Hoàn thiện công tác hạch toán kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty Nhựa Hà Nội

LỜI NÓI ĐẦU Nước ta từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của nhà nước đã mở ra thời kỳ mới cho nền kinh tế Việt Nam hứa hẹn cả thành công và thử thách, đặc biệt là sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các doanh nghiệp, giữa các thành phần kinh tế. Sự đổi mới cơ chế quản lý kinh tế này đòi hỏi nền tài chính quốc gia phải được đổi mới và hoàn thiện, nhằm tạo ra sự ổn định của môi trường kinh tế, hệ thống pháp luật tài chí

doc82 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1160 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Hoàn thiện công tác hạch toán kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty Nhựa Hà Nội, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
nh, lành mạnh hoá các quan hệ và các hoạt động tài chính. Hạch toán kế toàn là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công cụ quản lý kinh tế, nó là công cụ quan trọng phục vụ cho công tác quản lý và điều hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình sử dụng vốn, sử dụng kinh phí ở các đơn vị, điều hành và quản lý nền kinh tế quốc dân. Do đó mà kế toán có vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ đối với hoạt động tài chính Nhà nước mà còn vô cùng cần thiết đối với hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Điều quan tâm của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh là lợi nhuận. Vậy để đạt được mục tiêu này đòi hỏi mỗi doanh nghiệp khi tiến hành sản xuất kinh doanh phải tính toán được chi phí sản xuất bỏ ra, giá thành sản phẩm hoàn thành từ đó tính toán lãi lỗ cho doanh nghiệp một cách chính xác. Tính đúng, tính đủ chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm sẽ giúp cho các nhà quản lý thấy được mức độ chi phí và khả năng thu lời để từ đó có các quyết định kinh tế kịp thời nhằm cải thiện những chi phí bất hợp lý và tăng sản lượng đối với những sản phẩm có khả năng tiết kiệm chi phí cao. Qua thời gian thực tập tại công ty Nhựa Hà Nội, với sự giúp đỡ của thầy, cô giáo và sự giúp đỡ của phòng kế toán công ty và phòng tổ chức hành chính Công ty Nhựa Hà Nội cùng sự cố gắng học hỏi của bản thân em đã hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp với đề tài: "Hoàn thiện công tác hạch toán kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty Nhựa Hà Nội". Chuyên đề được chia thành 3 phần chính Phần thứ nhất: Một số vấn đề lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất. Phần thứ hai: Thực trạng công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty Nhựa Hà Nội. Phần thứ ba: Một số nhận xét và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty Nhựa Hà Nội. Tuy đã hết sức cố gắng học hỏi và tìm hiểu, song do thời gian thực tập ngắn cũng như kiến thức bản thân còn nhiều hạn chế nên chuyên đề này không tránh khỏi những thiếu xót. Tôi rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của thầy cô và bạn bè đồng nghiệp để chuyên đề này được hoàn thiện hơn. PHẦN I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT I. Chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất 1.1. Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất 1.1.1. Khái niệm về chi phí sản xuất Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định. Hao phí về lao động sống là toàn bộ chi phí doanh nghiệp bỏ ra để chi trả cho người lao động dưới hình thức lương, phụ cấp, các khoản trích theo lương tính vào chi phí theo tỷ lệ nhất định trên tổng tiền lương. Hao phí lao động vật hoá là những chi phí bỏ ra cả về nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ,… và các chi phí khác phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. 1.1.2. Phân loại chi phí sản xuất Chi phí sản xuất kinh doanh có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau. Tuỳ thuộc vào mục đích và yêu cầu của công tác quản lý. Tuy nhiên, về mặt hạch toán, chi phí sản xuất thường được phân theo các tiêu thức sau: * Phân loại theo nội dung của chi phí. - Chi phí về nguyên vật liệu: bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu chính, phụ, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ,… sử dụng vào sản xuất kinh doanh (loại trừ giá trị dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi cùng với nhiên liệu, động lực). - Chi phí về nhiên liệu, động lực: (loại trừ giá trị không sử dụng hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi). - Tiền lương và các khoản phụ cấp lương: phản ánh tổng số tiền lương và phụ cấp mang tính chất lương phải trả cho công nhân viên chức. - Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn: tính theo tỷ lệ quy định trên tổng số lương và phụ cấp lương phải trả cho công nhân viên chức. - Chi phí khấu hao tài sản cố định : phản ánh tổng số khấu hao tài sản cố định phải trích trong kỳ của tất cả các sử dụng trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Chi phí dịch vụ mua ngoài: phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài dùng vào sản xuất kinh doanh. - Chi phí khác bằng tiền: phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa phản ánh vào các yếu tố trên, dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ. Phân loại theo cách này cho biết từng loại tỷ trọng chi phí, từ đó làm cơ sở để tập hợp chi phí sản xuất theo yếu tố chi phí. Cách phân loại này giúp xây dựng và phân tích định mức vốn lưu động cũng như việc lập, kiểm tra và phân tích dự toán chi phí. * Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu liên quan trực tiếp đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ. - Chi phí nhân công trực tiếp: gồm toàn bộ tiền lương, các khoản phụ cấp mang tính chất lương trả cho công nhân trực tiếp sản xuất, chế tạo sản phẩm hay thực hiện các lao vụ, dịch vụ cùng với các khoản trích theo tỉ lệ quy định trên lương cho các quỹ bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn (phần tính vào chi phí). - Chi phí sản xuất chung: toàn bộ chi phí còn lại phát sinh trong phạm vi phần xưởng, bộ phận sản xuất sau khi đã loại chi phí nguyên vật liệu và chi phí nhân công trực tiếp trên. - Chi phí bán hàng: chi phí phát sinh liên quan tới việc tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ trong kỳ. - Chi phí quản lý doanh nghiệp: chi phí phát sinh liên quan tới quản trị kinh doanh và quản lý hàng chính trong phạm vi toàn doanh nghiệp mà không tách được cho bất cứ hoạt động hay phân xưởng nào. * Ngoài hai cách phân loại chủ yếu trên, còn có một số cách phân loại sau: - Căn cứ vào mối quan hệ chi phí sản xuất kinh doanh và khối lượng sản phẩm, công việc thì chi phí sản xuất được chia thành biến phí và định phí. Theo cách phân loại này thuận lợi cho việc lập kế hoạch và kiểm tra chi phí, đồng thời làm căn cứ để đề ra các quyết định kinh doanh. - Phân loại theo cách thức kết chuyển chi phí thì chi phí sản xuất kinh doanh gồm chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ. - Phân loại dựa vào mối quan hệ và khả năng qui nạp chi phí vào đối tượng kế toán chi phí thì chi phí sản xuất chia thành chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp…. * Tóm lại, mỗi cách phân loại chi phí sản xuất có một công dụng riêng mà tuỳ từng điều kiện cụ thể thì nên chọn theo cách nào là phù hợp nhất cho đơn vị nhằm quản lý một cách thuận lợi và có hiệu quả nhất chi phí sản xuất kinh doanh. 1.2. Giá thành sản phẩm và phân loại giá thành sản phẩm 1.2.1. Khái niệm giá thành sản phẩm Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lượng công việc đã hoàn thành. Trong giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những chi phí hao phí tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào quá trình sản xuất, tiêu thụ phải được bồi hoàn để tái sản xuất ở doanh nghiệp mà không gồm các chi phí phát sinh trong kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. 