Đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh của Tổng Công ty thép Việt Nam

Lời mở đầu Trong những năm gần đây, người ta bắt đầu đề cập nhiều đến vấn đề cạnh tranh dưới các góc độ khác nhau. Mối quan tâm đó bắt đầu từ thực tế là năng lực cạnh tranh của hầu hết các hàng hoá do các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất còn yếu kém trên cả thị trường trong nước và quốc tế. Vấn đề cạnh tranh lại càng trở lên bức xúc khi áp lực cạnh tranh do quá trình tự do hoá thương mại trong khu vực và toàn cầu ngày càng gia tăng.Trong khi đó nhiều doanh nghiệp nước ta lại chưa cảm nhận và sẵn

doc94 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1295 | Lượt tải: 1download
Tóm tắt tài liệu Đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh của Tổng Công ty thép Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
sàng đối mặt với những thách thức của cuộc cạnh tranh khốc liệt đó. Nếu tình hình này không được cải thiện, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp không được nâng cao, tụt hậu xa của nền kinh tế Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới không chỉ dừng lại ở nguy cơ mà sẽ trở thành thực tế. Chính vì vậy nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế. Công nghiệp thép luôn có một vai trò quan trọng trong quá trình CNH-HĐH đất nước. Cùng với những thành tựu của hơn 16 năm đổi mới nền kinh tế nước ta, ngành công nghiệp thép đã đạt được những thành tựu quan trọng, có mức tăng trưởng liên tục cao, đáp ứng nhu cầu về sản phẩm thép xây dựng cho nền kinh tế. Cũng giống như nhiều ngành kinh tế khác, công nghiệp thép đang đứng trước những thời cơ và thách thức do quá trình đổi mới nền kinh tế và đặc biệt khi mà quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đang diễn ra với tốc độ và cường độ nhanh và mạnh hơn bao giờ hết. Để thành công, nhiệm vụ quan trọng và khẩn cấp mang tính sống còn đối với ngành thép là nâng cao sức cạnh tranh ít nhất ngay tại thị trường trong nước. Tổng công ty thép Việt Nam là một doanh nghiệp nhà nước, đóng vai trò trung tâm trong ngành công nghiệp thép Việt Nam. Nâng cao khả năng cạnh tranh của Tổng công ty thép Việt Nam trong giai đoạn hiện nay thực sự là một đòi hỏi cấp thiết. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài nghiên cứu : Đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh của Tổng công ty thép Việt Nam làm đề tài luận văn tốt nghiệp. Đề tài này tập trung đánh giá về tình hình đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh tại Tổng công ty thép Việt Nam trong giai đoạn vừa qua từ đó thấy được những ưu và nhược điểm để đưa ra những phương hướng và giải pháp thực hiện trong thời gian tới. Nội dung của đề tài gồm 3 chương : Chương I : Cơ sở lý luận về đầu tư và cạnh tranh Chương II: Thực trạng về năng lực cạnh tranh và tình hình đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh của Tổng công ty thép Việt Nam Chương III: Phương hướng và một số giải pháp đầu tư nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của Tổng công ty thép Việt Nam trong thời gian tới Lời cuối, em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo Từ Quang Phương và các chú, các anh phòng Kế toán tài chính - Tổng công ty thép Việt Nam đã giúp em hoàn thành bài viết này. Em xin chân thành cảm ơn ! Chương I Lý luận chung về đầu tư và cạnh tranh I. Cơ sở lý luận về đầu tư phát triển trong doanh nghiệp. 1. Khái niệm về đầu tư và đầu tư phát triển trong doanh nghiệp. 1.1. Khái niệm đầu tư. Trên giác độ tài chính: Đầu tư là chuỗi các hoạt động chi tiêu để chủ đầu tư nhận về một chuỗi các dòng thu nhằm hoàn vốn và sinh lời . Trên giác độ tiêu dùng :Đầu tư là các hình thức hi sinh (hạn chế tiêu dùng) hiện tại để thu được mức tiêu dùng cao hơn trong tương lai . Đối với các nhà kinh tế: Đầu tư trong doanh nghiệp là việc chi dùng vốn nhằm thay đổi quy mô dự trữ hiện có. Theo nghĩa chung nhất: Đầu tư là việc bỏ vốn hoặc chi dùng vốn cùng với các nguồn lực khác trong hiện taị để tiến hành một hoạt động nào đó (tạo ra) hoặc khai thác sử dụng một tài sản nhằm thu về các kết quả có lợi trong tương lai . 1.2. Khái niệm đầu tư phát triển . Đầu tư phát triển là hình thức đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế,làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để tạo việc làm, nâng cao đời sống cho mọi người dân trong xã hội .Đó chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và các kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị công nghệ và lắp đặt chúng trên nền bệ và bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, đầu tư cho việc nghiên cứu khoa học ,thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội . 2. Vốn đầu tư và nguồn vốn đầu tư phát triển doanh nghiệp. 2.1. Khái niệm về vốn đầu tư . Vốn đầu tư là nguồn lực tích luỹ được của xã hội ,của cá cơ sở sản xuất kinh doanh, tiết kiệm của dân và huy động của nhà nước, được biểu hiện dưới dạng tiền tệ các loại ,hiện vật hữu hình hiện vật vô hình và các hiện vật khác . Trên giác độ vi mô: Vốn đầu tư là nguồn lực tự tích luỹ của cơ sở bao gồm tài sản thừa kế, lợi nhuận giữ lại vốn góp. 2.2. Nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp. 2.2.1. Nguồn vốn trong nước 2.2.1.1. Vốn đầu tư của Nhà nước . Vốn ngân sách Nhà nước. Đây là nguồn vốn Nhà nước cấp cho các đơn vị doanh nghiệp quốc doanh để thực hiện các dự án đầu tư đòi hỏi vốn lớn thời gian thu hồi vốn lâu và ít lợi nhuận, chủ yếu mang lại lợi ích cho xã hội, Nguồn vốn này thường được sử dụng cho các dự án kết cấu hạ tầng, hỗ trợ các dự án của doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần có sự tham gia của Nhà nước. Chi cho công tác lập và thực hiện quy hoạch các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội và vùng lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn. Trong thời kỳ bao cấp. Nhà nước quản lý bằng các chỉ tiêu pháp lệnh từ đầu vào đến đầu ra. Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh vốn ngân sách được cấp phát trực tiếp hàng năm không theo dự án do vậy đã gây lãng phí trong khi các dự án lại không đạt hiệu quả cao . Kể từ khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường thì nguồn vốn ngân sách không còn đóng vai trò quyết định mà chỉ đóng vai trò định hướng hỗ trợ phát triển . 2.2.1.2 Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước . Nguồn vốn này là một hình thức quá độ chuyển từ phương thức cấp phát ngân sách sang phương thức tín dụng đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp. Những doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn này phải thực hiện nguyên tắc vay trả . Tác dụng của nguồn vốn này : Giảm đáng kể sự bao cấp của Nhà nước nhưng lại có thể hỗ trợ cho doanh nghiệp phát triển . Chi phối chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá. Khuyến khích phát triển kinh tế xã hội, ngành, vùng, lĩnh vực theo định hướng chiến lược của mình ,thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế , phát triển xã hội . 2.2.1.3. Vốn đầu tư từ doanh nghiệp Nhà nước . Đây là nguồn vốn sở hữu và tiết kiệm của doanh nghiệp nhà nước Nguồn vốn này có thể do doanh nghiệp phát hành cổ phiếu mới hoặc hỗ trợ của Nhà nước từ Ngân sách Chính phủ . 2.2.1.4. Nguồn vốn của khu vực tư nhân. Nguồn vốn này đầu tư gián tiếp vào nền kinh tế thông qua thị trường vốn ,chủ yếu vào các lĩnh vực thương mại , dịch vụ . Quy mô của nguồn vốn này phụ thuộc vào thu nhập của các hộ ,tập quán tiêu dùng của dân cư . 2.2.1.5. Thị trường vốn . Thị trường chứng khoán là nơi thu gom mọi nguồn vốn của dân cư ,các tổ chức tài chính ,các doanh nghiệp ,chính quyền các cấp. Tuy nhiên ở Việt Nam hịên nay thị trường chứng khoán chưa phát triển vì vậy việc huy động từ thị trường chứng khoán rất hạn chế . 2.2.2.Nguồn vốn nước ngoài . Nguồn vốn này diễn ra dưới nhiều hình thức, mỗi hình thức có một đặc điểm riêng, mục tiêu và điều kiện thực hiện riêng. Nguồn vốn huy động từ nước ngoài bao gồm vốn đầu tư gián tiếp và vốn đầu từ trực tiếp . 2.2.2.1 Vốn đầu tư gián tiếp : Là vốn của Chính Phủ, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ được thực hiện dưới các hình thức khác nhau, là viện trợ hoàn lại, không hoàn lại, cho vay ưu đãi với thời hạn dài và lãi suất thấp, kể cả vay theo hình thức thông thường. Một hình thức phổ biến của đầu tư gián tiếp tồn tại dưới loại hình ODA- viện trợ phát triển chính thức của các nước công nghịêp phát triển.Vốn đầu tư gián tiếp thường lớn cho nên có tác dụng mạnh, nhanh đối với việc giải quyết dứt điểm các nhu cầu phát triển kinh tế. 2.2.2.2. Vốn đầu tư trực tiếp (FDI). Là vốn của các doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài đầu tư sang nước khác và trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý quá trình sử dụng và thu hồi vốn bỏ ra. Vốn này thường không đủ lớn để giải quyết dứt điểm các vấn đề kinh tế xã hội của nước nhận đầu tư. Tuy nhiên với nguồn vốn đầu tư trực tiếp, nước nhận đầu tư không phải no trả nợ, lại có thể dễ dàng có được công nghệ ( do người đầu tư đem vào góp vốn và sử dụng), trong đó có cả công nghệ cấm xuất theo con đường ngoại thương, vì lý do cạnh tranh hay cấm vận đối với nước nhận đầu tư ,học tập được kinh nghiệm quản lý, tác phong làm việc theo lối công nghiệp của nước ngoài, gián tiếp có chỗ đứng trên thị trường thế giới nhanh chóng được thế giới biết đến thông qua con đường làm ăn với nhà đầu tư, Nước nhận đầu tư trực tiếp phải chia sẻ lợi ích kinh tế do đầu tư đem lại với người đầu tư theo mức độ góp vốn của họ . 3. Những đặc điểm của hoạt động đầu tư. Tiền vốn vật tư lao động cần thiết cho một công cuộc đầu tư thường là rất lớn . Thời gian kể từ khi bắt đầu tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi công cuộc đầu tư bắt đầu phát huy tác dụng đem lại lợi ích kinh tế xã hội thường kéo dài . Thời gian vận hành các kết quả đầu tư cũng thường kéo dài và nhiều khi là vĩnh viễn . Các thành quả của hoạt động đầu tư nếu là các công trình xây dựng vật kiến trúc như nhà máy, hầm mỏ, các công trình thuỷ lợi hay đường xá ..Thì sẽ vận động ở ngay nơi mà nó được tạo dựng lên do đó các điều kiện về địa lý, địa hình tại đó có ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện đầu tư cũng như quá trình khai thác các kết quả đầu tư sau này . Với đặc điểm đầu tư kéo dài vốn lớn thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài do đó hoạt động đầu tư thường chịu mức độ rủi ro cao, do tầm quan trọng của hoạt động đầu tư, đặc điểm sự phức tạp về mặt kỹ thuật, hậu quả và hiệu quả tài chính, kinh tế xã hội của hoạt động đầu tư đòi hỏi để tiến hành một công cuộc đầu tư phải có sự chuẩn bị cẩn thận và nghiêm túc. Sự chuẩn bị này được thể hiện ở việc soạn thảo các dự án đầu tư có nghĩa là mọi công cuộc đầu tư phải được thực hiện theo dự án mới đạt hiệu quả mong muốn. 4. Đầu tư và vai trò của đầu tư trong doanh nghiệp . 4.1. Đầu tư trong doanh nghiệp . Để tiến hành các hoạt động kinh doanh cũng như các hoạt động bổ trợ khác, doanh nghiệp cần phải có các cơ sở về vốn, tài sản vật chất, nhân lực. Các cơ sở đó có được chính là nhờ hoạt động đầu tư của doanh nghiệp . Đầu tư trong doanh nghiệp là việc doanh nghiệp chi dùng vốn và các nguồn lực khác trong hiện tại để tiến hành một hoạt động nào đó nhằm thu về được kết quả trong tương lai lớn hơn chi phí đã bỏ ra . Nội dung của hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp được xác định dựa trên các đối tượng bao gồm : *Đầu tư đổi mới, hiện đại hoá máy móc thiết bị, nhà xưởng. Công nghệ có vai trò rất quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nó là chía khoá để nâng cao năng lực cạnht tranh của mọi doanh nghiệp. Công nghệ hiện đại sẽ góp phần tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, tiêu hao nhiên liệu giảm, lao động giảm, quản lý giảm. Đầu tư đổi mới máy móc thiết bị công nghệ là một hình thức đầu tư phát triển nhằm hiện đại hoá dây chuyền công nghệ, tăng năng lực sản xuất kinh doanh và nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm. *Đầu tư vào nguồn nhân lực . Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển. Điều đó nói lên tầm quan trọng số một trong chiến lược đầu tư phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp. Những chiến lược đầu tư đổi mới công nghệ, đổi mới quản lý sẽ trở thành giấy trắng nếu như không có những người tốt thực hiện chúng. Đầu tư vào nhân lực là việc bỏ tiền để tiến hành các hoạt động đào tạo, đào tạo lại cho người lao động nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, giúp họ thực hiện những công việc được giao một cách tốt nhất. Ngoài công việc đào tạo chuyên môn ra doanh nghiệp còn phải thực hiện các công việc đầu tư nhằm cải thiện môi trường, điều kiện làm việc cho người lao động, đồng thời tiến hành các hoạt động hỗ trợ, trợ cấp cho người lao động. Ngoài ra có thể cử lao động sang nước ngoài học tập để nâng cao trình độ chuyên môn cho họ. Cùng với việc đào tạo và đào tạo lại cho người lao động thì doanh nghiệp phải thường xuyên tiến hành các biện pháp tinh giảm lao động. Có như vậy doanh nghiệp mới có khả năng nâng cao sức cạnh tranh và đứng vững trên thị trường. *Đầu tư vào dự trữ . Đối với mỗi doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì trong mọi công cuộc đầu tư không thể thiếu việc đầu tư cho hàng dự trữ. Đây là việc bỏ tiền để đầu tư xây dựng nhà xưởng cùng với việc mua hàng hoá để dự trữ khi cần thiết tức là khi hàng hoá trên thị trường có giá tăng cao khi đó doanh nghiệp sẽ tiến hành bán hàng hoá đó và lúc đó doanh nghiệp sẽ có được lợi nhuận cao đồng thời doanh nghiệp có thể giữ được thị phần của mình cũng như giữ được khách hàng của mình. *Đầu tư vào tài sản vô hình. Có thể nói đối với mỗi doanh nghiệp ngoài những tài sản hữu hình chúng có thể mang lại những khoản lợi nhuận trực tiếp cho doanh nghiệp thì có thể nói có một thứ tài sản cũng góp một phần không nhỏ giúp cho doanh nghiệp có thể kiếm được rất nhiều lợi nhuận đó là tài sản vô hình. Tài sản vô hình đó chính là thương hiệu sản phẩm của doanh nghiệp, là uy tín của doanh nghiệp , là mẫu mã hàng hoá, là bí quyết công nghệ và những kinh nghiệp quản lý. Mà những thứ này không thể ngẫu nhiên mà có và nó cũng phải được đầu tư một cách thích đáng như những hiện vật hữu hình khác nếu các doanh nghiệp biết quan tâm đúng mức cho đầu tư vào tài sản vô hình thì không những doanh nghiệp sẽ có được lợi nhuận lớn mà khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cũng không ngừng được nâng cao trên thị trường. Tất cả các nội dung trên đều hết sức quan trọng và chúng có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau. Chẳng hạn đầu tư đổi mới máy móc thiết bị thì cùng với nó là việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu sử dụng, vận hành các quy trình công nghệ đó một cách có hiệu quả, phát huy tối đa những tính năng ưu việt của máy móc thiết bị đó. 4.2. Vai trò của đầu tư trong doanh nghiệp Đầu tư có vai trò rất quan trọng trong doanh nghiệp ,nó quyết định sự ra đời ,tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Có thể khái quát lại một số vai trò của đầu tư trong doanh nghiệp như sau . Đầu tư tạo điều kiện nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp . Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là nguồn lực để doanh nghiệp tiếp tục dấn bước trên con đường hội nhập kinh tế. Các chính sách đầu tư cho sản phẩm ,đầu tư cho đổi mới máy móc thiết bị ...là những nhân tố quan trọng đi đầu để thúc đẩy tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Đầu tư tạo điều kiện nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ. Để có được sản phẩm dịch vụ có chất lượng ngày càng cao hoặc ngày càng đổi mới hàm lượng công nghệ trong sản phẩm, phải có sự đầu tư chi dùng vốn cho việc nghiên cứu sáng tạo ra các sản phẩm có chất lượng ngày càng cao hơn để đáp ứng nhu cầu đa dạng của con người . Đầu tư góp phần đổi mới công nghệ, trình độ khoa học kỹ thuật trong sản xuất. Nhờ có đổi mới máy móc thiết bị và công nghệ, con người sẽ không phải làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm. Tỷ trọng lao động giản đơn giảm dần thay vào đó là lao động phức tạp, lao động mang nhiều yếu tố chất xám. Từ đó nâng cao năng xuất lao động, hạ giá thành hàng hoá sản phẩm. Đầu tư góp phần nâng cao chất lượng nguôn lực,nhờ có đầu tư phát triển trong doanh nghiệp, nguồn lao động ngày càng được nâng cao trình độ tay nghề, phương pháp quản lý để phù hợp với trình độ đổi mới máy móc thiết bị và công nghệ. 5. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp: Trong doanh nghiệp để tiến hành một hoạt động đầu tư, thông thường người ta căn cứ vào nhiều yếu tố khác nhau, cụ thể bao gồm các yếu tố sau: Tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư, tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư hay còn gọi là lợi nhuận thuần thu được từ hoạt động đầu tư. Đầu tư và lợi nhuận thuần thu được từ hoạt động đầu tư có mối quan hệ đồng biến, các nhà đầu tư sẽ gia tăng quy mô đầu tư nếu như lợi nhuận thu được từ hoạt động đầu tư tăng và ngược lại, nếu lợi nhuận thu được giảm. 6. Đánh giá kết quả và hiệu quả đầu tư ở doanh nghiệp . 6.1. Kết quả của hoạt động đầu tư . Kết quả của hoạt động đầu tư được thể hiện ở khối lượng vốn đầu tư đã thực hiện ,ở tài sản cố định được huy động hoặc năng lực sản xuất kinhdoanh phục vụ tăng thêm , 6.1.1. Khái niệm vốn đầu tư thực hiện. Khối lượng vốn đầu tư thực hiện là tổng số tiền đã chi để tiến hành các hoạt động của các công cuộc đầu tư bao gồm các chi phí cho công tác xây lắp, chi phí cho công tác mua sắm máy móc thiết bị và các chi phí khác theo quy định của thiết kế dự toán và được ghi trong dự án được duyệt . 6.1.2. Phương pháp tính khối lượng vốn đầu tư thực hiện . I= Qxi :Khối lượng công tác xây dựng hoàn thành thứ i Qli :Khối lượng công tác lắp đặt máy móc thiết bị đã hoàn thành thứ i Pxi :Đơn giá tính cho một đơn vị khối lượng của công tác xây dựng đã hoàn thành thứ i . Pli :Đơn giá tính cho một đơn vị khối lượng công tác lắp đặt máy móc thiết bị đã hoàn thành Cin :Chi phí chung được tính theo tỷ lệ %so với chi phí nhân công trong dự toán xây lắp, khoản chi phí này được quy định theo từng loại công trình. W :Lãi định mức được tính theo tỷ lệ % so với gia thành công tác xây dựng do Nhà nước quy định cho từng loại công trình . VAT : thuế giá trị gia tăng 6.1.3. Khái niệm tài sản cố định huy động. Tài sản cố định huy động là công trình hoặc hạng mục công trình đối tượng của xây dựng có thể phát huy tác dụng một cách độc lập (nghĩa là làm ra sản phẩm hoặc tiến hành các hoạt động dịch vụ cho xã hội được ghi trong kế hoạch đầu tư) và đến giờ đã kết thúc quá trình xây dựng mua sắm và đã làm xong thủ tục nghiệm thu, sử dụng và có thể đưa vào hoạt động được ngay. 6.1.4. Phương pháp tính : F=Ivb + Ivr - C - Ive F :Giá trị tài sản cố định được huy động trong kỳ Ivb :Lượng vốn đầu tư được thực hiện ở các kỳ trước nhưng chưa được huy động và phải chuyển sang kỳ nghiên cứu (xây dựng dở dang đầu kỳ Ive :Vốn đầu tư được thực hiện ở trong kỳ nghiên cứu nhưng chưa được huy động và phải chuyển sang kỳ sau (xây dựng dở dang cuối kỳ ) C :Chi phí trong kỳ và không làm tăng giá trị tài sản cố định Ivr :Vốn đầu tư thực hiện trong kỳ *Một số chỉ tiêu khác Chỉ tiêu hệ số huy động tài sản cố định Hệ số huy động TSCĐ = Hệ số này nó phản ánh trên một tổng vốn lớn có bao nhiêu %vốn đầu tư hình thành lên tài sản cố định. Hệ số này càng lớn càng tốt có nghĩa là tình trạng tràn lan trong thực hiện đầu tư được khắc phục, tình trạng ứ đọng vốn càng ít, vốn bắt đầu phát huy tác dụng, chỉ tiêu này luôn nhỏ hơn 1 Chỉ tiêu về tình trạng thi công . ive= ive :là mức vốn đầu tư thực hiện chưa được huy động ở cuối kỳ so với toàn bộ vốn đầu tư thực hiện trong kỳ chỉ tiêu này càng nhỏ càng tốt chứng tỏ việc thi công dứt điểm . 6.2. Hiệu quả đầu tư . 6.2.1. Hiệu quả tài chính của hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp. Hiệu quả tài chính (Etc) của hoạt động đầu tư là mức độ đáp ứng nhu cầu phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh và nâng cao đời sống của người lao động trong các cơ sở sản xuất ,kinh doanh dịch vụ trên cơ sở số vốn đầu tư mà cơ sở đã sử dụng so với các kỳ khác, các cơ sở khác hoặc so với định mức chung. Chúng ta có thể biểu diễn khái niệm này thông qua công thức sau : Các kết quả mà cơ sở thu được do thực hiện đầu tư Etc = Số vốn đầu tư mà cơ sở đã thực hiện để tạo ra các kết quả trên Etc được coi là có hiệu quả khi Etc Etc0 Trong đó : Etc0 là chỉ tiêu hiệu quả tài chính định mức, hoặc các kỳ khác mà cơ sở đã đạt được chọn làm cơ sở so sánh, hoặc của đơn vị khác đã đạt tiêu chuẩn hiệu quả . Các kết quả do hoạt động đầu tư đem lại rất đa dạng, và là điều tất yếu của quá trình thực hiện đầu tư .Các kết quả đó có thể là lợi nhuận thuần,là mức tăng năng xuất lao động, là số lao động có việc làm do hoạt động đầu tư tạo ra, là mức tăng thu nhập cho người lao động của cơ sở thực hiện đầu tư. F Chỉ tiêu giá trị sản xuất tăng thêm trên tổng vốn đầu tư (GTSXTT/VĐT). Chỉ tiêu này phản ánh giá trị sản xuất tăng thêm trên 1 đơn vị vốn đầu tư. Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt, chứng tỏ hoạt động đầu tư của doanh nghiệp có hiệu quả . Phương pháp tính: GTSXi - GTSXi-1 Tỷ lệ GTSXTT so với VĐT = VĐTi Trong đó: GTSXi : Là giá trị sản xuất năm i. GTSXi-1: Là giá trị sản xuất năm i-1. VĐTi : Là vốn đầu tư năm i. F Chỉ tiêu lợi nhuận tăng thêm trên tổng vốn đầu tư (LNTT/VĐT). Chỉ tiêu này phản ánh lợi nhuận tăng thêm trên 1 đơn vị vốn đầu tư có nghĩa là với 1 đơn vị vốn đầu tư có thẻ tạo ra bao nhiêu đơn vị lợi nhuận tăng thêm. Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt, nó cũng phản ánh được hiệu quả hoạt động đầu tư của doanh nghiệp . Phương pháp tính: LNi - LNi-1 Tỷ lệ LNTT so với VĐT = VĐTi Trong đó: LNi : Là lợi nhuận năm i. LNi-1 : Là lợi nhuận năm i-1. Tuy nhiên để tính hiệu quả của hoạt động đầu tư của doanh nghiệp ta không thể tính chỉ một trong các chỉ tiêu đó mà phải tính tất cả các chỉ tiêu đó để từ đó có những nhận xét khách quan hơn về hiệu quả của hoạt động đầu tư . Hiệu quả kinh tế xã hội của hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp: Hiệu quả kinh tế xã hội của hoạt động đầu tư là chênh lệch giữa các lợi ích mà nền kinh tế và xã hội thu được với các chi phí mà nền kinh té xã hội bỏ ra khi thực hiện đầu tư . Xuất phát từ góc độ doanh nghiệp, lợi ích kinh tế xã hội của hoạt động đầu tư được thể hiện qua các chỉ tiêu sau : F Chỉ tiêu nộp ngân sách tăng thêm /vốn đầu tư . Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt chứng tỏ hoạt động đầu tư của doanh nghiệp có hiệu quả và doanh nghiệp đã thực hiện ngày một tốt hơn nghĩa vụ đối vơí Nhà nước đó chính là mức đóng góp vào ngân sách Nhà nước . Phương pháp tính: Mức NNSi - Mức NNSi-1 Tỷ lệ NNSTT so với vốn đầu tư = VĐTi Trong đó: NNSi : Là mức nộp ngân sách năm i. NNSi-1: Là mức nộp ngân sách năm i-1. *Số chỗ làm việc tăng lên /Vốn đầu tư . Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt, chứng tỏ doanh nghiệp đã góp phần vào việc tạo công ăn việc làm cho người lao động.Chỉ tiêu này cũng phản ánh số chỗ làm việc tăng thêm trên một đơn vị vốn đầu tư. tức là với một đơn vị vốn đầu tư kỳ này sẽ tạo ra bao nhiêu chỗ việc làm tăng thêm. *Số ngoại tệ thu được tăng thêm/VĐT *Mức tăng năng suất lao động sau khi đầu tư so với trước khi đầu tư . *Mức nâng cao trình độ nghề nghiệp của người lao động . *Tạo thị trường mới và mức độ chiếm lĩnh thị trường do tiến hành đầu tư . *Nâng cao trình độ kỹ thuật của sản xuất *Nâng cao trình độ quản lý của lao động quản lý . *Các tác động đến môi trường . *Các tác động khác. II. Cơ sở lý luận về cạnh tranh . 1. Khái niêm về cạnh tranh và khả năng cạnh tranh . Có thể nói cạnh tranh chỉ xuất hiện trong nền kinh tế thị trường. Ngày nay có lẽ không ai còn nghi ngờ về sự phát triển tất yếu của nền kinh tế thị trường ở nước ta vì vậy cạnh tranh đã được nhìn nhận như là một động lực thúc đẩy phát triển kinh tế. Cạnh tranh cũng chỉ diễn ra khi được pháp luật thừa nhận và bảo hộ tính đa dạng của các loại hình sở hữu, khi có tự do hoá thương mại và theo đó là tự do kinh doanh và quyền tự chủ của các cá nhân được thừa nhận và bảo đảm. Cạnh tranh chỉ xuất hiện khi không có độc quyền dưới bất kỳ hình thức nào. Tất cả những tiền đề đó đã hình thành ở nước ta từ khi chuyển sang cơ chế thị trường và từ khi đảng và Nhà nước ta chủ trương thúc đẩy kinh tế phát triển. Có thể có nhiều định nghĩa khác nhau về cạnh tranh, song nhìn chung cạnh tranh là sự ganh đua hay chạy đua giữa các thành viên trong một thị trường hàng hoá, sản phẩm cụ thể nhằm mục đích lôi kéo về phía mình ngày càng nhiều khách hàng ,thì trường và thị phần của một thị trường. Như vậy về phương diện kinh tế, cạnh tranh được hình thành trên cơ sở của tiền đề đó là có sự hiện diện của các thành viên, có cuộc chạy đua vì mục tiêu kinh tế giữa các thành viên và chúng đều diễn ra trên cùng một thị trường hàng hoá cụ thể . Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng mà doanh nghiệp có thể duy trì vị trí của nó một cách lâu dài trên thị trường, bảo đảm thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận thấp nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp. Khả năng cạnh tranh được các nhà kinh tế học diễn đạt theo nhiều quan điể khác nhau: Theo Fafchams: Khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp là khả năng doạnh nghiệp đó có thể sản xuất sản phẩm với với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thị trường.Theo cách hiểu này, doạnh nghiệp nào có khả năng sản xuất ra sản phẩm có chất lượng tương tự doanh nghiệp khác nhưng chi phí thấp hơn được coi là khả năng cạnh tranh cao hơn. Theo Randall: Khả năng cạnh tranh là khả năng dành được và duy trì được thị phần trên thị trường khác mà không phân biệt nơi bố trí sản xuất của doanh nghiệp đó. Nhìn chung các khái niệm về cạnh tranh của các nhà kinh tế học tuy được diễn đạt khác nhau, song đều có chung hai khía cạnh là khả năng chiếm lĩnh thị trường và lợi nhuận. 2. Các loại hình cạnh tranh. Tuỳ theo cách phân loại khác nhau thì có các loại hình cạnh tranh khác nhau . Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường : Cạnh tranh giữa người bán và người mua: Là cuộc cạnh tranh diễn ra theo quy luật mua rẻ bán đắt . Cạnh tranh giữa những người mua với nhau: Là cuộc cạnh tranh theo quy luật cung cầu.Chẳng hạn khi cung nhỏ hơn cầu thì cuộc cạnh tranh giữa những người mua với nhau trở lên rất quyết liệt. Nó sẽ làm cho giá cả hàng hoá tăng lên. Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: Đây cũng là cuộc cạnh tranh gau go quyết liệt nhất để dành lấy khách hàng về phía mình. Cuộc cạnh tranh này sẽ quyết định doanh nghiệp nào tồn tại và doanh nghiệp nào sẽ bị đào thải khỏi thị trường. Chính vì lẽ đó tất cả các doanh nghiệp đều muốn dành giật lợi thế cạnh tranh về phía mình. Để làm được điều này mỗi doanh nghiệp cần phải lỗ lực phấn đấu, tìm ra hướng đi riêng cho mình. Căn cứ vào mức độ cạnh tranh trên thị trường người ta chia cạnh tranh ra các loại hình sau Cạnh tranh hoàn hảo: Là loại hình cạnh tranh trong đó có nhiều người mua và người bán độc lập với nhau .Tất cả các đơn vị hàng hoá trao đổi coi là giống nhau. Các doanh nghiệp tham gia trên thị trường này chủ yếu tìm biện pháp cắt giảm chi phí sản xuất sản phẩm để hưởng lợi nhuận từ chênh lệch giá đầu vào. Cạnh tranh không hoàn hảo: Là cạnh tranh trên thị trường mà phần lớn các sản phẩm là không đồng nhất với nhau. Người bán có thể ấn định giá linh hoạt theo khu vực bán sản phẩm, khách hàng và mức lợi nhuận mong muốn. Tóm lại, cạnh tranh là cuộc chạy đua quyết liệt giữa các chủ thể hoạt động trong thị trường nhằm giành giật những điều kiện sản xuất và tiêu thụ hàng hoá có lợi nhất về phía mình.Cạnh tranh được coi là động lực của quá trình phát triển. Cạnh tranh luôn có mục tiêu lâu dài là thu hút về phía mình ngày càng nhiều khách hàng nên buộc các nhà sản xuất công nghiệp, dịch vụ ngày càng phải tạo ra những sản phẩm có chất lượng tốt hơn và giá thành phải hạ thấp. Vì vậy, cạnh tranh là cơ hội cho doanh nghiệp cải tiến, đổi mới máy móc thiết bị, áp dụng những cộng nghệ mới vào trong sản xuất do vậy cạnh tranh là nguồn gốc, là động lực cho sự phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ cao. 3. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp do nhiều yếu tố hình thành nên, các yếu tố đó có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một thể thống nhất giúp doanh nghiệp có thế đứng vững chắc trước những biến động của thị trường, trước sự cạnh tranh gay gắt dành giật khách hàng về phía mình của các đổi thủ cạnh tranh. Các yếu tố góp phần tạo lên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm. Tình hình sản xuất và năng lực sản xuất. Tình hình phân phối và tiêu thụ sản phẩm. Trình độ công nghệ và trang thiết bị. Trình độ cán bộ quản lý và lao động. Khả năng quảng cáo và tiếp thị sản phẩm. Tình hình sản xuất và năng lực sản xuất. Với một doanh nghiệp ta không thể khẳng định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đó cao khi mà tình hình sản xuất và năng lực sản xuất của doanh nghiệp thấp kém. Năng lực sản xuất của doanh nghiệp phản ánh quy mô sản xuất của doanh nghiệp đó là lớn hay nhỏ, mức độ hiện đại ra sao. Với một doanh nghiệp bất kỳ khi mà năng lực sản xuất thấp thì có thể nói khả năng đứng vững trên thị trường của doanh nghiệp đó là rất khó khăn. Tình hình sản xuất của doanh nghiệp nó cũng phản ánh được tốc độ tăng trưởng trong quá trình sản xuất, đồng thời nó cũng phản ánh được quy mô sản xuất mở rộng hay thu hẹp, năng suất lao động tăng nhanh hay chậm. Tình hình phân phối và tiêu thụ sản phẩm. Khi mà sản phảm của doanh nghiệp có thể tiêu thụ một cách dễ dàng, đồng thời sản phẩm được phân bố một cách tốt nhất, khách hàng ưa chuộng sản phẩm và như vậy sản phẩm có thế đứng vững chắc trên thị trường, thị phần của doanh nghiệp ngày càng tăng. Nhờ việc bán được nhiều hàng doanh nghiệp có thể tối đa hoá lợi nhuận. Ngược lại nếu như doanh nghiệp không bán được sản phẩm tức là sản phẩm của doanh nghiệp không có khả năng cạnh tranh khi đó thị phần của doanh nghiệp sẽ bị mất dầnvà dành chỗ cho các đối thủ cạnh tranh. Sản phẩm của doanh nghiệp đến một lúc nào đó cũng sẽ bị giệt vong và doanh nghiệp khó có thể tồn tại. Điều đó cho thấy, việc phân phối sản phẩm đối với một doanh nghiệp là hết sức quan trọng nó là chìa khoá để doanh nghiệp nên mở rộng hay thu hẹp sản xuất đồng thời là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Trình độ công nghệ và trang thiết bị Có thể nói đây là một nhân tố quan trọng bậc nhất trực tiếp ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Công nghệ mới hiện đại sẽ tạo ra sản phẩm mới có chất lượng tốt hơn, mẫu mã đẹp hơn, giá thành sản phẩm thấp, sức cạnh tranh cao. Ngược lại công nghệ lạc hậu không những tiêu hao nhiều nguyên nhiên liệu mà còn có thể gây ô nhiễm môi trường, chi phí sản xuất lớn sản phẩm không có tính cạnh tranh, khách hàng khó chấp nhận sản phẩm. Khi đó sản phẩm rất khó tiêu thụ, khả năng cạnh tranh của sản phẩm giảm, do vậy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng sẽ giảm. Mặt khác công nghệ tiên tiến hiện đại sẽ tạo ra năng suất lao động tăng, lao động ít do vậy chi phí đầu vào giảm. Ngày nay khi mà khoa học công nghệ phát triển thì hàm lượng chất xám trong sản phẩm cũng ngày một tăng lên do vậy doanh nghiệp nếu không c._.ó chiến lược đầu tư một cách hợp lý cho máy móc thiết bị công nghệ thì doanh nghiệp không thể nâng cao năng lực cạnh tranh của mình do vậy doanh nghiệp khó có thể phát triển được. Như vậy trình độ công nghệ có thể nói là nhân tố trung tâm tạo lên năng lực cạnh tranh cho mỗi doanh nghiệp. Trình độ cán bộ quản lý và lao động. Nếu như máy móc thiết bị, công nghệ là nhân tố trung tâm tạo nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thì con người lại có một vai trò càng quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp. Mọi máy móc thiết bị công nghệ dù có hiện đại đến mức nào đi chăng nữa, nếu như không có sự tham gia của con người thì công nghệ, máy móc thiết bị đó cũng trở thành giấy trắng. Con người tham gia trực tiếp vào quá trình quản lý sản xuất và trực tiếp tạo ra của cải vật chất. Quá trình sản xuất muốn phát triển, quy mô sản xuất muốn mở rộng thì phải có những cán bộ quản lý có trình độ chuyên môn cao, có đội ngũ lao động có tay nghề tốt. Do tầm quan trọng đó ngày nay các doanh nghiệp đều rất quan tâm đến vấn đề đào tạo, đào tạo laị cho người lao động nhằm giúp họ nâng cao trình độ chuyên môn để có thể sử dụng một cách tốt nhất các thiết bị công nghệ hiện đại, đồng thời nâng cao trình độ quản lý đó cũng là nhân tố quan trọng để doanh nghiệp có thể nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Khả năng quảng cáo và tiếp thị sản phẩm Sản phẩm muốn tiêu thụ tốt thì sản phẩm đó phải được thông báo, giới thiệu cho khách hàng được biết. Phải làm như thế nào để khi mà khách hàng mới tiếp xúc với sản phẩm đã cảm nhận được hình ảnh cuả doanh nghiệp, đã thích thú với sản phẩm đó, cảm thấy yên tâm về sản phẩm và ra quyết định mua sản phẩm đó. Muốn như vậy không những chiến lược quảng cáo sản phẩm phải tốt mà còn phải độc đáo, khác biệt với các doanh nghiệp khác. Mặt khác, sản phẩm muốn tiêu thụ được đồng thời tiêu thụ trong thời gian dài thì doanh nghiệp cần phải có những chế độ tiếp thị sản phẩm, khuyến mãi để tạo ra những lợi ích cho người tiêu dùng bởi lợi ích cho người tiêu dùng cũng sẽ là lợi ích của doanh nghiệp. Khi mà người tiêu dùng ưa chuộng sản phẩm của doanh nghiệp thì doanh nghiệp sẽ làm ăn có lãi và có hiệu quả hơn, sản phẩm có vị thế trên thị trường và doanh nghiệp ngày càng chiếm lĩnh được thị trường, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ không ngừng được nâng cao. Như vậy có thể nói với mỗi doanh nghiệp muốn nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường thì doanh nghiệp không chỉ quan tâm đầu tư đến một trong những yếu tố trên mà phải biết quan tâm đâu tư đúng mức tất cả các yếu tố đó bởi chúng có mối quan hệ chặt chẽ, có như vậy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp mới thực sự vững mạnh trên thị trường. III. Đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. 