Đổi mới tổ chức và hoạt động của thanh tra giáo dục trên địa bàn huyện Thuận An, Tĩnh Bình Dương

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH ----------------------- VÕ ANH TUẤN ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THANH TRA GIÁO DỤC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG Chuyên ngành : QUẢN LÝ GIÁO DỤC Mã số : 60 14 05 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS. TRƯƠNG VĂN SINH Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2006 LỜI CẢM ƠN Chúng tôi xin chân thành cảm ơn: Ban Giám hiệu trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, các phòng

pdf70 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1528 | Lượt tải: 2download
Tóm tắt tài liệu Đổi mới tổ chức và hoạt động của thanh tra giáo dục trên địa bàn huyện Thuận An, Tĩnh Bình Dương, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ban chức năng và khoa Tâm lý – Giáo dục học của trường đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong suốt quá trình chúng tôi theo học Cao học Quản lý Giáo dục khóa 14. Các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ và các thầy giáo, cô giáo đã tận tình dạy dỗ, truyền đạt kiến thức cho chúng tôi. Phòng Giáo dục – Đào tạo huyện Thuận An tỉnh Bình Dương và bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ, hỗ trợ tích cực cho chúng tôi trong suốt quá trình chúng tôi học tập và thực hiện luận văn. Chúng tôi có lời cảm ơn đặc biệt đến Tiến sĩ Trương Văn Sinh đã dành nhiều tâm huyết, công sức chỉ bảo, hướng dẫn chúng tôi hoàn thành luận văn này. Tp. Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2006 Võ Anh Tuấn MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cảm ơn Mục lục Danh mục các chữ viết tắt Danh mục các bảng MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 7 1.1. Một số khái niệm có liên quan 7 1.2. Thanh tra giáo dục 14 1.3. Quan điểm của Đảng ta về thanh tra giáo dục 22 Chương 2: TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THANH TRA GIÁO DỤC THUẬN AN THỜI GIAN QUA 25 2.1. Khái quát về huyện Thuận an 25 2.1.1. Khái quát về huyện Thuận An 25 2.1.2. Khái quát về giáo dục Thuận An 27 2.2. Tổ chức và hoạt động của thanh tra giáo dục Thuận An 29 2.2.1. Tổ chức của thanh tra giáo dục Thuận An 29 2.2.2. Hoạt động của thanh tra giáo dục Thuận An thời gian qua (2000 – 2005) 32 2.3. Một số vấn đề đặt ra từ tổ chức và hoạt động của 39 thanh tra giáo dục Thuận An Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THANH TRA GIÁO DỤC THUẬN AN THỜI GIAN TỚI 42 3.1. Cơ sở đề xuất các giải pháp 42 3.1.1. Cơ sở lý luận 42 3.1.2. Cơ sở pháp lý 43 3.1.3. Cơ sở thực tiễn 43 3.2. Một số nguyên tắc và yêu cầu khi xây dựng giải pháp 43 3.2.1. Một số nguyên tắc 43 3.2.2. Một số yêu cầu 44 3.3. Một số giải pháp 45 3.3.1. Giải pháp 1: Xây dựng một quan niệm đúng đắn về hoạt 45 động thanh tra giáo dục 3.3.2. Giải pháp 2: Đổi mới tổ chức bộ phận thanh tra 47 giáo dục huyện 3.3.3. Giải pháp 3: Đổi mới hoạt động của thanh tra 54 giáo dục Thuận an 3.3.4. Giải pháp 4: Tăng cường trao đổi, học hỏi và phối hợp công tác với bộ phận thanh tra giáo dục của các đơn vị bạn 58 3.4. Kiến nghị, đề xuất 58 3.4.1. Với Bộ Giáo dục và Đào tạo 58 3.4.2. Với Sở Giáo dục và Đào tạo 59 KẾT LUẬN 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BGD & ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo CBCC Cán bộ công chức CBQL Cán bộ quản lý CHXHCNVN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa GD – ĐT Giáo dục – đào tạo GDĐH & SĐH Giáo dục đại học và sau đại học GDPT Giáo dục phổ thông PCGDTHCS Phổ cập giáo dục trung học cơ sở PCGDTHĐĐT Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi QLGD Quản lý giáo dục QLNN Quản lý Nhà nước SGD & ĐT Sở Giáo dục và Đào tạo THPT Trung học phổ thông TTCN Thanh tra chuyên ngành TTND Thanh tra nhân dân TTNN Thanh tra nhà nước TTrGD Thanh tra giáo dục XHCN Xã hội chủ nghĩa XHHGD Xã hội hóa giáo dục XMC – PCGDTH Xóa mù chữ – phổ cập giáo dục tiểu học DANH MỤC CÁC BẢNG Trang Bảng 1.1 Sự khác nhau giữa TTND, TTNN, TTCN 12 Bảng 2.1 Tổ chức đơn vị hành chính huyện Thuận An 26 Bảng 2.2 Sự phân bổ của 37 trường và TTGDTX ở Thuận An 28 Bảng 2.3 Số lượng học sinh, giáo viên, các bộ quản lý giáo dục 29 các cấp học Bảng 2.4 Cơ cấu nhân sự của ba nhiệm kỳ cộng tác viên thanh tra 30 Giáo dục từ năm học 2000 – 2006 Bảng 2.5 Đặc điểm của đội ngũ TTGD Thuận An 32 Bảng 2.6 Hoạt động thanh tra chất lượng giảng dạy của giáo viên 33 Bảng 2.7 Thống kê số lượng các cuộc thanh tra không thường xuyên 34 từ năm học 2000 – 2005 Bảng 2.8 Tỷ lệ giáo viên được thanh tra sư phạm từ năm 2000 – 2005 35 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: 1.1. Kết quả hoạt động của bất kỳ một cơ quan Nhà nước, một lĩnh vực hay một ngành, một tổ chức đoàn thể xã hội nào phụ thuộc bởi nhiều yếu tố. Một trong những yếu tố ấy là hoạt động kiểm tra, thanh tra. Hoạt động kiểm tra, thanh tra “nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân” [19, tr.8] Với tư cách là thanh tra chuyên ngành, thanh tra giáo dục (TTrGD) đã “thực hiện quyền thanh tra trong phạm vi quản lý về giáo dục nhằm đảm bảo về việc thi hành pháp luật, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa và xử lý các vi phạm, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực giáo dục” [6, tr.1] 1.2. Trong 60 năm qua (1945 – 2005), trong sự trưởng thành và phát triển của ngành giáo dục – đào tạo (GD – ĐT) Việt Nam, có sự đóng góp không nhỏ của TTrGD. Có thể khẳng định rằng, TTrGD không những đã ngăn ngừa, phát hiện và xử lý những vi phạm pháp luật mà còn phát huy những nhân tố tích cực đồng thời góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước (QLNN) và các cơ quan quản lý giáo dục (QLGD); từ đó bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong lĩnh vực giáo dục. Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp đáng kể ấy, hoạt động TTrGD cũng còn không ít những khiếm khuyết, tồn tại. Địa phương này hay địa phương khác, thời gian này hay thời gian khác, các cơ quan hay cán 2 bộ TTrGD chưa bám sát vào chức năng của mình. Không ít vụ việc sai phạm trong lĩnh vực giáo dục do quần chúng nhân dân hay do đội ngũ giáo viên phát hiện chứ không phải do TTrGD. Xử lý của TTrGD có khi còn chậm và hiệu quả chưa cao. TTrGD chưa phát huy được dân chủ hóa cơ sở trong quá trình hoạt động của mình. Cơ chế “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”chưa được thể hiện đầy đủ... Có nhiều nguyên nhân đưa đến những khiếm khuyết, tồn tại nêu trên. Một trong những nguyên nhân ấy chính là tổ chức và hoạt động của TTrGD chậm đổi mới, chưa theo kịp với những biến đổi và phát triển của GD – ĐT, nhất là giai đoạn 5 năm qua (2000 – 2005). Do đó, một trong những vấn đề cấp bách đặt ra cho TTrGD là phải nhanh chóng đổi mới tổ chức và hoạt động của mình sao cho phù hợp với tình hình mới, nhất là trong 5 năm tiếp theo (2006 – 2010), khi GD – ĐT nước ta bước vào giai đoạn hai thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục 10 năm đầu thế kỷ XXI mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra. 1.3. Những đóng góp, khiếm khuyết, tồn tại và vấn đề đặt ra cho TTrGD cả nước nêu trên đây cũng là những đóng góp, khiếm khuyết, tồn tại và vấn đề đặt ra cho TTrGD huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương. Trên tinh thần ấy, chúng tôi lựa chọn đề tài “Đổi mới tổ chức và hoạt động của thanh tra giáo dục trên địa bàn huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương” nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của TTrGD Thuận An trong thời gian tới (2006 – 2010), từ đó góp phần nâng cao chất lượng GD – ĐT của địa phương. 