Luận án Nâng cao trình độ tư duy chiến lược cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ HẢI YẾN NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ TƯ DUY CHIẾN LƯỢC CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO Ở NƯỚC TA HIỆN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ HÀ NỘI - 2019 HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ HẢI YẾN NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ TƯ DUY CHIẾN LƯỢC CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO Ở NƯỚC TA HIỆN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ

pdf166 trang | Chia sẻ: huong20 | Ngày: 15/01/2022 | Lượt xem: 87 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Luận án Nâng cao trình độ tư duy chiến lược cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Ử Mã số: 62 22 03 02 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS. LÊ HỮU NGHĨA HÀ NỘI - 2019 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định. Tác giả Nguyễn Thị Hải Yến MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 5 1.1. Những công trình nghiên cứu về tư duy và tư duy chiến lược 5 1.2. Những công trình nghiên cứu về trình độ tư duy, tư duy chiến lược của đội ngũ cán bộ lãnh đạo 9 1.3. Những công trình về giải pháp nâng cao trình độ tư duy chiến lược cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo 13 1.4. Giá trị của các công trình nghiên cứu đã tổng quan và những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu 20 Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TƯ DUY CHIẾN LƯỢC VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA CÁN BỘ LÃNH ĐẠO 24 2.1. Tư duy và tư duy chiến lược 24 2.2. Vai trò của tư duy chiến lược đối với cán bộ lãnh đạo 41 2.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao trình độ tư duy chiến lược 47 Chương 3: NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ TƯ DUY CHIẾN LƯỢC CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO Ở NƯỚC TA HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 76 3.1. Nâng cao trình độ tư duy chiến lược cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo nước ta hiện nay - thực trạng và nguyên nhân 76 3.2. Những yêu cầu đặt ra đối với việc nâng cao trình độ tư duy chiến lược cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo nước ta 106 Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ TƯ DUY CHIẾN LƯỢC CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO Ở NƯỚC TA TRONG TÌNH HÌNH MỚI HIỆN NAY 126 4.1. Đổi mới công tác lựa chọn, tuyển dụng đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp đáp ứng nhu cầu nâng cao trình độ tư duy chiến lược 126 4.2. Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo theo hướng rèn luyện tư duy chiến lược 129 4.3. Tăng cường công tác thông tin đối ngoại và khoa học dự báo cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo 143 4.4. Phát huy nhân tố chủ quan của đội ngũ cán bộ lãnh đạo 146 KẾT LUẬN 151 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ 153 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 154 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Một quốc gia hưng thịnh hay suy vong, điều đó phụ thuộc đáng kể vào đường lối lãnh đạo, vào tầng lớp tinh hoa của quốc gia đó có tìm được phương thức đúng đắn để chấn hưng đất nước, thực sự vì dân, vì nước hay không. Đường lối lãnh đạo, chất lượng của tầng lớp tinh hoa ở mỗi quốc gia lại phụ thuộc đáng kể vào trình độ tư duy chiến lược của họ - những người cán bộ lãnh đạo. Khi bàn về vai trò của cán bộ trong sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi "cán bộ là cái gốc của mọi công việc, công việc thành công hay thất bại là do cán bộ tốt hay kém" [67, tr.240]. Có thể nói rằng không một lĩnh vực, một nội dung, nhiệm vụ nào của sự nghiệp cách mạng lại không cần đến đội ngũ cán bộ lãnh đạo - những người đi đầu trong việc tham mưu, đề xuất và lãnh đạo tổ chức thực hiện các nghị quyết, chủ trương của Đảng. Để cán bộ lãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, đòi hỏi phải có những tố chất ưu trội cả về mặt trình độ tư duy và hành động. Tư duy con người có nhiều cấp độ khác nhau, người cán bộ lãnh đạo dù ở cương vị nào không thể chỉ có tư duy thông thường mà cần phải có tư duy chiến lược. Tư duy chiến lược là yêu cầu cần thiết đối với người cán bộ lãnh đạo. Tư duy chiến lược định hướng cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người. Có tư duy chiến lược sẽ giúp cho chủ thể có tầm nhìn xa trông rộng, sớm phát hiện được các tín hiệu của sự thay đổi, của bước ngoặt, kịp thời phát hiện cái mới hợp quy luật, do vậy, dự báo được các tình huống có thể xảy ra. Trên cơ sở những phán đoán, những dự báo đó, chủ thể chủ động đề ra các phương án dự phòng cho những tình huống bất lợi, những kết quả không mong muốn có khả năng xảy đến, khắc phục tầm nhìn hạn hẹp. Trước những biến đổi nhanh chóng, phức tạp của tình hình thế giới với nhiều thời cơ, nhưng cũng nhiều thách thức thì người nào có được tư duy chiến lược đúng, vạch ra được những chủ trương, chính sách phát triển mang tầm chiến lược sẽ là người chiến 2 thắng. Tư duy chiến lược là cần thiết cho bản thân mỗi người cán bộ lãnh đạo, bởi họ là những người trực tiếp hoặc góp phần xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách trong phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại và là người tổ chức thực hiện. Tuy có vai trò quan trọng đối với người cán bộ lãnh đạo như vậy, nhưng trình độ tư duy chiến lược trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo của nước ta hiện nay còn những hạn chế, bất cập. Những hạn chế đó được bộc lộ ra khi có những quyết sách, quyết định, chủ trương chưa thể hiện được tầm nhìn xa, trông rộng; công tác dự báo, định hướng còn chưa phù hợp với thực tiễn, còn rơi vào tình trạng bị động đối phó. Điều đó khiến những kế hoạch của đất nước và các địa phương chưa mang tính dài hạn, tổng thể, trên thực tiễn ở những chủ trương thiếu tính dự báo dễ dẫn đến tình trạng chắp vá, tùy tiện, gây tác hại tới phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của địa phương. Vì vậy, đòi hỏi phải nâng cao hơn nữa trình độ tư duy chiến lược cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta, nhằm đáp ứng một cách có hiệu quả và thành công đối với sự nghiệp đổi mới trong bối cảnh tình hình quốc tế và khu vực với những biến đổi phức tạp, nhanh chóng, khó lường hiện nay. Với ý nghĩa đó, nghiên cứu sinh chọn vấn đề: “Nâng cao trình độ tư duy chiến lược cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cho luận án tiến sĩ của mình. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích Trên cơ sở phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận về tư duy chiến lược và thực trạng trình độ tư duy chiến lược của đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay, luận án đề xuất một số giải pháp chủ yếu góp phần nâng cao trình độ tư duy chiến lược cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta, đáp ứng những yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ mới. 3 2.2. Nhiệm vụ - Tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án - Phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận về tư duy chiến lược; tầm quan trọng của nâng cao trình độ tư duy chiến lược đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo nước ta hiện nay; những nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao trình độ tư duy chiến lược cho cán bộ lãnh đạo; thực chất của việc nâng cao trình độ tư duy chiến lược. - Phân tích thực trạng, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra đối với việc nâng cao trình độ tư duy chiến lược cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay. - Đề xuất một số giải pháp chủ yếu góp phần nâng cao trình độ tư duy chiến lược cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Luận án nghiên cứu việc nâng cao trình độ tư duy chiến lược cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu của luận án là đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp nói chung ở nước ta, tập trung vào thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến nay). 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4.1. Cơ sở lý luận Luận án dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về tư duy, vai trò của tư duy chiến lược, về cán bộ và vai trò của cán bộ lãnh đạo. 4.2. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp luận: Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. - Phương pháp cụ thể: Kết hợp phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, lịch sử và logic, phương pháp liên ngành, phương pháp hệ thống - cấu trúc, so sánh, phỏng vấn. 4 5. Đóng góp mới của luận án - Bước đầu đưa ra khái niệm tư duy chiến lược ở mức độ khái quát, tạo cơ sở, tiền đề cho việc nghiên cứu tư duy chiến lược trên từng đối tượng cán bộ, lãnh đạo cụ thể của từng cấp, từng ngành, từng lĩnh vực. - Đề xuất một số giải pháp chủ yếu góp phần nâng cao trình độ tư duy chiến lược, hình thành và phát triển một phương pháp tư duy cần thiết cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay nhằm đáp ứng công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế. 