Luận án Ảnh hưởng của tín ngưỡng truyền thống Việt Nam đến đời sống đạo của người công giáo ở giáo phận Bùi chu – Nam định hiện nay

Tài liệu Luận án Ảnh hưởng của tín ngưỡng truyền thống Việt Nam đến đời sống đạo của người công giáo ở giáo phận Bùi chu – Nam định hiện nay, ebook Luận án Ảnh hưởng của tín ngưỡng truyền thống Việt Nam đến đời sống đạo của người công giáo ở giáo phận Bùi chu – Nam định hiện nay

pdf179 trang | Chia sẻ: huong20 | Ngày: 14/01/2022 | Lượt xem: 23 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Luận án Ảnh hưởng của tín ngưỡng truyền thống Việt Nam đến đời sống đạo của người công giáo ở giáo phận Bùi chu – Nam định hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
g thực. Những kết luận của luận án chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào. Tác giả luận án Mai Diệu Anh MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 7 1.1. Những công trình nghiên cứu về tín ngưỡng truyền thống Việt Nam và đời sống đạo của người Công giáo ở giáo phận Bùi Chu - Nam Định 7 1.2. Những công trình nghiên cứu về thực trạng ảnh hưởng của tín ngưỡng truyền thống Việt Nam đến đời sống đạo của người Công giáo ở giáo phận Bùi Chu - Nam Định hiện nay 16 1.3. Những công trình nghiên cứu về giải pháp chung và giải pháp cụ thể nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của tín ngưỡng truyền thống Việt Nam đến đời sống đạo của người Công giáo ở giáo phận Bùi Chu 25 1.4. Những vấn đề mà luận án kế thừa và những vấn đề nghiên cứu đặt ra 28 Chương 2: TÍN NGƯỠNG TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM VÀ ĐỜI SỐNG ĐẠO CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO Ở GIÁO PHẬN BÙI CHU - NAM ĐỊNH - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 31 2.1. Tín ngưỡng truyền thống Việt Nam và tín ngưỡng truyền thống Việt Nam ở giáo phận Bùi Chu - Nam Định 31 2.2. Công giáo và đời sống đạo của người Công giáo ở giáo phận Bùi Chu - Nam Định 50 Chương 3: ẢNH HƯỞNG CỦA TÍN NGƯỠNG TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM ĐẾN ĐỜI SỐNG ĐẠO CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO Ở GIÁO PHẬN BÙI CHU - NAM ĐỊNH - THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN 68 3.1. Thực trạng ảnh hưởng của tín ngưỡng truyền thống Việt Nam đến đời sống đạo của người Công giáo ở giáo phận Bùi Chu - Nam Định 68 3.2. Nguyên nhân của thực trạng 102 Chương 4: DỰ BÁO XU HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GÓP PHẦN PHÁT HUY ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC, HẠN CHẾ ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA TÍN NGƯỠNG TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM ĐẾN ĐỜI SỐNG ĐẠO CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO Ở GIÁO PHẬN BÙI CHU - NAM ĐỊNH 113 4.1. Dự báo xu hướng ảnh hưởng của tín ngưỡng truyền thống Việt Nam đến đời sống đạo của người Công giáo ở giáo phận Bùi Chu - Nam Định 113 4.2. Một số giải pháp nhằm góp phần phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của tín ngưỡng truyền thống Việt Nam đến đời sống đạo của người Công giáo ở giáo phận Bùi Chu - Nam Định 119 KẾT LUẬN 140 DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 143 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 144 PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT Viết đầy đủ Chính trị quốc gia Chủ nghĩa duy vật biện chứng Chủ nghĩa duy vật lịch sử Hà Nội Hội đồng nhân dân Nhà xuất bản Trang Ủy ban nhân dân Viết tắt CTQG CNDVBC CNDVLS HN HĐND Nxb Tr. UBND 1 MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Việt Nam là đất nước thuộc loại hình văn hóa nông nghiệp. Trong lịch sử hình thành và phát triển, do hoàn cảnh địa lý - lịch sử khá đặc biệt, nước ta thường xuyên bị xâm lược bởi các cường quốc như Trung Hoa, Mông Cổ, Pháp, Mỹ cũng như tiếp nhận rất nhiều nền văn hóa ngoại lai. Một điều lạ lùng là nước Việt Nam nhỏ bé lại không hề bị đồng hóa bởi bất cứ một nền văn hóa nào khác. Điều này chỉ có thể được lý giải bởi một đặc trưng cơ bản của văn hóa Việt Nam, đó là tính dung hợp - sự tổng hợp nhiều yếu tố khác nhau và biến đổi linh hoạt để tạo nên cái mới. Vì thế, các hiện tượng văn hóa ngoại lai khi du nhập vào Việt Nam thường bị biến đổi sao cho phù hợp với văn hóa truyền thống. Công giáo ở Việt Nam cũng là một hiện tượng như vậy. Lịch sử Công giáo ở Việt Nam đã thừa nhận giáo phận Bùi Chu - Nam Định là điểm đến đầu tiên của các giáo sĩ phương Tây nhằm truyền bá tôn giáo này. Trong bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục đã viết “Gia Tô: Theo sách Dã lục (một loại dã sử), thì ngày 1 tháng 3 năm Nguyên Hòa thứ nhất (1533), đời Lê Trang Tông người Tây Dương tên là Ynêkhu lén lút đến xã Ninh Cường, xã Quần Anh huyện Nam Chân và xã Trà Lũ huyện Giao Thủy ngấm ngầm truyền giáo về tà đạo Gia Tô” [150, tr.301]. Do vậy, năm 1533 được giáo sử Công giáo lấy làm thời điểm đánh dấu hoạt động truyền giáo ở Việt Nam. Cũng từ đó, Công giáo phát triển lan rộng toàn đất nước Việt Nam, mở đầu cho sự giao lưu giữa văn hóa Việt Nam với văn hóa phương Tây nói chung, văn hóa Công giáo nói riêng. Công giáo là một tôn giáo mang đậm tính khuôn mẫu, lý tính của truyền thống văn hóa phương Tây, vì vậy trong một thời gian dài, về mặt quan phương, tôn giáo này không thể hòa đồng với văn hóa Việt Nam. Sự xung đột giữa Công giáo với văn hóa truyền thống, đặc biệt là với tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên người Việt đã gây nên bao trăn trở với các tín đồ Công giáo. 2 Với Công đồng Vatican II (1962 - 1965), lịch sử Giáo hội đã bước sang một trang mới. Sau Công đồng Vatican II, tinh thần Canh tân và Thích nghi đã được Giáo hội Công giáo Việt Nam tiếp nhận, triển khai từng bước nhằm đưa Công giáo hoà hợp với văn hoá dân tộc, khắc phục những xung đột của đời sống đạo Công giáo đối với văn hóa truyền thống. Tinh thần Canh tân và Thích nghi của Công đồng Vatican II phù hợp với đường lối, chủ trương nhất quán mà Đảng và Nhà nước ta đưa ra, đó là tôn trọng tự do tôn giáo nói chung, Công giáo nói riêng, giữ gìn và trân trọng những giá trị văn hoá tốt đẹp của Công giáo, đảm bảo sự tự do sinh hoạt tôn giáo cho các tín đồ. Tuy nhiên, bối cảnh thế giới và trong nước đang diễn biến hết sức phức tạp. Trong sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, xu thế hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là một xu thế lớn. Xung đột sắc tộc, tôn giáo, chiến tranh cục bộ, can thiệp, khủng bố diễn ra gay gắt. Vì vậy, đối với tín ngưỡng, tôn giáo, Đảng ta xác định: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng trong giai đoạn mới của đất nước; tôn trọng những giá trị đạo đức, văn hóa tốt đẹp của các tôn giáo; động viên chức sắc, tín đồ, các tổ chức tôn giáo sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. [52, tr.51]. Trước tác động của hội nhập, của kinh tế thị trường, đời sống đạo của người Công giáo Việt Nam có những biểu hiện phức tạp. Trong bối cảnh đó, phát triển môi trường sinh hoạt tôn giáo tự do, lành mạnh để các tín đồ thực hiện tốt phương châm “Sống tốt đời, đẹp đạo”, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Thiết nghĩ vấn đề đó sẽ được giải quyết một cách hiệu quả nếu tập trung nghiên cứu trước hết vào vùng đất mà các giáo sỹ truyền đạo đặt chân đầu tiên tới Việt Nam, nơi khởi nguồn cho sự hình thành và phát triển Công giáo ở Việt Nam - giáo phận Bùi Chu - Nam Định. Ở nơi đây, ảnh hưởng của văn hóa truyền thống, đặc biệt là 3 tín ngưỡng truyền thống đến đời sống đạo của người Công giáo đang diễn ra sôi động, nhiều màu sắc. Tuy chỉ nghiên cứu về một giáo phận cụ thể nhưng luận án phần nào cho thấy bức tranh ảnh hưởng của tín ngưỡng truyền thống Việt Nam tới đời sống đạo của người Công giáo ở Việt Nam nói chung. Với những lý do trên, đề tài “Ảnh hưởng của tín ngưỡng truyền thống Việt Nam đến đời sống đạo của người Công giáo ở giáo phận Bùi Chu - Nam Định hiện nay” có tính lý luận và thực tiễn cấp thiết. 2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU - Mục đích của luận án Luận án tập trung làm rõ thực trạng ảnh hưởng của tín ngưỡng truyền thống Việt Nam đến đời sống đạo của người Công giáo ở giáo phận Bùi Chu - Nam Định hiện nay, nguyên nhân của thực trạng; đưa ra dự báo xu hướng, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của tín ngưỡng truyền thống Việt Nam đến đời sống đạo của người Công giáo ở giáo phận Bùi Chu hiện nay. - Nhiệm vụ của luận án Để thực hiện mục đích trên, luận án thực hiện một số nhiệm vụ như sau: - Khái quát tín ngưỡng truyền thống Việt Nam vùng đồng bằng Bắc bộ, tín ngưỡng truyền thống Việt Nam ở giáo phận Bùi Chu - Nam Định. - Khái lược vài nét về Công giáo, lịch sử giáo phận Bùi Chu. Làm rõ khái niệm đời sống đạo, đời sống đạo của người Công giáo, từ đó chỉ rõ những nét đặc thù trong đời sống đạo của người Công giáo ở giáo phận Bùi Chu - Nam Định. - Làm rõ thực trạng ảnh hưởng tích cực, tiêu cực của tín ngưỡng truyền thống Việt Nam đến đời sống đạo Công giáo ở giáo phận Bùi Chu - Nam Định hiện nay, nguyên nhân của thực trạng. - Dự báo xu hướng và đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của tín ngưỡng 4 truyền thống Việt Nam đến đời sống đạo của người Công giáo ở giáo phận Bùi Chu - Nam Định hiện nay. 3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU - Đối tượng nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu đời sống đạo của người Công giáo dưới ảnh hưởng của tín ngưỡng truyền thống Việt Nam ở giáo phận Bùi Chu - Nam Định. - Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Luận án nghiên cứu trong phạm vi giáo phận Bùi Chu - Nam Định, thời gian tập trung vào giai đoạn từ sau Công đồng Vatican II (1962 - 1965) đến nay. Tuy rằng tín ngưỡng truyền thống Việt Nam là khá đa dạng, nhưng trong khuôn khổ luận án, nghiên cứu sinh chỉ tập trung vào 3 loại hình tín ngưỡng: tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên, tín ngưỡng Thành Hoàng làng và tín ngưỡng thờ Mẫu. Đồng thời, luận án chỉ nghiên cứu ảnh hưởng một chiều: tín ngưỡng truyền thống Việt Nam ảnh hưởng đến đời sống đạo của người Công giáo Bùi Chu - Nam Định ra sao. 4. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - Cơ sở lý luận Luận án sử dụng cơ sở lý luận là CNDVBC và CNDVLS, quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo. Ngoài ra, luận án còn dựa vào các văn kiện Đại hội Đảng, các nghị quyết của Trung ương, tài liệu của các cấp ủy đảng và chính quyền ở tỉnh Nam Định và các địa phương nằm trong khu vực giáo phận Bùi Chu - Nam Định hiện nay có liên quan đến đề tài. - Phương pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; kết hợp với các phương pháp cụ thể như phương pháp triết học tôn giáo, phương pháp phân tích - tổng hợp, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phương pháp điều tra phỏng vấn sâu, phương pháp điền dã 5 dân tộc học và quan sát tham dự Ngoài ra, phương pháp chuyên gia cũng được đề tài áp dụng nhằm tranh thủ ý kiến của các nhà nghiên cứu chuyên gia và các nhà hoạt động quản lý thực tiễn trong lĩnh vực nghiên cứu. 5. ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN - Luận án khái quát đặc trưng các tín ngưỡng truyền thống Việt Nam, và đời sống đạo của người Công giáo ở giáo phận Bùi Chu - Nam Định. - Luận án làm rõ thực trạng những ảnh hưởng tích cực, tiêu cực và những nguyên nhân ảnh hưởng của tín ngưỡng truyền thống Việt Nam đến đời sống đạo của người Công giáo ở giáo phận Bùi Chu - Nam Định hiện nay. - Luận án đưa ra dự báo về xu hướng và đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của tín ngưỡng truyền thống Việt Nam đến đời sống đạo của người Công giáo ở giáo phận Bùi Chu - Nam Định hiện nay. 6. