Luận án Đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong trường trung học phổ thông ở Đà Nẵng

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. TDTT trường học, bao gồm GDTC và HĐTT, là một bộ phận quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu phát triển con người toàn diện, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài để đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Sự cường tráng về thể chất là nhu cầu, là vốn quý của mọi gia đình; là mục tiêu của mỗi quốc gia trong đào tạo nguồn nhân lực để xây dựng và phát triển đất nước. Vì vậy, chăm lo thể chất cho HS là trách nhiệm của toàn xã hội, các

docx194 trang | Chia sẻ: huong20 | Ngày: 18/01/2022 | Lượt xem: 70 | Lượt tải: 1download
Tóm tắt tài liệu Luận án Đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong trường trung học phổ thông ở Đà Nẵng, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
cấp, các ngành, đặc biệt là ngành GD&ĐT. Trong Chỉ thị 133/TTg, Thủ tướng đã yêu cầu: "Bộ GD&ĐT cần đặc biệt coi trọng việc GDTC trong nhà trường, cải tiến nội dung giảng dạy TDTT nội khoá, ngoại khóa, quy định tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho HS ở các cấp học" [108, tr.130]. Trong Chỉ thị số 17-CT/TW về phát triển TDTT đến năm 2010, Ban chấp hành Trung ương Đảng cũng chỉ đạo: "Đẩy mạnh hoạt động TDTT trong trường học. Tiến tới bảo đảm mỗi trường đều có GV chuyên trách và lớp học TD đúng tiêu chuẩn, tạo điều kiện nâng cao chất lượng GDTC " [2, tr.3]. Từ các chủ trương, chính sách đã được thực hiện cho thấy Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến TDTT trường học, coi đây là nhiệm vụ quan trọng góp phần tạo ra con người mới, đóng góp tích cực trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Tuy nhiên trong thực tế, công tác TDTT trường học chưa được coi trọng, chưa đáp ứng yêu cầu duy trì, nâng cao sức khỏe người học; các trường học thiếu nhiều sân bãi, phòng tập, dụng cụ phục vụ nhu cầu tập luyện, thi đấu và vui chơi của HSSV; đội ngũ giáo viên TD thiếu và yếu; nội dung chương trình TD chính khóa và HĐTT ngoại khóa nghèo nàn, xơ cứng, không thu hút HS tham gia học tập và rèn luyện [92]. Nằm ở trung điểm của đất nước, thành phố Đà Nẵng là trung tâm văn hoá, KHCN và giáo dục, là địa bàn chiến lược của miền Trung – Tây nguyên. Đà Nẵng còn là địa phương có phong trào TDTT phát triển khá mạnh mẽ, trong đó TDTT trường học được các cấp uỷ đảng, chính quyền, các ngành, đoàn thể và xã hội quan tâm. Với hơn 170 trường phổ thông, trong đó có 20 trường THPT, công tác TDTT trường học ở Đà Nẵng được duy trì khá tốt; có nhiều thành tích trong các giải thể thao học đường và HKPĐ toàn quốc. Hoạt động học tập, rèn luyện và thi đấu thể thao đã trở thành nhu cầu của một bộ phận HSSV. Tuy vậy, TDTT trường học ở Đà Nẵng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Nhận thức về công tác GDTC và HĐTT trong nhà trường của một bộ phận cán bộ quản lý, và các nhà GD chưa đầy đủ; nhiều HS và gia đình chưa đánh giá đúng mức vai trò, vị trí môn TD trong trường học nên vẫn có quan điểm xem môn TD là môn học phụ. Việc đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị TDTT trong nhà trường, bồi dưỡng phát triển đội ngũ GV TD còn nhiều bất cập. Hoạt động TDTT trong nhà trường chưa gắn liền với phong trào TDTT quần chúng nên chưa huy động được các nguồn lực của xã hội cũng làm giảm hiệu quả công tác TDTT trường học. Thực tiễn đó đòi hỏi cần thiết có những nghiên cứu đầy đủ hiện trạng công tác TDTT trường học ở Đà Nẵng một cách khoa học, làm rõ các yếu tố tác động đến hiệu quả GDTC và HĐTT trong nhà trường để tìm kiếm các giải pháp nâng cao chất lượng TDTT trường học phù hợp với tình hình, đặc điểm riêng của Đà Nẵng, giúp các nhà quản lý GD và GV TD có những luận cứ khoa học, những giải pháp ứng dụng phù hợp để nâng cao hiệu quả hoạt động TDTT trường học. Trong những năm qua, ở nước ta có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến TDTT trường học. Các công trình thường đề cập các vấn đề lý luận chung hoặc từng lĩnh vực khác nhau như: hình thái và thể chất HSSV, các tiêu chuẩn – tiêu chí về rèn luyện thân thể, phương pháp giảng dạy, huấn luyện, hoạt động CLB TDTT trường học... Những nghiên cứu liên quan ở bậc học phổ thông, có thể kể đến các luận án của Hoàng Công Dân (2005) “Nghiên cứu phát triển thể chất cho HS các trường phổ thông dân tộc nội trú khu vực phía Bắc từ 15-17 tuổi”, Vũ Đức Văn (2008)“Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao chất lượng GDTC cho học sinh THCS của thành phố Hải Phòng”, Nguyễn Văn Thời (2011) “Dạy học tự chọn GDTC theo chủ đề và hoạt động ngoại khóa tự nguyện trong các trường THCS”.... Phần lớn các đề tài thường nghiên cứu ở đối tượng HS tiểu học và THCS, hầu như chưa có công trình đi sâu, đánh giá toàn diện thực trạng cũng như nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả GDTC và HĐTT trong trường THPT ở phạm vi một tỉnh, thành phố. Đặc biệt ở các tỉnh duyên hải miền Trung và Tây nguyên hầu như chưa có công trình khoa học nào đề cập đến vấn đề này. Từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tôi tiến hành nghiên cứu luận án với tên đề tài “Đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong trường trung học phổ thông ở Đà Nẵng”. 2. Mục đích nghiên cứu. Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở đánh giá thực trạng GDTC và HĐTT của các trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, phân tích các cơ sở lý luận, thực tiễn, các yếu tố tác động để lựa chọn giải pháp phù hợp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả GDTC và HĐTT trong các trường THPT ở Đà Nẵng. 3. Mục tiêu nghiên cứu. Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án xác định các mục tiêu sau: 3.1. Các yếu tố đảm bảo hiệu quả GDTC và HĐTT trong các trường THPT ở Đà Nẵng. 3.2. Đánh giá thực trạng GDTC và HĐTT trong các trường THPT ở Đà Nẵng. 3.3. Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng các giải pháp nâng cao hiệu quả GDTC và HĐTT trong các trường THPT ở Đà Nẵng. 4. Giả thiết khoa học. Nếu đổi mới nội dung chương trình môn học TD theo chủ đề tự chọn đáp ứng nhu cầu người học và tổ chức mô hình CLB TDTT trường học phù hợp với thực tiễn địa phương, sẽ có tác dụng nâng cao hiệu quả GDTC và HĐTT trong nhà trường. Kết quả nghiên cứu của luận án mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn, có thể ứng dụng trên địa bàn Đà Nẵng, đồng thời góp phần bổ sung vào Đề án đổi mới chương trình và sách giáo khoa sau năm 2015 đối với môn học TD theo tinh thần đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, XHH mà Nghị quyết Đại hội Đảng (khóa XI) đã xác định cho ngành GD&ĐT nước nhà. Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1. Quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước về TDTT trường học trong thời kỳ mới. 1.1.1. Quan điểm, đường lối của Đảng về TDTT trường học. Đảng lãnh đạo công tác TDTT nói chung và công tác TDTT trường học nói riêng bằng việc hoạch định chủ trương, đường lối, quan điểm chỉ đạo và được thể hiện cụ thể qua các thời kỳ cách mạng. Quan điểm chủ đạo xuyên suốt của Đảng là: “Con người là vốn quý nhất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ và bồi dưỡng sức khỏe của con người là nghĩa vụ và mục tiêu cao quý của các ngành y tế và TDTT" [108, tr.14]. Bước vào thế kỷ 21, thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 17/CT-TW (23/10/2002) về phát triển TDTT đến năm 2010, giao cho ngành TDTT và ngành GD&ĐT đẩy mạnh hoạt động TDTT trường học [3]. Chỉ thị 17/CT-TW đã ghi dấu cho sự phát triển mới của nền TDTT Việt Nam, nhiều nội dung của Chỉ thị đi vào cuộc sống, có tác động rất lớn đối với sự nghiệp phát triển TDTT nước nhà nói chung và công tác TDTT trường học nói riêng trong những năm đầu thế kỷ XXI, góp phần tích cực vào những thành tựu chung của công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội. Một trong những mục tiêu và phương hướng tổng quát của giai đoạn 2006-2010 được Đại hội Đảng (khóa X) xác định là: “GD&ĐT cùng với KHCN là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Đề cập đến vấn đề sức khỏe của nhân dân, Đại hội khẳng định cần phải: “Xây dựng chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe, tầm vóc con người Việt Nam, tăng tuổi thọ và cải thiện chất lượng giống nòi. Tăng cường thể lực của thanh niên” [4, tr.43]. Báo cáo chính trị tại Đại hội XI khẳng định phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đất nước. Vì vậy, Đại hội yêu cầu phải “Đổi mới căn bản, toàn diện nền GD theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, XHH; đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học” [5, tr. 41] Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nhấn mạnh “GD&ĐT có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước...” [5, tr.77]. Theo đó, cần phải “Đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT theo nhu cầu phát triển của xã hội, nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế”[5, tr.77]. Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 01/12/2011 của Bộ chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020; trong phần đánh giá những tồn tại, hạn chế đã chỉ rõ: “GDTC và HĐTT trong HSSV chưa thường xuyên và kém hiệu quả”[6, tr.1]. Nghị quyết đã đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng GDTC và HĐTT trường học, một trong những giải pháp quan trọng là đổi mới chương trình và phương pháp GDTC, gắn GDTC với GD ý chí, đạo đức, quốc phòng, sức khỏe và kỹ năng sống của HSSV. Đãi ngộ hợp lý và phát huy năng lực đội ngũ GV TD, mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ GV TD cho trường học[6]. Nghị quyết 29/NQ-TƯ (khóa XI) “về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT; đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã đề ra quan điểm chỉ đạo: “Chuyển mạnh quá trình GD từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học” và “Đổi mới hệ thống GD theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và phương thức đào tạo” [8, tr.78]. Có thể nói Nghị quyết 29/NQ-TƯ là sự tổng kết toàn diện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) về phát triển GD&ĐT trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa, qua đó đề ra mục tiêu đổi mới toàn diện GD&ĐT từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện đảm bảo thực hiện Mục tiêu của Nghị quyết đã tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả GD&ĐT, đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Đồng thời mở ra cơ hội để ngành GD&ĐT quyết tâm đổi mới toàn diện công tác GD, trong đó có đổi mới, cải tiến công tác TDTT trường học ngày càng hiệu quả, chất lượng hơn. 1.1.2. Chủ trương, chính sách của Nhà nước về TDTT trường học: Năm 2000, Pháp lệnh TDTT được ban hành, hoạt động TDTT lần đầu tiên được luật hóa. Sau một thời gian chuẩn bị, Luật TDTT được Quốc hội thông qua năm 2006 ghi dấu ấn mới cho sự phát triển TDTT của nước nhà. Luật TDTT đã dành riêng một mục gồm 6 điều để quy định về công tác GDTC và HĐTT trong nhà trường, đây là cơ sở pháp lý để toàn xã hội tăng cường trách nhiệm đối với công tác TDTT trường học [110]. Không chỉ lãnh đạo bằng đường lối, chính sách, mà Nhà nước còn đề ra những giải pháp chỉ đạo thực hiện sâu sát. Một trong những giải pháp là đẩy mạnh công tác XHH. Với quan điểm GD và TDTT là sự nghiệp của toàn dân, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 05/NQ-CP về đẩy mạnh XHH các lĩnh vực GD và TDTT (2005) và Nghị định số 69/NĐ-CP (2008) về chính sách XHH đối với các hoạt động trong lĩnh vực GD, dạy nghề, văn hóa, thể thao nhằm huy động nguồn lực của toàn xã hội cho sự nghiệp GD và TDTT. Các văn bản này đã tạo cơ sở pháp lý để các ngành tăng cường công tác XHH, làm cho mọi thành phần trong xã hội đổi mới quan điểm, nhận thức và giải pháp thực hiện XHH, tạo điều kiện để người dân tham gia hoạt động và đầu tư các nguồn lực để phát triển GDTC trường học, phong trào thể thao cho mọi người, nâng cao thành tích thể thao đỉnh cao và hội nhập quốc tế [90],[91]. Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2020 dành một phần quan trọng cho GDTC và HĐTT trường học. Chiến lược đã đề cập đến những tồn tại của công tác TDTT trường học: “Công tác GDTC trong nhà trường và các HĐTT ngoại khóa của HSSV chưa được coi trọng, chưa đáp ứng yêu cầu duy trì và nâng cao sức khỏe cho HS, là một trong số các nguyên nhân khiến cho thể lực và tầm vóc người Việt Nam thua kém rõ rệt so với một số nước trong khu vực Chương trình chính khóa cũng như nội dung hoạt động ngoại khóa còn nghèo nàn, chưa hợp lý, không hấp dẫn HS tham gia các hoạt động TDTT ngoại khóa” [92, tr.5]. Chiến lược đã đề ra các chỉ tiêu đến năm 2015 có 100% số trường phổ thông thực hiện đầy đủ chương trình GDTC nội khóa, 45% số trường phổ thông có CLB TDTT, có CSVC đủ phục vụ cho hoạt động TDTT, có đủ GV và hướng dẫn viên TDTT, thực hiện tốt HĐTT ngoại khóa, 75% số HS được đánh giá và phân loại thể lực theo tiêu chuẩn rèn luyện thân thể [23],[92]. Nhằm phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, Thủ tướng đã phê duyệt Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011-2030; trong đó có chương trình phát triển thể lực, tầm vóc bằng giải pháp tăng cường GDTC. Một trong những nội dung chủ yếu của chương trình này là: “Đảm bảo chất lượng dạy và học TD chính khóa, các hoạt động TDTT ngoại khóa cho HS, xây dựng chương trình GDTC hợp lý..” và “Tận dụng các công trình TDTT trên địa bàn để phục vụ cho hoạt động GDTC trong trường học” [23, tr.162]. Chương trình hành động của Chính phủ nhiệm kỳ 2011-2016 đã đề ra yêu cầu nâng cao chất lượng GD&ĐT, trong đó có chất lượng GDTC. Mục 5 của Nghị quyết 06/NQ-CP (2012) ghi rõ: “Nâng cao chất lượng GD toàn diện, đặc biệt là GDTC. Đổi mới chương trình, nội dung, PPDH, gắn với việc đổi mới quy chế thi, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập HS” [93, tr.4]. Trên cơ sở phân tích và đánh giá hiện trạng tình hình GD Việt Nam, bối cảnh, thời cơ và thách thức đối với GD trong thập kỷ tới, Thủ tướng ra Quyết định số 771/QĐ-TTg phê duyệt "Chiến lược phát triển GD 2011-2020", khẳng định quan điểm chỉ đạo: "Đầu tư cho GD là đầu tư cho phát triển. Đổi mới căn bản, toàn diện nền GD theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, XHH, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế, thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển GD gắn với phát triển KHCN, tập trung vào nâng cao chất lượng GD đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành Chú trọng thỏa mãn nhu cầu phát triển của mỗi người học." [94, tr.8]. Để đạt được mục tiêu, Chiến lược đã đề ra 8 giải pháp, trong giải pháp đổi mới nội dung và PPDH, Chiến lược đã đưa ra biện pháp: "Đổi mới chương trình và sách giáo khoa từ sau năm 2015 theo định hướng phát triển năng lực HS, vừa đảm bảo tính thống nhất trong toàn quốc, vừa phù hợp với đặc thù của mỗi địa phương. Chú trọng nội dung GD đạo đức, pháp luật, thể chất" [94, tr.11]. Tóm lại, TDTT trường học luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm và được xác định là một nội dung chủ yếu trong nhiệm vụ cách mạng, là nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Theo đó, TDTT là một yêu cầu khách quan của xã hội nhằm góp phần nâng cao sức khỏe, thể lực và chất lượng cuộc sống nhân dân. Đầu tư cho TDTT trường học là đầu tư cho con người, cho sự phát triển của đất nước. Vì vậy, thường xuyên chăm lo công tác TDTT trường học là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, các cấp chính quyền, các đoàn thể và toàn xã hội. 1.1.3. Quy định của Bộ GD& ĐT về TDTT trường học. Xác định tầm quan trọng của mục tiêu GDTC trong nhà trường phổ thông, Bộ GD&ĐT rất quan tâm tạo điều kiện để các trường học tổ chức nghiên cứu, ứng dụng, phổ biến những tiến bộ khoa học về GDTC và HĐTT. Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo việc giảng dạy TD chính khoá và tổ chức HĐTT ngoại khoá cùng với việc ban hành các văn bản quy định về công tác GDTC trong nhà trường. Điều đó được thể hiện rõ trong Quy chế GDTC và Y tế trường học; theo đó giờ học nội khóa là giờ học môn TD, sức khỏe theo chương trình quy định; còn hoạt động TDTT ngoại khóa được thực hiện theo kế hoạch của nhà trường và các cấp quản lý GD [10]. Đối với dạy học chính khóa, Bộ GD&ĐT đã ban hành CTGD phổ thông môn TD. Do đặc điểm dạy và học môn TD phụ thuộc nhiều vào sân bãi, dụng cụ TDTT và khí hậu ở các vùng miền, Bộ đã giao cho các ngành GD&ĐT địa phương căn cứ thực tiễn để xây dựng kế hoạch phân phối chương trình cụ thể ở địa phương mình. Với HS THPT, mỗi năm học có 2 tiết/tuần và dạy học trong 35 tuần, tương ứng 70 tiết/năm [11]. Để giảm tải áp lực nặng nề cho HS trong hệ thống trường trung học, Bộ GD&ĐT đã ban hành quy chế đánh giá xếp loại THCS và THPT, trong đó môn TD được thay đổi từ đánh giá bằng điểm sang đánh giá bằng nhận xét kết quả học tập. Việc đánh giá này phần nào giúp cho HS yên tâm hơn trong học tập môn TD, đồng thời cũng giúp cho GV tự tin sáng tạo, đổi mới PPDH phù hợp với năng lực và điều kiện học tập của HS [19]. Để thay đổi tiêu chuẩn rèn luyện sức khỏe phù hợp thực tiễn và quá trình hội nhập quốc tế, Bộ GD&ĐT đã ban hành quy định về việc đánh giá, xếp loại thể lực HSSV, qui định về đối tượng thực hiện và các yêu cầu, độ tuổi, các nội dung đánh giá cũng như tiêu chuẩn cụ thể của từng độ tuổi và giới tính của HS các cấp [16]. Trong thực tế, số giờ quy định của môn học TD không nhiều nên công tác TDTT trường học chỉ có thể đạt được hiệu quả khi tổ chức tốt các hoạt động ngoại khoá cho HS. Khoa học đã chứng minh muốn nâng cao thể chất thì phải tập luyện tích cực và thường xuyên. Một trong những nguyên tắc của phương pháp GDTC có liên quan đến tính thường xuyên trong tập luyện là hệ thống luân phiên lượng vận động với nghỉ ngơi, cũng như tính tuần tự trong tập luyện và mối liên hệ lẫn nhau giữa các mặt khác nhau trong nội dung tập luyện. Tính liên tục của quá trình GDTC và luân phiên hợp lý giữa lượng vận động với nghỉ ngơi, tập thường xuyên mang lại hiệu quả tất nhiên lớn hơn tập thất thường [96]. Ý thức vấn đề đó, Bộ GD&ĐT đã ban hành Quy định về tổ chức HĐTT ngoại khoá cho HSSV. Văn bản này ra đời đã tạo hành lang pháp lý thuận lợi để các cơ sở GD&ĐT tổ chức các hoạt động ngoại khoá thể thao trong HSSV [17]. Đồng thời, để thể chế hóa vai trò của GDTC và thể thao trong nhà trường, Bộ GD&ĐT đã tổ chức nhiều lần lấy ý kiến dự thảo Nghị định về GDTC và thể thao trong nhà trường để trình Chính phủ ban hành [95]. Nhìn chung, từ cơ sở lý luận và thực tiễn chỉ đạo của Bộ GD&ĐT về TDTT trường học đã khẳng định vai trò của nó trong việc bảo vệ, tăng cường sức khoẻ, thể chất, giúp hình thành và bồi dưỡng nhân cách, đáp ứng yêu cầu GD toàn diện cho HSSV. Đây là mặt GD có ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ và sự phát triển tầm vóc, thể trạng của thế hệ trẻ Việt Nam. Chính vì vậy, trong những năm qua, Bộ GD&ĐT đã quan tâm, tạo điều kiện để các trường học triển khai các nhiệm vụ GDTC và HĐTT, đồng thời thông qua việc ban hành các văn bản, quy định liên quan đã tạo ra hành lang pháp lý chặt chẽ để tổ chức quản lý công tác này. 1.2. Những vấn đề cơ bản về TDTT trường học. 1.2.1. Khái niệm GDTC và HĐTT trong trường học. 1.2.1.1. Khái niệm GDTC. Thể chất chỉ chất lượng cơ thể con người, đó là đặc trưng tương đối ổn định về hình thái và chức năng của cơ thể được hình thành và phát triển do bẩm sinh di truyền và điều kiện sống (bao gồm cả giáo dục và rèn luyện). Theo định nghĩa này, thể chất bao gồm cả hình thái, chức năng và khả năng thích ứng (thể lực) [88]. GDTC (physical education) theo nghĩa rộng là bộ phận của văn hóa thể chất (physical cultural), một bộ phận hữu cơ của GD toàn diện nhằm tác động sư phạm có hệ thống những năng lực thể chất toàn diện của con người. GDTC trong trường học được quy định ở Luật TDTT và được định nghĩa: “là môn học chính khóa thuộc CTGD nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu GD toàn diện” [110, tr 17]. Dự thảo Nghị định Quy định về GDTC và thể thao trong nhà trường (2014) đưa ra khái niệm GDTC là quá trình GD mà nội dung chuyên biệt là dạy học động tác vận động, GD toàn diện các tố chất thể lực, lĩnh hội các tri thức chuyên môn về TDTT và hình thành nhu cầu tập luyện tự giác ở người học [95]. GDTC là một loại hình GD nên nó là một quá trình giáo dục có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch để truyền thụ những tri thức chuyên môn, kỹ năng kỹ xảo vận động, tăng cường thể lực và hình thành thói quen rèn luyện thể chất suốt đời ở người học. Điều đó có nghĩa GDTC là một quá trình sư phạm với đầy đủ những dấu hiệu chung của nó, đó là vai trò chủ đạo của một nhà sư phạm trong dạy học, tổ chức các hoạt động phù hợp với HS, với các nguyên tắc sư phạm. Giờ học TD trong nhà trường đóng vai trò chủ đạo trong thực hiện GDTC trường học, nội dung GDTC có các giờ học lý thuyết và giờ học thực hành. - Giờ học lý thuyết là giờ học cơ bản nhằm trang bị kiến thức về TDTT và vệ sinh, sức khoẻ cho HS. Những kiến thức đó không chỉ cần thiết đối với HS mà còn là yếu tố văn hoá, là một phần cấu thành của kết quả học tập môn TD của HS. - Giờ học thực hành là giờ học đặc trưng của dạy học TDTT, có những đặc điểm chung của hình thức lớp – bài, trong đó GV giữ vai trò chủ đạo, điều khiển và trực tiếp tổ chức hoạt động dạy học. Sự tác động giữa GV và HS tạo nên điều kiện sư phạm tốt nhất cho quá trình GDTC. Ưu thế của giờ học thực hành còn thể hiện ở chỗ có kế hoạch học tập chặt chẽ theo thời khoá biểu chung; lớp học có số lượng HS ổn định, cùng lứa tuổi, hoạt động chung, đã liên kết thành tập thể [21],[55],[100]. 1.2.1.2. Khái niệm HĐTT. Luật TDTT định nghĩa “HĐTT trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của người học được tổ chức theo phương thức ngoại khoá phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao” [110, tr.17]. Theo Dự thảo Nghị định GDTC và thể thao trường học, HĐTT trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của HSSV với các nội dung tập luyện TDTT ngoại khóa và thi đấu các môn thể thao phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khỏe theo các hình thức cá nhân, nhóm, CLB, nhằm nâng cao sức khỏe, thể lực đáp ứng yêu cầu môn học và phát triển năng khiếu, tài năng thể thao. Hoạt động thể thao trong nhà trường có 2 nội dung cơ bản là tập luyện TDTT ngoại khóa và thi đấu thể thao [95]. HĐTT ngoại khóa có vị trí rất quan trọng trong công tác TDTT trường học. Thể thao ngoại khóa kết hợp với dạy học TD cấu thành một cấu trúc TDTT trường học hoàn chỉnh, góp phần hoàn thành mục tiêu GD. Theo Lê Văn Lẫm, Phạm Xuân Thành và một số tác giả, HĐTT ngoại khóa có ý nghĩa: (1) Thỏa mãn nhu cầu tham gia hoạt động của HS, thúc đẩy sự sinh trưởng phát dục có hiệu quả, giúp tăng cường thể chất cho HS. (2) Hình thành chế độ lao động – nghỉ ngơi khoa học, thỏa mãn tính hiếu kỳ của người tập, giúp phát triển toàn diện. (3) Làm phong phú sinh hoạt nghiệp dư của HS. (4) Bồi dưỡng hứng thú và năng lực TDTT cho HS, qua đó góp phần bồi dưỡng cán bộ TDTT và nhân tài thể thao [55],[80]. Việc tổ chức HĐTT ngoại khóa nhằm động viên, khuyến khích HS tự giác tập luyện thể thao, hình thành thói quen rèn luyện thân thể thường xuyên. Tổ chức hoạt động ngoại khóa phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản: Phù hợp với đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, điều kiện cụ thể của từng địa phương, trường học, tránh lãng phí, hình thức. Người tham gia phải tự nguyện, tự giác, phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khỏe. Có chương trình, kế hoạch và có thể được lồng ghép với hoạt động có ý nghĩa của nhà trường. 