Luận án Cạnh tranh Mỹ - Trung ở Châu á - Thái bình dương trong hai thập niên đầu thế kỷ XVI và tác động đối với khu vực

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NGOẠI GIAO HỌC VIỆN NGOẠI GIAO BÙI PHÚC LONG CẠNH TRANH MỸ - TRUNG Ở CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG TRONG HAI THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI KHU VỰC LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾ MÃ SỐ: 9310206 Hà Nội - 2021 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NGOẠI GIAO HỌC VIỆN NGOẠI GIAO BÙI PHÚC LONG CẠNH TRANH MỸ - TRUNG Ở CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG TRONG HAI THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI KHU VỰC Chuyên ngành: Quan

pdf182 trang | Chia sẻ: huong20 | Ngày: 13/01/2022 | Lượt xem: 81 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Luận án Cạnh tranh Mỹ - Trung ở Châu á - Thái bình dương trong hai thập niên đầu thế kỷ XVI và tác động đối với khu vực, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
n hệ Quốc tế Mã số: 9310206 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC 1. TS. Lê Hải Bình 2. GS. TS Nguyễn Thái Yên Hương Hà Nội - 2021 LỜI CAM ĐOAN Tơi cam đoan luận án “Cạnh tranh Mỹ - Trung ở Châu Á – Thái Bình Dương trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI và tác động đối với khu vực” là cơng trình nghiên cứu của tơi. Các nội dung nghiên cứu và kết quả đạt được trình bày trong luận án là trung thực chưa từng được cơng bố. Hà Nội, ngày tháng năm 2021 Tác giả luận án Bùi Phúc Long LỜI CẢM ƠN Trước tiên, tơi xin được bày tỏ lịng biết ơn sâu sắc tới Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thái Yên Hương, Tiến sĩ Lê Hải Bình, đã luơn động viên, tận tình hướng dẫn tơi phát triển các ý tưởng, triển khai hướng nghiên cứu, xây dựng và hồn thiện Luận án. GS. TS. Nguyễn Thái Yên Hương, người thầy đã hướng dẫn tơi từ luận văn Thạc sĩ và đến những dịng bản thảo cuối cùng của Luận án Tiến sĩ, đúng là nếu khơng cĩ GS. TS. Yên Hương cĩ lẽ Luận án của tơi đã khơng thể hồn thành, các lời trách mắng gay gắt khi tơi thực hiện Luận án, nhưng từ sâu thẳm tơi biết đĩ là tình thương yêu, “địi hỏi càng cao là tơn trọng nhân cách”. Những email từ 02h00, nhiều tin nhắn viber lúc 04h00 đều liên quan đến nội dung Luận án. Cảm phục sức làm việc phi thường và biết ơn vơ vàn vì tình yêu của Giáo sư với khoa học nĩi chung và nghiên cứu sinh nĩi riêng. TS. Lê Hải Bình, người thầy luơn sẵn sàng đáp ứng gần như ngay tức khắc khi tơi cần gặp để trao đổi, xin ý kiến đĩng gĩp hồn thiện Luận án vì chậm deadline. Dù ở cương vị và trọng trách cao, với khoa học, thầy luơn dành thời gian để chia sẻ động viên, tháo gỡ những điểm yếu cho nghiên cứu sinh. Cảm ơn thầy vì đã bỏ qua rất nhiều thiếu xĩt và luơn động viên em cố gắng làm hết sức. Tơi cũng xin cảm ơn Học viện Ngoại giao, Khoa Đào tạo sau Đại học, Thạc sĩ Hà Huyền Trang-người giờ đây đã trở thành đồng nghiệp của tơi ở Trụ sở Bộ Ngoại giao - Số 1 Tơn Thất Đàm đã luơn nhiệt tình hỗ trợ tơi trong suốt quá trình học tập, hồn thành các mơn học, xây dựng Chuyên đề và Luận án. Tơi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp ở Bộ Ngoại giao đã luơn hợp tác, tạo điều kiện để tơi cĩ thể hồn thành Luận án Tiến sĩ. Tơi rất biết ơn những cuộc thảo luận với đồng nghiệp ở Bộ Ngoại giao về chính sách đối ngoại của Mỹ và Trung Quốc, quan hệ giữa Việt Nam và các nước trên thế giới. Lịng biết ơn sâu sắc tơi xin gửi tới bố tơi và những người thân trong gia đình, ở bất kỳ hồn cảnh nào cũng luơn động viên tơi cố gắng tiếp tục bước tới, là điểm tựa khi tưởng trừng Luận án Tiến sĩ sẽ bị dang dở. Tác giả Luận án Bùi Phúc Long MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN LỜI CẢM ƠN MỤC LỤC DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CẠNH TRANH MỸ - TRUNG TẠI CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG ĐẦU THẾ KỶ XXI .......... 19 1.1. Quan điểm của một số trường phái lý thuyết quan hệ quốc tế ........... 19 1.1.1. Luận giải của chủ nghĩa hiện thực ....................................................... 19 1.1.2. Cạnh tranh Mỹ - Trung qua lăng kính của một số quan điểm khác .... 23 1.2. Cơ sở thực tiễn ở Châu Á – Thái Bình Dương hai thập niên đầu thế kỷ XXI .................................................................................................................... 30 1.2.1. Tình hình khu vực ................................................................................ 30 1.2.2. Vai trị địa – chiến lược của Châu Á - TBD trong Thế kỷ XXI .......... 35 1.2.3. Sự khác biệt về ý thức hệ ..................................................................... 37 1.2.4. Sự thay đổi tương quan lực lượng Mỹ - Trung ................................... 39 1.3. Quan hệ Mỹ - Trung trong những thập niên đầu thế kỷ XXI ............. 47 1.3.1. Cạnh tranh và hợp tác đan xen ............................................................ 47 1.3.2. Sự khác biệt về lợi ích giữa Mỹ và Trung Quốc ................................. 49 1.3.3. Mỹ - Trung trong vấn đề “kiềm chế” và “chống kiềm chế” ................ 52 1.3.4. Mỹ - Trung thay đổi vai trị chủ động trong quan hệ .......................... 55 Tiểu kết chương 1 ............................................................................................... 56 CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG CẠNH TRANH MỸ - TRUNG Ở CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI KHU VỰC TRONG HAI THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI ............................................................ 57 2.1. Các hình thức cạnh tranh của Mỹ - Trung ........................................... 57 2.1.1. Cạnh tranh về quyền lực ...................................................................... 58 2.1.2. Cạnh tranh vị thế địa - chính trị ........................................................... 62 2.1.3. Cạnh tranh kinh tế - thương mại .......................................................... 69 2.1.4. Cạnh tranh trong khoa học cơng nghệ ................................................. 79 2.2. Tác động đến an ninh ở khu vực ............................................................ 84 2.2.1. Tác động tập hợp lực lượng của Mỹ .................................................... 84 2.2.2. Tác động tập hợp lực lượng của Trung Quốc ...................................... 90 2.2.3. Tác động đến an ninh phi truyền thống ............................................... 95 2.2.4. Tác động đối với các vấn đề an ninh truyền thống .............................. 97 2.2.5. Tác động đối với các cơ chế đa phương và cấu trúc an ninh khu vực .... 104 Tiểu kết chương 2 ............................................................................................. 113 CHƯƠNG 3: DỰ BÁO CHIỀU HƯỚNG CẠNH TRANH MỸ - TRUNG Ở CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG ĐẾN NĂM 2030 VÀ KHUYẾN NGHỊ ĐỐI VỚI VIỆT NAM ...................................................................................... 115 3.1. Các nhân tố tác động tới cạnh tranh Mỹ - Trung ............................... 115 3.1.1. Lợi ích quốc gia, dân tộc ................................................................... 116 3.1.2. Nội bộ Mỹ - Trung ............................................................................. 117 3.1.3. Sự thay đổi tình hình thế giới và khu vực. ........................................ 119 3.2. Các kịch bản của cạnh tranh Mỹ - Trung ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương đến năm 2030 ........................................................................... 120 3.2.1. Cục diện châu Á – Thái Bình Dương đến năm 2030 ........................ 121 3.2.2. Một số kịch bản cạnh tranh Mỹ - Trung ở châu Á – Thái Bình Dương và tác động đến Việt Nam ........................................................................... 126 3.3. Khuyến nghị chính sách của Việt Nam ................................................ 136 3.3.1. Cơ hội ................................................................................................ 137 3.3.2. Thách thức ......................................................................................... 138 3.3.3. Sự lựa chọn chính sách “chọn bên” hay “cân bằng” ......................... 139 3.3.4. Tăng cường mở rộng quan hệ quốc tế, ngoại giao đa phương. ......... 142 Tiểu kết chương 3 ............................................................................................. 145 KẾT LUẬN ....................................................................................................... 147 DANH MỤC CƠNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ............................................... 151 TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 152 PHỤ LỤC .......................................................................................................... 168 DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt ASEAN – Australia – New Khu vực mậu dịch tự do AANZFTA Zealand Free Trade Area ASEAN – Úc + New Zealand ASEAN – China Free Trade Khu vực mậu dịch tự do ACFTA Area ASEAN – Trung Quốc ACP ASEAN Cooperation Plan Kế hoạch hợp tác ASEAN ASEAN Economic AEC Cộng đồng Kinh tế ASEAN Community ASEAN Economic Hội nghị Bộ trưởng kinh tế AEM Ministers ASEAN Khu vực mậu dịch tự do AFTA ASEAN Free Trade Area ASEAN AIA ASEAN Investment Area Khu vực đầu tư ASEAN ASEAN Inter-Parliamentary AIPA Liên minh nghị viện ASEAN Assembly AMM ASEAN Ministerial Meeting Hội nghị Bộ trưởng ASEAN Hội nghị Bộ trưởng ASEAN ASEAN Ministerial Meeting AMMTC về chống tội phạm xuyên quốc on Transnational Crime gia Asia-Pacific Economic Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu APEC Cooperation Á – Thái Bình Dương ASEAN Political-Security Cộng đồng An ninh – Chính APSC Community trị ASEAN ASEAN Plus Three APTCF Quỹ hợp tác ASEAN + 3 Cooperation Fund ARF ASEAN Regional Forum Diễn đàn khu vực ASEAN ASEAN Standing ASC Ủy ban Thường trực ASEAN Committee The Association of Hiệp hội các quốc gia Đơng ASEAN Southeast Asian Nations Nam Á ASEM The Asia–Europe Meeting Hội nghị Á – Âu Các cường quốc mới nổi gồm BRICS Brazil, Ấn Độ, Trung Quốc, Nga, Nam Phi Comprehensive Economic Khuơn khổ đối tác kinh tế CEP Partnership tồn diện Comprehensive Economic Đối tác kinh tế tồn diện CEPEA Partnership in East Asia Đơng Á Nhĩm các nước Campuchia, CLMV Lào, Myanmar và Việt Nam Bộ quy tắc ứng xử ở biển COC Code of Conduct Đơng Committee of Permanent Ủy ban các Đại diện thường CPR Representatives trực của các nước tại ASEAN Declaration on the Conduct Tuyên bố của các bên liên DOC of Parties in the South China quan về cách ứng xử ở biển Sea Đơng EAC Cộng đồng Đơng Á East Asia Community Khu vực mậu dịch tự do EAFTA East Asia Free Trade Area Đơng Á EAS East Asia Summit Hội nghị cấp cao Đơng Á EU European Union Liên minh Châu Âu FTA Free Trade Agreement Hiệp định Thương mại tự do GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội Initiative for IAI Sáng kiến liên kết ASEAN ASEANIntegration International Monetary IMF Quỹ Tiền tệ Quốc tế Fund Chiến lược Ấn Độ Dương – IPS Indo Pacific Strategy Thái Bình Dương LHQ Liên hợp quốc Newly Industrialized Các nền kinh tế cơng nghiệp NIEs Economies mới ODA Official Development Aid Viện trợ phát triển chính thức Hội nghị sau Hội nghị bộ PMC Post Ministerial Meeting trưởng Ngoại giao ASEAN Shanghai Cooperation SCO Tổ chức hợp tác Thượng Hải Organization TBCN Tư bản chủ nghĩa Trade and Investment Framework Arrangement Chương trình Hỗ trợ và Đào TIFA between the United States of tạo kỹ thuật ASEAN – Mỹ America and ASEAN Trans-Pacific Strategic Hiệp định Đối tác Kinh tế TPP Economic Partnership chiến lược xuyên Thái Bình Agreement Dương WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới XHCN Xã hội chủ nghĩa Tuyên bố Đơng Nam Á là Zone of Peace, Freedom ZOPFAN khu vực Hịa bình, Tự do và and Neutrality Trung lập DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ Bảng 1: GDP và ngân sách quốc phịng của Mỹ, Trung Quốc năm 2018 ...... 