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN - Ý nghĩa khoa học: Đề tài luận án được thực hiện để góp thêm sự nhận biết về ảnh hưởng của tín ngưỡng truyền thống Việt Nam đến đời sống đạo của người Công giáo ở giáo phận Bùi Chu - Nam Định, đem lại những giá trị văn hóa với tính cách là nền tảng tinh thần cho người Công giáo ở giáo phận Bùi Chu - Nam Định. - Ý nghĩa thực tiễn: Luận án đưa ra xu hướng và đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của tín ngưỡng truyền thống Việt Nam đến đời sống đạo của người Công giáo ở giáo phận Bùi Chu - Nam Định hiện nay. Sản phẩm của luận án sẽ là tài liệu tham khảo cho các cơ quan, cá nhân nghiên cứu, giảng dạy về tôn giáo, các cơ quan chức năng làm công tác tôn giáo. 7. KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương, 10 tiết: 6 Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án. Chương 2: Tín ngưỡng truyền thống Việt Nam và đời sống đạo của người Công giáo ở giáo phận Bùi Chu - Nam Định - Một số vấn đề lý luận. Chương 3: Ảnh hưởng của tín ngưỡng truyền thống Việt Nam đến đời sống đạo của người Công giáo ở giáo phận Bùi Chu - Nam Định hiện nay - Thực trạng và nguyên nhân. Chương 4: Dự báo xu hướng và một số giải pháp nhằm góp phần phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của tín ngưỡng truyền thống Việt Nam đến đời sống đạo của người Công giáo ở giáo phận Bùi Chu - Nam Định. 7 Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TÍN NGƯỠNG TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM VÀ ĐỜI SỐNG ĐẠO CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO Ở GIÁO PHẬN BÙI CHU - NAM ĐỊNH 1.1.1. Những công trình nghiên cứu về tín ngưỡng truyền thống Việt Nam và tín ngưỡng truyền thống Việt Nam ở giáo phận Bùi Chu - Nam Định 1.1.1.1. Những công trình nghiên cứu về tín ngưỡng truyền thống Việt Nam Trước hết, phải kể đến cuốn sách “Về tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam hiện nay” do nhà nghiên cứu Đặng Nghiêm Vạn chủ biên [194]. Cuốn sách này đề cập tới thờ cúng Tổ tiên ở ba cấp độ: quốc gia: thờ Vua Hùng; làng: thờ thần Thành Hoàng; dòng họ, gia đình: thờ tổ tiên. Nhà nghiên cứu Đặng Nghiêm Vạn khẳng định thờ cúng Tổ tiên là một bộ phận văn hóa dân tộc, là tâm linh của cả cộng đồng Việt Nam. Bên cạnh đó, nhà nghiên cứu Lê Trung Vũ đề cập tới các phong tục trong vòng đời người Việt truyền thống như các lễ tiết trong năm (Tết Nguyên đán, tết Thượng nguyên, tết mồng 3 tháng 3...), các nghi lễ nông nghiệp; các lễ thức đời thường (sinh con, hôn lễ, lễ tang...). Trong cuốn “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” [158], tác giả Trần Ngọc Thêm miêu tả khái quát các loại hình tín ngưỡng Việt Nam như tín ngưỡng Phồn thực (thờ sinh thực khí và thờ hành vi giao phối), tín ngưỡng sùng bái tự nhiên (thờ Bà Trời, Bà Đất, Bà Nước; thờ động vật và thực vật), tín ngưỡng sùng bái con người (thờ Thổ Công, thờ thần Thành Hoàng, Tứ bất tử). Tác giả chỉ rõ các loại hình tín ngưỡng trên cũng như những bộ phận khác của văn hóa, là tấm gương phản ánh trung thành những đặc trưng nông nghiệp lúa nước, biểu hiện sự tôn trọng và gắn bó mật thiết với thiên nhiên, nguyên lý âm dương, khuynh hướng đề cao nữ tính, tính đa thần 8 Cuốn sách “Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam” của Nguyễn Đức Lữ [131] đề cập đến các loại hình tín ngưỡng dân gian Việt Nam như tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên, tín ngưỡng thờ Anh hùng dân tộc, tín ngưỡng Thành Hoàng, tín ngưỡng thờ Mẫu và tín ngưỡng Phồn thực. Tác giả cuốn sách chỉ rõ các loại hình tín ngưỡng dân gian trên phản ánh rõ nét đặc trưng của văn hóa dân tộc, thể hiện rõ nét tinh thần uống nước nhớ nguồn nhưng bản thân nó cũng chứa đựng khả năng dẫn đến hiện tượng phản giá trị, biểu hiện mê tín dị đoan cần phải bị phê phán, tẩy trừ. Cuốn sách “Các hình thái tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam” của Nguyễn Đăng Duy [25] dành nhiều sự quan tâm tới các tín ngưỡng truyền thống ở Việt Nam như: tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên, tín ngưỡng thờ Thần, tín ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng ở các dân tộc ít người. Theo tác giả, tín ngưỡng không phải là một bộ phận của tôn giáo mà tồn tại với tư cách một hình thái ý thức xã hội bên cạnh tôn giáo, không phải tồn tại với ý nghĩa niềm tin nhằm cứu cánh cho cái chết như tôn giáo mà là niềm tin cầu mong cho hiện thực cuộc sống. Cuốn sách “Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam” do Ngô Đức Thịnh chủ biên [161] nghiên cứu sáu loại hình tín ngưỡng dân gian: thờ cúng Tổ tiên, thờ Thành Hoàng làng, thờ Chử Đồng Tử, thờ Đức Thánh Trần, tín ngưỡng nghề nghiệp và đạo Mẫu. Ngoài ra, một số hình thức văn hóa nghệ thuật dân gian có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo như múa, nhạc, tranh tượng thờ, văn học dân gian, các sinh hoạt văn hóa cộng đồng cũng được tác giả đề cập. Ngoài ra còn rất nhiều công trình về tín ngưỡng truyền thống Việt Nam, phong tục tập quán truyền thống do các học giả trong nước nghiên cứu như: “Việt Nam văn hóa sử cương” của Đào Duy Anh [1]; “Lĩnh Nam chích quái” của Vũ Quỳnh [152]; “Tín ngưỡng làng xã” của Vũ Ngọc Khánh [118]; “Việt Nam phong tục” của Phan Kế Bính [14]; “Phong tục thờ cúng trong gia đình người Việt” của Toan Ánh [5]; “Văn hóa tâm linh” của Nguyễn Đăng Duy [26] 9 Có thể thấy rằng các tài liệu nghiên cứu tín ngưỡng truyền thống Việt Nam khá phong phú, nhưng nghiên cứu tín ngưỡng truyền thống dưới góc độ triết học thì số lượng còn hạn chế. Trong đó, tiêu biểu là công trình “Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay” của Trần Đăng Sinh [155] đã trình bày những khía cạnh triết học của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, minh chứng rõ cơ sở hình thành, tồn tại, những yếu tố tích cực và tiêu cực, thực trạng và xu hướng vận động của nó, từ đó nhằm định hướng đúng đắn cho hoạt động thờ cúng tổ tiên ở nước ta hiện nay. Trong bối cảnh hoạt động thờ cúng tổ tiên trong các gia đình, dòng họ, trong các lễ hội diễn ra khá phổ biến ở khắp các địa phương trong cả nước, việc nghiên cứu trên là cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn cấp thiết. Cũng tiếp cận dưới góc độ triết học, Luận án Tiến sỹ Triết học của Nguyễn Hữu Thụ “Khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ” [165] lại tập trung nghiên cứu cơ sở hình thành, lịch sử phát triển, điện thờ, một số nghi lễ cơ bản của tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ. Từ đó, tác giả phân tích quan niệm về con người và tự nhiên trong tín ngưỡng thờ Mẫu, chỉ rõ xu hướng vận động cùng những kiến nghị nhằm phát huy những giá trị tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực của tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ trong giai đoạn hiện nay. Thông qua các tài liệu nghiên cứu về tín ngưỡng truyền thống Việt Nam, đặc biệt là các tài liệu tiếp cận tín ngưỡng dưới góc độ triết học, tác giả có sự kế thừa nhằm luận chứng cơ sở kinh tế - xã hội làm nảy sinh quan niệm của người Việt truyền thống trong các tín ngưỡng, từ đó chi phối các nghi lễ thực hành tín ngưỡng. Đây là cơ sở khoa học quan trọng giúp tác giả phân tích ảnh hưởng của tín ngưỡng truyền thống Việt Nam tới đời sống đạo của người Công giáo vùng giáo phận Bùi Chu - khu vực ghi dấu ấn đậm nét của các tín ngưỡng truyền thống - trong chương 3 của luận án. 10 1.1.1.2. Những công trình liên quan đến tín ngưỡng truyền thống Việt Nam ở giáo phận Bùi Chu - Nam Định Cuốn sách “Địa chí Hải Hậu” của Huyện ủy - UBND huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định [81], từ trang 560 đến trang 615 đề cập đến vấn đề phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo vùng đất Hải Hậu, Nam Định được hình thành từ điều kiện tự nhiên khá đặc thù. Cuốn sách đã chỉ ra Nam Định là một địa phương có địa bàn trọng yếu, vị thế đặc biệt, một vùng kinh tế xã hội với bản sắc riêng, trong đó có các tín ngưỡng truyền thống Việt Nam. Cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Xuân Trường 1930 - 2000” của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Xuân Trường [7], từ trang 19 đến trang 24 đề cập tới tín ngưỡng, văn hóa của vùng đất này. Một cách tổng quát, cuốn sách “Địa chí Nam Định” của Tỉnh ủy - HĐND - UBND tỉnh Nam Định [168], từ trang 659 đến trang 687 khái quát đặc trưng phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo tỉnh Nam Định. Đây là những tài liệu có giá trị, được nghiên cứu sinh kế thừa để đưa vào xây dựng đặc điểm tín ngưỡng truyền thống Việt Nam ở giáo phận Bùi Chu - Nam Định có những nét đặc thù, trong đó phải kể đến hai huyện Hải Hậu và Xuân Trường là nơi có người Công giáo sinh sống đông đảo. Tuy nhiên, phải nói là các công trình này trình bày còn sơ lược về tín ngưỡng truyền thống Việt Nam, vì thế luận án sẽ cụ thể hơn phần nội dung này. 1.1.2. Những công trình nghiên cứu về đời sống đạo Công giáo 1.1.2.1. Những công trình nghiên cứu của Giáo hội Công giáo Đó là “Kinh Thánh (trọn 2 bộ Cựu ước và Tân ước)” [122]; Giáo lý Hội thánh Công giáo của Ủy ban Giáo lý Đức tin - Hội đồng Giám mục Việt Nam [200]; các văn kiện của Công đồng Vatican II (1962-1965) như “Công đồng Vatican II, Hiến chế - Tuyên ngôn - Sắc lệnh - Sứ điệp - Thông điệp” [19]; “Bộ Giáo luật năm 1983” của Hội đồng giám mục Việt Nam [70]. Công trình nghiên cứu của Giáo hội thì phong phú, nhưng nổi bật có các công trình sau: 11 Thứ nhất, văn kiện của Công đồng Vatican II. Trong 16 văn kiện của Công đồng Vatican II, 4 Hiến chế giữ vai trò trọng yếu, đáng chú ý là 2 Hiến chế liên quan đến đời sống đạo, đó là Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay và Hiến chế phụng vụ Thánh. Trong Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay, Giáo hội đề ra đường hướng cho các thành phần dân Chúa là đi chung một hành trình với nhân loại và cùng chia sẻ số phận trần gian với thế giới. Hiến chế nhấn mạnh đến chủ đề về văn hóa, về đời sống kinh tế xã hội , hôn nhân và gia đình, về cộng đồng chính trị, về hòa bình cần thiết cho những thành phần dân Chúa trong việc sống đạo và sống đời. Hiến chế về phụng vụ Thánh cho phép Hội đồng Giám mục từng quốc gia được cải tiến các nghi lễ, đặc biệt là phải biết vận dụng những cái hay, cái đẹp của các nền văn hóa, phong tục, tín ngưỡng khác nhau trong việc sống đạo. Thứ hai, Tóm lược Học thuyết xã hội của Giáo hội Công giáo. Công trình này đề cập nhiều vấn đề, trong đó nhấn mạnh đến vai trò, chức năng của tín hữu trong xã hội đương đại: thái độ đối với môi trường, hòa bình, chiến tranh, đặc biệt là thái độ với đồng loại. Về phía Giáo hội Công giáo Việt Nam có các sách, ghi chép, tường trình, thư từ của các giáo sỹ trong quá trình truyền giáo ở Việt Nam có thể kể đến “Kinh cầu cho các linh hồn” của Tòa tổng giám mục Hà Nội [169]; ““Các thư chung” của các giám mục Việt Nam [17]. Luận án chú ý đến Thư chung của Hội đồng Giám mục Việt Nam như Thư chung 1980, 1988, 1992, 2001. Toát yếu các Thư chung là muốn xây dựng nền thần học Công giáo Việt Nam của người Việt Nam, hòa nhập được với phong tục, tập quán, văn hóa Việt Nam vốn có truyền thống lâu đời. Tuy Thư chung