Đầu tư phát triển kinh tế tỉnh Hải Dương giai đoạn 2005-2009: Thực trạng và giải pháp

MỤC LỤC 1.3.1.3. Giá trị tài sản cố định huy động và năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm 38 1.3.1.4. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 42 1.3.2. Hiệu quả của hoạt động đầu tư phát triển 42 1.3.2.1. Hiệu quả kinh tế 42 1.3.2.2. Hiệu quả xã hội 44 1.3.3. Một số hạn chế trong đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ở Hải Dương 45 1.3.3.1. Huy động vốn chưa đáp ứng đủ nhu cầu 45 1.3.3.2. Hiệu quả đầu tư chưa cao 46 Chương II: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN

doc68 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1311 | Lượt tải: 1download
Tóm tắt tài liệu Đầu tư phát triển kinh tế tỉnh Hải Dương giai đoạn 2005-2009: Thực trạng và giải pháp, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
KINH TẾ TỈNH HẢI DƯƠNG 50 2.1. Định hướng đầu tư phát triển kinh tế tỉnh Hải Dương đến năm 2014 50 2.1.1. Quan điểm phát triển 50 2.1.2. Mục tiêu phát triển kinh tế đến năm 2014 50 2.1.2.1. Mục tiêu tổng quát 50 2.1.2.2. Mục tiêu cụ thể 51 2.2. Một số giải pháp nhằm tăng cường hoạt động đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh Hải Dương 51 2.2.1. Giải pháp về huy động vốn đầu tư phát triển 51 2.2.1.1. Đẩy mạnh hoạt động của Quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển chi nhánh Hải Dương tạo tiền đề phát triển thị trường vốn của Hải Dương trong tương lai 51 2.2.1.2. Tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: 52 2.2.1.3. Huy động vốn ngân sách Nhà nước: 54 2.2.1.4. Thu hút nguồn vốn của dân cư và doanh nghiệp ngoài quốc doanh: 55 2.2.1.5. Thu hút nguồn vốn ODA: 56 2.2.2. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của tỉnh 57 2.2.2.1.Chuyển dịch cơ cấu vốn hợp lý 57 2.2.2.2. Giải pháp nâng cao công tác quản lý đầu tư 58 2.2.2.3. Đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 62 KẾT LUẬN 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO 64 DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU Bảng 1.1: Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tỉnh Hải Dương giai đoạn 2005 – 2009 11 Bảng 1.2: Tổng đầu tư toàn xã hội của Hải Dương so với GDP giai đoạn 2005 - 2009 12 Bảng 1.3: Vốn đầu tư phát triển của Hải Dương phân theo nguồn giai đoạn 2005 - 2009 13 Bảng 1.4: Cơ cấu vốn đầu tư của tỉnh Hải Dương phân theo nguồn giai đoạn 2005 – 2009 14 Bảng 1.5: Vốn ngân sách Nhà nước của Hải Dương giai đoạn 2005 – 2009 15 Bảng 1.6: Vốn tín dụng đầu tư phát triển Nhà nước và vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2005 - 2009 16 Bảng 1.7: Vốn đầu tư của khu vực ngoài Nhà nước trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2005 - 2009 17 Bảng 1.8: Vốn đầu tư nước ngoài của Hải Dương giai đoạn 2005 – 2009 18 Bảng 1.9: Vốn đầu tư xã hội của Hải Dương phân theo huyện, thành phố giai đoạn 2005 – 2009 19 Bảng 1.10 : Tổng vốn đầu tư của Hải Dương phân theo ngành, lĩnh vực giai đoạn 2005 – 2009 22 Bảng 1.11: Cơ cấu vốn đầu tư của Hải Dương phân theo ngành, lĩnh vực giai đoạn 2005 – 2009 22 Bảng 1.12: Tốc độ tăng vốn đầu tư liên hoàn từng ngành, lĩnh vực của Hải Dương giai đoạn 2005 – 2009 23 Bảng 1.13: Vốn đầu tư phát triển phân theo lĩnh vực phát huy tác dụng trên địa bàn Hải Dương giai đoạn 2005 – 2009 28 Bảng 1.14: Cơ cấu vốn đầu tư Vốn đầu tư phát triển phân theo lĩnh vực phát huy tác dụng trên địa bàn Hải Dương giai đoạn 2005 – 2009 29 Bảng 1.15: Giá trị sản xuất của từng ngành, lĩnh vực của Hải Dương giai đoạn 2005 – 2009 36 Bảng 1.16: Cơ cấu giá trị sản xuất của từng ngành, lĩnh vực của Hải Dương giai đoạn 2005 – 2009 37 Bảng 1.17: Khối lượng vốn đầu tư thực hiện của Hải Dương giai đoạn 2005 - 2009 38 Bảng 1.18: Giá trị tài sản cố định huy động phân theo các ngành kinh tế trên địa bàn Hải Dương giai đoạn 2005 – 2009 39 Bảng 1.19: Cơ cấu giá trị tài sản cố định huy động phân theo các ngành kinh tế trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2005 – 2009 40 Bảng 1.20 : Năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm của một số sản phẩm và lĩnh vực trên địa bàn Hải Dương giai đoạn 2005 -2009 41 Bảng 1.21: GDP tăng thêm/vốn đầu tư của Hải Dương giai đoạn 2005 – 2009 42 Bảng 1.22: ICOR của Hải Dương giai đoạn 2005 - 2009 43 Bảng 1.23: Giá trị sản xuất tăng thêm/vốn đầu tư của Hải Dương giai đoạn 2005 - 2009 43 Bảng 1.24: Một số chỉ tiêu xã hội của Hải Dương giai đoạn 2005 – 2009 44 LỜI MỞ ĐẦU Với tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình 9,7%/ năm trong những năm gần đây, Hải Dương đang là tỉnh có sức hút lớn đối với các nhà đầu tư và là một trong 10 tỉnh có nguồn vốn nước ngoài đổ vào nhiều nhất trên cả nước. Để đạt được thành tựu này, bằng quyết tâm của mình, nhân dân và các cấp lãnh đạo tỉnh đã vượt qua được những chặng đường khó khăn, thách thức đã tạo được những chuyển biến vượt bậc đưa nền kinh tế - xã hội phát triển giữ vững ổn định an ninh chính trị; từng bước chuyển dịch nền kinh tế theo hướng ưu tiên phát triển lĩnh vực thương mại dịch vụ, chú trọng đầu tư phát triển các ngành công nghiệp. Hoạt động đầu tư phát triển kinh tế của Hải Dương từ trước đến nay chưa bao giờ sôi động như giai đoạn 2005 – 2009 và đã góp phần tạo đà tăng trưởng cho tỉnh. Nhằm xem xét và đánh giá các hoạt động đầu tư đó, em đã nghiên cứu và viết đề tài “ Đầu tư phát triển kinh tế tỉnh Hải Dương giai đoạn 2005 - 2009: Thực trạng và giải pháp. Kết cấu đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận, gồm hai chương sau: Chương I: Thực trạng đầu tư phát triển kinh tỉnh Hải Dương giai đoạn 2005 - 2009. Chương này chủ yếu nêu lên tình hình đầu tư của tỉnh trong các năm từ năm 2005 đến 2009, kèm theo các phân tích, nhận xét và đánh giá. Chương II: Định hướng và giải pháp nhằm đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển kinh tế tỉnh Hải Dương. Trong chương này, em xin đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường các hoạt động đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong giai đoạn 2010 - 2014. Chương I THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỈNH HẢI DƯƠNG 1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kinh tế tỉnh Hải Dương. 1.1.1. Điều kiện tự nhiên 1.1.1.1. Vị trí địa lý Tỉnh Hải Dương thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, tiếp giáp với 6 tỉnh, thành phố: Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình và Hưng Yên. Hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường sông phân phối hợp lý, trên địa bàn có nhiều trục giao thông quốc gia quan trọng chạy qua như đường 5, đường 18, đường 183 và hệ thống đường tỉnh, huyện đã được nâng cấp cải tạo thuận lợi cho việc giao lưu, trao đổi với bên ngoài. Thành phố Hải Dương là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật của tỉnh nằm trên trục đường quốc lộ 5 cách Hải Phòng 45 km về phía đông, cách Hà Nội 57 km về phía tây và cách thành phố Hạ Long 80 km. Phía bắc tỉnh có hơn 20 km quốc lộ 18 chạy qua nối sân bay quốc tế Nội Bài ra cảng Cái Lân tỉnh Quảng Ninh. Đường sắt Hà Nội – Hải Phòng qua Hải Dương là cầu nối giữa thủ đô và các tỉnh phía bắc ra các cảng biển. Là tỉnh nằm giữa vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Hải Dương có cơ hội tham gia phân công lao động trên phạm vi toàn vùng và xuất khẩu. Hải Dương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 4 mùa rõ rệt ( xuân, hạ, thu, đông ). Lượng mưa trung bình hàng năm 1.300 – 1.700 mm. Nhiệt độ trung bình 23,3ºC; số giờ nắng trong năm 1.524 giờ; độ ẩm tương đối trung bình 85 – 87%. Khí hậu thời tiết thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. bao gồm cây lương thực, thực phẩm và cây ăn quả đặc biệt là sản xuất cây rau màu vụ đông. Hải Dương có diện tích tự nhiên 1.662 km², được chia làm 2 vùng: vùng đồi núi và vùng đồng bằng. Vùng đồi núi nằm ở phía bắc tỉnh, chiếm 11% diện tích tự nhiên gồm 13 xã thuộc huyện Chí Linh và 18 xã thuộc huyện Kinh Môn; là vùng đồi núi thấp phù hợp với việc trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ và cây công nghiệp ngắn ngày. Vùng đồng bằng còn lại chiếm 89% diện tích tự nhiên do phù sa sông Thái Bình bồi đắp, đất màu mỡ thích hợp nhiều loại cây trồng, sản xuất được nhiều vụ trong năm. Với vị trí đại lý như trên, Hải Dương đã xây dựng được môi trường thuận lợi cho giao lưu phát triển kinh tế, thu hút ngày càng nhiều doanh nghiệp trong và nước ngoài, thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư, xuất nhập khẩu hàng hóa, phát triển du lịch, dịch vụ trên địa bàn. Nằm giữa Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh là những tỉnh thành phố có nhịp độ phát triển kinh tế nhanh, Hải Dương cũng là điểm đến của các nhà đầu tư vì tại đây hàng hóa có thể đi lại với các tỉnh, thành phố trên và có thể xuất, nhập khẩu với các nước khác thông qua cảng Hải Phòng, Cái Lân ( Quảng Ninh) một cách thuận lợi. Khí hậu, nhiệt độ, độ ẩm cùng với đồng bằng màu mỡ chiếm phần lớn diện tích tự nhiên phù hợp với việc phát triển nông nghiệp, Hải Dương là tỉnh có tiềm năng đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp. 1.1.1.2. Tài nguyên thiên nhiên - Tài nguyên đất Tỉnh Hải Dương có 84.900 ha diện tích đất tự nhiên. Trong đó, diện tích đất nông nghiệp là 54.421 ha, chiếm 64,1%; diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 9.147 ha, chiếm 6,7%; diện tích đất chuyên dùng là 13.669ha, chiếm 16,1%; diện tích đất ở là 5.688,3 ha, chiếm 6,7% và diện tích đất chưa sử dụng, sông, suối, đá là 6.368 ha, chiếm 7,5%. Với diện tích đất nông nghiệp chiếm phần lớn diện tích đất cùng với khí hậu, thời tiết phù hợp với phát triển các loại cây trồng như lúa, ngô, khoai lang, đậu tương, lạc và các cây ăn quả có giá trị kinh tế cao. Vì vậy, Hải Dương đã hướng tới khai thác thế mạnh, tiềm năng trong nông nghiệp để phát triển kinh tế của tỉnh. - Tài nguyên rừng Tính đến năm 2010, toàn tỉnh có 10.630 ha rừng tập trung chủ yếu ở 2 huyện Chí Linh và Kinh Môn. Trong đó, có 1.540 ha rừng đặc dụng, 4.718,4 ha rừng phòng hộ và 4.371,3 ha rừng sản xuất. Gặp thổ nhưỡng thích hợp, các loại cây thông, keo, lim, lát, chò chỉ, ngũ gia bì, long não, trám, tre bát độ nhanh chóng phát triển. Tỉnh còn khoanh nuôi hơn 2,3 nghìn ha rừng dẻ tái sinh thành công. Hơn 3 nghìn ha rừng sản xuất với các loại vải thiều, na dai, nhãn xoài, hồng không hạt…có giá trị kinh tế, đem lại thu nhập cho người lao động. Với tài nguyên rừng phong phú, trong những năm qua tỉnh đã hướng vào khai thác thế mạnh, tiềm năng về kinh tế của rừng để phát triển các vùng sản xuất hàng hóa tập trung về cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày, cây công nghiệp ngắn ngày có thế mạnh. - Tài nguyên khoáng sản Tài nguyên khoáng sản của Hải Dương không đa dạng về chủng loại, nhưng có một số loại trữ lượng lớn, chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp; đặc biệt công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng. Đá vôi xi măng ở huyện Kinh Môn, trữ lượng 20 triệu tấn, chất lượng tốt, đủ sản xuất 5 đến triệu tấn xi măng. Cao lanh ở huyện Kinh Môn, Chí Linh trữ lượng 40 vạn tấn cung ccấp đủ nguyên liệu cho sản xuất sành sứ Sét chịu lửa ở huyện Chí Linh, trữ lượng 8 triệu tấn, chất lượng tốt, cung cấp nguyên liệu sản xuât gạch chịu lửa. Bô xít ở huyện Kinh Môn, trữ lượng 200.000 tấn; than đá ở huyện Chí Linh trữ lượng 75, 14 triệu tấn; mỏ thủy ngân ở huyện Chí Linh trữ lượng 1.100 tấn. Với tiềm năng hiện có, sản xuất vật liệu xây dựng đang là hướng ưu tiên phát triển của ngành công nghiệp của tỉnh. Bên cạnh đó, ngành công nghiệp khai khoáng cũng đang được quan tâm, chú trọng. 