1. Đầu tư vào tài sản cố định ,đổi mới máy móc thiết bị ,công nghệ . Công nghệ là tập hợp các công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực sản xuất thành sản phẩm nhằm mục đích sinh lời. Công nghệ gồm hai phần là phần cứng và phần mềm. Phần cứng của công nghệ là máy móc thiết bị, công cụ, dụng cụ. Phần mềm của công nghệ là kỹ năng, bí quyết công nghệ, kinh nghiệm quản lý. Đầu tư đổi mới máy móc thiết bị công nghệ là một hình thức của đầu tư phát triển nhằm hiện đại hoá dây chuyện công nghệ và trang thiết bị công nghệ, tăng năng lực sản xuất kinh doanh cũng như khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đa dạng và phong phú của khách hàng và đối phó với các đối thủ cạnh tranh tạo chỗ đứng vững chắc trên thị trường, doanh nghiệp cân phải quan tâm đổi mới máy móc thiết bị công ngệ, tăng năng suất lao động. Khi đầu tư đổi mới máy móc thiết bị các doanh nghiệp cần phải quan phân tích thực trạng của doanh nghiệp cũng như phân tích các yếu tố liên quan đến máy móc thiết bị . Các yếu tố trong nội bộ doanh nghiệp ảnh hưởng đến khả năng lựa chọn công nghệ đó là khả năng tài chính của doanh nghiệp, quy mô vốn có thể huy động và đặc điểm kinh tế kỹ thuật đặc thù của ngành. Một nhân tố nữa cũng rất quan trọng cần phải xem xét là trình độ của đội ngũ lãnh đạo, nhất là năng lực lãnh đạo, kỹ thuật và trình độ nghề nghiệp cuả công nhân trực tiếp sản xuất. 2. Đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm. Chất lượng sản phẩm là một nhân tố hết sức quan trọng để có thể nâng cao khả năng canh tranh của doanh nghiệp. Chất lượng sản phẩm đảm bảo, đạt tiêu chuẩn quy định thì khách hàng sẽ ưa chuộng hơn. Đặc biệt là khi nền kinh tế phát triển như hiện nay thì yêu cầu của khách hàng đối với sản phẩm sẽ cao hơn buộc các doanh nghiệp phải tìm cách nâng cao chất lượng hàng hoá sản phẩm của mình. Chẳng hạn tăng cường đầu tư chiều sâu, đổi mới máy móc thiết bị công nghệ để tăng hàm lượng chất sám trong sản phẩm, thực hiện đo lường, kiểm tra các tiêu chuẩn kỹ thuật của sản phẩm trước khi xuất xưởng. Do vậy có thể nói đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm là một công việc rất quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường. 3. Đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong thời đại ngày nay, trí tuệ, tri thức đã trở thành yếu tố bao chùm quyết định tính chất, đặc trưng của thời đại và ảnh hưởng to lớn đến sự phát triền của tất cả các quốc gia. Quốc gia nào nắm được nhiều tri thức, quốc gia đó sẽ ở vị trí chi phối nền kinh tế toàn cầu ,khu vực nào hội tụđược nhiều tri thức nhất khu vực đó sẽ trở thành trung tâm của nền kinh tế thế giới. Chính điều này đã tạo ra những thời cơ, những vận hội lớn cho bất kỳ quốc gia nào biết đầu tư có hiệu quả làm tăng nhanh chất lượng của nguồn lực con người trong quá trình cạnh tranh. Bên cạnh đó nó cũng đặt ra những thách thức mới, những nguy cơ tụt hậu, lạc hậu ngày càng xađối với các quốc gia đang trên đà phát triển. Việt Nam đang ở vào giai đoạn đẩy mạnh phát triển công nghiêp hoá hiện đại hoá đất nước. Chính vì thế nhân tố con người ngày càng được coi trọng hơn bao giờ hết. Đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một đòi hỏi khách quan và vô cùng cấp bách trong giai đoạn hiện nay. 4. Đầu tư cho công tác tiếp thị bán hàng Hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường không thể thiếu các hoạt động marketing. Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải nắm vững những kiến thức và kỹ năng của hoạt động marketing. Đó là marketing mix. Nó bao gồm chiến lược sản phẩm, chiến lược phân phối, chiến lược giá cả và chiến lược chiêu thị. Trong đó chiến lược chiêu thị là rất quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng. Hoạt động chiêu thị bao gồm 4 yếu tố :quảng cáo, bán hàng trực tiếp, khuyến mãi và quan hệ công chúng. Mỗi yếu tố đều có những vai trò đặc trưng riêng nhưng chúng luôn luôn kết hợp lại trong một lỗ lực nhằm thông báo cho người tiêu dùng về sự có mặt của những sản phẩm và nhắc nhở họ tiêu dùng những sản phẩm đó. Một chiến lược chiêu thị thích hợp bao giờ cũng mang lại cho doanh nghiệp những thuận lợi cơ bản giúp gia tăng doanh số, sự ưa thích và trung thành với nhãn hiệu. Xuất phát từ vai trò quan trọng đó, đầu tư cho hoạt động chiêu thị (quảng caó, bán hàng, khuyến mãi ..) là hết sức cần thiết đối với các doanh nghiệp trong thời đại kinh tế thị trường hiện nay. Quan tâm đầu tư đúng mức, có trọng tâm cho công tác này là cách để doanh nghiệp có vị thế cạnh tranh hơn so với các đối thủ cạnh tranh khác trền cùng một thị trường. IV. Sự cần thiết đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành thép Việt Nam 1. Quá trình phát triển của ngành thếp Việt Nam. Ngành sản xuất thép ở Việt Nam đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm xây dựng từ rất sớm. Ngay sau khi hoà bình lặp lại trên miền Bắc, Đảng và Chính phủ đã quyết định xây dựng khu liên hiệp gang thép Thái Nguyên do Trung Quốc giúp đỡ vào năm 1959 và đã cho ra đời mẻ gang đầu tiên năm 1963. Năm 1973, nhà máy luyện và cán thép Gia Sàng công suất 30.000 tấn/ năm do CHDC Đức giúp đỡ đã ra đời, góp phần bổ xung, hoàn thiện dây chuyền luyện và cán, đảm bảo công suất thiết kế 10 vạn tấn/năm cho cả khu liên hiệp gang thép Thái Nguyên . Sau khi đất nước thống nhất, năm 1976 công ty luyện kim đen Miền Nam được thành lập trên cơ sở tiếp quản các nhà máy luyện cán thép mini của chế độ cũ ở thành phố HCM và Biên Hoà, với tổng công suất cán 80.000 tấn thép cán/năm. Từ năm 1976 đến năm 1989, ngành thép gặp rất nhiều khó khăn do kinh tế đất nước lâm vào khủng hoảng. Mặt khác nguồn thép nhập khẩu từ Liên Xô và các nước XHCN vẫn còn dồi dào, vì vậy ngành thép chỉ duy trì mức sản lượng 40.000-85.000 tấn/năm. Từ năm 1989 –1995, thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng, ngành thép đã được khắc phục khó khăn và bắt đầu tăng trưởng mạnh, sản lượng thép trong nước đã vượt ngưỡng 100.000 tấn/năm. Năm 1990, Liên Xô và khối SEV tan rã, nguồn cung ứng thép cho Việt Nam bị cắt giảm cũng là nhân tố quan trọng thúc đẩy ngành thép phải phát triển mạnh để bù sự thiếu hụt. Năm 1990, Tổng công ty thép Việt Nam thuộc Bộ công nghiệp nặng được thành lập, thống nhất quản lý ngành sản xuất thép quốc doanh trong cả nước. Đây là thời kỳ phát triển sôi động, nhiều dự án đầu tư theo chiều sâu và liên doanh với nước ngoài được thực hiện. Các ngành và các thành phần kinh tế khác đua nhau sản xuất thép mini. Sản lượng thép cán năm 1995 đã tăng gấp 4 lần năm 1990, đạt 450.000 tấn/năm . Tháng 4 năm 1995, Tổng công ty Thép Việt Nam theo mô hình Tổng công ty 91 được thành lập trên cơ sở hợp nhất Tổng công ty thép Việt Nam thuộc Bộ công nghiệp và tổng công ty kim khí thuộc Bộ thương mại. Thời kỳ từ năm 1996 đến 2002, ngành Thép vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng khá cao.Tiếp tục đầu tư đổi mới và đầu tư chiều sâu mạnh mẽ. Đã hình thành và đưa vào hoạt động 13 dự án liên doanh, trong đó có 12 nhà máy liên doanh cán thép và gia công chế biến sau cán. Sản lượng thép cả nước năm 1999 đạt 1,4 triệu tấn/năm gấp hơn 3 lần năm 1995 và gấp 14 lần năm 1990. Có thể nhận thấy rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, hơn 40 năm qua ngành thép Việt Nam đã không ngừng phát triển, góp phần đáng kể vào sự nghiệp giải phóng đất nước và xây dựng XHCH. Quá trình xây dựng sản xuất và phát triển lâu dài của ngành thép Việt Nam đã đào tạo được một đội ngũ công nhân, cán bộ lành nghề, giàu kinh nghiệm. Đây là vốn quý của ngành Thép, là nhân tố quan trọng trong sự phát triển của ngành thép Việt Nam. Bước sang thời kỳ mới, thực hiện chủ trương CNH-HĐH đất nước của Đảng và tham gia hội nhập quốc tế, ngành thép Việt Nam cần được phát triển mạnh mẽ hơn để tương xứng với vị trí và vai trò của nó trong nền kinh tế quốc dân. Về cơ cấu sản xuất trong nghành thép hiện nay . Hiện nay ngành thép Việt Nam mới chỉ sản xuất các loại sản phẩm dài phục vụ chủ yếu trong ngành xây dựng (thép tròn trơn, tròn vằn dạng thanh dài F 10ữ40 mm, thép cuộn dây F6-F10 và thép hình cỡ nhỏ và cỡ vừa) và gia công sản xuất ống hàn, tôn mạ, hình uốn nguội, cắt xẻ.. từ sản phẩm dẹt nhập khẩu. Các sản phẩm dài sản xuất trong nước cũng phần lớn được cán từ phôi thép nhập khẩu. Khả năng tự sản xuất phôi thép trong nước còn nhỏ bé, chỉ đáp ứng được khoảng 25%, còn lại 75% nhu cầu phôi thép cho các nhà máy phải nhập từ bên ngoài. Trong nước chưa có các nhà máy cán sản phẩm dẹp (tấm, lá cán nóng, cán nguội). Phôi thép và thép cán sản xuất trong nước có chất lượng thông thường và còn phụ thuộc vào chất lượng phôi thép nhập khẩu. Khả năng xuất khẩu còn hạn chế mà sản phẩm chủ yếu được tiêu thụ trong nước và thay thế nhập khẩu. Chưa có cơ sở tập trung sản xuất thép đặc biệt phục vụ chế tạo cơ khí. Hiện nay chỉ sản xuất một số loại thép đặc biệt với quy mô nhỏ ở một số nhà máy cơ khí và nhà máy thép của Tổng công ty Thép Việt Nam. Nhìn chung trong thời gian qua, do hạn chế vốn đầu tư và do thị trường trong nươc còn nhỏ bé, ngành thép Việt Nam mới chỉ đầu tư tập trung vào các sản phẩm dài để đáp ứng nhu cầu cấp bách trong nước. Đây là các sản phẩm có thuận lợi về thị trường, cần vốn đầu tư ít, thời gian xây dựng nhà máy ngắn, hiệu quả đầu tư khá cao thu hút được nhiều đối tác nước ngoài bỏ vốn kinh doanh. Đối với các sản phẩm thép dẹt do nhu cầu còn thấp trong khi đó để đảm bảo hiệu quả thì công suất của nhà máy phải đủ lớn, vốn đầu tư lớn cho nên ít hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài tham gia liên doanh mà bản thân ngành thép chưa đẻ sức đầu tư. Do vậy nhìn chung cơ cấu sản xuất của ngành thép hiện nay là thiếu đồng bộ, mất cân đối giữa sản xuất phôi với cán thép, giữa cơ cấu mặt hàng và cơ cấu chất lượng sản phẩm . Vì vậy trong thời gian tới ngành thép cần phải có những chiến lược đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu để hiện đại hoá nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm tăng cường sức cạnh tranh, giảm dần và tiến tới khắc phục sự mất cân đối trong cơ cấu sản xuất hiện nay. 2. Vai trò đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh đối với các doanh nghiệp . Toàn cầu hoá đang là một xu thế phát triển chủ yếu của nền kinh tế thế giới trong thời kỳ mới . Quá trình khu vực hoá và toàn cầu hoá đang diễn ra nhanh chóng, trong đó các quốc gia trên thế giới đều đang tích cực đan xen và phối hợp chính sách kinh tế theo hướng mở cửa, giảm và tiến tới xoá bỏ hoàn toàn hàng rào thuế quan và phi thuế quan nhằm tạo điều kiện và tiến tới tự do hóa thương mại, hàng hoá, dịch vụ, đầu tư, tự do hoá tài chính tiền tệ, vốn và lao động. Nền kinh tế các nước đang tiến tới nền kinh tế toàn cầu trên cơ sở phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và vai trò then chốt trong các hoạt động kinh tế quốc tế của các công ty xuyên quốc gia (TNC). áp lực từ phía khách hàng Trong nền kinh tế thị trường với sự phát triển phong phú và đa dạng của các mặt hàng, của nhiều hãng thì khách hàng sẽ có nhiều cơ hội để lựa chọn hơn. Họ có thể mua sản phẩm nào hợp thị hiếu, vừa túi tiền và chất lượng sản phẩm ở bất kỳ nhà sản xuất nào. Đó cũng chính là một vấn đề thúc đẩy các doanh nghiệp tăng cường khả năng cạnh tranh, kéo được khách hàng đến với sản phẩm của mình bằng mọi hình thức để tiêu thụ nhanh sản phẩm tránh ứ đọng vốn, tăng hiệu quả sử dụng vốn. Do có quyền chọn trong tay, yêu cầu của khách hàng đối với sản phẩm ngày càng cao và chi tiết hơn về chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ, phương thức thanh toán ...Xu hướng này là một bất lợi đối với các doanh nghiệp nhưng cũng là các yếu tố buộc các doanh nghiệp phải có chiến lược cạnh tranh phù hợp và phát triển sản xuất . Đe doạ của các sản phẩm thay thế Sản phẩm thay thế là sản phẩm có tính năng và công dụng tương tự các sản phẩm của doanh nghiệp. Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ như ngày nay, các sản phẩm được sản xuất ra luôn được cải tiến. Một sản phẩm có thể đáp ứng được nhiều mục đích tiêu dùng khác nhau của người mua. Chính vì thế, mức độ tham gia vào thị trường của các sản phẩm thay thế là rất lớn. Đứng trước sản phẩm của doanh nghiệp có mức giá cao và các sản phẩm khác có tiện ích tương tự nhưng gía rẻ hơn, người tiêu dùng chắc chắn sẽ không lựa chọn sản phẩm của doanh nghiệp mà sẽ ưu tiên cho sản phẩm có khả năng thay thế kia. Chính sự xuất hiện của xu thế này đã đòi hỏi các doanh nghiệp muốn có được khách hàng hay nói cách khác muốn tiêu thụ được sản phẩm hàng hoá, dịch vụ thì phải bằng mọi cách nâng cao khả năng cạnh tranh của mình. Đe doạ của người nhập cuộc Khi mà nền kinh té ngày càng phát triển, mọi tổ chức các nhân đều có thể dễ dàng gia nhập thị trường của ngành. Mặt khác sự tự do hoá không chỉ diễn ra trong nước mà còn mở rộng trên toàn thế giới. Hàng hoá một nước có thể tự do ra vào nước khác. Sức ép của các đối thủ mới gia nhập (trong nước cũng như ngoài nước) Với những lợi thế từ thiết bị công nghệ đến phương pháp quản lý tiên tiến hiệu quả sẽ không chỉ gây bất lợi đối với doanh nghiệp mà còn đối với toàn ngành. Để đối phó với vấn đề này doanh nghiệp cũng cần phải có những giải pháp không chỉ ở trước mắt mà còn là ở lâu dài, phải có những chiến lược đầu tư mang tính định hướng để khẳng định sự tồn tại của doanh nghiệp trên thị trường . 3. Sự cần thiết phải đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh của Tổng công ty thép Việt Nam . Sau hơn 10 năm đổi mới, Tổng công ty thép Việt Nam đã tạo cho mình một thế và lực mới. Tổng công ty với vai trò là nhân vật trung tâm của ngành thép Việt Nam đã góp phần đáp ứng cơ bản nhu câù thép xây dựng trong nước, trình độ công nghệ đã được nâng lên. Là một trong số 17 Tổng công ty 91, Tổng công ty thép Việt Nam đã được Nhà nước đầu tư cơ sở vật chất tương đối lớn so với các doanh nghiệp sản xuất thép khác. Qua mấy chục năm phát triển, các đơn vị đầu đàn như công ty Gang thép Thái Nguyên, công ty thép Miền Nam, đã đào tạo được đội ngũ kỹ thuật có tay nghề cao, đây thực sự là một tài sản quý mà Tổng công ty thép Việt Nam cần phải giữ gìn và phát huy trong cuộc cạnh tranh . Mặt khác tham gia hội nhập nền kinh tế thế giới đã và đang tạo điều kiện cho Tổng công ty thép Việt Nam nhanh chóng tiếp thu được công nghệ sản xuất thép và công nghệ quản lý tiên tiến trền thế giới. Nó giúp cho Tổng công ty thép Việt Nam có thể rút ngắn được thời gian hiện đại hoá được cơ sở sản xuất của mình. Bên cạnh những thuận lợi trên, trong giai đoạn tới Tổng công ty thép Việt Nam phải đương đầu với những khó khăn và thách thức không nhỏ. Do ngành thép nói chung còn ở trong tình trạng kém phát triển so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Tổng công ty thép Việt Nam vẫn còn ở trong tình trạng kém phát triển. Cơ sở vật chất kỹ thuật tuy lớn song phần lớn trang thiết bị công nghệ đều được đâù tư từ những năm 60,70 đã cũ và lạc hậu. Do vậy các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật còn thấp hơn nhiều so với các liên doanh, các nước trong khu vực và trên thế giới, năng suất lao động thấp, tiêu hao vật tư lớn. Điều này đã dẫn đến khả năng cạnh tranh của Tổng công ty thép Việt Nam trong giai đoạn vừa qualà rất thấp. Khả năng xuất khẩu sản phẩm thép còn hạn chế , mạng lưới các cơ sở phân phối có ở khắp đất nước song tổ chức chưa hợp lý, phân tán không phát huy được sức mạnh liên kết giữa sản xuất và lưu thông. Chủng loại sản phẩm còn đơn điệu, lao động và dư thừa nhiều là một gánh nặng cho Tổng công ty thép Việt Nam trong nỗ lực hiện đại hoá doanh nghiệp. Thị phần của Tổng công ty thép Việt Nam có xu hướng giảm và hiện tại sản lượng thép của Tổng công ty chỉ còn khoảng 30 % thị phần thép của cả nước. Tóm lại, Tổng công ty thép Việt Nam đang phải đối mặt với nguy cơ mất dần vị trí chủ lực trong ngành thép Việt Nam, mất dần vị trí trung tâm trong cuộc cạnh tranh gay gắt ngay tậi thịu trường trong nước và không đủ khả năng cạnh tranh khi tham gia hội nhập kinh tế khu vực và trên thế giới. Do vậy việc đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh đối với Tổng công ty thép Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là một yêu cầu vô cùng cấp thiết đối với sự toòn tại và phát triển của Tổng công ty. 4. Đặc điểm hoạt động đầu tư trong ngành thép. Xuất phát từ đặc điểm tài nguyên phục vụ cho ngành thép thì hoạt động đâù tư trong ngành thép cũng mang những nét đặc trưng riêng với những ngành khác . Thứ nhất, vốn đầu tư lớn: nguyên liệu phục vụ ngành thép phải được lấy từ các mỏ khoáng sản như than mỡ antraxit,khí thiên nhiên và các quặng sắt..tuy nhiên để khai thác được nguồn tài nguyên này thì phải đòi hỏi một lượng vốn đầu tư tương đối lớn. Chẳng hạn mỏ quặng sắtThạch Khê (Hà Tĩnh) có trữ lượng lớn, hàm lượng cao, song lại nằm sâu dưới mực nước biển chính vì thế đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở và xây dựng mỏ lớn, chi phí khai thác cao do phải bơm tháo khô mỏ, khai thác với công suất lớn thì mới hiệu quả cao. Thứ hai, hoạt động đầu tư chịu tác động của điều kiện tự nhiên: do các mỏ và điểm quặng phân bố rải rác ở các miền, đa số ở vùng sâu, vùng xa, không thuận lợi để đầu tư khai thác bằng cơ giới, chính vì thế các công trình đầu tư của ngành thép được xây dựng ở vị trí của từng mỏ, điểm quặng đó. Đây là nguyên nhân dẫn đến các công trình đầu tư này chịu tác động không nhỏ của điều kiện tự nhiên như mưa, lũ, sự bất ổn của địa chất. Thứ ba, thời gian thực hiện đầu tư cũng như thời gian thu hồi vốn đâu tư bỏ ra là rất lớn: thời gian bắt đâù một công cuộc đầu tư từ khi bắt đầu đến khi phát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều năm tháng, thời gian vận hành để thu hồi vốn cũng kéo dài. Không tính đến hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp sản xuất thép tư nhân, hộ gia đình thì để hoàn thành một nhà máy sản xuất thép cần từ 5 đến 10 năm, thậm chí còn lâu hơn. Đó là chưa kể đến những rủi ro có thể gặp trong quá trình xây dựng do kéo dài thời gian thi công. Bên cạnh đó, đối với ngành thép, vốn đầu tư bỏ ra ban đầu là rất lớn do đó để có thể thu hồi được thì cần phải có thời gian dài, thậm chí có khi hàng chục năm. Thứ tư, Hoạt động đầu tư chịu nhiều rủi ro: do thời gian đầu tư kéo dài và vốn đầu tư lớn nên đầu tư trong ngành thép gặp nhiều rủi ro, đặc biệt là các rủi ro sau: Rủi ro về xây dựng và hoàn thành công trình: thường là các rủi ro kéo dài thời gian thi công do bỏ vốn chậm. Rủi ro về kỹ thuật và vận hành: đây cũng là rủi ro hay gặp trong quá trình sử dụng máy móc để sản xuất. Đặc biệt là đối vơi Tổng công ty thép Việt Nam do máy móc thiết bị lạc hậu nên không đáp ứng được yêu cầu sản xuất và không thể vận hành với công suất thiết kế. Rủi ro về thị trường: do quy mô, thời gian thực hiện đầu tư trong ngành thép là rất lớn và dài nên có thể phải hứng chịu các rủi ro về thị trường, chẳng hạn như hàng hoá sản xuất ra không bán được dẫn đến ứ đọng vốn, giảm hiệu quả đầu tư. Nếu không nghiên cứu kỹ, dự báo nhu cầu một cách chính xác thì rủi ro về thị trường sẽ là một trở ngại lớn đối với ngành thép. Từ những đặc điểm trên ta thấy đầu tư trong ngành thép là hết sức khó khăn và chịu nhiều rủi ro. Chính vì vậy để hoạt động đầu tư có hiệu quả, mang về những lợi ích nhất định trong ngành thép thì ngành phải có sự quan tâm, chuẩn bị một cách tốt nhất các công đoạn của quá trình đầu tư để làm sao khi tiến hành một dự án nào đó thì phải hoàn thành và đạt kết quả cao. Tránh tình trạng bỏ dở, gây lãng phí thất thoát vốn, vật tư và vật lực . p nhập khẩu) nên tính cạnh tranh chưa cao. Khả năng xuất khẩu sản phẩm thép còn hạn chế vì vậy trong thời gian tới, Tổng công ty thép Việt Nam cần phải đầu tư mạnh mẽ để hiện đại hoá, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm ,tăng cường sức cạnh tranh, giảm dần, tiến tới khắc phục sự mất cân đối trong cơ cấu sản xuất . Chương ii Thực trạng năng lực cạnh tranh và tình hình đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh của tổng công ty thép Việt Nam I. Thực trạng năng lực cạnh tranh của Tổng công ty thép Việt Nam . 1. Quá trình hình thành và phát triển của tổng công ty . Công nghiệp thép đã và đang đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển nền kinh tế quốc dân. Để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa ,hiện đại hoá đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm và trú trọng phát triển công nghiệp thép .Điều đó thể hiện rõ trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội đã được các đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, IX của Đảng thông qua. Quán triệt quan điểm của Đảng ta về xây dựng chính sách kinh tế nhiều thành phần trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo ,xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty Nhà nước, tổng công ty thép Việt Nam được thành lập năm 1990 trên cơ sở sát nhập 2 nhà sản xuất thép lớn nhất của Việt Nam, công ty Gang thép Thái Nguyên ở phía Bắc và công ty thép Miền Nam ở phía Nam. Năm 1995 Tổng công ty thép Việt Nam được tái thành lập và cơ cấu lại trên cơ sở sát nhập hai tổng công ty nhà nước , Tổng công ty thép Việt Nam và Tổng công ty kim khí theo quyết định số 255/TTg ngày 29/4/1995 của Thủ tướng Chính phủ. Chính phủ đã có nghị định số 03/CP ngày 25/1/1996 phê duyệt đIều lệ tổ chức và hoạt động của Tổng công ty thép Việt Nam . Tổng công ty thép Việt Nam là một doanh nghiệp Nhà nước có trách Nhiệm sản xuất và phân phối thép ở Việt Nam . Xét về cơ cấu tổ chức, Tổng công ty thép Việt Nam hiện có 14 đơn vị thành viên (tính đến tháng 12 năm 2002)được chia thành 3 khối như sau Khối các đơn vị sản xuất (4 đơn vị ). Công ty Gang thép Thái Nguyên . Công ty thép Miền Nam . Công ty thép Đà Nẵng . Công ty vật liệu chịu lửa và khai thác đất sét Trúc Thôn. 1.2. Khối các đơn vị thương mại (8 đơn vị) . Công ty kim khí Hà Nội . Công ty kim khí Bắc Thái . Công ty kim khí Quảng Ninh . Công ty kim khí Hải Phòng . Công ty kim khí và vật tư tổng hợp Miền Trung . Công ty kim khí thành phố Hồ Chí Minh. Công ty kinh doanh thép và vật tư thiết bị công nghiệp . 1.3. Khối các đơn vị sự nghiệp . Viện luyện kim đen . Trường dạy nghề mỏ và luyện . Qua năm năm hoạt động theo mô hình tổng công ty 91Tổng công ty thép Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng, có mức tăng trưởng khá cao ,năng lực sản xuất tăng mạnh nhờ đầu tư chiều sâu .Năm 2000 sản lượng thép cán của tổng công ty thép Việt Nam và các đơn vị liên doanh có vốn của tổng công ty đạt hơn 1,3 triệu tấn, tăng 3 lần so với năm 1995 và 14 lần so với năm 1990 .Tổng doanh thu bán hàng của tổng công ty năm 2000 đạt trên 6000 tỷ đồng . Sau hai năm bị thua lỗ, từ năm 1998 tổng công ty bắt đầu có lãi, năm 2000 lợi nhuận của tổng công ty vào khoảng trên 100 tỷ đồng Tổng số lao động hiện có của tổng công ty năm 2000 là 18390 người và năm 2002 là 17522 người Trong lĩnh vực hợp tác với nước ngoài, trong giai đoạn từ năm 1993 đến nay tổng công ty thép Việt Nam liên doanh với các công ty sản xuất thép của Hàn Quốc, Đaì Loan, Nhật Bản, Australia thành lập các liên doanh sản xuất và gia công thép . Tính đến thời điểm hiện nay Tổng công ty góp vốn thành lập 14 liên doanh với nước ngoài (trong đo 13 liên doanh sản xuất và gia công thép) gồm một số liên doanh chính như: VINAKYOEI, VSP , VINAUSTEEL, TÂY ĐÔ, NATSTEELVINA . 