Hoạt động Nhập khẩu phôi thép tại Văn phòng Tổng Công ty Thép Việt Nam trong điều kiện hội nhập

Tài liệu Hoạt động Nhập khẩu phôi thép tại Văn phòng Tổng Công ty Thép Việt Nam trong điều kiện hội nhập: LỜI MỞ ĐẦU Lý do chọn đề tài Với chính sách mở cửa nền kinh tế của Đảng và Nhà nước đã tạo tiền đề cho kinh tế đối ngoại phát triển, giúp Việt Nam hoà mình vào xu thế phát triển chung của khu vực và thế giới. Ngoại thương ngày càng trở nên quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam đặc biệt là trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá như hiện nay. Thông qua ngoại thương, đặc biệt là hoạt động nhập khẩu, ngành công nghiệp còn non trẻ của chúng ta có điều kiện bổ sung nh... Ebook Hoạt động Nhập khẩu phôi thép tại Văn phòng Tổng Công ty Thép Việt Nam trong điều kiện hội nhập

doc95 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1437 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Hoạt động Nhập khẩu phôi thép tại Văn phòng Tổng Công ty Thép Việt Nam trong điều kiện hội nhập, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ững nguồn lực cho sản xuất nhằm phục vụ cho nhu cầu trong nước. Là một trong những ngành công nghiệp trọng điểm của Việt Nam, ngành thép cũng đang đứng trước những thách thức của quá trình hội nhập. Mặc dù được quan tâm phát triển ngay từ khi mới ra đời nhưng với sự lệch lạc trong quá trình phát triển đã khiến cho đến nay ngành thép Việt Nam phụ thuộc quá lớn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Các doanh nghiệp thép Việt Nam trong một thời gian dài chỉ quan tâm đến đầu tư vào các nhà máy cán thép mà bỏ qua đầu tư sản xuất phôi thép để đến nay khả năng sản xuất phôi của Việt Nam chỉ chiếm 40% nhu cầu trong nước. Với việc phụ thuộc lớn vào lượng phôi nhập khẩu trong điều kiện có nhiều biến động phức tạp của thị trường thép thế giới, hoạt động nhập khẩu phôi thép tại Việt Nam có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của ngành thép nội địa. Với vị trí hỗ trợ nhà nước trong việc điều tiết thị trường thép Việt Nam, Tổng công ty Thép đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển của ngành thép. Mặc dù đã có sự quan tâm sớm đến hoạt động sản xuất phôi thép nhưng hiện nay nhập khẩu vẫn được coi là hoạt động thường nhật của Tổng công ty thép. Với mong muốn tìm hiểu về hoạt động nhập khẩu phôi thép cũng như những tác động của quá trình hội nhập đến ngành thép thông qua hoạt động này, em đã chọn đề tài “Hoạt động nhập khẩu phôi thép tại Văn phòng Tổng công ty Thép Việt Nam trong điều kiện hội nhập” làm luận văn tốt nghiệp của mình. Phương pháp nghiên cứu Đề tài được nghiên cứu dựa trên những cơ sở lý luận về thương mại quốc tế cùng với sự hỗ trợ của các phương pháp phân tích kinh tế, thu thập số liệu và nắm bắt thông tin qua quá trình khảo sát thực tế hoạt động nhập khẩu phôi thép tại Văn phòng Tổng công ty Thép Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu Số lượng các doanh nghiệp hoạt động trong ngành thép ngày càng nhiều. Trong đó, Tổng công ty Thép Việt Nam là doanh nghiệp lớn nhất và nắm vị trí chủ đạo của ngành thép nước ta. Sau khi chuyển sang mô hình công ty mẹ - con, công ty mẹ Tổng công ty Thép Việt Nam bao gồm 12 đơn vị trực thuộc, 7 công ty con  và 22 công ty liên doanh. Trong đó có 25 công ty trực tiếp sản xuất, 6 công ty thương mại và 10 đơn vị là các viện, trường, dịch vụ, phụ trợ... Trên cơ sở nghiên cứu về Tổng công ty Thép dưới giác độ từ cơ quan Văn phòng của Tổng công ty rút ra những tồn tại của doanh nghiệp thép nói riêng và cả ngành thép nói chung dưới tác động của quá trình hội nhập. Kết cấu chuyên đề Nội dung chính của luận văn gồm 3 chương : Chương I: Một số lý luận chung về hoạt động nhập khẩu và vai trò của hoạt động nhập khẩu phôi thép đối với ngành thép Việt Nam trong điều kiện hội nhập Chương II: Thực trạng hoạt động nhập khẩu phôi thép tại Tổng công ty Thép Việt Nam dưới tác động của quá trình hội nhập Chương III: Phương hướng và một số giải pháp cho hoạt động nhập khẩu phôi thép trong điều kiện hội nhập CHƯƠNG I MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU VÀ VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU PHÔI THÉP ĐỐI VỚI NGÀNH THÉP VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP 1.1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP 1.1.1. Nhập khẩu và vai trò của nhập khẩu trong điều kiện hội nhập 1.1.1.1. Sự cần thiết của nhập khẩu trong điều kiện hội nhập Ngày nay, cùng với sự phát triển và mở rộng không ngừng của quá trình quốc tế hoá và toàn cầu hoá, các quốc gia trên thế giới không còn là các quốc gia đơn lẻ nữa mà trở thành một trong những mắc xích quan trọng trong mạng lưới kinh tế, chính trị toàn cầu. Khoa học công nghệ và kỹ thuật không ngừng tiến bộ và phát triển nhưng nó lại không tập trung hoàn toàn ở bất cứ quốc gia nào. Mỗi một quốc gia nhiều hay ít đều nắm giữ riêng cho mình một công nghệ, một bí quyết sản xuất riêng hay một thế mạnh đặc thù. Do đó, để có thể cùng nhau chia sẻ sự tiến bộ của khoa học công nghệ, các quốc gia phải tham gia vào thương mại quốc tế mà hình thức cụ thể là thông qua hoạt động xuất nhập khẩu. Bên cạnh đó, dựa vào vị trí địa lý cũng như tài nguyên thiên nhiên của mình, mỗi quốc gia xác định được thế mạnh riêng. Những nước có giàu tài nguyên thì đẩy mạnh khai thác nó (các nước dầu mỏ OPEC), những nước kém tài nguyên thì lại lựa chọn cho mình con đường sử dụng nguồn nhân lực của mình để phát triển (Nhật Bản). Chính từ sự khác nhau đó, các nước hình thành nên những lợi thế so sánh riêng, dựa vào đó mà các nước tiến hành trao đổi, buôn bán với nhau. Và sự trao đổi này diễn ra thông qua hoạt động xuất nhập khẩu. Như vậy có thể nói, cùng với sự hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, hoạt động buôn bán ngoại thương ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Là một bộ phận không thể thiếu của thương mại quốc tế, nhập khẩu được hiểu là sự mua bán hàng hoá, dịch vụ từ nước ngoài về phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước hoặc tạm nhập tái xuất nhằm thu lợi nhuận. Nó thể hiện sự phụ thuộc lẫn nhau giữa nền kinh tế của một quốc gia với phần còn lại của thể giới. Thông qua hoạt động nhập khẩu, các quốc gia bổ sung cho mình những hàng hóa trong nước không sản xuất được hoặc sản xuất không đủ cung cấp cho nhu cầu nội địa với chi phí thấp hơn hay cung cấp nguyên liệu cho sản xuất trong nước. Như vậy trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập, hoạt động nhập khẩu nói riêng và thương mại quốc tế nói chung chính là cầu nối nền kinh tế trong nước với thế giới, biến nền kinh tế thế giới thành nơi cung cấp các “yếu tố đầu vào” và tiêu thụ các “sản phẩm đầu ra” trong hệ thống kinh tế toàn cầu. 1.1.1.2. Vai trò của hoạt động nhập khẩu đối với nền kinh tế Việt Nam Việt Nam đang trên con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước và từng bước hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu. Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam hiện nay, vai trò của nhập khẩu được thể hiện ở những khía cạnh sau: 1.1.1.2.1. Nhập khẩu tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá đất nước. Công nghiệp hoá là quá trình chuyển đổi nền kinh tế một cách cơ bản từ lao động thủ công sang lao động bằng cơ khí ngày càng hiện đại hơn. Với xuất phát điểm là một nước nông nghiệp lạc hậu, để tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, Việt Nam phải thay đổi căn bản nền sản xuất trong nước theo hướng hiện đại hoá. Muốn làm vậy, chúng ta phải tiến hành đổi mới máy móc, công nghệ, thiết bị của các ngành kinh tế mũi nhọn như công nghiệp điện và điện tử, công nghiệp đóng tàu, công nghiệp gang thép, công nghiệp chế biến... Như vậy, nhập khẩu chính là một kênh cung cấp công nghệ cho quá trình công nghiệp hoá đất nước. Những năm qua, cùng với sự thay đổi trong cơ cấu nhập khẩu thì cơ cấu GDP cũng thay đổi theo. Cụ thể cơ cấu nhập khẩu của Việt Nam có sự biến động giữa hai nhóm hàng tư liệu sản xuất và vật liệu tiêu dùng. Nhập khẩu hàng tiêu dùng có xu hướng giảm trong 10 năm trở lại đây do sản xuất trong nước đã phần nào đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng nội địa. Nhập khẩu máy móc, công nghệ, thiết bị, nguyên vật liệu luôn chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu hàng nhập khẩu. Điều này góp phần thúc đẩy nền công nghiệp trong nước phát triển, làm tăng tỷ lệ đóng góp của ngành trong cơ cấu GDP cả nước. Bảng 1: GDP phân theo khu vực kinh tế Đơn vị: % Năm Tổng số Nông - lâm - ngư nghiệp Công nghiệp và xây dựng Dịch vụ 1990 100,00 38,74 22,67 38,59 1995 100,00 27,18 28,76 44,06 2000 100,00 24,53 36,73 38,74 2005 100,00 20,97 41,02 38,01 2006 100,00 20,36 41,56 38,08 2007 100,00 17,8 41,76 40,43 (Nguồn: Tổng cục thống kê và Như vậy, nhập khẩu cũng đã có tác động thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá đất nước. 1.1.1.2.2. Nhập khẩu giúp bổ sung kịp thời những mặt cân đối của nền kinh tế đảm bảo phát triển kinh tế cân đối và ổn định Một nền kinh tế muốn phát triển tốt cần đảm bảo sự cân đối theo những tỷ lệ nhất định như cân đối giữa tiết kiệm và tiêu dùng, giữa hàng hoá và lượng tiền trong lưu thông, giữa xuất khẩu và nhập khẩu trong cán cân thanh toán quốc tế. Nhập khẩu có tác động rất tích cựu thông qua việc cung cấp các điều kiện đầu vào làm cho sản xuất phát triển, mặt khác tạo điều kiện để các quốc gia chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tận 1.1.1.2.3. Nhập khẩu góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân Nhập khẩu có vai trò làm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của nhân dân về hàng tiêu dùng mà trong nước không sản xuất được hoặc sản xuất không đáp ứng đủ nhu cầu. Thông qua nhập khẩu, nhân dân có nhiều sự lựa chọn sản phẩm hơn cho cuộc sống, góp phần giảm bớt khoảng cách về mức sống so với các nước khác. Nhập khẩu đồng thời tạo ra tính cạnh tranh cho sản xuất trong nước. Trên cơ sở đó buộc các doanh nghiệp trong nước không ngừng nâng cao chất lượng, kiểu dáng, mẫu mã, chủng loại cho sản phẩm của mình. Rõ ràng, trên phương diện này, nhập khẩu đã đem lại một tác động kép tích cực cho nền kinh tế. 1.1.1.2.4. Nhập khẩu có vai trò thúc đẩy xuất khẩu Sự tác động này thể hiện ở chỗ nhập khẩu tạo đầu vào cho sản xuất hàng xuất khẩu, điều này đặc biệt quan trọng đối với các nước đang và kém phát triển như Việt Nam, vì khả năng sản xuất của các quốc gia này còn hạn chế. Điều này thể hiện rõ quan niệm hiện nay “lấy nhập khẩu để nuôi xuất khẩu” và sự phát triển gia công xuất khẩu ở Trung Quốc hay ở Việt Nam đã chứng minh cho điều này. 1.1.2. Các hình thức nhập khẩu Do tính chất phong phú và đa dạng của các đối tượng buôn bán quốc tế, các đơn vị kinh tế tham gia vào hoạt động nhập khẩu, cũng như các quy định của nhà nước, nhập khẩu được biểu hiện dưới các hình thức sau: 1.1.2.1. Nhập khẩu tự doanh Nhập khẩu tự doanh là hình thức nhập khẩu trong đó bên nhập khẩu trực tiếp nhập khẩu với danh nghĩa và chi phí của mình, rồi sau đó tiến hành kinh doanh, bán hàng nhập khẩu cho khách hàng trong nước có nhu cầu. Đặc điểm của nhập khẩu tự doanh: Hoạt động theo hình thức này thì độ rủi ro và độ mạo hiểm của doanh nghiệp là rất cao do họ tự bỏ mọi chi phí cũng như tự tiến hành tiêu thụ hàng nhập khẩu. Khối lượng công việc rất lớn. Theo hình thức này, doanh nghiệp phải tiến hành nghiên cứu thị trường trong và ngoài nước, tính toán đầy đủ các chi phí, thiết lập phương án kinh doanh, đảm bảo kinh doanh có lãi, đúng phương hướng, chính sách luật pháp quốc gia và quốc tế Đây là hình thức đem lại lợi nhuận cao nhất do không mất chi phí trung gian Thông thường, doanh