không nhấn mạnh đến ba nội dung mà luận án đề cập, trong đó nội dung chính là đề cập tới phong tục, tập quán, văn hóa nói chung. Thư chung 1980 đưa ra Đường hướng xây dựng 12 trong Hội thánh một nếp sống, một lối diễn tả đức tin về truyền thống dân tộc. Thư chung 1992 đề cập đến việc xây dựng một nếp sống, một lối diễn tả đức tin có bản sắc dân tộc hơn. Thư chung 1998 yêu cầu trình bày về giáo lý và thực hành mục vụ theo chiều hướng hội nhập với văn hóa dân tộc. Thư mục vụ năm 2000 là sống, làm chứng và loan báo Tin Mừng theo cung cách Việt Nam. Thư chung 2010 cho rằng: “Nền văn hóa Việt Nam mang nhiều giá trị đáng trân trọng, có thể trở thành những nẻo đường thuận tiện để Giáo hội tại Việt Nam tiến bước trong sứ vụ loan báo Tin Mừng”. Tuy nhiên, các Thư chung này đã đưa ra những định hướng để giáo phận Bùi Chu dựa vào đó mà thực hiện, làm cho đời sống đạo của người Công giáo trở nên phong phú nhưng gần với những giá trị tín ngưỡng truyền thống. Cuốn “Giáo hội Công giáo Việt Nam - Niên giám 2004” của Văn phòng Tổng thư ký Hội đồng Giám mục Việt Nam [195] giúp cho những ai quan tâm tới Giáo hội Công giáo sẽ có cái nhìn toàn diện về sự hình thành, phát triển của Giáo hội Công giáo toàn cầu và Giáo hội Công giáo Việt Nam. 1.1.2.2. Công trình của các nhà nghiên cứu ngoài Công giáo Xoay quanh vấn đề nghi lễ, thánh lễ Công giáo, cuốn sách “Một số tôn giáo ở Việt Nam” của Nguyễn Thanh Xuân [205] nêu một số đặc điểm về luật lệ, lễ nghi Công giáo như: Mười điều răn của Thiên chúa, Bảy phép bí tích; nêu những ngày lễ của đạo Công giáo như: những lễ quan trọng (Lễ Noel, Lễ Phục Sinh, Lễ Đức Bà Maria hồn và xác lên trời, Lễ Các thánh), các lễ thông thường (Lễ Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội, Lễ Tro, Lễ Lá, Tuần Thánh). Công trình trên còn đề cập việc Giáo hội chia một năm thành từng tháng, từng mùa làm chủ đích cho các sinh hoạt tôn giáo và các hoạt động của tín đồ, như tháng 3 là Tháng Kính Thánh cả Giuse, tháng 5 là Tháng Dâng hoa kính Đức bà Maria, tháng 6 là Tháng Kính Trái tim của 13 Chúa Giêsu, tháng 11 là Tháng Cầu nguyện cho các linh hồn, tháng 10 là Tháng Mân Côi Đức Mẹ; Mùa Giáng sinh, Mùa Thương khó, Mùa Phục sinh, Mùa vọng Bên cạnh đó, tác giả Đỗ Quang Hưng có các bài viết khác có liên quan tới Công giáo như: “Công giáo thế kỷ XX: vài khía cạnh tiến triển của thần học” [86]; “Vấn đề Công giáo với số phận Lê Văn Duyệt” [90]; “Những người Cộng sản Việt Nam với đường hướng “Đồng hành cùng dân tộc” và Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam” [89]. Các công trình của Giáo hội Công giáo và của các nhà nghiên cứu ngoài Công giáo ở trên là nguồn tư liệu quý báu, giúp nghiên cứu sinh có cơ sở để xây dựng nội dung lý luận về Công giáo và Công giáo ở Việt Nam ở chương 2 của luận án. 1.1.3. Những công trình nghiên cứu về đời sống đạo Công giáo ở giáo phận Bùi Chu - Nam Định 1.1.3.1. Tài liệu, công trình nghiên cứu của người Công giáo Tài liệu, công trình nghiên cứu về Công giáo ở Việt Nam có một phần liên quan đến đời sống đạo Công giáo ở giáo phận Bùi Chu Về lịch sử Công giáo ở Việt Nam, đáng chú ý có các công trình của các linh mục đã được công bố như: Lm. Hồng Lam với “Lịch sử đạo Thiên Chúa ở Việt Nam” [123]; Lm. Nguyễn Hồng có “Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam”(1959) [75]; Lm. Phan Phát Huồn viết Việt Nam giáo sử quyển I [78], quyển II [79]. Lm. Trần Tam Tỉnh với công trình “Thập giá và lưỡi gươm” (1988) [167]. Đáng chú ý có Lm. Trương Bá Cần với cuốn “Công giáo Việt Nam sau quá trình 50 năm 1945 – 1995” [18] đã thống kê và ca ngợi sự phát triển của Giáo hội Công giáo Việt Nam. Ngoài ra phải kể đến những bài viết của các nhà nghiên cứu người Công giáo đăng trên báo Người Công giáo Việt Nam của Ủy ban đoàn kết Công giáo Việt Nam, nguyệt san Công giáo và dân tộc của Ủy ban đoàn kết Công giáo thành phố Hồ Chí Minh. 14 Tài liệu, công trình nghiên cứu có đề cập hoặc đề cập trực tiếp đến đời sống đạo Công giáo ở giáo phận Bùi Chu Về lịch sử giáo phận Bùi Chu, đáng chú ý có cuốn “Sử ký Địa phận Trung” [140] được thừa sai Manuel Moreno dòng Đa Minh Tây Ban Nha biên soạn năm 1916. Cuốn sách giới thiệu 52 xứ đạo, 741 họ đạo, trong đó Nam Định 27 xứ đạo, Thái Bình 19 xứ và Hưng Yên 6 xứ, giới thiệu các hội đoàn, sinh hoạt tôn giáo, tổ chức Nhà Chung và các cơ sở xã hội, y tế, giáo dục. Tuy nhiên cuốn sách này mới chỉ nghiên cứu địa phận Bùi Chu đến năm 1916 và chỉ tập trung cơ cấu tổ chức xứ họ đạo mà chưa đi sâu phân tích đời sống đạo của người Công giáo ở đây. Cuốn “Lịch sử địa phận Bùi Chu” của Lm. Trần Đức Huynh [84] là một công trình nghiên cứu công phu về lịch sử vùng địa phận Bùi Chu. Từ những đặc điểm về xuất xứ, vị trí, địa thế, khí hậu, sông ngòi, dân số, tổ chức hành chính, kinh tế ở đây, tác giả nghiên cứu vùng địa phận Bùi Chu qua các giai đoạn lịch sử: Địa phận Đàng Trong và Địa phận Đàng Ngoài (khảo cứu từ năm 1533 - 1679), Địa phận Đông Đàng Ngoài (1679 - 1848), Địa phận Trung (1848 - 1936), Địa phận Bùi Chu từ 1936 - 1999. Trong công trình này, các sinh hoạt tôn giáo sống động vùng địa phận Bùi Chu cũng được đề cập trong 1 chương (chương bảy), với những dịp lễ trọng như Tuần Thánh, Lễ đầu dòng, Lễ Đức Mẹ Vô nhiễm, Lễ Đức Mẹ Mân côi.... Tuy nhiên, do thời điểm khảo cứu chỉ từ năm 1533 đến hết năm 1999, cho nên những nét đặc sắc và những biến đổi trong đời sống đạo của người Công giáo trước xu thế thời đại ở địa phận Bùi Chu hiện nay không được đề cập tới. 1.1.3.2. Tài liệu, công trình nghiên cứu của người ngoài Công giáo Về mảng lịch sử Công giáo ở Việt Nam, tác phẩm trong bộ lịch sử, địa chí như Khâm Định Việt sử thông giám cương mục [150] cho thấy cách 15 nhìn nhận cũng như thái độ của các vương triều phong kiến Việt Nam vào thế kỷ XVII - XIX đối với Công giáo - một tôn giáo vốn được xem là “tả đạo”. Đáng chú ý có công trình “Sự du nhập đạo Thiên Chúa vào Việt Nam cho đến thế kỷ XIX” của Nguyễn Văn Kiệm [120]. Tập trung vào thời kỳ nhạy cảm nhất trong lịch sử truyền giáo, nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Hưng cho xuất bản cuốn “Công giáo Việt Nam thời kỳ triều Nguyễn (1802 - 1883)” [92] viết về giai đoạn triều Nguyễn, làm rõ những khía cạnh văn hóa - chính trị trong quan hệ của triều Nguyễn với Công giáo, truyền tải nội dung các chỉ dụ cấm đạo, phân tích lý do và hệ quả chính sách của các vị vua triều Nguyễn đối với Công giáo. Có thể nói rằng, các công trình nghiên cứu trên đã chỉ ra những đặc điểm cơ bản của quá trình truyền bá Công giáo vào Việt Nam và các giai đoạn phát triển của nó. Tuy nhiên, do đây là những nghiên cứu về Công giáo trong tiến trình lịch sử, vì thế mặc dù các tư liệu về lịch sử Công giáo ở Việt Nam tương đối phong phú nhưng còn một số điểm chưa thống nhất giữa những tác giả là người Công giáo với những tác giả ngoài Công giáo khi cùng nhận định về một chủ đề lịch sử, tiêu biểu là vấn đề chính sách cấm đạo triều Nguyễn. Các tài liệu này dùng để tìm hiểu, nghiên cứu về lịch sử Công giáo ở Việt Nam nói chung, lịch sử giáo phận Bùi Chu nói riêng, cung cấp cho tác giả cơ sở lý luận của đề tài luận án. Về đời sống đạo của người Công giáo ở giáo phận Bùi Chu - Nam Định có các cuốn sách “Địa chí Nam Định” [181], cuốn sách “Địa chí Hải Hậu” [92], cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Xuân Trường 1930 – 2000” [6] ... Những cuốn sách này cung cấp cho nghiên cứu sinh tư liệu có giá trị về đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa... của người dân thuộc vùng giáo phận Bùi Chu nói chung, đời sống đạo của người Công giáo Bùi Chu nói riêng làm cơ sở xây dựng nội dung vấn đề đời sống đạo của người Công giáo ở Bùi Chu - Nam Định. 16 1.2. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA TÍN NGƯỠNG TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM ĐẾN ĐỜI SỐNG ĐẠO CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO Ở...ển hình như tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên, tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc, tín ngưỡng Thành Hoàng làng, tín ngưỡng thờ Mẫu và tín ngưỡng Phồn thực. Như vậy, tín ngưỡng truyền thống Việt Nam và hoạt động tín ngưỡng ở Việt Nam hết sức phong phú, có nhiều cách phân loại các loại hình, nhưng trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận án chỉ đề cập tới tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thành Hoàng làng và tín ngưỡng thờ Mẫu - những tín ngưỡng điển hình của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ có liên quan trực tiếp tới đời sống tinh thần cư dân vùng giáo phận Bùi Chu - Nam Định. 2.1.2. Tín ngưỡng truyền thống Việt Nam ở giáo phận Bùi Chu - Nam Định 2.1.2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sự hình thành, phát triển tín ngưỡng truyền thống Việt Nam ở vùng giáo phận Bùi Chu - Nam Định Điều kiện tự nhiên Giáo phận Bùi Chu - Nam Định ở phía đông nam đồng bằng Bắc Bộ và giáp với biển. Đồng bằng Bắc Bộ là một vùng châu thổ nằm quanh khu vực hạ lưu sông Hồng, vì thế còn được gọi là đồng bằng sông Hồng. 33 Về hành chính, hiện nay đồng bằng Bắc Bộ bao gồm 10 tỉnh và thành phố: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình. Đồng bằng Bắc Bộ là khu vực có một nền văn hoá đặc sắc và độc đáo, là cái nôi của nhiều nền văn hoá nổi tiếng trải suốt tiến trình lịch sử văn minh Việt Nam với các trung tâm tiêu biểu: Bạch Hạc, Cổ Loa, Thăng Long - Hà Nội. Trong suốt một nghìn năm Bắc thuộc và thời kỳ đầu độc lập, người Việt đã phải sống tập trung trong một không gian cực kỳ chật hẹp ở vùng châu thổ sông Hồng, cố kết với nhau trong cộng đồng làng xóm để quai đê lấn biển, khai phá rừng rậm mở rộng khu vực sinh sống và chống trả trước sự xâm lược áp bức và âm mưu đồng hoá của kẻ thù - một âm mưu thâm độc mang ý nghĩa sống còn đối với dân tộc Việt Nam. Theo số liệu của Tổng cục thống kê, cư dân vùng đồng bằng Bắc Bộ hiện nay bao gồm 38/54 dân tộc cùng sinh sống và làm việc, trong đó người Việt chiếm đại đa số (chiếm hơn 99%). Chính vì thế, trong sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng, tôn giáo của người Việt giữ vai trò trung tâm và là yếu tố chủ đạo của khu vực này. Đồng bằng Bắc Bộ có thể xem là một vùng đặc thù của Việt Nam, có những đặc trưng mà những vùng khác không có hoặc không đậm nét. Người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ sống chủ yếu bằng nông nghiệp, điều đó dẫn đến hệ thống tín ngưỡng của họ bao gồm thờ cúng tổ tiên, thờ cúng thần linh bảo vệ dòng họ, làng xóm, lao động sản xuất và thờ Mẫu. Thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, giáo phận Bùi Chu hiện nay nằm gọn trong 6 huyện của tỉnh Nam Định, bao gồm các huyện Xuân Trường, Giao Thuỷ, Hải Hậu, Nam Trực, Trực Ninh, Nghĩa Hưng và khu vực xứ Khoái Đồng, thành phố Nam Định, phía Đông Bắc giáp giáo phận Thái Bình, phía Tây Bắc là sông Đào nối sông Hồng với sông Đáy phân ranh giới với giáo phận Hà Nội, phía Tây Nam là giáo phận Phát Diệm, phía Đông Nam là biển Đông. 34 Khu vực giáo phận Bùi Chu được bao bọc bởi hai con sông lớn là sông Hồng và sông Đáy, hai con sông cung cấp nước, phù sa tạo nên những cánh đồng màu mỡ, phì nhiêu. Tốc độ tiến ra biển hàng trăm mét mỗi năm khiến Nam Định có tiềm năng đất đai phục vụ phát triển kinh tế, đặc biệt là kinh tế nông nghiệp. Ngoài ra, phải kể đến sông Ninh Cơ - một nhánh sông Hồng - nằm giữa giáo phận không chỉ mang nước, phù sa tới cho các huyện mà còn là