1.2.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của GDTC trong nhà trường phổ thông. Mục tiêu GD và mục tiêu GDTC có các cấp độ cụ thể khác nhau của các tiêu chí. Mục tiêu chung của GD phổ thông được xác định trong Luật GD là: “giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa” [14, tr.20]. Từ mục tiêu chung dẫn đến xác định mục tiêu GDTC cụ thể cho từng cấp học, bậc học; tiếp đó là sự cụ thể hơn trong các mục tiêu, tiêu chí của môn học, bài học. Cấp độ sau là sự cụ thể hoá cấp độ trước, là thành phần cấu trúc, mục tiêu của cấp độ trước. Việc xác định mục tiêu càng cụ thể, càng chi tiết đến đơn vị cuối cùng để có thể mô tả, đo đếm được thì càng thuận lợi, chính xác cho việc xác định các yếu tố như nội dung, chương trình, biên soạn sách giáo khoa, PPDH, đào tạo và sử dụng đội ngũ GV, quản lý quá trình giảng dạy và đánh giá chất lượng GD. Như vậy, giữa mục tiêu và các yếu tố cấu thành chất lượng GD nói chung và chất lượng GDTC nói riêng do mục tiêu đặt ra có mối quan hệ tương hỗ, trong đó mục tiêu với tư cách như bản thiết kế, có vai trò quy định các yếu tố còn lại; các yếu tố còn lại với tư cách như vật liệu thi công theo thiết kế, vừa chịu sự chi phối của mục tiêu, vừa có tác động trở lại điều chỉnh, bổ sung, chính xác hoá mục tiêu. Các tiêu chí chất lượng càng cụ thể, mức độ tường minh của mục tiêu càng cao và khả năng định hướng, xác định các yếu tố còn lại tạo thành chất lượng GD càng thuận lợi thì việc đánh giá chất lượng GD chỉ còn là vấn đề kỹ thuật. Mục tiêu dạy học được xác định căn cứ vào mục tiêu GD. Đề đạt được mục tiêu này, quá trình dạy học cần tác động lên 3 mặt đời sống tâm lý HS: mặt nhận thức, mặt xúc cảm - tình cảm và mặt hành động. Vì vậy, mục tiêu cơ bản ở trường phổ thông được xác định bao gồm 3 nhóm hệ thống được sắp xếp theo thứ tự là: - Những kiến thức HS cần biết; - Những kỹ năng, kỹ xảo HS cần tập luyện, rèn luyện; - Những thái độ ứng xử (giá trị) thích hợp HS cần được bồi dưỡng. Việc tổ chức, điều khiển HS nhằm nắm vững kiến thức; thực hiện thành thạo những kỹ năng, kỹ xảo vận động cần thiết; những kinh nghiệm về thái độ sống cần được sắp xếp một cách khoa học, hợp lý [11],[14]. GDTC là một thành phần quan trọng cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học, góp phần thực hiện mục tiêu GD toàn diện nhằm giúp HS có sự tăng tiến về sức khỏe, thể lực; đạt tiêu chuẩn sức khỏe theo lứa tuổi và giới tính; có những kiến thức, kỹ năng cơ bản về TDTT và phương pháp tập luyện; các kỹ năng vận động cần thiết trong đời sống. Hình thành thói quen tập luyện TDTT thường xuyên và nếp sống lành mạnh, tác phong nhanh nhẹn, kỷ luật, tinh thần tập thể và các phẩm chất đạo đức ý chí. Biết vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã học vào các hoạt động ở nhà trường và trong đời sống [1],[10],[16],[21]. Khi xây dựng CTGD môn TD, Bộ GD&ĐT đã căn cứ mục tiêu để đưa ra các quan điểm xây dựng và phát triển với các nội dung cụ thể: “(1) CTGD môn TD phải góp phần thực hiện mục tiêu, kế hoạch dạy học chung và những đổi mới về PPDH, đánh giá ở từng cấp học. (2) Lấy việc nâng cao sức khỏe, thể lực HS là mục tiêu quan trọng nhất, xuyên suốt. (3) Đảm bảo tính sư phạm, khoa học, liên thông, kết hợp truyền thống văn hóa dân tộc, tiếp thu có chọn lọc những thành tựu khoa học GDTC hiện đại. (4) Chương trình phải có tính khả thi, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi và giới tính, với sức khỏe, thể lực HS, đồng thời định hướng cho việc nâng cao trình độ của đội ngũ GV và tăng cường cơ sở vật chất cho việc dạy và học môn TD. (5) Đảm bảo tính thống nhất của chương trình, đồng thời mở rộng quyền chủ động sáng tạo của địa phương trong quá trình thực hiện chương trình.” [11, tr.5,6]. Từ quan điểm xây dựng và phát triển chương trình cho thấy, giữa mục tiêu và chương trình, nội dung, hình thức GD có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Chương trình, nội dung GD được xây dựng trên cơ sở mục tiêu GD, là sự thể hiện mục tiêu GD và ngược lại, mục tiêu GD như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt, giúp chương trình, nội dung và hình thức GD được định hướng chính xác, tránh những lệch lạc trong quá trình GD. Việc đổi mới chương trình, nội dung GD theo hướng bám sát mục tiêu là một trong những giải pháp phát triển GD. Trong GDTC trường học, môn TD được xác định là một môn học bắt buộc, là hoạt động chủ yếu nhằm trang bị cho HS kiến thức và kỹ năng cơ bản để rèn luyện sức khỏe, nâng cao thể lực, giúp HS giải tỏa những căng thẳng do thiếu vận động. Còn HĐTT là hoạt động tự nguyện được tổ chức theo phương thức ngoại khoá phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi, sức khoẻ, góp phần thực hiện mục tiêu GD toàn diện [10],[16],[17]. Mục tiêu GD được cụ thể hóa thành các nhiệm vụ dạy học. Các nhiệm vụ dạy học trong nhà trường phổ thông bao gồm: (1) Tổ chức, điều khiển cho HS nắm vững hệ thống kiến thức. (2) Phát triển trí tuệ, các kỹ năng vận động, kỹ năng sống cho HS. (3) Bồi dưỡng cho HS thế giới quan, nhân sinh quan khoa học và những phẩm chất, năng lực cần thiết của con người mới [11]. GDTC trong nhà trường phổ thông có các nhiệm vụ: Trang bị cho HS kỹ năng phân tích, kỹ năng phản xạ, khả năng xây dựng, kiểm tra và thực hành kế hoạch tập luyện. Xác định mục đích, nhiệm vụ, trang thiết bị cho hoạt động GDTC ở từng cấp học, tổ chức hoạt động GDTC theo hướng ưu tiên HS tự chọn môn thể thao yêu thích để rèn luyện. Trang bị cho HS kiến thức cơ bản về giải phẩu học cơ thể người, sự thay đổi và thích ứng của cơ thể ở trạng thái hoạt động vận động tích cực. Hoàn thiện, phát triển khả năng vận động cho HS (tố chất, thể lực, tố chất mềm dẻo, tố chất thăng bằng...) Hình thành những kiến thức cần thiết, tối thiểu ở HS về vệ sinh sức khoẻ, tầm quan trọng của sức khoẻ, của lối sống lành mạnh, tích cực. Hình thành, phát triển văn hoá thể chất, một trong những nền tảng văn hoá hiện đại [10],[11]. Tóm lại, mục đích của GDTC là góp phần hoàn thiện, phát triển hài hoà yếu tố học đường và yếu tố xã hội của HS, lấy phương tiện chính là bài tập thể chất, đó là tổ hợp các bài tập vận động, phản ánh một trong những nhiệm vụ chính của công tác GDTC. Việc hình thành, hoàn thiện, phát triển chức năng và thói quen vận động cho HS là một nhiệm vụ quan trọng không thể thiếu được của GDTC trường học. 1.2.3. Nội dung dạy học và CTGD. Nội dung dạy học là hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo về nhiều lĩnh vực ở trình độ phổ thông mà HS cần nắm vững trong quá trình dạy học nhằm hình thành cho các em thế giới quan, nhân sinh quan khoa học và các phẩm chất, nhân cách của con người mới, chuẩn bị cho các em bước vào cuộc sống. Nội dung dạy học trong khái niệm này được hiểu là nội dung học tập của HS và nội dung dạy của GV. Nội dung học tập của HS là cái mà HS tiếp nhận và làm việc với nó trong quá trình học tập. Nội dung học tập bao gồm hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà HS phải nắm trong quá trình học tập. Nội dung học tập của HS có cấu trúc trên cơ sở tính mục tiêu chung của GD, mục tiêu và nhiệm vụ dạy học của các cấp học, các loại trường học sao cho phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, đặc điểm lứa tuổi HS, đảm bảo cho HS có thể lĩnh hội được với hiệu quả tối ưu. Nội dung dạy của GV là các việc làm của GV trong quá trình dạy h...òng, học trò chỉ bắt chước máy móc và ghi nhớ. Phương pháp này thường được gọi là phương pháp truyền thống. - Tiếp cận hướng vào HS: là PPDH lấy HS làm trung tâm, coi HS là chủ thể quyết định cả mục tiêu, nội dung và hình thức của quá trình dạy học. Hiện nay, ở nước ta phương pháp này được xem là hiện đại, đổi mới, nhưng thực chất phương pháp này có từ thế kỷ 18. - Tiếp cận cộng tác: GV thiết kế nội dung bài học phải đảm bảo chức năng tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra quá trình HS nắm tri thức. HS tự điều khiển quá trình chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng kỹ xảo từ các mệnh lệnh dưới sự điều khiển của GV. Hai hoạt động này thống nhất với nhau nhờ cộng tác [55],[57],[100],[118]. Trong các cách tiếp cận trên, tiếp cận cộng tác được xem là phù hợp với ý tưởng cải tiến, tiến tới đổi mới PPDH theo hướng quy trình hoá việc chuẩn bị và tiến hành dạy học nhằm tích cực hoá hoạt động học tập của HS. Nói cách khác, PPDH là cách thức hoạt động của GV trong việc chỉ đạo, tổ chức các hoạt động học tập nhằm giúp HS chủ động đạt các mục tiêu dạy học. Theo cách tiếp cận này, PPDH là một hệ thống tác động liên tục của GV nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của HS để học sinh lĩnh hội vững chắc các thành phần của nội dung học tập nhằm đạt được mục tiêu đã định. Ngoài các PPDH phổ biến trong GD như phương pháp sử dụng ngôn ngữ, phương pháp trực quan, phương pháp kiểm tra đánh giá...; trong GDTC còn sử dụng các phương pháp có tính chất đặc thù, như: - Phương pháp hoàn chỉnh và phương pháp phân giải. Hoàn chỉnh là phương pháp giảng dạy động tác không phân ra các phần các đoạn riêng lẻ mà thực hiện liên tục từ đầu đên cuối. Ngược lại phân giải là phương pháp dựa vào cấu trúc kỹ thuật động tác, người ta chia động tác hoàn chỉnh để tiến hành dạy học theo đoạn hoặc bộ phận, sau đó với học hoàn chỉnh. Hai phương pháp này thực chất là 2 mặt của một phương pháp, bổ sung hoàn thiện cho nhau. - Phương pháp phòng ngừa và sửa chữa sai sót. Trong dạy học TDTT việc phòng ngừa và sửa chữa sai sót động tác không những là nhu cầu để nắm tri thức TDTT và kỹ thuật động tác, mà còn là điều kiện cần thiết để rèn luyện thân thể và phòng tránh chấn thương. Khi đề phòng và sửa chữa sai lỗi động tác, trước tiên nên phân tích nguyên nhân, sau đó mới nhìn thẳng vào nguyên nhân chủ yếu của sai sót để có biện pháp sửa chữa thích hợp [55],[100]. 1.4. Đổi mới GDTC trong nhà trường phổ thông. 