1.2.2. Phân loại giá thành sản phẩm * Phân loại theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành sản phẩm. - Giá thành kế hoạch: được xác định trước khi bước vào kinh doanh trên cơ sở giá thành thực tế kỳ trước và các định mức, các dự tính chi phí của kỳ kế hoạch. Giá thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là căn cứ để so sánh, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch hạ giá thành của doanh nghiệp. - Giá thành định mức: như giá thành kế hoạch, giá thành định mức cũng được xác định trước khi bắt đầu sản xuất sản phẩm. Tuy nhiên, khác với giá thành kế hoạch được xây dựng trên cơ sở các định mức được xác định trên cơ sở các định mức về chi phí hiện hành tại từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch (thường là ngày đầu tháng) nên giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của các định mức chi phí đạt được trong quá trình thực hiện kế hoạch giá thành. Giá thành định mức là công cụ quản lý định mức, là thước đo chính xác để xác định kết quả của việc sử dụng tài sản vật tư lao động trong sản xuất, giúp cho đánh giá đúng đắn các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp thực hiện trong quá trình hoạt động sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh. - Giá thành thực tế: được tính trên cơ sở số liệu chi phí sản xuất thực tế đã phát sinh và tập hợp được trong kỳ. Giá thành thực tế chỉ có thể tính toán được sau khi kết thúc quá trình sản xuất sản phẩm và được tính toán cho cả chi tiêu tổng giá thành và giá thành đơn vị. Giá thành thực tế là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả phấn đấu của doanh nghiệp, có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của doanh nghiệp. * Căn cứ vào phạm vi phát sinh chi phí. - Giá thành sản xuất (hay còn gọi là giá thành công xưởng): là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí phát sinh liên quan tới việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng sản xuất. - Giá thành tiêu thụ (hay còn gọi là giá thành toàn bộ hay giá thành đầy đủ): là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Giá thành tiêu thụ được tính theo công thức: Giá thành toàn bộ = Giá thành sản phẩm + chi phí quản + chi phí bán của sản phẩm của sản phẩm lý doanh nghiệp hàng Cách phân loại này có tác dụng giúp cho nhà quản lý biết được kết quả kinh doanh (lãi, lỗ) của từng mặt hàng, từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh. Tuy nhiên, do những hạn chế nhất định khi lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp cho từng mặt hàng, từng loại dịch vụ nên cách phân loại này chỉ mang ý nghĩa học thuật, nghiên cứu. 1.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là biểu hiện hai mặt của quá trình sản xuất kinh doanh, cùng giống nhau về bản chất nhưng lại khác nhau về lượng do cơ sở khác nhau về giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ. Sự khác nhau đó thể hiện ở công thức tính giá thành sản phẩm: Giá thành = Giá thành sản phẩm + Chi phí sản xuất - Giá thành sản phẩm sản phẩm dở dang đầu kỳ dở dang trong kỳ dở dang cuối kỳ Việc giới hạn chi phí nào vào giá thành sản phẩm tuỳ thuộc vào quan điểm tính toán xác định chi phí, doanh thu và kết quả cũng như quy định của chế độ quản lý kinh tế tài chính, chế độ kế toán hiện hành. Với công thức nêu trên, giá thành sản phẩm chỉ được hiểu là các chi phí liên quan đến quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ. Nó không bao gồm chi phí liên quan tới tiêu thụ và chi phí quản lý doanh nghiệp. Chi phí và giá thành có mối quan hệ chặt chẽ với nhau do vậy mà kế toán chi phí và tính giá thành cũng có mối quan hệ tương tự. Chi phí sản xuất phát sinh tập hợp theo từng đối tượng đã xác định là cơ sở để kiểm tra việc thực hiện các định mức, dự toán chi phí, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch giá thành. Việc tập hợp trung thực, đầy đủ giá trị các tư liệu sản xuất tiêu dùng cho sản xuất, tiêu thụ và các khoản chi tiêu khác có liên quan tới việc bù đắp giản đơn hao phí lao động sống và chi phí sản xuát để đưa vào giá thành là hết sức quan trọng bởi vì mọi cách tính chủ quan không phản ánh đúng các yếu tố giá trị trong giá thành đều có thể dẫn tới việc phá vỡ các quan hệ hàng hoá - tiền tệ, không xác định được hiệu quả kinh doanh và không thực hiện được tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng. 1.4. Nhiệm vụ của kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Để tổ chức tốt kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, đáp ứng tốt yêu cầu quản chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở doanh nghiệp, kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cần phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau: - Xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành phù hợp với đặc điểm yêu cầu quản lý doanh nghiệp. - Tổ chức vận dụng các tài khoản kế toán để hạch toán chi phí sản xuất theo đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm theo đúng đối tượng tính giá thành, phù hợp với phương pháp kế toán hàng tốn kho mà doanh nghiệp áp dụng. - Tổ chức tập hợp, kết chuyển hoặc phân bổ chi phí sản xuất theo đúng đối tượng đã xác định theo các yếu tố chi phí và khoản mục giá thành - Lập báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố (trên thuyết minh báo cáo tài chính), định kỳ tổ chức phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở doanh nghiệp - Tổ chức kiểm kê và đánh giá khối lượng sản phẩm dở dang khoa học hợp lý, xác định giá thành và hạch toán giá thành sản phẩm hoàn thành sản xuất trong kỳ một cách đầy đủ, chính xác. II. Hạch toán tổng hợp chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp 2.1. Đối tượng, trình tự và phương pháp tập hợp chi phí sản xuất 2.1.1. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất Xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là công việc đầu tiên và quan trọng của tổ chức hạch toán quá trình sản xuất. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là nơi phát sinh và chịu chi phí sản xuất. Tổ chức hạch toán quá trình sản xuất gồm hai giai đoạn kế tiếp nhau và có mối quan hệ mật thiết với nhau: đó là hạch toán chi phí sản xuất theo từng sản phẩm, nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng, giai đoạn công nghệ, phân xưởng… và giai đoạn tính giá thành sản phẩm, chi tiết sản phẩm theo đơn vị tính giá thành quy định. Như vậy xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất chính là việc xác định giới hạn tập hợp chi phí mà thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và chịu chi phí. Việc xác định đúng đắn đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và tập hợp chi phí sản xuất một cách chính xác, kịp thời, đúng đối tượng là cơ sở tiền đề quan trọng để kiểm tra, kiểm soát quá trình chi phí, tăng cường trách nhiệm vật chất đối với các bộ phận, đồng thời cung cấp số liệu cần thiết cho việc tính các chỉ tiêu giá thành theo yêu cầu quản trị doanh nghiệp. Trên cơ sở đối tượng hạch toán chi phí, kế toán lựa chọn phương pháp hạch toán chi phí thích hợp. Mỗi phương pháp hạch toán chỉ thích ứng với một loại đối tượng hạch toán chi phí, tên gọi của các phương pháp này là biểu hiện đối tượng mà nó cần tập hợp và phân loại. Về cơ bản phương pháp hạch toán chi phí sản xuất bao gồm các phương pháp khác hạch toán chi phí sản xuất theo sản phẩm, theo đơn đặt hàng, theo giai đoạn công nghệ, theo phân xưởng, theo nhóm sản phẩm…. Nội dung chủ yếu của các phương pháp hạch toán chi phí sản xuất là kế toán mở thể (hoặc sở) chi tiết hạch toán chi tiết hạch toán chi phí sản xuất theo từng đối tượng đã xác định, phản ánh các chi phí phát sinh có liên quan đến đối tượng, hàng tháng tổng hợp chi phí theo từng đối tượng. 