nghiệp chỉ cần lập một hợp đồng ngoại thương với đối tác nước ngoài khi tiến hành nhập khẩu, còn hợp đồng bán trong nước sau khi hàng về sẽ được lập hoặc không cần lập một hợp đồng nào khác khi bán với hình thức như: bán lẻ hoặc trao tay. 1.1.2.2. Nhập khẩu uỷ thác Nhập khẩu uỷ thác là hoạt động nhập khẩu hình thành giữa một doanh nghiệp trong nước có vốn, có nhu cầu nhập khẩu nhưng lại không có quyền tham gia vào các quan hệ xuất nhập khẩu trực tiếp hay xét thấy nhập khẩu trực tiếp không có lợi (bên uỷ thác), đã uỷ thác cho doanh nghiệp khác có chức năng trực tiếp giao dịch ngoại thương (bên nhận uỷ thác) tiến hành nhập khẩu theo yêu cầu của mình. Bên nhận uỷ thác có nghĩa vụ đàm đán ký kết hợp đồng với đối tác nước ngoài, làm thủ tục nhập khẩu theo yêu cầu của bên uỷ thác và được nhận một khoản phí gọi là phí uỷ thác. Quan hệ giữa bên uỷ thác và bên nhận uỷ thác được quy định đầy đủ trong hợp đồng uỷ thác. Đặc điểm của nhập khẩu uỷ thác: Theo hình thức này, doanh nghiệp nhập khẩu (bên nhận uỷ thác) hoạt động theo danh nghĩa của mình nhưng chi phí của người khác (bên uỷ thác) Khối lượng công việc được giảm bớt cho các bên. Bên nhận uỷ thác không phải nghiên cứu thị trường tiêu thụ vì không phải tiêu thụ hàng nhập khẩu mà chỉ đứng ra đại diện cho bên uỷ thác để giao dịch, đàm phán với đối tác nước ngoài, ký hợp đồng và làm thủ tục nhập khẩu hàng hóa cũng như thay mặt cho bên uỷ thác khi có tranh chấp xảy ra với đối tác nước ngoài. Doanh nghiệp nhập khẩu phải làm hai hợp đồng: một hợp đồng nhập khẩu với đối tác nước ngoài, một hợp đồng uỷ thác với bên uỷ thác Lợi nhuận của hoạt đồng nhập khẩu này sẽ bị chia sẻ cho các bên, bên uỷ thác sẽ trả cho bên nhận uỷ thác thông thường là từ 0.5% - 1.5% giá trị hợp đồng. 1.1.2.3. Nhập khẩu tái xuất Nhập khẩu tái xuất là hoạt động nhập khẩu vào một nước nhưng không phải để tiêu thụ trong nước mà để xuất sang nước khác nhằm thu lợi nhuận, nhưng hàng nhập khẩu phải được đảm bảo là không được chế biến tại nước tái xuất. Đặc điểm của nhập khẩu tái xuất: Doanh nghiệp nước tái xuất phải tính toán toàn bộ chi phí tổ chức, gặp gỡ, bàn bạc với đối tác nhập khẩu và đối tác xuất khẩu, nhằm đảm bảo thu được lợi nhuận. Doanh nghiệp tái xuất phải tiến hành hai hợp đồng: một hợp đồng xuất khẩu, một hợp đồng nhập khẩu nhưng không phải chịu thuế xuất nhập khẩu với mặt hàng kinh doanh. Để đảm bảo thanh toán, hợp đồng tái xuất thường sử dụng thư tín dụng giáp lưng, hàng hoá không nhất thiết phải chuyển về nước tái xuất mà chuyển thẳng sang nước thứ ba nhưng tiền thanh toán phải do doanh nghiệp tái xuất thu từ đối tác nhập khẩu để trả cho đối tác xuất khẩu. 1.1.2.4. Nhập khẩu liên doanh Nhập khẩu liên doanh là hoạt động nhập khẩu trên cơ sở hợp tác một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp (trong đó ít nhất có một doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp) nhằm phối hợp thế mạnh của các doanh nghiệp để cùng giao dịch nhập khẩu và thúc đẩy hoạt động này phát triển theo hướng có lợi nhất cho các bên. Trong đó các bên cùng chia sẻ lợi nhuận. Đặc điểm của nhập khẩu liên doanh: Các doanh nghiệp nhập khẩu liên doanh chịu rủi ro thấp hơn so với nhập khẩu tự doanh vì các doanh nghiệp trong trường hợp này cùng nhau chia sẻ rủi ro và lợi nhuận Các doanh nghiệp dựa vào tỷ lệ vốn góp cũng như nghĩa vụ và quyền hạn của mình để phân chia lãi lỗ. Doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp tham gia vào liên doanh phỉa lập hai hợp đồng: một hợp đồng mua hàng với nước ngoài, một hợp đồng liên doanh với các doanh nghiệp khác. 1.1.2.5. Nhập khẩu đổi hàng Nhập khẩu đổi hàng là hình thức nhập khẩu gắn liền với xuất khẩu theo phương thức buôn bán đối lưu. Trong đó người bán đồng thời là người mua, lấy hàng đổi hàng, giá trị hàng hoá mang trao đổi là tương đương. Đặc điểm của nhập khẩu đổi hàng: Theo hình thức này, tiến hành đồng thời cả hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu, do đó có thể thu được lợi nhuận từ hai hoạt động này. Hoạt động xuất và nhập phải tương đương về mặt giá trị và đối tác xuất khẩu đồng thời cũng là đối tác nhập khẩu. 1.1.2.6. Nhập khẩu đấu thầu Nhập khẩu đấu thầu là hình thức giao dịch đặc biệt, trong đó doanh nghiệp nhập khẩu đưa ra trước các điều kiện mua bán để các nhà xuất khẩu báo giá cả và các điều kiện kèm theo của mình. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp nhập khẩu có thể lựa chọn được nhà cung cấp phù hợp nhất. Đặc điểm: Chỉ có một người mua nhưng nhiều người bán do đó thông qua đấu thầu phát huy được tính cạnh tranh giữa các nhà cung cấp và ngươờ mua sẽ có lợi hơn trong việc lựa chọn nhà cung cấp phù hợp nhất cho mình Tuy nhiên theo hình thức này, doanh nghiệp nhập khẩu tốn thêm công đoạn tổ chức đấu thầu và lựa chọn nhà cung cấp. 1.2. CÁC BƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NHẬP KHẨU 1.2.1. Nghiên cứu thị trường Nghiên cứu thị trường là việc đầu tiên mà mỗi doanh nghiệp phải làm khi tham gia vào thị trường. Mục đích của hoạt động này là nhằm xác định nhu cầu của thị trường và khả năng thanh toán trên địa bàn nhất định mà doanh nghiệp dự định kinh doanh. Kết quả của hoạt động nghiên cứu thị trường sẽ đem lại cho doanh nghiệp những thông tin sát thực nhất về lượng cung và lượng cầu hiện tại cũng như tương lai của thị trường. Cũng từ kết quả nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp sẽ có đầy đủ thông tin về loại sản phẩm cần cung ứng, dung lượng thị trường, lượng cung hiện tại, nhu cầu thiếu hụt cần được bổ sung, các đối thủ cạnh tranh…Những thông tin này càng chính xác thì việc lập kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp sẽ càng sát thực tế và đem lại hiệu quả kinh tế cao Ngoài việc nghiên cứu thị trường trong nước, nghiên cứu thị trường quốc tế cũng giữ vai trò quan trọng không kém. Hoạt động này cung cấp cho doanh nghiệp thông tin về nguồn hàng nhập khẩu, giá cả của hàng hoá của mỗi nhà cung cấp, chất lượng hàng hoá, chi phí vận chuyển...Nắm bắt tốt thông tin này sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí ở mức tối đa dựa trên sự so sánh chi phí giữa các nhà cung cấp, từ đó tăng khả năng cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường nội địa Công việc nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp bao gồm: Lựa chọn mặt hàng nhập khẩu Nghiên cứu thị trường nội địa và các yếu tố ảnh hưởng đến dung lượng thị trường Nghiên cứu quan hệ cung cầu hàng hoá đã lựa chọn và sự biến động của chúng Nghiên cứu giá hàng hoá nhập khẩu và giá hàng hóa trong nước Lựa chọn nhà cung cấp 1.2.2. Lập phương án kinh doanh Phương án kinh doanh trong ngoại thương là một bản giải trình về một thương vụ kinh doanh, các biện pháp thực hiện, các cách đánh giá trên cơ sở một số chỉ tiêu, định lượng cụ thể. Quy trình lập phương án kinh doanh gồm năm bước: Đánh giá thị trường và mặt hàng Lựa chọn mặt hàng, thời cơ và điều kiện kinh doanh Đặt ra mục tiêu kinh doanh Đề ra các biện pháp thực hiện Phân tích các chỉ tiêu cơ bản Dựa vào kết quả của hoạt động nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp tiến hành lập phương án kinh doanh hàng nhập khẩu một cách chi tiết. Phương án kinh doanh sẽ phải đưa ra được chi tiết về: Kế hoạch kinh doanh mặt hàng: Trong bước này cần xác định được mặt hàng kinh doanh là mặt hàng gì, nhãn hiệu bao bì đóng gói như thế nào, quy cách phẩm chất của hàng hoá, khối lượng dự định sẽ kinh doanh. Khối lượng hàng kinh doanh của doanh nghiệp cần xác định dựa vào nhu cầu có khả năng thanh toán của thị trường chứ không phải dựa vào nhu cầu thị trường. Kế hoạch nhập khẩu hàng hóa: Trên cơ sở đã xác định được loại hàng hoá kinh doanh, chất lượng, nhãn hiệu hàng hoá, và khối lượng hàng hoá kinh doanh. Doanh nghiệp cần phải lựa chọn nguồn hàng sao cho doanh nghiệp có thể đạt được nhiều lợi nhuận nhất, chi phí thấp nhất mà vẫn đáp ứng được những yêu cầu đã đặt ra cho hàng hoá. Cần phải lập kế hoạch cụ thể về hình thức nhập khẩu, phương thức chuyển chở, phương thức thanh toán, thời gian ký kết hợp đồng, các điều kiện giao hàng sao cho đảm bảo nguồn hàng được ổn định. Kế hoạch bán hàng: Trong bước này, doanh nghiệp cần tính toán thật kỹ lưỡng về chi phí kinh doanh bỏ ra cho từng loại mặt hàng, lợi nhuận dự kiến trên từng đơn vị hàng hoá, từ đó sẽ đưa ra một mức giá bán dự kiến cho từng loại hàng, kế đó là tính tổng doanh thu và tổng lợi nhuận có thể đạt được với từng mức giá và mức lợi nhuận dự kiến cho mỗi đơn vị hàng hoá. Tuy nhiên, việc tính toán chi phí kinh doanh và lợi nhuận dự kiến vào giá bán phải dựa vào giá bán hiện tại của hàng hoá trên thị trường để đảm bảo sao cho khi hàng hoá được bán ra thị trường có được mức giá cạnh tranh nhất, hợp lý nhất. Kế hoạch dự trữ đầu kỳ và cuối kỳ: Đây là khâu rất quan trọng trong việc lập kế hoạch kinh doanh, vì nó là một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được ổn định, liên tục và đạt hiệu quả cao, thêm đó nó còn giúp doanh nghiệp tăng khả năng chống đỡ với những biến động bất thường của hàng hoá tại cả thị trường cung ứng và thị trường tiêu thụ. 1.2.3. Giao dịch, đàm phán và ký kết hợp đồng Đàm phán trong ngoại thương Sau khi lập xong phương án kinh doanh, để tiến tới ký kết hợp đồng, bên bán và bên mua phải tiến hành một quá trình giao dịch, thương thảo về các điều khoản. Đàm phán trong ngoại thương là một quá trình mà các bên tiến hành thương lượng, thảo luận, nhằm thống nhất các mối quan tâm chung và những điểm còn bất đồng nhằm đem lại lợi ích cho các bên trong kinh doanh ngoại thương. Đàm phán bao gồm các hình thức như: Đàm phán qua gặp gỡ trực tiếp: hình thức này có ưu điểm là đàm phán được nhiều nội dung và giúp giải quyết nhanh chóng mọi quan hệ trong giao dịch và đôi khi là lối thoát duy nhất cho các hình thức đàm phán khác đã kéo dài quá lâu mà không đem lại kết quả. Tuy nhiên, đàm phán trực tiếp lại tốn chi phí lớn. Đàm phán qua thư tín: là phương thức mà các bên gửi cho nhau những văn bản, để thảo thuận những điều kiện mua bán. Đàm phán theo hình thức này hiện nay được áp dụng nhiều do đỡ tốn kém và không mất nhiều công sức. Tuy nhiên hình thức này nên áp dụng cho những hợp đồng với giá trị thấp và cho những đối tác có quan hệ lâu dài. Đàm phán qua các phương tiện truyền thông: Hình thức này khắc phục được nhược điểm về chi phí so với những hình thức trên, thêm nữa đàm phán qua phương tiện truyền thông được thực hiện một cách dễ dàng và nhanh chóng đảm bảo được tính thời điểm. Ký kết hợp đồng ngoại thương Hợp đồng ngoại thương là một văn bản ghi lại những nội dung các bên nhất trí với nhau dưới dạng các điều khoản, điều kiện làm cam kết thực hiện. Hợp đồng nhập khẩu là một hợp đồng ngoại thương sự thoả thuận nhất trí giữa các bên có trụ sở kinh doanh ở các quốc gia khác nhau Ký kết hợp đồng ngoại thương là hoạt động xác nhận nội dung và những điều kiện mua bán đã được thống nhất dưới dạng văn bản theo những điều khoản và điều kiện. Các hình thức ký kết hợp đồng ngoại thương bao gồm: Ký kết trực tiếp: hai bên cùng tổ chức tại một địa điểm và trong một khung cảnh để ký xác nhận Ký kết gián tiếp: thông thường một bên ký trước gửi lại cho bên kia ký sau, thậm chí ký qua fax, qua mail. Sau khi ký xong, hợp đồng chính thức có hiệu lực và ràng buộc trách nhiệm pháp lý của các bên tham gia vào giao dịch của hợp đồng. Đây cũng là cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng, do đó, hợp đồng ngoài thương phải được các bên xem xét kỹ lưỡng về từng điều khoản và điều kiện. 1.2.4. Tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu Hợp đồng thương mại quốc tế là kết quả của một quá trình nghiên cứu thị trường, xác nhận nhu cầu, lựa chọn đối tác, lập