2. Lịch sử vấn đề: 2.1. Vai trò, chức năng, tổ chức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của TTrGD đã được đề cập trong một số văn bản của Chính phủ, của Bộ Giáo dục và Đào tạo (BGD & ĐT) (Nghị định số 101/2002/NĐ – CP ngày 10/12/2002 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của thanh tra giáo dục, Thông tư 07/2004/TT-BGD 3 & ĐT về hướng dẫn thanh tra toàn diện trường phổ thông và thanh tra hoạt động sư phạm của giáo viên phổ thông …) và một số công trình của một số tác giả (Lê Thanh – Hoàng Dân trong Quản trị và thanh tra học đường). Tuy nhiên, số tác giả và công trình trực tiếp đề cập đến việc tổ chức và hoạt động của TTrGD nói chung, của TTrGD các địa phương nói riêng thời gian qua hết sức hiếm hoi. Nếu có chăng chỉ là những đánh giá trong báo cáo tổng kết của các cơ quan GD – ĐT, của TTrGD. 2.2. TTrGD huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương rơi vào tình trạng tương tự.Tổ chức và hoạt động của TTrGD Thuận An cũng chỉ được đề cập trong các báo cáo tổng kết (hàng quý, hàng năm) của Sở Giáo dục và Đào tạo Bình Dương (SGD&ĐT), của Phòng Giáo dục Thuận An và của TTrGD Thuận An. Nói khác đi, chung hơn, hiện nay chưa có một công trình khoa học nào trực tiếp đề cập đến TTrGD Bình Dương cũng như TTrGD huyện Thuận An. Đây là một trong những khó khăn khi chúng tôi triển khai luận văn này. 3. Mục đích nghiên cứu: Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hướng đến những mục đích sau đây: Một là: Từ việc chỉ rõ những đóng góp, tồn tại, khiếm khuyết của TTrGD Thuận An trong thời gian qua và từ những yêu cầu đặt ra đối với TTrGD trong giai đoạn mới, luận văn đề xuất một số giải pháp đổi mới về tổ chức và hoạt động của TTrGD Thuận An trong giai đoạn tới, từ đó nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của TTrGD ở địa phương. Hai là: Từ đổi mới tổ chức và hoạt động của TTrGD Thuận An, luận văn mong muốn góp phần nâng cao chất lượng và phát triển GD – ĐT của địa phương. 4 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 4.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là tổ chức và hoạt động của TTrGD huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương 4.2. Phạm vi nghiên cứu Về không gian: tổ chức và hoạt động của TTrGD Thuận An, tỉnh Bình Dương Về thời gian: Luận văn khảo sát hai mặt tổ chức và hoạt động của TTrGD Thuận An trong 5 năm qua (2000 – 2005) 5. Giá trị của luận văn Luận văn này có giá trị cả về lý luận và thực tiễn. 5.1. Về mặt lý luận Luận văn góp phần xác định rõ vai trò, chức năng của TTrGD đối với việc thi hành pháp luật, phát huy những nhân tố tích cực, phòng ngừa và xử lý các vi phạm, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực giáo dục, từ đó góp phần nâng cao chất lượng và phát triển GD – ĐT 5.2. Về mặt thực tiễn Các giải pháp đưa ra sẽ trực tiếp khắc phục những hạn chế, khiếm khuyết về tổ chức và hoạt động của TTrGD ở Thuận An, theo đó nâng cao vai trò và phát huy năng lực hoạt động của bộ phận này. Đồng thời, qua đó cung cấp những bài học bổ ích cho TTrGD của các địa bàn trong quá trình triển khai hoạt động. 6. Nội dung và phương pháp nghiên cứu 6.1. Nội dung nghiên cứu Trong luận văn này, chúng tôi nghiên cứu ba nội dung, mỗi nội dung làm thành một chương. 5 - Cơ sở lý luận của đề tài: Trong nội dung này, ngoài một số khái niệm có liên quan với đề tài, luận văn đi sâu làm rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ của TTrGD đối với việc phát triển sự nghiệp GD – ĐT, và quan điểm của Đảng ta về TTrGD. Đây là cơ sở để chúng tôi xây dựng các giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của TTrGD Thuận An. - Tổ chức và hoạt động của TTrGD Thuận An thời gian qua: Ở đây, chúng tôi phân tích, đánh giá hai mặt tổ chức và hoạt động của TTrGD Thuận An, chỉ rõ cái được và cái chưa được của TTrGD ở đây về hai mặt này. Đây cũng là một cơ sở (cơ sở thực tiễn) để chúng tôi đi đến chương 3. - Từ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn, chúng tôi đề xuất một số giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của TTrGD Thuận An trong thời gian tới, nhằm góp phần nâng cao chất lượng và phát triển GD – ĐT trên địa bàn. 6.2. Phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu 6.2.1. Phương pháp luận nghiên cứu Khi triển khai đề tài, chúng tôi nghiên cứu và xem xét trong mối quan hệ biện chứng giữa: - Thanh tra Nhà nước với thanh tra giáo dục - Thanh tra giáo dục với chất lượng và phát triển GD – ĐT - Tổ chức với hoạt động của TTrGD 6.2.2. Phương pháp nghiên cứu Tùy từng chương, từng phần, chúng tôi sử dụng một hay một số phương pháp nghiên cứu sau đây: - Phương pháp thống kê - Phương pháp đối chiếu so sánh - Phương pháp miêu tả - Phương pháp phân tích, tổng hợp 6 7. Kết cấu luận văn Ngoài mở đầu, kết luận, luận văn này được tổ chức thành ba chương: Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài. 1.1. Một số khái niệm có liên quan 1.2. Thanh tra giáo dục 1.3. Quan điểm của Đảng ta về thanh tra Chương 2: Tổ chức và hoạt động của thanh tra giáo dục Thuận An thời gian qua 2.1. Khái quát về giáo dục Thuận An 2.2. Tổ chức và hoạt động của thanh tra giáo dục Thuận An. 2.3. Một số vấn đề đặt ra từ tổ chức và hoạt động của thanh tra giáo dục Thuận An. Chương 3: Một số giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của thanh tra giáo dục Thuận An thời gian tới. 3.1. Cơ sở để đề xuất các giải pháp 3.2. Một số nguyên tắc và yêu cầu khi xây dựng các giải pháp 3.3. Một số giải pháp 3.4. Một số kiến nghị. YZ 7 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN 1.1.1. Kiểm soát, kiểm tra, thanh tra Trong đời sống thường ngày và hoạt động của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức đoàn thể xã hội, các thuật ngữ kiểm tra, kiểm soát, thanh tra xuất hiện rất nhiều. Ở đây, chúng tôi đề cập đến các thuật ngữ này từ góc độ quản lý. 1.1.1.1. Kiểm soát Theo các tác giả của “Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính”, kiểm soát được hiểu là” xem xét để phát hiện, ngăn ngừa kịp thời việc làm sai trái với thỏa thuận, với quy định … Kiểm soát thường do các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền bố trí việc tiến hành ở các địa điểm dễ xảy ra vi phạm, hoặc ở một khâu trong quá trình hoạt động của các đối tượng cần kiểm soát” [26, tr. 369] Gắn với thuật ngữ kiểm soát là thuật ngữ kiểm sát. Cũng theo các tác giả của công trình vừa nêu, kiểm sát là “hoạt động của hệ thống các cơ quan viện kiểm sát là một trong bốn hệ thống các cơ quan nhà nước được xác lập trong Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN), thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân thủ theo pháp luật, thực hiện quyền công tố theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.” [26, tr. 367 – 368] 1.1.1.2. Kiểm tra Khái niệm kiểm tra được các nhà quản lý và giáo dục học hiểu có phần khác nhau. Theo V.G.Afanaxep quan niệm: “Kiểm tra, đó là lao động để quan sát và kiểm nghiệm sự phù hợp của quá trình hoạt động của khách thể với các quyết định quản lý đã lựa chọn – các đạo luật, các kế hoạch, các định mức, các tiêu chuẩn, các quy tắc, các mệnh lệnh,v.v…; xác định kết quả tác động của chủ thể 8 tới khách thể, xác định những sai lệch so với yêu cầu của quyết định quản lý, so với các