2.1.2. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất * Phương pháp tập hợp trực tiếp Phương pháp này áp dụng đối với các chi phí có liên quan trực tiếp đến đối tượng kế toán tập hợp chi phí đã xác định và công tác hạch toán, ghi chép ban đầu cho phép qui nạp trực tiếp các chi phí này vào từng đối tượng kế toán tập hợp chi phí có liên quan. * Phương pháp phân bố gián tiếp Phương pháp này được áp dụng khi một loại chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng kế toán tập hợp chi phí, không thể tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng được. Trong trường hợp này phải lựa chọn tiêu chuẩn hợp lý để tiến hành phân bổ chi phí cho các đối tượng có liên quan theo công thức: Trong đó: Ci: CPSX cần phân bổ cho đối tượng i SC: Tổng chi phí sản xuất đã tập hợp cần phân bổ Ti : Tiêu thức phân bổ cho đối tượng i : Tổng tiêu thức cần phân bổ 2.1.3. Trình tự tập hợp chi phí sản xuất Tuỳ theo phương pháp hạch toán hàng tồn kho áp dụng mà nội dung và cách thức hạch toán chi phí sản xuất có những điểm khác nhau. Tuy nhiên, có thể khái quát chung trình tự tập hợp chi phí sản xuất qua các bước sau: Bước 1: Tập hợp các chi phí cơ bản có liên quan trực tiếp cho từng đối tượng sản xuất. Bước 2: Tính toán và phân bổ lao vụ của các ngành sản xuất kinh doanh phụ có liên quan trực tiếp cho từng đối tượng sử dụng trên cơ sở khối lượng lao vụ phục vụ và giá thành đơn vị lao vụ. Bước 3: Tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung cho các đối tượng có liên quan Bước 4: Xác định giá trị sản xuất dở dang cuối kỳ 2.2. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp thực hiện kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên 2.2.1. Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm giá trị nguyên vật liệu chính, phụ, nhiên liệu…. được xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm. Đối với những vật liệu khi xuất dùng có liên quan trực tiếp đến từng đối tượng tập hợp chi phí riêng biệt (phân xưởng, bộ phận sản xuất, sản phẩm hay loại sản phẩm….) thì hạch toán trực tiếp cho đối tượng đó. Trong trường hợp vật liệu xuất dùng có liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí, không thể tổ chức hạch toán riêng thì phải áp dụng phương pháp phân bổ gián tiếp để phân bổ cho chi phí cho các đối tượng liên quan . Công thức phân bổ như sau: Chi phí vật liệu = Tổng chi phí vật liệu x Tỉ lệ (hệ số) cho từng đối tượng cần phân bổ phân bổ Tổng tiêu thức phân bổ từng đối tượng Tỉ lệ (hệ số) phân bổ = Tổng tiêu thức phân bổ tất cả các đối tượng - Tài khoản sử dụng theo dõi các khoản chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là TK621 "Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp" Tài khoản này không có số dư và được mở chi tiết theo từng đối tượng hạch toán chi phí (phân xưởng, bộ phận sản xuất, sản phẩm, nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng….). Bên nợ: giá trị nguyên vật liệu xuất dùng trực tiếp theo chế tạo sản phamả hay thực hiện lao vụ, dịch vụ. Bên có: - Giá trị nguyên vật liệu xuất dùng không hết nhập lại kho - Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp vào tài khoản tính giá thành. TK 111, 112, 331…. Mua NVL về dùng ngay cho sx, không qua kho TK 1331 VAT hàng mua NVL xuất cho sản xuất NVL sử dụng không hết nhập lại kho TK 152 TK621 TK 154 KCCPNVLTT Sơ đồ hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 2.2.2. Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp - Chi phí nhân công trực tiếp là các khoản phù lao lao động phải trả cho lao động trực tiếp sản xuất sản phẩm, trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ như: tiền lương chính, phụ và các khoản phụ cấp có tính chất lương (phụ cấp khu vực, đắt đỏ, độc hại, phụ cấp thêm giờ…). Ngoài ra chi phí nhân công trực tiếp còn gồm các khoản đóng góp cho các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn do chủ sử dụng lao động chịu và được tính vào chi phí nhân công trực tiếp theo một tỷ lệ nhất định với tiền lương công nhân sản xuất. Trường hợp chi phí nhân công có liên quan tới nhiều đối tượng mà không hạch toán trực tiếp được thì được tập hợp chung, sau đó phân bổ theo tiêu thức phân bổ thích hợp: phân bổ theo chi phí tiền công định mức, giờ công định mức, giờ công thực tế, khối lượng chi phí sản xuất, chi phí nguyên vật liệu chính…. - Tài khoản sử dụng để theo dõi chi phí nhân công trực tiếp là tài khoản 622 "Chi phí nhân công trực tiếp" Bên nợ: chi phí nhân công trực tiếp thực tế phát sinh Bên có: kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp sang tài khoản giá thành Tài khoản này không có số dư và được mở chi tiết theo từng đối tượng hạch toán. Trích trước tiền lương nghỉ phép của CNSX TK 335 TK 338 BHXH, BHYT, KPKĐ trích theo Tỉ lệ vào chi phí Tiền lương và phụ cấp lương phải trả cho CNTTSX TK 334 TK 622 TK 154 KCCPNCTT Sơ đồ hạch toán chi phí nhân công trực tiếp 2.2.3. Hạch toán chi phí sản xuất chung - Chi phí sản xuất chung là những chi phí cần thiết còn lại để sản xuất sản phẩm sau chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp. Đây là những chi phí phát sinh trong phạm vi các phân xưởng, bộ phận sản xuất của doanh nghiệp. Nó bao gồm các chi phí về lương nhân viên quản lý phân xưởng, chi phí về vật liệu và công cụ dụng cụ sử dụng cho phân xưởng, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí bằng tiền khác. -Tài khoản sử dụng là TK627 "Chi phí sản xuất chung" Bên nợ: chi phí sản xuất chính thực tế phát sinh trong kỳ Bên có: - Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất chính - Kết chuyển (hay phân bổ) chi phí sản xuất chung vào tài khoản giá thành. Tài khoản này không có số dư và được chi tiết thành 6 tiểu khoản + 6271: Chi phí nhân viên phân xưởng + 6272: Chi phí vật liệu + 6273: Chi phí công cụ dụng cụ + 6274: Chi phí khấu hao tài sản cố định + 6277: Chi phí dịch vụ mua ngoài + 6278: Chi phí bằng tiền khác. Do chi phí sản xuất chung có liên quan tới nhiều loại sản phẩm, lao vụ, dịch vụ trong phân xưởng nên cần phải phân bổ phù hợp theo từng đối tượng: phân bổ theo định mức, theo giờ làm việc thực tế, của công nhân sản xuất, theo tiền lương công nhân sản xuất…. Sơ đồ hạch toán chi phí sản xuất chung: TK152 TK 152, 153 TK214 TK 111, 112, 331 VL, CCDC xuất dùng CP sản xuất chung khác Tính theo lương cho NVPX TK 154 KCCPSXC TK334, 338 CPNV quản lý PX TK627 CP khấu hao TSCĐ CCDC lớn TK242 2.2.4. Tổng hợp chi phí sản xuất, kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở dang 2.2.4.1. Tổng hợp chi phí sản xuất - Cuối kỳ, kế toán tổng hợp từng loại chi phí sản xuất và tiến hành kết chuyển sang tài khoản tổng hợp chi phí sản xuất. - Tài khoản 154 "Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang" - đây là tài khoản có số dư, được mở chi tiết theo từng ngành sản xuất, từng nơi phát sinh chi phí hay từng loại sản phẩm, nhóm sản phẩm, chi tiết sản phẩm, từng loại lao vụ, dịch vụ của các bộ phận sản xuất kinh doanh chính, phụ kể cả vật tư, sản phẩm, hàng hoá thuế ngoài gia công chế biến. Bên nợ: tập hợp các chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ Bên có: - Các khoản ghi giảm chi phí sản phẩm - Tổng giá thành sản xuất thực tế hay chi phí thực tế của sản phẩm, lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành. Dư nợ: chi phí thực tế của sản phẩm, lao vụ, dịch vụ dở dang chưa hoàn thành. Quá trình tổng hợp chi phí sản xuất được tiến hành như sau: - Cuối kỳ kế toán ghi các bút toán kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung theo từng đối tượng vào tài khoản 154: + Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Nợ TK 154: (chi tiết đối tượng) Có TK 621: (chi tiết đối tượng) + Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp Nợ TK 154 : (chi tiết đối tượng) Có TK 622 : (chi tiết đối tượng) + Kết chuyển chi phí sản xuất chung Nợ TK 154: (chi tiết đối tượng) Có TK 627: (chi tiết đối tượng) Đồng thời phản ánh các bút toán ghi giảm chi phí: + Phế liệu thu hồi trong sản xuất: Nợ TK 152 : (chi tiết phế liệu) Có TK 154 : (chi tiết sản phẩm) + Sản phẩm hỏng ngoài định mức không sửa chữa được Nợ TK 1381: (chi tiết sản phẩm hỏng ngoài định mức) Có TK 154: (chi tiết sản phẩm) + Giá trị sản phẩm, vật tư thiếu hụt bất thường trong sản xuất: Nợ TK 138, 334, 811…. Có TK 154: (chi tiết sản phẩm) + Vật liệu xuất dùng không hết nhập kho (nếu chưa phản ánh ở TK 621) Nợ TK 152: (chi tiết vật liệu) Có TK 154: (chi tiết sản phẩm) - Phản ánh tổng giá thành công xưởng thực tế sản phẩm hoàn thành Nợ TK 155: nhập kho thành phẩm Nợ TK 157: hàng gửi bán Nợ TK 632: tiêu thụ thẳng (không qua kho) Có TK 154: (chi tiết sản phẩm) tổng giá thành công xưởng thực tế sản phẩm hoàn thành. Tiêu thụ thẳng không qua kho Hàng gửi bán TK 632 TK 157 DCK: xxx K/c chi phí sản xuất chung K/c chi phí nhân công trực tiếp Sơ đồ hạch toán tổng hợp chi phí sản xuất Tổng GT thực tế sản phẩm, hoàn thành TK 154 DĐK: xxx TK 152, 111 TK 621 K/c chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Các khoản ghi giảm CPSX TK 152, 155 TK 622 Nhập kho vật tư sản phẩm TK 627 2.2.4.2. Kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở dang * Khái niệm. Sản phẩm dở dang là những sản phẩm chưa kết thúc giai đoạn chế biến, còn đang nằm trong quá trình sản xuất. Để xác định giá trị sản phẩm dở dang cần xác định hai chỉ tiêu là số lượng sản phẩm dở dang và chi phí sản xuất nằm trong sản phẩm dở dang. Xác định số lượng sản phẩm dở dang: cuối tháng tiến hành kiểm kê số lượng sản phẩm dở dang đang nằm trên dây truyền, viết biên bản kiểm kê chi tiết từng loại sản phẩm dở dang. Đánh giá sản phẩm dở dang. * Có nhiều phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang: - Xác định theo chi phí nguyên vật liệu chính - Xác định theo sản lượng ước tính tương đương - Xác định theo 50% chi phí chế biến - Xác định theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp hoặc chi phí trực tiếp - Xác định theo chi phí định mức hoặc kế hoạch Trong phạm vi chuyên đề chỉ đề cập tới 3 phương pháp xác định giá trị sản phẩm dở dang: Phương pháp xác định theo chi phí nguyên vật liệu chính. - Nội dung phương pháp: theo phương pháp này, sản phẩm dở dang cuối kỳ chỉ bao gồm chi phí nguyên vật liệu chính trực tiếp, còn các chi phí gia công, chế biến (chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung) được tính cả cho giá thành sản phẩm hoàn thành trong kỳ. Giá trị VLC Số lượng SPDD cuối kỳ Toàn bộ giá trị = x nằm trong SPDD Số lượng + Số lượng VLC xuất dùng thành phẩm SPDD - Điều kiện áp dụng: phương pháp này được áp dụng để đánh giá sản phẩm dở dang ở các doanh nghiệp có chi phí nguyên vật liệu chính chế tạo sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ chi phí, chi phí chế biến phát sinh ít có thể tập hợp hết cho giá thành sản phẩm hoàn thành trong kỳ. Xác định giá thành sản phẩm dở dang theo sản lượng ước tính tương đương - Nội dung phương pháp: dựa vào mức độ hoàn thành và số lượng sản phẩm dở dang để quy sản phẩm dở dang thành sản phẩm hoàn thành. Tiêu chuẩn qui đổi thường dựa vào giờ công hoặc tiền lương định mức. Để đảm bảo tính chính xác của việc đánh giá, phương pháp này chỉ nên áp dụng để tính các chi phí chế biến còn chi phí nguyên vật liệu chính phải xác định theo số thực tế đã dùng. - Điều kiện áp dụng: phương pháp này được áp dụng đánh giá sản phẩm dở dang ở các doanh nghiệp cần tách riêng chi phí chế biến và chi phí nguyên vật liệu cho sản phẩm dở dang. Xác định giá thành sản phẩm dở dang theo chi phí định mức hoặc kế hoạch. Căn cứ vào định mức tiêu hao (hoặc chi phí kế hoạch) cho các khâu, các bước, các công việc trong quá trình chế tạo sản phẩm để xác định giá trị sản phẩm dở dang. Giá trị SPDD = khối lượng SPDD x Định mức cuối kỳ cuối kỳ chi phí Phương pháp này áp dụng cho các doanh nghiệp xây dựng được hệ thống chi phí định mức và tổ chức kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành theo định mức. 2.3. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp thực hiện kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ Phương pháp kiểm kê định kỳ là phương pháp không theo dõi một cách thường xuyên, liên tục về tình hình biến động của các loại vật tư, hàng hoá, sản phẩm trên các tài khoản phản ánh từng loại hàng tồn kho mà chỉ phản ánh giá trị tồn kho đầu kỳ và cuối kỳcủa chúng trên cơ sở kiểm kê cuối kỳ, xác định lượng tồn kho thực tế. 2.3.1. Tài khoản sử dụng Do đặc điểm của phương pháp kiểm kê định kỳ là cuối kỳ kế toán tiến hành kiểm kê để xác định lượng nguyên vật liệu đã xuất trong kỳ cho nên rất khó khăn trong việc phân định là xuất cho mục đích sản xuất, quản lý hay cho tiêu thụ sản phẩm. Các tài khoản sử dụng: -Tài khoản 611 "Mua hàng" dùng để theo dõi tình hình thu mua tăng giảm nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ… trong kỳ. -Tài khoản 631 "Giá thành sản xuất" tài khoản này không có số dư được hạch toán chi tiết theo địa điểm phát sinh chi phí (phân xưởng, bộ phận sản xuất…..) và theo loại, nhóm sản phẩm, chi tiết sản phẩm,…. tương tự như tài khoản 154. Nội dung phản ánh của tài khoản 631: Bên nợ: - Phản ánh giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ - Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ Bên có: - Kết chuyển giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ -Tổng giá trị sản phẩm - Giá trị thu hồi bằng tiền hoặc phải thu ghi giảm chi phí từ sản xuất. - TK621 dùng để theo dõi chi phí nguyên vật liệu trực tiếp nhưng ở phương pháp này chi phí phản ánh trên TK 621 không ghi theo từng chứng từ xuất dùng nguyên vật liệu mà được ghi một lần vào cuối kỳ hạch toán, sau khi tiến hành kiểm kê và xác định giá trị nguyên vật liệu tồn kho và đi đường. Nội dung phản ánh của TK621 như sau: Bên nợ: - giá trị nguyên vật liệu đã xuất dùng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ. Bên có: kết chuyển chi phí nguyên vật liệu vào giá thành sản phẩm - TK 622: Chi phí nhân công trực tiếp được hạch toán trên tài khoản 622 và phương pháp tập hợp tương tự phương pháp kê khai thường xuyên. - TK 627: tập hợp chi phí sản xuất chung tương tự như phương pháp kê khai thường xuyên. 2.3.2. Phương pháp hạch toán: 2.3.2.1. Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được phản ánh trên TK 621 nhưng không ghi theo từng chứng từ xuất dùng mà được ghi một lần vào cuối kỳ hạch toán, sau khi tiến hành kiểm kê và xác định giá trị nguyên vật liệu tồn kho. Do không thực hiện kê khai thường xuyên vì vậy toàn bộ chi phí nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ xuất dùng trong kỳ sử dụng cho sản xuất trực tiếp, sản xuất chung tại các phân xưởng, cho quản lý doanh nghiệp và cho bộ phận bán hàng thường được tập hợp hết vào tài khoản 621 trừ một số trường hợp phân bổ theo định mức thì mới hạch toán chi tiết trên tài khoản 627 (2,3), 641 (2,3), 642 (2,3) Cuối kỳ sau khi tính tổng giá trị nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ xuất dùng trong kỳ theo công thức: Tổng giá trị NVL, CCDC xuất dùng trong kỳ = Giá trị NVL, CCDC tồn đầu kỳ + Giá trị NVL, CCDC nhập trong kỳ - Giá trị NVL, CCDC tồn cuối kỳ Kế toán tiến hành định khoản: + Phản ánh giá trị NVL, CCDC xuất dùng trong kỳ: Nợ TK 621 Có TK 611 + Kết chuyển toàn bộ chi phí nguyên vật liệu sử dụng trong kỳ sang TK631: Nợ TK 631 Có TK 621 Sơ đồ hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp TK 631 TK 331, 111, 112, 311, 411 TK 621 TK 6111 Kết chuyển cuối kỳ Giá trị NVL, CCDC xuất dùng trong kỳ Giá trị NVL, CCDC tăng trong kỳ Giá trị VL chưa dùng cuối kỳ TK 152, 151 K/c giá trị VL chưa dùng đầu kỳ 2.3.2.2. Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp Chi phí nhân công trực tiếp được hạch toán trên tài khoản 622 và phương pháp tập hợp tương tự phương pháp kê khai thường xuyên. Cuối kỳ để tiến hành tính giá thành kế toán kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào TK 631 theo từng đố._.i tượng. Sơ đồ hạch toán chi phí nhân công trực tiếp Trích trước tiền lương nghỉ phép của CNSX TK 335 TK 338 BHXH, BHYT, KPKĐ trích theo Tỉ lệ vào chi phí Tiền lương và phụ cấp lương phải trả cho CNTTSX TK 334 TK 622 TK 631 KCCPNCTT Kế toán phản ánh bút toán kết chuyển cuối kỳ: Nợ TK 631 Có TK 622 2.3.2.3. Hạch toán chi phí sản xuất chung Theo phương pháp kiểm kê định kỳ thì chi phí sản xuất chung vẫn được tập hợp trên tài khoản 627 như phương pháp kê khai thường xuyên. Nhưng riêng chi phí về NVL, CCDC sử dụng cho phân xưởng đã được tập hợp hết vào tài khoản 621 như đã nói ở phần hạch toán chi phí NVL trực tiếp (mục 2.3.2.1) , vì vậy tài khoản 627 không phản ánh chi tiết tiểu khoản 6272 và 6273 mà chỉ chi tiết theo 4 tiểu mục (6271, 6274, 6277, 6278). Sơ đồ hạch toán như sau: Sơ đồ hạch toán chi phí sản xuất chung TK214 TK 111, 112, 331 CP sản xuất chung khác Tính theo lương cho NVPX TK 631 KCCPSXC TK334, 338 CPNV quản lý PX TK627 CP khấu hao TSCĐ Cuối kỳ được phân bổ vào TK631 "giá thành sản xuất" chi tiết theo đối tượng để tính giá thành. Nợ TK631 Có TK627 2.3.2.4. Tổng hợp chi phí sản xuất, kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở dang Tài khoản 631 "Gía thành sản xuất" được sử dụng để tập hợp chi phí sản xuất và tính GIá THàNH SảN PHẩM , nó tương tự tài khoản 154 trong phương pháp kê khai thường xuyên nhưng nó không có số dư. Bên nợ: - Phản ánh giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ - Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ Bên có: - Kết chuyển giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ -Tổng giá trị sản phẩm - Giá trị thu hồi bằng tiền hoặc phải thu ghi giảm chi phí từ sản xuất. Quá trình tập hợp chi phí sản xuất được tiến hành như sau: - Đầu kỳ, kết chuyển giá trị sản phẩm dở dang sang tài khoản 631: Nợ TK 631: (Chi tiết đối tượng) Có TK 154: (Chi tiết đối tượng) - Trong kỳ kinh doanh, các chi phí sản xuất phát sinh được tập hợp qua các tài khoản chi phí (TK 621, TK 622, TK 627). Đối với sản phẩm đã tiêu thụ bị trả lại, phần giá vốn chuyển về nhập kho hay đang gửi tại kho người mua kế toán ghi: Nợ TK 631: (Chi tiết đối tượng) Có TK 632: (Chi tiết đối tượng) - Cuối kỳ, kết chuyển chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ theo từng loại sản phẩm: + Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Nợ TK 631: (chi tiết đối tượng) Có TK 621: (chi tiết đối tượng) + Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp Nợ TK 631 : (chi tiết đối tượng) Có TK 622 : (chi tiết đối tượng) + Kết chuyển chi phí sản xuất chung Nợ TK 631: (chi tiết đối tượng) Có TK 627: (chi tiết đối tượng) Đồng thời phản ánh các bút toán ghi giảm chi phí: Nợ TK 111, 112, 138 ... Có TK 631: Đồng thời căn cứ vào kết quả kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở dang, kế toán ghi bút toán kết chuyển giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ: Nợ TK 154 (Chi tiết đối tượng) Có TK 631(Chi tiết đối tượng) Căn cứ vào bảng, thẻ tính giá thành kế toán phản ánh tổng giá thành sản phẩm hoàn thành nhập kho trong kỳ Nợ TK 632 Có TK 631 Sơ đồ hạch toán như sau Kết chuyển GTSP DD đầu kỳ TK 154 TK 622 TK 631 TK 627 TK 621 K/c chi phí NCTT TK 621 TK 632 K/c chi phí NVL TT K/c giá trị SPDD cuối kỳ TK 632 Tổng GTSX của SP, dv hoàn thành nhập kho, gửi bán hay tiêu thụ trực tiếp K/c chi phí SXC Việc kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở dang theo phương pháp kiểm kê định kỳ được tiến hành tương tự như kê khai thường xuyên. III. Hạch toán tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp 3.1. Đối tượng, trình tự và phương pháp tính giá thành 3.1.1. Đối tượng tính giá thành Về thực chất, xác định đối tượng tính giá thành chính là việc xác định sản phẩm, bán thành phẩm, công việc, lao vụ (nhất định đòi hỏi phải tính giá thành một đơn vị). Đối tượng đó có thể là sản phẩm cuối của quá trình sản xuất hay đang trên dây truyền sản xuất tuỳ theo yêu cầu của hạch toán kinh tế nội bộ và tiêu thụ sản phẩm. Để phân biệt được đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm ngay cả khi chúng đồng nhất là một, cần dựa vào đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất (giản đơn hay phức tạp), loại hình sản xuất đơn chiếc hay hàng hoạt, yêu cầu và trình độ quản lý, tổ chức cao hay thấp…. 3.1.2 Kỳ tình giá thành Kỳ tính giá thành là khoảng thời gian mà kế toán tính giá thành cần phải tính được giá thành thực tế của sản phẩm hoàn thành. Kỳ tính giá thành phải phù hợp với chu kỳ sản xuất sản phẩm. Đối với những sản phẩm có chu kỳ sản xuất ngắn, xen kẽ liên tục như các loại sản phẩm của ngành công nghiệp tiêu dùng thì kỳ tính giá thành thường là hàng tháng, quí và thường phù hợp với kỳ báo cáo. Đối với những sản phẩm có chu kỳ sản xuất dài như công nghiệp đóng tàu, xây dựng… thì kỳ tính giá thành là thời kỳ có sản phẩm hoàn thành. 3.1.3. Các phương pháp tính giá thành Phương pháp tính giá thành là một phương pháp hoặc hệ thống các phương pháp được vận dụng để tính giá thành sản phẩm và giá thành đơn vị sản phẩm, nó mang tính chất thuần tuý kỹ thuật tính toán chi phí cho từng đối tượng tính giá thành. Có các phương pháp tính giá thành sau: Phương pháp trực tiếp Phương pháp hệ số Phương pháp định mức Phương pháp tỷ lệ Phương pháp tính giá thành phân bước không tính giá thành bán thành phẩm Phương pháp tính giá thành phân bước có tính giá thành bán thành phẩm. Trong chuyên đề này, chỉ xin trình bày hai phương pháp tính giá thành: phương pháp tính giá thành theo hệ số và phương pháp tính giá thành theo tỷ lệ. * Phương pháp trực tiếp - Phương pháp này áp dụng trong những doanh nghiệp mà trong cùng một quá trình sản xuất thu được đồng thời nhiều sản phẩm khác nhau và chi phí không tập hợp riêng cho từng loại sản phẩm được mà phải tập hợp chung cho cả quá trình sản xuất. - Theo phương pháp này, trước hết kế toán căn cứ vào hệ số quy đổi để quy đổi các sản phẩm về sản phẩm gốc rồi từ đó dựa vào tổng chi phí liên quan đến giá thành các loại sản phẩm đã tập hợp để tính ra giá thành sản phẩm gốc và giá thành sản phẩm từng loại sản phẩm. + Giá thành đơn vị = Giá thành đơn vị x hệ số qui đổi sản phẩm sản phẩm từng loại sản phẩm gốc từng loại Trong đó: Q0: Tổng số sản phẩm gốc đã qui đổi Qi: Số lượng sản phẩm i Hi: là hệ số qui đổi sản phẩm i Tổng giá thành = Giá trị sản phẩm + Tổng chi phí sản xuất - Giá trị sản sản xuất của dở dang phát sinh phẩmdở dang các loại sản phẩm đầu kỳ trong kỳ cuối kỳ * Phương pháp tỉ lệ chi phí Phương pháp này thích hợp cho các doanh nghiệp trong cùng một qui trình công nghệ sử dụng cùng một loại vật liệu tạo ra một loại sản phẩm chính nhưng có mức phẩm cấp và qui cách khác nhau. Vì vậy đối tượng tập hợp chi phí là toàn bộ qui trình công nghệ sản xuất, đối tượng tính giá thành là từng loại sản phẩm hoàn thành có mức phẩm cấp khác nhau: Giá thành thực tế = Giá thành kế hoạch (định mức) x tỉ lệ đơn vị sản phẩm từng loại đơn vị sản phẩm từng loại (chi phí) 3.2. Tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp thực hiện kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên Trong kỳ kế toán tiến hành tập hợp toàn bộ chi phí sản xuất vào các tài khoản chi phí