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo về tư duy chiến lược cho công tác nghiên cứu, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong các trường Đảng, trường Chính trị, Cao đẳng, Đại học cũng như trong công tác lãnh đạo của các cấp ủy Đảng. 7. Kết cấu của luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình khoa học của tác giả có liên quan đến luận án đã được công bố và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án gồm 4 chương, 13 tiết. 5 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TƯ DUY VÀ TƯ DUY CHIẾN LƯỢC Tư duy và tư duy lý luận là những vấn đề đã được quan tâm nghiên cứu khá sớm trong lịch sử triết học từ thời cổ đại đến triết học cổ điển Đức, nhất là triết học Mác - Lênin. Đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố, ở đó tập trung làm rõ khái niệm tư duy, tư duy lý luận, vai trò của tư duy lý luận trong quá trình lãnh đạo của đội ngũ cán bộ chủ chốt ở nước ta được đề cập trên những bình diện khác nhau. Trong tác phẩm Đổi mới phong cách tư duy [16], thông qua việc phân tích những đặc điểm tư duy truyền thống với những ưu điểm và cả những hạn chế của nó, tác giả Phạm Như Cương khẳng định cần kiên trì quan điểm cho rằng trong đổi mới phong cách tư duy phải phát huy và phát triển phong cách tư duy biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin và của tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong tác phẩm Học tập phong cách tư duy Hồ Chí Minh [81], tác giả Trần Văn Phòng với nhiều bài viết khác nhau xoay quanh bàn về phong cách tư duy Hồ Chí Minh, từ nguồn gốc tới những đặc trưng và giá trị của chúng đã làm nổi bật phong cách tư duy đặc biệt ở Người. Chính những nét đặc sắc trong phong cách tư duy Hồ Chí Minh đã giúp Người vận dụng sáng tạo và thành công chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng nước ta; làm rõ những đặc trưng phong cách tư duy Hồ Chí Minh góp phần khắc phục những căn bệnh kinh nghiệm, giáo điều, duy ý chí - những căn bệnh cản trở tầm nhìn xa trông rộng đối với người cán bộ lãnh đạo. Qua đó góp phần từng bước xây dựng phong cách tư duy khoa học, nâng cao trình độ tư duy lý luận, là những tiền đề không thể thiếu để hình thành tư duy chiến lược. Nguyễn Trọng Chuẩn với Nửa thế kỷ nghiên cứu và giảng dạy triết học ở Việt Nam [11], đã tổng quan các hướng nghiên cứu về tư duy, bao gồm nghiên cứu cơ bản về các mặt nhận thức luận, phương pháp luận, lôgíc học và nghiên 6 cứu ứng dụng, tập trung vào chủ đề thực trạng, nguyên nhân, giải pháp khắc phục tình trạng lạc hậu của tư duy lý luận ở nước ta, tình trạng chính trị hóa tư duy lý luận. Theo tác giả, lôgíc học là khoa học về tư duy, do vậy, nó cần phải được giảng dạy trong tất cả các trường đại học. Có như vậy mới mới góp phần nâng cao trình độ tư duy khoa học của đội ngũ cán bộ trong tương lai. Trong cuốn “Những vấn đề lý luận đặt ra từ các văn kiện Đại hội IX của Đảng” [12], hai tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn và Đặng Hữu Toàn bàn đến đặc điểm tư duy của con người Việt Nam. Đặc biệt, đối với “những người có chức, có quyền phải trau dồi đạo đức của người cộng sản”, nỗ lực phấn đấu nâng cao năng lực trí tuệ để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đối với Tổ quốc. Tác giả Vũ Khoan với tác phẩm “Tư duy chiến lược và khoa học lãnh đạo, quản lý - những thành tựu nghiên cứu trên thế giới và sự tham khảo, vận dụng cho Việt Nam” [46], đề cập đến sự ra đời của khoa học lãnh đạo, quản lý đã hình thành từ lâu đời. Trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu về khoa học lãnh đạo, quản lý. Tư duy chiến lược là một trong những nội dung quan trọng không thể thiếu trong tư duy người làm lãnh đạo, quản lý. Việt Nam hiện nay, cùng với sự vận động, phát triển của thế giới, đứng trước những cơ hội và thách thức cần nghiên cứu và học hỏi một cách đầy đủ và nghiêm túc về tư duy chiến lược, về khoa học lãnh đạo, quản lý nhằm vạch ra những đường hướng phát triển đúng đắn và hiệu quả cho đất nước. Tác giả Nguyễn Ngọc Long với “Năng lực tư duy lý luận trong quá trình đổi mới tư duy” [57], phân tích về năng lực tư duy lý luận và vai trò của nó trong đổi mới tư duy, thông qua việc nâng cao năng lực tư duy là sự ảnh hưởng đến hiệu quả công việc thực tế. Đất nước ta bắt đầu bước vào thời kỳ đổi mới, tiến lên xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì việc nâng cao năng lực tư duy lý luận có ý nghĩa rất quan trọng đối với các chủ thể kinh tế trong việc đưa ra những định hướng, chiến lược phát triển của mình. Bài viết “Bàn về năng lực tư duy” [101], tác giả Hồ Bá Thâm đề cập một số nội dung quan trọng về tư duy. Bài viết cũng phân tích một cách chi tiết và khoa học như khái niệm tư duy, các quan điểm khác nhau khi bàn về tư duy, sự 7 ảnh hưởng của tư duy đối với hoạt động thực tiễn. Tác phẩm là tài liệu quan trọng cho việc nghiên cứu và nâng cao năng lực tư duy lý luận. Với bài viết “Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của năng lực trí tuệ và lý luận” [44], tác giả Trần Đình Huỳnh, đề cập đến tư tưởng của Hồ Chí Minh về vai trò của trí tuệ, về lý luận đối với thực tiễn; nhấn mạnh công tác lý luận luôn phải gắn liền với thực tiễn. Bài viết cho thấy Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng đến vai trò của trí tuệ. Sau cách mạng Tháng Tám thành công, Người chủ trương xóa nạn mù chữ để tiêu diệt giặc dốt; bồi dưỡng tri thức lý luận khoa học để con người hiểu và nắm bắt được các quy luật khách quan; bồi dưỡng tri thức khoa học - kỹ thuật để con người nâng cao sự hiểu biết về tự nhiên, xã hội, chuyên môn nghiệp vụ; tạo điều kiện để con người tiếp thu, làm chủ khoa học - kỹ thuật, công nghệ hiện đại. Về vai trò của lý luận đối với thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhấn mạnh: trong hoạt động thực tiễn, bất cứ làm việc gì muốn thành công phải có lý luận dẫn đường. Tuy nhiên, Người có một nguyên tắc nhất quán trong học tập, nghiên cứu, vận dụng lý luận, đó là lý luận phải gắn liền với thực tiễn, lý luận bắt nguồn từ sự khái quát thực tiễn. Người căn dặn, lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học phải đi đôi với hành, lý luận phải được vận dụng vào thực tiễn một cách sáng tạo; phải chú trọng tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận, thực tiễn phải là cơ sở, động lực cho quá trình nhận thức và cho lý luận. Tác giả Nguyễn Đức Quyền trong bài “Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở nước ta hiện nay” [90], thông qua nghiên cứu của mình đã chỉ ra năng lực tư duy lý luận là một vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu lý luận quan tâm trong quá trình đổi mới tư duy ở nước ta thời gian qua. Mỗi công trình nghiên cứu làm rõ hơn về tư duy lý luận, khai thác và bổ sung thêm vai trò, sự cần thiết của tư duy l ý luận; trên cơ sở đó đề ra những giải pháp khác nhau nhằm nâng cao năng lực và trình độ của tư duy lý luận. Tác giả Nguyễn Đức Quyền cho rằng: năng lực tư duy lý luận là khả năng tư duy về những vấn đề chung, tổng thể, toàn vẹn, nắm bắt đối tượng trong tính chỉnh thể của sự tồn tại, vận động và phát triển. Năng lực tư duy lý luận là khả năng tư duy 8 khoa học, sáng tạo trong sử dụng các khái niệm, phạm trù nhằm đem lại những tri thức mới mang tính chính xác, sâu sắc, chặt chẽ, lôgíc và có hệ thống, phù hợp với quy luật khách quan của hiện thực, qua các khâu phân tích, so sánh, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá. Với đặc tính khoa học của mình, năng lực tư duy lý luận tốt có sức mạnh đưa lý luận vào cuộc sống, làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận trừu tượng, cụ thể hoá lý luận thành mục tiêu, phương hướng, giải pháp khả thi để giải quyết các vấn đề của cuộc sống một cách có hiệu quả. Qua công trình nghiên cứu này, tác giả đi tới khẳng định vai trò quan trọng không thể thiếu của tư duy lý luận đối với người cán bộ chủ chốt cấp huyện, có giá trị định hướng cho hoạt động nhận thức, hoạt động thực tiễn của họ. Tác giả Thái Ninh, thông qua “Mấy ý kiến về đổi mới tư duy lý luận” [78], đã đề cập đến thực trạng đất nước, những đòi hỏi trong tình hình mới và những yêu cầu đặt ra đòi hỏi phải đổi mới tư duy lý luận; đề xuất một số yêu cầu cần đạt để đổi mới tư duy lý luận. Đổi mới tư duy lý luận trong sự nghiệp đổi mới đất nước nói chung và trong công tác xây dựng Đảng làm cho toàn Đảng trở thành một Đảng trí tuệ, có trình độ và năng lực lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đồng thời khắc phục độ trễ của lý luận để lý luận thực sự giữ vai trò chỉ đạo thực tiễn một cách hiện quả. Tư duy chiến lược cũng được nghiên cứu, trao đổi trong các diễn đàn, trong các cuộc hội thảo khoa học với những quy mô của những tổ chức khác nhau. Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, tháng 6/2008 đã tổ chức cuộc hội thảo với nội dung “Phát triển tư duy chiến lược cho các nhà lãnh đạo khu vực công”. Tại hội thảo này đã thảo luận và làm rõ tầm quan trọng của tư duy chiến lược trong lãnh đạo chính trị và khu vực công; nêu ra những vấn đề lý thuyết cơ bản về tư duy chiến lược; những ứng dụng của tư duy chiến lược trong lãnh đạo; các phương pháp và biện pháp tăng cường tư duy chiến lược cho các nhà lãnh đạo. Với những mục tiêu như vậy, tại hội thảo, bản chất và các đặc điểm cơ bản dưới góc độ tiếp cận trong cung cấp dịch vụ công của tư duy chiến lược đã được tiếp cận và phân tích, vai trò của tư duy được khẳng định và làm rõ. 9 Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu khác nhau liên quan đến việc đổi mới trong tổ chức, quản lý, xây dựng kế hoạch, những mô hình phát triển trong tương lai ở những lĩnh vực khác nhau tuy không trực tiếp nghiên cứu về tư duy, tư duy lý luận, tư duy chiến lược nhưng cũng có đề cập đến ở góc độ vai trò, tầm quan trọng của nó. 1.2. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TRÌNH ĐỘ TƯ DUY, TƯ DUY CHIẾN LƯỢC CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO Thông qua những công trình nghiên cứu về tư duy, tư duy lý luận, tư duy chiến lược của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, ngoài việc làm rõ vấn đề tư duy nói chung, còn đề cập đến năng lực, trình độ tư duy, thực trạng của tư duy của đội ngũ cán bộ lãnh đạo từ đó đưa ra giải pháp nâng cao trình độ tư duy, tư duy lý luận, tư duy chiến lược cho đội ngũ cán bộ, lãnh đạo. Với bài viết “Thực trạng tư duy lý luận của lãnh đạo quản lý nước ta hiện nay trong quá trình học tập phong cách tư duy Hồ Chí Minh” trong cuốn Học tập phong cách tư duy Hồ Chí Minh [81], tác giả Nguyễn Thế Kiệt chỉ ra thực tế những năm qua cho thấy, cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta đã năng động triển khai nghị quyết của Trung ương cũng như tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, góp phần khuyến nghị với Trung ương kịp thời bổ sung, phát triển lý luận và chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tuy nhiên, trong thực tế nhiều cán bộ lãnh đạo quản lý vẫn còn trông chờ sự chỉ đạo của Trung ương, chưa mạnh dạn đề xuất những biện pháp sáng tạo, phù hợp với tình hình cụ thể ở địa phương. Vì thế, nhiều vấn đề nảy sinh từ thực tế chưa được giải quyết kịp thời khiến họ lúng túng, bị động. Trong khi đó, sự nghiệp đổi mới của đất nước đòi hỏi phải kịp thời tổng kết thực tiễn, đề xuất được những giải pháp góp phần chỉ đạo hoạt động thực tiễn. Cuốn sách “Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng ta từ năm 1986 đến nay” [92] của nhóm tác giả Tô Huy Rứa và các cộng sự là tài liệu tham khảo một cách có hệ thống về quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ Đại hội VI đến nay, góp phần vào việc tổng kết lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và 10 con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trước thềm Đại hội Đảng lần thứ IX năm 2001. Từ việc tổng kết thực tiễn 20 năm đổi mới, chúng ta thấy rõ không ít vấn đề thực tiễn đặt ra mà lý luận chưa giải quyết một cách thoả đáng, còn xa với nhu cầu thực tiễn đổi mới. Bên cạnh những thành tựu nổi bật đã đạt được vẫn còn sự bất cập trong tư duy và hành động, vẫn còn sự suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, tệ quan liêu, tham nhũng vẫn còn là quốc nạn. Cuốn sách “5 đương đại” [96], là công trình tập hợp các bài viết của các học giả Trung Quốc, tập trung vào năm vấn đề lớn, trong đó có hai vấn đề liên quan trực tiếp đến tư duy chiến lược, đó là: - Bồi dưỡng tư duy chiến lược; - Mở rộng tầm nhìn thế giới là yêu cầu cán bộ lãnh đạo, quản lý nỗ lực quan sát, nắm bắt sâu sắc thực trạng và xu hướng cơ bản của sự phát triển thế giới đương đại. Cuốn sách Tư duy chiến lược và khoa học mới: Lập kế hoạch giữa tình thế hỗn độn, phức tạp và thay đổi của tác giả T. Irene Sanders do Chu Tiến Ánh dịch [94] viết về những câu chuyện của chính tác giả trên con đường tìm kiếm nhận thức của mình đối với một lĩnh vực hoạt động hết sức quan trọng là tư duy chiến lược và lập kế hoạch cho dự án phát triển trong các lĩnh vực kinh doanh, kinh tế và xã hội. Tác giả Bruce và Andy với tác phẩm Tư duy chiến lược [8], được Lê Ngọc Phương Anh tổng hợp và biên dịch bàn về chiến lược kinh tế trên cơ sở lập kế hoạch chiến lược và triển khai chiến lược. Có tư duy chiến lược ở đây là có khả năng hoạt động dài hạn trong khi vẫn phát huy tối đa năng lực hoạt động trong ngắn hạn là điều bắt buộc đối với các nhà quản lý. Tư duy chiến lược sẽ giúp vạch ra con đường dẫn đến thành công, và xây dựng cho khả năng phân tích và hoạch định tổng thể. Tất cả các khía cạnh quan trọng trong quá trình phát triển và triển khai chiến lược - từ việc nghiên cứu và thu nhập những thông tin cơ sở để hình thành một chiến lược mới cho đến việc đánh giá và điều chỉnh thích nghi đều sẽ được giải thích thật rõ ràng. Ở tác phẩm tổng hợp 11 những lời khuyên thiết thực nhất, cùng với những câu hỏi để tự đánh giá hiệu quả công việc. Tác phẩm Tư duy chiến lược - Công cụ sắc bén trong chính trị, kinh doanh và đời thường của hai tác giả Avinat Đixit và Beri NênBăp [1] đã đưa ra một số phương pháp, kỹ thuật tính toán lựa chọn các giải pháp tối ưu cho những tình huống điển hình ở những khâu khác nhau trong lĩnh vực hoạt động kinh tế thông qua rất nhiều những câu chuyện, phát triển các phương pháp suy nghĩ, đưa ra những chỉ dẫn chiến lược hữu hiệu. Nói cách khác, thông qua những câu chuyện để chỉ ra những bài học về phương pháp tư duy, phát triển cách tư duy chiến lược. Tác giả Lê Hữu Nghĩa với bài viết “Một số căn bệnh trong phương pháp tư duy của cán bộ ta” [71] đề cập đến bệnh giáo điều và bệnh kinh nghiệm trong tư duy của cán bộ nước ta. Bệnh giáo điều là khuynh hướng tư tưởng, hành động tuyệt đối hoá vai trò lý luận, coi nhẹ thực tiễn, tách rời lý luận khỏi thực tiễn, thiếu quan điểm lịch sử cụ thể. Bệnh kinh nghiệm là khuynh hướng tư tưởng tuyệt đối hoá kinh nghiệm, coi thường lý luận khoa học. Bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều tuy có liên quan tới chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa giáo điều nhưng dưới góc độ nhận thức lý luận, nguyên nhân trực tiếp và chủ yếu là do sự yếu kém về lý luận không nắm được tinh thần khoa học của đường lối, chủ trương, chính sách. Sự yếu kém về nhận thức như vậy dĩ nhiên sẽ không tránh được bệnh kinh nghiệm. Tuy nhiên, sự yếu kém về nhận thức không chỉ dẫn đến bệnh kinh nghiệm mà còn dẫn đến bệnh giáo điều. Chính vì vậy, để khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều, phương hướng quan trọng hàng đầu là phải nâng cao trình độ lý luận, trình độ hiểu biết về đường lối, chủ trương, chính sách của cán bộ nói chung. Trong bài viết “Bồi dưỡng tư duy chiến lược cho cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay” [83], tác giả Trần Văn Phòng đề cập rõ nhất về tư duy chiến lược, những đặc điểm cũng như yêu cầu để có được tư duy chiến lược đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay. Ở bài viết này, tác giả cũng đưa ra khái niệm và một số đặc trưng về tư duy chiến lược; sự cần thiết phải có tư duy chiến lược ở đội ngũ cán bộ lãnh đạo đất nước ta hiện nay. 12 Tác giả Trần Văn Phòng trong bài viết “Năng lực tư duy lý luận với hoạt động của đội ngũ cán bộ quản lý, lãnh đạo cấp huyện người dân tộc thiểu số” [82], đề cập đến vai trò của tư duy lý luận, thực trạng năng lực tư duy lý luận của cán bộ quản lý, lãnh đạo cấp huyện người dân tộc thiểu số - những mặt mạnh và hạn chế, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ này. Bên cạnh đặc trưng chung của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện, người cán bộ lãnh đạo dân tộc thiểu số cũng có những đặc thù riêng. Tuy nhiên, họ là những người đứng đầu, trực tiếp lãnh đạo, quản lý triển khai thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời, chịu trách nhiệm đề ra và tổ chức thực hiện các chủ trương, chương trình kế hoạch phát triển của đơn vị và địa phương mình phụ trách. Với trọng trách như thế, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện phải có năng lực tư duy thích ứng mới có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Tuy vậy, năng lực tư duy của một bộ phận trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp huyện người dân tộc thiểu số vẫn còn những hạn chế như: trình độ tư duy còn thấp; trong công tác lãnh đạo còn nhiều biểu hiện của bệnh giáo điều; công tác dự đoán, dự báo tình hình chưa theo kịp thực tế; việc nắm bắt, xử lý thông tin thiếu kịp thời; trong chỉ đạo, còn biểu hiện của bệnh chủ quan, duy ý chí, còn dựa vào kinh nghiệm trực quan, sự tùy tiện trong công tác tổ chức thực tiễn. Trên cơ sở đó đề ra một số giải pháp chủ yếu để khắc phục những hạn chế và nâng cao trình độ tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ này, góp phần phát triển đất nước. Bài viết “Hội nhập quốc tế và yêu cầu về tư duy chiến lược của người lãnh đạo hiện nay” [84] của tác giả Trần Văn Phòng khẳng định, tư duy chiến lược đóng vai trò hết sức quan trọng mang tính quyết định trong hoạt động của người lãnh đạo, nhất là trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Bài viết đưa ra những yếu tố hình thành tư duy chiến lược của người lãnh đạo, gồm: tố chất bẩm sinh của người lãnh đạo; tri thức qua học tập, rèn luyện; môi trường kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội; hoạt động của người lãnh đạo. Tác giả còn chỉ ra một số nội dung chủ yếu của tư duy chiến lược: tư duy chiến lược toàn cầu cho hành động quốc gia; tư duy chiến lược về quản trị xã hội; tư duy chiến lược 13 về giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; tư duy chiến lược về mô hình phát triển của quốc gia, dân tộc. Từ đó bài viết đi tới khẳng định, muốn bồi dưỡng tư duy chiến lược của người lãnh đạo Việt Nam hiện nay cần tính tới các nhân tố tác động và người lãnh đạo cần chủ động: học tập, trau dồi phương pháp biện chứng duy vật; rèn luyện năng lực tư duy chiến lược thông qua thực tiễn hoạt động lãnh đạo; nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ khoa học và công nghệ hiện đại; tăng cường rèn luyện đạo đức cách mạng; dân chủ trong hoạt động lãnh đạo. Tại “Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới” [27], Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương, Ban Chỉ đạo tổng kết, đã trình bày một cách đầy đủ và hệ thống bối cảnh quốc tế và trong nước trong chặng đường đổi mới 30 năm qua; chỉ ra những thành tựu, hạn chế cũng như nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế đó; nhấn mạnh những nội dung cần tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, tầm nhìn tới 2030. Qua khảo sát tình hình nghiên cứu cho thấy đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về tư duy, tư duy lý luận và cũng đã có công trình đề cập đến vấn đề bồi dưỡng tư duy chiến lược cho cán bộ lãnh đạo quản lý ở nước ta hiện nay. Tư duy chiến lược ngày càng được