1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 1.1.2.1. Kinh tế Hải Dương nằm trong địa bàn kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, với điều kiện địa lý, tự nhiên và giao thông khá thuận lợi, Hải Dương đã, đang và sẽ trở thành nơi giao lưu kinh tế quan trọng ở Bắc Bộ. Nhờ phát huy hiệu quả các tiềm năng sẵn có, kinh tế của tỉnh duy trì được mức tăng trưởng khá. Tổng sản phẩm giai đoạn 2005 – 2009 trong tỉnh tăng bình quân 9,7%/năm. Quy mô kinh tế của tỉnh được nâng lên đáng kể, đến năm 2009 quy mô kinh tế tỉnh ( GDP theo giá thực tế ) đạt 26725 tỷ đồng, gấp 2 lần so với năm 2005. Cơ cấu kinh tế của tỉnh tiếp tục có bước chuyển dịch tích cực theo hướng giảm tỷ trọng nông – lâm – ngư nghiệp, tăng tỷ trọng dịch vụ. Tuy nhiên cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm, chưa rõ nét, cơ cấu nông – lâm – ngư nghiệp, công nghiệp – xây dựng, dịch vụ từ: 27,1%, 43,6%, 29,3% ( năm 2005 ) sang 24,0%, 44,5%, 31,5% ( năm 2009). Cơ cấu nguồn vốn chuyển dịch tích cực theo hướng nâng dần tỷ trọng vốn của các thành phần kinh tế ngoài Nhà nước, phản ánh khả năng huy động vốn đa dạng các nguồn cho đầu tư phát triển. Vốn đầu tư Nhà nước giữ vai trò quan trọng trong viêc đầu tư các cơ sở hạ tầng kỹ thuật thiết yếu trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh – quốc phòng, đặc biệt là hạ tầng phúc lợi công cộng. Vốn đầu tư khu vực ngoài Nhà nước ngày càng phát huy vai trò tích cực, đóng góp vốn trực tiếp cho phát triển sản xuất kinh doanh và bước đầu đã tham gia đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội. Tốc độ tăng giá trị xuất khẩu bình quân năm đạt 49%. Tốc độ tăng thu ngân sách 15%/ năm. Kinh tế phát triển đã góp phần nâng cao đời sông nhân dân. Thu nhập bình quân đầu người 7,9 triệu đồng năm 2005 lên 14,1 triệu đồng năm 2009, tăng gấp 2 lần; đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được cải thiện và từng bước nâng cao; nhất là nhân dân miền núi khó khăn. 1.1.2.2. Văn hóa – xã hội Hải Dương hiện có hơn 1000 di tích lịch sử - văn hóa, trong đó có khoảng 140 di tích được xếp hạng quốc gia, tiêu biểu là Côn Sơn, Kiếp Bạc, Phượng Hoàng ( Chí Linh), An Phụ, Kính Chủ ( Kinh Môn). Văn hóa Lý – Trần, Lê, Nguyễn là một dòng chảy đậm đặc và liên tực trên đất này, để lại dấu ấn đậm nét trong hàng loạt di tích, gắn liền với sự kiện lịch sử trọng đại, những danh nhân nổi tiếng như Trần Hưng Đạo – danh nhân quân sự ( Kiếp Bạc), Nguyễn Trãi – danh nhan văn hóa ( Côn Sơn), Chu Văn An – danh nhân giáo dục ( Phượng Hoàng). Hải Dương còn là quê hương của nhiều làng nghề truyền thống danh tiếng như trạm khắc đá, chạm khắc gỗ, kim hoàn, gốm, thêu, dệt chiếu… Sản phẩm của các làng nghề truyền thống thể hiện sự sáng tạo, khéo léo, tài hoa của người xứ Đông, được khách hàng trong nước và quốc tế ưa chuộng. Hệ thống di tích lịch sử - văn hóa- danh thắng, đặc biệt là các di tích quan trọng quốc gia trên địa bàn, cùng hệ thống các làng nghề nổi tiếng, góp phần quan trọng làm cho Hải Dương trở trành một vùng văn hóa đặc biệt hấp đã, đáp ứng nhu cầu của khách thập phương về các phương diện: tìm hiểu lịch sử - văn hóa, sinh hoạt tâm linh, thưởng ngoạn cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, chiêm ngưỡng bàn tay tài hoa, khéo léo và các sản phẩm nghệ thuật tinh xảo của các nghệ nhân làng nghề. Người Hải Dương không chỉ giỏi làm ra nhiều nông sản, đặc sản quý như gạo nếp hoa vàng, vải thiều, dưa hấu, na dai, chuối mật…mà còn giỏi chế biến nhiều món ăn đặc sản nổi tiếng khắp trong và ngoài nước như bánh đậu xanh, bánh khảo, bánh gai, rượu, giò chả, mắm rươi, máy cáy…Văn hóa ẩm thực của Hải Dương phong phú, đa dạng, dân giã, ấp dẫn khiến cho du khách bốn phương một lần thưởng thức, thì xa lâu còn nhớ. Giá trị đặc trưng của văn hóa phi vật thể xứ Đông được thể hiện ở các lễ hội truyến thống, ở phong tục, tập quán, lối sống của cộng đồng người Hải Dương xưa và nay; ở các hoạt động văn nghệ dân gian; ở một khối lượng không nhỏ những trước tác về chính trị, quân sự, văn hóa – xã hội, về sử học, y học. Các lễ hội mang đậm yếu tố lịch sử, phong tục, tín ngưỡng, tôn giá, tưởng niệm và ngợi cao công đức của các bậc hiền tài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; thể hiện đạo lý nhớ nguồn, giáo dục các thế hệ hướng tới sự tiến bộ, sự cao đẹp; cầu mong quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, màu màng tốt tươi, đời sống ấm no hạnh phúc. Lễ hội và di tích ở Hải Dương là một tiềm năng, thế mạnh lớn cho ngành du lịch của tỉnh và của cả vùng Đông bắc đất nước. Văn hóa sứ Đông phong phú, đa dạng, có giá trị nhiều mặt bởi được hình thành, tạo dựng không chỉ từ truyền thống cầc cù và thông minh sáng tạo mà còn tứ truyền thống yêu nước anh hùng của người Hải Dương. Người Hải Dương xưa nay rất nổi tiếng bởi truyền thống hiếu học và khoa bảng; là tỉnh đứng đầu cả nước về số người đỗ đại khoa. Đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao cả về vật chất lẫn tinh thần. Tỉnh không còn hộ đói, hộ nghèo chỉ còn 9, 9%. Tại các huyện – thành phố, các xã, thôn – khu dân cư, đề được tỉnh hỗ trợ và nhân dân đóng góp xây dựng nhà văn hóa, thư viện, tủ sách và duy trì các hoạt động thường xuyên, có chất lượng, lôi cuốn được đông đảo nhân dân, góp phần nâng cao đời sống văn hóa cộng đồng. Công tác giáo dục và đào tạo đạt một số kết quả quan trọng về nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và thực hiện mục tiêu quốc gia, đã hoàn thành phổ cập THCS trong năm 2006. Công tác y tế và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được chú trọng. An ninh, quốc phòng được giữ vững, trật tự an toàn xã hội đảm bảo. Sự nghiệp xây dựng văn hóa mới của tỉnh Hải Dương ngày càng khởi sắc, phát triển đồng bộ và chất lượng, khẳng định vị thế, tầm vóc của văn hiến xứ Đông trong lịch sử cũng nh trong cuộc sống hiện tại, góp phần xứng đáng vào việc làm cho tỉnh Hải Dương trở thành điểm đến lý tưởng của du khách tha hồ khám phá, thưởng thức và du lịch. 1.1.2.3. Dân số - Lao động Hải Dương có khoảng 1,71 triệu người bao gồm 10 dân tộc, trong đó đông nhất là dân tộc Kinh chiếm 99,74 %, còn lại là các dân tộc thiểu số như dân tộc Sán dìu, Tày, Nùng, Thái, Mông, Dao, Thổ và các dân tộc khác. Cơ cấu dân số tỉnh Hải Dương trẻ. Nguồn lao động dồi dào, với số người trong độ tuổi lao động chiếm 62,2% tổng dân số. Đây thực sự là nguồn lực lớn trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ an ninh quốc phòng. Nhưng lực lượng lao động của Hải Dương chủ yếu là lao động nông nghiệp, chiếm hơn 55% trong tổng số lao động, mặt khác số lao động qua đào tạo lại chiếm tỉ trọng nhỏ, khoảng 37% trong tổng số lao động, số lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao rất ít… đó là cản trở lớn trong việc tiếp nhận các tiến bộ khoa học kỹ thuật, thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá. 1.1.2.4. Cơ sở hạ tầng a. Hệ thống giao thông Hệ thống giao thông của Hải Dương bao gồm đường bộ, đường thủy, đường sắt được phân bố hợp lý, giao lưu rất thuận lợi tới các tỉnh. - Đường bộ: có 4 tuyến đường quốc lộ qua tỉnh dài 99 km, đều là đường cấp I, cho 4 làn xe đi lại thuận tiện: Quốc lộ 5 từ Hà Nội đi thành phố cảng Hải Phòng, chạy ngang qua tỉnh 44 km, đây là đường giao thông chiến lược; vận chuyển toàn bộ hàng hoá xuất nhập khẩu qua cảng Hải Phòng và nội địa. Quốc lộ 18 từ Nội Bài qua Bắc Ninh đến tỉnh Quảng Ninh. Đoạn chạy qua huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương dài 20 km. Quốc lộ 183, nối quốc lộ 5 với quốc lộ 18, qui mô cấp I đồng bằng Quốc lộ 37 dài 12,4 km, đây là đường vành đai chiến lược quốc gia, phục vụ trực tiếp cho khu du lịch Côn Sơn - Kiếp Bạc. Quốc lộ 38 dài 14 km là đường cấp III đồng bằng. Đường tỉnh: có 13 tuyến dài 258 là đường nhựa tiêu chuẩn cấp III đồng bằng Đường huyện có 352,4 km và 1448 km đường xã đảm bảo cho xe ô tô đến tất cả các vùng trong mọi mùa. - Đường sắt: Tuyến Hà Nội - Hải Phòng chạy song song với quốc lộ 5, đáp ứng vận chuyển hàng hoá, hành khách qua 7 ga trong tỉnh. Tuyến Kép - Bãi Cháy chạy qua huyện Chí Linh, là tuyến đường vận chuyển hàng lâm nông thổ sản ở các tỉnh miền núi phía Bắc ra nước ngoài qua cảng Cái Lân, cũng như hàng nhập khẩu và than cho các tỉnh - Đường thuỷ: với 400 km đường sông cho tầu, thuyền 500 tấn qua lại dễ dàng. Cảng Cống Câu công suất 300.000 tấn /năm và hệ thống bến bãi đáp ứng về vận tải hàng hoá bằng đường thuỷ một cách thuận lợi. Hệ thống giao thông trên bảo đảm cho việc giao lưu kinh tế từ Hải Dương đi cả nước và nước ngoài rất thuận lợi. Trong thời gian tới, ngành Giao thông – Vận tải tỉnh Hải Dương tiếp tục tập trung phát triển đồng bộ và bền vững mạng lưới giao thông của tỉnh, đổi mới phương thức quản lý đầu tư xây dựng, tăng nhanh khả năng đầu tư của các nguồn lực vào phát triển giao thông. Những kế hoạch đó là tiền đề cho sự phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Hải Dương. Đồng thời, đây cũng là cơ hội lớn để Hải Dương hình thành mội trường hấp dẫn đầu tư trong và ngoài nước. b. Hệ thống điện Trên địa bàn tỉnh có Nhà máy nhiệt điện Phả Lại công suất 1040 MW; hệ thống lưới điện khá hoàn chỉnh, đảm bảo cung cấp điện an toàn và chất lượng ổn định; trên địa bàn tỉnh có 5 trạm biến áp 110/35 KV tổng dung lượng 197 MVA và 11 trạm 35/10 KV, các trạm phân bố đều trên địa bàn tỉnh. Lưới điện 110, 35 KV đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật, phục vụ tốt nhu cầu điện cho sản xuất và sinh hoạt. Giai đoạn 2004-2005, xây dựng 1 trạm 220 KV tại huyện Cẩm Giảng, đường dây 220 KV mạch kép kéo từ tuyến Phả Lại - Hà Đồng có 3 lộ xuất tuyến 110 KV; xây dựng mới các trạm 110 KV Đại An, Tiền Trung, Nhị Chiểu và mở rộng, nâng công suất các trạm 110 KV Lai Khê, Chí Linh... nhằm cấp điện ổn định cho các khu công nghiệp dọc quốc lộ 5, khu công nghiệp Nam Sách, khu vực trung tâm tỉnh... Từ năm 2006 đến năm 2010, trên địa bàn tỉnh xây dựng thêm 4 trạm biến áp 110 KV tại Phúc Điền (Cẩm Giàng), Phú Thái (Kim Thành), Hải Tân (TP Hải Dương) và Đoàn Tùng (Thanh Miện), đồng thời, hoàn thiện các tuyến đường dây mạch vòng với các cấp điện áp 110 KV, 35 KV và 22 KV, hoàn thiện quy hoạch lưới điện 110KV; sử dụng hiệu quả lưới điện trung thế hiện có kết hợp với lưới trung thế được cải tạo và xây mới để từng bước tách lưới điện phân phối cho các cụm, các khu công nghiệp, vùng đô thị tập trung ra khỏi lưới điện phục vụ nông nghiệp và ánh sáng sinh hoạt nông thôn; xây dựng các mạch vòng liên lạc giữa nguồn 110 KV, 35 KV, 22 KV; đặc biệt các lưới điện 220 KV, 110 KV, 35/22 KV sẽ được xây dựng đồng bộ với lưới điện hạ thế của các xã bằng nhiều nguồn vốn... Tiếp tục hoàn thiện tổ chức quản lý điện nông thôn. Là địa phương đầu tiên trong 61 tỉnh, thành phố cả nước xây dựng Đề án chuyển đổi mô hình tổ chức quản lý điện nông thôn, Hải Dương đã sớm triển khai tại nhiều huyện để tìm ra một mô hình có tính khả thi nhất. Kết quả: có 16 hợp tác xã điện độc lập thí điểm được coi là mô hình hoạt động hiệu quả. Trật tự trong cung ứng và sử dụng điện tại các địa phương đã từng bước được lập lại, chất lượng điện được cải thiện và thường xuyên ổn định, sổ sách ghi chép sản lượng điện tiêu thụ, thu chi quyết toán tài chính được cập nhật đầy đủ, rõ ràng, tình trạng câu móc, lấy cắp điện hoặc dùng điện không mất tiền đã chấm dứt, giảm được tỷ lệ tổn thất điện năng, bước đầu tích lũy được kinh phí phục vụ cải tạo, nâng cấp hoàn thiện hệ thống lưới điện, các hợp tác xã đã kéo được giá điện từ hơn 700 đ/kWh về giá trần một cách ổn định theo quy định của Chính phủ. Hiện nay trên địa bàn tỉnh có trên 2.000 km đường dây từ 0,4 đến 110 KV, 1.912 trạm biến áp các loại. Việc hoàn thiện hệ thống điện sẽ tạo nên bước đột phá trong công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông thôn. c. Hệ thống cấp thoát nước Trong nhiều năm qua, ngành cấp thoát nước Hải Dương liên tục đầu tư, cải tạo, nâng cấp các đường ống dẫn nước. Công tác cấp thoát nước đô thị được đầu tư một cách hệ thống với việc bàn giao đưa vào sử dụng Nhà máy cấp nước ODA; đang tiến hành xây dựng các trạm cấp nước các huyện Chí Linh, Nam Sách, Gia Lộc, Tứ Kỳ; triển khai đầu tư hệ thống cấp nước sinh hoạt nông thôn tại các xã khó khăn, vùng sâu, vùng xa; hoàn thành đầu tư xây dựng mở rộng nhà máy nước Cẩm Thượng công suất 50.000m³/ngày đêm, đảm bảo cấp nước theo tiêu chuẩn cấp đô thị. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì hệ thống cấp thoát nước của Hải Dương vẫn còn nhiều khó khăn. Hệ thống thoát nước và xử lý rác thải chưa hoàn chỉnh. Phần lớn lượng nước thải xả trực tiếp vào các kênh mương, ao hồ gây nguy cơ ô nhiễm cao. Nói chung ở Hải Dương cơ sở hạ tầng cung cấp nước và hệ thống cấp thoát nước so với các cơ sở hạ tầng khác còn kém phát triển. Trước mắt và cả tương lai cần phải có những nguồn vốn đầu tư, ưu tiên tập trung giải quyết và cải thiện về vấn đề này. d. Bưu chính – Viễn thông Gắn liền với các hệ thống giao thông vận tải, điện, nước, bưu chính viễn thông là những lĩnh vực cơ sở hạ tầng thiết yếu đối với phát triển kinh tế xã hội nói chung và việc thu hút vốn đầu tư nói riêng. Trong những năm qua, các doanh nghiệp bưu chính và chuyển phát đã phát triển được 14 điểm phục vụ bưu điện, nâng tổng số điểm phục vụ bưu điện đến hết 31/12/2009 là 311 điểm. Các doanh nghiệp viễn thông phát triển được 35 điểm chuyển mạch đưa tổng số điểm chuyển mạch hiện có trên địa bàn tỉnh là 76 điểm, tăng 85,36% so với năm 2005, với tổng dung lượng lắp đặt của các tổng đài là 182.282 đôi cáp. Truyền dẫn tại các điểm chuyển mạch chủ yếu sử dụng phương thức truyền dẫn cáp quang với tổng độ dài 949 km, đến 100% huyện, truyền dẫn vi ba sử dụng dự phòng. Đặc biệt là các doanh nghiệp viễn thông sử dụng công nghệ WLL (Wireless local loop) mạch vòng vô tuyến nội hạt để cung cấp loại hình dịch vụ cố định vô tuyến, việc triển khai dịch vụ này tại các vung sâu xa mang tính hiệu quả kinh tế cao, giúp cho người dân tại các vùng sâu, xa có thể sử dụng được các dịch vụ viễn thông với chi phí đầu tư thấp. Tổng số trạm BTS trên địa bàn tỉnh là 295 trạm; tăng thêm 60 trạm DSLAM, nâng tổng số trạm DSLAM hiện nay là 73, bình quân mỗi huyện có từ 4 trạm DSLAM, đáp ứng được yêu cầu truy cập Internet ADSL. Quy mô và chất lượng của các dịch vụ bưu chính - viễn thông trên địa bàn tỉnh Hải Dương ngày càng được mở rộng và hoàn thiện. Đây là một nhân tố rất quan trọng góp phần nâng cao chất lượng môi trường đầu tư của tỉnh, qua đó tăng cường và thu hút đầu tư vào các ngành, lĩnh vực khác. 1.2. Thực trạng đầu tư phát triển kinh tế tỉnh Hải Dương giai đoạn 2005 - 2009 1.2.1. Tình hình thực hiện quy mô vốn đầu tư phát triển Quy mô vốn đầu tư được đánh giá thông qua chỉ tiêu tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Vốn đầu tư toàn xã hội bao gồm: vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài. Ở phần này chúng ta sẽ đi sâu vào đánh giá tình hình đầu tư chung của toàn tỉnh. Tại Hải Dương vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2005-2009 được thể hiện tại bảng 1.1 như sau: Bảng 1.1: Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tỉnh Hải Dương giai đoạn 2005 – 2009 Chỉ tiêu Đơn vị 2005 2006 2007 2008 2009 Tổng vốn đầu tư Tỷ đồng 6251 8397 12764 15526 15155 Tốc độ tăng vốn đầu tư liên hoàn % 34,33 52,00 21,64 -2,39 Tốc độ tăng vốn đầu tư định gốc % 34,33 104,19 148,18 142,44 Nguồn:Tính toán từ nguồn của Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Hải Dương Tổng vốn đầu tư xã hội trên địa bàn tỉnh có sự biến động qua các năm nhưng nhìn chung là năm sau cao hơn năm trước. Tổng vốn đầu tư phát triển của Hải Dương giai đoạn 2005-2009 đạt 58.093 tỷ đổng. Vốn đầu tư qua các năm có sự gia tăng không đồng đều. Nếu năm 2005 vốn đầu tư đạt 6251 tỷ đổng thì năm 2006 tăng gấp 1,34 lần, năm 2007 tăng gấp 1,52 lần năm 2006, năm 2008 tiếp tục tăng và gấp 1,22 lần năm 2007, như vậy từ năm 2005 đến năm 2008 vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh liên tục gia tăng về giá trị tuyệt đối nhưng tỉ lệ gia tăng có xu hướng giảm dần. Đến năm 2009, vốn đầu tư có sụt giảm, chỉ bằng 97,61% so với năm 2008. Nguyên nhân là do trong năm này tỉnh cũng như cả nước chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới nên vốn đầu tư vào tỉnh đã bị sụt giảm. Qua bảng 1.1 ta thấy, tốc độ tăng vốn đầu tư liên hoàn - tốc độ gia tăng vốn đầu tư của năm sau so với năm trước của Hải Dương giai đoạn 2005 - 2009 không đều, có năm là âm ( năm 2009 với -2,39%) và có năm khá cao ( năm 2007 với 52,00% ). Điều này đã được lý giải ở phần trên. Nhắc đến quy mô vốn đầu tư ta còn xét đến chỉ tiêu vốn đầu tư/GDP. Để duy trì tốc độ tăng trưởng cao thì phải có sự gia tăng hợp lý quy mô vốn đầu tư, biểu hiện của điều này là sự gia tăng lên của tỷ trọng vốn đầu tư so với GDP. Sau đây, ta xem xét chỉ tiêu này của Hải Dương trong giai đoạn 2005 – 2009 Bảng 1.2: Tổng đầu tư toàn xã hội của Hải Dương so với GDP giai đoạn 2005 - 2009 Chỉ tiêu Đơn vị 2005 2006 2007 2008 2009 Tổng vốn đầu tư Tỷ đồng 6251 8397 12764 15526 15155 GDP Tỷ đồng 13334 15521 18347 23499 26725 Tổng vốn đầu tư/GDP % 46,88 54.10 69,57 66,07 56,7 Nguồn: Niên giám thống kê Hải Dương và Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Hải Dương Qua bảng 1.2 ta có thể thấy được tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP của Hải Dương là tương đối cao, có năm đạt tới 69,57% ( năm 2007). Thế nhưng cũng do sự gia tăng không đều của vốn đầu tư trong tỉnh qua các năm trong giai đoạn này nên tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP của tỉnh cũng biến động qua các năm, có xu hướng giảm. Trong năm 2009 khủng hoảng kinh tế thế giới vẫn ảnh hưởng tới nền kinh tế của cả nước nên đã ảnh tới luồng đầu tư vào Hải Dương khiến vốn đầu tư của tỉnh sụt giảm mạnh nên chỉ tiêu này cũng giảm mạnh Trong những năm tới, bên cạnh việc ưu tiên đầu tư vào lĩnh vực thế mạnh của tỉnh là thương mại - dịch vụ - du lịch, tỉnh còn tập trung đầu tư xây dựng một số khu công nghiệp tập trung như: khu công nghiệp Nam Sách, Đại An, Tân Trường… Như vậy nguồn vốn cần thiết là khá lớn, nhiệm vụ huy động vốn trong những năm tiếp theo trở nên hết sức nặng nề. Đặc biệt là trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu và nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài vào Việt Nam có xu hướng giảm trong những năm tiếp theo thì vấn đề trên lại càng nan giải. 1.2.2. Vốn đầu tư phát triển của Hải Dương phân theo nguồn Vốn đầu tư xã hội trên địa bàn tỉnh có được từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm 3 nguồn chủ yếu là: nguồn trong tỉnh, nguồn ngoài tỉnh và nguồn nước ngoài. Trong giai đoạn 2005 – 2009, tổng vốn đầu tư huy động được trên địa bàn tỉnh Hải Dương là 58.093 tỷ đồng ( bình quân mỗi năm thu hút được khoảng 11618,6 tỷ đồng ). Để xét cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn trong giai đoạn này ta chia vốn đầu tư thành các nguồn cơ bản sau: Vốn ngân sách Nhà nước Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước ( VTD ĐTPT của NN và VĐTPT của DNNN) Vốn đầu tư của khu vực ngoài Nhà nước Vốn đầu tư nước ngoài Bảng 1.3: Vốn đầu tư phát triển của Hải Dương phân theo nguồn giai đoạn 2005 - 2009 Đơn vị: Tỷ đồng Năm 2005 2006 2007 2008 2009 Tổng vốn đầu tư 6251 8397 12764 15526 15155 -Vốn ngân sách Nhà nước 1115 1032 1152 1414 1747 -VTD ĐTPT của NN và VĐTPT của DNNN 1010 539 3252 2921 998 -Vốn đầu tư của khu vực ngoài Nhà nước 2677 5644 4764 6367 7004 -Vốn đầu tư nước ngoài 1451 1182 3596 4823 5406 Nguồn: Sở kế hoạch và Đầu tư Hải Dương Qua bảng 1.3, ta thấy, vốn ngân sách, vốn đầu tư của khu vực ngoài Nhà nước và vốn đầu tư nước ngoài của tỉnh trong giai đoạn này qua các năm đều tăng , còn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước lại có xu hướng giảm. Trong đó, vốn đầu tư của khu vực ngoài Nhà nước ở mức cao nhất, sau đó đến vốn đầu tư nước ngoài. Ta sẽ xét cơ cấu vốn đầu tư phân theo nguồn sẽ thấy điều này rõ hơn. Bảng 1.4: Cơ cấu vốn đầu tư của tỉnh Hải Dương phân theo nguồn giai đoạn 2005 – 2009 Đơn vị:% Năm 2005 2006 2007 2008 2009 Tổng vốn 100 100 100 100 100 -Vốn ngân sách Nhà nước 17,83 12,29 9,02 9,11 11,53 -VTD ĐTPT của NN và VĐTPT của DNNN 16,16 6,42 25,49 18,81 6,59 -Vốn đầu tư của khu vực ngoài Nhà nước 42,83 62,21 37,32 41.01 46,22 -Vốn đầu tư nước ngoài 23,21 14,08 28,17 31,06 35,._.67 Nguồn: Sở kế hoạch và đầu tư Hải Dương Qua bảng 1.4 ta thấy, tỷ trọng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước đạt mức cao nhất vào năm 2005 (17,83%) và thay đổi không ổn định: từ năm 2005 – 2007 có xu hướng giảm sau đó lại có xu hướng tăng trong những năm tiếp theo. Năm 2007 là năm mà nguồn vốn Ngân sách ở mức thấp nhất trong tổng đầu tư toàn xã hội. Vốn tín dụng đầu tư phát triển Nhà nước cũng có sự thay đổi không ổn định, có năm ở mức thấp như năm 2006 là 6,42%, có năm lại lên khá cao như năm 2007 chiếm 25,49% tổng đầu tư toàn xã hội. Bên cạnh đó, vốn đầu tư của các doanh nghiệp và trong dân cư lại có xu hướng tăng dần qua các năm về tỷ trọng và có xu hướng ngày càng chiếm đa số trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội của tỉnh, nếu năm 2005 chiếm 42,83% thì đến năm 2009 đã chiếm 46,22% Vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh cũng tăng nhanh qua các năm, nếu năm 2005 số vốn là 1451 tỷ đồng chỉ chiếm 23.21% thì đến năm 2009 đã tăng lên đến 5406 tỷ đồng và chiếm 35,67 % cơ cấu vốn đầu tư. Điều này nếu xem xét trên phạm vi cả nước cũng dễ hiểu, bởi sau thời gian suy thoái kéo dài từ năm 1999-2004 làn sóng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam bắt đầu tăng cao và đột biến trong năm 2008. Tuy nhiên hiện nay khi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu vẫn còn rất đáng lo ngại thì trong những năm tới vốn đầu tư vào Việt Nam có thể sẽ giảm đáng kể, và Hải Dương cũng không đứng ngoài ảnh hưởng đó. Trên cơ sở những nhận định tổng quát trên, chúng ta sẽ phân tích sâu hơn về mỗi nguồn vốn. 1.2.2.1. Vốn ngân sách Nhà nước Nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước có một vai trò rất lớn trong việc phát triển đất nước. Đặc biệt, đầu tư công có ý nghĩa xã hội rất lớn trong định hướng phát triển chung. Nguồn vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước ảnh hưởng lớn tới chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu, các chương trình xoá đói giảm nghèo, phát triển xã hội, an sinh giáo dục, an ninh quốc phòng… Các khoản phí, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế đất,… đóng góp vào ngân sách Nhà nước và từ đó Nhà nước tiến hành chi ngân sách cho các địa phương. Bảng 1.15 sẽ cho chúng ta cái nhìn tổng quát về vốn ngân sách Nhà Nước của Hải Dương giai đoạn 2005 - 2009 Bảng 1.5: Vốn ngân sách Nhà nước của Hải Dương giai đoạn 2005 – 2009 Chỉ tiêu Đơn vị 2005 2006 2007 2008 2009 Vốn ngân sách Nhà nước Tỷ đồng 1115 1032 1152 1414 1747 Tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư % 17,83 12,29 9,02 9,11 11,53 Tốc độ gia tăng liên hoàn % -7,44 11,63 22,74 23,55 Nguồn: Sở kế hoạch và đầu tư Hải Dương Trong những năm qua, vốn đầu tư tư ngân sách Nhà nước chiếm một tỷ lệ không cao trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội của tỉnh Hải Dương, trung bình khoảng 11,96% mỗi năm. Tuy nhiên nguồn vốn này lại có xu hướng tăng qua các năm về giá trị tuyệt đối.Nếu năm 2005 nguồn vốn này là 1115 tỷ đồng thì đến năm 2009 đã huy động được 1747 tỷ đồng gấp 1,6 lần năm 2005. Tỷ trọng nguồn vốn này trong tổng vốn đầu tư cũng có xu hướng tăng. Tốc độ gia tăng cũng tăng nhưng có xu hướng chậm lại. Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước được tỉnh tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, các chương trình dự án trọng điểm, các khu vực kinh tế, các ngành kinh tế mũi nhọn, các vùng kinh tế động lực để hỗ trợ các khu vực kinh tế khác cùng phát triển, đã góp phần phục vụ phát triển kinh tế- xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. 1.2.2.2. Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước Tín dụng Nhà nước là một bộ phận quan trọng trong đầu tư Nhà nước, nguồn vốn cơ bản tạo ra sự phát triển dài hạn của nền kinh tế. Mục đích của tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là hỗ trợ các dự án đầu tư phát triển của các thành phần kinh tế thuộc một số ngành, lĩnh vực quan trọng, chương trình kinh tế lớn có tác động trực tiếp đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Bên cạnh đó, nguồn vốn này còn có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kể sự bao cấp vốn trực tiếp từ Nhà nước. Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. Doanh nghiệp Nhà nước được xác định là thành phần kinh tế quan trọng, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Số liệu dưới đây sẽ cho ta biết tình hình vốn tín dụng đầu tư phát triển Nhà nước và vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước của tỉnh Bảng 1.6: Vốn tín dụng đầu tư phát triển Nhà nước và vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2005 - 2009 Chỉ tiêu Đơn vị 2005 2006 2007 2008 2009 VTD ĐTPT của NN và VĐTPT của DNNN Tỷ đồng 1010 539 3252 2921 998 Tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư % 16,16 6,42 25,49 18,81 6,59 Tốc độ gia tăng liên hoàn % -46,63 50,33 -10,18 -65,83 Nguồn: Sở kế hoạch và đầu tư Hải Dương Trong những năm qua, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển và vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước có những tác động nhất định đến sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tuy nhiên trong số những nguồn vốn mà tỉnh huy động hàng năm thì nguồn vốn này vẫn chưa thực sự chiếm tỷ trọng lớn ( Năm huy động nhiều nhất là 2007 với 3252 tỷ đồng, chiếm 25,49% còn năm thấp nhất là 2006 với 539 tỷ đồng và chiếm 6,42% tổng vốn đầu tư ). Và xu hướng tăng giảm là không đều nhau và thậm chí còn có sự chênh lệch rất lớn, có những năm vốn tăng đột biến so với năm trước ( như năm 2007 tăng 50,33% ) và có những năm giảm sút rất nhiều ( như năm 2009 giảm 65,83% ). Có thể giải thích cho thực trạng này là do: khi tỉnh có khả năng cân đối vốn thì tỉnh tăng huy động vốn từ tín dụng đầu tư phát triển Nhà nước, nhưng nguồn vốn này là vốn tín dụng nên khi vay thì phải trả cả lãi lẫn gốc ( tỷ lệ lãi rất thấp, ở mức ưu đãi ) do đó trong những năm tiếp theo ( như năm 2005 ) số vốn đầu tư huy động từ nguồn này lại giảm sút. 1.2.2.3. Vốn đầu tư của khu vực ngoài Nhà nước Vốn đầu tư của khu vực dân cư và các thành phần kinh tế khác bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích luỹ của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã… Thực tế thời gian qua cho thấy đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân và hộ gia đình có vai trò quan trọng đặc biệt trong việc phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, mở mang ngành nghề, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ và vận tải của tỉnh. Vốn đầu tư của khu vực ngoài Nhà nước trên địa bàn tỉnh được thể hiện trong bảng sau: Bảng 1.7: Vốn đầu tư của khu vực ngoài Nhà nước trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2005 - 2009 Chỉ tiêu Đơn vị 2005 2006 2007 2008 2009 Vốn đầu tư của khu vực ngoài NN Tỷ đồng 2677 5644 4764 6367 7004 Tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư % 42,83 62,21 37,32 41.01 46,22 Tốc độ gia tăng liên hoàn % 110.83 -15,59 33,64 10,00 Nguồn: Sở kế hoạch và đầu tư Hải Dương Nhìn vào bảng trên có thể thấy đây là một nguồn vốn hết sức quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu vốn đầu tư của tỉnh. Nguồn vốn này có xu hướng tăng dần qua các năm và đặc biệt tăng mạnh vào năm 2006 ( tốc độ gia tăng liên hoàn của lượng vốn trong năm này là 110.83% ). Như ở trên ta đã phân tích thì các nguồn vốn như: vốn Ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng đầu tư phát triển Nhà nước, vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước đều có sự biến động qua các năm thì nguồn vốn từ dân cư và các thành phần kinh tế khác lại khá ổn định và tăng lên mỗi năm về giá trị tuyệt đối lẫn tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư. 1.2.2.4. Vốn đầu tư nước ngoài Nguồn vốn đầu tư nước ngoài bao gồm toàn bộ phần tích lũy cá nhân, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và chính phủ nước ngoài có thể huy động vào quá trình đầu tư của tỉnh. Bảng 1.8: Vốn đầu tư nước ngoài của Hải Dương giai đoạn 2005 – 2009 Chỉ tiêu Đơn vị 2005 2006 2007 2008 2009 Vốn đầu tư nước ngoài Tỷ đồng 1451 1182 3596 4823 5406 Tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư % 23,21 14,08 28,17 31,06 35,67 Tốc độ gia tăng liên hoàn % -18.54 204,23 34,12 12,09 Nguồn: Sở kế hoạch và đầu tư Hải Dương Trong những năm qua, vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng vốn đầu tư. Điều này cho thấy, Hải Dương là nơi tiềm năng để thu hút đầu tư cũng như các chính sách thu hút đầu tư của các nhà quản lý đang có hiệu quả. Vốn đầu tư nước ngoài có xu hướng tăng qua các năm cả về giá trị tuyệt đối lẫn tỷ trọng. Tuy nhiên, nguồn vốn này tăng chậm, tốc độ gia tăng lại có xu hướng giảm, có năm giảm mạnh, đột ngột như giai đoạn 2008 - 2007 giảm còn 34,12% từ 204,23% của giai đoạn 2006 – 2009 a. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Là một trong 10 địa phương dẫn đầu cả nước về thu hút vốn đầu tư nước ngoài, giai đoạn 2005 - 2009, Hải Dương đã có 162 dự án có vốn FDI, đến từ 21 quốc gia và vùng lãnh thổ, với tổng vốn đăng ký 1,891 tỷ USD và tổng vốn thực hiện đạt 802 triệu USD, bằng 42% tổng vốn đăng ký. Các dự án FDI chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực công nghiệp ô tô, điện tử, dây cáp điện, hàng may mặc, hàng nông sản thực phẩm, chế biến thức ăn gia súc…  Số lượng các doanh nghiệp lớn có tiềm lực tài chính cũng như có điều kiện đầu tư công nghệ, dây chuyền sản xuất hiện đại có xu hướng tập trung đầu tư vào Hải Dương ngày càng nhiều, điển hình như các tập đoàn Sumidenso của Nhật Bản, tập đoàn Brother, Qualcomm của Hoa Kỳ… Các doanh nghiệp FDI hoạt động có hiệu quả đã góp phần quan trọng làm thay đổi bộ mặt kinh tế-xã hội của tỉnh Hải Dương Qua tổng kết các nguồn vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hải Dương phân theo quốc gia và vùng lãnh thổ, các quốc gia và vùng lãnh thổ có vốn đầu tư lớn vào Hải Dương là: Nhật Bản, Đài Loan, Samoa, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Trung Quốc…Các quốc gia và vùng lãnh thổ có tiền lực kinh tế, có trình độ khoa học kỹ thuật cao như: Hoa Kỳ và EC… vốn đầu tư vào tỉnh Hải Dương cho đến nay còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có. b. Vốn ODA và vốn nước ngoài khác Vốn ODA trong giai đoạn 2005 – 2009 của tỉnh đạt 821 tỷ đồng,. Nguồn vốn này tập trung chủ yếu vào phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân. Vốn ODA huy động được chủ yếu từ các nguồn như: JBIC, WB, ADB, UNIFEM,… Lượng vốn còn lại đến từ những hoạt động viện trợ phi chính phủ ( NGO) đạt 32 tỷ đồng. Những dự án này cũng tập trung vào các lĩnh vực hệ thống thuỷ lợi, thực hiện các chương trình y tế như cung cấp một số trang thiết bị cho tuyến y tế cấp thôn, xã, phường, cho vay tín dụng thông qua Hội phụ nữ quản lý, bảo vệ môi trường, phòng chống tệ nạn xã hội, kế hoạch hoá gia đình, hướng nghiệp 1.2.3. Vốn đầu tư phát triển của Hải Dương phân theo huyện, thành phố Lãnh thổ Hải Dương bao gồm 12 huyện, thành phố: thành phố Hải Dương và 11 huyện là Chí Linh, Nam Sách, Kinh Môn, Kim Thành, Thanh Hà, Ninh Giang, Gia Lộc, Tứ Kỳ, Thanh Miện, Cẩm Giàng, Bình Giang. Điều này cùng với điều kiện kinh tế - xã hội và tài nguyên khoáng sản sẽ quyết định cơ cấu đầu tư theo lãnh thổ của tỉnh. Bảng 1.9: Vốn đầu tư xã hội của Hải Dương phân theo huyện, thành phố giai đoạn 2005 – 2009 STT Vùng, lãnh thổ Vốn đầu tư ( tỷ đồng) Cơ cấu vốn (%) Toàn tỉnh 58093 100 1 Thành phố Hải Dương 29627,43 51 2 Chí Linh 4647.44 8 3 Nam Sách 4066,51 7 4 Kinh Môn 3485,58 6 5 Kim Thành 3485,58 6 6 Thanh Hà 1684,69 2,9 7 Ninh Giang 1975,16 3,4 8 Gia Lộc 1858,98 3,2 9 Tứ Kỳ 2091,34 3,5 10 Thanh Miện 1742,81 3,0 11 Cẩm Giàng 1800,88 3,2 12 Bình Giang 1626,6 2,8 Nguồn: Báo cáo của UBND các huyện, thành phố về phát triển kinh tế - xã hội năm 2005-2009 Bảng trên đã phản ánh phần nào về cơ cấu vốn đầu tư theo lãnh thổ trên địa bàn tỉnh. Điều dễ thấy là thành phố là nơi ưu tiên nhận được nhiều vốn đầu tư nhất, tiếp theo là các huyện Chí Linh, Nam Sách, Kinh Môn, Kim Thành, các huyện còn lại nhận được tỷ lệ vốn nhỏ hơn rất nhiều và tương đối bằng nhau. Vốn đầu tư tập trung nhiều nhất cho thành phố bởi vì: - Cơ sở hạ tầng của thành phố tốt hơn rất nhiều so với các huyện trong tỉnh. Bên cạnh đó, thành phố lại tập trung phần lớn các cơ quan, tổ chức đầu ngành của tỉnh và là khu vực tập trung dân cư sinh sống nhất trong tỉnh. - Thành phố là nơi tập trung nhiều khu công nghiệp, là trung tâm thương mại lớn của tỉnh. - Điều kiện giao thông thuận tiện và lực lượng lao động dồi dào tạo điều kiện thuận lợi cho việc thành lập các nhà máy ở đây. Đặc biệt các nhà máy thuộc lĩnh vực công nghiệp nhẹ như: nhà máy bánh kẹo, thuốc lá… các khách sạn, các công ty xuất nhập khẩu,… Huyện Chí Linh sở dĩ có vị trí thứ hai là vì huyện này có nhiều danh thắng cả thiên nhiên lẫn lịch sử như quần thể di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc. Huyện cũng tập trung trữ lượng lớn tài nguyên như sét chịu lửa, mỏ thủy ngân, cao lanh và hơn 700 ha rừng. Giao thông của huyện thuận tiện cho việc lưu thông với thủ đô Hà Nội, thành phố Hải Dương, Quảng Ninh. Vì vậy mà khối lượng buôn bán trao đổi trên địa bàn huyện rất lớn và để tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu buôn bán, hệ thống giao thông trên địa bàn huyện cũng được đầu tư xây dựng khá nhiều. Huyện Nam Sách đứng thứ ba về lượng vốn đầu tư trong giai đoạn này. Đây là huyện tập trung nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp của tỉnh. Nam Sách nằm ở trung tâm của tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, có hệ thống giao thông tổng thể không phải là không thuận lợi, mặc dù có sông bao bọc gần như bốn phía: đường 183 nối Hà Nội, Hải Phòng với Quảng Ninh (qua cầu Bình), có đường sông dài gần 50 km. Đây là một huyện có đầy đủ các điều kiện về địa lý, giao thông, cơ sở hạ tầng để phục vụ cho việc phát triển các khu công nghiệp, kinh tế trang trại, Đây chính là tiền đề để biến Nam Sách thành một trung tâm khu vực, điểm liên kết với các Tỉnh như Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh. Nhờ điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng, giao thông mà Nam Sách đang trở thành một huyện có lợi thế thu hút vốn đầu tư lớn trong Tỉnh. Huyện Kinh Môn và Kim Thành là nơi có khu công nghiệp, cụm công nghiệp. Kim Thành nơi có quốc lộ 5, tuyến đường sắt Hà Nội – Hải Phòng đi qua, tiếp giáp với Hải Phòng nên thuận tiện giao lưu, buôn bán. Nơi đây có hai