tương ứng: TK 621, TK 622, TK 627 Cuối kỳ, tập hợp và kết chuyển toàn bộ chi phí sản xuất thực tế phát sinh sang tài khoản 154. Trên tài khoản 154 ta tiến hành xác định giá thành sản phẩm hoàn thành trong kỳ sau khi đã xác định rõ giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ. Công thức: Tổng GTSP = Giá trị SPDD + Tổng CPSX phát - Giá trị SPDD hoàn thành trong kỳ đầu kỳ sinh trong kỳ cuối kỳ Và phản ánh tổng giá thành công xưởng thực tế sản phẩm hoàn thành vào bên nợ các tài khoản tương ứng: Nợ TK 155: Nhập kho thành phẩm Nợ TK 157: Hàng gửi bán Nợ TK 632: Tiêu thụ thẳng (không qua kho) Có TK 154: Tổng giá thành sản phẩm hoàn thành 3.3. Tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp thực hiện kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ Giá thành sản phẩm theo phương pháp kiểm kê định kỳ được tính toán trên TK631 "Giá thành sản xuất". Đầu kỳ, kế toán kết chuyển giá trị sản phẩm dở dang kỳ trước trên TK 154 sang TK631. Nợ TK 631 : (chi tiết đối tượng) Có TK 154: (chi tiết đối tượng) Đồng thời, kế toán kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí sản xuất chung sang tài khoản 631 "giá thành sản xuất". + Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Nợ TK 631: (chi tiết đối tượng) Có TK 621: (chi tiết đối tượng) + Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp Nợ TK 631 : (chi tiết đối tượng) Có TK 622 : (chi tiết đối tượng) + Kết chuyển chi phí sản xuất chung Nợ TK 631: (chi tiết đối tượng) Có TK 627: (chi tiết đối tượng) - Các khoản thu hồi ghi giảm chi phí (nếu có) Nợ TK 111, 112, 138… Có TK 631 Đồng thời, kế toán tiến hành kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở dang và kết chuyển trả lại bên nợ TK154. Nợ TK 154: (chi tiết đối tượng) Có TK 631: (chi tiết đối tượng) Căn cứ vào bảng (phiếu, thẻ) tính giá thành để tính giá thành sản phẩm hoàn thành và phản ánh vào TK632 "Giá vốn hàng bán" Nợ TK 632 Có TK 631 IV. Các hình thức sổ kế toán sử dụng trong kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 4.1. Sổ kế toán Sổ kế toán là hình thức biểu hiện của phương pháp đối ứng tài khoản trên thực tế vận dụng. Nó là phương tiện vật chất cơ bản để hệ thống hoá các số liệu kế toán trên cơ sở chứng từ gốc và các tài liệu kế toán khác. Sổ kế toán có nhiều loại do yêu cầu quản lý, mỗi hình thức sổ khác nhau về: - Chức năng ghi chép của sổ - Hình thức và nội dung kết cấu - Phương pháp hạch toán và chỉ tiêu thông tin trên sổ kế toán - Cơ sở số liệu ghi chép vào sổ kế toán. 4.2. Nguyên tắc tổ chức sổ kế toán - Đảm bảo tính thống nhất giữa hệ thống tài khoản kế toán với việc xây dựng hệ thống sổ kế toán. - Kết cấu và nội dung ghi chép trên từng loại sổ (sổ nhật ký, sổ cái, sổ tổng hợp, sổ chi tiết) phài phù hợp với năng lực, trình độ tổ chức, quản lý nói chung và kế toán nói riêng. - Tổ chức hệ thống sổ kế toán phải đảm bảo tính khoa học, tiết kiệm và tiện lợi cho việc kiểm tra. - Mỗi đơn vị kế toán chỉ được mở một hệ thống sổ kế toán chính thức theo một trong các hình thức sổ nhất định (nhật ký - sổ cái, nhật ký chung, chứng từ, chứng từ - ghi sổ hay nhật ký chứng từ) Sổ quyển phải được đánh số trang và đóng dấu giáp lai giữa hai trang liền nhau. Cuối sổ phải có chữ ký của thủ trưởng đơn vị. - Bắt đầu một niên độ kế toán phải mở sổ kế toán mới. Cuối kỳ hoặc cuối niên độ kế toán phải tiến hành khóa sổ kế toán. Trong trường hợp cần thiết như: kiểm kê tài sản, kiểm toán, giải thể, sát nhập…. kế toán cũng phải tiến hành cộng sổ, tính số phát sinh, tính số dư cuối kỳ trên các tài khoản. - Việc ghi chép trên sổ kế toán phải đảm bảo rõ ràng, dễ đọc, phải ghi bằng mực tốt, không phai. Số liệu phản ánh trên sổ phải liên tục có hệ thống không được để cách dòng hoặc viết xen kẽ hay chồng lên nhau. Không được tẩy xoá, làm nhoè, làm mất sổ đã ghi. Nếu có sai sót phải chữa sổ theo phương pháp thích hợp. 4.3. Sổ kế toán sử dụng để hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Theo chế độ kế toán hiện hành thì hiện nay đang áp dụng 4 hình thức sổ kế toán cho các doanh nghiệp trong các thành phần kinh tế đó là: nhật ký sổ cái, nhật ký chung, chứng từ ghi sổ, nhật ký chứng từ. Mỗi đơn vị kế toán chỉ được mở 01 hệ thống sổ kế toán chính thức theo một trong 4 hình thức trên. Tùy theo hình thức sổ kế toán áp dụng mà doanh nghiệp phải mở những mẫu sổ gì và ghi chép như thế nào. 4.3.1. Nếu doanh nghiệp áp dụng hình thức nhật ký sổ cái * Đặc điểm: Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được kết hợp ghi chép theo trình tự thời gian và theo nội dung kinh tế (theo tài khoản kế toán) trên cùng một quyển sổ kế toán tổng hợp duy nhất là nhật ký sổ cái. Căn cứ để ghi vào nhật ký sổ cái là các chứng từ gốc hoặc bảng tổng hợp chứng từ gốc. * Sổ sách: Hình thức nhật ký sổ cái sử dụng các loại sổ kế toán sau: - Nhật ký sổ cái. - Các sổ, thẻ kế toán chi tiết. * Trình tự ghi sổ. Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức Nhật ký - Sổ cái  Chứng từ gốc Sổ quỹ Sổ thẻ kế toán chi tiết Bảng tổng hợp chứng từ gốc Nhật ký - Sổ cái Bảng tổng hợp chi tiết Báo cáo tài chính Ghi hàng ngày Ghi cuối tháng Đối chiếu, kiểm tra * Điều kiện áp dụng - Doanh nghiệp có quy mô nhỏ, khối lượng nghiệp vụ phát sinh ít, doanh nghiệp sử dụng ít tài khoản. - Trình độ quản lý thấp, mô hình quản lý tập trung một cấp. - Trình độ kế toán thấp, cần ít lao động kế toán. 4.3.2. Nếu doanh nghiệp áp dụng hình thức nhật ký chung * Đặc điểm: Tất cả các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh đều phải được ghi vào nhật ký mà trọng tâm là nhật ký chung, theo trình tự thời gian phát sinh và định khoản kế toán của nghiệp vụ đó. Sau đó lấy số liệu trên các sổ nhật ký để ghi số cái theo từng nghiệp vụ phát sinh. * Sổ sách: Hình thức nhật ký chung sử dụng các loại sổ kế toán chủ yếu sau: - Sổ nhật ký chung. - Sổ nhật ký đặc biệt. - Sổ cái. - Các sổ, thẻ kế toán chi tiết. * Trình tự ghi sổ: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức Nhật ký chung Chứng từ gốc Bảng cân đối số phát sinh Bảng tổng hợp chi tiết Báo cáo tài chính Ghi hàng ngày Ghi cuối tháng Đối chiếu, kiểm tra Sổ, thẻ kế toán chi tiết Sổ nhật ký chung Sổ nhật ký đặc biệt Sổ cái * Điều kiện áp dụng: - Điều kiện kế toán thủ công + Quy mô hoạt động vừa, nhỏ. + Loại hình hoạt động đơn giản. + Điều kiện phân công lao động kế toán, yêu cầu phân công lao động kế toán - Điều kiện kế toán bằng máy: nhật ký chung phù hợp với mọi loại hình quy mô của đơn vị kế toán. 4.3.3. Nếu doanh nghiệp áp dụng hình thức chứng từ ghi sổ * Đặc điểm: Căn cứ trực tiếp để ghi sổ kế toán tổng hợp là chứng từ ghi sổ. Việc ghi sổ kế toán tổng hợp bao gồm: + Ghi theo trình tự thời gian trên sổ đăng ký chứng từ ghi sổ. + Ghi theo nội dung kinh tế trên sổ cái. Chứng từ ghi sổ do kế toán lập trên cơ sở chứng từ gốc hoặc bảng tổng hợp chứng từ gốc cùng loại, có cùng nội dung kinh tế. Chứng từ ghi sổ được đánh số hiệu liên tục trong từng tháng hoặc cả năm (theo số thứ tự trong sổ đăng ký chứng từ ghi sổ và có chứng từ gốc đính kèm, phải được kế toán trưởng duyệt trước khi ghi sổ kế toán. * Sổ sách Hình thức chứng từ ghi sổ sử dụng các loại sổ sau: - Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ. - Sổ cái. - Các sổ, thẻ kế toán chi tiết. * Điều kiện áp dụng: Thích hợp với mọi loại quy mô doanh nghiệp. Kết cấu sổ sách đơn giản, dễ ghi cho lên phù hợp với lao động kế toán thủ công và kế toán máy. * Trình tự ghi sổ: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức chứng từ ghi sổ Bảng cân đối số phát sinh Bảng tổng hợp chi tiết Báo cáo tài chính Ghi hàng ngày Ghi cuối tháng Đối chiếu, kiểm tra Sổ cái Chứng từ gốc Sổ quỹ Sổ thẻ kế toán chi tiết Bảng tổng hợp chứng từ gốc Chứng từ ghi sổ Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ 4.3.4. Nếu doanh nghiệp áp dụng hình thức nhật ký chứng từ: * Đặc điểm: - Tập hợp và hệ thống hóa các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo bên có của các tài khoản kết hợp với việc phân tích các nghiệp vụ kinh tế đó theo các tài khoản đối ứng nợ. - Kết hợp chặt chẽ việc ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo trình tự thời gian với việc hệ thống hóa các nghiệp vụ theo nội dung kinh tế (theo tài khoản). * Sổ sách: Hình thức nhật ký chứng từ sử dụng các loại sổ kế toán sau: - Nhật ký chứng từ. - Bảng kê. - Bảng phân bổ. - Sổ cái. - Sổ, thẻ kế toán chi tiết. *Trình tự ghi sổ. Chứng từ gốc và các bảng phân bổ Báo cáo tài chính Bảng tổng hợp chi tiết Ghi hàng ngày Ghi cuối tháng Đối chiếu, kiểm tra Thẻ và sổ kế toán chi tiết Nhật ký chứng từ Bảng kê Sổ cái * Điều kiện áp dụng: - Doanh nghiệp có quy mô lớn, loại hình kinh doanh phức tạp. - Doanh nghiệp có trình độ quản lý, trình độ kế toán cao. - Doanh nghiệp thực hiện kế toán thủ công và kế toán máy. * Trích dẫn một số mẫu sổ kế toán trong hình thức nhật ký chứng từ sử dụng để hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Bảng phân bổ số 1: Bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội TT Ghi Có TK Ghi Nợ TK TK334 - Phải trả công nhân viên TK 338 - Phải trả, phải nộp khác TK 335 CP phải trả Tổng cộng Lương Các khoản phụ khác Các khoản khác Cộng có TK 334 Kinh phí công đoàn (3382) Bảo hiểm xã hội (3383) Bảo hiểm y tế (3384) Cộng Có TK 338 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 TK 622 - CP NCTT ......... TK 627 - CPSX chung .......... TK 641 - CP bán hàng TK 642 - CP QLDN TK 242 - CP trả trước. TK335 - CP phải trả. TK 241 - XDCB dở dang. TK 334 - Phả trả CNV. TK338 - Phải trả, PN khác ......... Cộng Bảng phân bổ số 2: Bảng phân bổ Nguyên vật liệu - Công cụ dụng cụ TT Ghi Có TK Ghi Nợ TK TK 152 - Nguyên vật liệu TK 153 - CCDC Hạch toán Thực tế Hạch toán Thực tế 1 2 3 4 5 6 1 2 3 4 5 6 7 8 9 TK 621 - CP NVL TT ......... TK 627 - CPSX chung .......... TK 154 - CPSXKD DD TK 641 - CP bán hàng TK 642 - CP QLDN TK 242 - CP trả trước. TK335 - CP phải trả. TK 241 - XDCB dở dang. ......... Cộng Bảng phân bổ số 3: Bảng tính và phân bổ khấu hao Số TT Chỉ tiêu Tỷ lệ khấu hao (%) hoặc thời gian sử dụng Nơi sử dụng Toàn DN TK 627 - CPSX chung TK 641 - CP bán hàng TK 642- CPQLDN TK 241 - XDCBDD TK 242- CP trả trước TK 335 - CP phải trả PX (SP) ....... Nguyên giá TSCĐ Số khấu hao 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 1 2 3 4 5 6 7 I- Số KH đã trích tháng trước II-Số KHTSCĐ tăng trong tháng ............... III-Số KHTSCĐ giảm trong tháng ........... IV-Số KH phải trích tháng này ............. Bảng kê số 4: Tập hợp chi phí sản xuất theo phân xưởng dùng cho các tài khoản 154, 631, 621, 622, 627. TT TK ghi có TKghi nợ 152 153 154 214 241 242 334 335 338 611 621 622 627 631 Các TK phản ánh ở các NKCT khác Công CP thực tế PS trong tháng NKCT số 1 .. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 2 3 4 TK 154 hoặc TK631 ......... TK 621-CPNVL TT ........... TK 622 - CPNC TT .......... TK 627 - CPSX chung ............ Cộng Bảng kê số 5 Tập hợp chi phí đầu tư xây dựng cơ bản, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp TT TK ghi có TKghi nợ 152 153 154 214 241 242 334 335 338 611 621 622 627 631 Các TK phản ánh ở các NKCT khác Công CP thực tế PS trong tháng NKCT số 1 .. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 1 2 3 4 5 6 TK 2411-Mua sắm TKCĐ TK 2412-XDCB Hạng mục ............ TK 2413-Sửa chữa lớn TSCĐ TK 641 6411 6412 ........ TK 642 6421 6422 ........ Cộng Bảng kê số 6 Tập hợp chi phí trả trước, chi phí phải trả Số TT Diễn giải Số dư đầu tháng Ghi nợ TK..., ghi Có các TK... Ghi có TK ..., ghi Nợ các TK... Số dư cuối tháng Nợ Có ....... Cộng Nợ ..... Cộng Có Nợ Có 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Cộng Nhật ký chứng từ số 7: Phần I: Tập hợp chi phí sản xuất, kinh doanh toàn doanh nghiệp. TT TK ghi có TKghi nợ 152 153 154 214 241 242 334 335 338 611 621 622 627 631 Các TK phản ánh ở các NKCT khác Công CP thực tế PS trong tháng NKCT số 1 .. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 1 2 3 4 5 6 7 TK 154 TK 631 TK..... TK 621 TK 622 TK 627 TK...... Cộng A 8 9 10 11 TK 152 TK.... TK 632 TK ..... Cộng B Cộng A + B Phần II: Chi phí sản xuất kinh doanh tính theo yếu tố Số TT Tên TK Yếu tố chi phí SXKD LCNB không tính vào CPSXKD Tổng cộng chi phí NVL NL, động lực Lương và các khoản phụ cấp BHXH, BHYT, KPCĐ Chi phí KHTSCĐ CPDV mua ngoài CP bằng tiền khác Cộng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 1 2 3 4 5 6 7 TK 154 TK 631 TK.... TK 621 TK 622 TK 627 TK..... Cộng trong tháng Lũy kế từ đầu năm PHẦN II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HẠCH TOÁN KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY NHỰA HÀ NỘI I. Đặc điểm chung của Công ty nhựa Hà Nội 1.1. Lịch suwr hình thành và phát triển của Công ty nhựa Hà Nội 1.1.1. Lịch sử hình thành của Công ty Nhựa Hà Nội Công ty Nhựa Hà Nội trực thuộc Sở công nghiệp Hà Nội, đặt tại 27 Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Tiền thân của Công ty là Xí nghiệp Nhựa Lợi Thành ra đời vào tháng 10 năm 1959. Năm 1972, theo quyết định số 126/UBCN ngày 24/1/1972 của UBND thành phố Hà Nội đổi tên thành Xí nghiệp Nhựa Hà Nội. Năm 1993, Xí nghiệp Nhựa Hà Nội một lần nữa lại đổi tên thành Công ty Nhựa Hà Nội theo quyết định số 2977/QĐ-UB ngày 10/8/1993 của UBND thành phố Hà Nội và tiếp tục được duy trì cho đến ngày nay, đó là tên gọi và cũng là tên giao dịch của Công ty. 1.1.2. Quá trình hoạt động và phát triển của Công ty Nhựa Hà Nội Công ty Nhựa Hà Nội là một Doanh nghiệp Nhà nước có tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập, tự chủ về mặt tài chính, có con dấu riêng, có tài khoản tại Ngân hàng. Khi mới thành lập Công ty chuyên sản xuất gia công các loại sản phẩm bằng nhựa phục vụ cho người tiêu dùng và xuất khẩu. Nhưng do cơ sở vật chất kỹ thuật còn yếu kém, trình độ công nhân còn thấp, không có kỹ sư chuyên ngành, chủng loại sản phẩm ít... do đó Công ty vấp phải rất nhiều khó khăn. Trải qua nhiều năm phấn đấu lao động và trưởng thành liên tục, cho đến nay Công ty đã có hơn 200 cán bộ công nhân viên với tay nghề cao. Công ty đã trang bị cho mình một hệ thống máy móc tiên tiến, hiện đại đáp ứng yêu cầu sản xuất những mặt hàng cao cấp phục vụ cho những hãng sản xuất xe đạp, xe máy, các đồ nội thất cao cấp và đáp ứng được cả những yêu cầu của những khách hàng khó tính nhất. Ngày nay Công ty Nhựa Hà Nội được coi là một trong những con chim đầu đàn của ngành chế phẩm nhựa, có uy tín và chỗ đứng vững chắc trên thị trường. Các chỉ tiêu phản ánh quá trình phát triển của Doanh nghiệp ĐVT: ĐỒNG STT Các chỉ tiêu Năm 2002 Năm 2003 1 Tổng tài sản 30.155.580.782 43.072.982.314 2 Nguồn vốn kinh doanh 5.329.786.905 19.734.799.875 3 Tổng doanh thu chưa thuế 33.176.000.000 40.000.000.000 4 Tổng giá vốn hàng bán 29.245.460.000 33.155.458.000 5 Lợi nhuận trước thuế 3.930.540.000 6.844.541.900 6 Lợi nhuận sau thuế 2.672.767.852 4.654.288.497 7. Tổng số lao động (người) 230 230 8. Thu nhập bình quân 12.552.000 15.600.000 1.2. Chức năng nhiệm vụ của Công ty - Xây dựng và thực hiện kế hoạch của Công ty, không ngừng nâng cao hiệu quả sản phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh đáp ứng ngày càng nhiều hàng hoá cho thị trường, tự bù đắp chi phí, trang trải các khoản nợ và làm tròn nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước trên cơ sở vận dụng năng lực sản xuất, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. - Thực hiện phân phối theo lao động và công bằng xã hội, tổ chức chăm lo đời sống công nhân viên trong Doanh nghiệp. - Mở rộng liên doanh, liên kết với các cơ sở kinh tế trong và ngoài quốc doanh, tăng cường hợp tác kinh tế với nước ngoài, phát huy vai trò chủ đạo của nền kinh tế quốc dân, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển. - Bảo vệ Công ty, bảo vệ môi trường, làm tròn nghĩa vụ quốc phòng tuân thủ pháp luật, hạch toán báo cáo trung thực, không ngừng bổ sung đổi mới phát triển hoàn thiện tổ chức sản xuất, đưa thu nhập Công ty tăng lên... 1.3. Cơ cấu tổ chức của Công ty 1.3.1. Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban trong Công ty - Giám đốc: là ngưòi có quyền cao nhất, chỉ đạo mọi hoạt động của Công ty, đồng thời chịu trách nhiệm trước Nhà nước về hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. - Phó giám đốc: là người giúp việc cho Giám đốc, có nhiệm vụ tư vấn cho Giám đốc, phụ trách kỹ thuật sản xuất của Công ty và phải chịu trách nhiệm trước Giám đốc về công việc mà mình điều hành, giám sát. - Phòng kỹ thuật cơ điện: có nhiệm vụ tính toán và đưa ra các định mức kỹ thuật về vật tư, lao động. Trực thuộc phòng kỹ thuật cơ điện còn có phòng máy tính có nhiệm vụ khai thác kỹ thuật của máy tính vào ứng dụng trong công tác quản lý. - Phòng kỹ thuật công nghệ: có nhiệm vụ nghiên cứu và đưa ra các tiến bộ khoa học kỹ thuật ứng dụng trong sản xuất, xây dựng các quy trình công nghệ cho sản xuất sản phẩm, tham gia vào việc nâng cao bậc tay nghề cho công nhân và đào tạo lại trình độ công nhân cùng với phòng tổ chức hành chính. - Phòng tiêu chuẩn đo lường chất lượng: có nhiệm vụ xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật, sau đó căn cứ vào các tiêu chuẩn kỹ thuật đã xây dựng mà xem xét, kiểm tra chất lượng sản phẩm có đạt được các tiêu chuẩn cần thiết đó hay không. - Phòng thí nghiệm: là phòng nghiên cứu, chế thử sản phẩm mới đưa vào sản xuất và định mức kinh tế kỹ thuật, giám định chất lượng sản phẩm. - Phòng kế hoạch sản xuất: lập kế hoạch sản xuất, điều phối sản xuất, khai thác nguồn và thu mua vật tư cho sản xuất, lên kế hoạch sản phẩm, thiết bị vật tư lao động và thời gian trình Giám đốc cho thực hiện kiểm tra theo dõi tiến độ kế hoạch và chất lượng hợp đồng đã ký. Xây dựng kế hoạch hàng ngày, tháng, quý, năm... giúp Giám đốc theo dõi quá trình sản xuất và phụ trách công tác hợp đồng giữa Công ty với các đơn vị khác. - Phòng tổ chức hành chính: có nhiệm vụ tổ chức sắp xếp lại lao động trong toàn Công ty. Đảm bảo chế độ tiền lương, tiền thưởng, chế độ chính sách xã hội cho cán bộ nhân viên theo đúng quy định của Nhà nước, tổ chức nâng cao tay nghề, nâng cao bậc lương, giải quyết các chế độ về hưu, mất sức...theo nguyện vọng của công nhân và theo đúng chế độ chính sách của Nhà nước. Ngoài ra phòng này còn có bộ phận y tế có nhiệm vụ kiểm tra sức khoẻ cho toàn bộ công nhân viên chức của Công ty và giải quyết các tai nạn lao động. - Phòng kế toán: quản lý tiền mặt, vốn và các chi phí sản xuất của Công ty. Chịu trách nhiệm trước Giám đốc về việc thực hiện chế độ hạch toán kế toán, chi trả lương cho cán bộ công nhân viên. Kiểm tra theo dõi và giám sát thường xuyên các khoản thu chi của Công ty, tăng cường công tác quản lý vốn, hạch toán lỗ lãi, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn để bảo toàn và phát triển vốn kinh doanh. Thông qua việc quản lý nguồn tài chính giúp Giám đốc nắm bắt được toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, phân tích hoạt động kinh tế hàng tháng để chủ động trong sản xuất kinh doanh. Quan hệ giao dịch với khách hàng, cơ quan tài chính chủ quản của cấp trên để thực hiện các yêu cầu chỉ đạo báo cáo định kỳ, đảm bảo nghiêm chỉnh theo pháp luật và các quy định của cơ quan chức năng. Phòng bảo vệ: bảo vệ an toàn Công ty, giữ gìn an ninh chính trị, kinh tế và an toàn phòng cháy chữa cháy và các an toàn khác. 1.3.2. Sơ đồ tổ chức bộ máy của Công ty Giám đốc Phó giám đốc phụ trách hành chính Phó giám đốc phụ trách kỹ thuật Phòng hành chính Phòng tổ chức tiền lương Phòng bảo vệ Phòng tài chính kế toán Phòng kế hoạch Phòng Marke ting Phòng kỹ thuật công nghệ Phòng kỹ thuật cơ điện Phòng KCS Phòng thí nghiệm Phân xưởng lắp ráp và hoàn thiện sản phẩm Phân xưởng nhựa 1 Phân xưởng nhựa 2 Phân xưởng cơ khí Phân xưởng tiền xử lý nguyên liệu Như vậy với cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý theo kiểu trực tuyến chức năng và tuân theo chế độ một thủ trưởng tương đối chặt chẽ như vậy Công ty đã đáp ứng được nhu cầu đặt ra của sản xuất kinh doanh. 1.4. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của Công ty 1.4.1. Các mặt hàng kinh doanh chủ yếu Các sản phẩm chính của Công ty Nhựa Hà Nội gồm có: - Đồ nhựa gia dụng: dép, xô - Chai dầu phanh, lọ nhựa các loại - Vỏ Starte - Đồ nội thất nhà tắm: khung, te, trục gương... - Chi tiết xe đạp: hộp xích, cài vành... - Chi tiết xe máy: nắp hộp xích, mặt đồng hồ... 1.4.2. Các thị trường chính của Công ty Các sản phẩm của Công ty được tiêu thụ chính ở thị trường trong nước, phục vụ chủ yếu cho các Công ty trong nước và thị trường tiêu dùng. Ngoài ra Công ty đã và đang thực hiện các hợp đồng với một số Công ty liên doanh nước ngoài: Công ty Honda Việt Nam, Công ty Liên doanh Sứ Phú Mỹ, Công ty thương mại Châu á, Công ty Kim khí Thăng Long, Vilacera, Hashimoto... đặc biệt Công ty đang sản xuất chi tiết sản phẩm cho Công ty Vilacera và từ năm 1999 Công ty đã ký kết được nhiều hợp đồng gia công xuất khẩu các chi tiết phụ kiện đường ống tiêu chuẩn Nhật Bản bằng nhựa PVC Companna. 1.4.3. Đặc điểm về công nghệ sản xuất của Công ty Từ những khuôn mẫu có sẵn Công ty sản xuất ra những sản phẩm từ nguyên vật liệu ban đầu. Mà nguyên vật liệu của Công ty rất da dạng theo sự đa dạng ban đầu của sản phẩm, chủ yếu là hạt PVC, PE, ABS... Các sản phẩm phải được trải qua công đoạn hoàn thiện, chỉnh sửa mới đưa vào nhập kho. Cơ cấu sản xuất này đã tạo điều kiện cho Công ty dễ dàng vận động thích nghi với những thành đổi của thị trường. Hơn nữa do các khuôn mẫu sản xuất được tạo ra cho mỗi đơn đặt hàng, nên sản phẩm của Công ty luôn đáp ứng được yêu cầu của khách hàng về quy cách, mẫu mã, kích thước. Điều này đã giúp cho mối quan hệ kinh doanh giữa Công ty với khách hàng sẽ được bền lâu, vững chắc. Đồng thời cơ cấu sản xuất này cũng đã giảm bớt các khâu trung gian không cần thiết, từ đó hạ được giá thành sản phẩm và tăng khả năng cạnh tranh của Công ty trên thị trường. Quy trình sản xuất sản phẩm bằng hạt PP-PE-PS-ABS: Từ nguyên liệu là các hạt PP-PE-PS-ABS nhập ngoại được đưa vào Công ty sau đó được pha chế, trộn mẫu theo mẫu đặt hàng của khách sau đó được đưa vào máy đã có khuôn sẵn, máy tự động ép phun nhựa đã pha trộn vào khuôn. Sau đó bán thành phẩm được lấy ra, sửa ba-via tạo thành sản phẩm hoàn chỉnh và nhập kho sau khi đã gom lại cuối ngày. Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm từ hạt nhựa PP-PE-PS-ABS: Hạt PP-PE- PS-ABS Pha chế trộn theo mẫu Máy ép phun nhựa Bán thành phẩm Sửa ba via Gom lại, phân loại nhập kho Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm từ hạt nhựa PP-PE-PS-ABS: Riêng đối với sản phẩm nhựa làm từ bột PVC phức tạp hơn các sản phẩm làm từ hạt PP-PE-PS-ABS ở chỗ muốn tạo ra hạt PVC phải trải qua một số bước: Từ bột nhựa PVC sau đó trộn với dầu hoá dẻo DOP theo tỷ lệ rồi đưa vào máy khuấy trộn với phụ gia tạo ra hạt nhựa PVC, sau đó từ hạt nhựa PVC tạo ra các sản phẩm. Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất từ bột PVC Bột nhựa PVC&đầu hoá dẻo DOP Khuấy trộn phụ gia Máy tạo hạt nhựa Máy ép nhựa Bán thành phẩm Sửa ba via Thành phẩm Gom lại, phân loại nhập kho Quy trình Quy trình sản xuất dép nhựa (dép HT) Bột PVC & Dầu DOP Khuấy ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docBKT1142.doc
Tài liệu liên quan