quan tâm nghiên cứu trong bối cảnh hiện nay trên phạm vi toàn cầu do đòi hỏi sự phát triển của nhân loại. Việc bồi dưỡng, nâng cao trình độ tư duy chiến lược là quan trọng, thiết thực, đặc biệt với đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp. Tuy nhiên, chưa có công trình nào tập trung đi sâu nghiên cứu về vấn đề: Nâng cao trình độ tư duy chiến lược cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay. Đây là vấn đề cần được triển khai nghiên cứu và đưa ra những đề xuất hữu ích. 1.3. NHỮNG CÔNG TRÌNH VỀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ TƯ DUY CHIẾN LƯỢC CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO Với việc tư duy chiến lược ngày càng được chú trọng quan tâm, đi sâu nghiên cứu thì những giải pháp nhằm bồi dưỡng, nâng cao năng lực, trình độ tư duy chiến lược đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo cũng được các tác giả của những công trình nghiên cứu đề cập đến. 14 Các tác giả Trung Quốc Thái Kiến Ba, Chu Minh và Vĩ Học Cơ “Một số vấn đề cán bộ lãnh đạo cần chú ý nắm bắt khi bồi dưỡng tố chất tư duy chiến lược” [3], Tạp chí Diễn đàn Công đoàn, kỳ thứ 3, quyển thứ 9 (Phan Huy Quang dịch) đưa ra quan điểm của mình về tư duy chiến lược và những đặc trưng cần có để có được tố chất tư duy chiến lược. Người cán bộ lãnh đạo cần phải có được tư duy chiến lược, phải tự giác bồi dưỡng tố chất tư duy chiến lược. Những nội dung cần chú trọng để bồi dưỡng tố chất tư duy chiến lược được các tác giả nêu ra ở đây là: vấn đề thế giới quan, chú ý vấn đề hiện thực, chú trọng vấn đề phương pháp. Bài viết cũng đưa ra một số phương pháp để bồi dưỡng tư duy chiến lược: tầm nhìn cần rộng mở, nhãn quan phải thấu tỏ, nhãn quan cần nhìn xa trông rộng, nhãn quan cần vượt trước. Hoàng Chí Bảo, trong bài viết “Năng lực lãnh đạo chiến lược - quan niệm, vấn đề và giải pháp” [4], đã chỉ ra đối tượng lãnh đạo chiến lược, những yêu cầu đối với đội ngũ này và từ đó đề ra một số giải pháp để xây dựng đội ngũ lãnh đạo chiến lược trong tình hình hiện nay. Theo đó, lãnh đạo chiến lược được chỉ ra là lãnh đạo ở tầm vĩ mô, quốc gia, tổng thể và chỉnh thể. Lãnh đạo chiến lược là lãnh đạo việc soạn thảo đường lối, hoạch định chiến lược và chính sách có quan hệ tới phát triển chung hay phát triển từng lĩnh vực trong phát triển quốc gia, trong đối nội và đối ngoại. Lãnh đạo chi...c, là mục đích của tư duy. Trên cơ sở phép biện chứng 28 duy vật, xét những duy luật xã hội đã được khái quát thì khi những điều kiện và hoạt động thực tiễn còn ở trình độ thấp thì tương ứng với nó là cấp độ tư duy ở trình độ thấp. Khi hoạt động thực tiễn đạt đến trình độ cao hơn, cùng với những điều kiện của thực tiễn phát triển thì trình độ tư duy cũng theo đó được nâng lên. Tùy thuộc vào việc xem xét, nhìn nhận mà có thể chia ra những kiểu tư duy khác nhau. Nếu xét theo trình độ, có thể chia thành tư duy kinh nghiệm và tư duy lý luận; xét theo tầm nhìn, có thể chia thành tư duy sách lược và tư duy chiến lược Tư duy kinh nghiệm là một trình độ tư duy của con người, đã thể hiện năng lực trừu tượng hóa nhưng ở trình độ thấp. Với tư duy kinh nghiệm, người ta cũng có thể rút ra những kết luận tương đối chính xác về sự vật, hiện tượng, nhưng đó chỉ là sự vật, hiện tượng riêng lẻ mà chưa khái quát lên được mối liên hệ bản chất, tất yếu của các sự vật, hiện tượng. Ở tư duy kinh nghiệm, các phương pháp và thao tác lôgíc được hình thành một cách tự phát, dựa trên những nếp nghĩ quen thuộc, dựa trên những tri thức kinh nghiệm. Do tính khoa học của tư duy kinh nghiệm còn ở mức độ thấp nên nó phản ánh bản chất sự vật, hiện tượng ở cấp độ chưa thực sự sâu sắc, việc chỉ ra những quy luật cũng chỉ mang tính kinh nghiệm, yếu tố dự báo với độ tin cậy chưa cao. Tư duy lý luận là một trình độ tư duy của con người, xét về trình độ phản ánh thì nó phản ánh sâu sắc bản chất của sự vật, hiện tượng. Nó đi sâu phản ánh các thuộc tính, mối liên hệ có tính bản chất, tất yếu, tính quy luật của đối tượng. Bởi thế, tư duy lý luận có khả năng nhìn nhận, đánh giá, phê phán sâu sắc và triệt để vấn đề mà nó phản ánh; có khả năng dự báo khoa học về xu hướng vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng. Ở tư duy lý luận, các phương pháp được hình thành dựa trên những tri thức lý luận, được chủ thể nhận thức, sử dụng một cách chủ động, tự giác. Tư duy lý luận là tư duy được hình thành trên cơ sở khái quát tri thức kinh nghiệm nhờ sức mạnh của sự trừu tượng hoá và khái quát hoá của tư duy. Tư duy lý luận, xét về bản chất đối lập với tư duy kinh nghiệm. Tư duy lý luận là tư duy mang tính gián tiếp và khái quát hoá cao do nó đã qua rất nhiều bước trung 29 gian hoá, trừu tượng hoá. Tri thức lý luận có khả năng phản ánh được hiện thực ở mặt bản chất, trong những mối liên hệ bên trong mang tính qui luật. Tư duy lý luận là tri thức được hệ thống hoá nên nó đem lại cái nhìn mang tính chỉnh thể bao quát, đầy đủ và toàn vẹn về đối tượng phản ánh. Bằng tư duy lý luận, chủ thể có thể chỉ ra được bản chất bên trong của chính sự vật, hiện tượng. Tư duy lý luận đã giúp cho nhận thức của con người trở thành nhận thức lý luận đích thực khi nhận thức ấy thông qua biểu hiện vận động bề ngoài mà suy luận được sự vận động bên trong, những đặc điểm bản chất của những hiện tượng đó. Với những đặc điểm đó tư duy lý luận không những chỉ ra những phương hướng mới cho hoạt động thực tiễn của con người, mà còn làm cho hoạt động đó mang tính chủ động, tự giác và sáng tạo. Tư duy lý luận không chỉ là tư duy bằng tri thức lý luận, mà còn là tư duy bằng phương pháp khoa học. Lý luận chứa đựng trong nó khả năng trở thành phương pháp, nhưng bản thân lý luận tự nó chưa phải là phương pháp. Lý luận là tri thức, nguyên lý, qui luật, nhưng phương pháp lại là hệ thống những nguyên tắc, được rút ra từ tri thức về các quy luật khách quan, tri thức lý luận để điều chỉnh hoạt động nhận thức và hoạt động thực tieenc của con người nhằm đạt mục tiêu đề ra. Bằng lối tư duy kinh nghiệm, các phương pháp và các thao tác lôgíc được hình thành một cách tự phát, dựa trên những nếp nghĩ quen thuộc hoặc dựa trên những tri thức kinh nghiệm. Ngược lại, đối với tư duy lý luận, các phương pháp được hình thành dựa trên những tri thức lý luận và được nhận thức, sử dụng một cách chủ động, tự giác, kết quả của quá trình tư duy đó là những thành quả trong thực tiễn đã được hình dung trước. Từ những đặc trưng trên có thể hiểu, tư duy lý luận khoa học là tư duy ở cấp độ nhận thức cao của con người, có vai trò quan trọng trong nhận thức và chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người; được thực hiện dựa trên nguyên tắc phương pháp luận biện chứng duy vật và các thao tác tư duy lôgic để nắm bắt các mối liên hệ mang tính bản chất, tìm ra các quy luật vận động nội tại tiềm ẩn trong khách thể nhận thức, từ đó có thể tạo ra những mô hình lý luận phù hợp 30 với hiện thực khách quan chỉ đạo thực tiễn ngày càng có hiệu quả. Tuy vậy, do những đặc điểm của mình, tư duy lý luận có mặt hạn chế là dễ thoát ly thực tế, dễ rơi vào tư biện. Tư duy lý luận và tư duy chiến lược có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Để đạt được những mục tiêu khác nhau tùy vào mục đích xác định, trên cơ sở nền tảng của trình độ tư duy lý luận, người lãnh đạo xây dựng các kế hoạch, phương thức để đạt được những mục tiêu, trong đó có những kế hoạch ngắn hạn trước mắt, có kế hoạch dài hạn; có những nội dung có thể linh hoạt tùy vào hoàn cảnh cụ thể, cũng có những nội dung phải kiên định; thực hiện những sách lược và chiến lược phù hợp. Sách lược là những kế sách, chiến thuật nhằm đạt đến mục tiêu chiến lược theo lập trường đã định. Sách lược có thể “co giãn”, “mềm dẻo”, “linh hoạt”, “uyển chuyển” tùy từng hoàn cảnh cụ thể nhằm đạt mục tiêu đã xây dựng, là phương thức, cách thức và thời điểm để thực hiện chiến lược. Như vậy tư duy sách lược có nghĩa là tư duy về những quyết định cụ thể cho những hành động trong mục tiêu trước mắt, mục tiêu gần, thực hiện những mắt khâu trong chiến lược. Tư duy chiến lược là một bước phát triển quan trọng trong quá trình tư duy của con người. Ngày nay, trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, để có sự phát triển tối ưu đều cần tư duy ở tầm chiến lược. Đặc biệt đối với nước ta đang cần những bước đi dài, đi tắt, đón đầu để bắt kịp sự phát triển của thế giới lại càng đòi hỏi phải có tư duy chiến lược, nhất là trong bối cảnh tình hình quốc tế biến đổi nhanh chóng, phức tạp, khó lường như hiện nay. 2.1.2. Khái niệm tư duy chiến lược Chiến lược và chiến thuật là hai thuật ngữ xuất phát từ nghệ thuật quân sự, nó thường gắn với mưu lược, kế sách. Chiến lược là phương cách để chiến thắng một cuộc chiến tranh. Ngày nay đó là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các lĩnh vực khác nhau. Đối với lĩnh vực quân sự, nếu không có chiến lược đúng sẽ không thể chiến thắng. Điều khác biệt giữa việc có chiến lược hay không có chiến lược là ở chỗ: 31 Người không có chiến lược đánh trận nào chỉ biết trận đó. Họ có thể chiến thắng trong nhiều trận đánh lớn, nhưng không có ý niệm về diễn biến và chiều hướng, phản ứng một cách thụ động trước các diễn biến của cuộc chiến. Người không có chiến lược sẽ không nắm được các cơ hội, không lường trước được các tình huống có khả năng sẽ xảy đến và do vậy thường không phải là người chiến thắng cuối cùng. Người có chiến lược biết lường trước về trận chiến. Họ chú tâm vào diễn biến và chiều hướng của cuộc chiến, biết tích lũy và phát triển lực lượng, huy động các nguồn lực, chiếm lĩnh và bảo vệ những vị trí trọng yếu. Người chiến thắng cuối cùng thường là một trong số những người có chiến lược tốt nhất. Ngày nay thuật ngữ chiến lược được sử dụng một cách rộng rãi cho nhiều các lĩnh vực, nhiều cách xem xét khác nhau. Phạm vi rộng, hẹp về không gian không phải là một đặc điểm chủ yếu của chiến lược. Không có một cái ngưỡng về phạm vi phải đạt tới thì mới được coi là chiến lược. Có thể có chiến lược toàn cầu, chiến lược quốc gia, chiến lược trong từng lĩnh vực, cũng có thể có chiến lược gia đình, chiến lược cá nhân từng người. Có thể có chiến lược đối ngoại, chiến lược kinh tế, chiến lược bảo vệ Tổ quốc... Trong các đối tượng cụ thể hơn trong từng lĩnh vực có thể có chiến lược nhân sự, chiến lược kinh doanh, chiến lược sản phẩm Bản chất của chiến lược là cực kỳ quan trọng, nó quyết định cả mục đích, phương châm và biện pháp để đạt mục tiêu; song, bản chất các chiến lược rất khác nhau, phải xét từng trường hợp cụ thể. Chiến lược cần thiết không chỉ với những người có tham vọng là người chiến thắng cuối cùng, hay là những ai mạnh, mà cần thiết với bất cứ ai. Đặc biệt, đối với những người giữ vai trò lãnh đạo, để đưa đến sự phát triển, lớn mạnh thì không thể thiếu một chiến lược. Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về chiến lược, nguyên nhân cơ bản có sự khác nhau đó là do các phương pháp tiếp cận khác nhau và thường gắn với tổ chức hay lĩnh vực công việc cụ thể. Các định nghĩa đó đều giải thích theo nghĩa chiến lược quân sự hay chiến lược kinh doanh, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược ngành, chiến lược địa phương... 32 Theo Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Chiến lược cách mạng là phương châm và kế hoạch có tính chất toàn cục, xác định mục tiêu chủ yếu và sự sắp xếp lực lượng trong suốt một thời kỳ của cuộc đấu tranh xã hội, chính trị” [79, tr.157]. Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Chiến lược là nghệ thuật xác định mục tiêu, sắp xếp, quy tụ lực lượng, đề ra giải pháp nhằm đạt tới một mục đích nhất định bằng con đường có lợi nhất tạo ra trạng thái phát triển mới của một lĩnh vực” [42, tr.1024]. Theo cách hiểu thông thường: Chiến lược là một từ có nguồn gốc từ lĩnh vực quân sự, đó là phương cách để chiến thắng trong một cuộc chiến tranh; đó là chương trình, kế hoạch hành động được thiết kế, hoạch định nhằm đạt được một mục tiêu cụ thể, là tổ hợp các mục tiêu dài hạn, trong đó bao gồm cả các biện pháp, các cách thức, con đường đạt đến mục tiêu đó. Gọi là chiến lược khi trong đó chứa đựng cả ba yếu tố: xác định chính xác mục tiêu cần đạt; xác định con đường hay phương thức để đạt mục tiêu; định hướng, phân bổ nguồn lực để đạt được mục tiêu đã lựa chọn. Như vậy, theo định nghĩa này thì nhiệm vụ của chiến lược là tìm ra phương thức sử dụng các nguồn lực có hạn của tổ chức để đạt được mục tiêu một cách hiệu quả nhất. Giữa chiến lược và sách lược có mối liên hệ với nhau, chúng đều được hành động với sự chính xác để giành được mục tiêu cụ thể. Tuy nhiên, chúng có những điểm khác nhau căn bản. Về mặt quy mô, chiến lược đặt ra mục tiêu to lớn, còn sách lược thì có giới hạn; về phạm vi hoạt động, chiến lược ở mức rộng lớn và tổng thể còn sách lược có điểm tập trung cụ thể; chiến lược tuy cũng cần phải linh hoạt nhưng không thay đổi quá nhanh còn sách lược thì linh hoạt và nhanh chóng. Với nhiệm vụ chiến lược, một kế hoạch được bắt đầu với việc đưa ra viễn cảnh tương lai nhưng phải đưa ra được những bước đi chính xác tới mục tiêu, do đó nó phải được thiết lập một cách cẩn thận bởi trong thời gian dài, mọi thứ đều có thể có rất nhiều biến đổi. Như trên đã nêu, có rất nhiều định nghĩa về chiến lược, nhưng có thể khái quát lại rằng: “Chiến lược là định hướng cơ bản về mục tiêu lâu dài. Ở đó chứa đựng nội dung, phương thức để hoạch định, sắp xếp, chuẩn bị lực lượng, đề ra 33 giải pháp đạt được mục tiêu lâu dài ấy bằng con đường hiệu quả nhất, tạo ra trạng thái phát triển mới của một lĩnh vực, nhiều lĩnh vực khác nhau trong thời kỳ nhất định”. Cần chú ý đó là những mục tiêu dài hạn nhằm thực hiện một hoặc một loạt các hoạt động cho sự phát triển. Vậy tư duy chiến lược là gì? Như đã biết, trong quá trình tồn tại của mình, ở con người luôn diễn ra hai loại hoạt động đó là hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn. Ngày nay, ở bất cứ lĩnh vực hoạt động nào cũng cần thiết phải nhìn nhận, suy tính một cách chiến lược. Tính chiến lược được thể hiện ra thông qua sự hoạch định, việc xây dựng những kế hoạch mang tính dài hạn, có những sự tính toán trước cho những bước đi cụ thể trong tương lai nhằm đạt tới một mục tiêu nhất định. Theo đó, tính chiến lược này được hiểu là chiến lược trong hoạt động thực tiễn. Tư duy chiến lược được xác định là hoạt động của tư duy, hoạt động này sẽ diễn ra trước chiến lược trong thực tiễn một bước, cần có tư duy chiến lược tốt mới có được chiến lược trong thực tiễn đúng đắn, hiệu quả. Tư duy chiến lược thể hiện ở khả năng nhìn ra tính toàn cục, tầm nhìn xa, trông rộng, tầm nhìn có tính sáng tạo, tính vượt trước về những đối tượng mà nó phản ánh. Xa và rộng ở đây bao hàm cả không gian và thời gian vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng trong thực tế tồn tại của nó. Tư duy chiến lược là quá trình nhận thức lý tính về đối tượng, là một sức nhìn, tầm nhìn, nhưng không phải là cái nhìn thông thường của mắt, mà là cái “nhìn” của tư duy, trí tuệ, có khả năng đi sâu vào bản chất, tìm ra quy luật vận động của nó để đi đến lựa chọn sự tác động đạt kết quả tốt nhất. Tư duy chiến lược. Khi chủ thể có được tư duy chiến lược là có khả năng hiểu sát tình hình, xác định đúng mục đích, có tính sáng tạo cao của tư duy, từ đó phát hiện sớm những tín hiệu báo trước sự thay đổi hay những mầm mống của cái mới, để đạt đến mục tiêu với hiệu quả cao. Tư duy chiến lược được thể hiện ở tầm nhìn sâu về lịch sử, nhìn đúng về hiện tại, nhìn rõ về tương lai, từ đó lựa chọn chính xác điểm cốt lõi, cơ bản, đề ra được các biện pháp thực hiện mục đích đạt kết quả tối ưu. 34 Tư duy chiến lược dự báo xu hướng vận động, biến đổi của đối tượng khách quan, từ đó định hướng cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người trong việc cải tạo đối tượng khách quan đó. Bằng tư duy chiến lược, con người có tầm nhìn xa, trông rộng trong hoạt động của mình; dự báo được các tình huống có thể xảy ra; xác định được xu thế vận động của thực tiễn, của đối tượng mà nó phản ánh, trên cơ sở đó chủ động đề ra các phương án dự phòng cho những biến cố, những tình huống khác nhau. Do vậy, có thể nói, tư duy chiến lược giúp con người chủ động, tự giác trong hoạt động, làm chủ được các hoạt động của mình một cách rõ rang, hiệu quả. Để có được tư duy chiến lược không thể thiếu tư duy biện chứng và tư duy lý luận. Đây có thể được coi là những chất liệu để trên cơ sở đó hình thành tư duy chiến lược. Tư duy biện chứng ở trình độ lý luận phải là cơ sở cho tư duy chiến lược. Tư duy biện chứng là tư duy phản ánh các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan với những mối liên hệ, sự vận động, phát triển. Bằng tư duy biện chứng, chủ thể luôn nhìn nhận đối tượng trong trạng thái vận động, biến đổi và đặt chúng trong mối liên hệ, trong sự phát triển để có được đánh giá toàn diện nhất về đối tượng. Tư duy lý luận là bước phát triển cao về mặt tư duy của con người. Thông qua cái nhìn biện chứng, chủ thể đạt tới trình độ khái quát hóa, trừu tượng hóa, phản ánh gián tiếp nhưng sâu sắc về mối liên hệ bản chất, tính tất yếu, tính quy luật của sự vật, hiện tượng, khi đó chủ thể có được tư duy lý luận. Như vậy, tư duy lý luận là trình độ tư duy có thể thâm nhập sâu vào bản chất của đối tượng, đồng thời có thể vận dụng được những tri thức về đối tượng vào hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người. Trên cơ sở nắm rõ đối tượng và khả năng vận dụng sự hiểu biết vào quá trình nhận thức và cải tạo thực tiễn, tư duy lý luận sẽ giúp chủ thể có những suy luận, tiên đoán, định hướng, là cơ sở cho việc xây dựng những kế hoạch cho sự phát triển trong tương lai và đó chính là hình thành khả năng tư duy chiến lược. Tư duy chiến lược sẽ giúp chủ thể tìm kiếm và phát triển năng lực tầm nhìn chiến lược, để dự đoán tương lai. Tư duy chiến lược không chỉ dừng lại trả lời câu hỏi “cái gì” mà còn cần trả lời được những câu hỏi “tại sao”, “như thế nào”, “sẽ như thế nào”. Người 35 có tư duy chiến lược phải có khả năng phân tích và tổng hợp, khả năng xử lý thông tin hợp lý từ những dữ liệu đã có trong nhận thức và cả trong thực tiễn. Cho tới nay chưa có một định nghĩa hay công trình nghiên cứu riêng biệt nào để đánh giá về năng lực, trình độ tư duy chiến lược. Tuy nhiên, tư duy chiến lược vẫn được biết thông qua các mô hình lập kế hoạch, căn cứ vào các kế hoạch được xây dựng để thực thi, triển khai trong thực tế. Và để thực hiện chiến lược tốt hơn đòi hỏi người có tư duy chiến lược, người có thể khám phá những ý tưởng mới mẻ, gắn kết, xây dựng xâu chuỗi các sự kiện để hình thành các kế hoạch với kết quả tốt trong tương lai. Tư duy và kế hoạch chiến lược là "các quá trình khác nhau nhưng có sự liên quan và bổ sung" cần phải duy trì và hỗ trợ nhau để đạt hiệu quả công việc trong thực tế. Người có tư duy chiến lược biết kết nối các dữ liệu mà họ quan sát được trong thực tế, từ trong những kinh nghiệm của cá nhân và của nhiều người khác, tổng hợp thành một tầm nhìn xa và rộng cho tương lai, định hình hướng đi cho bản thân, cho cơ quan, tổ chức. Như vậy, tư duy chiến lược là một loại hình của tư duy ở cấp độ cao của con người. Tư duy chiến lược phản ánh được bản chất, quy luật, xu hướng vận động của hiện thực khách quan, thể hiện tầm nhìn xa trông rộng, có tính sáng tạo, từ đó đưa ra