nguyên tắc tổ chức và điều hòa đã áp dụng. Khi phát hiện những sai lệch và nguyên nhân gây ra sai lệch, các nhân viên kiểm tra sẽ quyết định các biện pháp điều chỉnh đối với tổ chức của khách thể quản lý, xác định các phương pháp tác động đến khách thể nhằm khắc phục những sai lệch, loại trừ những trở ngại trên con đường hoạt động tối ưu của hệ thống.” [29, tr. 173] Gần gũi với quan niệm của V.G.Afanaxep là quan niệm của L.P.Rachenco: “Kiểm tra, kiểm soát là tìm kiếm, phát hiện và lượng định những sai sót cùng những quy luật các sai sót hiện hữu đang nẩy sinh hoặc có thể nẩy sinh trong các hoạt động và kết quả hoạt động của con người trong các hệ thống làm việc của con người.” [16] Các nhà hành chính học, quản lý nhà nước nhìn nhận kiểm tra ở góc độ chức năng của hoạt động này. Họ quan niệm: “Kiểm tra là một chức năng quản lý có liên quan mật thiết với các chức năng kế hoạch hóa; nó cho phép các nhà quản lý biết được các mục tiêu của tổ chức có đạt được hay không hoặc đạt đuợc như thế nào, cũng như những nguyên nhân tạo nên tình hình đó, tạo ra sự linh hoạt trong hoạt động vận hành của một hệ thống. Tiến trình kiểm tra là đo lường và chấn chỉnh việc thực hiện nhằm đảm bảo các mục tiêu và các kế hoạch hướng vào các mục tiêu này đã và đang được hoàn thành; gồm có các bước: xây dựng các tiêu chuẩn kiểm tra, đo lường việc thực hiện và so sánh với tiêu chuẩn, điều chỉnh sai lệch” [26, tr.372] Cũng theo các nhà hành chính học, công tác kiểm tra là một hệ thống phản hồi bao gồm nhiều loại hình: - Kiểm tra lường trước (được tiến hành trước khi hoạt động được diễn ra để tiên liệu các vấn đề có thể phát sinh và tìm cách ngăn ngừa trước) - Kiểm tra đồng thời (được tiến hành trong khi hoạt động đang diễn ra) 9 - Kiểm tra phản hồi (được thực hiện sau khi hoạt động đã diễn ra) Công tác kiểm tra thường diễn ra ở năm lĩnh vực trọng tâm: kiểm tra nhân sự, kiểm tra tài chính, kiểm tra tác nghiệp, kiểm tra thông tin và kiểm tra thành tích toàn bộ tổ chức. Theo chúng tôi, cả hai quan niệm trên đều đúng, tuy nhiên chưa thật đầy đủ, cần phải kết hợp cả hai quan niệm với nhau, có nghĩa là: nói đến kiểm tra là nói đến: - Chức năng của một loại hoạt động cho phép các nhà quản lý nhận biết được các mục tiêu của tổ chức có đạt đuợc hay không hoặc đạt được như thế nào và nguyên nhân tạo nên tình hình ấy. - Thao tác của một loại hoạt động nhằm phát hiện những sai sót và nguyên nhân đưa đến sai sót, để từ đó nhà quản lý có thể đưa ra những xử lý thích hợp. 1.1.1.3. Thanh tra Thanh tra là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý Nhà nước, là phương thức bảo đảm pháp chế tăng cường kỷ luật trong quản lý Nhà nước, thực hiện quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa. [23, tr. 3] “Thanh tra là một loại hoạt động nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.” [19, tr 8] 1.1.2. Thanh tra Nhà nước, Thanh tra nhân dân và Thanh tra chuyên ngành. 1.1.2.1. Thanh tra nhân dân (TTND) 10 Thanh tra nhân dân là hình thức giám sát của nhân dân thông qua Ban TTND đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở của cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm ở xã, phường, thị trấn, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước. Thanh tra nhân dân là việc thực hiện quyền giám sát của nhân dân một cách có tổ chức thông qua Ban TTND. Ban TTND được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật. Những hình thức tổ chức có tính chất tự phát tự xưng là”thanh tra nhân dân”thì không được phép hoạt động. Ban TTND giám sát các công việc: - Thực hiện chính sách pháp luật. - Giải quyết khiếu nại, tố cáo. - Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Chính nội dung giám sát trên của Ban TTND đã góp phần hoàn thiện nguyên tắc tập trung dân chủ, thể hiện nguyên tắc hiến định là các cơ quan nhà nước và cán bộ công chức (CBCC) nhà nước chịu sự giám sát của nhân dân. Như trên đã đề cập, đối tượng giám sát của TTND là cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm. Do đó, TTND không giám sát tất cả các cá nhân ở địa phương, cơ quan, hoặc tổ chức mà chỉ giám sát cá nhân có trách nhiệm. Đây là những người có quyền hạn quản lý điều hành hay nói khác đi đó là những người đứng đầu chính quyền hay cơ quan, đơn vị đó. 1.1.2.2. Thanh tra Nhà nước (TTNN) Thanh tra nhà nước là việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật Thanh tra và các quy định khác của pháp luật. 11 Thanh tra là một khâu không thể thiếu trong công tác lãnh đạo, đường lối, chủ trương của Đảng được Nhà nước cụ thể hóa bằng các chủ trương, chính sách và bằng việc chấp hành các chủ trương, chính sách đã đề ra. Thanh tra là một công cụ có hiệu lực của Nhà nước chuyên chính vô sản, đồng thời là một hình thức tổ chức của quần chúng để thực hiện quyền làm chủ tập thể của mình trong việc kiểm tra giám sát hoạt động của cơ quan thanh tra. Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành. - Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước theo cấp hành chính đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp. - Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật, những quy định về chuyên môn, kỹ thuật, quy tắc quản lý của ngành, lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý. 1.2.1.3. Thanh tra chuyên ngành (TTCN) Thanh tra ngành là một loại thanh tra nhà nước có chức năng thực hiện nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra trong phạm vi QLNN theo ngành chuyên môn. Thanh tra ngành được tổ chức căn cứ theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan có thẩm quyền quản lý chuyên ngành và theo quy định của pháp luật về lĩnh vực ấy. Ngoài chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định chung của pháp luật về thanh tra, thanh tra chuyên ngành còn có những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn riêng biệt theo ngành, lĩnh vực quản lý mà pháp luật quy định. Ví dụ thanh tra chuyên ngành có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. 12 Bảng số 1.1: Sự khác nhau giữa TTND, TTNN và TTCN như sau. Tiêu chí Thanh tra nhân dân Thanh tra nhà nước Thanh tra chuyên ngành Chủ thể hoạt động Ban thanh tra nhân dân (thuộc các đơn vị, cơ quan) Cơ quan nhà nước (trực thuộc UBND các cấp) Cơ quan nhà nước (trực thuộc ngành) Nguồn gốc hình thành và thời gian hoạt động - Do dân bầu - Hoạt động theo nhiệm kỳ - Thành lập theo quyết định của cơ quan thẩm quyền chung - Hoạt động liên tục theo chức năng - Thành lập theo quyết định của cơ quan thẩm quyền riêng - Hoạt động liên tục theo chức năng Đặc điểm thành viên thanh tra - Là người của nhiều tổ chức, đơn vị trong cơ quan - Không có lương - Là người được bổ nhiệm, phân công và hoạt động theo chức năng - Ăn lương từ ngân sách nhà nước - Là người được bổ nhiệm, phân công và hoạt động theo chức năng của ngành - Ăn lương từ ngân sách nhà nước (qua ngành) Phương thức hoạt động Theo vụ việc Hoạt động thường xuyên Hoạt động thường xuyên Nội dung hoạt động Bó hẹp trong một cơ quan, đơn vị Rất rộng về không gian, lĩnh vực Chỉ của một ngành trên một địa bàn quản lý 1.1.3. Tổ chức và hoạt động 1.1.3.1. Tổ chức Theo các tác giả của “Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính” thì tổ chức là” một hệ thống gồm nhiều phân hệ có những mối quan hệ hữu cơ hợp lý, rõ ràng, hợp tác và phối hợp chặt chẽ, tác động lẫn nhau trong một tổng thể, phát sinh một lực tổng hợp tác động cùng chiều lên một đối tượng nhằm đạt những mục tiêu đã định”. [26, tr.721, 