trục giao thông thuận tiện. Nhờ đặc điểm sông ngòi, bờ biển trên, trong lịch sử Công giáo ở Việt Nam, các thừa sai không ngần ngại lựa chọn khu vực này làm nơi truyền giáo và dễ dàng đặt chân đến đây, cũng như rất thuận tiện trong việc dùng thuyền để đi rao giảng Tin Mừng. Không chỉ giao thông bằng đường sông, đường biển thuận tiện mà ở Bùi Chu, giao thông đường bộ cũng rất thuận tiện. Nhờ vậy, cứ dịp lễ trọng, người Bùi Chu đi làm ăn xa ở khắp nơi lại tề tựu đông đủ, bày tỏ niềm tin tôn giáo đầy nhiệt huyết của mình. Ở vùng đất này, phù sa sông Hồng bồi đắp rất màu mỡ, thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp. Tuy nhiên, cũng như một số tỉnh ven biển vùng đồng bằng Bắc Bộ, cư dân nơi đây luôn phải chống chọi với bão gió, lụt lội. Chính điều kiện tự nhiên này khiến người dân hình thành nên đời sống tín ngưỡng đa dạng, vừa mang những sắc thái chung của đồng bằng Bắc Bộ vừa có những nét đặc thù. Vùng đất thuộc giáo phận Bùi Chu là vùng đất có lịch sử khá lâu đời. Ngoài một số xã ven biển là Nghĩa Hưng, Hải Hậu, Giao Thủy tồn tại từ giai đoạn cuối triều nhà Lê. Dựa trên các kết quả nghiên cứu khoa học từ đầu thế kỷ XX đến nay đã khẳng định khu vực thuộc giáo phận Bùi Chu là khu vực từ sớm đã có con người cư trú và khẩn hoang, mở rộng đất đai. Có thể khẳng định, từ thời Lý - Trần đến thời Lê, vùng đất thuộc giáo phận Bùi Chu được khai phá khá mạnh mẽ. Các làng xã thuộc các huyện ở 35 phía nam như Trực Ninh, Xuân Trường, Hải Hậu, Giao Thủy, Nghĩa Hưng đều được hình thành là sản phẩm của quá trình khai hoang. Như vậy, đây chủ yếu là vùng đất cổ, hình thành nhiều làng Việt truyền thống như làng Đào Khê, làng Hải Lạng Thượng, làng Lộng Điền (phủ Nghĩa Hưng); làng Bách Tính, làng Thượng Nông, làng Sĩ Quan, làng Ngọc Tỉnh, làng Thạch Cầu, làng Đồng Quỹ, làng Xối Tây (huyện Nam Trực); làng Kiên Lao (phủ Xuân Trường). Trong các làng xã cổ xuất hiện hương ước, trong đó quy định một cách chặt chẽ về đời sống sản xuất, tổ chức và quản lý xã hội, sinh hoạt tinh thần và văn hóa của cư dân trong làng xã ấy. Cùng với nghề trồng lúa nước truyền thống, ở các làng cổ vùng đất Bùi Chu có sự ổn định về tín ngưỡng truyền thống, trong đó nổi lên tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên, tín ngưỡng Thành Hoàng làng và tín ngưỡng thờ Mẫu, là nơi bảo tồn những di sản văn hóa truyền thống dân tộc. Điều kiện kinh tế - xã hội Điều kiện tự nhiên ở Bùi Chu tạo nhiều thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội toàn diện. Vùng đất này có nhiều đặc sản nổi tiếng như: Tám xoan Hải Hậu, Nếp Bắc Hải Hậu... Ngoài trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản rất phát triển, vùng đất Bùi Chu còn nhiều tiềm năng phát triển công nghiệp chế biến như: xay xát gạo đặc sản, chế biến nước mắm, bột cá, chế biến thịt lợn, gia cầm, thức ăn gia súc... Bên cạnh đó, Bùi Chu còn có nhiều tiềm năng để phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng và hàng thủ công mỹ nghệ phục vụ tiêu dùng cũng như xuất khẩu đồ gỗ dân dụng, đồ thủ công mỹ nghệ từ mây, tre... Từ phát triển công nông nghiệp, Bùi Chu có lợi thế trong phát triển giao thông, vận tải, xuất khẩu, dịch vụ và du lịch. Ở giáo phận Bùi Chu thì dân tộc Kinh là chủ yếu. Giáo dân Bùi Chu sinh đẻ nhiều, vì thế số người Công giáo ở đây khá đông đảo. Cho nên, dù chỉ với diện tích nhỏ bé nhưng giáo phận Bùi Chu lại có số lượng giáo dân đông 36 thứ 4 trên tổng số 26 giáo phận của Giáo hội Việt Nam. Những đặc điểm này khiến Công giáo nơi đây phát triển nhanh, thuận lợi cho các giám mục, linh mục lãnh đạo, quản lý. Các huyện thuộc giáo phận Bùi Chu là những đầu mối giao thông quan trọng nối biển với thành phố Nam Định, có vị trí chiến lược về kinh tế, chính trị và an ninh quốc phòng. Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển đời sống về mọi mặt cho nhân dân các huyện nói chung, đồng bào theo đạo nói riêng, đồng thời cũng là nhân tố tích cực góp phần xây dựng nếp sống văn hóa tốt đẹp cho người Công giáo ở giáo phận Bùi Chu. Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước, các huyện thuộc khu vực giáo phận Bùi Chu đã phấn đấu giành được những kết quả quan trọng và toàn diện, đời sống nhân dân ổn định và từng bước được cải thiện. Y tế được tăng cường cả về tổ chức và trang thiết bị. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thông tin truyền thông, thể dục thể thao... đã có nhiều đổi mới tích cực cả về nội dung và hình thức, góp phần quan trọng động viên nhân dân đoàn kết tham gia xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. [7]. Có thể nói, giáo phận Bùi Chu là một trung tâm lớn của Công giáo ở Việt Nam. Diện tích giáo phận khá nhỏ bé nhưng là một trong những giáo phận có số lượng giáo sỹ, tín đồ thuộc vào loại đông nhất giáo hội Công giáo ở Việt Nam, cũng là giáo phận có hệ thống cơ sở vật chất rất lớn so với các giáo phận khác trong cả nước. Hơn nữa, về mặt địa lý, đây là nơi có vị trí chiến lược về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng nên rất được giáo hội Công giáo quan tâm phát triển. Chính vì thế, trong số 26 giáo phận, nếu giáo phận Phát Diệm được xem là “Vatican” của giáo hội Công giáo ở Việt Nam thì giáo phận Bùi Chu được Tòa thánh xem là “viên ngọc” của Tòa thánh ở châu Á. 37 Trong Giáo luật, xứ đạo là một bậc trong hệ thống hành chính giáo của Giáo hội, là đơn vị hạt nhân của Giáo hội. Do điều kiện lịch sử, địa lý, xứ đạo thành lập thường theo địa dư hành chính của thôn, làng, xã. Họ đạo có thể gắn với thôn làng, nhưng thông thường gắn với xóm là đơn vị của làng xã. Vì thế, xứ đạo với làng xã ở Bùi Chu nói riêng, vùng đồng bằng Bắc Bộ nói chung gắn bó rất chặt chẽ với nhau. Địa dư của xứ, họ đạo trùng với địa dư của làng, tên làng được đặt cho tên xứ, họ đạo. Ruộng đất, ao hồ của làng cũng được xem là của xứ, họ đạo. Vì được hình thành trên cơ sở làng xã truyền thống, làng Công giáo Bùi Chu vốn là làng Việt truyền thống, chỉ khác là ở đó sinh hoạt tôn giáo - Công giáo giữ vai trò chủ đạo. Cũng bởi hình thành từ các làng Việt truyền thống, trong đời sống tinh thần của cư dân Bùi Chu có sự hiện diện đậm nét của các tín ngưỡng truyền thống Việt Nam. 2.1.2.2. Tín ngưỡng truyền thống Việt Nam ở giáo phận Bùi Chu - Nam Định Tín ngưỡng truyền thống Việt Nam ở giáo phận Bùi Chu - Nam Định là hệ thống tín ngưỡng với những niềm tin thiêng liêng vào các vị thần thánh, được hình thành trong đời sống lao động, sinh hoạt của người Bùi Chu - Nam Định, biểu hiện niềm tin thiêng liêng của người Bùi Chu - Nam Định trong đời sống lao động, sinh hoạt ấy. Tín ngưỡng truyền thống Việt Nam ở giáo phận Bùi Chu - Nam Định chịu ảnh hưởng quyết định từ điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng Bùi Chu - Nam Định. Khẳng định vai trò quyết định của đời sống vật chất, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến đời sống tinh thần của con người, trong đó có tín ngưỡng, C.Mác đã khẳng định trong tác phẩm kinh điển “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844” như sau: 38 Về mặt thể xác, thì con người cũng giống như con vật, đời sống có tính loài là ở chỗ con người (cũng như con vật) sống bằng giới tự nhiên vô cơ, (...). Cũng như về mặt lý luận, thực vật, động vật, đá, không khí, ánh sáng... là một bộ phận của ý thức con người, một phần với tính cách là đối tượng của khoa học tự nhiên, một phần với tính cách là đối tượng của nghệ thuật, là giới tự nhiên tinh thần vô cơ của con người, là món ăn mà con người phải chuẩn bị trước rồi mới ăn và tiêu hóa được, - về mặt thực tiễn, những cái đó cũng là một bộ phận của đời sống con người và của hoạt động con người. Về thể xác, con người chỉ sống bằng những sản phẩm tự nhiên ấy, dù là dưới hình thức thực phẩm, nhiên liệu, áo quần, nhà ở... Về mặt thực tiễn, tính phổ biến của con người biểu hiện ra chính ở cái tính phổ biến biến toàn bộ giới tự nhiên thành thân thể vô cơ của con người, vì thứ nhất, giới tự nhiên là tư liệu sinh sống trực tiếp đối với con người, và thứ hai giới tự nhiên là vật liệu, đối tượng, và công cụ của hoạt động sinh sống của con người [139, tr.134-135]. Như vậy là, đời sống vật chất, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội mà con người đang sống là cơ sở làm hình thành đời sống tinh thần, đời sống tín ngưỡng của những con người đó. Vì thế, nằm ở đồng bằng Bắc Bộ, tín ngưỡng truyền thống Việt Nam ở giáo phận Bùi Chu – Nam Định cũng mang đầy đủ những đặc trưng của tín ngưỡng truyền thống Việt Nam vùng đồng bằng Bắc Bộ, trong đó nổi bật là tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên, tín ngưỡng Thành Hoàng làng và tín ngưỡng thờ Mẫu, nhưng bên cạnh đó, các tín ngưỡng này còn mang nét khác biệt với các vùng khác của đồng bằng Bắc Bộ, phản ánh nét đặc thù của chính khu vực đó. Tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên Tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên có ảnh hưởng khá đậm nét trong đời sống tâm linh các cư dân vùng đồng bằng Bắc Bộ. Tín ngưỡng này có cơ sở tồn tại 39 vững chắc trong xã hội Việt Nam truyền thống, đặc biệt là ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Thờ cúng Tổ tiên dần được mở rộng theo các quan niệm: Tổ tiên là những người trực hệ (gia tiên) Tổ tiên theo dòng họ (tổ họ) Tổ tiên theo làng xã (tổ làng) với các nghi thức về thành hoàng sẽ được trình bày ở phần sau. Tổ nước, theo GS. Đặng Nghiêm Vạn là Hùng Vương. Có thể khẳng định, tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên đã được hình thành rất lâu đời trong đời sống người Việt truyền thống vùng đồng bằng Bắc Bộ. Từ thời Hùng Vương, người ta đã tìm thấy nhiều mộ táng, cho thấy lúc này con người đã có ý thức về cội nguồn, tổ tiên, về thế giới bên kia. Sau này, khi Nho giáo du nhập vào nước ta, với sự hình thành các nhà nước phong kiến, thờ cúng tổ tiên ngày càng phát triển và dần được hoàn thiện, được chuẩn hóa và đưa vào cuốn Thọ Mai Gia lễ. Cùng với thời gian, quan niệm về thờ cúng tổ tiên của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ nói chung, người Bùi Chu nói riêng dần được thể hiện rõ nét qua các nội dung: quan niệm về cái chết, tang chế, các hình thức cúng, lễ vật. Quan niệm về cái chết và niềm tin về linh hồn bất tử. “Chết” hàm chỉ một số nghĩa: mất khả năng sống, không còn biểu hiện sự sống; mất khả năng hoạt động do hư hỏng; mất tác dụng do đã biến chất; (trạng thái hoặc hoạt động) đạt đến mức độ quá lắm, như không thể chịu hơn được nữa [202, tr.161]. Người Việt truyền thống thường tránh dùng từ này, nhằm làm vơi bớt nỗi thương tiếc, xót xa của người thân thì họ sử dụng một số từ đồng nghĩa như "qua đời", "khuất núi", "qui tiên". Qua đó, có thể thấy rằng người Việt truyền thống quan niệm về cái chết còn khá mơ hồ, nhưng khẳng định chết không phải là hết, chỉ giống như một chuyến đi xa, sự kết thúc một chặng đường ngắn ngủi để bước sang chặng đường khác... 40 Quan niệm về cái chết của người Việt gắn với quan niệm về linh hồn. Người Việt cho rằng trong con người tồn tại hai phần: thể xác và linh hồn. Thể xác chỉ phần thân thể vật chất của con người. Linh hồn là thực thể tinh thần đối lập với thể xác. Người Việt truyền thống cho rằng chết là về "thế giới bên kia", về "nơi chín suối", muốn tới đó phải đi bằng thuyền. Ở nhiều nơi thuộc đồng bằng Bắc bộ vẫn còn giữ nghi lễ "chèo đưa linh" để tiễn đưa linh hồn về nơi chín suối. Chính niềm tin rằng chết là về nơi chín suối với tổ tiên, “sống gửi