40 Hình 1: Tỉ lệ đầu tư trực tiếp của Mỹ và Trung Quốc vào ASEAN ............... 91 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hai thập niên đầu thế kỷ XXI trơi qua với rất nhiều thay đổi quan trọng trong quan hệ quốc tế, nhất là biến thiên trong cạnh tranh của các cường quốc những chủ thể chủ chốt của trật tự thế giới mới. Mỹ đã trở thành siêu cường duy nhất trên thế giới, cĩ tham vọng lãnh đạo tồn cầu và duy trì trật tự đơn cực. Bên cạnh đĩ, Trung Quốc đã và đang trở thành chủ thể ngày càng quan trọng hơn trong hệ thống chính trị quốc tế đương đại với nhiều ý đồ lớn và thách thức vai trị lãnh đạo đạo của Mỹ. Cạnh tranh giữa hai nước này hiện nay đã bước sang một giai đoạn mới và cĩ tác động to lớn tới tình hình chính trị quốc tế của thế kỷ XXI. Tình hình khu vực và thế giới cĩ những biến chuyển nhanh, châu Á – Thái Bình Dương (CA – TBD) là phát triển năng động, là địa bàn cạnh tranh của các nước lớn trong đĩ cĩ Mỹ và Trung Quốc. Cặp quan hệ nước lớn Trung – Mỹ tiếp tục ở trong tình trạng “vừa hợp tác, vừa cạnh tranh”, trong đĩ cạnh tranh ngày càng gay gắt, thể hiện rõ nhất là tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, tác động sâu rộng tới các nước trong khu vực. Địa bàn Trung Quốc đang muốn xác lập vai trị ảnh hưởng của mình, cịn Mỹ quyết tâm duy trì vị thế lãnh đạo tại khu vực. Nghiên cứu quan hệ Mỹ - Trung là một điều rất cần thiết trong nghiên cứu tổng thể quan hệ quốc, vì đây là một trong cặp quan hệ quan trọng nhất trong quan hệ chính trị quốc tế hiện tại. Quan hệ Mỹ - Trung gĩp phần định hình cục diện quan hệ quốc tế, giải quyết các vấn đề quốc tế lẫn khu vực, các điểm nĩng của thế giới... Quan hệ Mỹ - Trung khơng chỉ tác động đối với quan hệ quốc tế mà cịn tác động cụ thể và trực tiếp xử lý quan hệ của Việt Nam đối với vấn đề an ninh và phát triển kinh tế. Trung Quốc nước láng giềng lâu đời, cĩ tác động trực tiếp đến sự phát triển của Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc và cả những tranh chấp lãnh thổ trên biển. Mỹ là đối tác quan trọng của Việt Nam, là thị trường xuất khẩu của hàng hĩa Việt Nam, quan hệ Việt Nam – Mỹ ngày càng mở rộng và phát triển trên tất cả các lĩnh vực. 2 Quan hệ Mỹ - Trung cĩ ảnh hưởng to lớn đến quan hệ quốc tế trên bình diện tồn thế giới, khu vực châu Á – Thái Bình Dương là địa bàn diễn ra sự cạnh tranh quyết liệt giữa Mỹ và Trung Quốc; nơi diễn ra cuộc đấu tranh giữa “bao vây, ngăn chặn” và “chống bao vây, ngăn chặn”. Do đĩ, Mỹ và Trung Quốc triển khai nhiều đối sách cạnh tranh nhằm giành giật vai trị, ảnh hưởng của mình tại châu Á – Thái Bình Dương. Nước Mỹ cĩ đủ khả năng chi phối tới tiến trình phát triển kinh tế cũng như khả năng mở rộng ảnh hưởng trên trường quốc và đặc biệt tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Ngược lại, Trung Quốc, một cường quốc đang “trỗi dậy hịa bình” mạnh mẽ, cĩ đủ tiềm lực và cơ hội để thách thức vị thế của Mỹ. Quan hệ Mỹ - Trung đã bước sang giai đoạn mới, cĩ xu hướng trở thành quan hệ định hình chính trị thế giới của những thập niên đầu thế kỷ XXI, điều đĩ cĩ thể thấy rõ trong giai đoạn 2 thập niên đầu của thế kỷ. Cạnh tranh Mỹ - Trung ngày càng thể hiện trên nhiều lĩnh vực cả chiều rộng lẫn chiều sâu, mâu thuẫn giữa hai quốc gia này cũng ngày càng lộ rõ, cĩ lúc gay gắt và nguy cơ đối đầu trực diện. Mối quan hệ phức tạp này tác động sâu sắc tới sự ổn định và phát triển của khu vực châu Á – Thái Bình Dương, khu vực mà Trung Quốc đang muốn xác lập vai trị ảnh hưởng của mình cịn đối với Mỹ quyết tâm duy trì vị thế lãnh đạo sẵn cĩ ở đây. Chính vì lẽ đĩ, cạnh tranh Mỹ - Trung Quốc được các nhà nghiên cứu quan tâm dưới nhiều gĩc độ, khía cạnh khác nhau. Việc nghiên cứu, đánh giá cạnh tranh Mỹ - Trung trong hai thập nhiên đầu thế kỷ XXI cĩ ý nghĩa thực tiễn trong quá trình tồn cầu hĩa đang diễn ra sơi động, quan hệ quốc tế giữa các quốc gia ngày càng đan xen, phức tạp và biến đổi khơng ngừng. Thấu hiểu cạnh tranh Mỹ - Trung trong trung hạn và dài hạn giúp hiểu chính xác những điểm bất biến và một số quy luật nhất định của mối quan hệ này, giúp tìm hiểu các vấn đề cụ thể hai bên quan tâm nhằm đưa ra những dự báo chính xác hơn mối quan hệ này trong tương lai. Bên cạnh đĩ, dưới dự biến động trong quan hệ quốc tế, Mỹ - Trung đều đang điều chỉnh chính sách theo hướng 3 linh hoạt và thực dụng, tác động trở lại mơi trường quốc tế và khu vực trong đĩ cĩ Việt Nam. Làm sáng tỏ mối quan hệ này sẽ gĩp phần cho việc hoạch định và triển khai chính sách ngoại giao đối với Việt Nam đang ngày càng cấp thiết. Chính vì lẽ đĩ, tác giả lựa chọn đề tài: “Cạnh tranh Mỹ - Trung ở châu Á – Thái Bình Dương trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI và tác động đối với khu vực” để nghiên cứu với mục đích làm rõ những diễn biến cạnh tranh nước lớn nĩi chung, Mỹ - Trung nĩi riêng và tác động đến mọi mặt đến khu vực vực trong đĩ cĩ Việt Nam. Muốn cĩ một cách tiếp cận mới về cạnh tranh Mỹ - Trung. 2. Tình hình nghiên cứu vấn đề 2.1. Về phương pháp luận và lý luận quan hệ quốc tế, cĩ cuốn Quan hệ quốc tế: các phương pháp tiếp cận hiện đại của tác giả Đồn Văn Thắng (2003), NXB Thống kê. Cuốn sách nêu được nhiều vấn đề, những nội dung tổng quát về phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế, nguồn gốc và bản chất quan hệ quốc tế, cơ sở lý luận, đối tượng và nội dung nghiên cứu của quan hệ quốc tế. Đây là cuốn sách cĩ thể coi là nền tảng trong nghiên cứu quan hệ quốc tế nĩi chung cũng như nghiên cứu về Mỹ - Trung và đánh giá vai trị của Mỹ - Trung với các vấn đề an ninh đặt trong bối cảnh nghiên cứu về quan hệ quốc tế. Về lĩnh vực này, cuốn Lý luận Quan hệ quốc tế, của Viotti, Paul R. và Kauppi Mark (2003) cũng giúp chúng ta hiểu thêm về sự phát triển của lý luận quan hệ quốc tế, giúp cho việc phân tích mối liên hệ giữa Mỹ và Trung Quốc đối với các vấn đề an ninh với quan hệ quốc tế. Trong thế kỷ XXI, phân tích quan hệ Mỹ - Trung và sự tương tác của mối quan hệ này với cục diện châu Á – Thái Bình Dương, chủ nghĩa hiện thực đĩng vai trị quan trọng và chiếm ưu thế, với sự nhấn mạnh vai trị của Mỹ và sự nổi lên của Trung Quốc. “Quan hệ Mỹ - Trung: Hợp tác và cạnh tranh luận giải dưới gĩc độ cân bằng quyền lực” Nguyễn Thái Yên Hương chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia phát hành năm 2012. Các tác giả đã đánh giá sâu sắc cả hai khía cạnh hợp tác và cạnh tranh trong quan hệ Mỹ - Trung trong hơn 30 năm kể từ khi Trung 4 Quốc tiến hành cải cách mở cửa. Nội dung cuốn sách cũng đã phân tích tác động của quan hệ Mỹ - Trung đối với an ninh châu Á – Thái Bình Dương. Đúng như tựa đề của cuốn sách chỉ rõ, các tác giả chủ yếu dựa trên quan điểm của thuyết hiện thực về cân bằng lực lượng để phân tích vấn đề. Về quan hệ Mỹ - Trung sau Chiến tranh Lạnh, tiêu biểu là cuốn sách “China - US Relations transformed: perspectives and strategic interactions” do Suisheng Zhao làm chủ biên. Trong số rất nhiều tài liệu đánh giá quan hệ Mỹ - Trung, cĩ thể nĩi đây là một tác phẩm tương đối tồn diện về quan hệ Mỹ - Trung do đã kết hợp gĩc nhìn từ cả hai phía Trung Quốc và Mỹ, trên nhiều lĩnh vực và tầm mức khác nhau, từ tồn cầu cho tới khu vực. Về tình hình châu Á - Thái Bình Dương, tiêu biểu là cuốn sách “The New Global Politics of the Asia - Pacific” của Michael K.Connors, Rémy Davison và Jưrn Dosch. Cuốn sách phân tích các vấn đề an ninh khu vực, đặc biệt là phân tích các điểm nĩng tiềm tàng ở châu Á – Thái Bình Dương. Cuốn “The International Politics of the Asia - Pacific” của tác giả Michael Yahuda cũng là một tác phẩm tiêu biểu bàn về tình hình khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Michael Yahuda đã kiểm nghiệm sự tương tác giữa các yếu tố định hình sự tiến hĩa của chính trị và an ninh trong khu vực. Ở trong nước, tiêu biểu nhất là cuốn “Cục diện Châu Á – Thái Bình Dương” Dương Phú Hiệp và Vũ Văn Hà chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia phát hành năm 2006. Cuốn sách đã phác thảo bức tranh tổng thể về cục diện khu vực trên đầy đủ các lĩnh vực cơ bản như kinh tế, chính trị, văn hĩa, xã hội. Các tác giả nhận định, sau Chiến tranh Lạnh, châu Á – Thái Bình Dương tuy cĩ cục diện nhất siêu đa cường, song khác với các khu vực khác ở chỗ, vai trị và ảnh hưởng của Trung Quốc tại đây đặc biệt mạnh. Về sự tương tác giữa Mỹ và Trung Quốc và ảnh hưởng đối với khu vực, đáng chú ý là các cuốn “A Contest for Supremacy” của Aaron L. Friedberg và “International Relations Theory and the Asia-Pacific” của G. John Ikenberry and Michael Mastanduno. Chính sách của Mỹ đối với khu vực châu Á – Thái Bình 5 Dương sau sự kiện 11/9 và tác động tới Việt Nam, Học viện Ngoại giao 2008. Các tác giả đã phân tích khá sâu sắc về sự tương tác giữa siêu cường đang suy giảm là Mỹ và cường quốc đang lên là Trung Quốc ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, qua đĩ đưa ra một số nhận định về các kịch bản về trật tự khu vực trong tương lai. Các học giả theo trường phái hiện thực thể hiện quan điểm về ngoại giao trong một số cuốn sách tiêu biểu như “Politics among nations, the truggle for power and peace” của Hans Morgenthau (Nxb Alfred A Knopf năm 1948), “American Diplomacy” George Kennan (University of Chicago Press, tái bản năm 2012), “Diplomacy” của Henry Kissinger (Nxb Simon & Schuster, năm 1994), bài viết “Structural Realism after the Cold War”của Kenneth Watlz trên tạp chí International Security (2000). Các cơng trình này xem ngoại giao đa phương như một cơng cụ trong chính sách đối ngoại; cách thức, mức độ sử dụng cơng cụ này tùy thuộc vào các ưu tiên, sức mạnh và lợi ích quốc gia. Các cơ chế đa phương phản ánh việc phân chia quyền lực giữa các quốc gia, đồng thời bảo đảm cân bằng quyền lực giữa các cường quốc. Với sức mạnh vượt trội, Mỹ dẫn dắt phần lớn các thể chế quan hệ quốc tế sau Chiến tranh thế giới thứ II, nhưng cũng sẵn sàng hành động đơn phương khi cần. Các cường quốc vẫn quyết định luật lệ, hoạt động của các thể chế đa phương kể cả trong thế giới tồn cầu hĩa, phụ thuộc lẫn nhau ngày nay. Bên cạnh đĩ, cuốn “The Pivot: The Future of American Statecraft in Asia” (Nxb Twelve năm 2016) của cựu Trợ lý Ngoại trưởng Kurt Campbell, cơng trình sư của chiến lược “xoay trục”, cung cấp những đánh giá cụ thể về chính sách của Mỹ với khu vực dưới thời chính quyền Tổng thống Obama và những yêu cầu của “xoay trục” trong tương lai. Tác giả phân tích nguyên nhân và lý giải các tầng nấc của chiến lược xoay trục, trong đĩ gia tăng can dự với các cơ chế khu vực được xem là một trong những trụ cột chính. Nhiều cơng trình đi sâu nghiên cứu về quan