phương án kinh doanh, tiến hành giao dịch đàm phán và ký kết hợp đồng. Thực hiện hợp đồng thể hiện trách nhiệm của mỗi bên đối với những thoả thuận và cam kết của mình trong giao dịch. Đây là một mắc xích quan trọng trong cả quá trình giao dịch. Trên cơ sở hợp đồng ngoại thương, các bên sẽ tiến hành thực hiện hợp đồng đã ký. Bên xuất khẩu chịu trách nhiệm giao hàng cho bên nhập khẩu theo trình tự của một hoạt động xuất khẩu. Còn đối với bên nhập khẩu, thực hiện theo hợp đồng nhập khẩu gồm có các công đoạn: Xin giấy phép nhập khẩu Làm thủ tục xác nhận thanh toán Thuê phương tiện vận tải (nếu có): bên nhập khẩu chịu trách nhiệm thuê phương tiện vận tải nếu hợp đồng theo điều kiện EXW, FCA, FAS, FOB. Mua bảo hiểm (nếu có): Nhà nhập khẩu phải chịu trách nhiệm mua bảo hiểm trong các hợp đồng có điều kiện cơ sở giao hàng thuộc nhóm E, nhóm F và điều kiện CIF, CIP. Làm thủ tục thanh toán (nếu có) Làm thủ tục thông quan Giao nhận hàng Kiểm tra và nhập hàng Khiếu nại và giải quyết khiếu nại (nếu có) 1.2.5. Tổ chức triển khai bán hàng nhập khẩu Sau khi đã nhập hàng về kho, doanh nghiệp cần nhanh chóng tiến hành tổ chức bán hàng hoặc giao hàng cho các đơn vị đặt hàng. Việc làm này tiến hành càng nhanh thì việc thu hồi vốn và tốc độ quay vòng vốn của doanh nghiệp càng nhanh, như vậy cũng có nghĩa sẽ giảm được chi phí về kho bãi, chi phí cơ hội, chi phí bán hàng và sẽ làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Để thực hiện tốt công tác bán hàng nhập khẩu, các doanh nghiệp thường áp dụng marketing mix. Các tham số của Marketing Mix (marketing hỗn hợp) bao gồm: sản phẩm, giá cả, phân phối và xúc tiến. Sản phẩm là tham số quan trọng trong bốn tham số của marketing hỗn hợp. Việc đề ra các chiến lược về sản phẩm một cách hợp lý, xác định đúng sản phẩm có ảnh hưởng lớn đến khả năng tiêu thụ (bán hàng) và khai thác cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp. Nhưng việc mô tả sản phẩm một cách chính xác và đầy đủ vẫn thường bị xem nhẹ hoặc do thói quen hoặc chưa hiểu rõ tầm quan trọng của nó trong hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp. Trong kinh doanh, giá cả là một trong các công cụ có thể kiểm soát mà doanh nghiệp có thể và cần sử dụng một cách khoa học để thực hiện các mục tiêu chiến lược, kế hoạch kinh doanh. Các quyết định về giá cả có ảnh hưởng lớn đến toàn bộ quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, từ việc đặt kế hoạch kinh doanh đến mua sắm, chào hàng, bán hàng, chi phí và lợi nhuận. Trong khi hoạch định chiến lược, chính sách và kiểm soát giá cả cần phải chú trọng đến các vấn đề như: Các mục tiêu đặt giá; Chính sách đặt giá; Phương pháp tính giá. Để bán được hàng tốt, doanh nghiệp cần phải thoả mãn rất nhiều yêu cầu từ phía khách hàng. Khách hàng không chỉ cần sản phẩm tốt và giá đúng mà còn cần đáp ứng được thời gian và địa điểm đúng. Địa điểm là một nội dung quan trọng mà hệ thống marketing của doanh nghiệp cần phải giải quyết tốt trong chiến lược marketing của mình. Các chuyên gia dày dạn kinh nghiệm và có nhiều thành công trong lĩnh vực bán hàng đã đưa ra lời khuyên: “Muốn thành công, hãy chú ý đến địa điểm, luôn chú ý đến địa điểm và địa điểm”. Thực ra, địa điểm rất quan trọng vì nó liên quan đến các quyết định về phân phối hàng hoá và khả năng bán hàng của doanh nghiệp. Khi xây dựng chiến lược về địa điểm và phân phối hàng hoá cần phải nghiên cứu và giải quyết tốt các nội dung: Lựa chọn địa điểm; Lựa chọn và tổ chức kênh phân phối; Tổ chức và điều khiển quá trình phân phối hiện vật. Xúc tiến là một trong bốn tham số quan trọng có thể kiểm soát được trong marketing hỗn hợp. Hoạt động xúc tiến giúp cho các doanh nghiệp có cơ hội phát triển các mối quan hệ thương mại với các bạn hàng trong nước cũng như các bạn hàng nước ngoài, là công cụ hữu hiệu trong việc chiếm lĩnh thị trường và tăng tính cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ của các doanh nghiệp trên thị trường. Các hoạt động xúc tiến sẽ tạo hình ảnh đẹp về doanh nghiệp trước con mắt khách hàng, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp không ngừng tăng lên. Nó là công cụ hữu hiệu giúp cho cung cầu gặp nhau, kích thích người tiêu dùng mua sản phẩm mà doanh nghiệp kinh doanh. Nội dung của hoạt động xúc tiến bao gồm: Quảng cáo; Khuyến mại; Hội chợ triển lãm; Bán hàng trực tiếp; Quan hệ công chúng và các hoạt động khuếch trương khác. 1.2.6. Đánh giá kết quả nhập khẩu Đánh giá kết quả kinh doanh là một hoạt động mà bất cứ một doanh nghiệp nào cũng phải thực hiện nhằm xem xét hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Từ những phân tích về các chỉ tiêu doanh thu, lợi nhuận, chi phí, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu...doanh nghiệp có thể rút ra được những điểm mạnh của mình đồng thời nhận ra được những tồn tại và tiến tới khắc phục nó. Thông thường khi đánh giá hoạt động kinh doanh nhập khẩu, thường sử dụng các chỉ tiêu: 1.2.6.1. Chỉ tiêu tỷ suất ngoại tệ hàng nhập khẩu (RNK) Tỷ suất ngoại tệ nhập khẩu là đại lượng so sánh giữa khoản thu (tính bằng đồng nội tệ) do việc nhập khẩu đem lại (DTNK) với chi phí đầu vào (tính bằng ngoại tệ) đã phải bỏ ra để mua bán hàng nhập khẩu (CPNK). Có công thức: RNK = Trong đó: DTNK: Doanh thu nội tệ do nhập khẩu CPNK : Chi phí ngoại tệ chi ra và cho vay 1.2.6.2. Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận Lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh tổng hợp kết quả của từng hợp đồng xuất khẩu, là chỉ tiêu phản ánh kết quả cuối cùng và quan trọng nhất. Lợi nhuận được thể hiện dưới hai dạng số tuyệt đối và số tương đối. Ở dạng tuyệt đối, lợi nhuận là hiệu số giữa khoản doanh thu và chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh. Công thức tính lợi nhuận nhập khẩu như sau: P = TR - TC Trong đó: P : Lợi nhuận TR : Tổng doanh thu nhập khẩu TC : Tổng chi phí nhập khẩu Doanh nghiệp phải thống kê đầy đủ chi phí phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu đồng thời phải tính đến giá trị của tiền theo thời gian và mức lạm phát của đồng tiền. Ở dạng tương đối được thể hiện bằng tỷ suất lợi nhuận. Tỷ suất lợi nhuận có thể tính theo: giá thành, vốn sản xuất hoặc doanh thu. Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận tính theo giá thành phản ánh mức lợi nhuận thu được từ một đơn vị chi phí cho hoạt động nhập khẩu (hiệu quả của một đồng chi phí) PZ = Trong đó: PZ: tỷ suất lợi nhuận theo giá thành Z: Giá thành sản phẩm P: Lợi nhuận Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận tính theo vốn kinh doanh (hệ số sinh lời của vốn) phản ánh mức lợi nhuận thu được từ một đơn vị vốn kinh doanh. PV = Trong đó: PV: Tỷ suất lợi nhuận tính theo vốn Vcd: Giá trị còn lại bình quân của tài sản cố định trong kỳ Vld: Số dư vốn lưu động bình quân trong kỳ Tỷ suất lợi nhuận tính theo doanh thu phản ánh mức lợi nhuận thu được từ một đơn vị doanh thu tiêu thụ sản phẩm nhập khẩu. Pdt = Trong đó: Pdt: Tỷ suất lợi nhuận tính theo doanh thu D: Doanh thu từ tiêu thụ sản phẩm. 1.2.6.3. Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn Thời gian hoàn vốn hoặc thời gian bù vốn là một chỉ số hiệu quả kinh tế đơn giản và được sử dụng tương đối phổ biến trong đánh giá hoạt động kinh doanh. Thời gian hoàn vốn là khoảng thời gian mà vốn đầu tư bỏ ra kinh doanh có thể thu hồi được, nhờ lợi nhuận và khấu hao cơ bản thu được hàng năm TV = Trong đó: KC : Mức khấu hao hàng năm I : Khoản tiền trả tiền lợi tức Vdt : Tổng số tiền (kể cả tự có và đi vay) bỏ ra để kinh doanh P : Lợi nhuận thu được trong năm TV : Thời gian hoàn vốn (năm) Để đơn giản trong quá trình tính toán, người ta không tính đến tỷ lệ lãi, nghĩa là lãi suất được coi bằng 0 và khi đó I = 0. Theo đó, trong mọi trường hợp, hoạt động nhập khẩu được coi là có hiệu quả cao khi thời gian hoàn vốn là ngắn. 1.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU Sự thành công trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nếu không tính đến vận may, nó chỉ xuất hiện khi kết hợp hài hoà các yếu tố bên trong với hoàn cảnh bên ngoài. Hoạt động trong môi trường kinh doanh quốc tế nói chung và trong hoạt động kinh doanh nhập khẩu nói riêng chịu ảnh hưởng của yếu tố bên trong, bên ngoài doanh nghiệp. Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng này giúp doanh nghiệp nhận biết được các nhân tố đó, nhận biết được xu hướng vận động của nó và tác động của nó đến hoạt động nhập khẩu. Qua đó giúp doanh nghiệp có những biện pháp khai thác những nhân tố có ảnh hưởng tích cực, hạn chế các nhân tố có ảnh hưởng tiêu cực. 1.3.1. Các nhân tố bên trong Cơ hội và chiến lược kinh doanh của do._.anh nghiệp luôn phụ thuộc chặt chẽ vào các yếu tố phản ánh tiềm lực của doanh nghiệp. Một cơ hội có thể rất “hấp dẫn” đối với doanh nghiệp này nhưng lại có thể là “hiểm hoạ” đối với doanh nghiệp khác vì những yếu tố thuộc tiềm lực bên trong của mỗi doanh nghiệp. Tiềm lực của doanh nghiệp không phải là bất biến, có thể phát triển mạnh lên hay yếu đi, có thể thay đổi toàn bộ (tổng quát) hay bộ phận (một vài yếu tố). Để đánh giá, phân tích tiềm lực của doanh nghiệp có thể dựa vào các yếu tố cơ bản sau: 1.3.1.1. Năng lực tài chính của doanh nghiệp Là một yếu tố tổng hợp phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông qua khối lượng (nguồn) vốn mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh, khả năng phân phối (đầu tư) có hiệu quả các nguồn vốn, khả năng quản lý có hiệu quả các nguồn vốn trong kinh doanh thể hiện qua các chỉ tiêu: vốn chủ sở hữu (vốn tự có), vốn huy động, tỷ lệ tái đầu tư về lợi nhuận, giá cổ phiếu của doanh nghiệp trên thị trường, khả năng trả nợ ngắn hạn và dài hạn, các tỷ lệ về khả năng sinh lợi… Vốn kinh doanh của doanh nghiệp lớn hay nhỏ là một trong những điều kiện quan trọng nhất để xếp doanh nghiệp vào loại quy mô lớn, trung bình, nhỏ hay siêu nhỏ và cũng là một trong những điều kiện để sử dụng các nguồn tiềm năng hiện có và tương lai về sức lao động, nguồn hàng, mở rộng và phát triển thị trường, mở rộng lưu thông hàng hoá, là điều kiện để phát triển kinh doanh quốc tế. Vốn là một nhân tố quan trọng trong sản xuất và nó quyết định đến tốc độ tăng sản lượng của doanh nghiệp. Nó cũng là một nguồn lực quan trọng để phát huy tài năng của ban lãnh đạo doanh nghiệp; nó là điều kiện để thực hiện các chiến lược, sách lược kinh doanh; nó cũng là chất keo để nối chắp, kết dính các quá trình, các quan hệ kinh tế và nó cũng là dầu nhớt bôi trơn cho cỗ máy kinh tế hoạt động. 1.3.1.2. Trình độ của đội ngũ cán bộ công nhân viên Đây là những người hoạt động theo nghiệp vụ chuyên môn. Đối với công nhân là những người trực tiếp tạo ra sản phẩm, nếu tay nghề tốt thì sản phẩm làm ra đạt kết quả chất lượng cao. Đối với cán bộ thì phải có nghiệp vụ chuyên môn giỏi để có thể giao dịch, đàm phán, ký kết hợp đồng. Doanh nghiệp có thể đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên đạt trình độ cao để phục vụ cho hoạt động nhập khẩu. 1.3.1.3. Trình độ tổ chức, quản lý Trình độ tổ chức quản lý là sự hoàn hảo của cấu trúc tổ chức, tính hiệu quả của hệ thống quản lý và công nghệ quản lý. Mỗi doanh nghiệp là một hệ thống với những mối liên kết chặt chẽ với nhau hướng tới mục tiêu. Một hệ thống là tập hợp các phần tử (bộ phận, chức năng, nhiệm vụ). Một doanh nghiệp muốn đạt được mục tiêu của mình thì đồng thời phải đạt đến một trình độ tổ chức, quản lý tương ứng. Khả năng tổ chức, quản lý doanh nghiệp dựa trên quan điểm tổng hợp, bao quát tập trung vào những mối quan hệ tương tác của tất cả các bộ phận tạo thành tổng thể, tạo nên sức mạnh thực sự cho doanh nghiệp. Trình độ tổ chức, quản lý ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động sản xuất của doanh nghiệp nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng. Người lãnh đạo cần phải xây dựng được chiến lược kinh doanh và đề ra các chính sách kinh doanh giúp cho doanh nghiệp có thể dễ dàng lựa chọn phương thức hành động. Cần phải biết nhìn xa, trông rộng để xây dựng được các chiến lược kinh doanh hợp lý, tổ chức nhân sự cho phù hợp với quy mô, tính chất của hoạt động sản xuất kinh doanh, phù hợp với trình độ quản lý, kỹ năng quản trị doanh nghiệp. 