu là do cán bộ kỹ thuật. Vì vậy cán bộ kỹ thuật cần có trình độ chuyên môn, nắm bắt nhanh nhạy các công nghệ thi công hiện đại trên thế giới, có như vậy mới đáp ứng được các yêu cầu về kỹ thuật của chủ đầu tư. + Về máy móc trang thiết bị, công nghệ thi công Máy móc thiết bị là bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất trong tài sản cố định của doanh nghiệp. Nó là thước đo cho trình độ kỹ thuật, thể hiện năng lực sản xuất hiện có, là nhân tố quan trọng góp phần tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong đấu thầu. Năng lực về máy móc thiết bị được chủ đầu tư đánh giá cao, nó là điều kiện cần và đủ để công ty có đủ năng lực thi công các công trình với khối lượng lớn và đáp ứng được các yêu cầu về tiến độ, chất lượng công trình. Để đánh giá về năng lực máy móc thiết bị và công nghệ, chủ đầu tư có thể dựa vào các đặc tính như: tính hiện đại, tính đồng bộ, tính hiệu quả và tính đổi mới của máy móc thiết bị, số lượng thiết bị thi công sẵn có, khả năng huy động nguồn lực máy móc…Nếu doanh nghiệp có số lượng thiết bị máy móc đủ với số lượng yêu cầu trên công trường, hay trong những trường hợp cần thiết phải huy động máy móc hiện đại mà doanh nghiệp có thể đáp ứng một cách nhanh chóng, thì tiến độ sẽ nhanh hơn do không phải mất thời gian chờ đợi (máy về mới làm việc được )và các công nhân kỹ thuật cũng có thể phối hợp làm việc nhịp nhàng, hiệu quả do số lượng thiết bị phù hợp với số lượng công nhân trên công trường. Chính vì vậy mà năng lực đấu thầu cũng bi ảnh hưởng bởi năng lực về máy móc thiết bị công nghệ vì nó ảnh hưởng lớn tiến độ công trình. Để nâng cao năng lực máy móc thiết bị doanh nghiệp cần đầu tư mua sắm, cập nhật những máy móc thiết bị, công nghệ hiện đại trên thế giới để nâng cao hiệu quả, tăng năng suất lao động, từ đó đảm bảo tiến độ thi công. 3. Chính sách về tài chính Khả năng tài chính của doanh nghiệp được thể hiện ở quy mô của nguồn vốn tự có,cơ cấu giữa vốn cố định và vốn lưu động, khả năng huy động các nguồn vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh và hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đó. Chính sách tài chính rất quan trọng đối với các nhà thầu không chỉ trong quá trình xét thầu mà cả trong quá trình thi công xây lắp sau khi trúng thầu, mang tác dụng tích cực trong quá trình đấu thầu. Trong đấu thầu, khả năng tài chính là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá nhà thầu, điều quan trọng hơn là một doanh nghiệp với khả năng tài chính mạnh, cho phép đưa ra quyết định giá bỏ thầu một cách sáng suốt và hợp lý hơn. Với những công trình đã thắng thầu, năng lực tài chính mạnh giúp cho doanh nghiệp hoàn thành tiến độ thi công , đảm bảo công trình có kỹ thuật, chất lượng tốt, tiến độ thi công đảm bảo tạo uy tín và niềm tin cho chủ đầu tư. Doanh nghiệp nào có sức mạnh tài chính còn cho phép mua sắm mới các máy móc thiết bị, công nghệ hiện đại nhằm ngày càng nâng cao năng lực về mọi mặt cho doanh nghiệp. Chính vì vậy, doanh nghiệp cần có các biện pháp nâng cao năng lực tài chính sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực đấu thầu của doanh nghiệp xây lắp. 4. Nhân lực của doanh nghiệp Đây là yếu tố cơ bản và đặc biệt quan trọng của doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh. Đánh giá nguồn nhân lực của doanh nghiệp chủ đầu tư đặc biệt chú trọng đến vấn đề: -Cán bộ quản trị cấp cao ( ban giám đốc doanh nghiệp ) là những cán bộ quản trị cấp cao, họ quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp và chịu trách nhiệm về những quyết định kinh doanh của mình. Khi đánh giá bộ máy lãnh đạo, chủ đầu tư thường quan tâm đến tiêu thức kinh nghiệm lãnh đạo, trình độ các hoạt động, phẩm chất kinh doanh của doanh nghiệp, sâu xa hơn nữa là tinh thần đoàn kết, hợp lòng của cán bộ công nhân cũng nhưu của ê kíp lãnh đạo. Điều này vừa tăng sức mạnh của chính doanh nghiệp, vừa tạo ra uy tín với chủ đầu tư. -Cán bộ quản tri cấp trung gian. Đội ngũ cán bộ cấp trung gian đứng trên cấp quản trị viên cơ sở và dưới cấp quản trị cao cấp. Ở cấp này các quản trị viên có chức năng thực hiện các kế hoạch và chính sách của tổ chức bằng cách phối hợp các công việc được thực hiện nhằm dẫn đến sự hoàn thành mục tiêu chung. -Cán bộ quản trị cấp cơ sở, công nhân. Đây là đội ngũ các nhà quản trị ở cấp