thác về”, và dù ở nơi đó, ông bà tổ tiên vẫn đi về thăm nom, phù hộ cho con cháu, từ đó hình thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Tổ tiên tuy đã chết nhưng linh hồn vẫn sống và thường hiện diện trong gia đình, ngự trên bàn thờ của gia đình. Ý thức tôn thờ tổ tiên của người Việt là thể hiện đạo hiếu "Uống nước nhớ nguồn", "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây" của con cháu, là sự mong muốn tổ tiên sẽ "phù hộ độ trì" cho con cháu ăn nên làm ra, bảo vệ con cháu không bị ai làm hại. Về bản chất của tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên, có thể hiểu tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên theo nghĩa như sau: Tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên là một bộ phận của ý thức xã hội, là một loại hình tín ngưỡng dân gian được hình thành từ thời nguyên thuỷ với niềm tin thiêng liêng rằng, tổ tiên đã chết sẽ che chở, phù giúp cho con cháu, được thể hiện thông qua lễ nghi thờ phụng. Nó là sự phản ánh hoang đường quyền hành của người đứng đầu thị tộc phụ hệ, gia đình phụ quyền được duy trì và phát triển trong xã hội có giai cấp sau này, là sự biết ơn, tưởng nhớ và tôn thờ những người có công sinh thành, tạo dựng, bảo vệ cuộc sống như kỵ, cụ, ông bà, cha mẹ Như vậy, theo quan niệm của người Việt truyền thống, chết là kết thúc đối với cuộc đời thế tục, là sự chia lìa của người sống với người chết. Cho nên, trong lễ tang, không khí đau thương, xót xa bao trùm tất cả. Về 41 tang chế, theo tổng kết của Thọ Mai gia lễ, gồm nhiều nghi lễ, từ giờ phút lâm chung đến chuẩn bị quan tài, phát tang, chuyển cữu, trị huyệt, hạ huyệt... Tang ma dù là việc của từng gia đình, nhưng tính cộng đồng, làng xã biểu hiện rất rõ nét. Việc đỡ đần, chia sẻ trong lúc tang gia bối rối trở thành một nét đẹp trong văn hóa truyền thống của người Việt. Hương ước của một số làng Việt truyền thống vùng Bùi Chu thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XIX đã thể hiện điều đó, Lệ vùng Cát Chử (Trực Ninh) để làng đưa tang thì phải nạp một số tiền, hoặc làm cỗ đãi đưa tang. Giá tiền đầu thế kỷ XX là: lễ ở giữa đường 2.000 đồng, lễ lúc lên xe là 1.000 đồng, chỉ có lễ an táng thì 800 đồng. Lệ ở Thanh Trà, tổng Quế Hải (Hải Hậu): mỗi khi có việc tang, chỉ nộp 30 quan xã sẽ đốc người lo tất cả các việc từ kèn trống, lễ bái, chôn cất. Ai vì tham ăn sách nhiễu, xã sẽ phạt ba quan và một mâm xôi gà lễ “tạ quá” ở miếu thành hoàng. Nếu gia chủ biếu xôi thịt còn nóng xin chia, xã sẽ bớt đi 5 đến 10 quan hoặc hơn, xã không yêu cầu lễ biếu. Lệ của làng Vị Khê (Nam Trực) có bốn hạng: hạng nhất nộp 12 đồng, gấp hai lần hạng nhì, bằng bốn lần hạng ba và bằng 12 lần hạng tư, v.v...[181, tr. 665]. Các hình thức cúng, lễ vật. Bàn thờ tổ tiên được coi là một yếu tố không thể thiếu trong tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên. Thông thường, bàn thờ tổ tiên chiếm một khoảng không gian nhất định trong nhà, có thể ở gian giữa hoặc gian đầu. Gian thờ được chia làm ba lớp: Lớp ngoài cùng là chiếc phản để làm lễ, có thể để trống bày chiếu hay bàn ghế thay thế. Lớp thứ hai để hương án, trên có đặt đồ tam sự (ngũ sự) (lư hương, đôi hạc, đôi nến, hai đài đặt hai chén nước thờ bằng đồng, lọ độc bình, đèn 42 Lớp trong cùng là bàn thờ. Bàn thờ tổ tiên thường được sắp xếp như sau: trên cao nhất được gọi là giường hành (ngũ hành) có đặt cỗ ngai (còn gọi là ỷ), trong ngai đặt bài vị Thuỷ tổ hoặc Tiên tổ chi chủ; phía dưới đặt bài vị kỵ ông, kỵ bà, rồi cụ ông, cụ bà, ông bà, cha mẹ.; tiếp xuống bày bộ Ngũ sự (Bát hương, đèn, lọ độc bình, mâm bồng nếp ngũ quả, bộ đài đặt chén nước hoặc rượu). Lễ vật cúng Tổ tiên thường không có gì qui định bắt buộc. Tổ tiên lúc còn sống ăn uống thứ gì thì cúng giỗ Tổ tiên có thể lấy đó làm lễ vật. Đặc biệt, không chỉ ở vùng đồng bằng sông Hồng mà ở bất cứ vùng nào thuộc Bắc, Trung, Nam, trong các gia đình người Việt, lễ vật cúng giỗ tổ tiên bao giờ cũng phải có quả trứng luộc bóc vỏ. Quả trứng đó là thể hiện lòng nhớ ơn về cội nguồn Tổ tiên theo sự tích bà Âu Cơ sinh trăm trứng nở trăm con. Quả trứng cũng là lễ vật nguyên vẹn nhất bởi không có ai có thể nếm vào đấy. Ngoài ra, trong ngày tết Nguyên đán, bàn thờ Tổ tiên thường có dựng bên cạnh vài ba cây mía để cả ngọn. Ý nghĩa của lễ vật này là cây mía có nhiều đốt, biểu hiện những nấc thang phát triển. Cây mía được coi là cây bất tử bởi ngọn mía lại sinh ra các bụi cây mía mới. Nó thể hiện mong muốn cho vũ trụ được sinh sôi phát triển. Ở những dòng họ lớn, con cháu còn chung nhau làm nhà thờ họ tộc để thờ vị thuỷ tổ của dòng họ mình. Cách bài trí ở nhà thờ họ tộc cũng giống cách bài trí ở bàn thờ tổ tiên nhưng do ông trưởng họ trông nom, đến ngày giỗ thuỷ tổ, mọi người trong họ mới tụ tập, mang cỗ bàn hương hoa đến lễ. Ngày giỗ là ngày kỷ niệm người mất trong gia đình, gồm có giỗ lớn và giỗ mọn. Theo quy định, ngày giỗ phải được tổ chức vào những dịp sau: cúng 3 ngày, cúng thất tuần, giỗ đầu (tiểu tường), giỗ năm thứ hai (đại tường), ngày trừ phục (giỗ hết khó), và giỗ cát kỵ (giỗ lành). Việc cúng Tổ tiên quan trọng nhất là vào ngày giỗ - ngày mà cha mẹ, ông bà, Tổ tiên qua đời. Cho nên dù thờ cúng Tổ tiên thuộc về con trai cả 43 dòng đích nhưng con gái cũng phải theo giỗ. Lúc đó các con cháu sẽ góp giỗ, tụ hội về nhà trưởng đích, sắp cỗ bàn cúng gia tiên rồi hưởng lễ ăn uống. Con cháu ngồi kể lại chuyện cha mẹ, ông bà, tổ tiên mình ngày xưa ra sao, tính nết, hình ảnh, cách cư xử thế nào để thể hiện lòng hiếu thảo của mình. Ngoài ngày giỗ, con cháu còn cúng tổ tiên vào các ngày tết trong năm, đặc biệt là Tết Nguyên đán, ba ngày tết sẽ thắp đèn hương thờ cúng. Có thể nói rằng, ngoài tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên, ý thức về cội nguồn được thể hiện khá đậm nét trong đời sống tâm linh của các cư dân vùng đồng bằng Bắc Bộ. Bàn thờ tổ tiên là không thể thiếu đối với gia đình cư dân nơi đây, bên cạnh đó, dòng họ có Tổ đường, làng xóm thờ Thành hoàng làng, thần làng ở đình, đền, nước thờ Lạc Long Quân, Âu Cơ, vua Hùng Tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên không chỉ thể hiện không gian riêng trong việc cúng bái giỗ chạp, mà còn biểu hiện trong mọi phong tục liên quan đến những thời điểm quan trọng nhất của chu kỳ đời sống một con người: sinh đẻ, hôn nhân, ma chay; cũng như sau khi đã khuất; săn sóc phần mộ, lo lắng cho “cuộc sống” bên kia thế giới. Người dân ở các huyện nằm trong giáo phận Bùi Chu đều thực hành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Việc thực hành vẫn giữ nguyên nghi lễ, phong tục trong tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của người Việt truyền thống vùng đồng bằng Bắc Bộ. Cái chết theo cư dân nơi đây cũng giống người Việt truyền thống. Chết là mất (về mặt thể xác), là về với tổ tiên, ông bà. Lễ tang của cư dân nơi đây cũng bao gồm hàng loạt nghi lễ: từ phút lâm chung (đặt tên hèm, hú hồn, tắm rửa, thay y phục, ngậm gạo, tiền), chuẩn bị quan tài, phát tang đến chuyển cữu, hạ huyệt... Việc tang ma vốn được coi là gia lễ, nhưng thực tế thì không thể thoát ly khỏi cộng đồng làng xã bởi làng xã sẽ cắt cử người trong làng giúp dựng rạp, sửa đường, bắc cầu... để việc thực hiện các nghi lễ đưa tang được thuận lợi. 44 Trong phạm vi dòng họ, nghi lễ thờ cúng tổ tiên được thực hiện bằng một loạt các hoạt động tập thể của gia đình, thành viên trong dòng họ về giỗ tổ, tảo mộ. Địa điểm diễn ra nghi lễ thường ở nhà trưởng họ hoặc nhà thờ họ. Những năm gần đây, khi đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao, nhà thờ các họ tộc lớn đều được xây lại, xây mới to đẹp, hoành tráng. Tín ngưỡng Thành Hoàng làng Người Việt cổ khi tiến xuống đồng bằng Bắc Bộ, họ tụ cư thành những xóm làng ổn định. Làng người Việt ở vùng đồng bằng Bắc Bộ có cấu trúc chặt chẽ, được coi là những đơn vị kinh tế - xã hội - quân sự và văn hóa hoàn chỉnh. Đình chùa, am, miếu, nhà thờ, từ đường... là những trung tâm thờ tự công cộng của làng xã. Nhờ đó, làng xã có vai trò quan trọng, là cái nôi hình thành, nuôi dưỡng và bảo vệ những giá trị văn hóa truyền thống. Thời điểm ban đầu người Việt tiến xuống đồng bằng, trình độ kỹ thuật còn hết sức hạn chế. Để trồng trọt đạt năng suất cao, họ phải nắm được những nét đặc trưng, quy luật sinh trưởng và thao tác thuần thục cho từng giống cây trồng. Do vậy, điều quan trọng là người lao động phải biết học hỏi những người đi trước, có kinh nghiệm, từ đây hình thành trong tâm thức họ tâm lý sùng bái già làng, vốn là những người nhiều kiến thức, kinh nghiệm trong sản xuất. Làm nông nghiệp lúa nước thì vấn đề thủy lợi trở nên trọng yếu đối với cư dân Việt cổ vùng đồng bằng Bắc bộ. Tuy nhiên, do cấu tạo địa hình, nơi đây diễn ra nạn lũ lụt hàng năm, vì thế, trị thủy trở thành mối quan tâm dai dẳng trong đời sống vật chất và tinh thần của những con người nơi đây. Mặc dù làm nghề nông là chủ yếu nhưng người Việt ở vùng đồng bằng Bắc bộ không thuần nông. Nhiều làng nghề truyền thống xuất hiện. Chính cơ sở kinh tế xã hội trên làm hình thành tín ngưỡng thành hoàng làng của người Việt ở vùng đồng bằng Bắc bộ. 45 Tín ngưỡng Thành Hoàng làng vốn có nguồn gốc từ Trung Quốc. Trong sách Từ nguyên có ghi “Thành hoàng: do ngôn thành trì. Dịch: thành phục vụ hoàng”, có nghĩa là vị thần bảo vệ cho thành trì. Đa số những người được triều đình phong Thành Hoàng đều là trung thần, nghĩa sĩ, dũng tướng... Từ "thành hoàng” trong tín ngưỡng Thành Hoàng làng vốn là từ Hán Việt được hiểu theo nghĩa: “thành” là cái thành, còn “hoàng” là cái hào đào sâu bao quanh thành. Sau khi được du nhập sang Việt Nam, “Thành Hoàng” ban đầu cũng được dùng để chỉ các vị thần bảo vệ các tòa thành. Chẳng hạn Tô Lịch năm 823 được Lý Nguyên Gia phong làm Thành Hoàng, dựng đền thờ. Năm 866, ông được phong làm Đô phủ Thành Hoàng thần quân Đại vương. Năm 1010, vua Lý Thái Tổ phong Tô Lịch làm Quốc đô Thăng Long Thành Hoàng đại vương. Có thể nói, ở nước ta tồn tại một loại Thành Hoàng giống với ý nghĩa của Thành Hoàng bên Trung Quốc - thần của thành trì. Tuy nhiên, nói tới Thành Hoàng ở Việt Nam lại phải nói tới loại Thành Hoàng thứ hai - thần của các làng, được gọi là Thành Hoàng làng. Thành Hoàng làng là tên gọi cho vị thần cai quản, che chở, định phúc họa cho dân làng đó. Mỗi làng xã đều có Thành Hoàng làng. Và dù xuất thân thế nào, nghề nghiệp ra sao, có được vua phong hay không, thì một khi được làng xã tôn vinh là Thành Hoàng, vị thần đó sẽ được cả dân làng sùng kính. Như vậy, “Thành Hoàng làng” trong tín ngưỡng Thành Hoàng làng là một khái niệm đã được Việt hóa, không còn giống với nghĩa gốc bên Trung Quốc. Đúng như Nguyễn Duy Hinh đã nhận xét: Rõ ràng trong Thành Hoàng Việt Nam có hai dòng riêng biệt. Một dòng: mang đậm gần nguyên xi mô hình Đường - Minh: Hệ thống Thành Hoàng cả nước, tỉnh, huyện: đó là những vi thần vô danh tối linh, không có thần tích, nhân bản, thậm chí cũng không phải là một thiên thần... Dòng thứ hai là Thành Hoàng - Làng. Đó mới là dòng chủ thể phản ánh bản chất tư duy tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam [66, tr.97]. 