1.3.1.4. Khả năng nghiên cứu, phát triển và việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất Khả năng nghiên cứu, phát triển và việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chi phí, giá thành và chất lượng hàng hoá được đưa ra đáp ứng khách hàng. Liên quan đến mức độ (chất lượng) thoả mãn nhu cầu, khả năng cạnh tranh, lựa chọn cơ hội và các tác nghiệp khác của doanh nghiệp trên thị trường. Cơ sở vật chất kỹ thuật phản ánh nguồn tài sản cố định của doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh như thiết bị, nhà xưởng, văn phòng… phản ánh tiềm lực vật chất và liên quan đến quy mô, khả năng, lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp. 1.3.1.5. Tiềm lực vô hình Tiềm lực vô hình của doanh nghiệp chính là uy tín, vị thế của doanh nghiệp trên thương trường, thương hiệu, các mối quan hệ của doanh nghiệp…Lợi thế vô hình này của doanh nghiệp không phải có ngay khi mới thành lập mà được hình thành trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh lâu dài của doanh nghiệp. Tiềm lực này không thể nhìn thấy hay định giá nhưng nó lại đóng vai trò quyết định đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường trong nước và quốc tế. 1.3.2. Các nhân tố bên ngoài 1.3.2.1. Các nhân tố trong nước Đây là nhóm các nhân tó ảnh hưởng không chịu sự kiểm soát của doanh nghiệp do vậy mà doanh nghiệp phải tìm cách thích nghi với nó. Các nhân tố đó là: Chính trị và luật pháp Để thành công trong kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải phân tích dự đoán về chính trị và luật pháp cùng xu hướng vận động của nó bao gồm: Sự ổn định về chính trị; Đường lối ngoại giao; Sự cân bằng các chính sách của Nhà nước; Vai trò và chiến lược phát triển kinh tế của Đảng và Chính phủ; Sự điều tiết và khuynh hướng can thiệp của Chính phủ vào đời sống kinh tế; Sự phát triển các quyết định bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Hệ thống luật pháp, sự hoàn thiện và hiệu lực thi hành chúng. Chính sách kinh tế của Nhà nước Chế độ chính sách trong nước giữ vai trò quan trọng vì nó quyết định đến sự thuận lợi hay khó khăn cho doanh nghiệp khi tiến hành kinh doanh nhập khẩu. Trong điều kiện hiện nay, các chính sách kinh tế của nhà nước thường hướng đến mục tiêu thúc đẩy xuất khẩu và bảo hộ sản xuất trong nước với những ngành được coi là trọng điểm. Các chính sách của nhà nước ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp là: Chính sách nhập khẩu của nhà nước bao gồm chính sách thuế nhập khẩu, hạn ngạch nhập khẩu, quy định về nhóm mặt hàng được khuyến khích nhập khẩu, nhóm mặt hàng hạn chế nhập khẩu và cấm nhập khẩu. Chính sách tỷ giá hối đoái: đây là một yếu tố vô cùng quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp. Tác động của tỷ giá hối đoái lên hoạt động nhập khẩu như sau: nếu đồng ngoại tệ giảm giá tức là với một lượng nội tệ như cũ, doanh nghiệp mua được nhiều ngoại tệ hơn do đó có nhiều nguồn vốn hơn để kinh doanh hàng nhập khẩu, đây là một trong những biện pháp khuyến khích nhập khẩu. Và ngược lại khi đồng ngoại tệ tăng giá, nó khuyến khích xuất khẩu. Các thủ tục hành chính như thủ tục xin giấy phép, thủ tục hải quan… Yếu tố kỹ thuật và công nghệ Yếu tố kỹ thuật và công nghệ làm cơ sở cho yếu tố kinh tế là sức mạnh dẫn đến sự ra đời sản phẩm mới sẽ tác động vào mô thức tiêu thụ và hệ thống bán hàng. Ngược lại, yếu tố kỹ thuật bị ảnh hưởng của cách thức quản lý vĩ mô. Yếu tố tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp. Nó có thể làm thay đổi kết quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp. Một sự thay đổi tỷ giá có thể đẩy mạnh hoặc kìm hãm hoạt động nhập khẩu. Tỷ giá thay đổi trong thời gian thực hiện hợp đồng xuất khẩu có thể làm cho doanh nghiệp thu được lợi nhuận cao hoặc lỗ trong hợp đồng. Khi ký kết hợp đồng, doanh nghiệp cần chú ý đến tỷ giá. Nếu tỷ giá lớn hơn tỷ suất ngoại tệ thì doanh nghiệp có thể thực hiện hợp đồng và ngược lại. Mặt khác doanh nghiệp cần chú ý đến tỷ giá hối đoái, có các dự báo về tỷ giá để tránh sự biến động của tỷ giá. Mức độ cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước Sự cạnh tranh một mặt có tác dụng thúc đẩy sự vươn lên của các doanh nghiệp, mặt khác nó chèn ép, đè bẹp những doanh nghiệp yếu kém. Mức độ cạnh tranh được thể hiện ở số lượng doanh nghiệp tham gia vào hoạt động nhập khẩu cùng ngành hoặc mặt hàng và khối lượng hàng hoá mà doanh nghiệp đó bán trên thị trường trong nước. Ngoài ra, các doanh nghiệp nhập khẩu còn phải chịu sự cạnh tranh từ chính những doanh nghiệp sản xuất trong nước. Do đó, khả năng cạnh tranh là yếu tố sống còn của doanh nghiệp. Trình độ phát triển thông tin liên lạc Đây là các nhân tố rất quan trọng, nó phục vụ hữu hiệu cho hoạt động xuất nhập khẩu. Đó là những thông tin về trình độ phát triển của hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống ngân hàng, hệ thống vận tải, bảo hiểm, bến cảng, kho bãi. Các yếu tố quan hệ chặt chẽ với hoạt động xuất nhập khẩu. Nếu các yếu tố trên phát triển ở trình độ cao thì sẽ thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu và ngược lại. 1.3.2.2. Nhóm các nhân tố ngoài nước Các nhân tố này không những nằm ngoài khả năng kiểm soát của doanh nghiệp mà nó còn nằm ngoài khả năng kiểm soát của một quốc gia. Nó có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp. Tình hình chính trị, pháp luật, chính sách của quốc gia xuất khẩu: nhân tố này tác động đến hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp như ký kết được hợp đồng hoặc không ký kết được hợp đồng, khó thực hiện hoặc thuận lợi khi thực hiện hợp đồng. Chính sách thương mại của nước xuất khẩu sẽ có thể khuyến khích hoặc hạn chế hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp. Nếu chính sách đó cấm hoặc hạn chế xuất khẩu hàng hoá mà doanh nghiệp kinh doanh thì gây khó khăn rất lớn cho doanh nghiệp kinh doanh và ngược lại. Sự biến động của thế giới về mặt hàng mà doanh nghiệp nhập khẩu: Toàn cầu hoá và hội nhập khiến cho giữa cho sự phụ thuộc và tác động của các nước với nhau ngày càng cao. Những biến động của thị trường sản phẩm nhập khẩu hay những biến động của hàng hoá liên quan đều có tính chất lan truyền và ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới. Do đó, hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp cũng chịu sự tác động của những biến động thế giới. Trên đây là những nhân tố chính ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp. Các nhân tố có ảnh hưởng khác nhau có tác động khác nhau tạo nên sự phức tạp và khó khăn trong hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp. Vì vậy các doanh nghiệp phải thường xuyên nắm bắt những thay đổi để phản ứng kịp thời tránh những rủi ro đáng tiếc xảy ra khi tham gia hoạt động nhập khẩu. 1.4. VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU PHÔI THÉP ĐỐI VỚI NGÀNH THÉP VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP 1.4.1. Sơ lược ngành thép Việt Nam Ngành thép Việt Nam được xây dựng từ đầu những năm 60 của thế kỷ 20 bắt đầu bằng việc hình thành khu liên hợp gang thép Thái Nguyên với sự giúp đỡ của Trung Quốc năm 1959. Đến năm 1963 khu liên hợp gang thép Thái Nguyên cho ra đời mẻ thép cán đầu tiên. Khu liên hiệp gang thép Thái Nguyên được xây dựng trên cơ sở công nghệ truyền thống (lò cao) với nguồn nguyên liệu quặng sắt trong nước. Do chiến tranh, việc xây dựng dở dang kéo dài không đồng bộ cho tới những năm cuối của thập kỷ 80, công suất sản xuất thép của Khu liên hợp gang thép Thái nguyên chỉ có công suất luyện cán thép 100.000 tấn/năm. Năm 1976, Công ty luyện kim đen miền Nam được thành lập trên cơ sở tiếp quản các nhà máy luyện, cán thép mini của chế độ cũ để lại ở thành phố Hồ Chí Minh và Biên Hòa, sử dụng công nghệ lò điện với tổng công suất khoảng 80.000 tấn thép cán/năm. Giai đoạn từ 1976 đến 1989: Ngành thép gặp rất nhiều khó khăn do kinh tế đất nước lâm vào khủng hoảng, ngành thép không phát triển được và chỉ duy trì mức sản lượng từ 40 ngàn đến 85 ngàn tấn thép/năm. Giai đoạn từ 1989 đến 1995: Thực hiện chủ trương đổi mới, mở cửa của Đảng và Nhà nước, ngành thép bắt đầu có tăng trưởng, sản lượng thép trong nước đã vượt mức trên 100 ngàn tấn/năm. Tuy nhiên, sản phẩm thép cung cấp trong nước vẫn còn khá đơn điệu, thép xây dựng là sản phẩm chủ yếu và truyền thống. Từ 1996 trở lại đây: Ngành thép vẫn giữ được mức độ tăng trưởng khá cao, tiếp tục được đầu tư đổi mới và đầu tư chiều sâu. Với việc mở rộng phạm vị cho phép tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh các sản phẩm thép, thị trường thép Việt Nam đã trở nên sôi động hơn rất nhiều. Ngoài Tổng công ty Thép Việt Nam và các cơ sở quốc doanh thuộc địa phương và các ngành, còn có sự tham gia của các liên doanh, các công ty cổ phần, công ty 100% vốn nước ngoài và các công ty tư nhân. Sau 10 năm đổi mới và tăng trưởng, ngành thép Việt Nam đã đạt một số chỉ tiêu như sau: luyện thép lò điện đạt 500 ngàn tấn/năm, công suất cán thép đạt 2,6 triệu tấn/năm (kể cả các đơn vị ngoài Tổng công ty Thép Việt Nam). Từ 2000 trở lại đây, FDI chảy vào ngành thép rất lớn, nhiều nhà máy sản xuất thép và phôi ra đời, tăng tốc độ lượng thép sản xuất được. Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia, ngành thép của ta vẫn còn quá nhỏ bé và phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu nước ngoài, thêm vào đó cơ cấu sản phẩm chưa phong phú, công nghệ đa số là lạc hậu từ thập niên 70,80 của thế kỷ XX. Đây là những vấn đề cốt lõi căn bản của ngành thép Việt Nam cần được giải quyết trong những năm sắp tới nhằm đưa ngành thép hội nhập và phát triển. Việt Nam đặt ra mục tiêu phấn đấu trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, công nghiệp thép được xác định một số tiêu chí như sau: - GDP bình quân đầu người: 1.500 USD - Nhu cầu tiêu thụ thép: 21 triệu tấn (dài/dẹt=50/50) - Tiêu thụ thép bình quân đầu người: 200 kg - Sản xuất thép thô: 10 triệu tấn. - Sản xuất thép cán trong nước đáp ứng 50% nhu cầu thép dẹt và 80% nhu cầu thép dài. - Cơ cấu sản xuất sản phẩm dài/dẹt là: 62/38.    - Công nghệ: xây dựng nhà máy thép liên hợp BF-BOF 4,5 triệu tấn/năm và một vài trung tâm sản xuất thép lò điện Mini-mill (tỷ lệ thép sản xuất lò BOF/EAF là 60/40).  