con sông lớn chảy qua địa bàn huyện là sông Kinh Môn và sông Rạng. Đây là nguồn cung cấp nước ngọt cho sinh hoạt và sản xuất. Đồng thời cũng là nguồn mang lại phù sa cho đất. Huyện Kim Thành có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là cây trồng vụ đông, tạo cho huyện có cây trồng phong phú đa dạng:cây lương thực (lúa,ngô), cây thực phẩm (rau, hành tỏi, dưa hấu, củ đậu). Kinh Môn lại có những danh thắng nổi tiếng như Đền Cao – nơi thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, động Kính Chủ - nơi có nhiều hang động đá vôi tuyệt đẹp. Đây cũng là nơi có khu vực công nghiệp xi măng lớn nhất nước, đô thị hóa rất nhanh, ra đời đồng thời hai thị trấn lớn. Kinh Môn là ngã ba tiếp giáp biên giới của Kinh Môn (Hải Dương)- Đông Triều (Quảng Ninh) và Thủy Nguyên (Hải Phòng). Với giao thông thuân lợi, tiếp giáp với các tỉnh có nền kinh tế phát triển, có nhiều danh thắng, nguồn tài nguyên, nên trong những năm qua hai huyện đã thu hút được nhiều nguồn đầu tư lớn. Các huyện còn lại, mặc dù cũng tham gia vào lĩnh vực công nghiêp, thương mại, du lịch nhưng không đáng kể, mà chủ yếu là nông – lâm nghiệp, khai thác thuỷ sản, vì vậy vốn đầu tư vào đây không cao. Chủ yếu là vốn đầu tư của các chương trình quôc gia như: chương trình trung tâm cụm xã, các chương trình về sức khoẻ và vệ sinh nước sạch nông thôn, các chương trình đầu tư cho cơ sở hạ tầng, … Nguồn vốn đầu tư ở đây chủ yếu lấy từ Ngân sách Nhà nước và một số dự án ODA, NGOs 1.2.4. Vốn đầu tư phát triển của Hải Dương phân theo ngành, lĩnh vực Cách phân ngành phổ biến nhất hiện nay được áp dụng theo hệ thống tài sản quốc gia SNA, theo đó nền kinh tế được chia làm ba khu vực: Khu vực I: gồm các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp Khu vực II: gồm các ngành công nghiệp và xây dựng Khu vực III: gồm các ngành dịch vụ trong đó có du lịch Trong 5 năm qua lượng vốn đầu tư của Hải Dương vào ba khu vực này như sau: Bảng 1.10 : Tổng vốn đầu tư của Hải Dương phân theo ngành, lĩnh vực giai đoạn 2005 – 2009 Đơn vị: tỷ đồng Năm 2005 2006 2007 2008 2009 Nông - lâm - ngư nghiệp 452 1440 1517 795 834 Công nghiệp và xây dựng 3193 3323 7708 8752 8108 Dịch vụ 2607 3635 3539 5979 6213 Tổng vốn đầu tư 6251 8397 12764 15526 15155 Nguồn : Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Hải Dương Nhìn vào bảng trên, ta có thể đánh giá sơ bộ rằng vốn đầu tư của Hải Dương trong thời gian qua tập trung nhiều vào khu vực công nghiệp và xây dựng, còn khu vực nông - lâm - ngư nghiệp nhận được ít vốn đầu tư nhất. Khu vực dịch vụ ngày càng thu hút được nhiều vốn đầu tư. Vốn đầu tư giành cho khu vực này ngày càng tăng trong tổng vốn đầu tư. Khu vực nông – lâm – ngư nghiệp và khu vực công nghiệp – xây dựng tăng giảm không ổn định. Nông – lâm – ngư nghiệp đạt được vốn đầu tư cao nhất vào năm 2007 ( 1517 tỷ đồng ) và thấp nhất vào năm 2005 ( 452 tỷ đồng ). Năm 2009, ảnh hưởng của cuộc khủng hoảnh kinh tế thế giới, nguồn vốn đầu tư toàn tỉnh giảm là do việc sụt giảm nguồn vốn đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp vì đây là lĩnh vực có vốn đầu tư cao nhất so với các lĩnh vực còn lại. Công nghiệp – xây dựng đạt được vốn cao nhất (8752 tỷ đồng ) năm 2008, đến năm 2009 giảm xuống còn 8108 tỷ đồng. Điều này được lý giải ở phần trên. Sau đây, ta sẽ xét cơ cấu vốn của các ngành để thấy rõ sự thay đổi vốn phân theo các ngành trong tổng vốn đầu tư của tỉnh Bảng 1.11: Cơ cấu vốn đầu tư của Hải Dương phân theo ngành, lĩnh vực giai đoạn 2005 – 2009 Đơn vị:% Năm 2005 2006 2007 2008 2009 Nông - lâm - ngư nghiệp 7,23 17,15 11,89 5,12 5,50 Công nghiệp và xây dựng 51,07 39,57 60,39 56,37 53,50 Dịch vụ 41,70 43,28 27,72 38,51 41,00 Tổng vốn đầu tư 100 100 100 100 100 Nguồn : Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Hải Dương Qua bảng 1.11, ta nhận thấy tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng trong tổng vốn đầu tư chiếm tỷ lệ cao nhất năm 2009 (53,50%) và thấp nhất năm 2006 (39,57%). Nhưng ngành này lại có xu hướng giảm về tỷ trọng, nếu năm 2008 chiếm 56,37 % thì đến năm 2009 giảm xuống còn 53,50%. Ngành dịch vụ đạt được tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư cao nhất vào năm 2006 (43,28%), năm 2007 (27,72%) có tỷ trọng thấp nhất; nhưng lại có xu hướng tăng. Ngành nông – lâm – ngư nghiệp tỷ trọng có xu hướng giảm. Để phân tích kỹ hơn, chúng ta xem xét đến tốc độ tăng vốn đầu tư liên hoàn của từng khu vực Bảng 1.12: Tốc độ tăng vốn đầu tư liên hoàn từng ngành, lĩnh vực của Hải Dương giai đoạn 2005 – 2009 Đơn vị: % Năm 2005 2006 2007 2008 2009 Nông – lâm – ngư nghiệp 218,58 5,35 -47,59 4,9 Công nghiệp – xây dựng 4,07 131,96 13,54 -7,36 Dịch vụ 39,43 -2,64 68,95 3,91 Nguồn: Tính toán từ nguồn của Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Hải Dương Nhìn vào bảng trên, ta có thể nhận thấy tốc độ tăng liên hoàn vốn đầu tư của từng ngành, lĩnh vực không ổn định, không đều. Tốc độ tăng cao nhất thuộc về khu vực nông nghiệp, trung bình tăng 36,25%/năm. Điều này có thể giải thích được là do với điều kiện về tự nhiên cũng như xã hội của Hải Dương phù hợp với phát triển nông nghiệp. Mặt khác trong thời kỳ 2006 – 2007, Hải Dương đẩy mạnh việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất nông nghiệp, nên vốn đầu tư đổ vào nông nghiệp trong thời kỳ tăng cao.Vì thế, tốc độ tăng của khu vực nông - lâm – ngư nghiệp tăng đột biến trong thời kỳ này, dẫn đến khu vực này có tốc độ tăng trung bình cao nhất. Đứng thứ hai là khu vực công nghiệp – xây dựng với tốc độ tăng trung bình là 28.44%/ năm. Giai đoạn 2005 – 2009, Hải Dương đầu tư xây dựng một số khu công nghiệp mới. Đây cũng là khu vực chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn đầu tư vì những dự án đầu tư vào công nghiệp đều là những dự án lớn, cần nhiều vốn. Cuối cùng là khu vực dịch vụ với tốc độ tăng trung bình là 21,93%/năm. Bây giờ chúng ta xem xét từng khu vực để hiểu rõ hơn về cơ cấu trên: 1.2.4.1. Ngành nông – lâm – ngư nghiệp Đối với kinh tế Hải Dương, nông nghiệp vẫn là một trong những ngành chiếm vị trí quan trọng hàng đầu. Với trên 80,9% dân số sống ở nông thôn và chiếm hơn 55% trong tổng số lao động làm việc trong ngành nông nghiệp, nông nghiệp quyết định đời sống dân cư, giải quyết việc làm và tạo thu nhập cho họ. Nông nghiệp là nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm chủ yếu, đồng thời là nguồn cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp, cung cấp sản phẩm hàng hoá cho xã hội, góp phần tạo nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho Hải Dương. Ngành này nếu xét về tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư thì có tỷ lệ thấp nhất trong cả thời kỳ so với hai ngành còn lại. Năm 2005 tỷ trọng của ngành trong tổng vốn đầu tư là 7,23% thì đến năm 2006 tăng cao nhất cũng chỉ chiếm 17,15% sau đó đến năm 2007 lại tụt xuống chỉ còn 11,89%, và giảm dần trong những năm tiếp theo. Nhưng, mặt khác, tốc độ tăng trưởng vốn liên hoàn của khu vực này lại cao nhất trong ba khu vực nghĩa là trong một số năm tỉnh tập trung vốn đầu tư cho lĩnh vực này khiến cho dòng vốn tăng đột biến, nếu năm 2005 số vốn là 452 tỷ đồng thì sang năm 2006 số vốn tăng lên gấp 3 lần là 1440 tỷ đồng. Nguồn vốn đầu tư cho khu vực này chủ yếu là: vốn Nhà nước đầu tư cho nông nghiệp và phát triển nông thôn, vốn ngân sách địa phương. - Đối với trồng trọt, chăn nuôi và đánh bắt thuỷ sản, vốn đầu tư tập trung vào những lĩnh vực sau: - Xây dựng và tăng cường cơ sở hạ tầng phục vụ cho công tác hỗ trợ và phát triển sản xuất như: xây dựng các trạm thú y, trạm khuyến nông, trạm bảo vệ thực vật… - Tăng cường cơ khí hoá, điện khí hoá trong sản xuất với việc đầu tư mua sắm các máy động cơ, phương tiện vận tải cơ giới. Đến nay, tỷ lệ cơ giới hoá khâu làm đất đạt trên 50%, đập tuốt lúa trên 97%, xay xát gạo trên 97%, nghiền trên 96%... - Xây dựng các công trình thuỷ lợi và kiên cố hoá kênh mương (có thể nói, lượng vốn đầu tư cho nông nghiệp hàng năm chủ yếu tập trung vào lĩnh vực này). Trong giai đoạn 2005-2009, một loạt các công trình thuỷ lợi phục vụ tưới tiêu đã được xây dựng như: khu tưới tiêu, hồ chứa nước, hệ thống bơm điện, hệ thống đê, kè ven sông…Hải Dương tiếp tục đầu tư tu bổ các tuyến đê, kè; xxaay dựng mới 15 cống qua đê, 4 nhà quản lý đê, cải tạo và xây dựng mới 60 điểm canh đe; cải tạo và cứng hóa 95 km mặt đê. Xây dựng và nâng cấp 10 trạm bơm, mỗi năm nạo vét khoảng 1 triệu m³các tuyến kênh mương nội đồng, tăng thêm năng lực tưới tiêu chủ động cho 26000ha. - Ngoài ra tỉnh còn thực hiện nhiều chương trình hỗ trợ sản xuất, hỗ trợ vốn vay trồng cây ăn quả, phát triển kinh tế trang trại, thay thế và cải tạo một số giống cây trồng, vật nuôi mới. - Lâm nghiệp Những năm qua, Hải Dương không ngừng huy động các nguồn lực nâng cấp, tu bổ rừng, khai thác, tỉa hợp lý rừng trồng, đưa thêm cây bản địa vào trồng, làm vườn thực vật lưu giữ, bảo tồn và nhân rộng các nguồn gen thực vật, từng bước vươn tới đa dạng gen động vật rừng. Tỉnh đã đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi mục đích sử dụng đối với một số diện tích rừng phòng hộ, rừng đặc dụng sang rừng sản xuất để nâng cao hiệu quả khai thác tài nguyên rừng. Triển khai dự án trồng rừng thâm canh với diện tích trông rừng tập trung 2248ha. Hai năm 2006-2007, với nguồn vốn hơn 10 tỷ đồng, tỉnh đã hoàn thành nâng cấp rừng sinh thái hồ Côn Sơn (huyện Chí Linh). Phần lớn lượng vốn đến từ Ngân sách Nhà nước với chương trình trồng 5 triệu ha rừng mỗi năm, một phần nhỏ còn lại là vốn trồng cây nhân dân của Ngân sách địa phương.Kết quả của chương trình 5 triệu ha rừng là đến nay tỉnh cơ bản là đã phủ xong đất trống, đồi núi trọc. 1.2.4.2. Ngành công nghiệp – xây dựng Trong cơ cấu vốn đầu tư của tỉnh, ngành này chiếm khoảng 50-60%, tốc độ tăng vốn liên hoàn đứng thứ hai trong ba nhóm ngành vào khoảng 28.44%/năm. Nếu năm 2005 số vốn đầu tư vào công nghiệp và xây dựng của Hải Dương là 3193 tỷ thì đến năm 2009 con số này đã lên đên 8108 tỷ đồng. Trong giai đoạn 2005-2009, có những năm tốc độ gia tăng vốn rất cao (131,96% vào năm 2007) nhưng có những năm lượng vốn này lại sụt giảm mạnh ( giảm 7,36% năm 2009 ). Điều này có thể được lý giải là do vốn thực hiện một dự án công nghiệp ( và đi liền với nó là xây dựng ) là rất lớn nên những năm nào mà số dự án về công nghiệp tăng lên thì cũng sẽ kéo theo sự gia tăng rất lớn của vốn đầu tư và ngược lại. Với phương châm cải thiện cơ sở hạ tầng để thu hút và thúc đẩy vốn đầu tư trong và ngoài nước, Hải Dương đã dành phần lớn nguồn Ngân sách và vốn tín dụng Nhà nước để đầu tư cho lĩnh vực này. Trong năm năm qua, một loạt các công trình đã được xây mới như : xây dựng các khu công nghiệp Tân Trường, Tàu thủy Lai Vu, Dự án Dây chuyền 3 của Công ty Xi măng Hoàng Thạch… Các công trình này đã đẩy tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực công nghiệp – xây dựng lên một cách đáng kể. Do có nhiều lợi thế về tài nguyên khoáng sản, một lượng lớn vốn đầu tư đã tập trung vào ngành khai thác và chế biến. Giai đoạn 2005-2009 tỉnh tiếp tục tập trung đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ, bổ sung thêm nhiều năng lực sản xuất mới như: Dây chuyền 3 của Công ty Xi măng Hoàng Thạch đi vào hoạt động vào cuối quý III/2009, nâng tổng công suất của Công ty từ 2,3 triệu tấn lên 3,5 triệu tấn/năm, Khu liên hợp sản xuất gang thép Hòa Phát của Công ty Cổ phần thép Hòa Phát có quy mô 320.000 tấn/năm, Nhà máy sản xuất phôi thép vuông 295.000 tấn/năm của Công ty cổ phần B.C.H … Bên cạnh đó, đa dạng hoá quy mô và cơ cấu ngành nghề, đưa thêm vào một số ngành nghề mới như: lắp ráp điện tử, điện lạnh, sản xuất động cơ điện, linh kiện xe máy, đồ nhựa… Như vậy cơ cấu đầu tư trong nội tại ngành Công nghiệp có những điều chỉnh theo hướng tập trung đầu tư vào lĩnh vực có hiệu quả cao như sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến, lắp ráp hàng cơ khí điện tử và hàng tiêu dùng. 1.2.4.3. Ngành Dịch vụ - du lịch Dịch vụ là khu vực nhận được vốn đầu tư ngày càng tăng. Qua bảng 1.10 và 1.11, ta nhận thấy trung bình mỗi năm, khu vực này nhận được hơn 4394 tỷ đồng, một con số không hề nhỏ so với tổng vốn đầu tư của cả tỉnh ( tỷ trọng bình quân mỗi năm là 38,44% ). Nhìn chung, lượng vốn này khá ổn định và duy trì ở mức 30-40%. Đối với ngành Thương mại, tỉnh đã huy động từ nhiều nguồn vốn đầu tư nâng cấp, xây dựng kiên cố với quy mô khá lớn các chợ, trung tâm thương mại ở trung tâm thành phố, củng cố và xây dựng mới kiên cố và bán kiên cố các chợ ở thị trấn, trung tâm cụm xã và xã. Triển khai dự án xây dựng chợ đầu mối nông lâm sản trong đó, có 01 chợ đầu mối rau quả cấp vùng (Nam Đồng Thành phố Hải Dương), còn lại 04 dự án chợ đầu mối nông sản thực phẩm  cấp tỉnh (chợ Đọ ứng Hoè Ninh Giang, chợ Đồng Gia Kim Thành, chợ nông sản Gia Tân Gia Lộc, Chợ Nại Thanh Xá Thanh Hà ). Tập trung đầu tư phát triển mạnh một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực dựa trên lợi thế sẵn có của tỉnh, hàng thủ công mỹ nghệ và một số nông sản chế biến khác. Duy trì và giữa vững các thị trường xuất khẩu truyền thống. Tích cực thâm nhập vào các thị trường lớn như: EU, Mỹ, Nhật Bản và các thị trường mới có tiềm năng như Châu Phi và Trung Đông...Triển khai chương trình nâng cao chất lượng rau quả, thực phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế được phổ cập, tiến tới xây dựng mặt hàng xuất khẩu chủ lực, đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng và vệ sinh thực phẩm Tăng cường hỗ trợ thông tin, tư vấn, hướng dẫn các doanh nghiệp trong hoạt động xuất khẩu như: thông tin thị yếu người tiêu dùng, chính sách và quy định của nước nhập khẩu, chủng loại, chất lượng, giá cả và điều kiện mua bán... Đối với ngành du lịch, nguồn vốn từ khu vực tư nhân đã tích cực đầu tư phát triển hệ thống khách sạn, nhà hàng, các dịch vụ vui chơi giải trí như khu sân golf và vui chơi giải trí, công viên,…tạo ra diện mạo mới trong phát triển du lịch của tỉnh. Bên cạnh đó là việc đầu tư hình thành một số khu du lịch như. Khu du lịch và bảo tồn sinh thái Đảo Cò ( Thanh Miện), khu du lịch An Phụ ( Kinh Môn) Phát triển các sản phẩm du lịch gắn với các làng nghề truyền thống như thêu Hưng Đạo, giầy dép da Tam Lâm, gốm Chu Đậu, gỗ mỹ nghệ Đông Giao... Tỉnh đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, xúc tiến du lịch và mở rộng thị trường trong và ngoài nước, gắn hoạt động du lịch của tỉnh với các tour du lichjcuar vùng và cả nước nhằm khai thác tối đa tiềm năng du lịch của tỉnh. Đối với ngành tài chính, ngân hàng, trong những năm vừa qua, lĩnh vực tài chính ngân hàng của tỉnh phát triển nhanh về quy mô và chất lượng. Tỉnh đã mở rộng và hiện đại hoá hệ thống tài chính, ngân hàng trên địa bàn tỉnh; khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức tín dụng mở rộng mạng lưới các chi nhánh hoạt động đến các huyện, các khu kinh tế cửa khẩu và các điểm dân cư tập trung. Bên cạnh đó, tỉnh cũng tập trung kiện toàn, củng cố, sắp xếp và đào tạo, bồi dưỡng về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức cho đội ngũ cán bộ làm công tác thu, chi Ngân sách. Cách ngân hàng trên địa bàn tỉnh cũng chú trọng đầu tư cho công tác tuyên truyền, tiếp thị, khuyến mại, chăm sóc khách hàng. Đa dạng hoá và nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ truyền thống như: thanh toán điện tử, thanh toán quốc tế, chi trả tiền kiều hối,… đồng thời phát triển các dịch vụ mới như phát triển và mở rộng mạng lưới ATM, các loại thẻ thanh toán quốc tế. Các ngành dịch vụ khác: Bên cạnh sự phát triển của các ngàng dịch vụ nêu trên, nhiều loại hình dịch vụ khác trong tỉnh cũng có bước phát triển đáng kể như dịch vụ y tế, giáo dục... Dịch vụ giáo dục và đào tạo ngày càng được quan tâm với tính xã hội hóa cao. Trong những năm qua nhiều trường dân lập và tư thục được đầu tư xây dựng. Chất lượng giáo dục tại các trường dân lập ngày càng được cái thiện đã đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của đông đảo phụ huynh và học sinh trong tỉnh. Dịch vụ y tế có bước phát triển đáng khích lệ. Tỉnh đã đ._.tế là nhiệm vụ trọng tâm; lấy tăng trưởng hợp lý, bền vững là quan điểm xuyên suốt. Phát triển kinh tế gắn liền với đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước của quá trình phát triển; kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với giữ gìn, bảo vệ và cải thiện môi trường; đảm bảo phát triển hợp lý giữa khu vực thành thị và nông thôn - Khai thác tối đa mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển, trong đó nội lực là yếu tố quyết định, ngoại lực đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Tăng trưởng kinh tế dựa trên sự bứt phá mạnh về nguồn nhân lực và trình độ khoa học công nghệ. Nâng cao khả năng hấp thụ vốn của nề kinh tế, chuyển dịch nhanh cơ cấu nguồn vốn đầu tư theo hướng tăng nhanh tỷ trọng huy động từ khu vực ngoài Nhà nước. - Đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát huy tối đa lợi thế so sánh của từng vùng, từng ngành, từng lĩnh vực, sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh của cả nền kinh tế. - Tạo môi trường thuận lợi, minh bạch, khuyến khích các thành phần kinh tế cùng phát triển bình đẳng, lành mạnh, không giới hạn quy mô. - Đẩy mạnh xã hội hoá các lĩnh vực đầu tư công, văn hoá, y tế, giáo dục - đào tạo, thể thao, phát triển đô thị. - Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy nhanh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất, đời sống 2.1.2. Mục tiêu phát triển kinh tế đến năm 2014 2.1.2.1. Mục tiêu tổng quát Từng bước tái cơ cấu nền kinh tế. Tạo bước chuyển biến về chất lượng tăng trưởng; chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Đầu tư có trọng điểm cho các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, ưu tiên đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nông nghiệp, nông thôn, các ngành công nghiệp và dịch vụ có khả năng tạo ra giá trị tăng thêm cao, bảo vệ tài nguyên và môi trường. 2.1.2.2. Mục tiêu cụ thể - Tổng sản phẩm trong tỉnh tăng 10%/năm trở nên trong đó + Giá trị tăng thêm khu vực nông – lâm – ngư nghiệp tăng 1,7% - 2%/năm + Giá trị tăng thêm khu vực công nghiệp – xay dựng tăng 11%/năm trở lên + Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ tăng 12%/năm - Cơ cấu kinh tế nông, lâm, ngơ nghiệp – công nghiệp, xây dựng – dịch vụ năm 2015 là: 19,7% - 47,5% - 32,8% - Giá trị hàng xuất khẩu tăng 15%/ năm - Thu ngân sách nội địa tăng 16%/năm - GDP bình quân đầu người vào năm 2015 đạt 34,3 triệu đồng ( khoảng 1650 – 1700 USD ) - Chỉ số HDI đến năm 2014 đạt 0,802 2.2. Một số giải pháp nhằm tăng cường hoạt động đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh Hải Dương 2.2.1. Giải pháp về huy động vốn đầu tư phát triển Trong giai đoạn 2010-2014, để gia tăng lượng vốn huy động được, Hải Dương cần chú ý đến nhiều nguồn vốn khác nhau. Đặc biệt là hình thành thị trường vốn và huy động vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đây là hai lĩnh vực chưa được khai thác hiệu quả trong giai đoạn 2005-2009. Sau đây, em xin đề xuất các giải pháp chính như sau: 2.2.1.1. Đẩy mạnh hoạt động của Quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển chi nhánh Hải Dương tạo tiền đề phát triển thị trường vốn của Hải Dương trong tương lai Quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển có vai trò quan trọng trong viêc cung cấp vốn cho phát triển kinh tế, huy động vốn trung và dài hạn, tiếp nhận và quản lý các nguồn vốn của nhà nước dành cho tín dụng đầu tư phát triển. Quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển chi nhánh Hải Dương được thành lập ngày năm 2000 hoạt động trên cơ sở hợp nhất nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước và Quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển quốc gia. Qua 9 năm hoạt động, khả năng mở rộng và phát triển hoạt động, nhất là việc khơi nguồn để huy động vốn cho tỉnh còn rất hạn chế do Quỹ vẫn chủ yếu dựa vào nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của Ngân sách địa phương, nguồn vốn bị hạn chế trong khả năng cân đối để sử dụng cho các hoạt động đầu tư trung và dài hạn. Trong tương lai, vốn dành cho đầu tư phát triển kinh tế của tỉnh cần ngày càng nhiều thì viêc mở rộng và phát triển quỹ này là điều cần được chú trọng. Quỹ này cần phải đa dạng hoá hình thức huy động vốn bằng cách: - Thực hiện phương thức hợp vốn với câc Ngân hàng Thương mại, điều này là hoàn toàn khả thi bởi hiện nay hệ thống các Ngân hàng Thương mại trên địa bàn tỉnh đã tương đối phát triển và phong phú. - Sáng lập và điều hành các Công ty cổ phần để đầu tư tham gia khởi động chương trình, đầu tư vào các chương trình trọng điểm theo hướng phát triển kinh tế - xã hội. Trong hình thức này, Nhà nước chỉ đóng góp vốn không quá 30%, còn lại huy động từ dân cư và các thành phần kinh tế khác. Như vậy, những dự án, chương trình gắn liền với kinh tế - xã hội có khả năng thu hồi vốn thì sẽ được tư nhân tham gia, rủi ro được chuyển một phần sang cho tư nhân, đồng thời việc quản lý dự án đạt hiệu quả cao hơn khi có sự tham gia của tư nhân. Bên cạnh đó, cần tiến hành nghiên cứu xây dựng lộ trình phát hành trái phiếu Quỹ đầu tư phát triển để huy động vốn dưới các hình thức như trái phiếu mục tiêu, trái phiếu đầu tư, trái phiếu công trình... để làm phong phú thêm các kênh huy động vốn, là tiền đề quan trọng để hình thành và phát triển thị trường vốn cho tỉnh Hải Dương. 2.2.1.2. Tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: Trong những năm gần đây, Hải Dương đã đề ra nhiều chính sách ưu đãi nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài nên tỉnh là một trong 10 tỉnh thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài trên cả nước. Tuy nhiên, nguồn vốn huy động được vẫn rất khiêm tốn, chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh. Bên cạnh những yếu tố như cơ sở hạ tầng còn yếu kém, sự thiếu đồng bộ trong thực hiện cơ chế, chính sách thì yếu tố tâm lý của nhà đầu tư cũng rất quan trọng vì nơi nào càng nhiều nhà đầu tư thì nơi đó sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư. Vì vậy, việc quảng bá một môi trường đầu tư tốt và an toàn là việc làm rất cần thiết. Kinh nghiệm cho thấy những tỉnh thu hút được nhiều vốn đầu tư nhất cũng chính là những địa phương làm rất tốt công tác xúc tiến đầu tư. Dựa trên một số kinh nghiệm của các tỉnh bạn, em xin đưa ra một số giải pháp đối với công tác xúc tiến đầu tư cho tỉnh Hải Dương như sau: - Công tác tiếp cận cung cấp thông tin cho nhà đầu tư cũng phải đổi mới, chuyển từ cách thức giới thiệu chung chung như trước kia sang tập trung phân tích sâu vào thông tin về Tỉnh, dự án cụ thể cho từng đối tường nhà đầu tư cụ thể. Trung tâm xúc tiến đầu tư của tỉnh cần phối hợp với các ngành, các tổ chức có liên quan, tổ chức thu thập, cập nhật và xử lý, phân tích các thông tin, tư liệu về pháp luật, kinh tế xã hội, dự báo tình hình phát triển kinh tế xã hội, tình hình đầu tư trên địa bàn Tỉnh, trong khu vực và trong cả nước; Xây dựng cơ sở dữ liệu về tiềm năng của Tỉnh, xây dựng tủ dự án… để cung cấp và tư vấn cho các tổ chức, cá nhân trong việc lựa chọn xây dựng dự án đầu tư. - Bên cạnh việc tiếp tục hoàn chỉnh quy định, chính sách về công tác xúc tiến đầu tư, cần thúc đẩy nhanh