1.4.1. Tình hình GDTC và HĐTT trường THPT hiện nay. Công tác TDTT trường học tuy có những thành tựu nhưng vẫn còn bộc lộ nhiều tồn tại. Báo cáo tại Hội nghị tổng kết công tác GDTC giai đoạn 2008-2012 (7/8/2012) của Bộ GD&ĐT đã nêu những ưu điểm: "Nội dung chương trình được thực hiện theo hướng trang bị những kiến thức về kỹ năng vận động, GD các tố chất thể lực, vận động rèn luyện thể lực và góp phần hình thành nhân cách cho HS. CTMH đã có nhiều điểm mới như bổ sung theo hướng ưu tiên đưa 30% các nội dung tự chọn trong đó có cả các môn thể thao dân tộc [21, tr.2]. Về thành tích trong HĐTT ngoại khóa, Báo cáo cũng khẳng định: “nhiều trường đã có hoạt động ngoại khoá thường xuyên, 80% số trường học có HKPĐ cấp trường, 90 % cấp quận, huyện và 100% cấp tỉnh thành phố tổ chức HKPĐ các cấp. HKPĐ toàn quốc cùng với hàng chục giải thể thao của HS, sinh viên đã thu hút hàng chục triệu HS tham gia, góp phần tạo nguồn tài năng cho thể thao đỉnh cao quốc gia” [21, tr.6]. Bên cạnh những thành tích đạt được, GDTC trường học vẫn còn nhiều hạn chế như: CTMH TD xơ cứng; chất lượng giờ học thấp, đơn điệu, thiếu hứng thú, mật độ vận động ít do chương trình chưa thực sự phù hợp; nhiều địa phương GV TD chưa đạt chuẩn. Bên cạnh đó, cơ sở vật chất còn thiếu nhiều và chưa đáp ứng với yêu cầu tối thiểu của một giờ lên lớp. Vì vậy tác dụng rèn luyện thân thể và nâng cao thể lực cho HS bị hạn chế rất nhiều [21],[84]. Để nâng cao chất lượng GDTC và HĐTT trường học, Bộ GD&ĐT đã xác định phương hướng giai đoạn 2012-2016 là: “Xây dựng chương trình, nội dung GDTC đáp ứng yêu cầu đổi mới GD căn bản và toàn diện. Nâng cao nhận thức, kiến thức, kỹ năng của HS trong rèn luyện thể chất. Phối hợp rèn luyện kỹ năng hợp tác, làm việc chủ động tích cực, kỹ năng sống của HS thông qua hoạt động TDTT. Nâng cao tỉ lệ HS đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể phù hợp với lứa tuổi và điều kiện địa phương” [21, tr.7]. Để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ này, cần phải nghiên cứu đổi mới nội dung, CTMH TD. Đồng thời căn cứ vào điều kiện thực tế về địa lý, tập quán của địa phương; phân loại điều kiện sức khỏe HS để sử dụng các PPDH hợp lý; ưu tiên lựa chọn môn các thể thao phù hợp với mục tiêu nâng cao sức khỏe và phát triển thể chất HS. Mặt khác, cần phải đẩy mạnh HĐTT ngoại khóa theo hướng tự chọn phù hợp với ham thích và hứng thú của HS. Nhận xét chung, tình hình GDTC ở các trường THPT còn bộc lộ nhiều bất cập, CTMH TD nhiều và nặng, chưa thiết thực khiến HS không thích học. Ngoài ra với sự xem nhẹ, thiếu bình đẳng so với các nội dung dạy học khác ở nhiều nơi trong thực tiễn, môn TD trong trường THPT đang là gánh nặng của HS, khó làm cầu nối giúp HS đến với thể thao, ham thích tập luyện thể thao. HĐTT của HS THPT gặp nhiều hạn chế, nhất là sân bãi, công trình, thiết bị TDTT các trường THPT chỉ mới đảm bảo được khoảng 40% nhu cầu tập luyện và thi đấu của HS. Phần lớn sân bãi, công trình phục vụ việc dạy học môn TD và tổ chức các hoạt động ngoại khóa thể thao khá thô sơ, không đảm bảo cho việc tập luyện và thi đấu. Hầu như các trường THPT chưa có hình thức hoạt động CLB TDTT đúng nghĩa. Kinh phí hạn chế cũng khiến các ban giám hiệu ít quan tâm đầu tư cho công tác tổ chức thi đấu thể thao rộng rãi trong nhà trường. Đây đó vẫn còn hiện tượng chạy theo thành tích, ảnh hưởng đến chất lượng và phong trào thể thao trường học. Do vậy, việc nghiên cứu cải tiến chương trình, nội dung, PPDH, rèn luyện nội và ngoại khoá nhằm nâng cao chất lượng GDTC cho HS phổ thông là một đòi hỏi cấp thiết và có ý nghĩa rất quan trọng trong giai đoạn hiện nay. 1.4.2. Yêu cầu đổi mới nội dung chương trình GDTC. Những năm qua, Bộ GD&ĐT và các trường đã thực hiện nhiều chủ trương, biện pháp giảm tải nội dung, cải tiến việc tổ chức dạy và học các môn, trong đó có môn học TD. Tuy nhiên, kết quả dạy học môn TD chưa đáp ứng được yêu cầu. Theo Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển (2012):“Việc bồi dưỡng kiến thức cho HS gặp nhiều khó khăn vì chưa có sách giáo khoa. Một số trường thiếu cơ sở vật chất, sân tập dẫn đến việc thực hiện một số phân môn còn mang tính hình thức, GV ngại sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học, không biết khai thác vả sử dụng hiệu quả các phương tiện sẵn có, thậm chí đã dạy “chay”” [46, tr.11]. Ngoài ra, việc đổi mới nội dung chương trình và PPDH môn TD chậm, chưa bắt kịp với những mục tiêu đổi mới chung, vì vậy có thể nói đổi mới chương trình, nội dung, PPDH môn TD là khâu quan trọng của công tác GDTC trong nhà trường hiện nay. Về nguyên tắc đổi mới, Bộ GD&ĐT đã xây dựng một Đề án thực hiện đồng bộ từ những vấn đề tầm vĩ mô (quan điểm chỉ đạo, định hướng chiến lược) đến những vấn đề cụ thể (mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện cùng các điều kiện khác) để đáp ứng yêu cầu của sự phát triển xã hội. Trong đó đã xác định các nguyên tắc cơ bản: (1) Quán triệt quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đổi mới căn bản, toàn diện GD nói chung và GD phổ thông nói riêng. (2) Đảm bảo kế thừa những thành tựu của Việt Nam và vận dụng hợp lý kinh nghiệm quốc tế và phát triển CTGD phổ thông. (3) Đảm bảo tính thống nhất trong toàn quốc, linh hoạt vùng miền, phù hợp với đối tượng và tính khả thi của chương trình, sách giáo khoa, (4) Đảm bảo tính thống nhất giữa mục tiêu, nội dung, PPDH và phương thức đánh giá kết quả học tập [35]. Nguyên tắc đổi mới chương trình GDTC phải bám sát những nguyên tắc cơ bản trên, đồng thời trong định hướng đổi mới chương trình, nội dung, PPDH môn TD cần bám sát các yêu cầu : - Phát triển năng lực người học. Năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm ý chí của cá nhân nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định [35]. Chương trình GDTC môn TD được xây dựng trên cơ sở hướng tới phát triển các năng lực mà mọi HS cần có trong cuộc sống như năng lực nhận thức, năng lực hợp tác, năng lực tự học, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề. - Đảm bảo phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, thực hiện các mặt GD đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, hình thành các năng lực cơ bản và giúp HS định hướng nghề nghiệp (trong lĩnh vực TDTT). - Cấu trúc nội dung chương trình đảm bảo tính linh hoạt, thống nhất theo hướng giảm nội dung bắt buộc, tăng thời lượng và các chủ đề tự chọn đáp ứng nhu cầu, năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho HS. - Đẩy mạnh đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức GD nhằm phát triển năng lực cho HD theo các hướng: tăng cường, nâng cao hiệu quả các phương tiện dạy, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông để hỗ trợ đổi mới PPDH. Chú trọng bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng hợp tác, kỹ năng vận dụng vào thực tiễn nhằm hình thành và phát triển năng lực HS [35]. 1.4.3. Dạy học tự chọn trong trường THPT. 1.4.3.1. Cơ sở xác định dạy học tự chọn trong trường THPT. Cơ sở để xác định mục tiêu, nội dung và PPDH tự chọn là Quy định tạm thời về mục tiêu và kế hoạch GD của trường THPT, trong đó xác định "đưa các tiết học tự chọn, một phần giành cho việc bám sát, nâng cao kiến thức kỹ năng của các môn học, phần khác dành cho việc cung cấp một số nội dung mới theo nhu cầu của người học và theo yêu cầu của cộng đồng" [12, tr.8], và Đề án Đổi mới Chương trình và sách giáo khoa giai đoạn sau năm 2015 của Bộ GD&ĐT, trong đó nhấn mạnh việc: “Tăng các môn học, các chủ đề tự chọn đáp ứng nhu cầu, năng khiếu, định hướng nghề nghiệp của HS” [35, tr.18]. Yêu cầu của dạy học tự chọn là để củng cố, hệ thống hóa, khắc sâu kiến thức, kỹ năng các môn học, hoạt động GD nhằm giúp HS rèn luyện năng lực tự học, phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo và năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn, góp phần hướng nghiệp cho HS; đồng thời nhằm thực hiện có hiệu quả hơn mục tiêu cấp học, đưa hoạt động dạy học phù hợp với đội ngũ GV, cơ sở vật chất của nhà trường, với thời lượng quy định và nội dung dạy học tự chọn thích hợp [13]. Nội dung dạy học tự chọn bao gồm các môn học tự chọn, hoạt động GD tự chọn và các chủ đề tự chọn. Các chủ đề tự chọn gồm có các chủ đề bám sát, chủ đề nâng cao và chủ đề đáp ứng. Ở trường THPT quy định có phần dạy môn thể thao tự chọn trong chương trình với mục tiêu củng cố, bổ sung và khai thác sâu CTMH; đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của HS về học tập và tập luyện TDTT; rèn luyện tính tích cực, tự giác và khả năng tự học của HS. Ngoài ra, các trường được phép tự chọn các môn thể thao phổ biến, có thế mạnh hoặc các môn thể thao truyền thống của địa phương để dạy học cho HS trên cơ sở vừa sức tiếp thu, phù hợp với tâm sinh lý và đảm bảo an toàn. Việc vận dụng phương pháp dạy các chủ đề đáp ứng rất phù hợp đối với đối tượng HS THPT trong việc hướng vào nhu cầu tự học, sở thích hướng nghiệp, đồng thời giúp HS có thể tập luyện và chơi thành thạo 1-2 môn thể thao [11],[13]. 1.4.3.2. Các hình thức dạy học tự chọn. Dạy học tự chọn là vấn đề khá mới ở nước ta, vì vậy để có cơ sở thực hiện cần phải tiếp cận các lý luận về dạy học tự chọn nói chung và dạy học tự chọn môn TD nói riêng ở trường THPT, đồng thời phải tìm hiểu nội dung, PPDH tự chọn của các nước có nền GD tiên tiến. Qua tổng hợp nhiều nguồn tài liệu khác nhau cho thấy ngày nay CTGD của các nước thể hiện ngày càng rõ tinh thần dạy học tự chọn, đặc biệt các lớp cuối của CTGD phổ thông. Có thể kể đến một số hình thức dạy học tự chọn chủ yếu được áp dụng rộng rãi: - Học ở nhà: HS có thể lựa chọn giữa việc học ở trường với việc tự học ở nhà, bởi sự giúp đỡ của cha mẹ và các phương tiện thông tin hiện đại. Hình thức học tập này đang trở thành một trào lưu, đầu tiên là ở Mỹ, sau đó lan rộng sang các nước phát triển khác. Ở Mỹ kiểu học tập này đã được hợp pháp hoá từ năm 1993 ở 50 bang, đến nay có hơn 1,5 triệu HS theo học. Người ta dự báo xu thế “học ở nhà” sẽ ngày càng phát triển không những ở Mỹ mà còn ở nhiều nước phát triển. - Trường học tự chọn: HS có thể lựa chọn từ nội dung, phương pháp, phân phối thời gian các môn học đến tốc độ học tập phù hợp với năng lực và nguyện vọng cá nhân. Có thể nói mỗi HS được học tập theo một chương trình và kế hoạch học tập do mình lựa chọn. Trường học tự chọn xuất hiện đầu tiên vào năm 1990 tại bang Virgina (Mỹ). Hiện nay, cùng với sự phát triển của các phương tiện thông tin hiện đại, đặc biệt của các máy tính và mạng internet, kiểu dạy học này đang được sử dụng tại nhiều nước, kể cả các nước phát triển và các nước đang phát triển. - Chương trình tự chọn: là chương trình mà ngoài các môn học, nội dung học tập và hoạt động học tập bắt buộc, còn có các môn học, nội dung học tập tự chọn cho các đối tượng HS khác nhau. Chương trình tự chọn bao gồm các môn học, nội dung học tập và hoạt động học tập lựa chọn (còn gọi là tự chọn bắt buộc hay tự chọn có giới hạn) và các môn học, nội dung học tập và hoạt động học tập tuỳ chọn (tự chọn không bắt buộc hay tự chọn tuỳ ý). Hình thức học này đang được áp dụng ở hầu hết các trường trung học phân ban ở các nước tiên tiến như Nga, Mỹ, Nhật và các nước chịu ảnh hưởng của GD Pháp và của GD Anh [36],[41],[45],[85]. Nhìn chung, dạy học tự chọn trên thế giới tuy có nhiều sự khác biệt, nhưng xu thế chung là hình thức này được áp dụng từ những lớp cuối của trường tiểu học và tỷ lệ thời gian dành cho các nội dung tự chọn so với thời gian cho các nội dung bắt buộc tăng dần theo bậc học, cấp học và lớp học. Ở trường THPT của nhiều nước, sau khi kết thúc chương trình cơ bản vào cuối lớp 11, HS chỉ còn học tập theo một chương trình hoàn toàn tự chọn bao gồm nội dung tự chọn bắt buộc và tự chọn tuỳ ý. Đối với nước ta, dạy học tự chọn ở nước ta là vấn đề mới và đã được đưa vào trường học. Trong đó, CTGD môn TD THPT đã dành 20/70 tiết học tự chọn, chiếm tỷ lệ 28,57%, tỷ lệ này khá thấp và hầu như do các trường quyết định, HS không được tự chọn theo nhu cầu đúng như ý nghĩa của nó [87]. 