1.4.2. Công nghệ sản xuất thép Hiện nay, Việt Nam đang áp dụng đồng thời hai quy trình công nghệ sản xuất thép. Đó là công nghệ lò cao truyền thống và công nghệ lò điện, cả hai công nghệ này đều cho bán thành phẩm là phôi thép. Sản xuất theo công nghệ lò điện: nguyên liệu đầu vào là thép phế và được thực hiện theo quy trình sau: Thép phế - > lò điện hồ quang - > lò thùng - > đúc liên tục - > Phôi thép - > nung phôi - > cán thép - > Thép thành phẩm Như vậy, muốn tạo ra thép thành phẩm thì phải sản xuất được phôi thép. Tuy nhiên, hiện nay lượng thép phế trong nước không cung cấp đủ. Ở nước ta, nguồn thép phế trong nước đã bị khai thác để xuất khẩu và sử dụng trong thời kỳ chiến tranh và đang dần cạn kiệt. Còn thép phế thải từ sản xuất và tiêu dùng trong xã hội rất hạn chế do nền kinh tế còn kém phát triển, hàng năm chúng ta chỉ thu gom được 300.000 Tấm/năm. Theo ước tính, hàng năm chúng ta cần 2,2 – 2,4 triệu tấn thép phế để phục vụ cho sản xuất phôi thép từ đó tạo ra thép thành phẩm, tuy nhiên trong nước mới chỉ đáp ứng được 800.000 Tấn/năm, số còn lại thì phải nhập khẩu. Sử dụng công nghệ lò cao truyền thống: nguyên liệu đầu vào là quặng sắt. Tại Việt Nam, chỉ có nhà máy gang thép Thái Nguyên và một số ít nhà máy có công suất nhỏ là có dây chuyền sản xuất theo công nghệ lò cao truyền thống. Tuy nhiên công nghệ này sử dụng quặng sắt nguyên khối và than cốc nên cần tới 3 công đoạn để sản xuất thép nấu chảy trong đó có kết tụ quặng và luyện than cốc. Hiện Việt Nam mỗi năm xuất cho Trung Quốc tới trên 2 triệu tấn quặng. Lượng quặng lớn này có thể thu mua dễ dàng trong nền kinh tế thị trường. Nhưng kinh nghiệm vận hành lò cao ở Việt Nam và các nước cho thấy, lò cao không thể sử dụng quặng tuỳ tiện. Chất lượng quặng cho vào lò cao để lò chạy ổn định, không bị sự cố, thì quặng phải được trung hòa đồng đều thành phần, chất lượng phải tốt, nếu không sẽ không còn tính cạnh tranh vì giá gang sẽ rất cao. Chính vì lẽ đó, chất lượng quặng thu mua trôi nổi không đáp ứng được yêu cầu nói trên. Hiện nay, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu quặng phục vụ cho sản xuất phôi và thép thành phẩm. Cả hai công nghệ sản xuất thép mà Việt Nam đang áp dụng đều cho ra phôi thép và từ phôi thép cán thành các loại thép thành phẩm. Như vậy, phôi thép là vật liệu không thể thiếu trong quá trình sản xuất thép thành phẩm. 1.4.3. Sự cần thiết phải nhập khẩu phôi thép đối với ngành thép Việt Nam Phát triển kinh tế trong thời kỳ đổi mới là nhiệm vụ trọng điểm trong đó phát triển công nghiệp là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp đến năm 2020. Vai trò và tầm quan trọng của ngành công nghiệp thép đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đã được Đảng và Nhà nước đã nhận thức từ rất sớm. Ngày 12/4/1995, Bộ Chính trị đã có Thông báo số 112-TB/TW về Chiến lược phát triển sản xuất thép đến năm 2010, trong đó đã nhận định: “Thép là vật liệu chủ yếu của nhiều ngành công nghiệp, có vai trò quyết định tới sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Phát triển nhanh ngành thép là một yêu cầu khách quan, cấp bách và có ý nghĩa chiến lược.” Sản lượng tiêu thụ của các doanh nghiệp thép phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế nói chung và tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp và xây dựng nói riêng. Hiện Việt Nam đang trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước với nhiều dự án đầu tư xây dựng cơ bản đang được triển khai. Với việc là thành viên của WTO, Việt Nam đang đón nhận một làn sóng đầu tư mới. Do đó, nhu cầu thép trong tương lai là rất lớn. Đơn cử: khối lượng tiêu thụ thép xây dựng ở Việt Nam trong những năm qua tăng nhanh nhất là gần với thời điểm gia nhập WTO. Biểu 1: Sản lượng tiêu thu thép xây dựng 2003-2006 (Nguồn: Phòng vật tư xuất khẩu Tổng công ty Thép) Năm 2006, lượng thép tiêu thụ đạt gần 3,5 triệu tấn, tăng gần 30% so với năm 2005. Sang năm 2007, mặc dù giá thép tăng cao nhưng sức tiêu thụ vẫn duy trì ở mức lớn. Tính hết năm 2007, sản lượng tiêu thụ thép xây dựng là 3,956 triệu tấn tăng 13,48% so với năm 2006. Rõ ràng, Việt Nam đang trong giai đoạn tiêu thụ thép lớn. Nhu cầu về thép và các sản phẩm của thép là cao. Tuy nhiên, khả năng sản xuất trong nước chưa cung cấp đủ cho nhu cầu tiêu dùng. Bảng 2: Cung - Cầu về sản phẩm thép ở Việt Nam (Nguồn: Công nghiệp gang thép Việt Nam, một giai đoạn phát triển và chuyển đổi chính sách mới_Nozomu Kawabata) Dựa vào bảng trên, chúng ta thấy sản xuất nội địa trong những năm qua đã tăng lên đáng kể nhưng trên 40% sản phẩm thép được tiêu thụ là hàng nhập khẩu. Thêm vào đó, để sản xuất ra thép thành phẩm thì các doanh nghiệp còn phải nhập khẩu thêm các yếu tố đầu vào khác chứ không đơn thuần là sử dụng những nguyên liệu trong nước. Trong đó, phôi thép, yếu tố cấu thành chính của thép thành phẩm, trong nước mới chỉ đáp ứng được 20% còn lại là phụ thuộc vào lượng phôi nhập khẩu. Sơ đồ 1: Dòng nguyên liệu của ngành thép theo phân loại sản phẩm (2005) Đơn vị: 1000 Tấn (Nguồn: Công nghiệp gang thép Việt Nam, một giai đoạn phát triển và chuyển đổi chính sách mới_Nozomu Kawabata) Như vậy, với vai trò của phôi thép và khả năng cung ứng phôi thép trong nước, chúng ta đã có thể thấy phần nào tầm quan trọng của hoạt động nhập khẩu phôi thép trong ngành công nghiệp thép Việt Nam hiện nay. CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU PHÔI THÉP TẠI TỔNG CÔNG TY THÉP VIỆT NAM DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP 2.1. NHỮNG CAM KẾT CỦA NGÀNH THÉP VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP Là một trong những ngành công nghiệp được bảo hộ trong một thời gian dài, ngành công nghiệp thép của Việt Nam đang chịu sức ép lớn từ quá trình hội nhập, mà cụ thể là thực hiện các cam kết với các tổ chức mà Việt Nam là thành viên. Ngành thép phân sản phẩm thép thành hai loại: Mặt hàng nhạy cảm và mặt hàng thông thường. Nhóm các mặt hàng nhạy cảm được chia thành nhạy cảm thường và nhạy cảm cao. Nhóm mặt hàng nhạy cảm cao bao gồm thép xây dựng làm bê tông cốt thép, thép hình tiết diện nhỏ và ống hàn (do các doanh nghiệp trong nước sản xuất theo nhu cầu thị trường). Nhóm các mặt hàng nhạy cảm thường của ngành thép là thép cán nguội, phôi thép và thép mạ. Tiêu chuẩn phân loại nhạy cảm cao và nhạy cảm vừa được dựa trên đánh giá về diễn biến cung cầu thép ở thị trường nội địa. Nếu năng lực sản xuất trong nước có thể đáp ứng đủ nhu cầu, ngành hàng đó được coi là nhạy cảm cao. Nếu sản xuất trong nước chỉ đáp ứng một phần nhu cầu, ngành hàng đó là nhạy cảm vừa. Đối với các mặt hàng thép vừa được sản xuất tại Việt Nam vừa được các nhà sản xuất thép trong nước sử dụng như phôi thép thì sẽ có mức thuế suất thoả hiệp trung bình là 7%. 2.1.1. Cam kết trong khu vực mậu dịch tự do (AFTA) AFTA là khu mậu dịch tự do của các nước thuộc khối ASEAN. Sự gia đời của AFTA nhằm mục đích tăng cường buôn bán trong nội khối, qua đó thúc đẩy sản xuất tăng trưởng, đồng thời biến ASEAN thành một địa điểm hấp dẫn nhà đầu tư ngoại khối. Nhằm tiến tới hình thành khu vực mậu dịch tự do, các nước ASEAN đã thực hiện các chương trình: Với chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung CEPT, thuế quan của các nước tham gia được giảm xuống còn 0 – 5% Loại bỏ hàng rào phi thuế quan (NTB): hạn ngạch, cấp giấy phép, kiểm soát hành chính và hàng rào kỹ thuật. Hài hoà các thủ tục hành chính. Kể từ năm 2006, thuế suất của các mặt hàng thông thường của VN (bao gồm cả sắt thép) đều có mức thuế từ 0 - 5%. Các mặt hàng nhạy cảm có lộ trình cắt giảm thuế dài hơn. Trong cam kết giữa các nước ASEAN, thuế suất thuế nhập khẩu của Việt Nam Bảng 3: Thuế suất cam kết của Việt Nam với mặt hàng sắt thép trong AFTA Mã HS Mô tả hàng hoá Thuế suất thời điểm hiện tại Thuế suất cam kết cắt giảm Thời hạn thực hiện 7207 Phôi thép 0 0 2013 7214 Thép xây dựng 5 5 2013 (Nguồn: Cam kết của Việt Nam trong AFTA) Khi tham gia vào AFTA, Việt Nam phải tuân thủ các luật lệ chung của tổ chức này, trong đó có những cam kết về thuế. Điểm đặc biệt là sẽ không có bất kỳ sự thay đổi nào về mức thuế suất từ 2006 đến 2013, mức thuế hiện tại là mức thuế được áp dụng cho đến thời điểm cuối cùng trong cam kết. 2.1.2. Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA) Hiệp định thương mại hàng hoá ASEAN – Trung Quốc được ký kết với mục tiêu thiết lập một khu mậu dịch tự do giữa các nước ASEAN với Trung Quốc trong vòng 10 năm tới. Trong cam kết cắt giảm thuế của Việt Nam đối với mặt hàng thép trong khu vực ACFTA, ngành thép có tổng số 446 mặt hàng, trong đó, 24 mặt hàng cam kết ở mức độ nhạy cảm cao và 11 mặt hàng nhạy cảm thông thường. Các mặt hàng nhạy cảm sẽ không có lộ trình cắt giảm hàng năm, nhưng Việt Nam phải cam kết cắt giảm xuống thuế suất 20% vào năm 2015 và xuống 0 - 5% vào năm 2020 đối với các mặt hàng nhạy cảm thông thường; các mặt hàng còn lại của ngành Thép được thực hiện cắt giảm theo lộ trình của các mặt hàng thông thường. Thuế suất và lộ trình cắt giảm mặt hàng thép của Việt Nam trong hiệp định ACFTA cụ thể như sau: Bảng 4: Lộ trình cắt giảm thuế suất của Việt Nam đối với mặt hàng sắt thép trong ACFTA. X = Thuế xuất MFN áp dụng Mức thuế suất ACFTA (%) Ở thời điểm không muộn hơn 01/01 của năm 2005 2006 2007 2008 2009 2011 2013 2015 X ≥ 60% 60 50 40 30 25 15 10 0 45% ≤ X< 60% 40 35 35 30 25 15 10 0 35% ≤ X < 45% 35 30 30 25 20 15 5 0 30% ≤ X < 35% 30 25 25 20 17 10 5 0 25% ≤ X < 30% 25 20 20 15 15 10 5 0 20% ≤ X < 25% 20 20 15 15 15 10 0 - 5 0 15% ≤ X < 20% 15 15 10 10 10 5 0 - 5 0 10% ≤ X < 15% 10 10 10 10 8 5 0 - 5 0 7% ≤ X < 10% 7 7 7 7 5 5 0 - 5 0 5% ≤ X < 7% 5 5 5 5 5 5 0 - 5 0 X < 5% Giữ nguyên 0 (Nguồn: Cam kết trong ACFTA của Việt Nam) Đây là lộ trình cụ thể cho từng mức thuế suất đã áp dụng MFN sẽ được cắt giảm từ năm 2005 cho đến 2015 sẽ đồng loạt xuống còn 0%. Theo đó, cho đến năm 2015, thép Việt Nam sẽ phải áp dụng mức thuế 0% với các sản phẩm thép nhập vào từ Trung Quốc. Riêng đối với hai mặt hàng phôi thép và thép xây dựng thì mức độ cam kết cắt giảm với Trung Quốc của Việt Nam là Bảng 5: Thuế suất của Việt Nam với mặt hàng sẳt thép trong ACFTA. Mã HS Mô tả hàng hoá Thuế suất thời điểm hiện tại Thuế suất cam kết cắt giảm Thời hạn thực hiện 7207 Phôi thép 3 3 2014 7214 Thép XD 35 10 2014 (Nguồn: Cam kết của Việt Nam trong ACFTA) 2.1.3. Cam kết trong WTO 2.1.3.1. Quy chế tối huệ quốc (MFN) Quy chế tối huệ quốc (MFN): đối xử bình đẳng với các nước khác. Theo quy chế này các quốc gia không được phân biệt đối xử với các đối tác thương mại của mình. Nếu trao cho một nước nào đó một đặc quyền thương mại thì cũng phải đối xử tương tự như vậy với tất cả các nước thành viên còn lại của WTO. Đây là nguyên tắc đặc biệt quan trọng vì nó được quy định ngay tại điều đầu tiên của Hiệp định chung về Thuế quan và thương mại, hiệp định đóng vai tròn điều tiết thương mại hàng hóa. Đây cũng là điều khoản ưu tiên của các Hiệp định quan trọng của WTO. Thuế suất đối với phôi thép và thép xây dựng được Việt Nam áp dụng như sau: Bảng 6: Thuế MFN của Việt Nam đối với một số mặt hàng sắt thép Mã HS Mô tả hàng hoá Thuế suất 7207 7214 Phôi thép Thép XD 3 10 (Nguồn: phòng kinh doanh xuất nhập khẩu - Tổng công ty Thép) Biểu thuế MFN của Việt Nam được Bộ tài chính ban hành hàng năm để áp dụng với các hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam từ những nước có quan hệ bình thường với Việt Nam (trước đây) và các nước thành viên WTO (hiện nay). Đặc biệt, mức thuế này không có lộ trình và có thể tăng giảm theo tình hình thị trường nhưng không vượt quá thuế suất cam kết với WTO. 2.1.3.2. Cam kết trong WTO Quy tắc xuất xứ sẽ được áp dụng theo 3 quy tắc chung của WTO: quy tắc chuyển đổi dòng thuế, quy tắc hàm lượng xuất xứ giá trị khu vực, quy tắc chuyển đổi cơ bản. Tuy theo từng điều kiện và loại mặt hàng cụ thể mà quy tắc xuất xứ có thể lựa chọn một quy tắc hoặc kết hợp các quy tắc để tính. Về hạn ngạch thuế quan thì Việt Nam không áp dụng hạn ngạch thuế quan đối với các sản phẩm thép, mở cửa thị trường phân phối sản phẩm sau 3 năm kể từ khi gia nhập WTO. Cụ thể các cam kết như sau: Thép là nguyên liệu quan trọng của ngành công nghiệp. Do đó, các thành viên trong WTO đã yêu cầu Việt Nam đàm phán tất cả các dòng thuế của sản phẩm thép. Theo đó, cam kết của Việt Nam đối với các sản phẩm thép là (tập trung vào thép xây dựng và phôi thép): Bảng 7: Thuế suất cam kết của Việt Nam đối với mặt hàng sắt thép trong WTO Mã HS Mô tả hàng hoá Thuế suất cam kết tại thời điểm gia nhập (%) Thuế suất cam kết cắt giảm (%) Thời hạn thực hiện (năm) 7207 7214 Phôi thép Thép xây dựng 20 40 