quá trình kiện toàn hệ thống tổ chức xúc tiến đầuu tư cả về số lượng và chất lượng theo hướng chuyên nghiệp - Tổ chức vận động đầu tư, thông qua các mối quan hệ đối ngoại sẵn có của Tỉnh để tiếp tục vận động các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước; tổ chức hoặc phối hợp tổ chức các đoàn, các diễn đàn đầu tư trong và ngoài nước để giới thiệu các dự án kêu gọi đầu tư của Tỉnh. - Công nghệ thông tin là một khâu đột phá quan trọng trong công tác xúc tiến đầu tư và trong thời gian tới cần đầu tư hơn nữa cho trang thông tin điện tử về đầu tư nước ngoài, tài liệu xúc tiến đầu tư; xây dựng cơ sở dữ liệu không gian đầu tư; phát huy và ứng dụng lợi thế của công nghệ thông tin vào quảng bá hình ảnh, môi trường đầu tư cũng như giới thiệu các dự án khả thi và tiếp cận với các nhà đầu tư tiềm năng, thiết lập hệ thống thông tin về đầu tư của Tỉnh ( lập trang Web, phát hành các ấn phẩm thông tin trong lĩnh vực đầu tư…) - Thực hiện các biện pháp quảng bá tại chỗ như: lập Showroom để trưng bày các hình ảnh, bản đồ, đĩa CD-ROM của các khu công nghiệp, các lĩnh vực kêu gọi đầu tư giúp cho các nhà đầu tư nắm được thông tin đầu tư. Thực hiện các hoạt động quảng bá ra bên ngoài như: Tăng cường quan hệ với các Sứ quán, Lãnh sự quán, các hiệp hội, các tập đoàn, các đơn vị làm xúc tiến đầu tư trong và ngoài nước - Cần tăng cường công tác quy hoạch ngành, vùng, địa phương, xây dựng chiến lược và các Danh mục dự án khuyến khích đầu tư làm căn cứ để hoạt động xúc tiến đầu tư đảm bảo chủ động tiếp cận và lựa chọn được đúng đối tượng nhà đầu tư phù hợp và dự án hiệu quả; tránh tình trạng trùng lặp, chồng chéo gây lãng phí ngân sách, bảo đảm tính chất liên vùng, quốc tế trong hoạt động xúc tiến đầu tư, nhất là khi xúc tiến đầu tư tại nước ngoài và hợp tác với nước ngoài về xú tiến đầu tư. - Chú trọng công tác thu hút, đào tạo và sử dụng độ ngũ cán bộ trong lĩnh vực xúc tiến đầu tư. Bên cạnh các giải pháp lớn ở trên, đối với những nguồn vốn khác như vốn Ngân sách Nhà nước, vốn từ dân cư, vốn ODA cũng cần được tỉnh quan tâm đúng mức. 2.2.1.3. Huy động vốn ngân sách Nhà nước: Đây là nguồn vốn được Thủ tướng Chính phủ giao kế hoạch để thực hiện các nhiệm vụ đầu tư phát triển tại địa phương, do địa phương quản lý. Vì vậy, đối với các dự án đã có chủ trương đầu tư ( như các công trình giao thông liên xã, công trình thuỷ lợi, các công trình y tế tỉnh huyện, các công trình trọng điểm, kè chống lũ…), cần đẩy nhanh tiến độ thực hiện, khi có khối lượng cần nghiệm thu, trình UBND tỉnh hoàn chỉnh các thủ tục về đầu tư để kịp thời bổ sung vốn. Bên cạnh đó, cần: - Hoàn thành tốt công tác thu Ngân sách trên địa bàn tỉnh, bằng cách huy động tốt các nguồn thu vào ngân sách Nhà nước phấn đấu hàng năm, thu vượt chỉ tiêu của Chính phủ giao để bổ sung vốn cho đầu tư phát triển, đồng thời thực hiện triệt để tiết kiệm để thu thường xuyên, tăng chi cho đầu tư phát triển bằng nguồn ngân sách tỉnh. - Tận dụng thời cơ, tranh thủ sự chỉ đạo, giúp đỡ của Chính phủ và Bộ ngành Trung ương cả về cơ chế, chính sách và các nguồn lực cho đầu tư phát triển thông qua các chương trình, dự án. 2.2.1.4. Thu hút nguồn vốn của dân cư và doanh nghiệp ngoài quốc doanh: Đây cũng là nguồn vốn đóng góp vai trò quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hải Dương. Tuy nhiên, để thu hút hiệu quả nguồn vốn này cần có sự hỗ trợ tích cực của các cấp chính quyền từ tỉnh đến cơ sở. Mặt khác, cần phải: Mở rộng các hình thức liên doanh, liên kết trong sản xuất và tăng cường các biện pháp nhằm khai thác các hình thức vay vốn với lãi suất ưu đãi cho đầu tư phát triển các ngành sản xuất kinh doanh. Có như vậy mới khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân tham gia các lĩnh vực đầu tư phát triển của tỉnh. Một hình thức liên doanh, liên kết mang lại hiệu quả cao đó là liên doanh, liên kết giữa quốc doanh và dân doanh. Nguồn vốn từ Ngân sách Nhà nước và vốn vay tín dụng của Nhà nước đều bị hạn chế ở khối lượng vốn (vì phải san sẻ cho nhiều địa phương, nhiều ngành, lĩnh vực), thời điểm giao vốn lại khá bị động. Để khắc phục nhược điểm này, một biện pháp có thể áp dụng đó là: vừa vay vốn Nhà nước, vừa tuyên truyền, vận động các tổ chức kinh tế xã hội, các hộ dân tham gia liên doanh, góp vốn. Biện pháp này tỏ ra hữu hiệu đối với các hoạt động như trồng rừng, trồng cây ăn quả, sản xuất các sản phẩm thủ công nghiệp. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng trên địa bàn, tạo thuận lợi cho việc luân chuyển, tăng vòng quay vốn, huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư cho đầu tư phát triển thông qua các hình thức: tiền gửi tiết kiệm, ban hành trái phiếu, cổ phiếu, tín phiếu, tiến tới huy động từ thị trường chứng khoán… Hoạt động của các Ngân hàng Thương mại có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế của tỉnh. Sau đây là một số giải pháp: - Chủ động hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tài chính. Đảm bảo môi trường kinh doanh bình đẳng, an toàn và phát triển cho các ngân hàng, tổ chức tín dụng. - Các ngân hàng phải đa dạng hoá các dịch vụ ngân hàng mới nhưng vẫn phải chú trọng tập trung vào khai thác một số dịch vụ hoạt động thế mạnh của mình. Bên cạnh đó, cần có chính sách phân loại khách hàng, nghiên cứu nhu cầu thị trường để nắm bắt được nhu cầu từng nhóm khách hàng. - Đào tạo đội ngũ cán bộ nghiệp vụ, cán bộ quản trị khách hàng đảm bảo quản lý và thực hiện tốt các nghiệp vụ hiện đại. Khác với các loại hình hoạt động khác, kinh doanh ngân hàng luôn phải chú trọng yếu tố con người. Khách hàng chỉ tìm đến khi họ tin tưởng, mà muốn tăng cường huy động vốn thì phải có được niềm tin của khách hàng. - Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng cáo rộng rãi về các dịch vụ ngân hàng, đặc biệt là dịch vụ hiện đại. Kết hợp các phương thức tuyên truyền như phát tờ rơi, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng… để công chúng có thông tin đầy đủ về các tiện ích của dịch vụ. Ngoài ra, tỉnh cũng cần thực hiện các giải pháp sau: - Cho phép các doanh nghiệp được phát hành cổ phiếu , trái phiếu thông qua bảo lãnh của ngân hàng để tìm kiếm và huy động vốn của dân cư và các nhà đầu tư trong và ngoài nước . - Tỉnh cũng cần có chính sách ưu đãi, bảo hộ khuyến khích người dân bỏ vốn đầu tư vào các dự án đã được “ chào hàng”, nhất là khuyến khích bỏ vốn đầu tư tận thôn , xã để lập các xí nghiệp như kiểu các xí nghiệp hương trấn ở Trung Quốc . Để làm việc này , Tỉnh cần tạo những điều kiện tối thiểu về điện , nước , giao thông , cung cấp tốt các dịch vụ đầu tư  như điều tra thị trường , tư vấn đầu tư , giới thiệu đối tác , hỗ trợ thành lập doanh nghiệp … Để thuận tiện cho việc đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh . Khuyến khích các hộ gia đình phát triển các ngành nghề phụ , đặc biệt là những nơi có ngành nghề truyền thống . - Cần đa dạng hoá các hình thức, công cụ phương tiện tích tụ và tập trung vốn sao cho mọi người dân ở mọi chỗ , mọi nơi đều có cơ hội thuận tiện để đưa những đồng vốn tiết kiệm của mình vào dòng chảy đầu tư . 2.2.1.5. Thu hút nguồn vốn ODA: Trong thời gian tới tỉnh tiếp tục xúc tiến vận động các dự án ODA để bổ sung nguồn lực cho đầu tư phát triển. Phối hợp và tập trung giải quyết dứt điểm các vấn đề liên quan, để ký được các hiệp định vay vốn. Tổ chức đấu thầu, triển khai đầu tư các dự án ODA đã được xúc tiến đầu tư trong những năm gần đây. Trong những năm gần đây, khi mà xu hướng vốn ODA giảm sút thì nguồn vốn này lại ngày càng trở nên khó khăn, vì vậy tỉnh cần có những biện pháp giúp nâng cao hình ảnh trong mắt các nhà đầu tư như tập trung thực hiện giải ngân vốn ODA đúng tiến độ, tránh thất thoát lãng phí trong quá trình thực hiện, đảm bảo chất lượng thi công các công trình, chất lượng triển khai và thực hiện các chương trình, dự án… Thực hiện tốt những biện pháp trên thì trong thời gian tới tỉnh có thể thu hút thêm nguồn vốn từ nhiều nguồn nữa đặc biệt là chương trình hiện vẫn đang trong giai đoạn vận động. 2.2.2. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của tỉnh 2.2.2.1.Chuyển dịch cơ cấu vốn hợp lý Nhằm để cơ cấu vốn chuyển dịch một cách hợp lý, em xin đề xuất một số giải pháp sau: - Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông tại các huyện, đặc biệt là các huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa. Phát triển và đa dạng hóa các loại hình dịch vụ nông thôn. - Cần có những chính sách ưu tiên nhằm thu hút vốn đầu tư vào các huyện có lợi thế về công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ - Lập và phê duyệt quy hoạch xây dựng mạng lưới điểm dân cư nông thôn và trang tâm xã tại các huyện. - Cần có những chính sách ưu tiên nhằm thu hút vốn đầu tư cho ngành nông nghiệp vì đây vẫn là ngành thế mạnh của tỉnh. Đổi mới tổ chức sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Đẩy mạnh cơ khí hóa trong nông nghiệp. Khai thác có hiệu quả các tiềm năng trong nông nghiệp gắn với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường. - Phát triển công nghiệp theo hướng hiện đâị, tạo nền tảng để phát triển nhanh, bên vững trong giai đoạn tiếp theo. Tập trung đầu tư chiều sâu, đổi mới thiết bị công nghệ, từng bước hiện đại hóa các cơ sở sản xuất hiện có. Ưu tiên phát triển công nghệ sản xuất các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, công nghệ sạch, các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh và công nghệ phụ trợ. Khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn và làng nghề. - Xây dựng và hoàn thiện cơ chế chính sách khuyến khích thu hút đầu tư phát triển các ngành dịch vụ, nhất là đầu tư hạ tầng các ngành dịch vụ như chợ, khu/điểm du lịch, bến xe, bến cảng...Chú trọng khai thác thị trường nội địa, mở rộng thị trường nông thôn. Gắn hoạt động du lịch của tỉnh với các tour du lịch cả vùng và cả nước… 2.2.2.2. Giải pháp nâng cao công tác quản lý đầu tư 2.2.2.2.1. Nâng cao công tác tư vấn, lập và thẩm định dự án Vai trò quan trọng của công tác tư vấn, lập và thẩm định dự án là không thể phủ nhận. Nó có ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công hay thất bại của một dự án. Để nâng cao chất lượng của công tác này, cần phải: - Ban hành các quy chế phối hợp giữa các cơ quan liên quan đến công tác tư vấn, lập và thẩm định dự án. - Nâng cao chất lượng đội ngũ làm công tác tư vấn, lập và thẩm định dự án bằng cách: mở thêm các khoá đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ; kết hợp giữa kinh nghiệm của các cán bộ đi trước với sức sáng tạo của các cán bộ trẻ; cử các cán bộ đã có kinh nghiệm công tác đi học, giao lưu trao đổi kinh nghiệm với các tỉnh bạn; có chính sách thu hút nhân tài về công tác tại tỉnh… - Trang bị hệ thống thông tin, máy móc, công nghệ hiện đại, ứng dụng các phần mềm tiên tiến phục vụ cho công tác tư vấn, lập và thẩm định dự án. Mặt khác, các chủ đầu tư cần có giải pháp kiên quyết không ký hợp đồng đối với những đơn vị tư vấn yếu kém có nhiều tồn tại trong quá trình hoạt động. Phối hợp giữa các cơ quan quản lý trong việc thẩm định thiết kế cơ sở, thẩm định dự án đầu tư theo quy chế một cửa “ Chủ đầu tư gửi hồ sơ trình duyệt dự án về Sở Kế hoạch và đầu tư, cơ quan thẩm định đầu tư sẽ xem xét nhanh hồ sơ trình duyệt dự án, nếu đủ điều kiện sẽ làm văn bản xin ý kiến thẩm định thiết kế cơ sở của cơ quan chuyên ngành, và các ngành liên qua; nếu chưa đủ điều kiện sẽ gửi trả lại chủ đầu tư kèm theo các lý do cụ thể để hoàn thiện lại dự án; đồng thời nâng cao chất lượng thẩm định thiết kế cơ sở của các cơ quan chuyên ngành”. 