1.4.3.3. Dạy học tự chọn môn TD, giải pháp nâng cao hiệu quả GDTC. Đặc điểm của môn học có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình tìm tòi và thiết kế giải pháp dạy học. Các môn học tuỳ theo đặc trưng riêng mà có thể sử dụng những cách thức, nội dung, phương pháp tiếp cận khác nhau. Tuy không có một khuôn mẫu cứng nhắc vì dạy học là sáng tạo, nhưng để có thể áp dụng dễ dàng và hiệu quả thì cần có một “quy trình chung” linh hoạt để GV định hướng khi suy nghĩ hoặc thao tác trong quá trình chuẩn bị và thực hiện giảng dạy, tạo sự phối hợp chặt chẽ giữa dạy và học. Đổi mới dạy học môn TD ở trường THPT, xuất phát từ đặc điểm mục tiêu, nhiệm vụ môn TD, đòi hỏi phải đổi mới nội dung chương trình, PPDH và hình thức đánh giá. Về chương trình, cần phải thiết kế sao cho tăng thời lượng tự chọn để đáp ứng nhu cầu cá nhân và nhu cầu tự chọn môn thể thao của HS. Về nội dung, cần lựa chọn, giảm tải nội dung sao cho phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, nhu cầu hoạt động của HS. Về phương pháp tổ chức, cần phối hợp các hình thức dạy học trên lớp với các HĐTT ngoại khoá có tổ chức và giờ tự học để HS có thói quen rèn luyện. Không có HĐTT ngoại khoá thường xuyên sẽ khó cải thiện sức khoẻ, thể lực HS theo mục tiêu, yêu cầu môn học [41],[53]. Điểm nổi bật của đổi mới CTGD hiện nay là đổi mới PPDH nhằm phát huy tính chủ động, tích cực của HS. Trong quá trình dạy học phải tạo cơ hội để HS được rèn luyện kỹ năng tự học, biết cách kiến tạo nên kiến thức với sự hướng dẫn của GV. Do vậy trong dạy học tự chọn môn TD, sự hướng dẫn ban đầu của GV là quan trọng, tuy nhiên HS tự học là chính, khi biên soạn tài liệu hướng dẫn, GV cần cụ thể hóa PPDH đối với từng chủ đề và đối tượng HS, các bài giảng thiết kế sao cho HS có thể tham khảo và tự học ở nhà (thông qua mạng). PPDH theo chủ đề tự chọn môn TD được thể hiện dưới các hình thức khác nhau như GV có thể gợi ý và sử dụng rộng rãi các PPDH khác nhau; đổi mới PPDH theo yêu cầu tự chọn kết hợp dạy học truyền thống, sử dụng công nghệ tin học với các công cụ, thiết bị hiện đại; sắp xếp các nội dung dạy học hợp lý tùy theo tính chất môn học tự chọn; áp dụng các hình thức lên lớp linh hoạt[41],[54] Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo chủ đề tự chọn của HS là một khâu quan trọng của quá trình dạy học. Trong thực tiễn, ta có thể đánh giá chất lượng GDTC một cách trực tiếp đối với sản phẩm GD (người học) hoặc đánh giá gián tiếp thông qua việc đánh giá các điều kiện bảo đảm chất lượng GDTC, cũng có thể kết hợp cả hai cách đánh giá này. Để kiểm tra đánh giá HS, có thể áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Hiện nay, tiêu chuẩn đánh giá, xếp loại HS THPT được thực hiện theo Thông tư 58 của Bộ GD&ĐT, trong đó môn TD được đánh giá bằng nhận xét kết quả học tập trên cơ sở chuẩn kiến thức, kỹ năng môn học quy định trong chương trình và thái độ cố gắng tích cực, sự tiến bộ của HS trong môn học TD [19]. Ngoài ra, việc đánh giá thể lực còn có thể thực hiện thông qua kiểm tra thành tích vận động của HS theo Thông tư 53 của Bộ GD&ĐT về việc đánh giá, xếp loại thể lực HSSV [16]. Tuy nhiên, việc thực hiện quy định này chưa được thực hiện thường xuyên do có nhiều khó khăn về thời gian, kinh phí thực hiện. Tóm lại, với dạy học tự chọn, HS có nhiều thuận lợi như: được chọn chủ đề, được GV hướng dẫn, có nhiều cơ hội khẳng định mình thông qua nỗ lực cá nhân khi học chủ đề mình yêu thích hoặc có nhu cầu tập luyện. Đây là yếu tố thuận lợi để đổi mới chương trình, nội dung, PPDH môn TD trong trường THPT ở Đà Nẵng. 1.5. Khái quát đặc điểm công tác TDTT trường học ở Đà Nẵng. Năm 2010 thành phố Đà Nẵng có 887.609 người, đến năm 2012 tăng lên 973.838 người, mật độ dân số thay đổi từ 691 người/km2. lên đến 757,60 người/km2. Bình quân dân số tăng cơ học hơn 50.000 người/năm. Hiện trạng phân bố dân cư ở các quận, huyện của thành phố Đà Nẵng không đồng đều, tỷ lệ dân số thành thị chiếm gần 90%, trong đó quận có dân số đông nhất là Hải Châu với 202.271 người, quận Thanh Khê 184.340 người, ít nhất là Ngũ Hành Sơn chỉ có 72.664 người. Về mật độ dân số, các quận trung tâm thành phố, nơi tập trung nhiều cơ quan, doanh nghiệp, trường học có mật độ dân số rất cao như quận Thanh Khê 19.527 người/km2 (năm 2010 là 17.126 người/km2), quận Hải Châu 8.688 người/km2. Trong khi đó, huyện Hoà Vang chiếm diện tích đất đến 50,74% toàn thành phố, có mật độ dân số chỉ có169,88 người/km2, so với năm 2010 có mật độ là 211 người/km2, chỉ số này cho thấy xu hướng dân cư tập trung về nội thành ngày càng cao [28],[29]. Bảng 1.2. Dân số, đất đai, con người và trường học ở Đà Nẵng TT Quận – Huyện Diện tích tự nhiên (km2) Tỷ lệ (%) Dân số Mật độ dân số /km2 Đất cho TDTT (ha) Số trường THPT Số HS THPT 1 Hải Châu 23,28 1,92 202.271 8.688 4.320 4 11.572 2 Thanh Khê 9,44 0,74 184.340 19.527 6.103 3 6.858 3 Sơn Trà 59,32 4,84 140.741 2.372 10.000 4 6.127 4 Ngũ Hành Sơn 39,12 2,91 72.664 1.857 1.955 1 1.989 5 Liên Chiểu 79,13 6,56 147.472 1863 9.530 3 3.359 6 Cẩm Lệ 35,25 2,14 101.056 2879 2.115 3 3.420 7 Hoà Vang 724,89 56,64 121.844 169 38.339 3 3.494 8 Hoàng Sa 305,00 24,29 - - - - - Tổng cộng 1.285,43 973.839 757 72.363 21 37.125 Lãnh đạo thành phố Đà Nẵng rất quan tâm đến công tác TDTT. Năm 2003 Thành ủy Đà Nẵng đã ban hành Chỉ thị số 13-CT/TƯ về Chương trình hành động thực hiện Chỉ thị 17-CT/TW của Ban Bí thư (khoá VII) về phát triển TDTT đến năm 2010. Năm 2013, Thành ủy Đà Nẵng triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TU của BCT (khóa XI) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020. Để cụ thể hoá và thực hiện các Chương trình hành động của Thành uỷ Đà Nẵng, liên ngành GD&ĐT, Y tế, TDTT thành phố Đà Nẵng đã tiến hành ký các văn bản, kế hoạch liên tịch để hướng dẫn và triển khai thực hiện công tác GDTC và y tế trường học ở địa bàn thành phố [76],[77]. Bên cạnh đó, trong Đề án đẩy mạnh XHH hoạt động TDTT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng (2007), UBND thành phố Đà Nẵng cũng quan tâm đến công tác TDTT trường học, đề ra giải pháp XHH TDTT trong các trường học, huy động các nguồn lực để góp phần nâng cao chất lượng GDTC và HĐTT trong nhà trường [83],[105]. Với sự quan tâm của các cấp chính quyền, sự nỗ lực của các trường học, công tác GDTC và HĐTT trường học ở Đà Nẵng đã đạt được một số thành tựu. Việc dạy học môn TD chính khoá đảm bảo chương trình của Bộ GD&ĐT, các hoạt động thể thao ngoại khoá thường kỳ (chủ yếu là các hoạt động thi đấu thể thao) thu hút khá nhiều HS tham gia, đội ngũ GV được bổ sung về số lượng và nâng dần về chất lượng, các công trình thể thao, cơ sở vật chất TDTT trong nhà trường từng bước được tăng cường và bổ sung, phục vụ cho yêu cầu dạy học và hoạt động TDTT trường học của HS [76],[77]. Tuy nhiên, GDTC và HĐTT trường học ở Đà Nẵng cũng còn gặp nhiều khó khăn. Một bộ phận cán bộ quản lý và GV vẫn nhận thức chưa đúng về công tác TDTT trong nhà trường, chưa thật quan tâm đến dạy học Thể dục và tổ chức tốt các hoạt động ngoại khóa cho HS. Mặt khác, sự phối hợp chưa đồng bộ của các ban, ngành liên quan trong một số hoạt động đã làm hạn chế hiệu quả công tác, do đó chưa phát huy hết tiềm năng, thực lực của địa phương trong công tác TDTT trường học. Công trình thể thao, sân bãi dụng cụ tuy có được quan tâm đầu tư song chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu dạy học môn TD và HĐTT trong trường, một số trường chưa đáp ứng yêu cầu giảng dạy môn TD theo hướng đổi mới và tổ chức các phong trào ngoại khóa TDTT [77],[105] Ngành GD&ĐT Đà Nẵng cũng xác định các mục tiêu về công tác TDTT trong nhà trường những năm tới là: (1) Tiếp tục nâng cao nhận thức cho mọi người về vị trí, vai trò của TDTT trong nhà trường. (2) Cải tiến và nâng cao chất lượng dạy học môn TD, phát triển phong trào tập luyện và thi đấu thể thao trong nhà trường, giữa các trường và các khối lớp. (3) Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng GV TDTT và cán bộ quản lý TDTT. (4) Xây dựng cơ sở vật chất, đầu tư kinh phí cho công tác GDTC và HĐTT. (5) Cải tiến hệ thống quản lý GDTC và ưu tiên cho hoạt động NCKH về GDTC trong nhà trường [77],[83],[105]. Nhìn chung, GDTC và HĐTT trường học ở Đà Nẵng trong những năm qua đã được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai chặt chẽ, đã thu được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, TDTT trường học ở Đà Nẵng chưa tương xứng với vị thế của thành phố lớn và năng động nhất miền Trung, cũng như chưa khai thác được những nét đặc trưng của thành phố để nâng cao hiệu quả GDTC và HĐTT trường học. Do vậy, song song với việc quán triệt và triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, của ngành về công tác TDTT nói chung và TDTT trường học nói riêng, việc nghiên cứu một cách khoa học, nghiêm túc thực trạng công tác GDTC và HĐTT để có cơ sở đề ra những giải pháp mới, phù hợp để nâng cao chất lượng TDTT cho các trường học phổ thông ở Đà Nẵng là hết sức cần thiết. 1.6. Một số công trình khoa học về TDTT trường học liên quan đến luận án nghiên cứu trong những năm đầu thế kỷ XXI. Tại Đại hội đồng lần thứ 27 của UNESCO vào tháng 11/1993, các báo cáo đã đề cập nhiều đến vai trò quan trọng của GD trong thế kỷ XXI là chìa khóa tiến tới một thế giới tốt đẹp hơn; các báo cáo đều cho thấy vai trò của GD là phát triển tiềm năng con người, GD là đòn bẫy mạnh mẽ nhất mà nhân loại cần có để tiến vào tương lai; GD là quyền cơ bản nhất của con người [41]. Vì vậy, phải quan niệm đầy đủ hơn vai trò của GD trong công cuộc phát triển con người trong thời đại mới (thế kỷ XXI), đó là GD không chỉ là tích tụ tri thức mà còn thức tỉnh tiềm năng sáng tạo to lớn trong mỗi con người, cho phép tất cả mọi người phát triển tất cả tiềm năng, đóng góp tốt hơn cho xã hội. Để thực hiện tốt quyền và trách nhiệm này, đòi hỏi con người không chỉ có trí tuệ mà cần phải có đầy đủ năng lực thể chất, phát huy tốt nhất các phẩm chất và khả năng của bản thân. Vì vậy, vấn đề nghiên cứu về phát triển năng lực thể chất cho con người, đặc biệt là trong lứa tuổi HSSV trong những năm thế kỷ XXI đều được hầu hết các nước trên thế giới quan tâm, trong đó có Việt Nam. Tổng hợp từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau cho thấy từ năm 2000 đến nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến công tác TDTT trường học. Các kết quả nghiên cứu này là cơ sở cũng như đã tạo tiền đề để chúng tôi xác định những mục tiêu nghiên cứu của luận án. Có thể nêu dưới đây một số công trình tiêu biểu mà luận án tiếp cận được. Năm 2000, Lê Văn Lẫm, Vũ Đức Thu tiến hành nghiên cứu tình hình phát triển thể chất HS phổ thông ở nước ta trong những thập kỷ qua, đã đánh giá trong những năm 1980 –1990, thể chất HS phổ thông tốt hơn khi so với HS cùng giới và cùng tuổi ở thập kỷ 70, trong đó chiều cao, cân nặng, sức nhanh, sức mạnh tốt hơn đáng kể, nhưng sức bền lại phát triển không tương xứng với các tố chất khác, nhất là HS ở các đô thị. Trên cơ sở kết qủa nghiên cứu thực trạng phát triển thể chất của các đối tượng nghiên cứu, các tác giả đã kiến nghị cải tiến hình thức tổ chức, đổi mới PPDH và đánh giá thể chất HS, góp phần từng bước nâng cao thể chất cho HS [56]. Năm 2001, công trình nghiên cứu “Thực trạng thể chất người Việt Nam từ 6 đến 20 tuổi” do Viện khoa học TDTT chủ trì với sự phối hợp một số trường Đại học và các cơ sở TDTT, là công trình nghiên cứu quy mô, có tính ứng dụng rất cao. Các kết quả nghiên cứu của công trình này là các thông số rất quan trọng giúp cho việc đánh giá thực trạng thể chất người Việt Nam tại thời điểm nghiên cứu, đồng thời là cơ sở quan trọng dùng để so sánh đối chiếu như một chuẩn quốc gia. Các test sử dụng nghiên cứu của công trình đã được nhiều luận án của NCS và các công trình khoa học khác lựa chọn ứng dụng như một tiêu chuẩn quốc gia về lĩnh vực TDTT [113]. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của nhiều đề tài trong lĩnh vực GDTC và HĐTT trường học ở từng vùng miền khác nhau trong cả nước cũng đã đóng góp và làm sáng nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn, rất có giá trị trong công tác phát triển hoạt động TDTT nói chung và GDTC nói riêng. Có thể chia làm 3 nhóm sau: - Nhóm công trình nghiên cứu về phát triển thể chất HS, tiêu biểu có luận án Nghiên cứu phát triển thể chất cho HS các trường Phổ thông dân tộc nội trú khu vực miền núi phía Bắc, từ 15-17 tuổi của Hoàng Công Dân năm 2005, là một công trình có giá trị thực tiễn cao trong đánh giá thể chất, nghiên cứu đồng thời đã kết hợp đưa các môn thể thao dân tộc và trò chơi dân vào tập luyện ngoại khóa trong trường học nhằm phát triển thể chất cho HS [33]. Bùi Quang Hải năm 2008 với luận án “Nghiên cứu sự phát triển thể chất của HS tiểu học một số tỉnh phía Bắc bằng phương pháp quan sát dọc (Từ 6 đến 10 tuổi)”, đã xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn đánh sự phát triển thể chất cho đối tượng HS tiểu học [42]. - Nhóm công trình nghiên cứu cải tiến, đổi mới nâng cao hiệu quả GDTC và HĐTT trong nhà trường cũng được nhiều nhà khoa học và cán bộ nghiên cứu quan tâm. Năm 2008, Vũ Đức Văn với luận án “Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao chất lượng GDTC cho HS THCS của thành phố Hải Phòng” đã lựa chọn và ứng dụng hai giải pháp sư phạm vào thực tiễn GDTC ở các trường THCS Hải Phòng là đổi mới khâu chuẩn bị của GV và lựa chọn phương pháp, hình thức dạy học theo hướng tích cực hóa [111]. Năm 2011, Nguyễn Văn Thời bảo vệ thành công luận án “Dạy học tự chọn GDTC theo chủ đề và hoạt động ngoại khóa tự nguyện trong các trường THCS”, đã làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn về dạy học tự chọn theo chủ đề bám sát ở HS THCS [85]. Luận án của Lê Trường Sơn Chấn Hải năm 2011 “Đổi mới chương trình GDTC cho sinh viên các trường đại học sư phạm vùng Trung Bắc theo hướng bồi dưỡng nghiệp vụ tổ chức hoạt động TDTT trường học” đã xác định luận cứ về đổi mới chương trình GDTC trong trường đại học sư phạm vùng Trung Bắc theo hướng lồng ghép mục tiêu đào tạo, mở rộng năng lực tổ chức GDTC trong quá trình đào tạo sinh viên; tạo ra cách nhìn mới về phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xã hội hóa TDTT trường học. - Nhóm công trình nghiên cứu các vấn đề về tổ chức và quản lý phong trào TDTT quần chúng, trong đó đã đưa ra một số nhiệm vụ nghiên cứu về GDTC trong trường học, là một thành tố của TDTT quần chúng. Năm 2006, Đặng Quốc Nam “Nghiên cứu lựa chọn các giải pháp XHH nhằm khai thác tiềm năng để phát triển TDTT quần chúng ở thành phố Đà Nẵng”, trong đó có nhiệm vụ đánh giá về nhu cầu và thực trạng hoạt động TDTT của HS trong nhà trường phổ thông [68]; Cấn Văn Nghĩa (2009) nghiên cứu xác định hiệu quả hoạt động tập luyện trong một số loại hình tổ chức TDTT xã phường và trường phổ thông của tỉnh Hà Tây (cũ), đã đánh giá các mô hình hoạt động TDTT quần chúng, xây dựng một số loại hình tổ chức TDTT quần chúng, hoạt động XHH thể thao, trong đó đã lựa chọn giải pháp tổ chức CLB TDTT trong trường phổ thông với mục đích thành lập mới hoặc chấn chỉnh các CLB đã có theo yêu cầu về tổ chức bộ máy có quy chế, điều lệ đơn giản để điều hành và hoạt động phù hợp với đặc điểm của mỗi trường [69]. Bên cạnh đó, còn nhiều công trình nghiên cứu, trong đó có những công trình đã được xuất bản thành sách của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan đến luận án. Công trình của Vũ Đức Thu đã đề cập đến việc nâng cao hiệu quả GDTC trong nhà trường, đề cập đến vấn đổi mới PPDH theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của người học, giới thiệu các lý thuyết dạy học tiên tiến để vận dụng vào đổi mới PPDH ở nước ta. Một số công trình khoa học của Lê Văn Lẫm, Phạm Trọng Thanh, Dương Nghiệp Chí, Hồ Đắc Sơn... đã hệ thống hoá cơ sở lý luận về phương pháp, PPDH tích cực hoá hoạt động học tập của người học; đánh giá thực trạng PPDH ở trường học, đề xuất những định hướng, yêu cầu và vận dụng thử nghiệm đổi mới PPDH, góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về đổi mới PPDH, gợi mở việc vận dụng vào các dạng bài cụ thể của một số môn học, trong đó có môn TD ở trường trung học. Hội nghị khoa học quốc tế phát triển thể thao, tầm nhìn...3 loại chủ đề: chủ đề cơ bản, chủ đề nâng cao và chủ đề đáp ứng. Trong đó, chủ đề đáp ứng dành cho nguyện vọng mang tính cá nhân, đáp ứng nhu cầu, sở thích về TDTT của HS. Chủ đề này có thể áp dụng cho mọi đối tượng HS [12]. Trong GDTC, dạy học tự chọn TD đã được đưa vào CTMH từ lớp 4. Theo Nguyễn Kim Minh, nếu HS được tập môn học tự chọn liên tục từ lớp 4 cho đến hết 12, chắc chắn sẽ đạt trình độ thành tích thể thao nhất định, đồng thời qua đó có thể phát hiện và bồi dưỡng nhiều tài năng thể thao [65]. Tuy nhiên trong thực tiễn, điều này rất khó thực hiện vì hiện nay kế hoạch dạy học môn TD ở các lớp học, bậc học trong hệ thống GD phổ thông ở nước ta chưa đảm bảo được tính liên thông. Ở góc độ nghiên cứu, luận án của Nguyễn Văn Thời (2011) về dạy học tự chọn GDTC theo chủ đề và hoạt động ngoại khóa tự nguyện trong các trường THCS, chủ yếu là thực hiện theo chủ đề bám sát, chỉ phù hợp với đối tượng HS THCS [85]. Ngoài ra chưa thấy có nghiên cứu về GDTC nào đề cập đến lĩnh vực dạy học tự chọn theo chủ đề, nhất là chủ đề đáp ứng ở bậc học THPT. Từ cơ sở lý luận và thực tiễn, luận án đã xây dựng chương trình tổ chức dạy học môn TD theo chủ đề đáp ứng và thiết kế chương trình các môn học theo hướng giảm tải phần bắt buộc, tăng phần tự chọn để đáp ứng nhu cầu và sở thích học tập của HS và đồng thời đổi mới PPDH theo hướng tích cực hóa. Quan điểm này thống nhất với quan niệm của Hồ Đắc Sơn, cho rằng: Xây dựng chương trình phải theo hướng có nhiều lựa chọn, đảm bảo chương trình có sức sống thật sự trong thực tiễn GD phổ thông. Nội dung chương trình phải theo hướng có sự thoát ly cần thiết đối với khuôn mẫu tổ chức giờ học chính khóa hiện nay, tạo cơ hội để đa dạng hóa hình thức tổ chức thực hiện môn học [74, tr 79]. Hình thức tổ chức dạy học trong giờ lên lớp là cách thức sắp xếp và tiến hành các buổi học. Nó thay đổi theo mục tiêu, nội dung, phương pháp. Mục đích cơ bản của tổ chức học tập chính là tổ chức tự học, nâng cao năng lực cho HS, rèn luyện kỹ năng tự học. Bản chất của hoạt động tổ chức học tập là tổ chức nhận thức tích cực, sáng tạo, chủ động cho HS, hình thành năng lực tự tổ chức, sắp xếp quá trình học tập phù hợp với điều kiện của bản thân người học dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo của các lực lượng giáo dục trong nhà trường. Tổ chức dạy học môn TD bằng dạy học tự chọn theo chủ đề đáp ứng ở trường THPT Đà Nẵng được xây dựng trên cơ sở ưu tiên hàng đầu tới mục tiêu dạy học, quyền lựa chọn nội dung chương trình, mô hình dạy học của GV trở thành một trong những quyền trong hoạt động sư phạm. Mục tiêu của chương trình là giúp cho HS yêu thích các hoạt động TDTT và tham gia học tập, tập luyện TDTT một cách tự giác, tích cực để phát triển thể lực, sức khỏe, đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo lứa tuổi và giới tính. Đồng thời chương trình trang bị cho HS những kiến thức, kỹ năng cơ bản về bài tập thể chất, các môn thể thao và phương pháp tập luyện môn thể thao ưa thích, hình thành thói quen tập luyện TDTT thường xuyên và nếp sống lành mạnh, tác phong nhanh nhẹn, kỷ luật, tinh thần tập thể và các phẩm chất đạo đức, ý chí. Chương trình thử nghiệm được xây dựng dựa trên các yêu cầu: - Lấy việc nâng cao sức khỏe, thể lực HS làm mục tiêu quan trọng nhất, xuyên suốt trong quá trình học tập ở THPT của HS. - Đảm bảo tính khoa học, sư phạm, liên thông, kết hợp truyền thống văn hóa dân tộc, tiếp thu có chọn lọc những thành tựu khoa học GDTC hiện đại; - Có tính khả thi, phù hợp với tâm, sinh lý lứa tuổi và giới tính, với sức khỏe, thể lực HS đồng thời định hướng cho việc nâng cao trình độ đội ngũ GV; tăng cường sân bãi, dụng cụ cho việc dạy và học môn TD. - Đảm bảo tính thống nhất của chương trình, đồng thời mở rộng quyền chủ động, sáng tạo của ngành GD thành phố Đà Nẵng. Chương trình môn TD đáp ứng được những yêu cầu về cơ sở vật chất, về văn hóa của thành phố Đà Nẵng đồng thời đáp ứng nhu cầu học tập môn thể thao theo sở thích của HS, thỏa mãn được sở trường, nguyện vọng của HS, giúp HS có điều kiện phát triển tiềm năng và năng khiếu thể thao, qua đó lựa chọn HS có khả năng tham gia các đội tuyển của trường tham gia thi đấu các giải thể thao HS, các HKPĐ. Một vấn đề khác được luận án quan tâm là trọng tâm CTMH TD sẽ là nội dung để hình thành các năng lực cho HS THPT. Với mục tiêu này HS sau khi rời ghế nhà trường có khả năng lựa chọn môn thể thao tiếp tục rèn luyện nâng cao, hướng đến rèn luyện thân thể suốt đời. Như vậy, kế hoạch dạy học theo chương trình đổi mới vẫn đảm bảo được những quan điểm xây dựng và phát triển chương trình, đồng thời có bổ sung thêm những quan điểm mới, trong đó việc giao quyền tự chọn nội dung học cho HS có thể nói là chiến lược dạy học dựa vào sự khác biệt cá nhân và nhóm người học. Đây là một hình thức của dạy học phân hóa, là phương thức dạy học dựa vào sự khác biệt của nhóm hay cá nhân người học nhằm làm chương trình bài giảng và quá trình dạy học thích ứng tốt hơn với những khác biệt này, nhờ vậy người học có thể đạt hiệu quả cao hơn [37]. Hướng nghiên cứu của luận án là sử dụng hình thức phân hóa nội dung và phạm vi học tập bằng cách học tập tự chọn, đồng thời phải đảm bảo có 2 phần: + Phần cứng: là phần bắt buộc mà HS nào cũng phải học. + Phần phân hóa: do người học chọn theo yêu cầu hoặc nhu cầu cá nhân. Nghiên cứu đổi mới nội dung, chương trình tự chọn môn học TD theo chủ đề đáp ứng là một trong các nội hàm quan trọng góp phần giải quyết chất lượng GDTC trong trường THPT của luận án. Nội dung này đã bám sát định hướng của Bộ GD&ĐT về đổi mới chương trình: “Thiết kế chương trình theo hướng tích hợp cao ở cấp tiểu học, phân hóa rõ dần từ tiểu học đến THCS và sâu hơn ở THPT. Giảm số lượng môn học bắt buộc trong mỗi cấp học và tăng các môn học, các chủ đề tự chọn đáp ứng nhu cầu, năng khiếu, định hướng nghề nghiệp của HS” [35, tr 18]. Đổi mới PPDH của GV theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin được xem là một biện pháp hỗ trợ để thực hiện giải pháp đổi mới nội dung chương trình môn TD theo chủ đề tự chọn đáp ứng. Đây là một phương pháp hữu hiệu của PPDH tích cực. PPDH tích cực là một thuật ngữ rút gọn để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. “Tích cực” ở đây được dùng với nghĩa là hoạt động chủ động chứ không dùng theo nghĩa trái với tiêu cực. PPDH tích cực hướng tới việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của HS. GV dạy học theo phương pháp tích cực phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp truyền thống. Để giảng dạy có hiệu quả, GV cần tập trung vào chương trình, mục tiêu bài giảng, sử dụng công nghệ hỗ trợ để cung cấp kiến thức cho HS, đồng thời thường xuyên kiểm tra kiến thức và năng lực thực hành của HS. Với lứa tuổi HS THPT đã có khả năng tìm tòi, độc lập giải quyết một số vấn đề nêu ra, tìm cách tự giải quyết vấn đề, vì vậy để đổi mới PPDH tích cực theo hướng ứng dụng công nghệ, cần phải thay đổi cả quan niệm, mục tiêu, nội dung và cách dạy. * Đổi mới quan niệm và xác định mục tiêu dạy học môn TD: Quan niệm cũ cho rằng dạy học là quá trình GV truyền đạt, học sinh tiếp thu. Đó là mục tiêu học tập chứ không phải mục tiêu dạy học. Mục tiêu cơ bản và chủ yếu của giờ học TD là tăng cường sức khỏe, thể lực cho HS. Do đó, xác định mục tiêu dạy học phải căn cứ vào chủ đề bài học, vào đặc điểm đối tượng và điều kiện dạy học để mục tiêu trở thành hiện thực sau khi kết thúc giờ dạy. Các nội dung của mục tiêu cần đạt được là kiến thức, khả năng và thái độ. Yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ được xác định trong mối quan hệ chặt chẽ, logic, đó là mối quan hệ giữa lý thuyết và thực hành, giữa ý thức trách nhiệm