46 Các Thành Hoàng thường ngự trị ở ngôi đình của làng, tuy nhiên, ở nhiều nơi Thành Hoàng ngự ở Nghè vào dịp kỷ niệm mới được rước ra đình, sau đó lại trở về Nghè. Ngôi đình trở thành vùng đất thiêng, không gian thiêng và có cả thời gian thiêng (vào dịp đình đám của làng). Đình làng tuy xuất hiện từ lâu và đã tồn tại qua nhiều thế kỷ, song phải đến cuối thế kỷ XVI về sau vị trí của ngôi đình làng mới thực sự được đề cao trong đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng làng xã. Dù được xây dựng cách xa khu dân cư, ngôi đình vẫn là trung tâm của đời sống cộng đồng dân làng, nơi giải quyết các vấn đề hành chính trong làng, và giữ đúng chức năng của nó là nơi tiến hành các nghi lễ thờ cúng Thành Hoàng - vị thần bảo hộ của cộng đồng làng. Cùng với tục cúng Thành Hoàng, tín ngưỡng này còn được thực hành thông qua việc tổ chức lễ hội. Vào dịp lễ hội, tùy thân thế, thần tích, nguồn gốc của thành hoàng mà có những nghi thức được tổ chức cho phù hợp. Nếu thành hoàng là anh hùng chống ngoại xâm thì diễn xướng sẽ mô tả cảnh đánh giặc, giữ nước. Thành Hoàng là thần mây, mưa, sấm, chớp lễ hội nhất định sẽ diễn ra cảnh cầu cho mưa thuận gió hòa để mùa màng tươi tốt. Tín ngưỡng Thành Hoàng làng đã trở thành biểu tượng cho tính cố kết cộng đồng, có vai trò then chốt trong đời sống tâm linh của cư dân làng xã Việt Nam. Cư dân thuộc 6 huyện nằm trong giáo phận Bùi Chu cũng tin và thực hành nghi lễ cúng tín ngưỡng Thành Hoàng làng. Tín ngưỡng này tồn tại rất phổ biến ở vùng đất này. Vì thế, tổ tiên những người dân nơi đây khi khai hoang lập ấp đã cố gắng duy trì tín ngưỡng đó cho các thế hệ con cháu tới tận ngày nay. Hệ thống đền, miếu được lập ở khắp nơi trong vùng, tiêu biểu có đền Hưng Đạo Vương, đền thờ Triệu Quang Phục, Đền liệt sỹ Hải Hậu, Phủ Thiên Tiên,... 47 Các vị thần cũng được chia ra một cách cụ thể, như các vị thần là tiền hiền, khai khẩn, mở đất thiết lập làng xã, có thể kể đến Trần Vu, Vũ Chi, Hoàng Gia, Vũ Duy Hòa, Phạm Cập (Hải Anh, Hải Hậu), Phạm Văn Nghị, Nguyễn Điển, Phạm Thanh (Hải Lạng, Nghĩa Hưng), Ngô Miễn (An Cư, Xuân Trường)... Cũng có những vị là tổ nghề như Lục vị tổ sư (Vân Chàng, Nam Trực), Tô Trung Tự làm nghề trồng hoa (Vị Khê, Nam Trực)... Còn có những vị là trạng nguyên, tiến sĩ... tạo truyền thống khoa bảng của làng, của họ, gây dựng danh tiếng cho làng, cho họ, như Phạm Bảo, Phạm Đạo Phú (Dương Phạm, Nghĩa Hưng)... Khi nhắc đến tín ngưỡng Thành Hoàng làng của người Nam Định nói chung, người Bùi Chu nói riêng, không thể không nhắc đến một vị anh hùng dân tộc, một nhân vật lịch sử vĩ đại, đó là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn (1232 - 1300). Ngay từ khi lúc sinh thời, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã trở thành Đức Thánh Trần trong lòng người dân Nam Định và lan rộng ảnh hưởng ra toàn quốc. Ở các làng xã có nhiều địa điểm (từ đền, điện, phủ, miếu, đình, chùa) được dùng để thờ Đức Thánh Trần. Tín ngưỡng thờ Mẫu Gắn liền với cuộc sống nông nghiệp với âm tính dẫn đến trong quan hệ xã hội ở người Việt truyền thống là lối sống thiên về tình cảm, trọng phụ nữ, biểu hiện về mặt tín ngưỡng là khuynh hướng đề cao nữ tính với một loạt các nữ thần như Bà Trời, Mẹ Đất, Bà Thủy, Bà Hỏa, các nữ thần Mây - Mưa - Sấm - Chớp, đạo thờ Tam Phủ, Tứ Phủ; 12 bà mụ Vì thế việc thờ Mẫu ở Việt Nam rất mạnh, được xem như một thứ tín ngưỡng truyền thống của dân tộc. Từ “Mẫu” có gốc Hán - Việt, được hiểu là Mẹ, là tiếng xưng hô của người con đối với người phụ nữ đã sinh ra mình. Hiểu rộng ra, “mẫu” còn được dùng để chỉ sự sinh sôi nảy nở, sinh hóa không ngừng. Với ý nghĩa đó, tín ngưỡng thờ Mẫu là loại hình tín ngưỡng truyền thống Việt Nam nhằm tôn vinh, tôn quý, tôn quyền một người phụ nữ nào đó, 48 thông qua các hình thức sinh hoạt tín ngưỡng để con người khi tham gia có được sự che chở, giúp đỡ của các bậc Mẫu. Tín ngưỡng thờ Mẫu xuất phát từ việc thờ Nữ thần. Mẫu là nữ thần, nhưng nữ thần thì không phải tất cả đều là Mẫu, bởi chỉ có những nữ thần gắn với sự sinh sôi, nảy nở, bao bọc, che chở cho cuộc sống cư dân mới được coi là Mẫu. Qua một quá trình phát triển từ thấp lên cao, từ chưa hoàn thiện đến tương đối hoàn thiện, tín ngưỡng thờ Mẫu được hình thành và hoàn thiện, xét trên phương diện các lớp thờ thì có thờ Nữ thần, Mẫu thần, Tam phủ - Tứ phủ, còn xét ở phương diện các vị thần thì có Bà mẹ núi rừng, ...à Nhà nước ta (Hệ cao cấp lý luận chính trị), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội. 70. Hội đồng Giám mục Việt Nam (2007), Bộ Giáo luật 1983, Nxb Tôn giáo, Hà Nội. 71. Hội đồng Giám mục Việt Nam, Ủy ban giáo lý đức tin, tiểu ban từ vựng (2011), Từ điển Công giáo 500 mục từ, Nxb Tôn giáo, Hà Nội. 72. Hội đồng nhân dân xã Xuân Ngọc (2014), Nghị quyết về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2014, số 02/2014/NQ- HĐND ngày 03 tháng 01 năm 2014. 150 73. Hội đồng nhân dân xã Xuân Phương (2014), Nghị quyết về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2014, số /2013/NQ- HĐND ngày 03 tháng 01 năm 2014. 74. Hội khoa học lịch sử Việt Nam (2006), Những vấn đề nhân học tôn giáo, Tạp chí Xưa và nay, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng. 75. Lm. Nguyễn Hồng (2009), Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam, (các thừa sai dòng Tên 1615 - 1663), quyển I, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội. 76. Lm. Nguyễn Hồng (2009), Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam, quyển II, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội. 77. Trần Hữu Hợp (2012), Cộng đồng người Việt Công giáo đồng bằng sông Cửu Long - Lịch sử hình thành và quá trình hội nhập văn hóa, Nxb Tôn giáo, Hà Nội. 78. Phan Phát Huồn (1958), Việt Nam giáo sử, Quyển I (1553-1933), Nxb Cứu thế Tùng thư, thành phố Hồ Chí Minh. 79. Phan Phát Huồn (1962), Việt Nam giáo sử, Quyển II (1933-1960), Nxb Cứu thế Tùng thư, thành phố Hồ Chí Minh. 80. Trương Sỹ Hùng (Chủ biên) (2003), Mấy tín ngưỡng, tôn giáo Đông Nam Á, Nxb Thanh niên, Hà Nội. 81. Huyện ủy - Uỷ ban nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định (2009), Địa chí Hải Hậu. 82. Huyện ủy - Uỷ ban nhân dân huyện Xuân Trường (2002), Báo cáo tóm tắt đề án Một số giải pháp tăng cường hệ thống chính trị vùng có đông đồng bào theo đạo Công giáo nhằm đảm bảo ổn định chính trị - xã hội trên địa bàn huyện Xuân Trường - tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay. 83. Huyện ủy Xuân Trường (2012), Báo cáo tình hình tôn giáo và kết quả thực hiện chính sách tôn giáo của huyện trong những năm qua. 151 84. Lm. Trần Đức Huynh (2000), Lịch sử địa phận Bùi Chu, Hội Ái Hữu Bùi Chu tại Hoa Kỳ. 85. Đỗ Quang Hưng (chủ biên) (2003), Bước đầu tìm hiểu về mối quan hệ giữa nhà nước và giáo hội, Nxb Tôn giáo. 86. Đỗ Quang Hưng (2001), “Công giáo thế kỷ XX: vài khía cạnh tiến triển của thần học”, tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 3. 87. Đỗ Quang Hưng (1990), Một số vấn đề về lịch sử Thiên chúa giáo Việt Nam, Nxb Đại học Tổng hợp Hà Nội. 88. Đỗ Quang Hưng (2010), Nghiên cứu tôn giáo - Nhân vật và sự kiện, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh. 89. Đỗ Quang Hưng (2005), “Những người Cộng sản Việt Nam với đường hướng “Đồng hành cùng dân tộc” và Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam”, tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 1. 90. Đỗ Quang Hưng (2001), “Vấn đề Công giáo với số phận Lê Văn Duyệt”, tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 2. 91. Đỗ Quang Hưng (2005), Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam - Lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 92. Nguyễn Quang Hưng (2007), Công giáo Việt Nam thời kỳ triều Nguyễn (1802 - 1883), Nxb Tôn giáo, Hà Nội. 93. Nguyễn Thị Quế Hương (2011), “Ảnh hưởng của Thư chung 1980 trong việc xây dựng đời sống văn hóa làng Công giáo vùng đồng bằng sông Hồng qua hương ước”, tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 1. 94. Nguyễn Thị Quế Hương (2012), Hương ước làng Công giáo vùng đồng bằng sông Hồng, Luận án Tiến sĩ Triết học, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội. 95. Nguyễn Thị Quế Hương (2008), “Sinh hoạt tôn giáo của cộng đồng dân cư làng Công giáo vùng đồng bằng sông Hồng qua hương ước”, tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 6. 152 96. Hương ước Ấp Thủy Nhai, huyện Giao Thủy, Nam Định (1942), Viện Thông tin khoa học xã hội, Hà Nội. 97. Hương ước làng Báo Đáp, huyện Mỹ Lộc, Nam Định (1942), Viện Thông tin khoa học xã hội, Hà Nội. 98. Hương ước làng Du Hiếu, huyện Giao Thủy, Nam Định (1938), tài liệu cá nhân. 99. Hương ước làng Đại Đê, huyện Trực Ninh, Nam Định (1939), tài liệu cá nhân. 100. Hương ước làng Hạ Linh, huyện Xuân Trường, Nam Định (1940), Viện Thông tin khoa học xã hội, Hà Nội. 101. Hương ước làng Lạc Đạo, huyện Nghĩa Hưng, Nam Định (1933), Viện thông tin khoa học xã hội, Hà Nội. 102. Hương ước làng Liễu Đề, huyện Trực Ninh, Nam Định (1942), Viện thông tin khoa học xã hội, Hà Nội. 103. Hương ước làng Lục Thủy, huyện Xuân Trường, Nam Định, Viện Thông tin khoa học xã hội, Hà Nội. 104. Hương ước làng Ngọc Cục, huyện Xuân Trường, Nam Định (1942), Viện thông tin khoa học xã hội, Hà Nội. 105. Hương ước làng Ninh Cường, huyện Trực Ninh, Nam Định, Viện thông tin khoa học xã hội, Hà Nội. 106. Hương ước làng Phú Nhai, huyện Xuân Trường, Nam Định (1940), Viện Thông tin khoa học xã hội, Hà Nội. 107. Hương ước làng Quần Liêu, huyện Nghĩa Hưng, Nam Định, Viện Thông tin khoa học xã hội, Hà Nội. 108. Hương ước làng Quần Phương, huyện Nghĩa Hưng, Nam Định (1937), Viện Thông tin khoa học xã hội, Hà Nội. 109. Hương ước Sa Châu ấp, huyện Giao Thủy, Nam Định (1943), Viện Thông tin khoa học xã hội, Hà Nội. 110. Hương ước làng Trung Lao, huyện Trực Ninh, Nam Định (1923), Tài liệu cá nhân 153 111. Hương ước làng Trung Lĩnh, huyện Xuân Trường, Nam Định, Viện Thông tin khoa học xã hội, Hà Nội. 112. Hương ước làng Văn Giáo, huyện Nghĩa Hưng, Nam Định (1942), Viện Thông tin khoa học xã hội, Hà Nội. 113. Hương ước làng Vĩnh Trị, huyện Nghĩa Hưng, Nam Định (1942), Viện Thông tin khoa học xã hội, Hà Nội. 114. Hương ước làng Vụ Bản, huyện Mỹ Lộc, Nam Định, Viện thông tin khoa học xã hội, Hà Nội. 115. Thiên Hựu, Nguyễn Thành Thống (2009), Đức Trinh nữ Maria, Nxb Tôn giáo, Hà Nội. 116. Trần Khang, Lê Cự Lộc dịch (2001), C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin bàn về tôn giáo và chủ nghĩa vô thần, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 117. Vũ Ngọc Khánh (2001), Tín ngưỡng dân gian Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội. 118. Vũ Ngọc Khánh (1994), Tín ngưỡng làng xã, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội 119. Nguyễn Văn Kiệm (2001), “Những đóng góp của Công giáo vào nền văn hóa Việt Nam (cho đến hết thế kỷ XIX)”, tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 1. 120. Nguyễn Văn Kiệm (2001), Sự du nhập của đạo Thiên Chúa giáo vào Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, Nxb Hội khoa học lịch sử Việt Nam, Hà Nội 121. Nguyễn Văn Kiệm (2000), “Về một bức Thư chung - Chứng cứ của sự hội nhập văn hóa”, tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 1. 122. Kinh Thánh (trọn 2 bộ Cựu ước và Tân Ước) (2002), Nxb Tôn giáo, Hà Nội 123. Lm. Hồng Lam (1944), Lịch sử đạo Thiên Chúa ở Việt Nam, Nxb Đại Việt Thiện Bản, Huế 154 124. V.I.Lênin (1979), Toàn tập, tập 12, Nxb Tiến bộ, Matxcơva 125. V.I.Lênin (1979), Toàn tập, tập 17, Nxb Tiến bộ, Matxcơva 126. V.I.Lênin (1979), Toàn tập, tập 29, Nxb Tiến bộ Matxcơva 127. Nguyễn Văn Long (1999), Vận dụng quan điểm khoa học về tôn giáo trong công tác đối với Thiên Chúa giáo hiện nay ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 128. Nguyễn Phú Lợi (2007), “Hội đoàn Công giáo - Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam”, tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 7. 