10 25 2014 2014 (Nguồn: Phòng kinh doanh XNK_Tổng công ty Thép) Như vậy, nhìn vào bảng số liệu có thể thấy, nếu thực hiện theo đúng cam kết thì mức thuế của hai mặt hàng phôi thép và thép xây dựng sẽ giảm đi từ 2 – 2.5 lần so với mức thuế suất ban đầu. Theo cam kết này đến năm 2014, ngành thép nói chung và Tổng công ty Thép nói riêng sẽ phải đồng loạt cắn giảm thuế theo thoả thuận (cụ thể là với phôi thép cắt giảm từ 20% xuống còn 10%, thép xây dựng từ 40% giảm xuống còn 25%). Tuy nhiên, mức thuế suất sẽ không phải cắt giảm ngay lập tức hoặc phải chờ đến năm 2014 mới cắt giảm. Theo cam kết, sự cắt giảm thuế suất được thực hiện theo lộ trình nhất định. Ta sẽ phân tích lộ trình này trong sơ đồ dưới đây: Sơ đồ 2: Lộ trình giảm thuế của một số mặt hàng sẳt thép trong WTO (Nguồn: Phòng kinh doanh XNK_Tổng công ty Thép) Lộ trình cắt giảm được kéo dài đến năm 2014 và mức giảm sẽ được giảm đều hàng năm ( mức cắt giảm như trong sơ đồ trên, mỗi năm thuế sẽ được giảm 2.5% với phôi thép và 3 – 4% với thép XD). Bước cắt giảm đầu tiên tính từ ngày 01 tháng 01 của năm tiếp theo thời điểm gia nhập và chính thức trở thành thành viên WTO của Việt Nam. Các bước cắt giảm sau đó được thực hiện từ ngày 01 tháng 01 hàng năm cho đến khi đạt được mức cam kết cuối cùng. Tuy nhiên, mức thuế cam kết có thể được cắt giảm nhanh hơn lộ trình cắt giảm đều hàng năm và được làm tròn đến số thập phân thứ nhất. Theo lộ trình này, cho đến năm 2014, Việt Nam sẽ phải hoàn tất việc cắt giảm thuế với phôi thép và thép xây dựng. 2.2. TÌNH HÌNH NHẬP KHẨU PHÔI THÉP TẠI VĂN PHÒNG TỔNG CÔNG TY THÉP 2.2.1. Tổng quan về Tổng công ty Thép Việt Nam 2.2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển Các mốc chính của Tổng công ty Thép Việt Nam trong quá trình phát triển cũng là sự cụ thể hoá các chủ trương, chính sách của nhà nước trong việc đổi mới, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước thời kỳ hội nhập. Về cơ bản, có những mốc chính sau: Ngày 30/05/1990 với quyết định 128/CNNg - TC của Bộ công nghiệp nặng (nay là Bộ công thương) Tổng công ty Thép được thành lập bằng việc sát nhập hai nhà máy lớn nhất Việt Nam lúc đó là Công ty Gang thép Thái Nguyên ở phía Bắc và Công ty thép Miền Nam ở phía Nam. Tổng công ty Thép ra đời trở thành công cụ cho nhà nước quản lý chặt chẽ hơn các đầu tầu của nền kinh tế. Theo quyết định số 255/TTg ngày 29/04/1995 của thủ tướng chính phủ, Tổng công ty Thép chính thức chuyển sang hoạt động theo mô hình tổng công ty 90,91 nhằm tiến tới hình thành nên một tập đoàn kinh tế mạnh của đất nước. Theo quyết định 266/2006/QĐ - TTg, đề án chuyển Tổng công ty Thép Việt Nam sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con chính thức có hiệu lực. Theo đó, công ty mẹ - Tổng công ty Thép Việt Nam (VSC) là công ty nhà nước, được hình thành trên cơ sở tổ chức lại Văn phòng Tổng công ty Thép Việt Nam, Công ty Thép miền Nam, Công ty Thép tấm lá Phú Mỹ, các đơn vị hạch toán phụ thuộc, đơn vị sự nghiệp và các chi nhánh. Các công ty con của Tổng công ty Thép Việt Nam bao gồm: 8 công ty do Công ty mẹ giữ cổ phần, vốn góp chi phối; 4 công ty thực hiện cổ phần hóa năm 2007 - 2008 do công ty mẹ giữ cổ phần chi phối. Ngoài ra, Tổng công ty Thép Việt Nam còn có 21 công ty cổ phần, liên doanh có cổ phần hoặc vốn góp của Công ty mẹ dưới 50% vốn điều lệ.Tổng công ty Thép Việt Nam chính thức hoạt động sang mô hình công ty mẹ - con từ ngày 01/07/2007. 2.2.1.2. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị Công ty mẹ - Tổng công ty Thép Việt Nam được hình thành trên cơ sở sắp xếp lại Văn phòng Tổng công ty Thép, công ty thép tấm lá Phú Mỹ, công ty thép Miền Nam. Việc điều hành quản lý chủ yếu thông qua cơ quan văn phòng của Tổng công ty Thép với trụ sở chính 91 Láng Hạ - Hà Nội. Trong quá trình hoạt động, cơ cấu tổ chức có thể thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể, song hiện nay thì cơ cấu tổ chức của cơ quan văn phòng VSC như sau: Sơ đồ 3: Cơ cấu tổ chức cơ quan văn phòng VSC HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ TỔNG GIÁM ĐỐC Ban kiểm soát Phó tổng giám đốc Phó tổng giám đốc Phó tổng giám đốc Văn phòng Tổng công ty Phòng._.ẩu vào nước này dự báo sẽ còn tiếp tục tăng trong những năm tới. 3.1.2. Thị trường Việt Nam Vẫn theo đà tăng năm 2007, sang năm 2008 giá các sản phẩm thép bao gồm cả giá phôi thép vẫn tiếp tục tăng. Theo các doanh nghiệp thép, giá quặng nhập về Việt Nam vào tháng 4/2008 là 210 USD/tấn, tăng gần 100 USD/tấn so với cách đây 2 tháng. Bên cạnh đó giá thép phế cũng tăng mạnh. Hiện giá thép phế chào bán ở mức 670 USD/tấn, giá các doanh nghiệp đã mua khoảng 630 USD/tấn. Từ 1/4/2008 giá quặng sắt tăng thêm 65%. Giá quặng sắt tăng đã tác động làm cho thị trường thép "nóng" từng ngày. Tác động từ việc giá quặng sắt, thép phế và giá than cốc tăng (gần 50%) trong thời gian qua đã làm cho giá phôi thép và thép liên tục biến động. Mới tuần trước, giá chào bán phôi thép từ Trung Quốc chỉ ở mức 905 USD/tấn thì nay đã lên tới 970 USD/tấn. Các nguồn khác như Nga, Ucraina, giá có thấp hơn, nhưng không có hàng hoặc do đường xa nên chi phí vận tải cao và thời gian kéo dài. Theo Hiệp hội Thép Việt Nam, Công ty Thép Việt - Nhật (Vinakyoei) cho biết họ đã ký hợp đồng mua phôi thép với giá 930 USD/tấn. Nhưng theo ông Phạm Chí Cường - Chủ tịch Hiệp hội Thép thì các doanh nghiệp khác chưa doanh nghiệp nào mua phôi thép quá 900 USD/tấn. Mới đây, một số doanh nghiệp đã có thông báo đến các đại lý và khách hàng bắt đầu từ 1/4 sẽ tăng giá thép thêm 500.000 đồng/tấn. Nhưng Hiệp hội Thép cho biết đã làm việc với các doanh nghiệp này và thông báo tăng giá đã được rút lại. Bên cạnh đó một số doanh nghiệp cho biết sẽ giữ nguyên giá bán thép đến hết tháng 4/2008. Hiện nay giá thép bán ra đang ở mức 14,8 triệu đồng đến 15,2 triệu đồng/tấn chưa có VAT. Giá thép hiện nay chỉ tương đương với giá phôi nhập khẩu 860 USD/tấn. Có nhiều lo ngại cho rằng giá thép cao sẽ làm giảm nhu cầu, tiêu thụ chậm, nhưng theo Hiệp hội Thép, tiêu thụ thép không hề giảm. Cụ thể trong tháng 2/2008 là tháng trùng với Tết Nguyên đán, có nhiều ngày nghỉ thì tiêu thụ thép vẫn đạt 296.000 tấn, cao hơn so với mức trung bình cả năm 2007 là 270.00 tấn. Còn trong tháng 3/2008 dự kiến tiêu thụ đạt 350.000 tấn. Một số doanh nghiệp thép như Hoà Phát, Pomina... hiện vẫn sản xuất vượt công suất thiết kế do tiêu thụ tăng mạnh. Theo dự tính năm 2008 nhu cầu về thép của Việt Nam tăng khoảng 20% so với 2007 do đầu tư nước ngoài tăng mạnh và nhiều công trình trọng điểm của Nhà nước như Thuỷ điện Sơn La, Nhà máy lọc dầu Dung Quất, các công trình giao thông, hạ tầng sử dụng vốn ODA tăng cao, cần khối lượng thép lớn. Năm 2008, ước tính tổng nhu cầu phôi cho sản xuất thép vào khoảng 4,6 triệu tấn. Tuy nhiên, nguồn phôi trong nước mới chỉ đáp ứng được 2 triệu tấn, còn lại hơn 2 triệu tấn vẫn phải nhập khẩu. Theo Hiệp hội Thép Việt Nam, giá thành phôi sản xuất trong nước thấp hơn nhập khẩu tới 200 USD/tấn. Nhưng để sản xuất được trên 4 triệu tấn phôi thì vẫn vượt quá khả năng của doanh nghiệp Việt Nam. Phải đến 2010 thì Việt Nam mới đạt sản lượng trên 4 triệu tấn phôi thép. Vì vậy trong thời gian tới sản xuất thép Việt Nam vẫn phụ thuộc nhiều vào nguồn phôi nhập khẩu. Như vậy năm 2008 giá thép sẽ tăng theo đà tăng 2007, có thể là không nhiều nhưng cũng chưa thể xác định được điểm dừng và sức nóng, nguội của giá thép vẫn là điều khó nói. Hiện nay, giá phôi thép đầu năm 2008 đã tăng 45,1% so với cuối năm 2007, hiện giá chào đã lên đến 900USD/tấn. 3.2. ĐỊNH HƯỚNG CHO HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU NGÀNH THÉP TRONG NHỮNG NĂM TỚI 3.2.1. Định hướng phát triển ngành thép của chính phủ Việt Nam đến năm 2025 Quan điểm và mục tiêu chiến lược phát triển ngành thép Việt Nam tới năm 2010, tầm nhìn tới 2020 : Quan điểm phát triển ngành thép là từng bước đáp ứng nhu cầu thông thường về thép xây dựng của Việt Nam để không bị phụ thuộc hoàn toàn vào nước ngoài. Mục tiêu tổng quát: Phát triển ngành thép Việt Nam nhanh chóng trở thành một ngành phát triển hoàn chỉnh theo công nghệ truyền thống, sử dụng tối đa nguồn quặng sẳn có trong nước, trên cơ sở xây dựng khu liên hợp luyện kim công suất 4-5 triệu tấn thép /năm, sử dụng tối đa và có hiệu quả nguồn nguyên liệu khoáng trong nước, áp dụng các công nghệ mới hiện đại đang được sử dụng trên thế giới, cố gắng thoả mãn tối đa nhu cầu trong nước về thép cán (cả về số lượng, chủng loại, quy cách và chất lượng sản phẩm). Từ thay thế nhập khẩu tiến tới xuất khẩu sản phẩm thép. Phấn đấu đến 2020 sẽ có một ngành thép phát triển bền vững với tốc độ tăng trưởng cao, bảo đảm tốt về chất lượng, đầy đủ về số lượng và chủng loại sản phẩm thép, đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Bảng 17 : Dự báo nhu cầu các sản phẩm thép trong các giai đoạn Giai đoạn I II III IV V 1996 - 2000 6,94 13,57 27 9 37 2001 - 2005 7,5 14,08 14 10 - 11 78 2006 - 2010 7,5 10,38 10 10,6 123 2011 - 2015 7,0 8 - 9 9 - 9,5 9 - 9,5 170 2016 - 2020 6,5 7 - 8 8 - 8,5 8 - 8,5 240 I - Tăng trưởng GDP (%); II - Tăng trưởng công nghiệp (%); III - Tăng trưởng sản xuất thép (%); IV - Tăng tiêu thụ thép (%); V - Bình quân đầu người (kg/người.năm) (Nguồn  Trong giai đoạn đầu sẽ phát triển các khâu hạ nguồn trước như sản xuất thép cán tròn xây dựng, thép cán tấm nóng, cán tấm nguội.. đi từ thép phôi, thép nhập khẩu và một phần thép phế liệu. Trong quá trình phát triển sẽ tiếp tục đầu tư chiều sâu các cơ sở hiện có, nghiên cứu phát triển khâu thượng nguồn có sử dụng quặng sắt trong nước và một phần quặng sắt nhập khẩu phù hợp với trình độ công nghệ đã thuần thục. Dưới đây là những quan điểm cụ thể: Thép là vật tư chiến lược không thể thiếu của ngành công nghiệp, xây dựng và quốc phòng, có vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Ngành thép cần được xác định là ngành công nghiệp được ưu tiên phát triển. Trên cơ sở phát huy có hiệu quả nguồn tài nguyên khoáng sản sẳn có trong nước, kết hợp với nhập khẩu một phần quặng và phôi của nước ngoài, xây dựng khu liên hợp luyện kim công suất 4 - 5 triệu tấn thép /năm để từng bước đáp ứng nhu cầu thép trong nước cả về chủng loại và chất lượng. Trong giai đoạn đầu tập trung phát triển các khâu hạ nguồn như cán thép xây dựng, thép cán tấm nóng, cán tấm nguội, sau đó cần nghiên cứu phát triển khâu sản xuất thượng nguồn để sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên trong nước. Kết hợp chặt chẽ giữa phát huy nội lực và tranh thủ tận dụng có hiệu quả các nguồn vốn từ nước ngoài (trước hết về thiết bị và công nghệ). Kết hợp hài hoà giữa yêu cầu giữ vứng độc lập tự chủ về kinh tế với xu thế hội nhập, toàn cầu hoá; tự chủ nhưng không bỏ qua các cơ hội hợp tác và phân công lao động quốc tế để đẩy nhanh tốc độ phát triển ngành thép. Đa dạng hoá vốn đầu tư cho ngành thép. Vốn đầu tư của nhà nước chủ yếu dành cho phát triển các nguồn quặng trong nước và các công trình sản xuất thép tấm, thép lá; Về công nghệ: Trong giai đoạn đến 2020 vẫn sử dụng công nghệ truyền thống là sản xuất lò cao luyện thép. Đồng thời tích cực nghiên cứu áp dụng các công nghệ mới, tiên tiến, hiện đại để phát triển ngành thép. Đối với khu liên hợp luyện kim khép kín có vốn đầu tư lớn và thời gian xây dựng kéo dài, có thể triển khai trước khâu sản xuất cán kéo. Sau sẽ phát triển tiếp khâu sản xuất phôi cán từ quặng. Nhà nước có chính sách hỗ trợ tích cực cho ngành thép trong khuôn khổ cho phép của các cam kết thương mại và hội nhập quốc tế. Tham gia AFTA đồng nghĩa với việc xoá bỏ hàng rào thuế quan, ngành thép phải củng cố mở rộng từ khâu sản xuất đến lưu thông phân phối với các ngành kinh tế khác để mở