những dự báo, định hướng đúng để đạt mục tiêu chiến lược trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, phù hợp với quy luật phát triển của khách quan. Sự cần thiết của tư duy chiến lược và việc nâng cao trình độ tư duy chiến lược không chỉ dành cho các nhà điều hành, các nhà lãnh đạo cấp cao, mà nó có thể, và cần phải ở mọi cấp của tổ chức, thậm chí ở cá nhân. Tư duy chiến lược giúp chủ thể đưa ra các kế hoạch hiệu quả cũng như các bước để thực hiện thành công các kế hoạch đó. Tư duy chiến lược là sự cần thiết, thậm chí là trách nhiệm của mọi người, nhưng đặc biệt cần thiết đối với những người giữ vai trò là những người lãnh đạo, những người đứng đầu trong cơ quan, tổ chức do đặc điểm của hoạt động lãnh đạo đòi hỏi. 36 Có những đặc điểm khác nhau giữa những người có tư duy chiến lược với tư duy thông thường khi được xem xét trên cùng một vấn đề. Những người có tư duy chiến lược nhìn thấy những khả năng để từ đó dự báo sự thay đổi và tìm kiếm, xác định những cơ hội cũng như xác định những khó khăn có thể nảy sinh; họ quan tâm đến những gì đang diễn ra xung quanh vấn đề mà họ hướng tới. Đối với tư duy thông thường thường ít khi chủ động tìm kiếm ý tưởng, không quan sát nhìn ra những tác động tiềm ẩn tới mục tiêu của mình, khả năng bao quát vấn đề hạn hẹp, dễ hài lòng với những gì đã có, đã quen thuộc. Nói đến người có tư duy chiến lược cũng có nghĩa người đó có khả năng dự báo, định hướng sự phát triển của sự vật, có nghĩa là đưa ra những dự đoán về những điều sẽ xảy ra trong tương lai. Nhưng ở đây không phải là đưa ra những vấn đề trong tương lai một cách thần bí, không phải là “đoán mò”, mà trên cơ sở những dữ kiện đã có trong thực tế, được coi như những yếu tố dữ liệu đầu vào và sau đó thông qua quá trình xử lý thông tin bằng nhiều phương pháp khác nhau như phân tích, chứng minh, so sánh, đối chiếu, đây là sự phán đoán một cách khoa học mà đưa ra những dự báo. Việc xem xét tương lai, đưa ra dự báo có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển nói chung. Những người có tư duy chiến lược tạo ra mối liên hệ giữa ý tưởng, kế hoạch và những người mà người khác không nhìn thấy. Tư duy chiến lược ngày càng trở nên cần thiết đối với tất cả mọi người và đặc biệt không thể thiếu đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo bởi sản phẩm của tư duy chiến lược của họ không thuần túy phục vụ cho những mục tiêu cá nhân, trong phạm vi nhỏ hẹp mà nó có ảnh hưởng, mang tính quyết định tới sự phát triển của cộng đồng, của vùng miền, của quốc gia dân tộc. Tư duy chiến lược của nhà lãnh đạo thể hiện những đặc trưng cơ bản gắn với hoạt động lãnh đạo. Tư duy chiến lược của nhà lãnh đạo mang tính tổng hợp, hệ thống, có tầm nhìn xa trông rộng, có tính dự báo, thấy được xu thế phát triển và hướng tới các phương án thực hiện tối ưu. Tư duy chiến lược mang tính định hướng và sáng tạo, có khả năng vận dụng một cách nhuần nhuyễn phép biện chứng, nhận thức rõ quy luật khách quan, bản chất của sự kiện, tình hình 37 vận động của sự vật, biết phát hiện mâu thuẫn của sự vật, phát hiện cái mới phù hợp với sự phát triển của thực tiễn; tư duy chiến lược của nhà lãnh đạo có phạm vi phản ánh sâu rộng, trong thời gian tương đối dài, tiếp cận vấn đề ở quy mô toàn cục; tư duy chiến lược ở người cán bộ lãnh đạo mang tầm nhìn thời đại và những thành quả văn minh của nhân loại. Tư duy chiến lược dược dựa trên cơ sở nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, là tư duy tổng hợp của tư duy kinh tế, tư duy chính trị, tư duy văn hóa, tư duy quân sự, tư duy đối ngoại, từ đó hình thành nên một tầm nhìn vừa khái quát, vừa sâu rộng lại đáp ứng được nhu cầu phát triển lâu dài của thực tiễn. 2.1.3. Thực chất của việc nâng cao trình độ tư duy chiến lược Nói đến trình độ tư duy là nói đến khả năng tư duy của con người trong quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn ở những mức độ nhất định. Như trên đã nói, tư duy là quá trình ý thức con người tiếp cận và nắm bắt hiện thực, là hình thức cao của sự phản ánh tích cực, chủ động, có mục đích về hiện thực khách quan và được thể hiện ra là sự nhận thức có tính trung gian, gián tiếp khái quát về các mối liên hệ của sự vật và hiện tượng. Trình độ tư duy có mối quan hệ gắn bó mật thiết với năng lực tư duy. Muốn nâng cao trình độ tư duy thì trước hết phải khẳng định ở đối tượng cần nâng cao đó có đầy đủ những năng lực tư duy. Năng lực tư duy là tổng hợp những khả năng bao gồm: ghi nhớ, tái hiện, liên tưởng, trừu tượng hóa, khái quát hóa; sau đó là quá trình xử lí tri thức đã được phản ánh; cuối cùng là đi tới vận dụng và phát triển chúng vào những tình huống thực tiễn cụ thể. Năng lực tư duy giữ vai trò quan trọng trong nhận thức khoa học; là khả năng nắm bắt và vận dụng những tri thức vào cuộc sống; là năng lực phản ánh bằng liên tưởng, phát hiện và xử lí thông tin trong những tình huống, hoàn cảnh cụ thể; là một lực lượng tinh thần đang nhận thức, một cơ chế đang vận động, sự tổng hợp của các quy luật tư duy trên cơ sở quy luật của đời sống hiện thực. Năng lực tư duy chiến lược là tổng hợp những phẩm chất tâm, sinh lí, trí tuệ của chủ thể, là sự thống nhất biện chứng giữa vốn tri thức và sự nắm vững, vận dụng một cách nhuần nhuyễn, sáng tạo các tri thức khoa học, khả năng tổng kết thực tiễn cũng như các thao tác tư duy logic phù hợp nhằm đưa ra những dự báo, định hướng cho tương lai đối với những đối tượng 38 mà chủ thể hướng tới nghiên cứu, giải quyết. Việc phát huy năng lực tư duy chiến lược được thể hiện qua những nấc thang trình độ của tư duy chiến lược. Trình độ tư duy được thể hiện ở các cấp độ khác nhau, có tư duy tiền khoa học và tư duy khoa học, có tư duy kinh nghiệm và tư duy lý luận. Tư duy chiến lược là tư duy ở trình độ cao trong quá trình con người nhận thức. Tư duy chiến lược được đặc trưng ở khả năng tư duy có tầm nhìn xa trông rộng, tính sáng tạo, tính vượt trước để dưa ra những dự báo chính xác xu hướng vận động trong tương lai về vấn đề mà chủ thể hướng tới nghiên cứu, cải tạo. Trình độ tư duy chiến lược được thể hiện qua khả năng nhận định, đánh giá về đối tượng, để từ đó vạch ra những kế hoạch, chính sách định hướng phát triển cho tương lai trong khoảng thời gian dài, đem lại kết quả như dự kiến, phù hợp với xu hướng vận động, biến đổi. Người có trình độ tư duy chiến lược càng cao thì những phán đoán, những dự báo về sự vận động, biến đổi của sự vật, hiện tượng càng chính xác, từ đó đưa ra những chủ trương, chính sách phù hợp với những sự vận động, biến đổi đó, phù hợp với quy luật khách quan. Theo đó, nâng cao trình độ tư duy chiến lược thực chất cần bảo đảm nâng cao được trình độ tư duy ở tất cả những yếu tố đặc trưng của nó, đó là: Thứ nhất, nâng cao tầm nhìn xa trông rộng của tư duy. Nâng cao tầm nhìn tầm nhìn xa, trông rộng của tư duy để không mắc phải lối tư duy nhiệm kỳ, chỉ thấy được cái trước mắt mà không thấy được lâu dài. Điều này đòi hỏi chủ thể phải có được khả năng nhìn xa, trông rộng trong cả không gian và thời gian, tức là phải có được cái nhìn mang tính toàn diện trước mọi vấn đề. Luôn đặt đối tượng hướng tới vào trong môi trường rộng mở để xem xét, so sánh trong mối quan hệ tương quan cả với quá khứ và tương lai nhằm xác định chính xác trạng thái tồn tại của đối tượng với đầy đủ những ưu điểm và hạn chế, những thuận lợi và khó khăn, những thời cơ và thách thức của nó. Trong cả hoạt động nhận thức và thực tiễn yêu cầu phải xem xét từ nhiều mặt, nhiều mối quan hệ, xem xét nó trong lịch sử phát triển được cấu thành từ những yếu tố, bộ phận nào với những mối quan hệ ràng buộc và tương tác nào, qua đó phát hiện ra những thuộc tính chung, thuộc tính cơ bản của đối tượng nghiên cứu. Thực hiện điều này sẽ giúp 39 chủ thể tránh được hoặc hạn chế về sự phiến diện, siêu hình, máy móc, một chiều trong nhận thức cũng như trong giải quyết các tình huống thực tiễn. Nhờ đó tạo ra khả năng nhận thức đúng được sự vật, hiện tượng như nó vốn có trong thực tế. Đây là cơ sở, là căn cứ để có thể xử lý chính xác, có hiệu quả đối với những vấn đề của thực tiễn. Tư duy chiến lược không cho phép giới hạn đối tượng nghiên cứu ở một bình diện nào đó mà cần bóc tách được cả những hiện tượng bề mặt để nhìn thấy thấu đáo thực chất nội tại của sự việc, bản chất sự vận động, biến đổi và xu thế biến đổi của đối tượng, phải gạt bỏ bằng được cái nhìn phiến diện mới đảm bảo được tính chuẩn xác. Có được cái nhìn toàn diện là một trong những yếu tố mấu chốt để có được tư duy chiến lược. Thứ hai, nâng cao tính sáng tạo của tư duy. Tư duy chiến lược phải được thể hiện bằng tư duy mang tính sáng tạo, vượt trước. Sự sáng tạo của con người là vô hạn, nhưng không phải ai cũng dám hiện thức hóa những ý tưởng sáng tạo của mình vào thực tế vì nhiều lý do khác nhau. Chính những lý do đó trở thành rào cản tư duy sáng tạo và nếu không vượt qua những rào cản đó sẽ không có được tư duy chiến lược. Để có được tư duy sáng tạo chủ thể cần gạt bỏ, vượt qua và khắc phục một số lối tư duy cũ, là những yếu tố lạc hậu, lực cản của tư duy sáng tạo. Tư duy kinh nghiệm với sự tin tưởng vào những kinh nghiệm có sẵn dễ dẫn tới sự ỷ lại, điều này sẽ cản trở lớn đối với tư duy sáng tạo. Để phát huy được sự sáng tạo của tư duy cũng cần phải vượt qua nỗi sợ thất bại. Những cách nghĩ mới, cách làm mới thường phải đối mặt với nhiều rủi ro và sự thất bại cao. Vì thế, nhiều người chọn cách an toàn là cứ theo kinh nghiệm sẵn có mà làm. Chính suy nghĩ như vậy sẽ khiến chủ thể dễ trở thành lười biếng, nhát gan, không dám khám phá, thử những cái mới, dần dần sẽ làm thui chột sự tư duy sáng tạo của chính mình. Sáng tạo nghĩa là phải có những suy