129. Nguyễn Phú Lợi (2012), “Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng và công tác tôn giáo trong thời kỳ đổi mới”, tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 3. 130. Nguyễn Phú Lợi (2009), Tổ chức xứ, họ đạo Công giáo ở đồng bằng Bắc Bộ đến trước Cách mạng tháng Tám 1945, Luận án Tiến sĩ Triết học, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội. 131. Nguyễn Đức Lữ (chủ biên) (2004), Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội. 132. Nguyễn Đức Lữ (2005), “Thư chung 1980 của Hội đồng Giám mục Việt Nam - Một dấu mốc quan trọng trên con đường Công giáo đồng hành cùng dân tộc”, tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 5. 133. Nguyễn Đức Lữ (2009), Tôn giáo - Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội. 134. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995): Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 135. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995): Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 136. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995): Toàn tập, tập 19, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 155 137. C.Mác và Ph.Ăngghen (1994): Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 138. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995): Toàn tập, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 139. C.Mác và Ph.Ăngghen (2000), Toàn tập, tập 42, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 140. Manuel Moreno (1916), Sử ký địa phận Trung, Phú Nhai Đường 1916. 141. Hà Văn Minh (2004), “Lòng đạo đức bình dân trong đời sống người giáo dân Việt Nam”, Nguyệt san Công giáo và dân tộc, số 115. 142. Hồ Chí Minh (2002): Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 143. Hồ Chí Minh (1995): Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 144. Hồ Chí Minh (2002): Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 145. Hồ Chí Minh (2002): Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 146. Phùng Thị An Na (2007), Ảnh hưởng của văn hóa Công giáo đối với văn hóa Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Triết học, trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn, Hà Nội. 147. Trần Thị Kim Oanh (1999), Vai trò Giáo hội Công giáo ở Việt Nam (thời kỳ 1533 - 1954), Luận văn Thạc sĩ Triết học, trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn, Hà Nội. 148. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 149. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2013, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 150. Quốc sử quán triều Nguyễn (1999): Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 156 151. Phạm Quyết (2005), “Ảnh hưởng của giáo lý, giáo luật và tổ chức giáo hội cơ sở của Công giáo đến hành vi sinh sản của giáo dân (qua nghiên cứu cộng đồng Công giáo xã Xuân Ngọc, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định)”, tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 3. 152. Vũ Quỳnh (1992), Lĩnh Nam chích quái, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 153. Ngô Anh Sáng (2012), Đấu tranh với hoạt động tôn giáo trái pháp luật trên địa bàn tỉnh Nam Định trong tình hình hiện nay, Luận văn thạc sĩ, Học viện An ninh nhân dân, Hà Nội. 154. Trần Đăng Sinh (2008), “Một số chính sách của các vị vua đầu triều Nguyễn đối với tín ngưỡng thờ thần ở làng xã Bắc bộ”, tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 8. 155. Trần Đăng Sinh (2002), Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 156. Hoành Sơn, Hoàng Sỹ Quý, SJ (2009), Sống đạo với phương Đông, Nxb Antôn và Đuốc sáng, Hà Nội. 157. Thế Tâm, Nguyễn Khắc Dương (2007), “Hội nhập văn hoá, vấn đề hay mầu nhiệm”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 4. 158. Trần Ngọc Thêm (1997), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh. 159. Lê Minh Thiện (2006), “Tính cộng đồng của người Công giáo trong các xứ họ đạo vùng đồng bằng Bắc Bộ”, tạp chí Công tác Tôn giáo, số 6. 160. Bùi Thiết (2000), Việt Nam thời cổ xưa, Nxb Thanh niên, Hà Nội. 161. Ngô Đức Thịnh (chủ biên) (2001), Tín ngưỡng và văn hoá tín ngưỡng ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 162. Phạm Huy Thông (2011), “Lối sống của người Công giáo Việt Nam”, tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 12. 163. Phạm Huy Thông (2012), Ảnh hưởng qua lại giữa đạo Công giáo và văn hóa Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội. 157 164. Lê Văn Thơ (2008), “Về tổ chức ban hành giáo xứ, họ đạo ở giáo phận Phát Diệm”, tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 6. 165. Nguyễn Hữu Thụ (2013), Khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc bộ, Luận án Tiến sĩ Triết học, trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn, Hà Nội. 166. Nguyễn Tài Thư (chủ biên) (1997), Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 167. Lm. Trần Tam Tỉnh (1988), Thập giá và Lưỡi gươm, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh. 168. Tỉnh ủy - Hội đồng nhân dân - Uỷ ban nhân dân tỉnh Nam Định (2003), Địa chí Nam Định, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 169. Tòa tổng giám mục Hà Nội (2002), Kinh cầu cho các linh hồn, Nxb Tôn giáo, Hà Nội. 170. Tòa Tổng Giám mục thành phố Hồ Chí Minh (1997), Giáo lý Hội thánh Công giáo, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh. 171. Tòa Tổng Giám mục thành phố Hồ Chí Minh (1998), Kinh thánh trọn bộ Cựu ước và Tân ước, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh. 172. Trần Văn Toàn (2012), Quản lý Nhà nước về an ninh trật tự đối với hoạt động của đạo Thiên Chúa trên địa bàn huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, Luận văn Thạc sĩ, Học viện An ninh nhân dân, Hà Nội. 173. X.A. Tokarev (1994), Các hình thức tôn giáo sơ khai và sự phát triển của chúng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 174. Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện nghiên cứu tôn giáo (1994), Những vấn đề tôn giáo hiện nay, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 158 175. Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện nghiên cứu tôn giáo (1994), Về tôn giáo, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 176. Chu Quang Trứ (1996), Di sản văn hóa dân tộc trong tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Thuận Hóa, Huế. 177. Hà Huy Tú (2002), Tìm hiểu nét đẹp văn hóa Thiên Chúa giáo, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội. 178. Nguyễn Quốc Tuấn, Nguyễn Ngọc Quỳnh (2007), “Mấy vấn đề về tín ngưỡng, tôn giáo khu vực đồng bằng sông Hồng hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 3. 179. Trần Từ (1984), Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở đồng bằng Bắc bộ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 180. Nguyễn Minh Tường (2015), “Tín ngưỡng Thành Hoàng”, Tạp chí Xưa và Nay, số 2. 181. Ủy ban đoàn kết Công giáo Việt Nam tỉnh Nam Định (2010), Người Công giáo tỉnh Nam Định phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết để là người Công giáo tốt cũng là người công dân tốt góp phần xây dựng quê hương giầu đẹp, văn minh. 182. Ủy ban đoàn kết Công giáo Việt Nam (2005), “Từ Công đồng Vatican II đến Thư Chung 1980”, Kỷ yếu Tọa đàm khoa học, Nxb Tôn giáo, Hà Nội. 183. Ủy ban giáo lý đức tin - Hội đồng Giám mục Việt Nam (2009), Giáo lý Hội thánh Công giáo, Nxb Hà Nội. 184. Ủy ban nhân dân huyện Hải Hậu (2010), Uỷ ban nhân dân huyện phối hợp Uỷ ban mặt trận Tổ quốc huyện trong phong trào thi đua xây dựng khu dân cư tiên tiến, khu dân cư văn hóa; xây dựng xã, thị trấn tiên tiến, văn hóa. 185. Ủy ban nhân dân huyện Xuân Trường (2012), Báo cáo tình hình tôn giáo và hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện Xuân Trường. 159 186. Uỷ ban nhân dân tỉnh Nam Định (2010), Báo cáo kết quả triển khai thực hiện Chỉ thị 1940/2008/CT-TTg của Thủ tướng chính phủ về nhà, đất liên quan đến tôn giáo. 187. Ủy ban xã Hải Phương (2014), Báo cáo kết quả công tác Mặt trận năm 2013, chương trình hoạt động công tác Mặt trận năm 2014. 188. Ủy ban nhân dân xã Xuân Phương (2012), Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2012, phương hướng nhiệm vụ năm 2013. 189. Ủy ban nhân dân xã Xuân Phương (2013), Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2013, phương hướng nhiệm vụ năm 2014. 190. Ủy ban thường vụ Quốc hội (2004), Pháp lệnh số 21/2004/PL- UBTVQH11 ngày 18 tháng 6 năm 2004 về tín ngưỡng, tôn giáo. 191. Nguyễn Ước (giới thiệu) (2005), Giáo lý mới, thời đại mới, đức tin Công giáo, Nxb Tôn giáo, Hà Nội. 192. Đặng Nghiêm Vạn (2005), Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 193. Đặng Nghiêm Vạn (2007), “Tôn giáo hay tín ngưỡng”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 1. 194. Đặng Nghiêm Vạn (Chủ biên) (1995), Về tôn giáo, tín ngưỡng Việt Nam hiện nay, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 195. Văn phòng Tổng thư ký Hội đồng Giám mục Việt Nam (2004), Giáo hội Công giáo Việt Nam, Niên giám 2004, Nxb Tôn giáo, Hà Nội. 196. Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Tạp chí nghiên cứu tôn giáo (2004), Về tôn giáo và tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 197. Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự (2005), Tôn giáo và tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam (Hỏi và đáp), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội. 160 198. Viện Khoa học và xã hội Việt Nam, Viện nghiên cứu tôn giáo (2008), Công giáo Việt Nam - Một số vấn đề nghiên cứu, Nxb Tôn giáo, Hà Nội. 199. Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện nghiên cứu tôn giáo, Đại học Trung Sơn Trung quốc (2011), Đời sống tôn giáo ở Việt Nam và Trung Quốc, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội. 200. Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Nghiên cứu Tôn giáo, PGS.TS. Nguyễn Hồng Dương (Chủ biên) (2011), Linh mục Phạm Bá Trực và đường hướng Công giáo đồng hành cùng dân tộc trong thời kỳ chống thực dân Pháp (1946-1954), Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội. 201. Viện Nghiên cứu tôn giáo (1993), Những vấn đề tôn giáo hiện nay, Nxb Tôn giáo, Hà Nội. 202. Viện ngôn ngữ học (1992), Từ điển tiếng Việt, Nxb Trung tâm Từ điển ngôn ngữ, Hà Nội. 203. Nguyễn Hữu Vui, Trương Hải Cường (2003), Tập bài giảng Tôn giáo học chương trình đại cương (Dành cho sinh viên các ngành Khoa học xã hội và nhân văn), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 204. Lê Trung Vũ, Nguyễn Hồng Dương, Lê Hồng Lý, Lưu Kiếm Thành (1999), Nghi lễ vòng đời người, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội. 205. Nguyễn Thanh Xuân (2005), Một số tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Tôn giáo. 206. Nguyễn Như Ý chủ biên (1999), Đại Từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN Kính thưa quý vị! Theo lịch sử phát triển Công giáo ở Việt Nam, giáo phận Bùi Chu – Nam Định là điểm đến đầu tiên của các giáo sĩ phương Tây nhằm truyền bá tôn giáo này. Đây là vùng đất thuộc khu vực đồng bằng Bắc Bộ với đời sống tín ngưỡng dân gian vô cùng phong phú, vì vậy, Công giáo khi du nhập nơi đây hẳn nhiên sẽ chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các tín ngưỡng truyền thống Việt Nam. Với mục đích tìm hiểu ảnh hưởng của tín ngưỡng truyền thống Việt Nam đến đời sống đạo của người Công giáo ở giáo phận Bùi Chu – Nam Định, chúng tôi xin mời quí vị tham gia trả lời phiếu thăm dò ý kiến này. Các thông tin thu được trong cuộc phỏng vấn sẽ được sử dụng với nguyên tắc khuyết danh và chỉ nhằm phục vụ công tác nghiên cứu. Xin trân trọng cảm ơn quí vị! A. THÔNG TIN ĐỊNH DANH A1. Tuổi của quí vị: 1. Dưới 18 tuổi: □ 2. 