hệ Mỹ – Trung Quốc, đánh giá đây sẽ là quan hệ chi phối khu vực châu 6 Á – Thái Bình Dương. Tiêu biểu cĩ cuốn sách “Easternisation: Asia's Rise and America's Decline From Obama to Trump and Beyond” của Gideon Rachman (Nxb Other Press năm 2017), cuốn “The Hundred-Year Marathon: China's Secret Strategy to Replace America as the Global Superpower” của Micheal Phillsbury (Nxb Henry Holt năm 2016), cuốn sách “Destined for War – Can America and China escape from Thucydides’s Trap” của Graham Allison (Nxb Houghton Mifflin Harcourt năm 2017). Các cuốn sách này phân tích về sự suy yếu tương đối của Mỹ trong khi Trung Quốc đang vươn lên mạnh mẽ và cĩ khả năng thách thức ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Các học giả cảnh báo về sự gia tăng cạnh tranh chiến lược giữa hai cường quốc và các nguy cơ xung đột cĩ thể xuất hiện ở khu vực, nhất là khi nhìn lại bài học lịch sử, phần lớn sự nổi lên của một cường quốc với tham vọng phá vỡ trật tự hiện hành sẽ dẫn đến các cuộc chiến tranh. Chính sách đối ngoại của Mỹ với khu vực châu Á – Thái Bình Dương từ sau Chiến tranh Lạnh đến nay đều nhằm vào mục tiêu duy trì vị trí và ảnh hưởng số một tồn cầu và khu vực của Mỹ, ứng phĩ với sự trỗi dậy của Trung Quốc. Các học giả theo Thuyết tự do dường như lại quá lạc quan về triển vọng an ninh ở châu Á – Thái Bình Dương, tin cậy vào sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế - thương mại cũng như các thể chế khu vực. Tiêu biểu cho trường phái tự do cĩ bài viết “The Contingent Legitimacy of Multilateralism” của Robert Keohane trong cuốn sách “Multilateralism under challenge? Power, international order, and structural change” (UN University Press năm 2006). Nghiên cứu này cho rằng các cơ chế đa phương giúp giảm chi phí giao dịch, bảo đảm thơng suốt về thơng tin giữa các quốc gia, giúp tạo dựng hệ thống luật lệ, quy chuẩn chung. Thuyết Kiến tạo lý giải khá hợp lý về nguyên nhân của sự gia tăng hợp tác kinh tế và tác động của tình trạng đa dạng bản sắc cũng như hằn thù dân tộc chủ nghĩa ở khu vực, song khơng giải thích được sức sống của các thể chế khu vực cũng như tác động của sự biến thiên sức mạnh của các cường quốc ở châu Á – 7 Thái Bình Dương. Tiêu biểu như cuốn sách “Multilateralism Matters – The theory and Praxis of an institutional form” (Colombia University Press năm 1999) của James Gerard Ruggie, nêu đậm yếu tố bản sắc, vai trị của cá nhân, nhận thức của giới lãnh đạo Mỹ, mong muốn truyền bá hệ thống giá trị, chuẩn mực của Mỹ ra phạm vi tồn cầu thơng qua các cơ chế đa phương. Quan điểm của một số nhà tư tưởng Mác-xít mới đánh giá tương đối sâu sắc về cục diện kinh tế - chính trị khu vực, mâu thuẫn giữa các nước đang phát triển phương Nam và phát triển phương Bắc. Tuy nhiên, các nhà tư tưởng Mác- xít mới chưa giải thích được hai mặt hợp tác và cạnh tranh phức tạp trong quan hệ Mỹ - Trung. Chính vì các hạn chế nĩi trên, các trường phái lý luận hiện nay chưa lý giải tường tận các nhân tố cơ bản tác động đến an ninh châu Á – Thái Bình Dương, từ đĩ đánh giá tác động của quan hệ Mỹ Trung đến an ninh khu vực sau. Sẽ là đầy đủ hơn nếu kết hợp hợp lý các quan điểm hiện thực (về mâu thuẫn giữa bá quyền và cường quốc đang lên), tự do (về sự phụ thuộc lẫn nhau và vai trị các thể chế khu vực), Mác-xít (về sự phụ thuộc lẫn nhau), kiến tạo (về các giá trị chung và vai trị của bản sắc, văn hĩa) với gĩc nhìn từ một nước vừa và nhỏ như Việt Nam. 2.2. Về các nhân tố cơ bản tác động đến quan hệ Mỹ - Trung ở châu Á – Thái Bình Dương. Châu Á - Thái Bình Dương là khu vực tranh giành ảnh hưởng giữa Mỹ và Trung Quốc; tác động của quan hệ Mỹ - Trung tới châu Á - Thái Bình Dương: các vấn đề an ninh, chính trị, kinh tế và cấu trúc an ninh khu vực. Tình hình thế giới và các xu thế nổi bật của khu vực: Trong thế kỷ XXI, châu Á – Thái Bình Dương vẫn đang là khu vực phát triển kinh tế năng động nhất thế giới, mức độ liên kết kinh tế cũng ngày càng trở nên chặt chẽ. Các cơ chế hợp tác khu vực ở Châu Á - Thái Bình Dương đã cĩ những bước phát triển nhanh và mạnh. Tuy nhiên, ở khu vực vẫn một số điểm nĩng với nhiều nguy cơ tiềm ẩn như bán đảo Triều Tiên, Đài Loan, Biển Đơng Các hiểm họa xung đột sắc tộc và tơn giáo, nguy cơ khủng bố vẫn tồn tại và cĩ 8 lúc bùng phát gay gắt ở nhiều nước trong khu vực. Việc Trung Quốc và Mỹ đi đầu trong các xu thế khu vực và sự can dự sâu sắc của hai nước này ở các điểm nĩng là rất nổi bật và đáng chú ý. Chủ nghĩa khu vực ngày càng nổi trội, chủ nghĩa khu vực phát triển mạnh mẽ ở châu Á – Thái Bình Dương đặc biệt từ sau Chiến tranh Lạnh. Đáng chú ý nhất là Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) và Hiệp hội các quốc gia Đơng Nam Á (ASEAN) và các thể chế lấy ASEAN làm trung tâm. Các chuyên gia đầu ngành về ĐNA cũng đã đưa ra một số giải pháp nhằm ứng phĩ với tác động của cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung hiện nay như Takashi Shiraishi với bài “China’s Rise and the Meaningful lesson to East Asia” (Sự trỗi dậy của Trung Quốc và bài học ý nghĩa đối với Đơng Á) và “The Effect of US - China’s Competition on Southeast Asian Countries” (Ảnh hưởng của cuộc ganh đua Mỹ - Trung đối với các nước Đơng Nam Á) đã phân tích đối sách của từng nước ASEAN và hầu hết các nước ASEAN đều lựa chọn phương án cùng quan hệ với Mỹ và Trung Quốc để phát triển đất nước để tránh bị lệ thuộc vào bất kỳ cường quốc nào. Sự năng động của các cơ chế đa phương này tạo ra mơi trường hợp tác, đối thoại để giải quyết các vấn đề an ninh khu vực. Tuy nhiên, hiệu quả giải quyết cũng như khả năng bình ổn các điểm nĩng của các cơ chế này là khơng cao. Các cơ chế này cũng chịu sự cạnh tranh ảnh hưởng to lớn của Mỹ và Trung Quốc. Sự thay đổi tương quan lực lượng ở khu vực trong những thập nhiên đầu Thế kỷ XXI, nhìn chung tương quan lực lượng thay đổi theo hướng bất lợi cho Mỹ và cĩ lợi cho Trung Quốc nĩi riêng, các cường quốc châu Á nĩi chung. Hợp tác và cạnh tranh đan xen phức tạp, cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung đan xen nhau, tùy từng thời điểm, thậm chí trong từng vấn đề mà mặt hợp tác hay cạnh tranh nổi trội hơn. Xu hướng của hơn hai thập kỷ sau Chiến tranh Lạnh là mặt cạnh tranh ngày càng tăng lên. Mỹ và Trung Quốc thiếu lịng tin với nhau. “The new global politics of the Asia- Pacific”, Michael K.Connors, Resmy Davison và Jorn Dosch. The US an the Asia-Pacific Region: Security Strategy for the Obama Administration, February 9 2009. Sự khác biệt về lợi ích chiến lược của hai bên là khơng thể dung hịa, do vậy, về lâu dài Mỹ và Trung Quốc rất khĩ cĩ thể gỡ bỏ sự hồi nghi lẫn nhau về chiến lược. Quan hệ Mỹ - Trung xoay quanh vấn đề “kiềm chế” và “chống kiềm chế”. Sau Chiến tranh Lạnh, thay thế vị trí của Nga, Trung Quốc là đối thủ cạnh tranh tiềm năng nhất và gia tăng kiềm chế Trung Quốc trên mọi phương diện bằng nhiều biện pháp khác nhau. Trong khi đĩ, Trung Quốc tìm cách phá thế kiềm chế của Mỹ bằng việc mở rộng ngoại giao đa phương và song phương với nhiều cơng cụ khác nhau. Sự biến đổi của vai trị chủ động trong quan hệ Mỹ - Trung Trong những năm 1990, Mỹ nắm phần chủ động và Trung Quốc thường phải đối phĩ với các chính sách của Mỹ. Từ đầu thế kỷ XXI, nhất là sau sự kiện 11/9/2001; Regional Security in the Asia Pacific: 9/11 and after của nhĩm tác giả Marika Vicziany, David P. Wright-Neville và Peter Lentinni do Nhà xuất bản Edward Elgar phát hành năm 2004, Trung Quốc đã từng bước chủ động hơn trong quan hệ với Mỹ. Sự biến đổi này cĩ nguyên nhân chủ yếu là do thay đổi tương quan lực lượng cũng như do các xu thế dân chủ hĩa trong quan hệ quốc tế. 2.3. Về thực trạng của cạnh tranh của quan hệ Mỹ - Trung đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương trong 2 thập niên đầu Thế kỷ XXI, châu Á - Thái Bình Dương là khu vực tranh giành ảnh hưởng giữa Mỹ và Trung Quốc; tác động của quan hệ Mỹ - Trung tới châu Á - Thái Bình Dương đối các vấn đề an ninh, chính trị, kinh tế và cấu trúc an ninh khu vực. Châu Á – Th... Robert Axelrod, cho rằng hợp tác thực hiện được là do các chủ thể, qua quá trình tương tác liên tục, nhận thức được lợi ích của việc hợp tác [86]. Như vậy, lợi ích trong hợp tác cĩ hiệu ứng lan tỏa, thúc đẩy các chủ thể hợp tác tiếp tục để giải quyết mâu thuẫn. Keohane và Nye, đại diện cho trường phái tân tự do nhấn mạnh thuyết tuỳ thuộc lẫn nhau, cho rằng sự trao đổi qua lại tạo nên sự tuỳ thuộc lẫn nhau, hình thành mạng lưới tuỳ thuộc trong đĩ các khía cạnh quốc gia và khu vực mờ đi [87; tr.728]. Đối với châu Á – Thái Bình Dương, các nhà nghiên cứu thuộc trường phái thể chế tân tự do cho rằng tư tưởng của họ cĩ thể mang lại hịa bình và ổn định thơng qua hợp tác ở khu vực, và tư tưởng này đang trở nên khả quan hơn chủ nghĩa hiện thực. Crone, Donald K cho rằng “hịa bình ở khu vực xuất hiện đồng thời với sự hiện diện của các thể chế. Hợp tác đa phương trong ASEAN và Thái Bình Dương được xem là những phương tiện cơ bản để đảm bảo an ninh kinh tế ở khu vực trong thế kỷ XXI” [68; tr.501]. Các nhà nghiên cứu lý chủ nghĩa tự do cho rằng các cường quốc đang nổi cĩ thể được hưởng lợi từ sự phát triển hịa bình thơng qua thương mại quốc tế và khơng cịn cần kiểm sốt lãnh thổ của các quốc gia khác. Các nước phát triển nhận thấy rằng sẽ rất tốn kém nếu tiến hành chiến tranh và “cĩ thể làm tốt hơn thơng qua phát triển kinh tế trong nước, duy trì bởi một thị trường trên tồn thế giới đối với hàng hố và dịch vụ của họ hơn là cố gắng để chinh phục và đồng hĩa những vùng đất đai” [116; tr.24-25]. Shambaugh đưa ra đánh giá tích cực về quan hệ Mỹ - Trung: “Hai nước chắc chắn đã chia sẻ cuộc khủng hoảng và những hiểu lầm trong 30 năm qua (và 25 tiếp tục cĩ sự khác biệt trong một số lĩnh vực chính sách), nhưng mỗi nước đều luơn được xoa dịu để khơng bị lâm vào xung đột” và “thái độ của Trung Quốc với Mỹ đã phát triển ấm áp hơn một cách đáng chú ý trong những năm gần đây, phản ứng của Trung Quốc rất đáng ngạc nhiên là giữ thái độ tích cực nhất quán đối với ảnh hưởng của Mỹ ở châu Á”. Ngồi ra, Chủ nghĩa tự do cũng giải thích về cạnh tranh trong quan hệ quốc tế, về vai trị của Mỹ và Trung Quốc ở châu Á – Thái Bình Dương, các nhà tư tưởng tự do cho rằng, ngay cả các quốc gia độc tài (như Brunei) và nền bán dân chủ (như Singapore) vẫn thích một bá quyền dân chủ hơn một bá quyền độc tài. Ít quốc gia coi Mỹ như là một mối đe dọa thực sự đối với an ninh khu vực. Ngược lại, đối với Trung Quốc, “khơng ai ở châu Á muốn sống trong một thế giới mà Trung Quốc thống trị. Cũng khơng cĩ giấc mơ Trung Hoa nào mà nhân dân các nước châu Á mong muốn theo đuổi”[10; tr.316-317]. Nhìn chung, chủ nghĩa tự do khá lạc quan về triển vọng an ninh ở châu Á – Thái Bình Dương. Mặc dù cĩ cảnh báo về khả năng đụng độ giữa Mỹ và Trung Quốc, dự báo được khả năng Trung Quốc dựa vào chủ nghĩa dân tộc, song chủ nghĩa tự do tỏ ra tin cậy vào sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế - thương mại cũng như các thể chế khu vực. Mặt khác, chủ nghĩa tự do lý giải theo chiều hướng các nền dân chủ khơng phát động chiến tranh với nhau, mà sẽ phát động chiến tranh để kiềm chế các chế độ độc tài, qua đĩ thể hiện cái nhìn phiến diện, thiên lệch về các chế độ chính trị khác nhau trong khu vực Thuyết kiến tạo Việc Chiến tranh Lạnh chấm dứt đã làm xĩi mịn những luận giải của cả chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa hiện thực. Cả hai đều đã khơng thể tiên đốn cũng như nhận thức đầy đủ về sự biến chuyển mang tính hệ thống đang tái định hình trật tự thế giới cũng như sự chấm dứt của Chiến tranh Lạnh. Tình hình đĩ tạo điều kiện cho sự nổi lên của một trường phái mới: chủ nghĩa kiến tạo. 26 Ra đời vào nửa sau thế kỷ XX, Chủ nghĩa Kiến tạo là một mơ hình lý thuyết khơng mang tính đồng nhất. Điểm đặc trưng căn bản của Chủ nghĩa Kiến tạo là nhấn mạnh nhận thức chủ quan của từng quốc gia về bản sắc với vai trị là biến số chính tác động đến cách nhìn nhận lợi ích quốc gia cũng như quan hệ quốc tế. Alexander Wendt, một đại diện tiêu biểu của mảng lý thuyết này, cho rằng “Tình trạng vơ chính phủ do chính các quốc gia tạo nên”[135]. Như vậy, việc một hệ thơng cĩ trở nên vơ chính phủ hay khơng tuỳ thuộc vào bản sắc chứ khơng phải khả năng quân sự của các quốc gia. Bản sắc của các quốc gia được hình thành thơng qua quá trình tương tác và “xã hội hố”. Khác với cách tiếp cận của trường phái chủ nghĩa hiện thực và tự do, chủ nghĩa Kiến tạo nhấn mạnh tầm quan trọng của văn hĩa, ý tưởng, hệ tư tưởng và sự “xã hội hĩa”. Theo đĩ, hành vi của nhà nước được quyết định bởi niềm tin, bản sắc cũng như các chuẩn mực cư xử xã hội của tầng lớp tinh hoa. Trong khi chủ nghĩa hiện thực chủ yếu đề cập đến an ninh và sức mạnh vật chất, chủ nghĩa tự do chủ yếu nhấn mạnh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế và các yếu tố trong nước, chủ nghĩa kiến tạo quan tâm nhiều hơn tới vai trị của các ý tưởng, bao gồm các mục tiêu, mối đe dọa, sự đồng nhất và các yếu tố khác cĩ ảnh hướng tới nhà nước và các chủ thể phi nhà nước, trong việc định hình hệ thống quốc tế. Theo các nhà lý luận Kiến tạo, vấn đề quan trọng sau chiến tranh lạnh là việc các nhĩm khác nhau nhìn nhận bản sắc và lợi ích của mình như thế nào. Quốc gia sẽ hợp tác với nhau khi cĩ cùng một bản sắc tập thể, nhìn nhận về lợi ích giống nhau. Bản sắc là những khái niệm theo đĩ các nước nhận thức về mình và người trong một tiến trình tương tác liên tục và dày đặc. Hợp tác sẽ lâu dài nếu quan hệ giữa các nước được xây dựng trên bản sắc chung, gần về địa lý và cĩ sự tương đồng về lịch sử. Những người theo thuyết Kiến tạo cho rằng nguồn gốc chủ yếu của những căng thẳng ở châu Á – Thái Bình Dương khơng bắt nguồn từ mơi trường địa - chiến lược, mức độ phát triển kinh tế chính trị, hoặc đặc điểm của những tổ chức quốc tế ở khu vực. Nguyên nhân của những diễn biến phức tạp này là do những 27 nghi ngờ và thù hận cĩ gốc rễ sâu xa trong lịch sử, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, những quan điểm khác biệt của bản sắc dân tộc và nhận thức khác nhau về các vấn đề quốc tế [99; tr.388]. Các nhà tư tưởng kiến tạo cho rằng sự ổn định của Châu Á – Thái Bình Dương trong nhiều thập kỷ qua là do sự đồng thuận sâu rộng giữa các quốc gia trong khu vực về tập trung phát triển kinh tế, coi đĩ là mục tiêu bao trùm. Sự đồng thuận này được thể chế hĩa mạnh mẽ trong hệ thống chính trị quốc nội của các nước bởi lẽ sự phát triển kinh tế được coi là yếu tố quan trọng hàng đầu duy trì sự ổn định của chính quyền. Mặc dù mức độ đồng thuận khác nhau ở mỗi nước do các đặc điểm văn hĩa, lịch sử và trình độ phát triển khác nhau, các nước khu vực đã tạm gác cạnh tranh truyền thống về chính trị - quân sự và tập trung vào hợp tác kinh tế[3; tr.28]. Các học giả theo thuyết kiến tạo lập luận rằng bá quyền Mỹ bảo đảm cho các nước tập trung vào phát triển kinh tế. Sự trỗi dậy của Trung Quốc cũng vừa tạo nên động lực cho hợp tác kinh tế, vừa gây ra sự cạnh tranh về một bản sắc chung của khu vực cũng như sự khơi gợi lại vấn đề chủ quyền, hằn thù lịch sử. Vì vậy, nếu sự hiện diện quân sự của Mỹ trong khu vực giảm đáng kể và Trung Quốc tiếp tục trỗi dậy, cạnh tranh Trung – Mỹ gia tăng, mỗi quốc gia khu vực sẽ bị chia rẽ theo các hướng khác nhau. Một mặt, việc tiếp tục chú trọng vào tăng trưởng kinh tế và hợp tác quốc tế sẽ vẫn tồn tại. Mặt khác, sự nghi ngờ và hằn thù bắt nguồn từ lịch sử và chủ nghĩa dân tộc sẽ bùng lên, tiếp thêm xung lực cho chạy đua vũ trang trong khu vực. Sự biến thiên giữa hai khuynh hướng này là khác nhau ở các nước tùy thuộc vào hồn cảnh lịch sử, lãnh đạo và nền văn hĩa chính trị quốc gia. Nhìn chung thuyết kiến tạo lý giải khá hợp lý về nguyên nhân của sự gia tăng hợp tác kinh tế và tác động của tình trạng đa dạng bản sắc cũng như hằn thù dân tộc chủ nghĩa ở khu vực, song khơng giải thích được sức sống của các thể chế khu vực cũng như tác động của sự biến thiên sức mạnh của các cường quốc ở Châu Á – Thái Bình Dương 28 Chủ nghĩa Mác-xít Theo các nhà tư tưởng Mác-xít, chủ nghĩa Mác - Lê-nin cĩ cách tiếp cận quan hệ quốc tế khái quát hơn, áp dụng logic xuyên lịch sử thay vì phi lịch sử, lấy nhà nước/quốc gia làm trung tâm để giải thích hệ thống tư bản chủ nghĩa thế giới. Trật tự kinh tế thế giới khơng phải là một trật tự vơ chính phủ mà là một hình thức phân tầng, trong đĩ các quốc gia cạnh tranh khơng bình đẳng với nhau. Theo các nhà tư tưởng Mác-xít, hệ thống liên nhà nước được nhắc đến trong thuyết hiện thực là “mặt chính trị của chủ nghĩa tư bản”, “sự tồn tại của nĩ phụ thuộc vào hoạt động của các tổ chức tích lũy tư bản” [15, tr.95]. Mác và Ăng-ghen lập luận rằng các dân tộc tiến bộ cĩ vai trị lịch sử trong việc hồn thành cách mạng thế giới, trong khi liên kết với nhiều dân tộc nhỏ. Chủ nghĩa Mác cho rằng, chính vì sự phụ thuộc chặt chẽ của hệ thống kinh tế tư bản vào thị trường và nguồn tài nguyên hải ngoại, nên xung đột quốc tế là căn bệnh cố hữu trong thế giới của các nước tư bản. Chủ nghĩa đế quốc đã biến thế giới thành hai, một bên là các dân tộc bị áp bức và kia là đi áp bức. Chính sự phát triển khơng đồng đều của các nước tư bản dẫn tới chiến tranh đế quốc và phân chia thuộc địa. Khi bàn về lợi ích dân tộc, chủ nghĩa Mác-xít cho rằng, lợi ích quốc gia là sự phổ cập hĩa lợi ích giai cấp này đối với giai cấp khác và đưa đến cộng đồng hĩa trong tồn xã hội. Xã hội quốc tế là một hệ thống thế giới, trong đĩ xung đột quốc tế, hợp tác quốc tế, cục diện thế giới v.v...[15; tr.100-102] cơ bản được giải quyết bởi quan hệ giữa hai giai cấp với nhau. Theo các nhà tư tưởng Mác-xít, các nước tư bản sẽ rơi vào khủng hoảng, suy yếu khi uy tín của chính quyền bị suy giảm. Trung Quốc sẽ trở thành một nền kinh tế hùng mạnh, lơi kéo các quốc gia kém phát triển về phía mình trong cuộc chiến với các nước phát triển - đứng đầu là Mỹ. Như vậy, nhận diện các nguyên nhân đưa đến cạnh tranh quốc tế và tác động đến độc lập chủ quyền của các nước đang phát triển cũng như cơng cuộc bảo vệ độc lập dân tộc. Trong đĩ, Chủ nghĩa Mác – Lê-nin chỉ rõ rằng mâu thuẫn và 29 lợi ích, sự khác nhau về ý thức hệ chính trị tư tưởng xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc và tham vọng của đế quốc Mỹ là một trong những nguyên nhân chính tạo ra cạnh tranh chiến lược giữa các nước với nhau, nhất là các nước khác nhau về chế độ chính trị gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến độc lập dân tộc, chủ quyền tồn vẹn lãnh thổ của các nước nhỏ; Chủ nghĩa hiện thực thì cho rằng sự khác biệt về lợi ích là nguyên nhân chính tạo ra sự cạnh tranh, xung đột của các nước lớn. Ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Mỹ là một nước bá quyền tư bản chủ nghĩa và hệ thống kinh tế - chính trị của các quốc gia trong khu vực được định hình theo những ưu tiên của Mỹ. Thực tiễn của cục diện khu vực từ sau Chiến tranh Lạnh cho thấy, Mỹ đã thành cơng trong việc lơi kéo một số quốc gia quan trọng trong khu vực vào hệ thống kinh tế do Mỹ thống trị. Ví dụ như Trung Quốc, Hồng Kơng, Nga, và Hàn Quốc ngày càng gia tăng xuất khẩu hàng hĩa sang các nước cơng nghiệp hĩa tư bản chủ nghĩa. Mơ hình kinh tế quốc tế này đã làm sáng tỏ lợi ích chiến lược của Mỹ trong việc tạo ra một vùng đệm chính trị giữa các nước “vùng lõi” và ngoại vi, qua đĩ nhằm ngăn chặn các quốc gia kém phát triển phương Nam nổi loạn chống lại sự thống trị của các nước cơng nghiệp phương Bắc. Các nhà nghiên cứu cho rằng chủ nghĩa bá quyền Mỹ đã khơng chỉ tạo ra một hệ thống các nước phụ thuộc mà cịn tạo ra một “hệ thống nhà nước đàn áp mà ở đĩ lực lượng lao động bị bĩc lột, phụ nữ bị lạm dụng, chi phí an sinh xã hội duy trì ở mức thấp và một xã hội bị quân sự hĩa” [102; tr.102]. Những quyết sách kinh tế đều nhằm phục vụ giai cấp tư bản thống trị, điều này khiến nhà nước phải đĩng “một vai trị tích cực trong việc đàn áp các phong trào lao động thơng qua việc kiểm sốt nghiệp đồn của các cơng đồn lao động” [102; tr.101]. Bên cạnh đĩ là tình trạng mất an ninh ngày càng tăng trong tầng lớp lao động. Theo Stephen Haggard và Tun-jen Cheng, nhà nước ở Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore đã thành lập liên minh với các doanh nghiệp làm suy yếu hay loại bỏ phe cánh tả, chủ nghĩa dân túy hoặc các nhĩm lao động độc lập. Sức mạnh của nguồn vốn nước ngồi đã mang lại hiệu quả tiêu cực cho nhà nước ở khu vực 30 Đơng Á. Sự thâm nhập của các tập đồn xuyên quốc gia dẫn đến sự bất bình đẳng ngày càng tăng [102; tr.102]. Việc áp dụng các khung lý thuyết khác nhau vào quá trình phân tích quan hệ quốc tế cùng với việc sử dụng các nhĩm vấn đề, dữ liệu khác nhau sẽ dẫn tới sự khác biệt nhất định trong kết quả nghiên cứu. Trong suốt thời gian qua, những biến động sâu sắc của mơi trường địa chính trị, địa kinh tế tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương và trên thế giới đã cho thấy rằng, sự biến động của hệ thống chính trị quốc tế cho đến nay vẫn chủ yếu chịu sự chi phối bởi sự tương tác về quyền lực của các chủ thể quốc tế. Khơng một quan điểm hay lý thuyết quan hệ quốc tế nào cĩ thể phổ quát được và giải thích được hết diễn biến của hệ thống chính trị tồn cầu, tác giả sẽ vận dụng Chủ nghĩa Hiện thực để nghiên cứu cạnh tranh Mỹ - Trung tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Sự lựa chọn khung phân tích này vì người viết thấy rằng Mỹ - Trung đều là những cường quốc, cách ứng xử của họ thể hiện thái độ cường quyền, áp đặt, chính sách của hai quốc gia này phụ thuộc rất nhiều vào sức mạnh nội tại từng thời điểm. 1.2. Cơ sở thực tiễn ở Châu Á – Thái Bình Dương hai thập niên đầu thế kỷ XXI 1.2.1. Tình hình khu vực Từ năm 2000 đến nay, cục diện an ninh, chính trị, kinh tế thế giới và khu vực cĩ nhiều diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều yếu tố bất định tác động lớn tới hịa bình, ổn định của khu vực châu Á-Thái Bình Dương: Về kinh tế: Thứ nhất, trung tâm thịnh vượng tồn cầu chuyển dịch từ Tây sang Đơng dẫn tới chuyển dịch quyền lực tồn cầu. Kể từ năm 2007 khi Trung Quốc vượt Đức trở thành nền kinh tế lớn thứ 3 trên thế giới1, châu Á - Thái Bình Dương tập trung 3/5 nền kinh tế lớn nhất thế giới với Mỹ đứng đầu, Trung Quốc 1 GDP của Trung Quốc năm 2007 là 25.700 tỷ Nhân dân tệ, tương đương 3.500 tỷ USD; GDP của Đức năm 2007 là 2.400 tỷ Euro, tương đương 3.300 tỷ USD. 31 thay Nhật Bản chiếm vị trí thứ 22; trong khi kinh tế Ấn Độ đang phát triển rất nhanh và hứa hẹn trở thành nền kinh tế lớn thứ 5 thế giới trong vài năm nữa3. Sự năng động và khả năng chống chịu của kinh tế châu Á - Thái Bình Dương cũng cao hơn các khu vực khác, sớm ra khỏi khủng hoảng tồn cầu 2008 - 2009 trong khi các khu vực châu Âu và châu Mỹ sau nhiều năm vẫn chưa khắc phục xong. Châu Á - Thái Bình Dương dẫn đầu thế