bậc cuối cùng trong hệ thống cấp bậc của các nhà quản trị trong doanh nghiệp. Đội ngũ quản trị này lãnh đạo lực lượng lao động trực tiếp, tạo nên sức mạnh tổng hợp của doanh nghiệp trên các khía cạnh như chất lượng, tiến độ thi công công trình. Người phụ trách đơn vị phải có trình độ quản trị ( tổ chức điều phối lao động và thiết bị hợp lý, tránh lãng phí nhằm hạ thấp giá thành, tăng lợi nhuận nhưng phải đảm bảo chất lượng), am hiểu sâu về công việc mà đơn vị đang thực hiện, biết chăm lo quyền lợi người lao động, mới tạo ra được sự ủng hộ, lòng nhiệt thành từ phía người lao động. Tuy nhiên, lãnh đạo đơn vị giỏi cũng chưa đủ, mà cần có đội ngũ lao động có trình độ tay nghề chuyên sâu, có khả năng sáng tạo, trung thực trong công việc. Họ chính là những người trực tiếp thực hiện những ý tưởng, chiến lược và chiến thuật kinh doanh của đội ngũ lãnh đạo cấp trên, những người tạo nên chất lượng công trình và sức cạnh tranh của doanh nghiệp. 5. Trình độ tổ chức lập hồ sơ dự thầu Khả năng cạnh tranh trong đấu thầu phụ thuộc trực tiếp vào trình độ lập hồ sơ dự thầu. Một nhà thầu có thể bị loại ngay từ vòng đầu do hồ sơ dự thầu không đảm bảo các yêu cầu của tổ chức mời thầu. Để hoàn thành một bộ hồ sơ dự thầu, doanh nghiệp cần thực hiện rất nhiều công việc, từ việc cập nhật thông tin, điều tra môi trường đấu thầu cho đến nghiên cứu, tính toán các số liệu liên quan, khảo sát hiện trường xây dựng công trình, lập phương án thi công, xây dựng giá dự thầu. Công tác xác định giá dự thầu là một khâu có nội dung phức tạp với những yêu cầu nghiêm ngặt cần tuân thủ, đây là một trong những yếu tố quyết định việc trúng thầu. Tổ chức lập hồ sơ dự thầu là công việc hết sức phức tạp và yêu cầu thực hiện trong khoảng thời gian thường rất hạn chế. Chất lượng hồ sơ dự thầu là một trong những tiêu chí cơ bản quyết định việc nhà thầu có trúng thầu hay không. Do vậy, để đảm bảo chất lượng hồ sơ dự thầu cũng như nâng cao năng lực đấu thầu của doanh nghiệp cần có sự phối hợp của các phòng ban ngay từ khi tham gia đấu thầu, phân rõ từng công việc của gói thầu cho các phòng ban. Có như vậy, các thông tin hay số liệu dự thầu mới cập nhật và chính xác, đảm bảo các yêu cầu của bên mời thầu. 6. Công tác marketing trong đấu thầu của doanh nghiệp Chiến lược marketing là một chiến lược bộ phận đóng vai trò quan trọng trong việc giành ưu thế trong cạnh tranh và hiệu quả cạnh tranh của doanh nghiệp. Sử dụng những chiến lược marketing thích hợp sẽ giúp cho doanh nghiệp chiếm giữ được vị trí trên thị trường so với các đối thủ cạnh tranh. Hệ thống marketing phải đảm bảo đem lại những thông tin chính xác, kịp thời về sự phát triển của thi trường, xem xét những triển vọng, đánh giá những người phân phối, các bạn hàng lớn, các đối thủ cạnh tranh, những nhà cung ứng và những nhân tố có liên quan khác. Ứng dụng của công nghệ quảng cáo để mở rộng thi trường, tuyên truyền doanh nghiệp mình cho nhiều khách hàng biết. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng không giống như các doanh nghiệp công nghiệp là các doanh nghiệp này có thể mang sản phẩm của mình ra thị trường cho khách hàng chọn mua. Ngược lại, họ cần phải dựa vào danh tiếng của mình để khiến khách hàng tìm đến và yêu cầu sản xuất theo nhu cầu. Giữa các doanh nghiệp xây dựng có sự cạnh tranh trực tiếp đó là sự so sánh về danh tiếng. Danh tiếng thành tích của doanh nghiệp có tác dụng rất lớn khả năng trúng thầu dự án. Do vậy, trước khi đấu thầu, làm tốt công tác quảng cáo sẽ tăng thêm mức độ tin cậy của chủ đầu tư đối với doanh nghiệp, từ đó nâng cao tỷ lệ trúng thầu. CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU CỦA CÔNG TY TNHH KỸ THUẬT XÂY DỰNG HÀ NỘI I. GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY TNHH KỸ THUẬT XÂY DỰNG HÀ NỘI 1.Lịch sử hình thành và phát triển Công ty TNHH Kỹ thuật Xây dựng Hà Nội được thành lập ngày 15/12/2002 với số vốn điều lệ 5.000.000.000 đồng. Tên giao dịch: CÔNG TY TNHH KỸ THUẬT XÂY DỰNG HÀ NỘI HA NOI TECHNICAL CONTRUCTION CO.,LTD Giấy phép kinh doanh số: 0102007223 do phòng Đăng ký kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp ngày 09/12/2002, cấp thay đổi lần cuối ngày 28/07/2005. Trụ sở công ty: Ô số 3, Lô P, khu X3, phường Dịch Vọng, quận Cầu ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc2096.doc