19 – 50 tuổi: □ 3. Từ 51 tuổi trở lên: □ A2. Giới tính 1. Nam □ 2. Nữ □ A3. Tình trạng hôn nhân 1. Đã kết hôn □ 2. Chưa kết hôn □ A4. Trình độ học vấn: 1. Tiểu học 2. Trung học cơ sở 3. Phổ thông trung học 162 4. Trung cấp/cao đẳng hoặc tương đương 5. Đại học 6. Khác (xin ghi rõ) A5. Nơi cư trú hiện nay của quí vị (xin ghi rõ giáo xứ, thuộc xã, huyện nào):.................................................................................................................... ............................................................................................................................. A6. Công việc hiện nay: 1. Học sinh, sinh viên 2. Nông dân 3. Cán bộ 4. Nghề tự do 5. Nghề khác A7. Xin quí vị cho biết thông tin về tỷ lệ phần trăm (%) người theo Công giáo ở địa phương của quí vị: (nếu không nắm chính xác, quí vị chỉ cần nêu con số tương đối) 1. Số lượng dân cư của làng/xóm nơi quí vị đang sống 2. Tỷ lệ người theo Công giáo 3. Tỷ lệ người không theo Công giáo B. Tôn kính tổ tiên Quí vị hãy đánh dấu tích vào cột bên cạnh các câu trả lời mà quí vị cho là đúng cho những câu hỏi sau (một số câu hỏi có thể đánh dấu nhiều hơn 01 lần) B1. Quí vị quan niệm thế nào về cái chết? 1. Chết là hết 2. Sau khi chết sẽ sang “thế giới bên kia”, giống với thế giới ta đang sống 3. Sau khi chết sẽ về với Thiên Chúa 4. Sau khi chết sẽ ở 1 trong 3 trạng thái: Thiên đàng, địa ngục, luyện ngục 5. Khác B2. Trong gia đình quí vị có đặt bàn thờ Tổ tiên không? 1. Có 2. Không Nếu câu trả lời là Không, xin chuyển sang câu B3, nếu câu trả lời là Có, xin chuyển tiếp sang câu B4 B3. Trong các dịp lễ, tết, gia đình quí vị có đặt bát hương không? 1. Có (xin ghi rõ đặt ở đâu) 2. Không B4. Quí vị thờ cúng tổ tiên chủ yếu nhằm mục đích gì? 1. Bày tỏ lòng thành kính, hiếu thảo với ông bà tổ tiên 2. Cầu mong tổ tiên “phù hộ độ trì” 3. Cầu cho tổ tiên được cứu rỗi linh hồn 4. Khác (xin ghi rõ) B5. Quí vị đặt hương hoa, oản quả lên bàn thờ Tổ tiên như thế nào? 1. Vào dịp giỗ người thân 2. Vào dịp lễ trọng 3. Vào dịp gia đình có việc quan trọng 4. Khác (xin ghi rõ) B6. Khi thắp hương ở bàn thờ Tổ tiên, quí vị thường cầu xin điều gì? 1. Tài lộc, sự giàu có 2. Bình yên 3. May mắn 4. Hạnh phúc 5. Khác (xin ghi rõ) B7. Gia đình quí vị có tổ chức tưởng niệm người thân đã mất trong những dịp sau đây không? 1. 3 ngày 2. 49 ngày 3. 100 ngày 4. Giỗ đầu 5. Giỗ những năm tiếp sau B8. Quí vị có hay dùng vàng mã để đốt cho người thân đã mất không? 1. Thường xuyên dùng 2. Thỉnh thoảng dùng 3. Chưa bao giờ dùng 165 B9. Theo quí vị, việc tổ chức ăn uống trong lễ tang, ngày giỗ người đã mất của gia đình quí vị được thực hiện như thế nào? 1. Làm cỗ to mời nhiều người 2. Làm cỗ mời người thân nhưng đơn giản 3. Ăn uống đơn giản như thường ngày B10. Mộ người thân đã mất của gia đình quí vị được xây thế nào? 1. Xây đơn giản 2. Xây to, đẹp, có xem hướng 3. Xây to đẹp nhưng không xem hướng C. LỄ KÍNH THÁNH ĐA MINH VÀ MỘT SỐ THÁNH THÔNG CÔNG C1. Quí vị tham dự Thánh lễ thường ở nhà thờ như thế nào? 1. Hàng ngày 2. Tuần vài lần 3. Tuần 1 lần 4. Thỉnh thoảng 5. Hiếm khi C2. Quí vị có tham dự đầy đủ các dịp lễ trọng không? 1. Đầy đủ 2. Thỉnh thoảng 3. Hiếm khi 4. Khác (xin ghi rõ) C3. Quí vị có tham dự đầy đủ các cuộc đi kiệu trong dịp Đại lễ kính thánh Đa Minh hàng năm không? 1. Thường xuyên 2. Thỉnh thoảng 3. Hiếm khi 4. Khác (xin ghi rõ) C4. Theo quí vị, các cuộc đi kiệu trong dịp Đại lễ kính thánh Đa Minh nên tổ chức như thế nào? 1. Nên giữ theo truyền thống 2. Nên giản tiện, ngắn gọn hơn 3. Không cần thiết phải tổ chức đi kiệu 4. Khác (xin ghi rõ) Lí do: ............................................................................................................... ............................................................................................................................. ............................................................................................................................. ............................................................................................................................. C5. Gia đình quí vị thờ phụng thánh quan thầy nào? ............................................................................................................................. C6. Quí vị thường cầu xin thánh quan thầy điều gì? 1. Tài lộc, sự giàu có 2. Bình yên 3. May mắn 4. Hạnh phúc 5. Khác (xin ghi rõ) Lí do: ............................................................................................................. ............................................................................................................................. ............................................................................................................................. D. LỄ KÍNH ĐỨC MẸ D1. Quí vị cầu nguyện trước ảnh (tượng) Đức Mẹ như thế nào? 1. Hiếm khi 2. Thỉnh thoảng 3. Thường xuyên D2. Quí vị thường cầu nguyện trước ảnh (tượng) Đức Mẹ vào những dịp nào? 1. Vào dịp lễ trọng 2. Vào dịp gia đình có việc quan trọng 3. Khác (xin ghi rõ) D3. Đứng trước ảnh (tượng) Đức Mẹ, quí vị cầu xin điều gì? 1. Tài lộc, sự giàu có 2. Bình yên 3. May mắn 4. Hạnh phúc 5. Khác (xin ghi rõ) E. MỘT SỐ NGHI LỄ KHÁC E1. Vào đêm giao thừa, quí vị thường có hoạt động gì để chào đón thời khắc quan trọng này? 1. Ở nhà đón khách 2. Đến nhà thờ 3. Ra đường hái lộc 4. Làm mâm cơm cúng giao thừa 5. Khác (xin ghi rõ) E2. Vào ngày mồng 1 tết, quí vị thường có hoạt động gì? 1. Ở nhà đón khách 2. Đi chúc tết họ hàng, bạn bè 3. Đi nhà thờ chúc tết cha xứ 4. Làm mâm cơm cúng 5. Ra mộ thắp hương 6. Khác (xin ghi rõ) E3. Vào ngày mồng 2 tết, quí vị thường có hoạt động gì? 1. Ở nhà đón khách 2. Đi chúc tết họ hàng, bạn bè 3. Ra mộ thắp hương 4. Khác (xin ghi rõ) E4. Vào ngày mồng 3 tết, quí vị thường có hoạt động gì? 1. Ở nhà đón khách 2. Đi chúc tết họ hàng, bạn bè 3. Khác (xin ghi rõ) E5. Theo quí vị, Tết nguyên đán có ý nghĩa gì? 1. Gặp gỡ họ hàng, bạn bè 2. Nghỉ ngơi 3. Theo phong tục truyền thống 4. Khác (xin ghi rõ) XIN TRÂN TRỌNG CẢM ƠN QUÍ VỊ! II. KẾT QUẢ ĐIỀU TRA 1. Đối tượng điều tra - Tổng số phiếu điều tra: 310 - Địa điểm khảo sát: chủ yếu ở giáo xứ Giáp Nam (xã Hải Hậu), giáo xứ Xuân Ngọc, giáo xứ Xuân Phương (Xuân Trường). II. Kết quả điều tra Các phiếu điều tra xã hội học là do tác giả trực tiếp về địa bàn điều tra, số phiếu phát ra 310, số phiếu thu về 310. BẢNG 1. THÔNG TIN CHUNG Số người trả lời Tỷ lệ % 1. Tuổi Dưới 18 tuổi 6 1,9% Từ 19 - 50 tuổi 257 82,9% Từ 51 tuổi trở lên 47 15,2% 2. Giới tính Nam 196 63,2% Nữ 114 36,8 3. Tình trạng hôn nhân Đã kết hôn 232 74,8% Chưa kết hôn 78 25,2% 4. Trình độ học vấn Tiểu học 9 3% Trung học cơ sở 25 8% Phổ thông trung học 168 54,2% Trung cấp/ cao đẳng hoặc tương đương 84 27,1 Đại học 21 6,7% Khác 3 1% 5. Công việc hiện nay3 Học sinh, sinh viên 84 27% Nông dân 97 31,3% Cán bộ 33 10,6% Nghề tự do 91 29,4% Nghề khác 5 1,6% BẢNG 2. QUAN NIỆM VỀ CÁI CHẾT Số người trả lời Tỷ lệ % 1. Chết là hết 25 8,1% 2. Sau khi chết sẽ sang “thế giới bên kia”, giống với thế giới ta đang sống 24 7,8% 3. Sau khi chết sẽ về với Thiên Chúa 175 56,5% 4. Sau khi chết sẽ ở 1 trong 3 trạng thái: Thiên đàng, địa ngục, luyện ngục 86 27,8% 5. Khác 0 0 BẢNG 3. VẤN ĐỀ THỜ CÚNG TỔ TIÊN Số người trả lời Tỷ lệ % Đặt bàn thờ tổ tiên 1. Có 2. Không Đặt bát hương 1. Có 2. Không Mục đích thờ cúng tổ tiên 1. Bày tỏ lòng thành kính, hiếu thảo với ông bà tổ tiên 206 66,5% 2. Cầu mong tổ tiên “phù hộ độ trì” 86 27,8% 3. Cầu mong tổ tiên được cứu rỗi linh hồn 15 4,8% 4. Khác 3 1% BẢNG 4. THẮP HƯƠNG CHO ÔNG BÀ TỔ TIÊN Số người trả lời Tỷ lệ % Đặt hương hoa lên bàn thờ tổ tiên 1. Vào dịp giỗ người thân 177 57,1% 2. Vào dịp lễ trọng 67 21,6% 3. Vào dịp gia đình có việc quan trọng 50 15,7% 4. Khác 16 5% Khi thắp hương thường cầu xin điều gì với ông bà tổ tiên 1. Tài lộc, sự giàu có 71 22,9% 2. Bình yên 158 51% 3. May mắn 24 7,7% 4. Hạnh phúc 26 8,3% 5. Khác 31 0,1% BẢNG 5. TƯỞNG NIỆM NGƯỜI THÂN ĐÃ MẤT Số người trả lời Tỷ lệ % Những dịp tưởng niệm người thân đã mất 1. 3 ngày 89 28,7% 2. 49 ngày 80 25,8% 3. 100 ngày 268 86,5% 4. Giỗ đầu 310 100% 5. Giỗ những năm tiếp sau 310 100% Đốt vàng mã cho người thân đã mất 1. Thường xuyên dùng 0 0% 2. Thỉnh thoảng dùng 18 5,8% 3. Chưa bao giờ dùng 292 94,2% Tổ chức ăn uống trong lễ tang, ngày giỗ người đã mất 1. Làm cỗ to mời nhiều người 51 16,5% 2. Làm cỗ mời người thân nhưng đơn giản 224 72,3% 3. Ăn uống đơn giản như thường ngày 35 11,2% Xây mộ người thân đã mất 1. Xây đơn giản 117 37,7% 2. Xây to, đẹp, có xem hướng 30 9,7% 3. Xây to đẹp nhưng không xem hướng 163 52,6% BẢNG 6. THAM DỰ LỄ KÍNH THÁNH ĐA MINH VÀ MỘT SỐ THÁNH QUAN THẦY Số người trả lời Tỷ lệ % Tham dự Thánh lễ thường ở nhà thờ 1.Hàng ngày 0 0% 2.Tuần vài lần 46 14,8% 3. Tuần 1 lần 180 58% 4. Thỉnh thoảng 67 21,6% 5. Hiếm khi 17 5,5% Tham dự các dịp lễ trọng 1.Đầy đủ 158 51% 2.Thỉnh thoảng 120 38,7% 3.Hiếm khi 32 10,3% 4.Khác 0 0% Tham dự các cuộc đi kiệu trong dịp Đại lễ kính thánh Đa Minh hàng năm 1.Thường xuyên 196 63,2% 2.Thỉnh thoảng 94 30,3% 3.Hiếm khi 20 6,5% 4.Khác 0 0 % Nên tổ chức các cuộc đi kiệu trong dịp Đại lễ kính thánh Đa Minh 1. Nên giữ theo truyền thống 185 59,7% 2.Nên giản tiện, ngắn gọn hơn 119 38,4% 3.Không cần thiết phải tổ chức đi kiệu 6 1,9% 4.Khác 0 0% BẢNG 7. CẦU XIN THÁNH QUAN THẦY Số người trả lời Tỷ lệ % 1. Tài lộc, sự giàu có 51 16,5% 2. Bình yên 187 60,3% 3. May mắn 28 9% 4. Hạnh phúc 19 6,1% 5. Khác 25 8% BẢNG 8. LỄ KÍNH ĐỨC MẸ Số người trả lời Tỷ lệ % Cầu nguyện trước ảnh (tượng) Đức Mẹ 1. Hiếm khi 17 5,5% 2. Thỉnh thoảng 32 10,3% 3. Thường xuyên 259 83,5% Các dịp thường cầu nguyện trước ảnh (tượng) Đức Mẹ 1. Vào dịp lễ trọng 111 35,9% 2. Vào dịp gia đình có việc quan trọng 102 32,9% 3. Khác 97 31,3% Cầu xin trước ảnh (tượng) Đức Mẹ 1. Tài lộc, sự giàu có 52 16,8% 2. Bình yên 150 48,4% 3. May mắn 22 7,1% 4. Hạnh phúc 46 14,8% 5. Khác 40 12,9% BẢNG 9. HOẠT ĐỘNG CHÀO ĐÓN THỜI KHẮC GIAO THỪA Số người trả lời Tỷ lệ % 1. Ở nhà đón khách 128 41,3 2. Đến nhà thờ 153 49,4% 3. Ra đường hái lộc 18 5,8% 4. Làm mâm cơm cúng giao thừa 6 2% 5. Khác 5 1,6% BẢNG 10. CÁC HOẠT ĐỘNG VÀO MỒNG 1 TẾT Số người trả lời Tỷ lệ % 1. Ở nhà đón khách 167 53,9% 2. Đi chúc tết họ hàng, bạn bè 87 28,06% 3. Đi nhà thờ chúc tết cha xứ 49 15,8% 4. Làm mâm cơm cúng 3 0,96% 5. Ra mộ thắp hương 0 0 6. Khác 4 1,3% BẢNG 11. CÁC HOẠT ĐỘNG VÀO MỒNG 2 TẾT Số người trả lời Tỷ lệ % 1. Ở nhà đón khách 67 21,6% 2. Đi chúc tết họ hàng, bạn bè 87 28% 3. Ra mộ thắp hương 156 50,3% 4. Khác 0 0 BẢNG 12. CÁC HOẠT ĐỘNG VÀO MỒNG 3 TẾT Số người trả lời Tỷ lệ % 1. Ở nhà đón khách 156 50,3% 2. Đi chúc tết họ hàng, bạn bè 120 38,7% 5. Khác 34 11% BẢNG 13. Ý NGHĨA TẾT NGUYÊN ĐÁN Số người trả lời Tỷ lệ % 1. Gặp gỡ họ hàng, bạn bè 86 27,7% 2. Nghỉ ngơi 67 21,6% 3. Theo phong tục truyền thống 145 46,8% 4. Khác (xin ghi rõ) 12 3,9%

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_an_anh_huong_cua_tin_nguong_truyen_thong_viet_nam_den_d.pdf
Tài liệu liên quan