giới về liên kết kinh tế. Theo Tổ chức Thương mại Thế giới, tính đến đầu năm 2018, trong tổng số 279 RTA/FTA khu vực và song phương cĩ hiệu lực trên tồn cầu, châu Á - Thái Bình Dương đứng đầu với trên 120 RTA/FTA, chiếm 44,8%. Nhiều cơ chế hợp tác mới được hình thành, ví như Cộng đồng ASEAN (31/12/2015) với Tầm nhìn đến 2025, Ngân hàng Đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) (tháng 6/2015)... đánh dấu sự ra đời của tổ chức tài chính - tiền tệ quốc tế đầu tiên do một nước đang phát triển dẫn dắt. Tổ chức này là sáng kiến của chính quyền Trung Quốc. Thứ hai, Trung Quốc cạnh tranh với Mỹ trong vai trị dẫn dắt về liên kết kinh tế tại khu vực. Trong khi các đầu tàu tồn cầu hĩa như EU và Mỹ chững lại với Brexit hay “nước Mỹ trên hết”, Trung Quốc chiếm lĩnh vai trị này với những nỗ lực đơn phương đáng ghi nhận như cam kết thực hiện thỏa thuận tồn cầu chống biến đổi khí hậu (COP 21) mà khơng cần cĩ Mỹ; đưa ra một loạt sáng kiến lớn như BRI, Ngân hàng Đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB), Quỹ Con đường Tơ lụa, thúc đẩy Đối tác Kinh tế tồn diện khu vực (RCEP) trong khi Mỹ đơn phương rút khỏi TPP, xét lại nhiều thỏa thuận thương mại quan trọng như NAFTA, FTA Mỹ - Hàn. Trong khi Mỹ đơn phương phát động “chiến tranh thương mại” chống Trung Quốc và nhiều đối tác khác, Trung Quốc nhanh chĩng lấp chỗ trống, đẩy mạnh hợp tác kinh tế với EU và các đồng minh của Mỹ. Trung Quốc hy vọng những nỗ lực dẫn dắt về kinh tế nĩi trên sẽ giúp nước này tập hợp được những lực lượng chính trị và triển khai một thế trận an ninh mới trên tồn khu vực. 2 Vào ngày 16/8/2010, văn phịng Nội các Nhật Bản cơng bố báo cáo nhanh số liệu kinh tế cho thấy, tổng sản lượng GDP của nước này trong Quý II là 1.288 tỷ USD, thấp hơn so với 1.339 tỷ USD của Trung Quốc. 3 Báo cáo của Ngân hàng Thế giới cơng bố tháng 7/2018 cho thấy Ấn Độ đã trở thành nền kinh tế lớn thứ sáu trên thế giới vào năm 2017, sốn ngơi vị của Pháp. Trong Báo cáo về Triển vọng kinh tế thế giới năm 2019 của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ấn Độ tiếp tục được đánh giá là nền kinh tế cĩ mức tăng trưởng nhanh nhất thế giới với tốc độ tăng trưởng 7,1% năm 2018. 32 Thứ ba, tiến bộ về khoa học - cơng nghệ từng bước làm thay đổi nền tảng kinh tế thế giới, dẫn tới thay đổi cục diện tồn cầu. Tiến bộ vượt bậc về khoa học và cơng nghệ đã và đang làm thay đổi về chất của lực lượng sản xuất, tác động mạnh mẽ đến những thay đổi trong quan hệ sản xuất, cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, quy mơ sản xuất, năng suất lao động dẫn đến những thay đổi to lớn trong phương thức sản xuất, dẫn đến thay đổi chiến lược, chính sách quốc gia và quan hệ quốc tế. Việc Mỹ làm chủ được cơng nghệ khai thác dầu đá phiến vào những năm 2008 - 2009 giúp cho giá thành sản xuất một thùng dầu từ 40 USD/thùng giảm xuống thành 20 USD/thùng, Mỹ trở thành một nhà xuất khẩu dầu khí hàng đầu và khơng cịn bị lệ thuộc vào nguồn dầu nhập khẩu từ Trung Đơng. Lịch sử cho thấy các cuộc cách mạng cơng nghiệp luơn dẫn đến phân kỳ giai đoạn [2; tr.156], gia tăng khoảng cách giữa những ai bắt kịp và những ai tụt lại sau. Về chính trị: Thứ nhất, thay đổi địa vị về kinh tế kích thích chủ nghĩa dân tộc cực đoan, làm biến động bức tranh quan hệ quốc tế. Tại Nga, Tổng thống Vladiamir Putin luơn giương “ngọn cờ dân tộc”, tập trung cao quyền lực, đơn phương áp đặt, mở rộng ảnh hưởng thơng qua can thiệp, kích động “độc lập” tại Abkhazia và Nam Ossetia, (2009 - 2011) [133] và sáp nhập Crimea từ Ucraina (2014). Tại Mỹ, trào lưu dân túy cánh hữu nổi lên đã đưa ơng Trump lên làm Tổng thống, với khẩu hiệu “nước Mỹ trên hết”, đảo chiều một loạt chính sách lớn, hành xử đơn phương, coi nhẹ đa phương. Trung Quốc tập trung tối đa quyền lực vào Tổng Bí thư/Chủ tịch nước Tập Cận Bình, giương cao hai giấc mơ 100 năm, áp đặt nhiều chính sách lớn như “Sáng kiến an ninh châu Á”, “Quan hệ nước lớn kiểu mới”, “Cộng đồng chung vận mệnh” để thay đổi trật tự và áp đặt vai trị dẫn dắt quan hệ quốc tế tại châu Á - Thái Bình Dương. Hai là, xu hướng hịa bình, ổn định và hợp tác (trước 2010) bị suy giảm, dẫn tới biến động trong chính trị an ninh tại khu vực. Mặc dù quan hệ giữa các nước lớn vẫn cơ bản diễn ra trong khuơn khổ hợp tác và đấu tranh, nhưng mặt cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng, thể hiện qua cạnh tranh ảnh 33 hưởng và tập hợp lực lượng. Quan hệ Mỹ - Trung đối đầu về thương mại từ tháng 7/2018, phần bề nổi trong cạnh tranh đối kháng. Mỹ cơng bố IPS (văn bản đầy đủ vào tháng 6/2019 tại Shangri - La, Singapore) chính thức đặt Trung Quốc vào vị trí đối thủ chiến lược số 1, trong khi Trung Quốc đẩy nhanh triển khai BRI, cơng bố sách trắng “Quốc phịng Trung Quốc trong thời đại mới” (tháng 7/2019) với mục tiêu áp đặt thànhcơng chiến lược trên tồn khu vực vào giữa thế kỷ XXI, đẩy Mỹ ra khỏi khu vực. Trong bối cảnh đĩ, Ấn Độ triển khai chính sách "Hành động phương Đơng", đồng thời phối hợp với Nhật Bản thúc đẩy “Hành lang tăng trưởng Á - Phi” nhằm đối trọng với BRI của Trung Quốc. Quan hệ Mỹ - Nga đối đầu tại các vùng đệm chiến lược của Nga như Syria, Ucraina, Gruzia và Venezuela... Đến giữa năm 2019, khủng hoảng chính trị kéo dài tại Hồng Kơng cho thấy một triển vọng bất ổn mới tại khu vực khi cĩ dấu hiệu mơ hình “một đất nước hai chế độ” của Trung Quốc cĩ thể khơng bền vững, tác động trực tiếp đến triển vọng Trung Quốc thống nhất với Đài Loan dưới mơ hình này. Hợp tác tại khu vực trong gần 20 năm qua vẫn được tiếp tục nhưng chiều hướng thay đổi. Cục diện chính trị tại khu vực đã cĩ sự phân cực quan trọng, theo hướng đối đầu, giữa với một bên là Trung Quốc/Nga và một bên là Mỹ/đồng minh. Các cường quốc khác tính tốn lợi ích quốc gia, song ít nhiều đều phải “chọn bên”. Các nước nhỏ lâm vào tình trạng thụ động trước thay đổi của mơi trường quan hệ quốc tế. Về an ninh: Thứ nhất, các tranh chấp, bất đồng tại khu vực ngày càng nĩng lên. Trong 20 năm qua chứng kiến sự nĩng lên nhanh chĩng của các tranh chấp song phương, đa phương, từ quần đảo Điếu Ngư/Senkaku ở biển Hoa Đơng (năm 2013), eo biển Đài Loan (2015), tranh chấp biên giới Trung - Ấn (2017), các vụ phĩng thử tên lửa của Bắc Triều Tiên (2013, 2016, 2017) và nhất là tranh chấp Biển Đơng (từ năm 2010). Các bên đều cĩ dấu hiệu tăng cường hoạt động quân sự để chuẩn bị đối phĩ với kịch bản xảy ra xung đột vũ trang. Bán đảo Triều Tiên cũng bên bờ vực chiến tranh ở một số thời điểm. Tại Biển Đơng, Trung Quốc đã 34 giành được ưu thế chiến lược to lớn với chiến dịch xây dựng và quân sự hĩa nhiều đảo nhân tạo tại Hồng Sa và Trường Sa, cố gắng làm đổi thay cục diện tình hình; va chạm, tranh chấp giữa các bên liên quan, trực tiếp là Mỹ, Trung Quốc, Philippines và Việt Nam làm căng thẳng leo thang phức tạp, đe dọa trực tiếp và lâu dài đến mơi trường an ninh tại khu vực. Hoạt động trái phép, kéo dài của Trung Quốc trên thềm lục địa của nước khác, nhất là hoạt động cắt cáp tàu thăm dị Bình Minh, kéo giàn khoan HD981 và tàu tham dị HD08 trên thềm lục địa của Việt Nam ở những thời điểm năm 2008, 2014 và 2019, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền, tồn vẹn lãnh thổ của nước nhỏ, cĩ thể đẩy nước nhỏ đến ngưỡng phải ngăn chặn bằng mọi cách, rất dễ dẫn đến xung đột, chiến tranh. Thứ hai, các thách thức an ninh phi truyền thống phát triển nhanh, phức tạp hơn cả về lượng và chất. Các vấn đề như khủng bố quốc tế, biến đổi khí hậu, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, an ninh mạng đe dọa ngày càng nghiêm trọng tới an ninh và phát triển của mỗi quốc gia nĩi riêng, tồn khu vực nĩi chung. Theo Cơ quan phịng chống ma túy và tội phạm LHQ, tình hình tội phạm xuyên quốc gia ở khu vực Đơng Á và TBD diễn biến đặc biệt phức tạp, cĩ sự đan xen lẫn nhau giữa các loại tội phạm. Từ năm 2006, tình trạng trồng cây thuốc phiện ở khu vực tăng 167%, mỗi năm tội phạm buơn bán heroin và methamphetamine trị giá lên đến 32 tỷ USD. Cả khu vực cĩ 3 triệu người nghiện heroin và 5 triệu người nghiện methamphetamine [128]. Với vị trí địa lí đặc thù và các chính sách thơng thống về hải quan phục vụ chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam là địa bàn bị các tổ chức tội phạm ma túy xuyên quốc gia chú ý khai thác để tiến hành các hoạt động sản xuất, buơn bán, vận chuyển ma túy, thậm chí biến thành điểm trung chuyển ma túy đi nước thứ ba. Khơng một quốc gia nào cĩ thể tự mình đối phĩ thành cơng với các mối đe dọa trên, và chúng ngày càng tác động mạnh mẽ hơn vào các yếu tố chi phối tới chính trị an ninh. Bên cạnh đĩ, do việc đối phĩ với các thách thức trên địi hỏi đầu tư lớn về nguồn lực và chính sách, nên các nước nhỏ lại lệ thuộc hơn vào 35 nước lớn trong xử lý các mối thách thức an ninh phi truyền thống. Trường hợp này được thấy rõ trong việc Việt Nam và nước hạ nguồn sơng Mekong phụ thuộc rất lớn vào Trung Quốc để cĩ thể đối phĩ với an ninh nguồn nước và những yêu cầu duy trì các ngành nghề kinh tế phụ thuộc vào sự ổn định của nguồn nước sơng Mekong do Trung Quốc kiểm sốt. Thứ ba, các cơ chế, khuơn khổ đa phương phát triển, nhưng chưa đủ sức bảo đảm an ninh tại khu vực. Các cơ chế như EAS, ARF, ADMM+, RIMPAC, SCO, Malabar, Bộ Tứ đều phát triển, trong đĩ EAS, ARF, ADMM+ đã trở thành những cơ chế trụ cột cho hợp tác khu vực, là nơi nhiều vấn đề an ninh khu vực được thảo luận, tăng cường hiểu biết, ổn định tình và hướng tới giải pháp cho các thách thức an ninh chung. Tuy nhiên, do các cơ chế trên cơ bản được vận hành trên nguyên tắc đồng thuận, trong khi lợi ích các bên cịn nhiều khác biệt, thậm chí xung đột nên hiệu lực của chúng khơng cao. Những năm gần đây, ASEAN bị tác động mạnh bởi sự lơi kéo của nước lớn làm cho hiệu lực của các cơ chế này suy giảm. Ảnh hưởng ASEAN cũng đứng trước những thách thức to lớn từ nguy cơ mất đồn kết nội bộ do những tính tốn về lợi ích của các nước thành viên khác nhau trước những tác động của nhân tố bên ngồi. 1.2.2. Vai trị địa – chiến lược của Châu Á - TBD trong Thế kỷ XXI Sau Chiến tranh Lạnh, khu vực Châu Á – Thái Bình Dương chứng kiến sự xuất hiện của hàng loạt các nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Singapore, với tốc độ tăng trưởng vượt xa tốc độ tăng trưởng trung bình tồn cầu. Các báo cáo của IMF và WB đều khẳng định Châu Á – Thái Bình Dương là khu vực phát triển năng động nhất thế giới và là động lực của nền kinh tế tồn cầu. Xét về quy mơ, các nền kinh tế châu Á đã vượt châu Âu về GDP thực (tính sức mua ngang giá). Nếu như năm 1990, tỷ lệ GDP khu vực châu Âu - Trung Á so với tổng GDP tồn cầu vượt xa của khu vực Đơng Á – Thái Bình Dương, thì hiện nay tình hình đã đảo ngược lại [81]. Hiện châu Á - Thái Bình Dương chiếm 40% tổng diện tích lãnh thổ, 41% dân số (gần 3,6 tỷ người), 61% GDP, 47% tổng thương mại quốc tế và 48% nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi của thế giới [134; tr.195-229]. Châu Á - 36 Thái Bình Dương tập trung 65% nguồn nguyên liệu tồn cầu và cĩ nhiều tuyến đường giao thơng biển quan trọng bậc nhất thế giới. Châu Á - Thái Bình Dương chịu tác động đồng thời của hai quá trình tồn cầu hĩa và khu vực hĩa, với các tổ chức như Hiệp hội các nước Đơng Nam Á (ASEAN) và các diễn đàn như Diễn đàn Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn Kinh tế Đơng Á...; cĩ ba trung tâm sức mạnh là Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc (năm 2010, Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản, vươn lên vị trí nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, sau Mỹ) và các nước cơng nghiệp mới đang phát triển rất thành cơng, đạt chỉ số cao về tăng trưởng kinh tế[100; tr.108]. Tại châu Á - Thái Bình Dương đang diễn ra quá trình cạnh tranh và hợp tác đan xen, trong đĩ nổi lên là sự tranh giành ảnh hưởng quyết liệt giữa Mỹ và Trung Quốc, trong điều kiện tại đây chưa cĩ một cơ chế đa phương thống nhất về an ninh tập thể; hệ thống an ninh chính trị - quân sự dựa chủ yếu trên các hiệp định và thỏa thuận song phương, như: Hiệp ước An ninh Nhật - Mỹ, Hiệp ước về phịng thủ chung giữa Mỹ và Hàn Quốc, Thỏa thuận giữa các nước tham gia khối ANZUC (Australia, New Zealand, Anh, Malaysia, Singapore). Do đĩ, các tổ chức khu vực thường cĩ xu hướng kết hợp các mục đích kinh tế với lợi ích an ninh. Châu Á - Thái Bình Dương hiện đang tồn tại các "điểm nĩng" như ở eo biển Đài Loan, Đơng Bắc Á, Biển Đơng, eo biển Malacca...; và các vấn đề phức tạp, nan giải như tiềm ẩn nguy cơ xung đột do tranh chấp lãnh thổ; mâu thuẫn sắc tộc, tơn giáo; tình hình chính trị nội bộ bất ổn trong từng nước riêng lẻ; nạn khủng bố, cướp biển, buơn lậu vũ khí, ma túy và di dân bất hợp pháp. Trong bối cảnh cịn nhiều phức tạp, các nước châu Á - Thái Bình Dương đang tập trung hiện đại hĩa quân đội và tăng cường sức mạnh quốc phịng. Ở châu Á - Thái Bình Dương tập trung 8 quốc gia cĩ lực lượng quân sự với số quân đơng nhất thế giới, gồm Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ, Cộng hịa Dân chủ Nhân dân (CHDCND) Triều Tiên, Nga, Hàn Quốc, chiếm 23% thị trường vũ khí thế giới[100]. Đặc biệt, khu vực châu Á Thái Bình Dương là một trong những khu vực cĩ tiềm lực phát triển quân sự rất lớn với lực lượng quân sự dày đặc cũng như những nguy cơ tiềm ẩn về an ninh. Điều này tạo ra lợi ích lẫn thách thức khiến cho Mỹ 37 khơng thể khơng chú trọng đến, nhất là khi khu vực sẽ trở thành trọng tâm địa chính trị tồn cầu trong tương lai, thay thế khu vực châu Âu - Đại Tây Dương. Hơn nữa, sự trỗi dậy của Trung Quốc tại khu vực thách thức và cạnh tranh ảnh hưởng cơng khai với Mỹ. Nơi đây cịn tập trung những đồng minh thân cận nhất của Mỹ, những nước theo đuổi giá trị dân chủ Mỹ, những đối thủ cạnh tranh lớn nhất và những đối tác kinh tế thương mại quan trọng (tổng kim ngạch thương mại với các nước châu Á Thái Bình Dương lớn nhất trên thế giới). Vì vậy, Mỹ sẽ tiếp tục theo đuổi những giá trị lợi ích cốt lõi để tăng cường hình ảnh và ảnh hưởng của mình tại khu vực này. Việc các quốc gia đầu tư nhiều vào quân sự cho thấy: (1) Khu vực châu Á – Thái Bình Dương đang cĩ những mối đe dọa về an ninh cũng như nguy cơ bùng phát các cuộc xung đột ở khu vực, trong đĩ cĩ những “điểm nĩng” như tình hình bán đảo Triều Tiên, tình hình biển Hoa Đơng, biển Đơng, và các tranh chấp lãnh thổ khác như giữa Trung Quốc và Ấn Độ, giữa Hàn Quốc và Nhật Bản, Nga và Nhật (2) Đây cũng là địa bàn cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc, là nơi các cường quốc tranh giành ảnh hưởng để khẳng định vị trí lãnh đạo. Cạnh tranh chiến lược đang cĩ xu hướng gia tăng, khơng chỉ giữa Mỹ và Trung Quốc mà cịn cĩ sự cạnh tranh ở mức độ nào đĩ giữa Ấn Độ với Trung Quốc, Nhật Bản với Trung Quốc Nhiều quốc gia mới nổi cũng muốn cĩ tiếng nĩi nhiều hơn trong bàn cờ chính trị, chiến lược khu vực. Đặc điểm địa lý vốn cĩ, quy mơ kinh tế và tương lai phát triển khơng hạn chế là những nhân tố quyết định để khu vực châu Á - Thái Bình Dương thay thế khu vực châu Âu – Đại Tây Dương, vươn lên trở thành trọng tâm địa chính trị tồn cầu. Tương lai thế giới là hịa bình hay chiến tranh, ổn định phồn vinh hay rối ren nghèo đĩi ngày càng quyết định bởi diễn biến cục diện địa chính trị của khu vực châu Á - Thái Bình Dương và bàn cờ sức mạnh địa chính trị tại khu vực này. 1.2.3. Sự khác biệt về ý thức hệ Châu Á - Thái Bình Dương tập trung nhữn...cho Mỹ, bảo đảm vị trí độc tơn của mình trong cơ cấu quyền lực tại khu vực. Trong khi đĩ, Trung Quốc tận dụng sự gần gũi về địa lý, văn hĩa, nhu cầu phát triển kinh tế và tâm lý bài trừ Mỹ ở các nước, nhất là Đơng Nam Á (sau các cuộc chiến tranh tại Afghanistan, Iraq, Lybia, Syria) để gia tăng ảnh hưởng của mình. Quá trình tranh đua đĩ đã cĩ tác động đa chiều và đa cấp độ đối với an ninh Châu Á - Thái Bình Dương. Mặt tích cực của cạnh tranh Mỹ - Trung là ở chỗ, các nước do e ngại tác động nguy hiểm của cạnh tranh này nên tích cực đàm phán giải quyết các tranh chấp song phương, chủ yếu là tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải. Điều này giúp tạo nền tảng tin cậy và hiểu biết lẫn nhau, củng cố một phần an ninh quốc gia. Tuy nhiên, xét về tổng thể, an ninh khu vực vẫn chịu tác động tiêu cực của cuộc cạnh tranh Mỹ - Trung. Trực tiếp và gián tiếp, cạnh tranh Mỹ- Trung khiến cho các nước ở vào trạng thái bất an, phải tăng cường hiện đại hĩa quốc phịng, tạo ra khơng khí nghi kỵ; các mâu thuẫn song phương cĩ mặt tiếp tục căng thẳng; sự hợp tác, nhất trí ở bình diện đa phương trên nhiều vấn đề cũng bị suy giảm; kinh tế nội khối - nền tảng cho sự cố kết về an ninh, chính trị, cũng phát triển khơng đáp ứng lợi ích, nhu cầu các nước; các vấn đề an ninh truyền thống và phi truyền thống của khu vực đều diễn biến phức tạp hơn. Ở tầm mức khu vực, những thăng trầm trong cạnh tranh Mỹ - Trung cĩ thể coi là thách thức lớn nhất, cĩ khả năng tạo ra các hệ lụy nguy hiểm nhất. Tranh 149 đua Mỹ - Trung tại khu vực đang đe dọa tính ổn định trong cơ cấu quyền lực, cân bằng an ninh của châu Á - Thái Bình Dương. Mặt khác, những căng thẳng trong quan hệ Mỹ - Trung khiến các nước gặp phải nhiều khĩ khăn trong lựa chọn chính sách, đặc biệt là nếu xung đột Mỹ - Trung nổ ra trên các vấn đề tiềm tàng như Đài Loan, tranh chấp biển đảo ở Hoa Đơng, Biển Đơng. Nhìn chung, mặt tiêu cực gây ra bởi sự tranh đua Mỹ - Trung ở Châu Á - Thái Bình Dương cĩ phần trội hơn. Những ảnh hưởng tiêu cực này cĩ xu hướng mạnh hơn trong bối cảnh Mỹ đang tiếp tục suy yếu tương đối do gặp phải nhiều vấn đề cả về nội bộ và quốc tế; ngược lại, Trung Quốc đang tiếp tục phát triển mạnh, cĩ biểu hiện cứng hơn trên một số vấn đề (Biển Đơng, Hoa Đơng, xử lý lực lượng ly khai, tơn giáo, đối lập). Vì vậy, việc hoạch định chính sách đối ngoại phù hợp để xử lý các tác động của quan hệ Mỹ - Trung ngày càng đĩng vai trị quan trọng trong chiến lược của các nước châu Á - Thái Bình Dương. Đối với Việt Nam, việc lựa chọn chính sách đối với Mỹ và Trung Quốc càng cĩ tầm quan trọng đặc biệt trong quan hệ giữa Việt Nam và hai nước này. Trong khi phải tiếp tục tập trung phát triển kinh tế, tăng cường sức mạnh quốc gia, Việt Nam cần phải duy trì quan hệ hữu nghị, thân thiện và hợp tác với Trung Quốc và Mỹ, đưa quan hệ đi vào chiều sâu, đặc biệt là về kinh tế để tạo sự ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau chặt chẽ hơn. Đồng thời, cần tiếp tục cùng với các nước Đơng Nam Á khác lơi kéo Mỹ và Trung Quốc tham gia tích cực hơn vào các thể chế đa phương của khu vực, ràng buộc hai nước này vào các cơ cấu, hiệp định về hịa bình, an ninh ở khu vực. Trong các vấn đề mà Mỹ và Trung Quốc cĩ bất đồng, Việt Nam cần phải khéo léo vận dụng vai trị của ASEAN để cĩ tiếng nĩi chung. Để thúc đẩy sự đồng tâm nhất trí trong ASEAN, tạo ra chỗ dựa vững chắc trong xử lý các vấn đề với Mỹ và Trung Quốc, một mặt, Việt Nam cần tiếp tục thúc đẩy quan hệ song phương với các nước Đơng Nam Á đặc biệt Lào và Campuchia trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế để tạo sự cố kết hơn nữa; mặt khác, cùng các nước củng cố tính thống nhất trong đa dạng của ASEAN, từng 150 bước thể chế hĩa ASEAN trên tinh thần Hiến chương ASEAN. Bên cạnh đĩ, Việt Nam cũng cần tiếp tục phát triển quan hệ nhiều mặt với các trung tâm quyền lực khác, cùng với các nước Đơng Nam Á lơi kéo Nga, Nhật Bản, EU, Ấn Độ vào cơ chế đa phương và cơng việc chung của khu vực, tạo ra thế cân bằng linh hoạt và ràng buộc lẫn nhau nhiều tầng nấc trong cơ cấu quyền lực khu vực. Như vậy, chính sách để xử lý quan hệ Mỹ - Trung khơng đơn thuần chỉ điều chỉnh quan hệ giữa Việt Nam với hai nước này, mà là một chỉnh thể tổng hợp, bao hàm nhiều cấp độ từ song phương tới đa phương, từ trong khu vực tới ngồi khu vực, trải rộng trên nhiều lĩnh vực (chính trị, an ninh, kinh tế, văn hĩa). Cĩ thể nĩi, từ nay đến năm 2030 và sau đĩ, việc xử lý các tác động của cạnh tranh Mỹ - Trung đối với an ninh khu vực và đất nước cĩ ý nghĩa rất quan trọng đối với cơng cuộc xây dựng, phát triển và bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc./. 151 DANH MỤC CƠNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 1. Bùi Phúc Long (2020), Tình trạnh Chiến tranh Lạnh mới trong quan hệ Mỹ - Trung Quốc hiện nay, Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 5/2020 (266). 2. Bùi Phúc Long (2020), Ngoại giao Covid của Trung Quốc, Tạp chí Thế giới tồn cảnh, số 7/2020. 3. Bùi Phúc Long (2020), Trung Quốc – tuyên truyền đối ngoại và tham vọng vẽ lại “trật tự thơng tin”, Tạp chí Nghiên cứu Chiến lược, số 7/2020. 152 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. ADB (2018), Chiến lược 2030 Hướng tới CA-TBD thịnh vượng, đồng đều, thích ứng và bền vững 7/2018 https://www.adb.org/sites/default/files/institutional- document/466976/strategy-2030-main-document-vi.pdf 2. Angus Deaton (2016 - sách dịch), Cuộc đào thốt vĩ đại, NXB Hồng Đức, Hà Nội Phi Bằng (2001), Những sự kiện quan trọng trong quan hệ Mỹ - Trung, Nxb. Trẻ, Thành phố Hồ Chính Minh. 3. Lê Hải Bình (2013) Tác động của quan hệ Mỹ - Trung Quốc đến an ninh Châu Á - Thái Bình Dương sau Chiến tranh Lạnh, Luận án Tiến sĩ Quan hệ quốc tế, Học viện Ngoại giao 4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1996), Từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hĩa – Thơng tin, Hà Nội. 5. Bruce W. Jentleson (2004), Chính sách đối ngoại Hoa Kỳ: Động cơ của sự lựa chọn trong thế kỷ XXI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 6. Đỗ Minh Cao (2010), “An ninh Biển Đơng nhìn từ tranh chấp lợi ích kinh tế giữa các nước liên quan”, Tạp chí Quan hệ Quốc phịng, số 3/2010, tr.60. 7. Hồ An Cương (2003), Trung Quốc – những chiến lược lớn, Nxb Thơng tấn, Hà Nội 8. Daniel W. Drezner (2008) (Sách dịch), Trật tự thế giới mới, Nxb Viện thơng tin khoa học xã hội, tr.17-20. 9. Nhàn Đàm (2016), “Ảnh hưởng kinh tế của Mỹ và Trung Quốc tại ASEAN: Ai hơn ai?”, Tạp chí điện tử Viettimes, chinh-tri/chau-a-thai-binh-duong/anh-huong-kinh-tecua-my-va-trung-quoc- tai-asean-ai-hon-ai-40089.html 10. Fareed Zakaria (2008) Thế giới hậu Mỹ, Nxb Tri thức, Hà Nội. 153 11. Lưu Việt Hà (2014), “Nhân tố ASEAN trong Chính sách đối ngoại của Trung Quốc đầu thế kỷ XXI”, tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 1/2014, tr.199-214 12. Dương Phú Hiệp –Vũ Văn Hà (2006), Cục diện châu Á – Thái Bình Dương, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 13. Hoa Nguyễn (2019), “Để nâng tầm đối ngoại đa phương Việt Nam trong bối cảnh tồn cầu hĩa và hội nhập quốc tế”, Tạp chí cộng sản, ngoai1/-/2018/815723/de-nang-tam-doi-ngoai-da-phuong-viet-nam-trong- boi-canh-toan-cau-hoa-va-hoi-nhap-quoc-te.aspx 14. Thế Hồ (2011), “Những mối đe doạ an ninh ở châu Á – Thái Bình Dương hiện tại và tương lai”, Tạp chí Quan hệ Quốc phịng, Quí I /2011, tr.20-24. 