2. Năng lực và tình hình sản xuất hiện tại. 2.1. Năng lực sản xuất Xét về năng lực luyện thép, Tổng công ty thép Việt Nam hiện có 2 lò cao cỡ nhỏ công suất 100m3 được xây dựng từ những năm 1960 (tuy nhiên, hiện tại chỉ có một lò cao đang vận hành), 20 lò điện hồ quang phần lớn là lò có công suất nhỏ, lò có công suất nhỏ nhất là 1,5T/ mẻ và lò lớn nhất với công suất 30T/mẻ. Tổng năng lực luyện thép của công ty vào khoảng 350.000 tấn thép/ năm. Số máy đúc liên tục phôi vuông với công suất 330.000 tấn/ năm. Năng lực cán của Tổng công ty bao gồm 5 dàn cán bán liên tục sản xuất thép tròn và hình nhỏ, 7 dàn cán mini tổng công suất cán khoảng 760.000 tấn/ năm. 2.2. Tình hình sản xuất. Trong những năm qua nhờ có những thành tựu phát triển chung của nền kinh tế và nỗ lực của Tổng công ty trong việc đầu tư chiều sâu, hiện đại hoá các cơ sở hiện có, Tổng công ty thép Việt Nam đã có sự phát triển ổn định. Số liệu về tình hình sản xuất phôi thép, thép cán và thép tiêu thụ, giai đoạn 1998 -2002 của Tổng công ty thép Việt Nam được thể hiện ở bảng 1. Qua bảng số liệu ta thấy sản lượng luyện thép (phôi thép) trong 5 năm qua không có sự tăng trưởng đáng kể, chỉ giữ ở mức khoảng 329.000 tấn, bằng 94% công suất luyện hiện có của tổng công ty. Việc không phát huy hết công suất luyện thép chủ yếu do thiếu nguyên liệu thép phế. Đối với sản xuất thép cán trong giai đoạn qua mặc dù khá ổn định, song mức tăng trưởng thấp. Năm 1998,1999 sản lượng thép cán ổn định ở mức 464.000 tấn. Năm 2000 có tốc độ tăng trưởng khoảng 13% so với năm 1998, năm 2002 có mức tăng trưởng cao khoảng 65,3% so với 1998, sản lượng thép cán đạt 767.000 tấn. Bảng 1: Sản lượng phôi thép và thép cán của Tổng công ty thép Việt Nam giai đoạn 1998 -2002 Chỉ tiêu ĐVT 1998 1999 2000 2001 2002 1. Phôi luyện - Tốc độ tăng trưởng 1000 tấn % 305 - 308 0,98 305 0 318 4,26 410 34,42 2. Thép cán - Tốc độ tăng trưởng 1000 tấn % 464 - 464 0 524 12,9 659 42,02 767 65,3 3. Tiêu thụ - Tốc độ tăng trưởng 1000 tấn % 452 - 467 3,3 527 16,59 626 38,49 690 52,65 Nguồn: Phòng kế toán tài chính (Bộ phận đầu tư) 2.3. Hệ thống phân phối và tình hình tiêu thụ. Trực thuộc tổng công ty thép Việt Nam có 8 công ty Thương mại có nhiệm vụ chủ yếu là phân phối thép trên thị trường trong nước. Hoạt động của các công ty kim khí này là bán buôn các sản phẩm thép nội địa và nhập khẩu. Tuy nhiên, trong thời gian qua tỷ lệ nhập khẩu của các công ty Thương mại có xu hướng tăng. Tỷ lệ tiêu thụ thép do các đơn vị thuộc khối sản xuất của Tổng công ty thép Việt Nam còn thấp, chỉ chiếm khoảng 30% sản lượng thép cán của Tổng công ty. Chính vì vậy, ngoài bán cho các đơn vị lưu thông trong Tổng công ty thép Việt Nam, các công ty sản xuất vẫn phải thiết lập hệ thống bán hàng riêng của mình. Tỷ lệ tiêu thụ thông qua hệ thống đại lý riêng khá cao, vào khoảng 65 -70% tổng số tiêu thụ. Những phân tích trên cho thấy giữa hai khối sản xuất và lưu thông chưa có sự gắn bó, hỗ trợ nhau chặt chẽ, chưa thực sự tạo thành sức mạnh liên kết giữa sản xuất và lưu thông như chiến lược ban đầu khi thành lập Tổng công ty. 3. Sản phẩm và thị trường các sản phẩm thép. Hiện nay ngành công nghiệp thép Việt Nam nói chung, Tổng công ty thép Việt Nam nói riêng mới chỉ sản xuất được sản phẩm thép dài, bao gồm thép tròn trơn, tròn vằn f 10 - 40 mm, thép dây f 6 -10mm và thép hình cỡ nhỏ phục vụ cho xây dựng. Ngoài ra còn có gia công, sản xuất thép ống, tôn mạ từ sản phẩm thép dẹp nhập khẩu. Do có đầu tư chiều sâu cải tiến kỹ thuật và quản lý chất lượng, chất lượng sản phẩm thép của các đơn vị sản xuất của Tổng công ty thép Việt Nam đã nâng cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế. Các công ty thép Miền Nam, gang thép Thái Nguyên đều được cấp giấy chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng ISO 9002. Trong nước chưa có cơ sở sản xuất các sản phẩm thép dẹp như tấm, lá cán nóng, cán nguội. Thị trường chính của Tổng công ty thép Việt Nam là thị trường trong nước. Sản phẩm của Tổng công ty có mặt khắp đất nước, cả ba miền Bắc, Trung, Nam. Hệ thống các đơn vị thành viên của cả hai khối sản xuất và lưu thông trải dài khắp đất nước. Trong những năm gần đây thị phần của Tổng công ty thép Việt Nam có xu hướng giảm, nếu năm 1995 sản lượng của Tổng côngty thép Việt Nam chiếm khoảng 87% thị phần thép xây dựng của cả nước, thì tỷ lệ đó năm 2000 đã giảm xuống còn 33%, năm 2002 còn khoảng 30%. Thị trường xuất khẩu rất hạn chế, chỉ giới hạn ở một số nước như Campuchia, Lào, Đài Loan. Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là gang đúc. Hai năm gần ._. tác đàm phán một cách rất kỹ lưỡng có như vậy mới có kết quả. Ngoài ra Tổng công ty còn phải có kế hoạch huy động vốn để thực hiện việc đầu tư đó. Đầu tư thay thế công suất bị xoá bỏ bằng những dây chuyền cán hiện đại với quy mô công suất khoảng 300.000t/năm ở cả ba miền Bắc, Trung và Nam. Giải pháp cho việc khai thác và sử dụng tài nguyên trong nước. Ta biết rằng nguyên nhân dẫn đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm của Tổng công ty không có khả năng cạnh tranh trong thời gian qua đó là chi phí sản xuất quá lớn mà một trong những yếu tố góp phần tạo nên chí phí sản xuất của Tổng công ty lớn đó là chi phí vận chuyển của Tổng công ty cũng rất lớn nguyên nhân do các nhà máy sản xuất phôi thép được xây dựng không hợp lý. Các nhà máy sản xuất phôi thép của Tổng công ty thường được xây dựng sâu trong đất liền trong khi đó địa điểm được khai thác các mỏ quặng sắt thường lại nằm ở biển hoặc ở vùng núi cao. Đây là một điều rất bất hợp lý chính vì vậy trong thời gian tới Tổng công ty cần phải có kế hoạch xây dựng các nhà máy sản xuất phôi thép gần với địa điểm khai thác hơn tức là gần ven biển hơn để giảm chi phí sản xuất. Đồng thời phải có kế hoạch khai thác hợp lý không được khai thác bừa bãi vì các mỏ này không phải là những tài nguyên có thể tái tạo được. Đầu tư xây dựng nhà máy cán nóng, cán nguội để sản xuất cuộn cán nóng, cán nguội phục vụ thị trường trong nước đang có nhu cầu ngày càng gia tăng. Trong giai đoạn qua Tổng công ty thép Việt Nam mới chỉ sản xuất được các sản phẩm thép tròn trơn, tròn vằn, thép dây và một số sản phẩm thép gia công khác mà chưa sản xuất được các sản phẩm thép dẹp cán nóng, cán nguội. Để khắc phục tình trạng thiếu hụt đó trong thời gian qua Tổng công ty đã thực hiện việc nhập khẩu các sản phẩm đó phục vụ nhu câù trong nước. Hơn nữa gía cả nhập khẩu sản phẩm thép dẹp cũng rất đắt do vậy đây không phải là giải pháp lâu dài. Trong khi đó nhu cầu cho sản phẩm thép dẹp ở trong nước ngày càng gia tăng và có thể nói sản phẩm thép dẹp sẽ là một thị trường tiềm năng mà bất kỳ một doanh nghiệp nào nếu biết nhìn xa trông rộng, biết có kế hoạch sản xuất sản phẩm đó. Đối với Tổng công ty thép Việt Nam là một doanh nghiệp chủ lực trong ngành thép Việt Nam do vậy để tồn tại và phát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường thì Tổng công ty không thể không nghĩ tới việc đầu tư cho các nhà máy sản xuất các sản phẩm thép dẹp cán nóng và cán nguội. Vấn đề là Tổng công ty phải có kế hoạch cụ thể, phải tiến hành lập dự án khả thi và phải nghiên cứu một cách kỹ lưỡng trong việc tìm nguồn vốn đầu tư để thực hiện dự án. Để có được nguồn vốn cùng với công nghệ tiên tiến thì một giải pháp có thể khả thi đó là kêu gọi đầu tư nước ngoài thông qua hình thức liên doanh. Bởi vì khi liên doanh thì công ty có thể tận dụng được nguồn vốn đóng góp của nước ngoài thông qua chuyển giao công nghệ khi đó Tổng công ty sẽ không phải mất nhiều vốn vào đầu tư cho công nghệ. Mặt khác khi tiến hành liên doanh thì doanh nghiệp còn có thể học hỏi được những kinh nghiêm quản lý tiên tiến của nước bạn. Đầu tư xây dựng các nhà máy sản xuất phôi thép có công suất lớn. Năng lực sản xuất phôi thép của Tổng công ty thép Việt Nam trong thời gian qua có thể nói là rất thấp lượng phôi thép không đủ để sản xuất thép cán do vậy Tổng công ty phải tiến hành nhập khẩu phôi thép để bù vào sự thiếu hụt đó. Nguyên nhân dẫn đến năng lực sản xuất phôi thép không đủ để sản xuất thép cán đó là các nhà máy sản xuất phôi thép đã được đầu tư từ rất lâu do vậy công nghệ đã trở nên rất lạc hậu, tiêu tốn nhiều nguyên, nhiên liệu chi phí sản xuất rất lớn, khả năng thu hồi thép lỏng rất thấp. Cùng với công nghệ của các nhà máy sản xuất phôi thép đã lạc hậu là lượng thép phế trong nước cũng không đủ để sản xuất phôi thép. Do vậy để đảm bảo lượng thép phế phục vụ cho sản xuất thép cán trong giai đoạn tới Tổng công ty thép cần phải tiến hành một số các công việc như: tiến hành đầu tư xây dựng các nhà máy sản xuất phôi thép có công suất lớn gần với nơi khai thác các loại quặng sát để giảm thiểu chi phí. Thay thế các nhà máy sản xuất phôi thép đã cũ và lạc hậu. Việc thực hiện đầu tư có thể bằng hai hình thức đó là tự đầu tư hoặc liên doanh. Về nguồn vốn thực hiện có thể vay ưu đãi vốn tín dụng của Nhà nước và huy động vốn từ nước ngoài có thể nói đây là hai nguồn vốn chủ yếu ngoài ra còn có thể huy động một số nguồn vốn khác như vốn tự có hoặc vốn trên thị trường tài chính. Để tăng cường năng lực sản xuất phôi thép, sau khi hoàn thành dự án cải tạo mở rộng sản xuất công ty gang thép Thái Nguyên do Trung Quốc giúp đỡ với công suất khoảng 250.000t/năm vào năm 2002, Tổng công ty thép Việt Nam cần xúc tiến đầu tư hai trung tân sản xuất phôi thép một ở Miền Bắc và một ở Miền Nam với công suất mỗi nhà máy là 500.000 tấn phôi thép/năm. Trong chiến lược lâu dài cần tiến hành đầu tư xây dựng nhà máy thép liên hợp công suất 4-5 triệu tấn thép/năm trong giai đoạn sau năm 2010 nhằm tạo ra một quả đấm thép cho sự phát triển của Tổng công ty thép Việt Nam. Tiến hành nghiên cứu quy hoạch khai thác các mỏ quặng sắt Thạch Khê và Quý Xa để cung cấp nguyên liệu cho khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên và nhà máy thép liên hợp tương lai. 1.2. Thực hiện việc tổ chức lại hệ thống doanh nghiệp, đổi mới tổ chức và quản lý doanh nghiệp. Thực hiện cơ chế đổi mới, cơ cấu lại hệ thống doanh nghiệp thành viên theo hướng đảm bảo cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, chuyên môn hoá cao. Đối với Công ty Gang thép Thái Nguyên, nơi có nhiều bộ phận sản xuất và phục vụ, lực lượng lao động đông vượt con số 10.000 lao động mặc dù đã có nhiều nỗ lực sau hai năm tinh giảm biên chế, cần tiến hành một cách triệt để và kiên quyết các phương thức sắp xếp lại doanh nghiệp như cổ phẩn hoá, giao khoán, bán khoán và cho thuê các bộ phận không cần thiết đến dây chuyền sản xuất chính hoặc các bộ phận mang tính xã hội do lịch sử để lại. Đối với hệ thống các công ty thương mại thành viên của Tổng công ty, vốn trước đây là những công ty kim khí thuộc Tổng công ty kim khí được sát nhập vào Tổng công ty thép Việt Nam, cần có một kế hoạch sắp xếp lại hợp lý hơn theo hướng ít đầu mối, tập trung và chuyên môn hoá, tạo sự gắn kết thực sự giữa sản xuất và phân phối. Khối này bao gồm 8 đơn vị, quản lý hơn 300 tỉ đồng vốn nhà nước, tuy nhiên quy mô không đồng đều có những đơn vị chỉ quản lý khoảng 10 tỉ đồng, phân bố ở ba miền Bắc, Trung, Nam tập trung phần lớn ở phía Bắc ( 5 đơn vị). ở trong phạm vi bán kính không quá 200 km, lấy Hà Nội làm trung tâm tập trung tới 5 đơn vị lưu thông đó là Kim khí Hà Nội, Công ty kinh doanh thép và vật tư Hà Nội, Công ty Kim khí Quảng Ninh, Công ty Kim khí Hải Phòng và công ty Kim khí Bắc Thái. Các mặt hàng kinh doanh của 5 đơn vị này không khác biệt lắm, bao gồm thép cán sản xuất trong nước, nhập khẩu phôi thép, thép tấm lá bán cho các hộ tiêu thụ trong nước. Sự phân bố không hợp lý này dẫn đến sự chồng chéo trong kinh doanh, hiệu quả chuyên môn hoá không cao. Thực tế hoạt động trong những năm qua của những đơn vị này đã minh chứng cho điều trên. Hiệu quả kinh doanh của những đơn vị này rất thấp, công nợ khó đòi phát sinh tăng. Những điều này gợi ý cho chúng ta phải xem xét một giải pháp sắp xếp các đơn vị này theo hường chỉ giữ 1 hoặc cùng lắm là 2 đơn vị thực hiện nhiệm vụ phân phối sản phẩm thép, những đơn vị còn lại hoặc cổ phần hoá để thu hồi vốn tập trung cho các dự án hiện đại hoá sản xuất hoặc sát nhập vào những đơn vị được giữ lại. Chúng tôi cho rằng phương án cổ phần hoá nên được lựa chọn. Sự bất hợp lý trong cơ cấu tổ chức cũng được bộc lộ ở những đơn vị khu vực Miền Trung, nơi có 2 công ty: công ty thép Đà Nẵng và công ty kim khí Miền Trung. Cả hai đơn vị đều có quy mô nhỏ. Công ty thép Đà Nẵng chuyên về sản xuất có 2 lò điện công suất 1.5t/mẻ và dây chuyền cán công suất 40.000t/năm. Mặc dù là một công ty thương mại, nhưng công ty kim khí Miền Trung cũng có một dây chuyền cán công suất 30.000t/năm. Thiết bị và công nghệ của cả hai đơn vị này đều lạc hậu. Cho dù hiện nay Công ty thép Đà Nẵng đang đầu tư hiện đại hoá khâu luyện kim bằng thay thế các lò 1.5 t/mẻ bằng lò điện 15t/mẻ, song trình độ công nghệ không cải thiện được là bao. Sự đầu tư ở hai công ty này trong cùng một thị trường nhỏ như thị trường Miền Trung là điều bất hợp lý, không hiệu quả. Vì vậy theo chúng tôi, để đảm bảo hiệu quả kinh tế theo quy mô các thiết bị luyện kim, tránh sự phân tán nguồn lực, chúng tôi thấy cần thiết phải sát nhập 2 đơn vị này thành một trung tâm luyện-cán thép hiện đại có quy mô bước đầu khoảng 300.000 t/năm và có khả năng mở rộng khi thị trường cho phép. Đối các công ty sản xuất và lưu thông ở khu vực Miền Nam cũng cần tiến hành phân loại, sắp xếp lại doanh nghiệp, tiến hành cổ phần hoá, giao khoán, bán hoặc cho thuê những bộ phận không cần thiết hoặc không có hiệu quả. Để có thể tạo ra một doanh nghiệp linh hoạt có khả năng đối phó nhanh với những thay đổi của môi trường kinh doanh, Tổng công ty cần phải thực hiện cải tiến phương thức quản lý doanh nghiệp áp dụng các phương pháp quản lý hiện đại theo hướng trao nhiều quyền tự chủ cho các đơn vị dưới quyền, tạo ra một môi trường mà có thể phát huy tối đa sức sáng tạo của cá nhân, áp dựng tiêu chuẩn quản lý ISO 9000 trong công tác quản lý doanh nghiệp. Nghiên cứu và tiến tới áp dụng những hình thức kinh doanh mới như kinh doanh thương mại điện tử khi điều kiện hạ tầng cho phép. 1.3. Giải pháp đầu tư mạnh mẽ đổi mới thiết bị và công nghệ Do lịch sử để lại, các thiết bị của Tổng công ty phần lớn được trang bị từ những năm 1960, 1970 nên đã cũ , lạc hậu, không đáp ứng được nhu cầu ngày càng gia tăng về chất lượng, mẫu mã và chủng loại sản phẩm của thị trường. Trong những năm 1990, các đơn vị thành viên của Tổng công ty đã tiến hành đầu tư chiều sâu hiện đại hoá các dây chuyền hiện có, áp dụng các biện pháp kỹ thuật, nhưng không đồng bộ, còn phân tán. Những hoạt động đầu tư này đã mang lại hiệu quả tích cực: nâng cao năng suất lao động và sản lượng; hạ giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên, hiệu quả của đầu tư chiều sâu đã phát huy hết giới hạn của mình. Thực tế này đòi hỏi, để tồn tại và có khả năng cạnh tranh, Tổng công ty phải đổi mới công nghệ, trang thiết bị hiện đại. Chỉ có con đường đó doanh nghiệp mới có thể phát triển được. Để thực hiện công tác đổi mới công nghệ và thiết bị có hiệu quả trước hết cần tiến hành phân loại trang thiết bị hiện có thành những nhóm: Thiết bị có quy mô nhỏ, lạc hậu. Đối với nhóm này cần mạnh dạn dẹp bỏ, thanh lý; Thiết bị có quy mô nhỏ, vừa đã được đầu tư hiện đại hoá hiện vẫn phát huy hiệu quả. Đối với loại này cần tận dụng sử dụng trong thời gian đến 5 năm, sau đó phải tiến hành thay thế bằng thiết bị có quy mô lớn hơn và hiện đại. Thiết bị mới đầu tư thuộc loại hiện đại. Trên cơ sở đó xây dựng chiến lược thay thế và đầu tư mới theo nguyên tắc quy mô thiết bị phải là quy mô phù hợp có hiệu quả kinh tế, công nghệ thiết bị phải đồng bộ và hiện đại. Thực hiện lựa chọn công nghệ theo quy chế đấu thầu hiện hành, tổ chức đấu thầu quốc tế rộng rãi hoặc ưu tiên đấu thầu trong phạm vi Nhà nước cấp tín dụng ưu đãi. Ưu tiến đấu thầu mua các thiết bị đã sản xuất được trong nước đạt yêu cầu của dự án. Đảm bảo thiết bị đồng bộ, hiện đại đạt trình độ chung trên thế giới, giá cả hợp lý kèm theo chuyển giao công nghệ đầy đủ ,dễ nắm bắt sử dụng. Có thể nhập và sử dụng một số thiết bị đã qua sử dụng theo đúng quy định của Bộ KHCN và MT để tiết kiệm vốn đầu tư song vẫn đảm bảo các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật tiên tiến . Tổng công ty cần thông qua các tổ chức tư vấn để lựa chọn thiết bị công nghệ phù hợp ,tránh chọn phải các công nghệ đã cũ, công nghệ lạc hậu, năng suất lao động thấp trong khi giá thành lại cao, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của tổng công ty. Đối với công ty Gang thép Thái Nguyên, sau khi hoàn thành dự án cải tạo hiện do chính phủ Trung Quốc giúp đỡ, cần phát huy hết hiệu quả đầu tư của dự án này.Tuy nhiên cần phải nói rằng dù dự án này có đưa vào hoạt động thì toàn bộ công nghệ thiết bị của công ty vẫn thuộc loại có quy mô nhỏ, lạc hậu mà ngay cả Trung Quốc đang thực hiện kế hoạch dẹp bỏ. Do vậy, để phát triển lâu dài Tổng công ty thép cần phải có một chiến lược được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn đối với sự tồn tại và phát triển của công ty Gang thép Thái Nguyên. Sau năm 2010, kế hoạch xây dựng một khu thép liên hợp luyện kim lớn với công nghệ thiết bị hiện đại được xây dựng ở khu vực ven biển với tư cách là xương sống của ngành thép Việt Nam cần được ưu tiên xem xét. Tuy nhiên đối với một dự án lớn với số vốn đầu tư khoảng 4-5 tỉ USD, việc huy động vốn là một bài toán khó giải đối với một nền kinh tế còn nhỏ bé như nước ta. Việc huy động vốn nước ngoài để đầu tư vào ngành có mức sinh lời không cao như ngành thép là điều rất khó. 1.4. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của Đảng ta là lấy con người làm trung tâm. Con người là vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển. Điều đó nói nên tầm quan trọng số một của chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho một doanh nghiệp. Theo chúng tôi những chiến lược đổi mới công nghệ, đổi mới quản lý sẽ trở thành trên giấy nếu không có những con người tốt thực hiện chúng. Hơn thế nữa, nếu không có con người tốt thì sẽ không có một chiến lược tốt. Chúng ta biết rằng xã hội ngày nay đang hướng tới một xã hội tri thức. Điều này có nghĩa rằng khả năng cạnh tranh của những cá nhân hoặc các tập đoàn sẽ được xác định bởi tri thức mà họ có được. Theo cách nhièn này, thì khả năng có được và sử dụng tri thức sẽ ảnh hưởng đến tương lai của doanh nghiệp. Để chuẩn bị hành trang cho thế kỷ 21, chúng ta phải đầu tư mạnh mẽ vào con người. Theo như Tom Petters “ Tương lai sẽ thuộc về doanh nghiệp được trang bị phần trí tuệ hơn là phần cứng. Có nghĩa là con người là nguồn gốc của khả năng cạnh tranh. Nhận thức được tầm quan trọng số một của nguồn nhân lực đối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, Tổng công công ty thép cần có chiến lực đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực. Chiến lược đó phải bao gồm các vấn đề tuyển chọn, bố trí sử dụng và đào tạo cán bộ. Nguồn nhân lực của Tổng công ty tuy đông về số lượng, song chất lượng không cao, mất cân đối giữa lao động kỹ thuật và lao động giản đơn, giữa các ngành nghề. Trong những năm gần đây có xu hướng số lượng sinh viên ngành luyện kim, nguồn cung ứng lao động chuyên ngành cho ngành thép, giảm sút một cách đáng báo động. Sự thiếu hụt cán bộ kỹ thuật cho ngành luyện kim đã và đang là mối lo cho các doanh nghiệp sản xuất thép. Vì vậy, Tổng công ty cần có sự liên kết đào tạo nhân lực với các cơ sở đào tạo cho sự phát triển của mình, đặc biệt là nhân lực cho các dự án đầu tư mới trong tương lai. Công tác đào tạo nguồn nhân lực phải đi trước một bước. Các đơn vị thuộc tổng công ty cần ký hợp đồng với các cơ sở đào tạo, để đào tạo có địa chỉ và theo lịch triển khai các công trình. Tăng cường cơ sở vật chất cho các trường và đội ngũ giáo viên đào tạo công nhân để đủ sức đáp ứng nhu cầu của tổng công ty. Mặt khác phải coi trọng hình thức đưa đi đào tạo, huấn luyện ở nước ngoài và mời chuyên gia đào tạo, bổ túc tại nhà máy. Con người là một nhân tố quyết định sự phát triển. Chính vì vậy công tác đào tạo rất cần thiết được tổng công ty quan tâm giải quyết sớm . Đối với các cơ sở đang dư thừa nhiều lao động cần có biện pháp sắp xếp lại, tinh giảm biên chế, tiến hành đào tạo, bổ túc nâng cao trình độ cho số lao động còn làm việc, mở thêm ngành nghề để thu hút số lao động dư thừa, đông thời vẫn phải tuyển thêm lao động trẻ, khoẻ đã qua đào tạo có trình độ khá để thay thế dần dần lớp cán bộ công nhân lớn tuổi. Với chính sách đầu tư cho nguồn lao động một cách hợp lý tổng công ty sẽ có được một lợi thế lớn, là nguồn nội lực để tổng công ty vững bước đi lên trong sản xuất kinh doanh. Hiện nay kinh phí đào tạo hàng năm của Tổng công ty còn rất thấp, tuy chưa có một thống kê chính xác, xong con số này ước chừng khoảng 0.2%. doanh thu. Trong khi đó chi phí đào tạo hàng năm của công ty thép POSCO, Hàn Quốc là khoảng 3% doanh thu. Trong những năm tới cấn tăng chi phí đầu tư cho đào tạo nhân lực, ít nhất phải tăng kinh phí đào tạo lên khoảng 1% doanh thu. Ngoài chính sách đào tạo, Tổng công ty cần xây dựng chính sách sử dụng cán bộ hợp lý, cải tiến chế độ đãi ngộ và khuyến khích người lao động có như vậy mới thu hút và sử dụng được cán bộ giỏi. 1.5. Đầu tư cho nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ Như trên đã phân tích, ngày nay khoa học và công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Sự phát triển khoa học và công nghệ là yếu tố quyết định sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Thực trạng công tác nghiên cứu khoa học của Tổng công ty thép hiện nay rất đáng phải bàn. Trong doanh nghiệp hiện nay có một viện nghiên cứu, tuy nhiên lực lượng cán bộ nghiên cứu rất mỏng, cơ sở vật chất nghèo nàn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của Tổng công ty trong giai đoạn mới. Trong khi đó hiện nay khoa học công nghệ trên thế giới đang phát triển một cách hết sức mạnh mẽ các nước phát triển là những nước có khả năng chế tạo ra được công nghệ, công nghệ đó được áp dụng vào trong quá trình sản xuất và tạo ra mức tăng trưởng rất cao. Khi sản phẩm đó đã bão hoà cũng là lúc công nghệ đó không còn phát huy được tác dụng ở nước mà sinh ra nó cũng là lúc công nghệ đó được bán hoặc được chuyển giao sang nước khác mà hình thức phổ biển là quá trình chuyển giao công nghệ thông qua hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh, hoặc liên doanh. Như vậy ta có thể thấy rằng công nghệ được chuyển giao đó có thể nói là đã lạc hậu ở các nước phát triển tuy nhiên nó vẫn còn tốt với các nước đang phát triển. Mặc dù vậy nếu Tổng công ty không có kế hoạch cho việc nghiên cứu, chế tạo ra công nghệ thì có thể nói sản phẩm của Tổng công ty trong tương lai rất khó có thể cạnh tranh được với các sản phẩm của các nhà sản xuất thép được đầu tư mới trong nước chứ chưa nói đến vịêc cạnh tranh với các nhà sản xuất thép trên thế giới. Vấn đề đặt ra đối với Tổng công ty thép Việt Nam hiện nay là phải có sách lược trong việc đầu tư cho nghiên cứu khoa học sáng chế ra công nghệ để tự phục vụ trong quá trình sản xuất. Phải tiến hành đầu tư xây dựng các viện nghiên cứu, các trung tâm nghiên cứu và triển khai công nghệ. Tổng công ty phải có chế độ bồi dưỡng thoả đáng cho các nhà nghiên cứu khoa học để động viên và khích lệ họ đồng thời phải tiến hành việc đầu tư các trang thiết bị hiện đại phục vụ quá trình nghiên cứu có như vậy trong tương lai doanh nghiệp mới có thể có được những thành quả tốt đẹp. Để nâng cao khả năng cạnh tranh , Tổng công ty cần phải tập trung đầu tư xây dựng cơ sở nghiên cứu khoa học nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển mới thông qua việc tăng ngân sách để đầu tư cho cán bộ nghiên cứu và cơ sở vật chất kỹ thuật. 