722] Tổ chức được xem như là một chức năng quản lý. Quản lý thể hiện ở việc thực hiện các chức năng nhất định, chủ yếu là kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra. Chức năng tổ chức gắn bó chặt chẽ với chức năng kế hoạch hóa. Kế 13 hoạch hóa xác định cần làm gì, tổ chức tạo điều kiện để thực hiện kế hoạch. Nghĩa là có thể xem tổ chức là phương tiện hay yếu tố cho các tài nguyên nhân lực hay vật lực gắn liền với nhau để tạo ra một hệ thống thống nhất, ấn định những hoạt động cần thiết nhằm đạt mục tiêu đã định như chỉ huy, phối hợp, kiểm tra. Trong công tác TTrGD thì vấn đề tổ chức thực hiện nhiệm vụ là một vấn đề hết sưc cần thiết để thực hiện được các mục tiêu đề ra trong bản kế hoạch, thông qua đó giúp cho việc ngăn ngừa những vi phạm... 1.1.3.2. Hoạt động Hoạt động là một thuật ngữ tương đối phức tạp. Xét về mặt triết học, hoạt động được coi là phương thức tồn tại của con người. Hoạt động bao gồm cả hành động về chân tay lẫn hành động về trí tuệ, bao gồm các hành vi, tâm lý, ý thức thống nhất với nhau. Hoạt động là quá trình con người tác động vào cái gì đó để tạo ra những sản phẩm sự vật nhất định thỏa mãn các nhu cầu của con người. Đối tượng của hoạt động có thể là những vật thể, những hình ảnh, tư tưởng, những khái niệm, những tri thức khoa học hoặc các mối quan hệ xã hội. Chính vì thế mà các nhà hành chính học đã đưa ra nhiều dạng hoạt động khác nhau như hoạt động chấp hành, hoạt động điều hành, hoạt động kinh doanh kiềm chế, hoạt động ngoại giao, hoạt động sinh lời, hoạt động thương mại, ….Tuy nhiên, trong luận văn này chỉ đề cập đến hoạt động thanh tra giáo dục. Đây là một hoạt động mang tính chất chung của dạng hoạt động theo nghĩa triết học, đồng thời cũng theo góc độ tâm lý học và theo nghĩa hành chính học. Vì hoạt động thanh tra giáo dục là một quá trình giao tiếp giữa con người với con người trên lĩnh vực giáo dục trong đó một bên là người hay bộ phận thanh tra làm thành chủ thể của hoạt động và một bên là người hay bộ phận chịu thanh tra làm thành đối tượng của hoạt động thanh tra. Điều này đòi hỏi người làm công tác 14 TTrGD phải am tường không chỉ về mặt tâm lý đối với đối tượng mà mình giao tiếp, gặp gỡ, mà còn phải nắm vững các nguyên tắc về hoạt động của ngành mà mình quản lý. 1.2. THANH TRA GIÁO DỤC: KHÁI NIỆM, VAI TRÒ, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ 1.2.1. Khái niệm “Thanh tra giáo dục” “Thanh tra giáo dục là thanh tra chuyên ngành về giáo dục. TTrGD thực hiện quyền thanh tra trong phạm vi QLNN về giáo dục, nhằm đảm bảo việc thi hành pháp luật, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa và xử lý vi phạm, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực giáo dục.” [10, tr.1] Đối tượng của TTrGD được quy định: - Các cơ sở giáo dục của cơ quan nhà nước, của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, của lực lượng vũ trang nhân dân, của tổ chức kinh tế và của cá nhân. - Các cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài, cơ sở hợp tác với tổ chức, cá nhân nước ngoài về giáo dục hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam. - Tổ chức, cá nhân hoạt động đưa người đi đào tạo ở nước ngoài theo chương trình giáo dục phổ thông, giáo dục đại học và sau đại học, giáo dục nghề nghiệp cho công dân Việt Nam. - Tổ chức, cá nhân hoạt động giảng dạy, giáo dục theo chương trình giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông (GDPT), giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và sau đại học (GDĐH & SĐH) thực hiện ngoài các cơ sở giáo dục. Nguyên tắc của hoạt động TTrGD: Hoạt động của TTrGD chỉ tuân thủ theo pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật, nhằm bảo đảm việc thi hành 15 pháp luật và hiệu lực của công tác QLGD. Không một tổ chức, cá nhân nào được can thiệp trái pháp luật vào hoạt dộng TTrGD. 1.2.2. Vai trò của thanh tra giáo dục 1.2.2.1. Thanh tra giáo dục là công cụ hữu hiệu để quản lý giáo dục Với mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân, phục vụ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH), Đảng và Nhà nước ta đang nỗ lực hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường kỷ luật chấp hành pháp luật với nguyên tắc hiến định “Quản lý xã hội theo pháp luật”. Cùng với các cơ quan bảo vệ pháp luật, thanh tra giáo dục có vai trò, vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước, đó là công cụ hữu hiệu để QLGD, góp phần to lớn trong đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm pháp luật trong lĩnh vực giáo dục. Từ đó góp phần thiết thực phát triển sự nghiệp giáo dục. Bác Hồ đã nói: “Thanh tra là tai mắt của cấp trên, là người bạn của cấp dưới” và “cán bộ thanh tra là tai mắt của Đảng và Chính phủ, tai mắt có sáng suốt thì người mới sáng suốt”. Như thế, công tác TTrGD nhằm góp phần tích cực trong việc tăng cường pháp chế XHCN nói chung và góp phần tăng cường pháp chế XHCN trong lĩnh vực GD – ĐT. Thanh tra giáo dục thực chất là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về giáo dục. Khi các đối tượng được thanh tra nhận thức được một cách đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình trong việc thực hiện các đường lối, chủ trương, chính sách giáo dục của Đảng và Nhà nước, hình thành ý thức tuân thủ pháp luật để “Sống và làm việc theo pháp luật”, nâng cao hiệu lực QLNN của các cơ quan có thẩm quyền, giúp các cơ quan QLNN, cơ quan TTrGD nâng cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm của mình thì hoạt động quản lý GD – ĐT mới chặt chẽ, theo đó GD – ĐT có điều kiện phát triển. 16 Thanh tra giáo dục góp phần nâng cao năng lực quản lý cho người đứng đầu các cơ sở giáo dục; có tác dụng đào tạo, tự đào tạo, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng cán bộ quản lý (CBQL); phát huy những ưu điểm, khắc phục những khuyết điểm, sai lầm trong công tác quản lý. Công tác TTrGD sẽ giúp cho công tác quản lý nhân sự, quản lý chuyên môn đạt hiệu quả cao hơn, việc khen thưởng, đề bạt những cán bộ có phẩm chất, năng lực đồng thời xử lý, điều chỉnh, thay thế, kỷ luật những cán bộ vi phạm những nguyên tắc quản lý, làm lành mạnh các tổ chức giáo dục, nâng cao chất lượng GD – ĐT. 1.2.2.2. Thanh tra giáo dục là công cụ để người dân thực hiện quyền làm chủ. Trong công cuộc CNH, HĐH đất nước,vai trò và vị trí của giáo dục hết sức to lớn, là nhân tố có tính quyết định để phát triển bền vững. Để cho giáo dục đảm nhiệm được sứ mệnh to lớn của mình thì công tác TTrGD ngày càng có ý nghĩa quan trọng hơn bao giờ hết. Chính hoạt động thanh tra, kiểm tra là một động lực cho sự phát triển của ngành giáo dục, là công cụ để người dân thực hiện quyền làm chủ của mình, là cơ sở để đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục (XHHGD) nhằm thu hút các nguồn lực từ các cá nhân, tổ chức cùng tham gia phát triển giáo dục để thực hiện công bằng trong giáo dục, đồng thời đảm bảo cho người dân tham gia vào hoạt động quản lý GD – ĐT. Những thành tựu đã đạt được trong thời gian qua của giáo dục như hoàn thành công tác xóa mù chữ – phổ cập giáo dục tiểu học (XMC – PCGDTH), phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi (PCGDTHĐĐT), tiếp tục đẩy nhanh tiến độ phổ cập giáo dục trung học cơ sở (PCGDTHCS) và trung học phổ thông (THPT), thành tựu của công tác XHHGD đã thể hiện sinh động, cụ thể nhu cầu nâng cao tri thức, văn hóa của nhân dân ta, đồng thời cho thấy ý thức trách nhiệm và quyền làm chủ của người dân đối với việc phát triển giáo dục. Chính TTrGD đã 17 góp phần tích cực phát huy vai trò, trách nhiệm của người dân đối với quá trình phát triển giáo dục. 1.2.3. ._.Chức năng của thanh tra giáo dục Thanh tra giáo dục có ba chức năng cơ bản đó là chức năng thông tin, chức năng đánh giá và chức năng điều chỉnh. 