15. Học viện CT Quốc gia HCM, Viện Quan hệ quốc tế (2008) Quan hệ Quốc tế đương đại – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính tri-Quốc gia, Hà Nội 16. Học viện Quan hệ Quốc tế (2007), Lý luận Quan hệ quốc tế, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 17. Học viện Quan hệ quốc tế (2004), Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 18. Vũ Dương Huân (Chủ biên) (2003), Quan hệ của Mỹ và các nước lớn ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 19. Vũ Dương Huân (2004), Quan hệ của Mỹ với các nước lớn ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 20. Vũ Dương Huân (2008) “Nhân tố làm thay đổi và xu thế phát triển cục diện thế 165 giới hiện nay”, tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 4 tháng 12/2008, tr.82-88. 21. Nguyễn Mạnh Hùng (2006), Trung Quốc đứng trước ngã ba đường. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 154 22. Nguyễn Hùng (2013), “Mỹ - Trung: An ninh mạng và quan hệ nước lớn kiểu mới”, VOV online, mang-va-quan-he-nuoc-lon-kieu-moi-265676.vov. 23. Nguyễn Lan Hương (2009), “Điều chỉnh chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc dưới thời Tổng thống George W. Bush”, Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 133. 24. Tơn Thị Ngọc Hương (2015) Vai trị của Asean trong tiến trình hợp tác và liên kết khu vực ở Đơng Á, luận án Tiến sĩ Quan hệ quốc tế, Học viện Ngoại giao. 25. Nguyễn Thái Yên Hương (2015) Thế hệ lãnh đạo thứ năm của Trung Quốc: Những điều chỉnh chính sách với Mỹ và các tác động tới khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 26. Nguyễn Thái Yên Hương (Chủ biên) (2017), Quan hệ Mỹ - Trung hợp tác và cạnh tranh luận giải dưới gĩc độ cân bằng quyền lực. Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội. 27. Vũ Lê Thái Hồng (2010), “Quan hệ Mỹ - Trung và trật tự khu vực châu Á – Thái Bình Dương”, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, Hà Nội, số 1. 28. Jeffrey. A. Bader (2016), Obama và sự trỗi dậy của Trung Quốc bên trong chiến lược châu Á của Mỹ, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 29. Trần Khánh (2009), “Lợi ích chiến lược của Mỹ, Trung Quốc và Nhật Bản ở Đơng Á trong thập niên đầu thế kỷ XXI”, Tạp chí Cộng sản, số 9/2009,tr.12. 30. Trần Khánh (2014), “Xu hướng tái cân bằng chiến lược về kinh tế và ngoại giao của Mỹ ở Đơng Nam Á từ cuối thập niên đầu thế kỷ XXI”, tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 3/2014, tr.35. 31. Trần Khánh (2014), “Xu hướng và bản chất của quan hệ Mỹ - Trung thời kỳ sau 167 Chiến tranh lạnh”, tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 1/2014, tr.103-124. 155 32. Nguyễn Văn Lập (2001), Quan hệ Trung - Mỹ cĩ gì mới, Thơng tấn xã Việt Nam 33. Nguyễn Văn Lập (2002), Trật tự thế giới sau 11-9 (sự chuyển hướng đồng loạt trong chính sách), Nxb Thơng Tấn. 34. Uơng Minh Long (2012) Cơng cuộc bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc của cộng hịa dân chủ nhân dân Lào trên lĩnh vực đối ngoại từ năm 1975 đến năm 2010, Luận án Tiến sỹ Sử học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. 35. Sở Thụ Long và TS Kim Uy (chủ biên) (2013), Chiến lược và chính sách ngoại giao của Trung Quốc, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự Thật dịch. 36. Nguyễn Đình Luân (2010), “Một số đặc điểm cạnh tranh quyền lực trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI”, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 3/2010, tr.145-175. 37. Tùy Phúc Dân Vũ Lực, Trịnh Lỗi (2012) Kinh tế Trung Quốc, NxbTổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh 38. Phạm Sao Mai (2010), “Trung Quốc và chiến lược đối ngoại đến 2020”, Cục diện thế giới đến 2020, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 39. Bùi Xuân Mai (2014), “Sự trỗi dậy của Trung Quốc tác động đối với hịa bình phát triển của khu vực và thế giới”, Tạp chí Quan hệ Quốc phịng, quý 4, tr.22-27. 40. Phạm Bình Minh (2011), Định hướng chiến lược đối ngoại Việt Nam đến năm 2020, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 41. Phạm Quang Minh và Phạm Hồng Tú Linh (2015) “Chiến lược triển khai “sức mạnh mềm”của Mỹ tại khu vực Đơng Nam Á dưới thời chính quyền Barack Obama”, tạp chí Nghiên cứu Đơng Nam Á, số 1, tr.46-52. 42. Thúy Minh (2020), “Đối ngoại đa phương Việt Nam năm 2019: Những thành tựu ấn tượng”, Tạp chí cộng sản, ngoai1/-/2018/815922/doi-ngoai-da-phuong-viet-nam-nam-2019--nhung- thanh-tuu-an-tuong.aspx 156 43. Nguyễn Thu Mỹ và Đàm Huy Hồng (2016), “Cạnh tranh ảnh hưởng giữa Mỹ và Trung Quốc tại Mi-an-ma từ năm 2009 đến nay”, tạp chí Quan hệ Quốc phịng, Quý I, tr.39-45. 44. Lê Văn Mỹ (2006), Cộng hịa Nhân dân Trung Hoa: Ngoại giao trong bối cảnh quốc tế mới, Viện Nghiên cứu Trung Quốc, Hà Nội. 45. Hồng Thị Thanh Nga (2017) Ngoại giao đa phương trong chính sách châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh lạnh, Luận án Tiến sĩ Quan hệ quốc tế, Học viện Ngoại giao 46. PV (2016), “Phối hợp hành động và các biện pháp xây dựng lịng tin châu Á”, Báo quốc tế, https://baoquocte.vn/phoi-hop-hanh-dong-va-cac-bien- phap-xay-dung-long-tin-chau-a-29519.html 47. Nguyễn Duy Quý (2002), Thế giới trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 48. Phạm Minh Sơn (2010), Chính sách đối ngoại của các nước lớn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 49. Đồn Văn Thắng (2003), Quan hệ quốc tế: các phương pháp tiếp cận hiện đại, NXB Thống kê. 50. Theo Hồng Anh VOV (2019), “Chiến tranh Thương mại Mỹ-Trung: Hơn 1 năm giằng co và cái kết bỏ ngỏ”, Tạp chí tài chính, hon-1-nam-giang-co-va-cai-ket-bo-ngo-317241.html 51. Lê Bá Thuyên (1997), Mỹ cam kết và mở rộng, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội. 52. Lê Khương Thùy (2003), Chiến lược của Mỹ đối với ASEAN trong và sau Chiến tranh lạnh, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội. 53. Lê Đình Tĩnh (2012) "Thử tiếp cận hệ thống đối với chính sách đối ngoại Mỹ dưới chính quyền Obama". Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 3/2012, 12, tr.107-130. 157 54. Tạ Minh Tuấn (2008), “Cạnh tranh Trung – Mỹ nhìn từ hai phía”, Tạp chí Những vấn đề kinh tế và Chính trị thế giới, số 5 tháng 5/2008. tr.246 55. Nguyễn Vũ Tùng, Đặng Cẩm Tú (2017), Quan hệ Mỹ - Trung trong nửa đầu thế kỷ XXI: mối quan hệ nước lớn kiểu mới. NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội. 56. Nguyễn Thị Hải Yến (2016) Ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung tại Đơng Nam Á đến độc lập dân tộc của các nước trong khu vực từ năm 2001 – 2015, Luận án Tiến sĩ Sử học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Tiếng Anh 57. AADCP (2018) ASEAN Investment Report 2018: Foreign Direct Investment and the Digital Economy in ASEAN, ASEAN Secretariat, UNCTAD, AADCP II, pp. 21-22, https://asean.org/storage/2018/11/ASEAN-Investment-Report-2018-for- Website.pdf 58. Australian Government department of defence (2016) Australian 2016 Defense White Paper, https://www.lowyinstitute.org/publications/australia- s-2016-defence-white-paper-forward-funded-defence. 59. Australia: Foreign Policy (2019) Congressional Research Service. In Focus, www.fas.org/sgp/crs/row/IF491.pdf 60. J.R. Bullington (2009), The Global Trends 2005: A Transformed World, American Diplomacy Publishers. 61. Bureau of Economic Analysi (2019), Gross Domestic Product, Fourth Quarter and Annual 2018 (Initial Estimate), https://www.bea.gov/news/2019/initial-gross-domestic-product-4th-quarter- and-annual-2018 62. James C. (2018), Americanism, not globalism”: President Trump and the American mission, Lowy Institute, https://www.lowyinstitute.org/publications/americanism-not-globalism- president-trump-and-american-mission-0 158 63. David Capie và Paul Evans (2002), The Asia - Facific Securties Lexicon, ISEAS, Singapore. 64. Center for China and Globalization (CCG) Report (2018), Understanding the US-China Trade War: Analyses and CCG Recommendations, No. 23, p. 5, https://www.amchamchina.org/uploads/media/default/0001/09/995132bcf4 7763d312fb2a6024fc33d7698fdaa9.pdf 65. Hillary Clinton (2011) Remarks on America’s Pacific Century, https://2009- 2017.state.gov/secretary/20092013clinton/rm/2011/11/176999.htm, Accessed on 10/12/2017. 66. Congressionnal Reseach Service, (2006), China-Southeast Asia Relation: Trends, Issues an Implications for the United States, https://fas.org/sgp/crs/row/RL32688.pdf. 67. Congress.gov, One Hundred Fifteenth Congress of the United States of America, https://www.congress.gov/115/bills/hr5515/BILLS- 115hr5515enr.pdf 68. Donald K Crone (1993) "Does Hegemony Matter? The Reorganization of the Pacific Political Economy", World Politics, 45(4), page 501 – 525. 69. Department of defense United State of America (2019), ANNUAL REPORT TO CONGRESS-Military and Security Developments Involving the People’s Republic of China 2019, https://media.defense.gov/2019/May/02/2002127082/-1/-1/1/2019_China Mlilitary Power Report_.pdf 70. Fels Enrico (2017) Shifting Power in Asia - Pacific, Springer Press 71. ESCAP (2019), Executive summary: Economic an Social Survey of Asia and the Pacific 2019 https://www.unescap.org/sites/default/files/Executive%20Summary_Survey 2019%20%28English%29.pdf 159 72. Fox News, 23/9/2018, “John Bolton previews Trump's United Nations speech”, https://www.foxnews.com/transcript/john-bolton-previews- trumps-united-nations-speech, truy cập ngày 21/5/2019. 73. M.Taylor Fravel (2010), “China’s Rise and Capability of Territory Expansion in the Perspective of International Relations”, International Studies Review No. 12/2010 74. AaronL. Friedberg (2011) A contest for Supremacy – China, America and the Struggle for mastery in Asia, W. W. Norton & Company, Inc., New York. 75. Aaron L. Friedberg (2005) "The Future of U.S. - China Relations: Is Conflict Inevitable?". International Security, Vol. 30, No. 2, page 7 - 45. 76. ENEA GJOZA (2019), The US Wants to Sell Taiwan the Wrong Weapons, https://www.defenseone.com/ideas/2019/06/us-wants-sell-taiwan-wrong- weapons/157630/ 77. Harry Harding (1992), A Fragile Relationship – The United States an China since 1972, Brookings Institution Press 78. Kimkong Heng (2019),Chinese investment strains Cambodian society, https://asia.nikkei.com/Opinion/Chinese-investment-strains-Cambodian-society 79. Japan Ministry of Defense (2017) Japan’s 2017 Defense White Paper, www.mod.go.jp/e/publ/w_paper/2017.html 80. J.P. | BEIJING (2017), “What is China’s belt and road initiative?”, The Economist, 15/3/2017, https://www.economist.com/the-economist- explains/2017/05/14/what-is-chinas-belt-and-road-initiative 81. IMF (2016) Regional Economic Outlook, Asia and Pacific, Building on Asia’s strengths during turbulent times, https://www.imf.org/en/Publications/REO/APAC/Issues/2017/03/06/Buildi ng-on-Asia-s-Strengths-during-Turbulent-Times 82. International Institute for Strategic Studies (2017) The Military Balance, The Annual Assessment of Global Military Capabilities and Defense Economics, Routledge, UK. 160 83. Robyn Iredale, Charles Hawksley and Stephen Castles (2003), Migration in the Asia Pacific: Population, Settlement and Citizenship Issues, Edward Elgar Pub 84. Irwin, D.A. (2018) Trade Policy in American Economic History, The Oxford Handbook of American Economic History, Vol 2, p. 305 85. G. J. Kenberry, & Mastanduno, M. (2003) International relations theory and the Asia-Pacific, Columbia University Press 86. Robert Keohane (1998) "International institutions, can indepedence work?". Foreign Policy, Spring. 