2.2.2.2.2. Khắc phục những tồn tại trong công tác giải phóng mặt bằng - Tỉnh cần lập những đoàn thanh tra, kiểm tra và giám sát công tác giải phóng mặt bằng của các dự án. - Thường xuyên tổ chức và thông tin chính xác qua các buổi tuyên truyền về chính sách, các quy định của pháp luật về đất đai, trọng tâm là những chủ trương của tỉnh tạo điều kiện cho người dân hiểu và thực hiên đúng, đảm bảo cho công tác giải phóng mặt bằng được thực hiện đúng tiến độ. - Có chính sách đền bù phù hợp với từng khu vực, từng đối tượng, vấn đề đào tạo nghề cho lao động khu vực giải phóng mặt bằng có cơ hội làm việc tại các doanh nghiệp của dự án cần được quan tâm và thực hiện đúng nếu có cam kết. đặc biệt là những khu vực nông thôn, bởi khi bị thu đất nông nghiệp những lao động này bị mất nghề. - Cần cân đối bố trí vốn cho giải phóng mặt bằng đồng thời cần có những tính toán chính xác để đảm bảo tiến độ giải phóng mặt bằng - Kiên quyết xử lý những trường hợp lợi dụng chính sách của nhà nước để kích động người dân tham gia đòi bồi thường quá mức theo quy định của pháp luật gây nên tình trạng mất trật tự an ninh tại một số địa phương trong thời gian vừa qua. - Đào tạo, bồi dưỡng, bổ sung cán bộ tham gia công tác giải phóng mặt bằng. 2.2.22.3. Khắc phục những tồn tại trong công tác đấu thầu, cần phải: - Thực hiện nghiêm túc những quy định trong Luật Đấu thầu đã ban hành. - Các chủ thể tham gia vào quá trình đấu thầu phải đảm bảo độc lập về tổ chức, không cùng một cơ quan quản lý và độc lập về mặt tài chính. - Tăng cường công khai, minh bạch quá trình đấu thầu như đăng tải trên báo, đài… - Tăng cường tính chuyên môn, chuyên nghiệp của các đơn vị trực tiếp thực hiện công tác đấu thầu như mở các lớp đào tạo, bổ sung kiến thức cho cán bộ làm công tác đấu thầu, tin học hoá hoạt động đấu thầu như ứng dụng một số phần mềm hỗ trợ công tác đấu thầu. 2.2.2.2.4. Tăng cường công tác quy hoạch và quản lý theo quy hoạch Các dự án đầu tư xây dựng phải tuân thủ theo quy hoạch được duyệt, lấy quy hoạch và kế hoạch phát triển ngành làm trọng tâm. Kế hoạch đầu tư xây dựng không được ghi vào danh mục đầu tư đối với các dự án không có trong quy hoạch, chưa có đủ thủ tục, chưa đủ điều kiện về vốn và nguồn vốn. Đưa ra dự báo chính xác về nguồn vốn đầu tư có thể huy động được và các dự án khả thi để làm cơ sở cho công tác quy hoạch. Quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý quy hoạch, các cấp chính quyến địa phương trong việc triển khai thực hiện, quản lý quy hoạch, quản lý đầu tư xây dựng sau quy hoạch, giám sát việc thực hiện quy hoạch trên địa bàn theo phân cấp. Bổ sung lực lượng cán bộ làm công tác quản lý quy hoạch các cấp,có kế hoạch cụ thể để tổ chức đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và quản lý cho đội ngũ cán bộ này. Bố trí đủ nguồn vốn cho công tác lập, quản lý quy hoạch để đáp ứng yêu cầu , mục tiêu đề ra Phát huy mạnh hơn vai trò của các tổ chức, nhà khoa học, cộng đồng doanh nghiệp và người dân trong quá trình xây dựng quy hoạch. Đổi mới nội dung và phương pháp lập quy hoạch phát triển phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Trong xu thế khoa học kỹ thuật đang phát triển như vũ bão hiện nay thì rõ ràng việc đổi mới công tác lập quy hoạch một mặt cần tiếp cận với khoa học công nghệ mới ( đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ GIS trong quản lý quy hoạch), mặt khác vẫn đáp ứng nhu cầu biến đổi của xã hội, nhu cầu của người dân. . Đối với phương pháp lập quy hoạch, tỉnh cần phải đổi mới và cải tiến như sau: - Cần phải xem xét nhiều yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến sự phát triển - Cần có tính linh hoạt, dự trù các tình huống có thể xảy ra - Đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu và nguyện vọng của cộng đồng - Phân biệt rõ giữa mục tiêu chiến lược và các dự án trong quy hoạch chi tiết - Phân biệt rõ ràng giữa tiêu chuẩn, quy định về không gian, quy hoạch cơ sở hạ tầng và xây dựng - Cần có các biện pháp tạm thời cho các khu vực chưa được quy hoạch Tập trung hoàn thiện và điều chỉnh kịp thời những quy hoạch không còn phù hợp để thích ứng với sự phát triển của nền kinh tế. 2.2.2.2.5. Đẩy mạnh cải cách hành chính trong thực hiện các thực hiện các thủ tục đầu tư nhằm tập trung đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn. Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về cải cách hành chính trên các phương tiện thông tin đại chúng và trực tiếp thông qua sinh hoạt của các đoàn thể quần chúng, tổ nhân dân tự quản. Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo theo quy định; làm tốt công tác thi đua, khen thưởng và kỷ luật trong quá trình thực hiện công tác cải cách hành chính. Rà soát, kiện toàn bộ máy, cán bộ các ngành, các cấp, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị, tăng cường thực hiện phân cấp quản lý nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo của các ngành, các cấp trong công tác tham mưu và tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Để thực hiện mục tiêu Chương trình cải cách hành chính, đáp ứng yêu cầu cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh, trong thời gian tới, cần có các biện pháp sau đây: - Tiến hành rà soát, bổ sung, điều chỉnh, đẩy nhanh tiến độ xây dựng các quy hoạch thuộc lĩnh vực ngành phụ trách, nhất là quy hoạch xây dựng, tạo cơ sở cho việc giải quyết các thủ tục hành chính. - Tập trung chỉ đạo, phân công cán bộ có trình độ, năng lực thực hiện tốt việc kê khai, thống kê, rà soát thủ tục hành chính, mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính, các yêu cầu, điều kiện để thực hiện thủ tục hành chính trên các lĩnh vực thuộc ngành quản lý theo đúng tiến độ. - Tiếp tục rà soát, sửa đổi, bãi bỏ theo thẩm quyền hoặc đề xuất kiến nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi, bãi bỏ các quy trình, thủ tục, yêu cầu, điều kiện để giải quyết thủ tục hành chính không còn phù hợp, gây khó khăn, phiền hà cho tổ chức, công dân. - Tiến hành rà soát, chuẩn hoá các mẫu đơn, mẫu tờ khai trong hồ sơ thủ tục hành chính trên các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý theo hướng đơn giản, dễ hiểu và thuận lợi cho ngời sử dụng. - Xây dựng Quy chế phối hợp với các ngành, đơn vị thường xuyên có quan hệ phối hợp trong giải quyết các thủ tục hành chính; lựa chọn các lĩnh vực trọng điểm, liên quan nhiều đến tổ chức, doanh nghiệp và công dân để thực hiện cơ chế một cửa liên thông.      - Mở rộng các lĩnh vực công việc áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, trước mắt là ứng dụng phần mềm quản lý hồ sơ công việc vào việc theo dõi, giám sát thực hiện thủ tục hành chính. - Tiếp tục thực hiện tốt việc niêm yết công khai quy trình, thủ tục, thời gian giải quyết, phí, lệ phí thực hiện thủ tục hành chính tại Trụ sở cơ quan, đồng thời cung cấp thông tin cho Văn phòng UBND tỉnh để công khai trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh. - Tăng cường phân cấp quản lý đầu tư gắn liền với nâng cao trình độ, tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ của cán bộ công chức làm ở bộ phận “một cửa” và giải quyết thủ tục hành chính; có chế độ ưu đãi phù hợp để khuyến khích cán bộ, công chức làm việc tích cực, đồng thời phát hiện xử lý nghiêm minh những cán bộ, công chức kém năng lực, gây khó khăn, phiền hà cho tổ chức, công dân. - Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc giải quyết thủ tục hành chính, giảm tối đa thủ tục giấy tờ và thời gian đi lại của doanh nghiệp và nhà đầu tư. 2.2.2.3. Đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Nguồn nhân lực chính là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả đầu tư vì công cuộc đầu tư là do con người thực hiện. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong giai đoạn hiện nay trở thành một vấn đề cấp bách, nhất là yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Thực tế cho thấy chất lượng nguồn nhân lực ở Hải Dương còn nhiều vấn đề cần bàn, chỉ tính trong các cơ quan hành chính sự nghiệp của tỉnh hiện nay tình trạng vừa thừa vừa thiếu diễn ra thường xuyên, thiếu cán bộ, chuyên gia... Thực trạng đó đòi hỏi các cấp chính quyền tỉnh phải có chính sách ưu tiên phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh. Tiếp tục củng cố hệ thống các trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, các trường dạy nghề trên địa bàn tỉnh đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Đa dạng hoá các hình thức đào tạo như chính quy, tại chức, liên thông, chuyên tu, cử tuyển… từ dài hạn, trung hạn đến ngắn hạn để thu hút được nhiều thành phần tham gia cả ở thành thị, nông thôn, vùng sâu, vùng xa… Có chính sách thích hợp để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp với chủ trương tái cơ cấu nền kinh tế của Chính phủ. Hoàn thiện và kiện toàn mạng lưới các Trung tâm giáo dục thường xuyên. Thành lập thêm các trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp và dạy nghề. Tập trung đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, lực lượng chuyên gia kỹ thuật, các nhà sản xuất, kinh doanh giỏi, phát triển đội ngũ các nhà doanh nghiệp trẻ. Trước mắt, cần quan tâm đào tạo cán bộ kỹ thuật, khuyến nông, khuyến lâm giỏi, các nhà sản xuất giỏi. Có những chính sách đãi ngộ mang tính đột phá, tạo môi trường làm việc hấp dẫn nhằm thu hút nhân tài về công tác và phục vụ trên địa bàn tỉnh. Tiếp tục thực hiện đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp giảng dạy theo hướng tiếp cận với những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin. Tăng ường quản lý Nhà nước trong lĩnh vực đào tạo, nhất là đào tạo nghề. KẾT LUẬN Trong thời điểm hiện nay, Hải Dương đang nỗ lực vươn lên hoà chung với tiến trình phát triển kinh tế của cả nước thông qua con đường công nghiệp hoá-hiện đại hoá, xây dựng một nền kinh tế mở. Những thành tựu về đầu tư phát triển kinh tế - xã hội mà Hải Dương đạt được trong thời gian qua là một minh chứng cho những nỗ lực cố gắng của tỉnh và rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên, có thể thấy bên cạnh những mặt đạt được thì vẫn còn tồn tại nhiều yếu kém và bất cập. Trước những thách thức rất gay gắt và cạnh tranh quyết liệt, nhất là trong bối cảnh kinh tế, xã hội của tỉnh còn nhiều yếu tố lạc hậu, chậm phát triển, đòi hỏi tỉnh Hải Dương cần phải có sự nghiên cứu, xem xét một cách nghiêm túc đến cơ chế, chính sách, và việc thực hiện, triển khai các hoạt động đầu tư trên địa bàn tỉnh. Từ đó đưa ra được những quyết sách phù hợp và đúng đắn đưa hoạt động đầu tư nói riêng và hoạt động phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nói chung lên một tầm cao mới. Đó cũng chính là vấn đề mà đề tài quan tâm. TÀI LIỆU THAM KHẢO PGS.TS Nguyễn Bạch Nguyệt, TS. Từ Quang Phương (2007), Giáo trình kinh tế đầu tư, Nxb Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội UBND Tỉnh Hải Dương (1999), Địa chí Hải Dương, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội UBND Tỉnh Hải Dương, Hải Dương và cơ hội đầu tư (2007) Cục Thống kê Hải Dương, Niên giám thống kê Hải Dương các năm 2005, 2007, 2009 Sở kế hoạch và đầu tư Hải Dương (2006), Điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Hải Dương đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 Sở kế hoạch và đầu tư Hải Dương, Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội các năm 2005, 2006, 2007, 2008, 2009 Tỉnh uỷ Hải Dương (2004), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn 20 năm đổi mới về tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá của tỉnh Hải Dương Các trang web điện tử như: www.xaydung.gov.vn, www.tapchicongsan.org.vn ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc26520.doc