1.2.3.1. Chức năng thông tin nhằm truyền đạt các chuẩn mực, phổ biến các sáng kiến, kinh nghiệm của chủ thể quản lý, của đoàn thanh tra kiểm tra cho đối tượng quản lý, đối tượng thanh tra. Có hai loại thông tin là: Thông tin xuôi có ý nghĩa hướng dẫn hoạt động cho đối tượng quản lý nên cần truyền đạt trước khi thanh tra và Thông tin phản hồi là những tin tức phản hồi về thực trạng của đối tượng quản lý, môi trường hoạt động của cơ quan quản lý. Đây là chức năng quan trọng nhất của thanh tra, kiểm tra. Chức năng này đòi hỏi thông tin phải chính xác, kịp thời. Chức năng này được thực hiện qua lao động và trách nhiệm của lực lượng thanh tra đối với đối tượng thanh tra. Tính hiệu quả của thông tin thanh tra được thể hiện qua tính khoa học, chính xác, hợp thời, hợp lý, toàn diện và phù hợp về chủng loại thông tin theo yêu cầu của công tác quản lý, phục vụ đắc lực cho công tác quản lý. Để đảm bảo cho hiệu quả trên, các thông tin phải mang tính nhất quán, không làm cho cấp dưới lúng úng, bộ máy thông tin phải thống nhất, phải thuận lợi cho việc sử dụng vào mục đích quản lý, đúng yêu cầu vào thời điểm nhận thông tin. 1.2.3.2. Chức năng đánh giá là một hoạt động nhằm nhận định, xác nhận giá trị thực trạng về mức độ hoàn thành hhiệm vụ, chất lượng, hiệu quả công việc, trình độ phát triển, những kinh nghiệm được đúc kết ở thời điểm đang xem xét so với mục tiêu hay những chuẩn mực đã được xác lập. Đánh giá được tiến hành trên các bình diện như: thực hiện đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước; trình độ nhân sự tương ứng với chức danh; việc thực hiện chương trình, kế 18 hoạch nhà nước. Đánh giá nhằm đưa đến hành vi cần điều chỉnh của cơ quan quản lý cho nên chuẩn được đưa ra vừa phản ánh những đòi hỏi đối với đối tượng vừa cung cấp phương tiện, thước đo cho cơ quan quản lý thực hiện chức năng điều chỉnh 1.2.3.3. Chức năng điều chỉnh để bảo đảm thực hiện công việc có mục đích, có ý nghĩa quyết định đối với công tác thanh tra, kiểm tra. Hoạt động thanh tra, kiểm tra nhất thiết phái đi đến hành vi điều chỉnh thì thanh tra mới có ý nghĩa, có giá trị. Kết quả và hiệu quả điều chỉnh chính là kết quả và hiệu quả, là mục tiêu của thanh tra, kiểm tra. Điều chỉnh đảm bảo nhằm làm cho hệ thống hoạt động của các cơ quan bình thường, đảm bảo thực hiện mục tiêu đã định. Đây là hình thức điều chỉnh độ lệch trong quá trình thực hiện kế hoạch, thủ tục, mục tiêu. Điều chỉnh phát triển nhằm cải tiến quá trình chuyên môn, quá trình quản lý hoặc đưa vào những nhân tố mới nhằm tạo những bước nhảy vọt về phạm vi, quy mô chất lượng. Điều chỉnh giáo dục nhằm tạo tiền đề cho sự chuyển từ thanh tra, kiểm tra bên ngoài vào tự kiểm tra nội bộ, thường xuyên của từng đơn vị, của mỗi thành viên. Ngược lại, sự tự kiểm tra sẽ làm cho công tác thanh tra tăng cao hiệu quả. 1.2.4. Quyền hạn và nhiệm vụ của TTrGD 1.2.4.1. Nhiệm vụ của TTrGD Hoạt động thanh tra, kiểm tra GD – ĐT giữ vai trò quan trọng trong việc kịp thời xử lý các vi phạm, giúp các cơ quan, tổ chức và cá nhân có hoạt động trong hoặc liên quan đến lĩnh vực GD – ĐT ý thức hơn về trách nhiệm và nhiệm vụ của mình.Trong quá trình thực thi hoạt động này, đoàn thanh tra và thanh tra viên có ý nghĩa quyết định đến chất lượng của hoạt động thanh tra, kiểm tra. 19 Tại khoản 2 Điều 111 Luật Giáo dục năm 2005 nhiệm vụ của thanh tra chuyên ngành về giáo dục được quy định cụ thể như sau: [17, tr.68] - Thanh tra việc thực hiện chính sách và pháp luật về giáo dục; - Thanh tra việc thực hiện mục tiêu, kế hoạch, chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục; quy chế chuyên môn, quy chế thi cử, cấp văn bằng, chứng chỉ; việc thực hiện các quy định về điều kiện cần thiết bảo đảm chất lượng giáo dục ở cơ sở giáo dục; - Thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực giáo dục theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo; - Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; - Thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục theo quy định của pháp luật về chống tham nhũng; - Kiến nghị các biện pháp bảo đảm thi hành pháp luật về giáo dục; đề nghị sửa đổi, bổ sung các chính sách và quy định của Nhà nước về giáo dục; - Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật. Trong hoạt động, các tổ chức TTrGD và các thành viên phải tuân thủ theo pháp luật, các quy định của Nhà nước, của BGD & ĐT, bảo đảm tính khoa học, khách quan, công minh, dân chủ. 1.2.4.2.Quyền hạn và trách nhiệm của TTrGD Mỗi cấp TTNN nói chung, TTrGD nói riêng có quyền hạn khác nhau. Thanh tra giáo dục có quyền kiểm tra toàn diện quá trình dạy học, nội dung, chương trình, phương pháp, các điều kiện đảm bảo cho giáo dục, có quyền đình chỉ các việc làm xét thấy gây tác hại đến lợi ích nhà nước, lợi ích của công dân; cảnh cáo, tạm đình chỉ các nhân viên nhà nước cố ý cản trở việc thanh tra; kết luận, kiến nghị hay quyết định xử lý theo quy định của pháp luật; chuyển hồ sơ 20 vi phạm pháp luật sang cơ quan điều tra hình sự có thẩm quyền giải quyết, nếu xét thấy có dấu hiệu cấu thành tội phạm. Điều 112 Luật Giáo dục năm 2005 đã ghi: “Khi tiến hành thanh tra, trong phạm vi thẩm quyền quản lý của Thủ trưởng cơ quan quản lý giáo dục cùng cấp, thanh tra giáo dục có quyền quyết định tạm đình chỉ hoạt động trái pháp luật trong lĩnh vực giáo dục, thông báo cho cơ quan có thẩm quyền để xử lý và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình.”[17. tr.68] Gần đây, Nghị định số 101/2002/NĐ – CP ngày 10/12/2003 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của TTrGD đã đưa thêm hai nội dung về quyền hạn và nhiệm vụ của TTrGD Một là: Thanh tra đối với các hoạt động GD – ĐT của các cơ sở ngòai ngành giáo dục Không phải bất kỳ một tổ chức, cá nhân nào cũng được phép giảng dạy, đào tạo. Để có đựơc chức năng này, tổ chức, cá nhân phải đáp ứng được những điều kiện về chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, cơ sở vật chất kỹ thuật đầy đủ để phục vụ cho điều kiện học tập và được cơ quan có thẩm quyền thẩm định và phê duyệt, cấp giấy phép hoạt động. Ngoài nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hiện thanh tra, kiểm tra các cơ sở GD – ĐT, các cơ quan có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra giáo dục khi tiến hành thanh tra còn thêm quyền hạn và nhiệm vụ như sau: - Thanh tra, kiểm tra tính hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoạt động giảng dạy giáo dục thực hiện ngòai cơ sở giáo dục; - Thanh tra, kiểm tra việc thu phí, môi trường học tập mà các học viên theo học; - Giám sát việc giảng dạy của các giảng viên, tránh tình trạng giảng viên vì lợi nhuận tại các lớp học này mà làm ảnh hưởng đến hoạt động giảng dạy chính tại cơ sở GD – ĐT. 21 Với những hoạt động thanh tra, kiểm tra như trên sẽ giúp cho các cơ quan chủ quản thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, đồng thời cũng giúp cho hoạt động giảng dạy ngoài cơ sở giáo dục phát huy được những mặt tích cực của nó. Hai là: Thanh tra đối với các tổ chức, cá nhân đưa công dân Việt Nam đi đào tạo ở nước ngòai. Nghị định 101/2002 /NĐ – CP ngày 10/12/2003 của Chính phủ đã quy định các tổ chức, cá nhân hoạt động đưa