87. Robert Nye Keohane, Joseph (1987) "Review: Power and Interdependence Revisited". International Organisation, Vol 41, No. 4 88. Dalchoong Kim, and Chung-In Moon (1997) History, Cognition, and Peace in East Asia, Yonsei University Press 89. Henry Kissinger (2012), “The Future of U.S.-Chinese Relations Conflict Is a Choice, Not a Necessity”, Foreign Affairs, Vol. 91, No. 2 (MARCH/APRIL 2012), pp. 44-55 90. David Lai (2011) The United States and China in Power Transition, Strategic Studies Institute, https://publications.armywarcollege.edu/pubs/2166.pdf 91. Deborah Lehr (2019), “How the US-China Tech Wars Will Impact the Developing World”, The Diplomat, https://thediplomat.com/2019/02/how- the-us-china-tech-wars-will-impact-the-developing-world/ 92. Alexander Lukin (2019), “The US-China Trade War and China's Strategic Future”, Survival, Vol. 61, No. 1, p. 38. 93. Tanvi Madan (2019) The U.S., India and the Indo-Pacific, www. india- seminarcom/2019/715/715_tanvi_madan. 94. S. George Marano, “All-out trade war between China and the US leaves no room for optimism”, South China Morning Post, 16/1/2019, tại địa chỉ: https://www.scmp.com/comment/insight-opinion/united- states/article/2182088/all-out-trade-war-between-china-and-us-leaves, truy cập ngày 19/5/2019. 161 95. Derek J.Mitchell (2008), The United State and Southeast Asia Toward a Strategy for enhance engagement, https://www.csis.org/events/united- states-and-southeast-asia-toward-strategy-enhanced-engagement-day-1. 96. Bryan Mcgrath, Peter Mattis, James Holmes, Scott Cheney-Peters and Bj Armstrong (2015) Asia-Pacific Maritime Security Strategy, https://amti.csis.org/asia-pacific-maritime-security-strategy-roundtable/ 97. Afred McCoy (2017) In the Shadows of the American Century: The Rise and Decline of US Global Power, Haymarket Books. 98. Mearsheimer (2001) "The Future of the American Pacifier". Foreign Affairs 80(5), page 45 – 65. 99. Mearsheimer (2001) The Tragedy of Great Power Politics, Norton, New York. 100. Shaun Narine (2018) The New ASEAN in Asia - Pacific and Beyond, Lynne Rienner Press. 101. Terence Neilan (2001), “Bush Pulls Out of ABM Treaty; Putin Calls Move a Mistake”, The New York Times, https://www.nytimes.com/2001/12/13/international/bush-pulls-out-of-abm- treaty-putin-calls-move-a-mistake.html 102. Pang, Eul-Soo (2007), “Embedding Security into Free Trade: The Case of the United – Singapore Free Trade Agreement”, Contemporaty Southeast Asia, No. 29, paga102 103. Prashanth Parameswaran (2018) ASEAN’s role in a U.S. Indo-Pacific Strategy, Wilson Center, Asia Program, pp.2, https://www.wilsoncenter.org/sites/default/files/media/documents/publicati on/2018-09_aseans_role_parameswaran.pdf 104. Prashanth Parameswaran (2018) The New ASEAN in Asia - Pacific and Beyond, Lynne Rienner Publishers. 162 105. Henry M. Paulson (2008), “A strategic economic engagement strethening US-Chinese Ties”, Foreign Affairs, Vol. 87, No. 5 (September/October 2008), pp. 59-77. 106. Paulson Institute (2019), Remarks by Henry M. Paulson, Jr., on the Risks of an “Economic Iron Curtain”, ngày 27-2-2019, https://www.paulsoninstitute.org/press_release/remarks-by-henry-m- paulson-jr-on-the-risks-of-an-economic-iron-curtain/ 107. Minxin Pei, “US-China trade war is more about geopolitical rivalry, such as in the South China Sea, than soybeans”, South China Morning Post, 20/2/2019 https://www.scmp.com/comment/insight-opinion/united- states/article/2186739/us-china-trade-war-more-about-geopolitical, truy cập ngày 20/5/2019. 108. Sorpong Peou (2010) Peace and Security in the Asia-Pacific:Theory and Practice, ISEAS - Yusof Ishak Institute. 109. Pollack, Jonathan D.(2007), Asia eyes America – Regional Perpestives on U.S.Asia – Pacific Strategy in the 21st Century, Naval War College Press, Rhode Island 110. PTI (2020), China's trade with BRI countries surges to $1.34 trillion in 2019, https://economictimes.indiatimes.com/news/international/business/chinas- trade-with-bri-countries-surges-to-1-34-trillion-in- 2019/articleshow/73271222.cms?from=mdr 111. Simon R (2019), “In major speech, Shanahan warns China over its behavior”, Asia Times, https://www.asiatimes.com/2019/06/article/in- major-speech-shanahan-says-chinas-behavior-must-end/ 112. Gideon Rachman (2017) Easternisation: Asia’s Rise and America’s Decline, From Obama to Trump and beyond, Other Press, New York. 163 113. Gideon Rachman, “America is the revisionist power on trade”, Financial Times, 13/5/2019, https://www.ft.com/content/e9cc014a-755c-11e9-be7d- 6d846537acab, truy cập ngày 19/5/2019. 114. Condoleezza Rice (2003) "Our Asia Strategy", Wall Street Journal, https://2001-2009.state.gov/p/eap/rls/rm/2003/25606.htm 115. Michael G. Roskin – Lycoming College và Nicholas O. Berry (2014), The new world of international relations, Pearson. 116. Richard Rosecrance (1986) The Rise of the Trading State: Commerce and Conquest in the Modern World, Basic Books, New York. 117. Robert Ross (1999) "The Geography of the Peace: East Asia in the Twenty- First Century". International Security, 23(4), page 81 – 118. 118. Phillip C. Saunders (2016), “US – China Military relations: competion and coopertion”, Journal of Strategic Studies, Vol 39, page 662-684 119. Shi Yinhong (2007), “The United States and China in East Asia: Dynamics of A Volatile Volatile”, China and World Affairs, No. 2. 120. The Economist (2019), “China v America: A new kind of cold war”, https://www.economist.com/leaders/2019/05/16/a-new-kind-of-cold-war, truy cập ngày 20/5/2019. 121. The State Council Information Office (2019), China’s Position on the China-US Economic and Trade Consultations, th 122. The White House (2018), Remarks by Vice President Pence on the Administration’s Policy Toward China, https://www.whitehouse.gov/briefings-statements/remarks-vice-president- pence-administrations-policy- toward-china/, truy cập ngày 21/5/2019. 123. The White house (2002), The National Security Strategy of the United States of America, https://2009- 2017.state.gov/documents/organization/63562.pdf 164 124. Tiffany NG and Kent CHUNG (2018), Trade conflict between China and the United States and its impact on Hong Kong's economy, IN14/17-18, Research Office, Legislative Council Secretariat, 17 July 2018, https://www.legco.gov.hk/research-publications/english/1718in14-trade- conflict-between-china-and-the-united-states-and-its-impact-on-hong- kongs-economy-20180717-e.pdf 125. Rex Tillerson (2017) Defining our relationship with India for the next century, https://in.usembassy.gov/defining-relationship-india-next-century/ 126. Alexis de Tocqueville (2000), Democracy in America, University of Chicago. 127. United State Senate Comettee on Foreign relations (2014), Re-balancing the Rebalance: resourcing U.S Diplomatic strategy in the Asia-Pacific region, https://www.foreign.senate.gov/imo/media/doc/872692.pdf. 128. UNODC (2018) Drugs and Precursors, https://www.unodc.org/southeastasiaandpacific/en/what-we-do/toc/drugs- and-precursors.htm 129. Unknown (1992) A Strategic Framework for Asian Pacific Rim, University of California Libraries. 130. U.S.-China Economic and Security Review Commission (2020), The US-China “Phase One” Deal: A Backgrounder, https://www.uscc.gov/sites/default/files/2020-02/U.S.- China%20Trade%20Deal%20Issue%20Brief.pdf 131. U.S. Department of Defense (2015) Annual Report to Congress, Military and Security Developments involving the People’s Republic of China 2015, https://fas.org/man/eprint/dod-china-2015.pdf 132. U.S. Department of Defense (2017) Annual Report to Congress, Military and Security Developments Involving the People’s Republic of China 2017, https://dod.defense.gov/Portals/1/Documents/pubs/2017_China_Military_P ower_Report.PDF. 165 133. US Embassy in Georgia (2017) National Security Strategy of the United States of America, https://ge.usembassy.gov/2017-national-securitystrategy- united-states-america-president. 134. Zongyou, Wei (2006), “In the shadow of hegemony: Strategic Choices”, The Chinese Journal of Intenational Politics, Vol 1, 2006 page 195-229. 135. Alexander Wendt (1999) Social Theory of International Politics, Cambridge: Cambridge University Press. 136. Min X., Jeanne M.D., Suk H.K (2018), “The Fourth Industrial Revolution: Opportunities and challenges”, International Journal of Financial research, vol 9, no. 2. 137. Xi Jinping (2013), Let the Sense of Community of Common Destiny Take Deep Root in Neighbouring Countries”, Ministry of Foreign Affairs of the People's Republic of China, https://www.fmprc.gov.cn/mfa_eng/wjb_663304/wjbz_663308/activities_6 63312/t1093870.shtml 138. Xu Jin (2014), “Zhongguo waijiao Jinru fen fa you wei xin chang tai” (China’s diplomacy enters the new normal of “striving for achievement”), China Daily, 139. Xi Jinping (2014), The Governance of China, Beijing: Foreign Languages Press, p. 326. 140. Deng Yuwen, “The US sees the trade war as a tactic to contain China. So does Beijing”, South China Morning Post, 4/7/2018, tại địa chỉ: https://www.scmp.com/comment/insight-opinion/united- states/article/2153587/us-sees- trade-war-tactic-contain-china-so-does, truy cập ngày 19/5/2019. 141. Yuezhi Zhao (2014), “The Life and Times of “Chimerica”: Global Press Discourses on U.S.-China Economic Integration, Financial Crisis, and Power Shifts.” International Journal of Communication, Vol 8, p. 419-444. 166 Tiếng Trung 142. Đỗ Bình (2011), Tiến vào Vịnh Bắc Bộ, NXB Văn hiến trung ương Trung Quốc. 143. Hồ Bác, Chính sách Hải quyền Trung Quốc, Nhà xuất bản Tân Hoa Xã, 6/2012, tr.99 144. 面对中美科技战,中国有哪些难关?: “Các thách thức của Trung Quốc trong chiến tranh cơng nghệ Mỹ - Trung Quốc”, ngày 24/5/2019 https://user.guancha.cn/main/content?id=119454 145. Hồ Cẩm Đào (2012): Báo cáo chính trị Đại hội XVIII Đảng Cộng sản Trung Quốc. Nhân dân nhật báo 8-11-2012. 146. Quốc vụ viện phê chuẩn kế hoạch “Chế tạo tại Trung Quốc 2025, ngày 8- 5-2015, 05/19/content_9784.htm国务院关于印发《中国制造2025》的通知, Trang web bổ trợ 147. 198&kindid=8826&docid=102297778&mdate=1109103547 148. https://twitter.com/realDonaldTrump/status/1125069836088950784 149. 04/21/content_1860240.htm 150. https://www.yicai.com/news/100139397.html 151. o mpete 152. war_darren-lim; 153. 154. https://covid19.who.int/table 155. 167 Chua-Tung-Co-Tien-Le.html 156. https://tuoitre.vn/tin-hieu-tich-cuc-o-bien-dong-nhung-ngay-cuoi-thang-8- 20190902233628215.htm 157. https://gt.usembassy.gov/es/discurso-de-michael-r-pompeo-secretario-de- estado-el-desafio-que-representa-china/ 158. https://www.transparency.org/en/ 159. https://baotintuc.vn/the-gioi/to-chuc-truc-tuyen-hoi-nghi-cap-cao-hop-tac- song-mekong-lan-thuong-20200821123839852.htm 168 PHỤ LỤC 169 Thâm hụt thương mại Mỹ - Trung 170 Chi tiêu Quốc phịng Mỹ - Trung

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_an_canh_tranh_my_trung_o_chau_a_thai_binh_duong_trong_h.pdf
  • pdfQD thanh lap HD_Bui Phuc Long.pdf
  • pdfTom tat luan an_NCS Bui Phuc Long.pdf
  • docxTrang thong tin luan an_Bui Phuc Long.docx