1.6. Giải pháp đầu tư mở rộng và chiếm lĩnh thị trường . Thị trường là một yếu tố quan trọng mà bất kỳ nhà đầu tư nào cũng phải quan tâm. Một dự án đầu tư có đạt được kết quả hay không còn tuỳ thuộc vào thị trường đầu ra cho sản phẩm của dự án đó. Xuất phát từ tầm quan trọng đó, Tổng công ty cần phải có những giải pháp lớn về thị trường như sau: Thứ nhất, chỉ đầu tư sản xuất khi có thị trường chắc chắn và nhu cầu lớn hơn công suất dự kiến hoặc có khả năng xuất khẩu. Thứ hai, lựa chọn mặt hàng sản xuất đang có nhu cầu cấp bách có khả năng cạnh tranh cao để đầu tư sản xuất trước, tạo tích luỹ, mở rộng mặt hàng sản xuất. Thứ ba, đầu tư thiết lập hệ thống lưu thông tiêu thụ thép rộng khắp, đủ tin cậy cao thuận lợi tối đa cho khách hàng. Thứ tư, đầu tư đẩy mạnh công tác tiếp thị, quảng cáo để thu hút khách hàng và để họ hiểu được chất lượng thép của tổng công ty, nâng cao uy tín của tổng công ty trên thị trường. Thứ năm, đặc biệt quan tâm cho dịch vụ bán hàng và phương thức bán hàng để giữ uy tín đối với khách hàng truyền thống và thu hút các khách hàng tiềm năng. Với các dịch vụ thanh toán, Tổng công ty cấn hết sức linh hoạt, tránh cứng nhắc, chấp nhận mọi phương thức thanh toán trong khả năng của Tổng công ty để tạo điêù kiện thuận lợi nhất cho khách hàng nhằm khuyến khích tiêu thụ sản phẩm. Nhìn chung muốn tăng sức mạnh tiêu thụ của tổng công ty trong thời gian tới thì cùng với việc đầu tư để xây dựng một chiến lược phát triển lâu dài về thị trường, để các sản phẩm của tổng công ty tham gia toàn diện vào thị trường mà không cần sự bảo hộ của Nhà nước, phát triển sản xuất ,tăng thị phần và lợi nhuận là mục tiêu cơ bản để nâng cao sức cạnh tranh của Tổng công ty. 1.7. Các giải pháp về tài chính Phải thừa nhận rằng trở ngại lớn nhất trong việc phát triển của Tổng công ty thép trong giai đoạn hiện nay là thiếu các nguồn vốn để thực hiện các dự án đầu tư. Chi phí cho một nhà máy thép hiện đại có thể lên đến vài trăm triệu đô la Mỹ và việc xây dựng một nhà máy thép liên hợp công suất 4-5 triệu tấn/năm sẽ tiêu tốn vài tỉ đô la Mỹ. Do ngân sách nhà nước và lợi nhuận tích luỹ của Tổng công ty thép Việt Nam còn rất hạn chế, việc tìm ra một giải pháp tài chính tối ưu là một bài toán khó. Để có đủ nguồn tài chính thực hiện các mục tiêu của Tổng công ty thép Việt Nam cần kết hợp các giải pháp huy động vốn như sau: Chính phủ cho ngành thép được hưởng quy chế của một ngành được ưu tiên và cho hưởng những khoản vay ưu đãi lớn. Tìm kiếm đối tác nước ngoài để liên doanh. Đối với các dự án lớn khả năng huy động vốn đối với Tổng công ty là rất khó khăn, vốn tự có cũng rất thấp trong khi đó nguồn ngân sách ngày càng giảm và không đáng kể đối với các dự án lớn. Ngoài việc tiến hành vay ưu đãi vốn tín dụng Nhà nước thì doanh nghiệp cần phải nghĩ tới một giải pháp có tính khả thi đó là có thể huy đông từ nước ngoài thông qua hình thức liên doanh, hoặc đầu tư thông qua hợp đồng hợp tác kinh doanh. Tuy nhiên do nguồn vốn đầu tư nước ngoài rất quan trọng trong việc giải quyết thiếu hụt vốn phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế. Do vậy các quốc gia ngày càng tìm cách thu hút ngày càng nhiều nguồn vốn đầu tư trực tiếp này về phía mình. Để Tổng công ty có thể thu hút tối đa nguồn vốn từ nước ngoài, đề nghị Nhà nước hỗ trợ và bảo lãnh cho phép tổng công ty được thế chấp tài sản để vay vốn đầu tư. Tổng công ty cùng với Nhà nước không ngừng cải thiện môi trường đầu tư để các nhà đầu tư nước ngoài có thể đến đâu tư vào ngành thép bởi đây là một ngành các nhà đầu tư thường không ưa thích đầu tư vào vì lợi nhuận kiếm được thường không cao. Mặt khác Nhà nước cũng tạo điều kiện cho Tổng công ty tăng tích luỹ nội bộ bằng chính sách để lại khấu hao cơ bản, lợi nhuận trước thuế để tái đầu tư ...Ngoài ra Tổng công ty còn phải tăng cường các kênh huy động huy động vốn để tạo nguồn vốn kinh doanh chẳng hạn như tham gia vào thị trường chứng khoán nhằm huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư và các tổ chức khác. Huy động vốn vay thương mại. Tổng công ty cũng có thể vay vốn của các ngân hàng thương mại để phục vụ cho hoạt động đầu tư. Tuy nhiên vì đây là nguồn vốn của các ngân hàng thương mại do vậy Tổng công ty sẽ phải chịu mức lãi suất cao và thời gian hoàn trả vốn lại ngắn. Do vậy đây không phải là giải pháp dài hạn mà chỉ là giải pháp ngắn hạn trong tình trạng thiếu vốn không nhiếu có thể vay. Nguồn vốn này Tổng công ty nên sử dụng vào các dự án đầu tư có thể thu hồi vốn nhanh để có kế hoạch trả nợ và đầu tư vào những dự án quy mô nhỏ ít vốn đầu tư. Huy động vốn từ công chúng thông qua các hính thức phát hành cổ phiếu và trái phiếu. Đối với nguồn vốn này có thể nói là rất hạn chế bởi vì hiện nay thị trường chứng khoán ở Việt Nam chưa phát triển còn đang trong thời kỳ sơ khai tuy nhiên trong tương lai đây cũng là nơi mà mọi doanh nghiệp có thể huy động vốn một cách có hiệu quả vì vậy Tổng công ty cũng cần phải chuẩn bị trước. 2. Một số kiến nghị. Về phía Nhà nước. Để thực hiện thành công kế hoạch đầu tư và phát triển trong thời gian tới của tổng công ty thép Việt Nam ngoài lỗ lực rất lớn của tổng công ty, cần phải có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước ,trước hết về các cơ chế chính sách ưu tiên cho dự án mới . Chính phủ thông qua quy hoạch phát triển ngành thép và khẳng định tầm quan trọng và quan tâm phát triển ngành thép Việt Nam trong đó tổng công ty thép Việt Nam là lực lượng chi phối toàn ngành. Đề nghị Nhà nước cấp vốn ngân sách cho tổng công ty thép Việt Nam lập báo cáo nghiên cứu khả thi các dự án đầu tư mới, đặc biệt đối với các dự án trọng điểm mỏ quặng sắt Thạch Khê và nhà máy thép cán liên hợp 4,5 triệu tấn/năm. Nhà nước cấp tín dụng đặc biệt ưu đãi cho các dự án thượng nguồn (sản xuất nguyên liệu và sản xuất phôi thép). Nhà nước cho vay ưu đãi cho các dự án sản xuất thép khác (cán nóng, cán nguội, cải tạo, mở rộng cơ sở cũ). Nhà nước trực tiếp đầu tư xây dựng các cơ sở hạ tầng phục vụ các dự án sản xuất thép và nguyên liệu cho luyện kim: đường giao thông ,cảng biển ,hệ thống cấp nước, cấp điện và cho tổng công ty thép thuê lại với giá ưu đãi. Trong tiến trình hội nhập quốc tế, đề nghị Nhà nước duy trì mức thuế nhập khẩu tối đa đối với sản phẩm cán và sau cán, bảo hộ sản xuất đến năm 2006 (đối với ASEAN) và đến năm 2010 đối với WTO. Riêng đối với phôi thép đề nghị đánh thuế nhập khẩu 10 -15 % để bảo hộ sản xuất phôi thép nhập khẩu trong nước và góp phần điều tiết, hạn chế việc đầu tư ồ ạt các nhà máy cán thép nhập khẩu . Nhà nước có chính sách ưu đãi về giá điện ,giá nhiên liệu và giá khí thiên nhiên,cước vận tải... đối với các dự án thượng nguồn (luyện gang, thép, sản xuất nguyên liệu cho gang, thép, đặc biệt cho các nhà máy thép lò điện được hưởng giá điện không quá 700 đồng/kw để sản xuất phôi thép). Nhà nước hỗ trợ, tạo điều kiện để tổng công ty thép Việt Nam nhập khẩu thép phế và các loại nguyên liệu, vật liệu phục vụ sản xuất phôi thép đồng thời cho hưởng thuế suất bằng 0. Nhà nước tăng cường quản lý chất lượng sản phẩm thép ngăn chặn hàng giả, hàng kém chất lượng, không đạt tiêu chuẩn và để đảm bảo cạnh tranh lành mạnh trong ngành thép. Về phía tổng công ty thép Việt Nam cần thực hiện tốt các công việc sau Thức nhất, tổng công ty thép phải chủ động trong việc tìm kiếm các nguồn vốn đầu tư và sử dụng nó một cách có hiệu quả tránh lãng phí. Thực hiện tốt công việc tổ chức lập dự án đầu tư , thẩm định dự án để từ đó có thể loại bỏ được những dự án không có tính khả thi đồng thời tránh được những hậu quả không đáng có, hạn chế rủi ro trong đầu tư . Thứ hai, tổng công ty thép Việt Nam cần phải thường xuyên tinh giảm đội ngũ lao động ,tinh giảm đội ngũ cán bộ quản lý, tổ chức tuyển chon một khắt khe trong công tác tuyển dụng để có được đội ngũ lao động có đủ trình độ chuyên môn có thể thực hiện công việc một cách tốt nhất . Thứ ba, tổng công ty phải có kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực và tiến hành đào tạo lại. Ngoài ra trong việc thực hiện đổi mới máy móc thiết bị cần tổ chức đầu thầu quốc tế để lựa chọn được nhà cung cấp công nghệ có chất lượng đồng thời hạn chế được chi phí đầu vào. Đối với việc tiêu thụ sản phẩm cần phải quan tam hơn nữa công tác tiếp thị ,quảng cáo khuếch trương để khách hàng được biết đến sản phẩm của công ty và có những chính sách sau bán hàng để sản phẩm dễ tiêu thụ hơn đồng thời vẫn gia tăng được lợi nhuận cho công ty. Cần phải có sự phối hợp một cách gắn kết giữa hai khối sản xuất và lưu thông để tạo lên sức mạnh tổng thể. Kết luận Trong thời gian qua, ngành thép Việt Nam nói chung và Tổng công ty thép Việt Nam nói riêng đã có nhiều cố gắng trong công tác khai thác, cải tạo và mở rộng cơ sở sản xuất cũ và liên doanh với nước ngoài để tăng năng lực sản xuất và sản lượng thép hàng năm với tốc độ nhanh. Hoạt động đầu tư của tổng công ty trong thời gian qua cũng đã đạt được những thành quả đáng kể, thể hiện ở các chỉ tiêu kết quả và hiệu quả. Tuy nhiên so với các liên doanh và các nhà máy sản xuất thép trên thế giới thì năng lực sản xuất của tổng công ty còn thấp xa. Vì vậy để thành công trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đặc biệt là nâng cao sức cạnh tranh của tổng công ty trong thời gian tới Tổn công ty còn phải lỗ lực hơn nữa trong hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hoạt động đầu tư phát triển nói riêng để từ đó tạo được thế đứng vững chắc cho Tổng công ty trên thị trường trong và ngoài nước. Do khả năng và thời gian có hạn nên bài viết không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy em rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô cũng như các bạn để bài viết này được hoàn thiện hơn. Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Từ Quang phương và các thầy cô trong bộ môn đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành bài viết này. Mục lục Trang Lời mở đầu 1 Chương I: Lý luận chung về đầu tư và cạnh tranh 3 I. Cơ sở lý luận về đầu tư phát triển trong doanh nghiệp 3 1. Khái niệm về đầu tư và phát triển trong doanh nghiệp 3 1.1 Khái niệm đầu tư 3 1.2. Khái niệm đầu tư phát triển 3 2. Vốn đầu tư và nguồn vốn đầu tư phát triển trong doanh nghiệp 4 2.1. Khái niệm về vốn đầu tư 4 2.2. Nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp 4 2.2.1. Nguồn vốn đầu tư trong nước 4 2.2.2. Nguồn vốn nước ngoài 5 3. Những đặc điểm của hoạt động đầu tư 6 4. Đầu tư và vai trò của đầu tư trong doanh nghiệp 7 4.1. Đầu tư trong doanh nghiệp 7 4.2. Vai trò của đầu tư trong doanh nghiệp 9 5. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp 10 6. Đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp 10 6.1. Kết quả của hoạt động đầu tư 10 6.1.1. Khái niệm vốn đầu tư thực hiện 10 6.1.2. Phương pháp tính khối lượng vốn đầu tư thực hiện 10 6.1.3. Khái niệm tài sản cố định huy động 11 6.1.4. Phương pháp tính 11 6.2. Hiệu quả đầu tư 12 6.2.1. Hiệu quả tài chính của hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp 12 6.2.2. Hiệu quả kinh tế xã hội của hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp 14 II. Cơ sở lý luận về cạnh tranh 15 1. Khái niệm về cạnh tranh và khả năng cạnh tranh 15 2. Các loại hình cạnh tranh 16 3. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 17 III. Đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp 20 1. Đầu tư vào tài sản cố định, đổi mới máy móc thiết bị công nghệ 20 2. Đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm 21 3. Đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 22 4. Đầu tư cho công tác tiếp thị, bán hàng 22 ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docJ0058.doc
Tài liệu liên quan