rộng thị trường và cạnh tranh được ở thị trường trong nước và trên thế giới. Đi đôi với việc đầu tư xây dựng các nhà máy hiện đại, phải hết sức coi trọng đầu tư chiều sâu, đổi mới thiết bị công nghệ, hiện đại hoá các cơ sở hiện có lên ngang bằng tiên tiến trong nước và khu vực. Quan tâm công tác đào tạo nhân lực và phát triển khoa học công nghệ phục vụ phát triển ngành. Còn đối với sản xuất phôi thì mục tiêu đặt ra cho những năm tới là năm 2010 đạt 3,5 - 4,5 triệu tấn; năm 2015 đạt 6 - 8 triệu tấn; năm 2020 đạt 9 - 11 triệu tấn và năm 2025 đạt 12 - 15 triệu tấn phôi thép. 3.2.2. Định hướng cho hoạt động nhập khẩu phôi thép tại Tổng công ty thép Trong cơ chế thị trường ngày nay, hoạt động kinh doanh quốc tế gặp nhiều khó khăn và trở ngại. Muốn tồn tại và phát triển mỗi doanh nghiệp cần có định hướng đúng đắn, kịp thời để nắm bắt được cơ hội kinh doanh. VSC cũng xây dựng cho mình những phương hướng hoạt động để phát triển hơn nữa trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay: Phương hướng chung đối với công tác nhập khẩu Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu là hoạt động mang lại lợi nhuận cao song nó chứa đựng nhiều yếu tố rất phức tạp. Những yếu tố này vượt ra ngoài biên giới quốc gia, nó mang tính chất quốc tế và như thế nhiều khi Cơ quan không thể kiểm soát được. Chính vì thế mà Cơ quan văn phòng công ty đã đưa ra định hướng đối với hoạt động nhập khẩu như sau: - Thúc đẩy hơn nữa hoạt động nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu của các đơn vị thành viên, đảm bảo cân đối cho nền kinh tế. Đồng thời đa dạng hoá mặt hàng kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu luôn biến đổi của khách hàng. Ngoài mặt hàng phôi nhập sẽ gia tăng nhập mặt hàng thép phế, thép lá kim loại, thép cuộn cán nóng… - Phấn đấu không ngừng để duy trì và nâng cao tỷ trọng hàng nhập khẩu nhằm phục vụ tốt hơn cho các đơn vị thành viên và các ngành sản xuất trong nước, đây cũng là định hướng phát triển lâu dài của hoạt động nhập khẩu tại Cơ quan văn phòng. - Mở rộng thị trường nhập khẩu. Giữ vững và phát triển mối quan hệ tốt đẹp với bạn hàng, các nước xuất khẩu: Trung Quốc, Nga, Ukraina, Nhật Bản, Hàn Quốc…Đồng thời tìm kiếm những đối tác mới có uy tín, có hàng hoá với lợi thế hơn hẳn để từ đó phát triển mối quan hệ làm ăn lâu dài. - Nâng cao uy tín trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu với các đối tác trong cũng như ngoài nước. - Không ngừng tăng doanh thu, tăng lợi nhuận có được từ hoạt động nhập khẩu để từ đó nâng cao doanh thu cho Cơ quan văn phòng và Tổng công ty Thép. Định hướng đối với công tác nhập khẩu phôi thép Mặt hàng nhập khẩu phôi thép vẫn giữ một vai trò chính trong mặt hàng nhập của Cơ quan văn phòng Tổng công ty Thép và Việt Nam. Trong ngành thép xây dựng hiện nay phôi không thể thiếu được và nhu cầu về mặt hàng này sẽ còn tăng nữa. Bên cạnh đó quá trình Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá ở Viêt Nam đang diễn ra với nhịp độ nhanh chóng, nhiều công trình, cơ sở hạ tầng được xây dựng vì vậy mà nhu cầu về thép xây dựng trong đó có phôi thép sẽ còn tồn tại. Do nhu cầu phôi tăng dẫn đến sự biến động liên tục về giá cả của mặt hàng này. Trong những năm tới đây hoạt động nhập khẩu phôi của Cơ quan văn phòng được định hướng như sau: - Phát triển hơn nữa họat động nhập khẩu phôi để đáp ứng tốt hơn nhu cầu phôi thép sản xuất cho các đơn vị thành viên VSC - Mở rộng thị trường nhập khẩu phôi, tìm kiếm thị trường mới giảm thiểu sự rủi ro khi tập trung quá nhiều lượng phôi nhập từ thị trường Trung Quốc - Tăng doanh thu từ việc kinh doanh nhập khẩu phôi góp phần tăng doanh thu cho Cơ quan văn phòng. - Nâng cao uy tín với đối tác xuất khẩu phôi để giữ quan hệ làm ăn lâu dài với bạn hàng - Điều phối lượng phôi nhập để bình ổn giá cả thị trường trong nước về mặt hàng phôi thép - Đối với mặt hàng phôi nhập trong thời gian tới vẫn là đáp ứng nhu cầu về phôi thép ngày một tốt hơn cho các đơn vị thành viên và cả các doanh nghiệp ngoài VSC. Góp phần bình ổn lượng và giá phôi thép trên thị trường Việt Nam 3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHO HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU PHÔI THÉP TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP ĐỂ THỰC HIỆN NHỮNG MỤC TIÊU ĐÃ ĐỀ RA 3.3.1. Từ phía nhà nước Hoạt động nhập khẩu không thể thiếu được sự quản lý điều hành của Nhà nước vì hàng loạt các chính sách về thuế, lãi suất, các quy định đối với hoạt động kinh doanh ngoại thương...đều do nhà nước đặt ra. Trong những năm qua, Nhà nước đã có nhiều chính sách thông thoáng hơn cho các doanh nghiệp đẩy mạnh hoạt động kinh doanh, đặc biệt là trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, trong thực tế kinh doanh xuất nhập khẩu từ các doanh nghiệp đã phát sinh không ít những khó khăn cần tới sự điều chỉnh vĩ mô của Nhà nước để nâng cao hơn hiệu quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Từ đó góp phần cho hiệu quả chung của toàn bộ nền kinh tế, xuất phát từ thực tế tìm hiểu hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu tại Cơ quan văn phòng Tổng Công ty Thép Việt Nam, em xin đưa ra một số kiến nghị như sau: 3.3.1.1. Hoàn thiện hệ thống chính sách và pháp luật Cải cách triệt để thủ tục hành chính trong lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu như thủ tục xin giấy phép kinh doanh, giấy phép nhập khẩu, thủ tục hải quan,thuế...tránh việc gây phiền nhiễu cho các doanh nghiệp đồng thời ngăn chặn triệt để tình trạng vòi tiền ăn hối lộ của một số cán bộ của các cơ quan này. Xây dựng hệ thống chính sách, pháp luật theo thể chế thị trường phù hợp với cam kết hội nhập cũng như với các thông lệ quốc tế. Điều này là cần thiết vì chỉ khi có một khung pháp lý hoàn chỉnh thì trong quá trình hoạt động mới không bị luật pháp trói buộc như trong những năm qua. Tạo môi trường kinh doanh công bằng, ổn định. Hiện nay, có rất nhiều thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh do đó, một sự công bằng, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế là cần thiết + Bảo vệ thị trường nội địa bằng các hàng rào kỹ thuật và tiêu chuẩn chất lượng, môi trường hợp pháp nhằm ngăn chặn sự xâm nhập của sản phẩm kém chất lượng, không bảo đảm an toàn vào thị trường Việt Nam; + Tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật để hoàn thiện thị trường các sản phẩm thép, tạo liên kết chặt chẽ, chia sẻ lợi nhuận và cộng đồng trách nhiệm giữa nhà sản xuất với nhà kinh doanh thép; + Hoàn thiện chính sách, pháp luật và tăng cường năng lực thực hiện pháp luật về cạnh tranh, chống độc quyền, chống liên kết lũng đoạn thí trường, chống bán phá giá. 3.3.1.2. Điều chỉnh chiến lược phát triển ngành thép Dựa trên hoàn cảnh cụ thể để tiến hành hoạch định chiến lược phát triển ngành thép. Hoạch định chiến lược ngành thép trong những năm tới phải tính đến sự cân đối giữa khâu thượng nguồn và hạ nguồn để từ đó làm cơ sở cho cạnh tranh và phát triển của cả ngành thép, tránh sự phục thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu như trong chiến lược phát triển ngành thép Việt Nam giai đoạn 2007 – 2015 có tính đến 2025 đã đề cập “Xây dựng và phát triển ngành Thép Việt Nam thành một ngành công nghiệp quan trọng, bảo đảm phát triển ổn định và bền vững, giảm thiểu sự mất cân đối giữa sản xuất gang, phôi thép với sản xuất thép thành phẩm, giữa sản phẩm thép dài với sản phẩm thép dẹt.” Vấn đề nổi cộm của ngành thép Việt Nam hiện nay là nguyên liệu. 70% nguyên liệu phục vụ cho sản xuất thép của Việt Nam là từ nguồn nhập khẩu trong đó Trung Quốc là thị trường nhập khẩu chính của ta, do đó khi nguồn nguyên liệu này trên thế giới sẽ khiến cho ngành thép Việt Nam gặp nhiều khó khăn. Để giải quyết vấn đề này không phải trong một lúc là có thể giải quyết được mà cần phải có chiến lược lâu dài. Trước mắt, thực hiện việc xuất quặng sắt để nhập đối lưu than mỡ, than cốc với các đối tác Trung Quốc. Về lâu dài, cần xây dựng chiến lược xuất nhập khẩu nguyên liệu khoáng chung của cả nước để bảo đảm nguồn than mỡ, than cốc cho ngành Thép phát triển bền vững Thêm nữa, để có thể hạn chế phần nào sự ảnh hưởng của thị trường Trung Quốc đối với thị trường thép nội địa, chúng ta nên từng bước phân tán thị trường nhập khẩu. Trong năm 2007, chúng ta đã chuyển dần nhập khẩu phôi thép từ thị trường Trung Quốc sang các thị trường khác mà chủ yếu là thị trường Đông Nam Á. Đó là giải pháp tình thế nhưng chúng ta nên coi đây là một bước đệm quan trọng cho việc chuyển hướng thị trường. Các doanh nghiệp nên tăng cường tìm kiếm các nguồn hàng mới hơn nữa dưới sự hỗ trợ của chính phủ thông qua các cục xúc tiến và các phái đoàn ngoại giao... Về lâu dài, cần từng bước sản xuất thay thế nguồn nguyên liệu nhập khẩu này. Do đó, ngành thép cần có chiến lược phát triển sao cho cân đối giữa khâu thượng nguồn và hạ nguồn. Cần đẩy mạnh khai thác nguyên liệu là đầu vào của quá trình sản xuất thép như quặng sắt, khí đốt, than mỡ..., bên cạnh đó, cần tiếp tục đầu tư vào các nhà máy sản xuất phôi thép chứ không nên đầu tư quá nóng vào các nhà máy cán thép. Cần lựa chọn công nghệ sản xuất cho phù hợp với năng lực cũng như đảm bảo thân thiện với vấn đề môi trường. 3.3.1.3. Phát triển hệ thống hỗ trợ doanh nghiệp Xây dựng các kế hoạch đầu tư vào các cơ sở hạ tầng và phát triển hệ thống thông tin liên lạc - đây là chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp. Xây dựng các tuyến đường mới có chất lượng cao, thuận tiện việc chuyên chở hàng hoá từ các cảng vào trong nội địa làm giảm bớt chi phí. Không những thế Nhà nước không thể thiếu các kế hoạch về quy hoạch, nâng cao, sửa chữa và xây dựng mới mạng lưới cầu cảng, kho tàng thuận tiện cho việc bốc xếp và lưu giữ hàng hoá. Và coi đây là một bộ phận cấu thành của kết cấu hạ tầng của quốc gia nhằm đảm bảo tính hợp lý, tiết kiệm, tránh lãng phí, bảo vệ môi trường... Còn về hệ thống thông tin liên lạc cũng phải được đầu tư phát triển làm sao giảm bớt tới mức thấp nhất các chi phí về liên lạc để ở mức trung bình trong khu vực. Hệ thống thông tin liên lạc phải luôn được thông suốt để công ty có điều kiện tốt nhất trong việc thu thập các tin tức đang diễn ra trên thế giới cũng như việc giao dịch với các đối tác nhất là bạn hàng quốc tế. Bên cạnh các chính sách đầu tư, nhà nước cần có sự hỗ trợ các doanh nghiệp thông qua hệ thống thông tin của phòng Thương mại Việt Nam, các đại sứ quán và các tham tán thương mại tại nước ngoài. Việc cung cấp kịp thời những thông tin cần thiết cho doanh nghiệp về sự biến động của thị trường thế giới là rất quan trọng bởi nó có ảnh hưởng sâu sắc đến kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu như tình hình thay đổi giá cả cảu một số mặt hàng như giá dầu, tỷ giá hối đoái... Nên đặt ra các yêu cầu: Nắm bắt chính xác và cung cấp kịp thời cho các doanh nghiệp về các thông tin thị trường như về nguyên liệu, giá công nghệ, sự biến động của các yếu tố ảnh hưởng đến giá... Cung cấp các văn bản mới nhất, các quy định cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành về việc thực hiện hoạt động kinh doanh tại nước ngoài để doanh nghiệp có phương án phù hợp với các thay đổi đó. 3.3.1.4. Cần từng bước loại bỏ chức năng xã hội ra khỏi chức năng kinh tế của Tổng công ty Thép Loại bỏ chức năng mang tính mục tiêu chính trị xã hội ra khỏi chức năng kinh tế của doanh nghiệp. Với vai trò là đầu tàu của ngành thép Việt Nam, ngoài mục đích kinh doanh có hiệu quả, Tổng công ty Thép còn giữ trọng trách giúp nhà nước điều tiết thị trường thép trong nước. Do đó, hoạt động của Tổng công ty bị phụ thuộc lớn vào mục tiêu chính sách của nhà nước, điều này phần nào hạn chế hoạt động của Tổng công ty. Sự quan tâm của Chính phủ đóng vai trò rất quan trọng đối với sự thành công của các doanh nghiệp nên Nhà nước cần luôn theo dõi sát sao các hoạt động của các doanh nghiệp để có thể nắm bắt các khó khăn các doanh nghiệp đang mắc phải và đưa ra các chính sách phù hợp ở tầm vĩ mô tạo điều kiện phát triển cho doanh nghiệp. 