nghĩ hoặc hướng giải quyết công việc khác với cách nghĩ, cách làm cũ. Những người có tư duy sáng tạo là những người dám vượt qua những quy tắc, chuẩn mực có sẵn trước đó. Với tư duy sáng tạo, chủ thể phải gạt bỏ được sự ràng buộc và những ảnh hưởng của những quan niệm truyền thống, những quan niệm, định chế, lối tư duy chết cứng, lạc hậu để đối diện với cái mới, tư tưởng, quan niệm, góc nhìn, 40 yêu cầu mới để phát hiện ra vấn đề mới nhằm đề ra những con đường, hướng đi mới. Trong bối cảnh xã hội, thời đại đang vận động, biến đổi, phát triển nhanh chóng hiện nay thì tính sáng tạo là linh hồn cho sự tiến bộ của một dân tộc, là động lực để quốc gia phát triển. Tính sáng tạo của tư duy đối lập với lối tư duy bảo thủ, trì trệ, ngại đổi mới và thực tiễn xã hội cùng sự vận động của nó là bất tận, tính sáng tạo của tư duy cũng không có giới hạn cuối cùng. Tư duy chiến lược không thể là lối tư duy nhốt mình, bó hẹp trong những cái cũ, cái đã qua, vì thế yêu cầu về tính sáng tạo trong tư duy không thể thiếu trong tư duy chiến lược. Hiện nay, yêu cầu đổi mới, sáng tạo để phát triển đất nước nhanh và bền vững của Đảng ta cũng chính là thể hiện tư duy chiến lược trong giai đoạn mới. Thứ ba, tư duy dự báo xu hướng vận động của sự vật, hiện tượng. Tư duy chiến lược phải được thể hiện bằng khả năng tư duy dự báo đúng xu hướng vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng, của thực tiễn, phải đưa ra được những phán đoán, những dự báo, từ đó có những định hướng đúng cho sự vận động, phát triển trong tương lai, đặc biệt là trong tương lai xa, khẳng định được tầm nhìn dài hạn. Người có tầm nhìn sẽ biết cách vạch ra những kế hoạch dài hạn và có hướng giải quyết cho kế hoạch đó. Đối với những người không có tầm nhìn, cách làm việc theo kiểu “nước tới đâu bắc cầu tới đó” thì sẽ khó có được sự sáng tạo, vạch ra được bước phát triển cho tương lai của công việc.Tư duy chiến lược được thể hiện tập trung vào việc hoạch định đường lối, chính sách lâu dài, chứ không chỉ là lập kế hoạch, do vậy đòi hỏi tầm nhìn và dự báo một cách sáng tạo nhưng phải có cơ sở khả thi, thu hút được sự ủng hộ và đồng tình rộng rãi trong xã hội. Chúng ta đều biết, tương lai luôn bao gồm cả yếu tố mang tính xác định và không xác định. Chính tính không xác định dẫn tới sự phức tạp trong quá trình vận động, phát triển nói chung. Tình hình nước ta hiện nay được xác định là, bên cạnh những thuận lợi tồn tại cả những khó khăn, thách thức, do đó cần có được năng lực ứng phó với những biến đổi ấy. Để ứng phó có hiệu quả, chủ thể phải có được năng lực dự báo những khả năng biến đổi của đối tượng để vạch ra hướng đi cần thiết, phù hợp trong tương lai. Đồng thời dự báo để xây dựng được cả những 41 phương án dự phòng, ứng phó với cả những khả năng biến đổi ngoài dự kiến, ngoài mong muốn. Có được tư duy dự báo tốt giúp cho chủ thể nắm bắt được những thời cơ, chủ động vạch ra những hướng đi tắt, đón đầu một cách hiệu quả, đúng quy luật sẽ đưa đất nước nhanh chóng phát triển, hòa nhập kịp với sự phát triển chung của thế giới hiện đại. 2.2. VAI TRÒ CỦA TƯ DUY CHIẾN LƯỢC ĐỐI VỚI CÁN BỘ LÃNH ĐẠO Hai thuật ngữ "lãnh đạo" và "quản lý" thường được dùng đôi khi...quả hoạt động của các cơ quan này đòi hỏi phải tiến hành đồng bộ nâng cao chất lượng bộ máy và chất lượng cán bộ, tuyển dụng cán bộ giỏi, thông thạo ngoại ngữ, những nhân tài, tăng cường học tập, đào tạo, bồi dưỡng về lý luận và chuyên môn, học tập ngoại ngữ, có chế độ, chính sách thích đáng; xây dựng đội ngũ cán bộ theo hướng trở thành những chuyên gia tham mưu sâu từng lĩnh vực, bộ máy tinh gọn nhưng chất lượng cao; tăng cường sự phối kết hợp giữa các cơ quan tham mưu, các viện nghiên cứu, các trường đại học để sớm phát hiện và bồi dưỡng những nhân tài trở thành những nhà lãnh đạo ưu tú cho tương lai; tăng cường công tác thông tin, tiếp cận khoa học và công nghệ hiện đại trên thế giới, tích cực nghiên cứu khoa học, nghiên cứu lý luận cho các cơ quan tham mưu chiến lược vì không nghiên cứu, tìm hiểu một cách sâu sắc thì không thể có ý kiến tham mưu xác đáng, có hiệu quả; rèn luyện cán bộ, nâng cao phẩm chất cách mạng, nâng cao trình độ tư duy chiến lược; tăng cường cơ sở nghiên cứu, đầu tư ngân sách, kinh phí cho các học viện, viện nghiên cứu chiến lược của các Bộ, Ban, Ngành Trung ương. Có được sự đổi mới đồng bộ như vậy mới góp phần có hiệu quả vào việc nâng cao trình độ tư duy chiến lược cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay, đáp ứng nhu cầu của tình hình mới. 4.4. PHÁT HUY NHÂN TỐ CHỦ QUAN CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO Người cán bộ lãnh đạo là những người được đào tạo, bồi dưỡng cả về chuyên môn nghiệp vụ và lập trường tư tưởng. Đào tạo, bồi dưỡng để có được những người cán bộ lãnh đạo có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, có trình độ chuyên môn vững vàng; rèn luyện để trở thành những con người có trách nhiệm với công việc được giao phó, có khả năng xây dựng khối đoàn kết để phát huy sức mạnh tập thể, tạo động lực cho sự phát triển. Để đạt được điều đó, đội ngũ này phải được tôi luyện, trưởng thành qua thử thách, có ý chí vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, là những người có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tư duy đổi mới, đã nhanh chóng thích nghi với cơ chế thị trường, góp 147 phần vào việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước. Quy định khung tiêu chuẩn chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý do Bộ Chính trị ban hành ngày 04/8/2017 đã chỉ rõ những yêu cầu về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật, về trình độ, về năng lực và uy tín, về sức khỏe, độ tuổi và kinh nghiệm. Riêng về năng lực và uy tín, trong Quy định viết: “Có tư duy đổi mới, có tầm nhìn, phương pháp làm việc khoa học; có năng lực tổng hợp, phân tích và dự báo. Có khả năng phát hiện những mâu thuẫn, thách thức, thời cơ, thuận lợi, vấn đề mới, khó khăn và những hạn chế, bất cập trong thực tiễn; mạnh dạn đề xuất những nhiệm vụ, giải pháp phù hợp, khả thi, hiệu quả để phát huy, thúc đẩy hoặc tháo gỡ. Có năng lực thực tiễn, nắm bắt và hiểu biết cơ bản tình hình thực tế để cụ thể hóa và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở lĩnh vực, địa bàn công tác được phân công”. Đó cũng chính là những yêu cầu liên quan đến việc nâng cao trình độ tư duy chiến lược cho cán bộ lãnh đạo nước ta. Tuy nhiên, đứng trước những thách thức của kinh tế thị trường, một bộ phận không nhỏ cán bộ lãnh đạo các cấp đã bộc lộ những hạn chế, yếu kém cả về năng lực chuyên môn và ý thức chính trị, thể hiện một tầm nhìn hạn hẹp với “tư duy nhiệm kỳ”. Đánh giá về đội ngũ cán bộ lãnh đạo, Báo cáo của Bộ Chính trị tại Hội nghị Trung ương 9 khóa X, tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã thẳng thắn chỉ ra: “trình độ, năng lực, kiến thức về kinh tế thị trường, luật pháp, ngoại ngữ, khả năng quản lý nhà nước, quản lý xã hội của không ít cán bộ vẫn còn bất cập; khả năng dự báo và định hướng sự phát triển vẫn còn yếu” [14, tr.202-203]. Đặc biệt, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI tiếp tục nhấn mạnh: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau 148 về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc”. Tại Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII thẳng thắn vạch rõ 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị; về đạo đức, lối sống; về "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Như vậy, có thể thấy chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý còn nhiều hạn chế, yếu kém, điều này cản trở sự phát triển của tư duy chiến lược. Để xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có phẩm chất, năng lực thực sự ngang tầm, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay đã có nhiều giải pháp được xây dựng đối với đội ngũ này. Tuy nhiên, để thực hiện thành công các giải pháp đó, một yếu tố không thể thiếu đó là phát huy nhân tố chủ quan của chính bản thân người cán bộ lãnh đạo, là những thế mạnh, nguồn lực trong bản thân chủ thể. Để phát huy nhân tố chủ quan trong nâng cao trình độ tư duy chiến lược đòi hỏi người ở bản thân người cán bộ lãnh đạo phải có đạo đức cách mạng. Đạo đức cách mạng là phẩm chất quan trọng của người cách mạng, thể hiện qua tình cảm, niềm tin, ý chí, nhiệt tình cách mạng là những nhân tố bên trong thôi thúc cán bộ không ngừng học tập, rèn luyện về mọi mặt, trong đó có việc học tập, rèn luyện, bồi dưỡng tư duy chiến lược. Chỉ có những cán bộ có tâm huyết vì nhân dân, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm thì trong các quyết định của mình mới thể hiện tầm nhìn xa, trông rộng, đó là cơ sở để có tư duy chiến lược. Người cán bộ lãnh đạo phải tự tu dưỡng, tự rèn luyện. Đây là con đường quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp trong việc hình thành và phát triển, hoàn thiện nhân cách cán bộ, đảng viên. Hồ Chí Minh chỉ ra con đường người cán bộ, đảng viên tự vươn lên hoàn thiện mình, đó là phải học tập, rèn luyện bền bỉ suốt đời. Trên con đường rèn luyện bản thân, mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình, chỉ có không ngừng đấu tranh, tự phê bình và phê bình mới nhận rõ đúng sai, phát huy cái đúng, khắc phục cái sai mới có thể làm cho mình, cho Đảng, cho cách mạng tiến bộ. Phát huy nhân tố chủ quan, người cán bộ lãnh đạo phải thường xuyên trau dồi phẩm chất cách mạng, kiên 149 quyết chống chủ nghĩa cá nhân, bài trừ bệnh quan liêu, xa rời quần chúng, phải thực sự là người đầy tớ, là công bộc của nhân dân. Quá trình tự hoàn thiện, tự tu dưỡng, tự rèn luyện tính cách là quá trình phấn đấu thường xuyên, liên