người Việt Nam đi đào tạo ở nước ngoài là đối tượng của TTrGD. Đây không chỉ là hình thức GD – ĐT trực tiếp mà là hình thức liên quan đến hoạt động GD – ĐT, cơ quan có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra GD – ĐT về đưa người Việt Nam đi đào tạo nước ngòai có những quyền hạn và nhiệm vụ: kiểm tra giấy phép hoạt động của tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực đưa người đi đào tạo nước ngoài có đủ điều kiện theo luật pháp quy định hay không; kiểm tra hoạt động thực tế của tổ chức, cá nhân trong việc đưa người đi đào tạo nước ngoài; kiểm tra việc thu phí của tổ chức, cá nhân, tránh tình trạng thu phí bừa bãi. 1.2.5. Phương thức hoạt động của TTrGD Hoạt động thanh tra giáo dục được thực hiện theo quy định của Luật Thanh tra. Hoạt động thanh tra giáo dục ở cấp huyện do Trưởng phòng giáo dục và đào tạo trực tiếp phụ trách, theo sự chỉ đạo nghiệp vụ của thanh tra sở giáo dục và đào tạo Thanh tra là phương thức đảm bảo trật tự, kỷ cương trong quản lý, góp phần tăng cường pháp chế XHCN. Với chức năng giám sát hoạt động của các đối tượng bị quản lý bao gồm giám sát việc chấp hành chính sách pháp luật, chức trách, nhiệm vụ của cơ quan hành chính nhà nước và công chức, viên chức nhà nước, việc chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước, thanh tra cần kịp thời 22 phát hiện những sai phạm và có biện pháp xử lý, thanh tra góp phần đảm bảo trật tự kỷ cương trong quản lý, làm trong sạch bộ máy nhà nước. Hoạt động thanh tra góp phần đảm bảo quyền dân chủ của nhân dân. Quyền lực nhà nước ở nước ta thuộc về nhân dân, nhân dân là cội nguồn của quyền lực nhà nước. Nhà nước phải có nghĩa vụ chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, tạo mọi điều kiện cho nhân dân thực hiện quyền làm chủ thực sự của mình, tham gia quản lý nhà nước và quản lý xã hội. Thanh tra giáo dục chính là việc thực hiện công tác kiểm tra việc tuân thủ pháp luật của các cơ sở giáo dục từ trung ương đến cơ sở, nhằm phát huy những thành tựu đã đạt được, kịp thời phát hiện và chấn chỉnh những sai sót trong quá trình hoạt động trên lĩnh vực giáo dục và có biện pháp xử lý phù hợp đối với những vi phạm pháp luật của các cơ sở giáo dục. 1.3. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA VỀ THANH TRA GIÁO DỤC 1.3.1. Quan điểm của Đảng ta về thanh tra nói chung Xuất phát từ quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn coi trọng công tác thanh tra, kiểm tra, coi thanh tra và kiểm tra là một công cụ hữu hiệu để quản lý xã hội. Quan điểm của Đảng ta về thanh tra có thể tựu trung thành một số điểm cơ bản sau đây: Một là: Công tác thanh tra, kiểm tra là một bộ phận hữu cơ, không thể thiếu trong toàn bộ hoạt động của Đảng và Nhà nước. Các cơ quan thanh tra, nhân viên thanh tra và hoạt động thanh tra vừa là công cụ, vừa là phương tiện để Đảng và Nhà nước quản lý xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Thanh tra là tai mắt của cấp trên, là người bạn của cấp dưới”. Do đó, cơ quan thanh tra, nhân viên thanh tra có mạnh, có sáng suốt thì Đảng và Nhà nước mới vững mạnh.Công tác thanh tra là cơ sở, là điều kiện đảm 23 bảo cho các cơ quan Nhà nước hoạt động theo đúng pháp luật và pháp chế XHCN. Hai là: Phải tăng cường, đổi mới tổ chức và hoạt động thanh tra sao cho phù hợp với chức năng QLNN trong điều kiện mới, phát triển mạnh tổ chức thanh tra việc thực hiện thể chế về từng lĩnh vực trong toàn xã hội như tài chính, lao động, giáo dục, y tế, xây dựng, công vụ … (Nghị quyết 3 của BCH.TW khóa VIII) Ba là: Thanh tra, kiểm tra là sự nghiệp của toàn Đảng, Nhà nước và toàn dân. Chỉ thị số 38/CT – TW ngày 20/02 /1984 của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã chỉ rõ”Tổ chức thanh tra phải là công cụ có hiệu lực của nhà nước chuyên chính vô sản, đồng thời là một tổ chức của quần chúng để thực hiện quyền làm chủ tập thể của mình trong việc kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước. Theo tinh thần ấy, tổ chức và hoạt động thanh tra phải thể hiện tính chất nhà nước và tính chất nhân dân”Theo đó, thanh tra, kiểm tra đảm bảo cho nhân dân tham gia vào quản lý nhà nước và quản lý xã hội. 1.3.2. Quan điểm của Đảng ta về TTrGD Ngoài hai quan điểm của Đảng đã nêu trên, đối với TTrGD, quan điểm của Đảng ta là: phải đổi mới mạnh mẽ tổ chức và hoạt động của TTrGD. Việc đổi mới TTrGD phải gắn với công cuộc đổi mới sự nghiệp giáo dục, phải hướng vào góp phần giải quyết những vấn đề bức xúc đặt ra từ nền giáo dục nước ta hiện nay như nâng cao chất lượng giáo dục, đổi mới nội dung, chương trình giáo dục, đổi mới và hoàn thiện mạng lưới đại học, thực hiện XHHGD, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục … Trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2001–2010 của Đảng ta khẳng định: phát triển giáo dục và đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực là một nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ CNH, HĐH. “Tăng 24 cường quản lý Nhà nước, đặc biệt là hệ thống thanh tra giáo dục, thiết lập kỷ cương, đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực. tăng cường quản lý, giúp đỡ người đi học tập, nghiên cứu ở nước ngoài”. [12, tr 205] Như thế, Đảng ta đã xác định rõ hơn vị trí và vai trò của TTrGD đối với việc phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo. Để đảm nhiệm được vai trò và vị trí của mình, TTrGD (từ Trung ương đến địa phương) cần phải tăng cường hơn nữa những biện pháp kiểm soát các những hoạt động của các cơ sở giáo dục từ mầm non, phổ thông, ĐH & SĐH,... kịp thời chấn chỉnh và uốn nắn những sai sót, tồn tại của các cơ sở giáo dục công lập, ngoài công lập …nhằm giúp cho các cơ sở thực hiện đúng các quy định của Nhà nước, ngành giáo dục, đồng thời phải nhanh chóng đổi mới tổ chức và hoạt động của TTrGD. YZ 25 CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THANH TRA GIÁO DỤC THUẬN AN THỜI GIAN QUA 2.1. KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN THUẬN AN 2.1.1. Khái quát về huyện Thuận An 2.1.1.1. Vị trí địa lý Huyện Thuận An nằm về phía Nam khu trung tâm của địa bàn đô thị hóa - một trung tâm kinh tế động lực quan trọng của tỉnh Bình Dương. Thuận An tiếp giáp với nhiều huyện, thị xã trong tỉnh Bình Dương và các tỉnh thành lân cận: - Phía Bắc giáp thị xã Thủ Dầu Một, huyện Tân Uyên tỉnh Bình Dương - Phía Nam giáp quận Thủ Đức của thành phố Hồ Chí Minh. - Phía Đông giáp huyện Dĩ An của tỉnh Bình Dương - Phía Tây giáp sông Sài Gòn, đối diện bên kia sông Sài Gòn là quận 12 và huyện Hóc Môn thuộc thành phố Hồ Chí Minh Thuận An là huyện có diện tích không lớn trong tỉnh Bình Dương, với tổng diện tích tự nhiên là 82,46 km2, chiếm 3,14% tổng diện tích đất đai của toàn tỉnh. Thuận An nằm trên trục lộ giao thông Quốc lộ 13 nối liền thành phố Hồ Chí Minh với tỉnh Bình Dương, Bình Phước, cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh 25 km, cách thị xã Thủ Dầu Một - trung tâm của tỉnh Bình Dương là 12 km. Thuận An nằm trong tam giác của vùng kinh tế trọng điểm Đông Nam Bộ là thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Biên Hoà thuộc tỉnh Đồng Nai,thành phố Vũng Tàu thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. 