và tinh thần tự giác trong học tập. * Đổi mới nội dung dạy học hướng vào HS. Tài liệu dạy học TD không nhất thiết chỉ có từ sách giáo khoa, mà người học có thể tìm hiểu ở các nguồn thông tin khác nhau, có thể từ thư viện truyền thống đến thư viện điện tử; từ nguồn tài liệu giấy in đến thông tin trên mạng, GV cũng có thể soạn bài giảng điện tử và chuyển đến HS trước (qua thư điện tử - e.mail) hoặc khi lên lớp để SV có thể tự nghiên cứu, tập luyện để hoàn thiện bài học. Khi dạy học, giữa GV và HS cần có sự tương tác lẫn nhau, trao đổi mở rộng thêm kiến thức, tăng cường năng lực tư duy, sáng tạo của HS trong việc nắm bắt yếu lĩnh kỹ thuật động tác. * Đổi mới PPDH tích cực bằng sử dụng công nghệ thông tin: Có nhiều PPDH tích cực, trong đó phương pháp sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học được các nhà nghiên cứu GD đánh giá cao. Theo GS Đặng Hữu, công nghệ thông tin ngày càng trở thành nhân tố hàng đầu trong việc làm biến đổi xã hội. Khác với nhiều công nghệ khác, công nghệ thông tin phát triển, đi vào cuộc sống và lan tỏa đến mọi lĩnh vực, mọi người, mọi nơi rất nhanh, nhất là trong lĩnh vực GD. Công nghệ thông tin là một thành tố không thể thiếu trong dạy học hiện đại [47]. Hiện nay, phương tiện, thiết bị của công nghệ thông tin như máy tính điện tử, máy tính bảng, điện thoại thông minh đang tác động từng ngày, từng giờ đối với đời sống xã hội nói chung và HSSV nói riêng, nhất là HS vùng đô thị như ở Đà Nẵng. Người sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin ngày càng trẻ hóa, có xu hướng các đối tượng HS tiếp cận, thao tác và khai thác tính năng của các phương tiện công nghệ thông tin ngày càng tốt hơn những người trưởng thành, các bậc phụ huynh. Vì vậy, nếu sử dụng tốt các chức năng của các phương tiện này trong quá trình dạy học sẽ đem lại hiệu quả tích cực trong dạy học môn TD cho HS. Công nghệ thông tin có 4 chức năng quan trọng là sáng tạo, truyền tải thông tin, xử lý thông tin và lưu giữ thông tin. PPDH sử dụng công nghệ thông tin của luận án hướng tới việc giúp GV sáng tạo trong dạy học môn TD bằng cách khai thác các phần mềm có mã nguồn mở, các bài tập kỹ thuật bằng phim ảnh, hình ảnh động, các video có các bài tập TDTT từ các nguồn có sẵn để thiết kế các bài giảng điện tử, hỗ trợ dạy học trực quan để giúp HS tiếp thu động tác học mới một cách hiệu quả. Đồng thời, GV (và HS) có thể ghi lại và lưu trữ thông tin bài giảng, các kỹ thuật động tác của HS, củng cố và khai thác kiến thức, kỹ năng của HS để HS có thể vận dụng phát hiện, phân tích những sai lầm và có biện pháp sửa chữa, giải quyết nhiệm vụ vận động trong những tình huống khác nhau. Nhờ sự phát triển của công nghệ thông tin, hầu hết các trường đại học và trung học trên thế giới cũng như ở Việt Nam đều đã ứng dụng và đổi mới đáng kể trong dạy học. Những thông tin, tri thức trên mạng đã trở thành “không khí”, “bầu khí quyển” trong các trường học, cho cả người dạy và người học. Theo nghiên cứu của GS.Đặng Hữu: “Số GV sử dụng công nghệ thông tin ngày càng đông đảo với các chương trình giảng dạy, bài giảng, bài kiểm tra. Số người được học tập, đào tạo bằng công nghệ thông tin ngày một nhiều”[49, tr. 151]. Trong GDTC cho HS bậc THPT, muốn dạy học hiệu quả thì không thể đứng ngoài trào lưu này. Song song với sử dụng phương tiện hiện đại, GV cần sử dụng một cách hợp lý các hình thức dạy học truyền thống như phân tích kỹ thuật kết hợp làm mẫu động tác, cho HS làm mẫu tạo điều kiện để học sinh tăng cường hoạt động, phát huy tính tích cực, sáng tạo để lĩnh hội nội dung học, hình thành kỹ năng (kỹ thuật động tác và khả năng vận dụng kiến thức). GV cũng có thể tìm kiếm và cung cấp cho HS địa chỉ của các trang web hướng dẫn kỹ thuật thể thao liên quan đến bài học, môn học, hướng dẫn cho HS tìm kiếm, khai thác các nguồn thông tin liên quan đến nội dung chương trình học tập, tạo điều kiện cho HS tự tập, tự tìm hiểu giải quyết nhiệm vụ được giao, điều đó sẽ có tác dụng kích thích sự hứng thú học tập của HS. Mục tiêu cần đạt được là làm sao cho HS tiếp thu bài giảng tốt nhất với thời gian ngắn nhất, đồng thời phải tăng được mật độ động của từng buổi học, lựa chọn và sử dụng đa dạng, linh hoạt các hình thức dạy học, phù hợp với đặc điểm HS và điều kiện dạy học, nhằm tăng cường lượng vận động tập luyện cho từng HS trong các giờ học. Vì vậy, đổi mới PPDH tích cực bằng ứng dụng công nghệ thông tin chỉ có thể thực hiện thành công khi người GV đảm bảo hiệu quả việc thực hiện tối đa giờ dạy chính khóa theo chương trình, tăng cường các hình thức học tập ngoại khóa, giao bài tập về nhà, có biện pháp đối đãi cá biệt với HS yếu. Tổ chức hoạt động trong giờ học phải theo nguyên tắc trước hết và chủ yếu tập trung vào HS để HS được làm việc nhiều hơn, tích cực hơn; hoạt động của GV chủ yếu là tổ chức, điều hành lớp học, giải thích, trình bày thật ngắn gọn. 3.3.6.3. Hiệu quả của tổ chức dạy học tự chọn theo chủ đề đáp ứng: GDTC không chỉ là môn học, mà là một hoạt động GD rất cần thiết nhằm góp phần đào tạo HSSV thành con người mới phát triển toàn diện. Người làm công tác TDTT nói chung và GV TD nói riêng phải có trách nhiệm tăng cường tuyên truyền để mọi người nhận thức đúng tầm quan trọng của TDTT trường học. Kết quả thực nghiệm của luận án đã làm rõ tính tất yếu và hiệu quả cao trong việc vận dụng hợp lý nội dung, phương pháp giảng dạy trên cơ sở có đưa vào hệ thống các tiết học, các giờ học thể dục tự chọn theo chủ đề đáp ứng cho HS THPT ở thành phố Đà Nẵng. Đây là cơ sở tạo tiền đề để góp phần nâng cao chất lượng GDTC trong nhà trường THPT. Những kết quả của luận án cho phép lạc quan nhìn về tương lai để khắc phục được hàng loạt những khó khăn về phương pháp và những mâu thuẫn trong quá trình GDTC, mà trong những điều kiện khác không có khả năng giải quyết. Kết quả thực nghiệm đã đạt được như mục tiêu đề ra là góp phần phát triển thể chất và nâng cao học lực môn học TD cho HS THPT, tạo điều kiện để các em hứng thú, có động cơ học tập đúng đắn và có thể sử dụng thành thạo các kỹ thuật cơ bản của môn thể thao yêu thích để hướng tới tập luyện TDTT thường xuyên và suốt đời. Tóm lại, điểm mới của luận án là đổi mới nội dung, chương trình môn TD theo chủ đề tự chọn nhằm phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của HS. Đồng thời, đổi mới PPDH tích cực theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin là một khâu quan trọng của quá trình dạy học ở các trường THPT. 3.3.6.4. Mô hình CLB các môn thể thao tự chọn theo sở thích cá nhân mang tính chất XHH ở trường THPT Đà Nẵng. Cơ sở lý luận và thực tiễn trong xây dựng mô hình CLB TDTT trường học. Qua nghiên cứu, luận án đã có được một cách nhìn tổng quát về tình hình HĐTT của các trường THPT ở Đà Nẵng. Về chủ trương thực hiện, hầu hết các trường THPT ở Đà Nẵng đã có những biện pháp khuyến khích tổ chức các hình thức HĐTT ngoại khóa trong nhà trường, đặc biệt là hình thức CLB thể thao, nhưng trong thực tiễn mục tiêu chủ yếu và trước hết là kiến thức văn hóa, còn môn học hoạt động TDTT, nhất là hoạt động thể thao ngoại khóa, đang bị xem nhẹ. Như những nơi khác, việc tổ chức ngoại khóa và thi đấu thể thao trong các trường THPT ở Đà Nẵng phải đối mặt với những thực tiễn khó khăn về đất đai dành cho TDTT, về nhận thức của cán bộ quản lý GD, của phụ huynh và HS. Trước hết về nhận thức, hầu hết các trường học muốn tổ chức ngoại khóa TDTT thường khó duy trì hoạt động trước bối cảnh chương trình học tập quá tải; chế độ, chính sách, kinh phí dành cho TDTT trường học hạn hẹp; các quy định về TDTT trường học còn nhiều bất cập trong thực tế. Vì vậy, tuy các trường THPT ở Đà Nẵng có tổ chức thi đấu thể thao, thành lập các đội thể thao nhưng chỉ tồn tại trong thời gian ngắn chủ yếu để tham gia HKPĐ. Một số trường THPT cho người ngoài thuê, mượn sân sau giờ học văn hóa để tổ chức dạy các môn Võ, tập Cầu lông, Dưỡng sinh... Các HĐTT ngoại khóa khác hầu như không được quan tâm, chưa có hình thức HS tập luyện ngoại khóa theo lớp, tổ HS có sự hướng dẫn của GV TD; việc thành lập CLB thể thao hoạt động theo quy chế hầu như không thực hiện trong các trường. Quy chế GDTC trường học và Quy định về tổ chức hoạt động thể thao ngoại khóa cho HSSV đề ra nhiều hình thức ngoại khóa TDTT, trong đó việc xây dựng các mô hình CLB thể thao trong nhà trường có vị trí đặc biệt trong công tác TDTT trường học. Tuy nhiên, nhiệm vụ này chưa được quan tâm đúng mức trong các trường THPT ở Đà Nẵng, kết quả đạt được rất hạn chế. Căn cứ để xây dựng các CLB TDTT cơ sở trước đây là Quyết định số 1589 của Ủy ban TDTT về “Quy chế tổ chức và hoạt động CLB TDTT ở cơ sở”, chủ yếu là xây dựng các CLB TDTT ở xã, phường, thị trấn. Quy chế này ít được biết đến trong các cơ sở GD&ĐT [109]. Thông tư số 18 Quy định mẫu về tổ chức và hoạt động của CLB TDTT cơ sở của Bộ VH,TT&DL năm 2011 đã khắc phục được hạn chế này. Tổ chức CLB TDTT trong trường học đã được đề cập ở điều 2, mục 1. Đồng thời, quy định này có tính chất là quy định mẫu nhằm tạo điều kiện để các nhà trường vận dụng phù hợp với thực tiễn hoạt động ngoại khóa TDTT [22]. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ HS THPT Đà Nẵng tham gia các hoạt động ngoại khóa thể thao chỉ hơn 9,0%, thấp hơn HS THPT ở Ninh Bình (11-12%) theo kết quả nghiên cứu của Đặng Hồng Phương [71] và chưa bằng ½ số người tập luyện TDTT thường xuyên trong cả nước (23%) [92]. Tuy các trường THPT ở Đà Nẵng có các hoạt động ngoại khóa thể thao như lập các đội tuyển, tổ chức các cuộc thi đấu, tham gia HKPĐ nhưng nhìn chung hoạt động này vẫn tồn tại hạn chế và đối mặt với thực tiễn khó khăn. Một là tuy đã có chủ trương, quy định về xây dựng CLB thể thao trường học nhưng hầu như không có trường THPT nào ở Đà Nẵng có CLB thể thao đúng nghĩa. Hai là do nội dung học tập của HS nặng; chế độ, chính sách, kinh phí... hạn hẹp để thực hiện các hoạt động ngoại khóa thể thao (ví dụ như không có trường THPT nào ở Đà Nẵng thực hiện kiểm tra, đánh giá thể lực HS theo Quyết định 53 của Bộ GD&ĐT vì không có kinh phí thực hiện) [77]. Ba là công tác XHH thể thao trong trường THPT ở Đà Nẵng tuy đã được đưa vào Đề án của UBND Đà Nẵng, nhưng chưa được triển khai thực hiện sâu rộng trong TDTT trường học. Ngoài một số trường (Trần Phú, Nguyễn Trãi..) cho một số cá nhân thuê mượn sân bãi mở các lớp Võ thuật, Cầu lông, các mô hình CLB thể thao cho HS chưa được các tổ môn TD và GV TD chú trọng. Công tác XHH là một chủ trương lớn của Đảng và nhà nước, đã được triển khai và đi vào đời sống xã hội. Các chính sách về XHH TDTT đã tạo ra môi trường thích ứng để phát triển các loại hình tập luyện TDTT và công tác XHH GD&ĐT đã được Chính phủ chỉ đạo đẩy mạnh với những chính sách khuyến khích về đất đai, về cơ sở hạ tầng, về cơ chế là điều kiện thuận lợi để phát triển các loại hình hoạt động ngoại khóa TDTT theo hướng XHH cho HS [90][91]. Sự phân tích trên đã cho thấy yêu cầu cần thử nghiệm giải pháp mô hình CLB các môn thể thao tự chọn theo sở thích cá nhân mang tính chất XHH ở trường THPT Đà Nẵng để phát huy các thế mạnh về năng lực GV, điều kiện cơ sở vật chất của từng trường, thu hút sự đóng góp của cộng đồng (gia đình và HS), qua đó làm cơ sở nhân rộng kết quả này cho các trường THPT ở Đà Nẵng. Phương thức tổ chức mô hình CLB TDTT trường học. Có thể nói hình thức hoạt động CLB thể thao trong nhà trường không phải là vấn đề mới. Việc vận dụng các văn bản và ứng dụng trong thực tiễn cũng đã có nhiều trường phổ thông trong cả nước thực hiện tuy mỗi nơi một khác. Nghiên cứu trong lĩnh vực này, luận án của Cấn Văn Nghĩa về xây dựng CLB