3.3.2. Từ phía Tổng công ty 3.3.2.1. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kết hợp với các hình thức huy động vốn Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Một trong những khó khăn của Cơ quan văn phòng là vấn đề vốn cho kinh doanh. Trong điều kiện nhu cầu về vốn thì quá cao mà vốn cho hoạt động nhập khẩu phôi thép lại eo hẹp. Yêu cầu được đặt ra là Cơ quan phải sử dụng vốn sao cho có hiệu quả. Trước hết Cơ quan phải làm tốt công tác quản lý vốn, cụ thể là: - Chấp hành nghiêm chỉnh chế độ quản lý tài chính, ngoại hối của Nhà nước mà trước tiên là hoàn thành các loại thuế phải nộp - Tính toán lỗ, lãi, thời gian thu hồi vốn trong kinh doanh cũng như dự tính trước những rủi ro có thể xảy ra để có biện pháp phòng ngừa. Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Cơ quan có thể thực hiện một số biện pháp sau: + Đẩy mạnh tốc độ lưu chuyển hàng hoá để không cần tăng thêm lượng vốn lưu động mà hiệu quả sử dụng vốn vẫn tăng lên + Lựa chọn phương thức thanh toán an toàn, tránh tình trạng ứ đọng vốn. + Tổ chức theo dõi và thu hồi công nợ. + Quản lý tốt lượng hàng dự trữ, thanh lý kịp thời hàng tồn kho ứ đọng để giải phóng vốn Song song với công tác trên Cơ quan cần phải: + Thường xuyên phân tích, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn + Phải xây dựng được các phương án kinh doanh đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn cao. Ngoài ra Cơ quan cần giao vốn cho từng phòng để họ thực hiện chế độ tự hạch toán, đồng thời có kế hoạch giám sát, kiểm tra để cho các phòng chủ động hơn trong kinh doanh Huy động vốn Công ty có thể huy động vốn bằng các hình thức sau: - Khai thác nguồn vốn từ liên doanh liên kết, phần lớn các doanh nghiệp liên doanh liên kết với Tông công ty Thép Việt Nam đều là các doanh nghiệp nước ngoài, họ có tiềm lực tài chính rất mạnh như: công ty thép VinaKyoei, công ty thép VSC-Posco, công ty sản xuất thép Vinaustell,... Cơ quan văn phòng có thể dựa vào mối quan hệ này để tăng nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh của mình - Huy động vốn từ các thành viên trong Tổng công ty Thép Việt Nam. Trong Tổng công ty Thép có rất nhiều đơn vị kinh doanh đạt hiệu quả cao, số lượng vốn lớn như: công ty Gang thép Thái Nguyên, công ty thép Miền Nam, công ty thép Đà Nẵng… - Huy động vốn từ Hiệp Hội Thép Việt Nam (VSA). Hiệp Hội Thép Việt Nam được thành lập nhằm điều phối hoạt động sản xuất thép của các doanh nghiệp Việt Nam, bên cạnh đó nó còn có chức năng hỗ trợ sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp như: về vốn, công nghệ sản xuất, dự báo thị trường thép trong nước cũng như quốc tế…Vì vậy Cơ quan văn phòng có thể tiến hành vay vốn từ VSA. - Tới đây Cơ quan văn phòng sẽ tiến hành cổ phần hoá, đây cũng là một trong những điều kiện thuận lợi cho Cơ quan văn phòng có thể vay vốn từ các cổ đông trong công ty, từ các cán bộ nhân viên của Cơ quan. 3.3.2.2. Đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ cho nhân viên Hiện nay trong hoạt động thực hiện hợp đồng nhập khẩu Công ty vẫn phải thuê đại lý trung gian thực hiện việc thông quan và giao nhận hàng hoá, điều này làm Công ty thiếu đi sự chủ động xử lý tình huống cũng như phát sinh thêm một khoản chi phí làm ảnh hưởng tới lợi nhuận của công ty, tuy nhiên để thực hiện các công việc này yêu cầu cán bộ nhập khẩu phải có chuyên môn trong lĩnh vực này và phải có mối quan hệ tốt đẹp vơi cơ quan hải quan. Trong thời gian tới Công ty nên có các chính sách đào tạo, nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ nhập khẩu của mình để có thể tự mình làm được các công việc này cũng như có thể chủ động nhập khẩu theo điều kiện FOB để giảm chi phí. Để là được như vậy công ty cần thực hiện các công việc sau: - Cấp kinh phí đào tạo để nâng cao năng lực và trình độ chuyên môn và trình độ về ngoại ngữ cho cán bộ nhập khẩu. Đồng thời có kế hoạch tuyển dụng thêm các cán bộ trẻ để đội ngũ cán bộ luôn có sự trẻ hoá và được đào tạo để có đủ năng lực để trở thành đội ngũ kế cận xứng đáng. - Cử cán bộ tham gia các cuộc họp, các hội thảo chuyên ngành về nghiệp vụ ngoại thương. Thường xuyên tạo điều kiện cho nhân viên có cơ hội cập nhật tin tức và sự thay đổi của chính sách, các văn bản pháp lý và xu thế vận động của nền kinh tế trong nước cũng như nước ngoài. - Cơ quan cũng cần sử dụng các hình thức khuyến khích vật chất và tinh thần để động viên cán bộ công nhân viên khiến họ nhiệt tình hoàn thành tốt công việc được giao. Các hình thức ấy có thể là: quy định mức tiền thưởng cho cán bộ, nhân viên khi họ ký kết được một hợp đồng hay tổ chức tặng quà nhân nhân ngày lễ, tết hay tổ chức các chuyến đi nghỉ trong dịp hè... - Bên cạnh việc tổ chức các khoá học để nâng cao trình độ nghiệp vụ Công ty cũng nên tổ chức các cuộc thi nghiệp vụ để mỗi cán bộ, nhân viên tự chủ trau dồi kiến thức. Đây là một trong những phương pháp tốt, trực tiếp để bản thân mỗi người phải tự nỗ lực vươn lên. 3.3.2.3. Đầu tư trang thiết bị, tạo môi trường làm việc tốt cho cán bộ công nhân viên Trong những năm vừa qua Cơ quan đã rất chú trọng đến công tác này, hiện tại các phòng đều đã được trang bị đầy đủ những máy móc cần thiết, các phòng đều có máy tính nối mạng, máy in… tuy nhiên lượng máy fax chưa nhiều làm tốn thời gian và sức lực cho nhân viên. Trong tương lai Cơ quan cần đầu tư thêm trang thiết bị để phục vụ tốt cho hoạt động kinh doanh. Bên cạnh đó công ty cần tạo nên bầu không khí phấn khởi, thoải mái, đoàn kết trong quá trình làm việc. Xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa lãnh đạo và nhân viên để có thể phát huy hết khả năng của mỗi người trong công việc chung. 3.3.2.4. Tạo lập một hệ thống thu thập thông tin, phân tích dự báo Hiện nay ở Cơ quan văn phòng Tổng Công ty hệ thống thông tin, phân tích dự báo vẫn chưa thực sự tốt, vẫn chưa có những dự báo dài hạn và những thông tin chính xác về tình hình cung cầu phôi thép trên thế giới. Nếu Công ty thực hiện tốt hơn công tác này thì hoạt động nhập khẩu của Công ty sẽ có thể tốt hơn, hiệu quả hơn. 3.3.2.5. Phân công chuyên môn hoá trong quy trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu Hiện nay việc thực hiện hợp đồng nhập khẩu của Cơ quan văn phòng là mỗi người sẽ phụ trách một mặt hàng nhất định và sẽ tự mình thực hiện tất cả các khâu trong quy trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu như tự đi mở L/C, giải quyết khiếu nại đối với những lô hàng về mặt hàng đó. Như vậy rất mất thời gian và không chuyên nghiệp, do đó Công ty có thể chuyên môn hoá các công đoạn của quy trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu thành các khâu như sẽ giao việc mở L/C cho phòng kế toán, cử ra một người chuyên phụ trách phần giải quyết khiếu nại... như vậy công việc sẽ được chuyên môn hoá và tiến độ thực hiện sẽ nhanh hơn rất nhiều. KẾT LUẬN Mặc dù vẫn phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu bên ngoài nhưng ngành thép Việt Nam sau 50 phát triển cũng đã có những đóng góp không nhỏ vào sự phát triển chung của đất nước. Là trung tâm của ngành thép hiện nay, Tổng công ty Thép đang đứng trước những thách thức từ vấn đề hội nhập đặc biệt là sự cạnh tranh từ các đối thủ trong ngành. Năm 2007 vừa qua, với những biến động của thì trường thép thế giới, Tổng công ty vẫn hoạt động tốt. Đó là kết quả đáng mừng cho ngành thép nói chung và Tổng công ty Thép nói chung. Tuy nhiên với những biến động bất ngờ từ thị trường thép thế giới như hiện nay thì chưa thể nói gì nhiều cho ngành thép Việt Nam. Thời kỳ trước mắt là thời kỳ thử thách lớn cho ngành thép nói chung và cho Tổng công ty Thép nói riêng. Và để tiến tới hình thành tập đoàn thép trong những năm sắp tới, đòi hỏi Tổng công ty Thép phải tiếp tục hoàn thiện mình hơn nữa. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Giáo trình “Kinh tế quốc tế” - PGS.TS Đỗ Đức Bình và TS Nguyễn Thường Lạng . 2. “Kỹ thuật kinh doanh xuất nhập khẩu” – GS. TS Võ Thanh Thu- NXB Thống kê, năm 2002. 3. Giáo trình “Kinh tế ngoại thương” - PGS.TS Bùi Xuân Lưu và PGS. TS Nguyễn Hữu Khải 4. Các bản tin các tháng trong nước và quốc tế năm 2006, 2007,2008 của Hiệp hội thép Việt Nam: www.vsa.com.vn 5. Các bài nghiên cứu: “Tăng cường năng lực cạnh tranh ngành thép” _ Viện chính sách và chiến lược công nghiệp. 6. “Công nghiệp gang thép Việt Nam: Một giai đoạn phát triển và chuyển đổi chính sách”_Nozomu Kawabata. 7. Viện gang thép thế giới: www.worldsteel.org 8. Website Tổng công ty Thép Việt Nam: www.vsc.com.vn 9. Tin tổng hợp từ các trang web. - Ngành thép Việt Nam tự cứu mình trước khi quá muộn - Ngành thép Việt Nam lãi khá nhưng hội nhập còn yếu - Ximang “nóng”, sắt thép “lạnh” - Bất cập trong quản lý ngành thép PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ CHỦ YẾU CỦA NGÀNH THÉP VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007 -  2025 (Ban hành kèm theo Quyết định số 145/2007/QĐ-TTg ngày 04 tháng 9 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ) TT Nội dung Địa điểm dự kiến Dự kiến khởi công- hoàn thành Vốn đầu tư (tr. USD) Sản phẩm (1.000 tấn) Gang Phôi Thép Thép cán a b c d đ e g h I Các dự án quy hoạch trong giai đoạn 2007-2015 I.1 Các dự án trọng điểm 1 Liên hợp thép Hà Tĩnh Vũng Áng 2010-17 3.000 Sp chu chuyển 4.500 4.000 2 Liên hợp thép Quảng Ngãi: GĐ1 Dung Quất 2008-10 539 2.000 1.860 Liên hợp thép Quảng Ngãi: GĐ2 Dung Quất 2011-17 500 2500 2.200 3 Dự án POSCO: GĐ1- cán nguội BR- VT 2007-09 340 700 Dự án POSCO: GĐ2- cán nóng BR- VT 2010-12 660 3.000 4 Luyện cán thép không rỉ Thiên Hưng BR- VT 2006-10 650 720 5 Dự án cán nóng ESSA-VSC BR- VT 2007-09 525 2.000 I.2 Các dự án chủ yếu khác 1 Cải tạo mở rộng sản xuất công ty Gang thép Thái Nguyên GĐ2 (gồm cả mỏ) Thái Nguyên 2006-10 237 Sp chu chuyển 500 500 2 Liên hiệp gang thép Lào Cai Lào Cai 2006-10 150 500 430 500 3 N/m gang Lào Cai (ViMiCo, TKV) Lào Cai 2006-08 26,3 100 4 LD Khoáng nghiệp Hằng Nguyên Tuyên Quang 2006-10 43,5 220 5 Công ty CP gang thép Cao Bằng Cao Bằng 2006-10 25,0 140 6 N/m gang thép Yên Bái Yên Bái 2006-10 32,5-35,0 160 7 Dự án sản xuất phôi thép cty CPGT VN miền Bắc 2006-10 70 330 350 8 N/m phôi thép POMINA (Thép Việt) BR- VT 2008 70 400 9 N/m phôi thép dẹt (công ty Cửu Long) Hải Phòng 2006-10 60 400 10 N/m phôi thép Phú Mỹ GĐ2 (TMN) BR- VT 2011-15 60 500 11 N/m thép tấm cán nóng cty Cửu Long Hải Phòng 2007 30 300 12 N/m thép tấm cán nóng VINASHIN Quảng Ninh 2008 35 300 13 N/m thép cuộn cán nguội LILAMA Vĩnh Phúc 2006-10 37,8 250 14 N/m thép cuộn cán nguội cty Hoa Sen Bình Dương 2006-10 28 120 15 N/m thép cán nguội Phú Mỹ: GĐ 2 BR- VT 2006-10 25 200 16 N/m thép cán nguội Fomosa Steel BR- VT 2006-10 28 120 17 N/m thép cán nguội Sun Steel Bình Dương 2006-10 28 120 18 N/m thép cán nguội công ty Bạch Đằng Hải Phòng 2011-15 35 200 II Các dự án định hướng trong giai đoạn 2016- 2025 1 Dự án minimill (DR- EAF- phôi): PA1 BR- VT 2016-20 800 Sp chu chuyển 1.450 1.450 Dự án minimill (DR- EAF- tấm): PA2 Bình Thuận 2016-25 1.000 1450 1450 2 Các dự án luyện cán thép tấm, thép ống không hàn (2-3 dự án) Ven biển ở 3 miền Bắc, Trung, Nam 2016-25 1.000 1.500- 2.000 1.500- 2.000 3 Các dự án luyện cán thép xây dựng, thép hình lớn chất lượng cao (2 - 3 dự án) 2016-25 1.000 2.000 1.500 MỤC LỤC ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc10403.doc
Tài liệu liên quan