2.1.1.2. Tổ chức đơn vị hành chính 26 Thuận An có 8 xã và 2 thị trấn. Diện tích đất đai, dân số và mật độ dân số ở các xã, thị trấn không đều nhau. Bảng 2.1: Tổ chức đơn vị hành chính huyện Thuận An “Nguồn: Phòng thống kê huyện Thuận An, 2005” Đơn vị Diện tích(km2) Dân số (người) Mật độ (người /km2) Thị trấn Lái Thiêu Thị trấn An Thạnh Xã An Phú Xã An Sơn Xã Bình Chuẩn Xã Bình Hòa Xã Bình Nhâm Xã Hưng Định Xã Thuận Giao Xã Vĩnh Phú 7,04 7,49 10,89 5,77 11,16 14,43 5,41 2,86 11,57 5,84 30.466 18.685 5.308 6.216 11.185 11.035 9.326 6.005 7.580 8.509 4.327 2.494 487 1.077 1.002 764 1.723 2.099 655 1.457 2.1.1.3. Đặc điểm kinh tế – xã hội a) Đặc điểm xã hội Thuận An là một trong những huyện, thị có dân số đông, mật độ dân số cao so với một số huyện, thị xã khác của Bình Dương Do quá trình đô thị hóa nhanh và việc phát triển các khu công nghiệp, các công ty, xí nghiệp,... lực lượng lao động từ nhiều tỉnh, thành phố cả nước đổ về khá đông, làm cho dân số tăng lên đáng kể. Hiện nay, chưa có số liệu cụ thể, hàng năm lực lượng lao động từ các tỉnh, thành dổ dồn về Thuận An là bao nhiêu. Tuy nhiên, có tới 70–80% lực lượng lao động ở các công ty, xí nghiệp, các khu công nghiệp là người của tỉnh bạn. b) Đặc điểm kinh tế 27 Huyện Thuận An tuy có diện tích không lớn so vớ các huyện, thị trong toàn tỉnh nhưng có một tiềm lực kinh tế lớn vào loại nhất nhì của tỉnh Bình Dương do nằm trong vùng tam giác trọng điểm kinh tế vùng Đông Nam Bộ. Thuận An là huyện có tiềm lực về kinh tế công nghiệp, tổng giá trị công nghiệp của Thuận An luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất, khoảng 40% tổng giá trị sản phẩm công nghiệp toàn tỉnh. Tiềm lực kinh tế to lớn và sự phát triển nhanh chóng về kinh tế phần nào đã cải thiện nâng cao đời sống của nhân dân địa phương, thu nhập của người dân của huyện ngày một cao. 2.1.2. Khái quát về giáo dục Thuận An 2.1.2.1. Hệ thống trường lớp và sự phân bố Toàn huyện Thuận An hiện có 37 trường và trung tâm giáo dục thường xuyên (TTGDTX), trong đó gồm: • 15 trường mầm non và mẫu giáo (công lập 13 trường và 02 trường tư thục) • 15 trường tiểu học • 05 trường trung học cơ sở (THCS) • 03 trường trung học phổ thông (THPT) • 01 trung tâm giáo dục thường xuyên Phòng Giáo dục Thuận An được phân cấp quản lý 33 trường từ trường mầm non, mẫu giáo đến THCS. 28 Bảng 2.2: Sự phân bố của 37 trường và TTGDTX ở Thuận An “Nguồn: Phòng GD-ĐT Thuận An” STT Đơn vị hành chính Trường học 1 Thị trấn Lái Thiêu 04 trường mầm non, mẫu giáo (MN Hoa Cúc 1, MG Hoa Cúc 3, MG Hoa Cúc 5, MG tư thục Hoa Lan 1) 04 trường tiểu học (Phú Long, Trần Quốc Toản, Dục Anh, Lái Thiêu) 03 trường THCS (Phú Long, Tân Thới, Nguyễn Văn Tiết) 01 trường THPT (Nguyễn Trãi) 01 trung tâm giáo dục thường xuyên 2 Thị trấn An Thạnh 01 trường mầm non (Hoa Mai 1) 03 trường tiểu học (An Thạnh, Lương Thế Vinh, Lý Tự Trọng) 01 trường THCS (Trịnh Hoài Đức) 01 trường THPT (Trịnh Hoài Đức) 3 Xã An Phú 01 trường mẫu giáo (Hoa Cúc 4) 01 trường tiểu học (An Phú) 4 Xã An Sơn 01 trường mầm non (Hoa Mai 3) 01 trường tiểu học (An Sơn) 5 Xã Bình Chuẩn 01 trường mẫu giáo (Hoa Mai 5) 01 trường tiểu học (Bình Chuẩn) 01 trường THCS (Bình Chuẩn) 6 Xã Bình Hòa 01 trường mẫu giáo (Hoa Cúc 7) 01 trường tiểu học (Bình Hòa) 7 Xã Bình Nhâm 01 trường mẫu giáo (Hoa Cúc 2) 01 trường tiểu học (Bình Nhâm) 8 Xã Hưng Định 01 trường mẫu giáo (Hoa Mai 2) 01 trường tiểu học (Hưng Định) 9 Xã Thuận Giao 02 trường mầm non, mẫu giáo (MG Hoa Mai 4 và MN tư thục Thanh Nhã) 01 trường tiểu học (Thuận Giao) 01 trường THPT (Trần Văn Ơn) 10 Xã Vĩnh Phú 02 trường mầm non, mẫu giáo (MN Hoa Cúc 6, MG Hoa Cúc 8) 01 trường tiểu học (Vĩnh Phú) 29 2.1.2.2. Số lượng học sinh và giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục (số liệu đến tháng 12 năm 2005) Bảng 2.3: Số lượng học sinh, giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục các cấp học “Nguồn: Phòng GD-ĐT Thuận An” Học sinh Giáo viên Cán bộ quản lý giáo dục Đơn vị hành chính MN MG Tiểu học TH CS MN MG Tiểu học TH CS MN MG Tiểu học THC S Thị trấn Lái Thiêu 945 3563 3915 90 169 176 8 11 7 Thị trấn An Thạnh 632 1450 2104 54 85 93 3 7 3 XãAn Phú 307 849 0 21 34 0 2 2 0 Xã An Sơn 154 332 0 18 25 0 3 3 0 Xã Bình Chuẩn 300 1060 1239 19 56 55 3 3 2 Xã Bình Hòa 156 743 0 15 35 0 2 3 0 Xã Bình Nhâm 158 474 0 17 27 0 3 2 0 Xã Hưng Định 105 998 0 8 52 0 2 3 0 Xã Thuận Giao 300 840 0 24 40 0 3 2 0 Xã Vĩnh Phú 337 419 0 38 23 0 4 3 0 2.2. TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THANH TRA GIÁO DỤC THUẬN AN 2.2.1. Tổ chức của TTrGD Thuận An 2.2.1.1. Về cơ cấu nhân sự Cơ cấu nhân sự của TTrGD Thuận An có hai bộ phận: - Cán bộ thanh tra chuyên trách có 01 người thuộc biêân chế của Phòng Giáo dục. - Thanh tra cộng tác viên của Phòng Giáo dục gồm có các cán bộ QLGD, giáo viên các trường được lựa chọn, hoạt động theo nhiệm kỳ là 02 năm. 30 Cơ cấu nhân sự của đội ngũ làm cộng tác viên thanh tra giáo dục của Phòng Giáo dục Thuận An từ năm 2000 đến năm 2006. Bảng 2.4: Cơ cấu nhân sự của ba nhiệm kỳ cộng tác viên thanh tra giáo dục từ năm học 2000 – đến 2006 “Nguồn: Phòng GD-ĐT Thuận An” Số lượng Ngành học Nhiệm kỳ Tổng số Nam Nữ Mẫu giáo Mầm non Tiểu học THCS 2000-2002 36 14 22 14 11 11 2002-2004 44 19 25 11 20 13 2004-2006 45 19 26 11 22 12 - Qua bảng 2.4, ta thấy lực lượng cộng tác viên thanh tra giáo dục của phòng Giáo dục Thuận An theo cơ cấu của các cấp học, bậc học được lựa chọn phù hợp đối với số đơn vị hiện có từng thời điểm 2.2.1.2. Đặc điểm của đội ngũ TTrGD a) Xét về giới tính Nhiệm kỳ 2000 – 2002 có 36 người gồm 14 nam và 22 nữ, ngành học mầm non có 14 người, bậc tiểu học có 11 người (6 nữ, 5 nam), bậc THCS có 11 người (2 nữ, 9 nam). Nhiệm kỳ 2002 – 2004 có 44 người gồm 19 nam và 25 nữ, ngành học mầm non có 11 người, bậc tiểu học có 25 người (11 nữ, 14 nam), bậc THCS có 13 người (3 nữ, 10 nam). Nhiệm kỳ 2004 – 2006 có 45 người gồm19 nam và 26 nữ, ngành học mầm non có 11 người, bậc tiểu học có 22 người (11 nam, 11 nữ), bậc THCS có 11 người (8 nam, 3 nữ). 31 b) Xét về tuổi đời Tuổi đời bình quân của đội ngũ công tác viên thanh tra từ năm 2000 đến 2006 như sau: - Nhiệm kỳ 2000 – 2002, tuổi bình quân của nữ là 42,5; của nam là 40,5 và tính độ tuổi bình quân là 41,7 tuổi. - Nhiệm kỳ 2002 – 2004, tuổi bình quân của nữ là 39,5; của nam là 42,5 và tính độ tuổi bình quân là 40,8 tuổi. - Nhiệm kỳ 2004 – 2006, tuổi bình quân của nữ là 42,5; của nam là 43,5 và tính độ tuổi bình quân là 42,9 tuổi. Trong 03 nhiệm kỳ từ 2000 – 2006, độ tuổi của đội ngũ cộng tác viên thanh tra có tăng dần lên vì thực tế lực lượng cán bộ, giáo viên của ở Thuận An đều công tác lâu năm, đội ngũ trẻ chưa được bổ sung kịp thời do quy định về tuyển dụng viên chức của ngành. c) Xét về tuổi nghề giảng dạy, giáo dục Đa phần lực lượng làm công tác thanh tra viên kiêm nhiệm của Phòng Giáo dục Thuận An được chọn lựa từ đội ngũ CBQLGD, giáo viên giỏi từ cấp huyện, tỉnh trở lên có nhiều kinh nghiệm và tuổi nghề dạy học ít nhất là 5 năm, nhiều nhất là trên 20 năm. d) Trình độ chuyên môn trong công tác thanh tra Các thanh tra viên của Phòng Giáo dục đều được cử tham gia các khóa bồi dưỡng về công tác thanh tra viên giáo dục tại trường CBQLGD – ĐT II Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, ngành học mầm non chưa được tập huấn, bồi dưỡng về nghiệp vụ thanh tra mà chỉ được hướng dẫn hoạt động thanh tra ở ngành học mầm non theo Thông tư 13/GD – ĐT ngày 04/8/1997 của BGD & ĐT. đ) Trình độ học vấn Đa số đều tốt nghiệp bậc trung học phổ thông (12/12), hoặc trình độ tú tài đối với các đồng chí lớn tuổi. 32 Bảng 2.5: Đặc điểm của đội ngũ TTrGD Thuận An “Nguồn: Phòng GD-ĐT Thuận An từ 2000 - 2004” Giới tính Tuổi đời Tuổi nghề dạy học Tuổi nghề thanh tra Năm học Nam Nữ 45 <10 năm 11- 15 năm 16- 20 năm > 20 năm < 5 năm 5-10 năm 11- 20 năm 2000 2002 14 22 2 29 5 3 3 14 16 7 17 12 2002 2004 19 25 2 26 16 3 6 5 30 7 23 14 2004 2006 19 26 0 21 24 0 7 4 34 0 26 19 2.2.1.3. Cơ cấu tổ chức Về cơ cấu tổ chức theo quy định của BGD & ĐT chỉ có Thanh tra Bộ và Thanh tra Sở có một cơ cấu tổ chức nhất định, với số lượng được quy định cụ thể.Thanh tra phòng giáo dục không có biên chế cụ thể. Theo quy định của Nghị định số 101/2002/NĐ – CP của Chính phủ, Thanh tra của phòng GD – ĐT gồm có một người phụ trách (người này phải kiêm nhiệm một số công việc khác của phòng) và một số cộng tác viên thanh tra là giáo viên hoặc cán bộ quản lý của các ngành học, bậc học. Bộ phận thanh tra này do trưởng phòng GD – ĐT trực tiếp điều hành. Bộ phận thanh tra của phòng GD – ĐT Thuận An theo đúng tinh thần của Nghị định trên đây. 2.2.2. Hoạt động của Thanh tra giáo dục huyện Thuận An thời gian qua (2000 – 2005) 2.2.2.1. Một số hoạt động đã tiến hành. Từ năm học 2000 – 2005, Thanh tra giáo dục Thuận An đã tiến hành hai loại thanh tra: - Hoạt động thường xuyên - Hoạt động theo tình hình 33 ‰ Về hoạt động thanh tra thường xuyên: đó là hoạt động thanh tra đánh giá chất lượng giảng dạy của giáo viên. Bảng 2.6: Hoạt động thanh tra chất lượng giảng dạy của giáo viên “Nguồn: Phòng GD-ĐT Thuận An” Phân loại Năm học Bậc học Tổng số GV dạy lớp Tổng số GV được thanh tra Tốt Khá Đạt yêu cầu Chưa đạt yêu cầu Mầm non 168 48 6 38 1 3 Tiểu học 433 65 33 14 18 0 2000-2001 THCS 92 25 16 5 4 0 Mầm non 178 45 13 19 13 0 Tiểu học 409 93 35 38 20 0 2001-2002 THCS 104 26 15 10 1 0 Mầm non 192 49 21 18 8 2 Tiểu học 464 99 * 41 69 16 14 0 2002-2003 THCS 127 30 * 6 11 13 6 0 Mầm non 183 48 18 13 16 1 Tiểu học 410 116 47 57 12 0 2003-2004 THCS 124 32 9 13 10 0 Mầm non 188 85 27 45 11 2 Tiểu học 416 115 81 28 6 0 2004-2005 THCS 124 50 24 25 1 0 Ghi chú: (*) là số tiết dự thanh tra chương trình đổi mới giáo dục phổ thông năm đầu tiên không có đánh giá xếp loại. Riêng trong năm học 2002 – 2003 là năm đầu tiên thực hiện Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, theo quy định sau khi dự giờ không đánh giá xếp loại mà chỉ góp ý kiến cho tiết dạy. 34 ‰ Hoạt động thanh tra theo tình hình: Bảng 2.7: Thống kê số lượng các cuộc thanh tra không thường xuyên từ năm học 2000 – 2005 “Nguồn: Phòng GD-ĐT Thuận An” Nội dung thanh tra 2000-2001 2001-2002 2002-2003 2003-2004 2004-2005 Chuyên môn 3 đơn vị 5 đơn vị 4 đơn vị 12 đơnvị Công tác thư viện 1 đơn vị 8 đơn vị Công tác XMC- PCGD 10 xã, thị trấn 10 xã, thị trấn 10 xã, thị trấn 10 xã, thị trấn 10 xã, thị trấn Chuyên đề an toàn giao thông, phòng chống ma túy – AIDS 2 đơn vị 14 đơn vị 12 đơn vị 8 đơn vị 13 đơn vị Toàn diện 4 đơn vị 3 đơn vị 1 đơn vị 1 đơn vị 4 đơn vị Giải quyết khiếu nại, tố cáo 7 đơn 4 đơn 8 đơn 9 đơn, 3 chuyển cấp trên 3 đơn Dạy thêm, học thêm 3 3 4 5 Tài chính 3 (cùng TTr SGD&ĐT) 3 4 Chuyên đề 4 7 2.2.2.2. Đánh giá chung Từ bảng số 2.6 và số 2.7 về công tác thanh tra của bộ phận thanh tra phòng GD – ĐT Thuận An, chúng tôi chúng tôi có một số đánh giá chung như sau: a) Về kết quả Thứ nhất: Từ năm 2000 – 2005, bộ phận thanh tra giáo dục đã xây dựng được một chương trình, một kế hoạch thanh tra cho từng năm học và cho từng nhiệm kỳ thanh tra và chương trình, kế hoạch này được triển khai đều đặn, theo đúng tiến độ đề ra. Xuất phát từ chức năng của mình và bám sát vào nhiệm vụ được giao, bộ phận TTrGD huyện đã xây dựng được những nội dung phù hợp cho các chương trình và kế hoạch thanh tra. Cụ thể, coi thanh tra chuyên môn là 35 nhiệm vụ chủ yếu của TTrGD, nên từ năm học 2000 – 2001 đến năm học 2004 – 2005, số đơn vị được thanh tra chuyên môn tăng lên đáng kể, gấp ba lần (năm học 2000 – 2001: 03 đơn vị; năm học 2002 – 2003: 04 đơn vị, năm học 2004 – 2005: 12 đơn vị). Theo đó, số giáo viên được thanh tra cũng tăng lên: năm học 2000 – 2001 là 138 giáo viên, năm học 2001 – 2002 là 164 giáo viên, năm học 2002 – 2003 là 225 giáo viên, năm học 2003 – 2004 là 196 giáo viên và năm học 2004 – 2005 là 250 giáo viên. Thông qua các đợt thanh tra chuyên môn, bộ phận thanh tra cùng với ban giám hiệu các trường đã có những nhận xét, đánh giá khách quan và những gợi ý thiết thực giúp cho giáo viên rút kinh nghiệm và có kế hoạch, biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy. Theo đó, kết quả phân loại của bộ phận TTrGD cho thấy chất lượng giáo viên càng về sau càng được nâng lên đáng kể. Có thể thấy được nội dung hoạt động của thanh tra giáo dục qua bảng sau: Bảng 2.8: Tỷ lệ giáo viên được thanh tra sư phạm từ năm 2000 – 2005 “Nguồn: Phòng GD-ĐT Thuận An” Năm học Tổng số GV được thanh tra Tốt Khá Đạt Chưa đạt 2000 –2001 138 55 (39,85%) 57 (41,3%) 23 (16,66%) 3 (2,17%) 2001 –2002 164 63 (38,41%) 67 (40,85%) 34 (20,73%) 0 2002 –2003 178 47 * 101 (56,74%) 47 (26,4%) 28 (15,73%) 2 (1,12%) 2003 –2004 196 74 (37,75%) 83 (42,34%) 38 (19,38%) 1 (0,51%) 2004 –2005 250 132 (52,8%) 98 (39,2%) 18 (7,2%) 2 (0,8%) Ghi chú: 47 * là số tiết dự thanh tra chương trình đổi mới giáo dục phổ thông năm đầu tiên không có đánh giá xếp loại theo quy định của BGD & ĐT. 36 Đồng thời, các đơn vị được thanh tra đúc rút được nhiều bài học bổ ích và có thêm những kinh nghiệm thiết thực để đổi mới, điều chỉnh kế hoạch giảng dạy và các kế hoạch khác của đơn vị. Từ đó, chất lượng giảng dạy và học tập của thầy và trò được nâng lên. Thứ hai: Hoạt động của bộ phận TTrGD đã góp phần giải quyết một số vấn đề bức xúc của giáo của địa phương. Chẳng hạn như vấn đề dạy thêm, học thêm; vấn đề quản lý tài chính, vấn đề khiếu nại, tố cáo... Khi tiến hành thanh tra những vấn đề này, bộ phận TTrGD đã có sự chuẩn bị kỹ càng, chu đáo từ việc triển khai các bước cũng như nội dung của từng bước,... Ví dụ: vấn đề dạy thêm, học thêm là vấn đề rất nhạy cảm. Vì thế, trước khi tiến hành thanh tra, bộ phận TTrGD đã chuẩn bị kế hoạch chu đáo: một mặt yêu cầu hiệu trưởng các trường cho tiến hành việc đăng ký dạy thêm, học thêm của giáo viên, học sinh theo quy định chung của BGD & ĐT và của UBND tỉnh Bình Dương, mặt khác bộ phận TTrGD còn tìm hiểu qua dư luận của phụ huynh học sinh, của giáo viên,... để hiểu thực chất động cơ, mục đích dạy thêm, học thêm. Từ đó có đề xuất hợp lý giải quyết vấn đề này. Trong năm học 2002 – 2003, thanh tra phòng giáo dục đã tiến hành kiểm tra việc dạy thêm, học thêm đã phát hiện vi phạm của hiệu trưởng trường tiểu học Bình Nhâm – Huỳnh Ngọc Sương, trong việc dạy thêm, học thêm không theo quy định của ngành. Qua xác minh và xử lý, hội đồng kỷ luật ngành giáo dục Thuận An đã họp và đề nghị hình thức kỷ luật cảnh cáo. Thứ ba: Bộ phận TTrGD đã biết tập trung giải quyết những vấn đề cơ bản cho từng giai đọan, từng đơn vị cần thanh tra... Thời gian qua, một vấn đề nổi cộm ở nhiều trường học và đơn vị giáo dục liên quan đến trách nhiệm của người hiệu trưởng là vấn đề quản lý tài chính. Từ năm học 2000 – 2001 qua một số đơn thư khiếu nại, tố cáo (do TTrGD nhận trực 37 tiếp hoặc do các cấp chuyển đến) TTrGD nhận thấy, xung quanh vấn đề quản lý tài chính của các trường nổi lên hai vấn đề: - Một là: vấn đề quy định về đóng góp học phí và các loại quỹ cho giáo dục - Hai là: vấn đề thu, chi và xây dựng cơ sở vật chất. Qua đơn thư có thể thấy phần lớn các trường đã giải quyết tốt hai vấn đề này, song hoặc do không công khai hóa và không giải thích rõ cho phụ huynh học ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLA7053.pdf
Tài liệu liên quan