TDTT trong trường phổ thông của tỉnh Hà Tây trước đây đã vận dụng Quy chế tổ chức và hoạt động của CLB TDTT cơ sở của Ủy ban TDTT với mục đích là thành lập mới hoặc chấn chỉnh các CLB TDTT đã có theo yêu cầu về tổ chức bộ máy có quy chế, điều lệ khung đơn giản để điều hành và hoạt động theo tinh thần XHH phù hợp với đặc điểm của mỗi trường [69]. Nghiên cứu này chưa thiết lập một mô hình cụ thể nào về hoạt động CLB TDTT trong nhà trường. Ngoài ra, còn có một số công trình khác, chỉ đề cập chung chung đến hoạt động CLB thể thao trường học, hầu như chưa có công trình nghiên cứu cụ thể và sâu hơn vấn đề này ở các trường THPT. Trên cơ sở tìm hiểu các văn bản và thực tiễn nghiên cứu, luận án tập trung xây dựng các vấn đề cơ bản: như quy chế hoạt động của CLB, về công tác nhân sự, về nội dung, hình thức hoạt động và phương thức tổ chức. Về quy chế tổ chức, luận án đã vận dụng quy chế mẫu của Bộ VHTT &DL trên cơ sở phù hợp với điều kiện thực tiễn của hệ thống trường THPT ở Đà Nẵng. Về công tác nhân sự, một số vị trí chủ chốt của Ban chủ nhiệm CLB được chỉ định nhằm phát huy trách nhiệm của Ban giám hiệm, vai trò chuyên môn (tổ TD) và trách nhiệm xã hội (Đoàn thanh niên). Ngoài ra, các vị trí ủy viên được giới thiệu bầu chọn, trong đó có đại diện hội cha mẹ HS nhằm phát huy trách nhiệm và thế mạnh của Hội trong tổ chức các hoạt động ngoại khóa trong nhà trường. Về nội dung hoạt động của CLB, có 2 hình thức chủ yếu là các môn thể thao tự chọn và các lớp học theo sở thích nhằm phát huy năng lực và kiến thức chuyên sâu của GV TD, nhu cầu và điều kiện tập luyện của HS, điều kiện cơ sở vật chất TDTT trong nhà trường. Qua đó góp phần phát hiện các năng khiếu thể thao, bồi dưỡng và tham gia các đội tuyển thi đấu trong các giải thể thao HS, HKPĐ. Về phương thức hoạt động, mô hình CLB thể thao kết hợp giữa gia đình và nhà trường, nhà trường và xã hội theo hình thức XHH nhằm huy động nguồn lực của xã hội (như đóng góp kinh phí, tự trang bị dụng cụ thể thao tập luyện) để đẩy mạnh phát triển phong trào TDTT trong nhà trường. Hiệu quả thử nghiệm mô hình CLB TDTT trường THPT Đà Nẵng. Qua thực hiện thử nghiệm xây dựng CLB TDTT ở một số trường THPT Đà Nẵng, luận án rút ra được một vài kinh nghiệm quan trọng. Một là, nhận thức của tập thể GV và HS về công tác TDTT trường học được nâng lên, nhìn nhận thể thao ngoại khóa là nội dung quan trọng, hỗ trợ cho chương trình dạy học TD nội khóa, góp phần nâng cao thể chất HS. HĐTT ngoại khóa làm cho không khí trường học thêm sôi nổi, lành mạnh và có HS sẵn sàng tham gia các giải thể thao do cấp trên tổ chức và thành tích thể thao đạt được ngày càng cao, có tác dụng cổ vũ phong trào. Hai là, trường học là nơi có điều kiện và lợi thế rất lớn trong việc phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu thể thao ban đầu. Xây dựng thành công quy mô tổ chức CLB TDTT trong trường phổ thông là giá trị có ý nghĩa đối với xu thế phát triển TDTT trong nhà trường nói riêng và công tác TDTT nói chung hiện nay. Ba là, về kết quả rèn luyện và phát triển thể chất của HS. Các HS sinh hoạt trong các đội nhóm và lớp học thể thao đều được kiểm tra y tế và thể lực trước khi tham gia và sau 1 năm sinh hoạt (tập luyện). Qua theo dõi các phiếu đánh giá thể lực và sử dụng phương pháp so sánh tự đối chiếu, cho thấy HS tham gia tập luyện trong CLB đều có thể lực tốt hơn hẳn, có thể khẳng định việc tập luyện thường xuyên trong CLB đã có tác động rõ rệt trong việc nâng cao thể lực người tập. Tuy luận án không nghiên cứu so sánh kết quả thể lực của HS tham gia CLB với thể lực của HS khác (vì điều kiện thực hiện khác nhau) nhưng kết quả thu được cho thấy hầu hết các HS tham gia thể thao ngoại khóa có tổ chức chặt chẽ tại CLB đều có chuyển biến thể lực và năng lực thể thao tốt hơn hẳn so với HS chỉ học tập theo chương trình quy định, các chỉ số thể chất cũng tốt hơn so với HS cùng lứa tuổi toàn quốc năm 2001 [113]. Qua thử nghiệm cũng cho thấy các trường THPT có hình thức hoạt động CLB không chỉ hỗ trợ hiệu quả chương trình dạy học nội khóa TD mà còn là cơ sở tuyển chọn HS có năng khiếu thể thao ban đầu và tham gia các HKPĐ đạt thành tích tốt. Kết quả nghiên cứu về ý thức tập luyện sinh hoạt CLB của HS cũng phù hợp với nhận định của các công trình khoa học trong những năm gần đây của Viện khoa học TDTT và các trường đại học TDTT, đó là: HS luyện tập thể thao ngoại khóa không chỉ về nâng cao năng lực thể chất mà còn tiến bộ rõ rệt về tổ chức kỷ luật, đạo đức tạo nên một môi trường học đường lành mạnh [69],[71],[80]. Mặt khác, kết quả nghiên cứu đã xác định việc xây dựng CLB Thể thao trong trường THPT ở Đà Nẵng khá thuận lợi bởi Đà Nẵng đã hội tụ đầy đủ các yếu tố về cơ sở vật chất như sân bãi, dụng cụ phục vụ dạy học và hoạt động thể thao, đội ngũ GV chuyên trách nhiệt tình, say mê nghề nghiệp, sự quan tâm tích cực của lãnh đạo, cán bộ GV nhà trường. Các yếu tố tiềm năng sẵn có trong nhà trường có vai trò quan trọng trong phát triển CLB TDTT trường học. Những phân tích trên là thực tiễn cơ bản nhất làm cơ sở để tuyên truyền, khuyến khích các trường xây dựng mô hình CLB TDTT. CLB TDTT trường học là một tổ chức TDTT trong trường, đích thực là nền tảng nâng cao hiệu quả GDTC và tăng cường thể lực cho HS. Trong xu thế và tâm lý xã hội hiện nay, không dễ thu hút HS tập thể thao trước các nhu cầu và nhiệm vụ học văn hóa, học ngoại ngữ và tin học, trước sức hút của các trò chơi mang tính công nghệ như games online. Vì vậy, CLB TDTT với các hình thức đội nhóm và lớp học thể thao theo nhu cầu được tổ chức hoạt động hiệu quả sẽ là thực tiễn tuyên truyền hiệu quả, thu hút được nhiều phụ huynh và HS ủng hộ. Kinh nghiệm của Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh và một số địa phương khác về thể thao thành tích cao cũng đã xác định muốn tìm kiếm và đào tạo VĐV năng khiếu thể thao, tài năng thể thao, cần phải hướng công tác tuyển chọn thể thao về trường học. Vì vậy, vai trò CLB TDTT trong trường phổ thông phát triển rộng rãi sẽ tạo ra nhiều cơ hội để tuyển chọn năng khiếu đào tạo VĐV, phát triển phong trào TDTT quần chúng cũng như thể thao thành tích cao. Tuy mô hình CLB mới được thử nghiệm ở 03 trường và thực hiện ở 2 hình thức hoạt động, song đã làm sáng tỏ được một số vấn đề cơ bản về thực tiễn hoạt động CLB thể thao trong trường phổ thông, giúp luận án có được những kinh nghiệm hữu ích để hoàn thiện và đề xuất nhân rộng mô hình này trong các trường THPT ở Đà Nẵng nói riêng và các địa phương có điều kiện tương tự nói chung. Một số kinh nghiệm được rút ra từ kết quả thử nghiệm là: Nhận thức của GV và phụ huynh về lợi ích của tập luyện và ngoại khóa thể thao trong nhà trường được thay đổi, quan tâm hơn đến công tác GDTC trường học, hỗ trợ cho công tác GDTC chính khóa hữu hiệu hơn. Bên cạnh các CLB đội nhóm tình nguyện của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh nhà trường, mô hình CLB TDTT giúp cho không khí và phong trào ngoại khóa trường học thêm phong phú, sôi nổi và lành mạnh, tạo điều kiện và lợi thế trong việc hỗ trợ ngành TDTT Đà Nẵng phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu thể thao. Mặt khác, cũng hỗ trợ được một phần kinh phí để cải thiện đời sống GV TD và đầu tư lại cơ sở vật chất thể thao trong nhà trường. Tóm lại, kết quả thử nghiệm các giải pháp cho thấy công tác TDTT trường học ở các trường THPT Đà Nẵng đã có sự chuyển biến rất tích cực cả về nhận thức, chất lượng GDTC và HĐTT. Kết quả kiểm tra thể lực HS cũng đã khẳng định ý nghĩa thành công của việc xây dựng mô hình CLB thể thao trong trường THPT, có giá trị tinh thần và thể chất đáng kể đối với bản thân cá nhân người học, thúc đẩy phát triển phong trào TDTT trong nhà trường phổ thông. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ KẾT LUẬN: Từ những kết quả nghiên cứu của luận án rút ra một số kết luận như sau: 1. Các trường THPT ở Đà Nẵng có nhiều yếu tố thuận lợi trong GDTC và HĐTT trường học, thể hiện qua các mặt: Đội ngũ GV TD có trình độ chuyên môn tốt (hơn 95% thạc sỹ và đại học TDTT), đạt chuẩn về nghề nghiệp, tuổi đời trẻ (thâm niên công tác bình quân 9,67 năm). Cơ sở vật chất TDTT được quan tâm đầu tư xây dựng khá tốt, đủ điều kiện để tổ chức dạy học môn TD và tổ chức hoạt động ngoại khóa thể thao. Động cơ, hứng thú với TDTT và nhu cầu tập luyện thể thao của HS cao, đa đạng với 20 môn thể thao khác nhau. 2. Công tác GDTC và HĐTT trường THPT còn hạn chế, thể hiện ở: Thái độ và hành vi học tập chính khóa môn TD của HS chưa tốt. HĐTT ngoại khóa ít, hình thức đơn điệu chủ yếu tập trung cho hoạt động HKPĐ, không đáp ứng nhu cầu tập luyện thể thao đa dạng của HS. Kết quả rèn luyện thể chất HS THPT phát triển tương đương với các chỉ số hình thái và thể lực của người Việt Nam cùng lứa tuổi ở điểm 2001. Một số thành tích có chỉ số tốt hơn nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê, với p > 0,05. 3. Qua nghiên cứu, luận án đã lựa chọn 05 giải pháp nâng cao hiệu quả GDTC và HĐTT trong trường THPT ở Đà Nẵng là: (1) Đổi mới nội dung, chương trình môn TD theo hướng tăng giờ tự chọn. (2) Đổi mới hoạt động dạy học nội khóa TD tự chọn theo chủ đề đáp ứng. (3) Xây dựng mô hình CLB TDTT trường học theo hướng XHH. (4) Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất TDTT trong nhà trường. (5) Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vai trò, giá trị của TDTT trường học trong đời sống. Trong đó 2 giải pháp được lựa chọn thực nghiệm trong dạy học GDTC và HĐTT trường THPT ở Đà Nẵng đã đạt được hiệu quả, cụ thể: Giải pháp thiết kế nội dung CTGD phổ thông môn TD mới, thay đổi phương thức tự chọn theo chủ đề, đổi mới PPDH môn TD của GV theo hướng ứng dụng công nghệ đã nâng cao chất lượng dạy học môn TD chính khóa cho HS THPT. Điều đó thể hiện ở thái độ, kết quả học tập và kết quả kiểm tra thể lực của HS NĐC tốt hơn NTN, độ tin cậy ở ngưỡng p < 0.05. Thái độ học tập của HS có chuyển biến tích cực, các em thực sự tự giác, tích cực tập luyện ở trên lớp và hoàn thành bài tập về nhà, tự nguyện tham gia các hoạt động ngoại khóa. Kết quả tăng trưởng và xếp loại thể lực sau thực nghiệm đã chứng minh giải pháp thực nghiệm đã có tác dụng tích cực, thúc đẩy quá trình phát triển thể chất của NTN tốt hơn và toàn diện hơn so với NĐC. Giải pháp xây dựng mô hình CLB TDTT theo hướng XHH trong nhà trường THPT đã phát huy hiệu quả tính tích cực trong HĐTT ngoại khóa cho HS, số môn thể thao được mở rộng ở 2 hình thức đội nhóm thể thao (9 môn) và lớp học thể thao tự chọn (5 môn), số người tập luyện TDTT được tăng lên (1.069 người và 804 người/tháng, tổng lượt tham gia thực hiện 21.840 lượt/năm). Thái độ tập luyện và thể lực của HS tham gia CLB cũng tăng lên rõ rệt. KIẾN NGHỊ: 1. Có thể sử dụng kết quả đánh giá thực trạng công tác GDTC và HĐTT trường THPT ở Đà Nẵng như một cơ sở dữ liệu tham chiếu có giá trị trong công tác nghiên cứu GD lĩnh vực TDTT trường học trên phạm vi cả nước. 2. Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được các trường đại học TDTT, các trường đại học sư phạm TDTT, ngành TDTT và ngành GD&ĐT tiếp tục nghiên cứu sâu hơn để ứng dụng cho tất cả các trường THPT trong phạm vi cả nước với tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện công tác GDTC trong nhà trường./.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxluan_an_danh_gia_thuc_trang_va_giai_phap_nang_cao_hieu_qua_g.docx
  • docbia.doc
  • docxbia_tom_tat.docx
  • docDanh muc -viettac.doc
  • docMUCLUC.doc
  • docPhulucNCS.doc
  • doctomtatluananvu_hoanchinh_16_6_2014.doc
  • docTrang_thong_tin_LA_vu.doc
Tài liệu liên quan