tục bền bỉ và tự giác. Người cán bộ lãnh đạo phải rèn luyện qua hoạt động thực tiễn. Đối với mỗi người cán bộ lãnh đạo, việc tu dưỡng rèn luyện phải được thực hiện thông qua hoạt động thực tiễn của bản thân. Thực tiễn chính là tiêu chuẩn để mỗi người cán bộ lãnh đạo soi vào đó, lấy đó làm căn cứ xác định, đánh giá kết quả quá trình học tập và rèn luyện của mình. Chỉ có thông qua hoạt động thực tiễn, thông qua quá trình tu dưỡng rèn luyện công phu mới có được phẩm chất, tính cách tốt đẹp và phẩm chất ấy ngày càng được bồi đắp, nâng cao, hoàn thiện. Qua hoạt động thực tiễn, người cán bộ biết điều chỉnh hành vi của mình và cũng thông qua thực tiễn, tính cách của mỗi người được cụ thể hóa một cách phong phú, đa dạng. Giữa lý luận và hoạt động thực tiễn có mối quan hệ biện chứng, thực tiễn không thể thiếu lý luận bởi thực tiễn cần lý luận soi đường để không mắc phải bệnh kinh nghiệm; lý luận cũng không thể xa rời thực tiễn bởi lý luận sẽ rơi vào bệnh giáo điều, quan liêu nếu không dựa trên cơ sở thực tiễn, phản ánh thực tiễn. Thực tiễn ngày nay biến chuyển nhanh và đầy phức tạp. Việc phát triển tư duy không chỉ dừng lại ở nhận thức cho kịp mà để có được tư duy chiến lược thì còn phải có sự vượt trước. Công việc học tập cũng không chỉ dừng lại ở một thời điểm hay học vị nào, mà việc học là công việc cả đời. Phải không ngừng học tập, học nhiều, đọc nhiều, “học không biết chán, đọc không biết mỏi”, kiên quyết khắc phục những biểu hiện lười học tập lý luận chính trị trong cán bộ hiện nay. Rèn luyện đạo đức theo lời Bác căn dặn để có được tinh thần cầu thị trong học tập phát triển năng lực, nâng cao trình độ tư duy chiến lược. Trên thực tế, một người cán bộ, đảng viên có đạo đức, có tâm huyết thì sẽ cố gắng học tập để có kiến thức, năng lực đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đặt ra. 150 Tiểu kết chương 4 Ngày nay, việc nâng cao trình độ tư duy chiến lược cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo là yêu cầu cấp thiết đối với sự phát triển của đất nước. Thời gian qua, Đảng ta thông qua nhiều chủ trương, chính sách khác nhau đã thể hiện sự chú trọng đối với việc đổi mới tư duy thu được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Bằng sự đổi mới tư duy, cán bộ lãnh đạo nước ta đã chèo lái con tàu, đưa đất nước vượt qua nhiều khó khăn, thử thách đến với những thành tựu lớn. Chúng ta từ một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, nay đang từng bước vững chắc trên công cuộc đổi mới với khả năng thích ứng tốt cùng sự phát triển của thế giới. Với mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; trong bối cảnh khoa học - công nghệ phát triển ngày càng mạnh đã tiếp tục đặt ra những yêu cầu mới đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo nước ta, đòi hỏi đội ngũ này phải nâng cao chất lượng, đồng thời phải vững vàng cả về ý thức chính trị, giữ được phẩm chất, đạo đức tốt, lối sống đúng mực, tránh được những tác động tiêu cực từ mặt trái của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Việc rèn luyện nâng cao trình độ tư duy chiến lược không phải là công việc dễ dàng hoàn thành trong một giai đoạn hay một khóa học cụ thể nào đó mà đó là cả một quá trình, gắn liền và đồng hành cùng mỗi chủ thể. Rèn luyện nâng cao trình độ tư duy chiến lược có thể có nhiều giải pháp khác nhau, trong phạm vi luận án, tác giả đề xuất một số giải pháp chủ yếu, đó là: đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng thông qua cả học tập lý luận và hoạt động thực tiễn; tăng cường thông tin đối ngoại và khoa học dự báo; phát huy nhân tố chủ quan của đội ngũ cán bộ lãnh đạo. Trên đây là một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao trình độ tư duy chiến lược cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo nước ta hiện nay, hướng tới xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có phẩm chất, năng lực thực sự ngang tầm nhiệm vụ, đáp ứng được nhiệm vụ, được những đòi hỏi của thực tiễn. 151 KẾT LUẬN Tư duy chiến lược có vai trò hết sức quan trọng đối với đội ngũ những người cán bộ lãnh đạo. Bồi dưỡng, học tập, rèn luyện nhằm nâng cao trình độ tư duy chiến lược là yêu cầu cần thiết và cấp thiết đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta nhằm đạt được những mục tiêu chiến lược đã đề ra trong xu hướng biến đổi chung của toàn thế giới, đảm bảo cho đất nước với những bước phát triển bền vững, khẳng định được vị trí, vai trò của mình trên trường quốc tế. Có tư duy chiến lược sẽ giúp cho chủ thể có tầm nhìn xa trông rộng, sớm phát hiện được các tín hiệu của sự thay đổi, của cái mới, của bước ngoặt, kịp thời phát hiện xu hướng biến đổi của sự vật, hiện tượng. Tư duy chiến lược định hướng cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người; dự báo được các tình huống có thể xảy ra; trên cơ sở đó chủ động đề ra các phương án dự phòng, khắc phục tầm nhìn hạn hẹp, những sai lầm trong lương lai. Việt Nam những năm tới, tiếp tục kế thừa và phát huy những thành tựu to lớn đạt được trong công cuộc đổi mới, quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng sẽ tạo ra nhiều thời cơ phát triển mới, thúc đẩy nhanh hơn tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, cũng còn tiềm ẩn nhiều khó khăn, thách thức: tình hình thế giới biến đổi nhanh, phức tạp, khó lường, kinh tế thế giới tăng trưởng chậm, tiềm ẩn nguy cơ khủng hoảng, suy thoái. Các thế lực thù địch tăng cường thực hiện âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình”, lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc để chống phá cách mạng. Thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu tiếp tục có những diễn biến phức tạp, đã tác động trực tiếp tới đất nước ta. Những thành tựu, kinh nghiệm của thời gian qua và tiềm năng, nguồn lực phát triển của đất nước tạo cho nước ta thế và lực cần được khai thác và phát triển hợp lý. Việc triển khai thực hiện đồng bộ Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chủ động và tích cực tham gia có hiệu quả vào quá trình hội nhập quốc tế một cách sâu rộng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nước ta phát triển nhanh, toàn diện và bền vững hơn trong những năm tới. 152 Vai trò quan trọng của tư duy chiến lược đòi hỏi công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ tư duy chiến lược cần được chú trọng hơn nhằm phát huy có hiệu quả tầm nhìn xa, trông rộng; khả năng sáng tạo; năng lực dự báo của đội ngũ cán bộ lãnh đạo nước ta hiện nay. Trong thời gian tới, cùng với sự đổi mới trong thực tiễn, việc nâng cao trình độ tư duy chiến lược vẫn tiếp tục là nội dung quan trọng đối với việc hoàn thiện, nâng tầm đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta. Trên cơ sở tiếp cận và tìm hiểu về tư duy chiến lược, luận án bước đầu đưa ra một số những yếu tố của tư duy chiến lược, tìm hiểu thực trạng và từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu góp phần nâng cao trình độ tư duy chiến lược cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo. Công cuộc đổi mới sẽ tiếp tục đặt ra những yêu cầu mới đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, theo đó cần bổ sung những giải pháp mới phù hợp, đây cũng chính là hướng đi cho những nghiên cứu tiếp theo của tác giả để nội dung nâng cao trình độ tư duy chiến lược cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo nước ta hoàn thiện hơn, góp phần vào sự phát triển của đất nước trong dòng thời đại. 153 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ 1. Nguyễn Thị Hải Yến (2014), "Vai trò của tư duy chiến lược đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo của Thủ đô", Tạp chí Tri thức phát triển (30). 2. Nguyễn Thị Hải Yến (2015), "Bồi dưỡng tư duy chiến lược để khắc phục bệnh kinh nghiệm trong đội ngũ cán bộ", Tạp chí Giáo dục lý luận, (227). 3. Nguyễn Thị Hải Yến (2015), "Học tập phong cách tư duy Hồ Chí Minh để rèn luyện tư duy chiến lược cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay", Tạp chí Giáo dục lý luận, (231). 4. Nguyễn Thị Hải Yến (2018), "Nâng cao tư duy chiến lược cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo trong tình hình mới", Tạp chí Thông tin khoa học Lý luận chính trị, (11). 5. Nguyễn Thị Hải Yến (2018), "Một số giải pháp cơ bản nâng cao trình độ tư duy chiến lược cho cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay", Tạp chí Thông tin khoa học Lý luận chính trị, (12). 154 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Avinát C.Đixit và Beri Gi.Nênbắp (1997), Tư duy chiến lược, công cụ sắc bén trong chính trị, kinh doanh và đời thường, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2. B.Brugen, M.Stasbird (2014), Năm nhân tố phát triển tư duy hiệu quả, Minh Hiền dịch, Nxb Lao động, Hà Nội. 3. Thái Kiến Ba, Chu Minh và Vĩ Học Cơ (2003), “Một số vấn đề cán bộ lãnh đạo cần chú ý nắm bắt khi bồi dưỡng tố chất tư duy chiến lược”, Phan Huy Quang dịch, Tạp chí Diễn đàn Công đoàn (5), kỳ thứ 3, quyển thứ 9. 4. Hoàng Chí Bảo (2013), “Năng lực lãnh đạo chiến lược - quan niệm, vấn đề và giải pháp”, Tạp chí Lý luận chính trị, (10). 5. Hoàng Chí Bảo (2018), “Phương thức đánh giá, đo lường kiến thức và năng lực của cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược”, tại trang tapchicongsan.org.vn/, [truy cập ngày 20/1/2019]. 6. Bộ Chính trị (2017), Quy định số 89-QĐ/TW ngày 4/8/2017 về khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, Hà Nội. 7. Bộ Chính trị (2019), "Nghị quyết của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư", Báo Nhân dân, ngày 30/9. 8. Bruce, Andy (2007), Tư duy chiến lược, Lê Ngọc Phương Anh dịch, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh. 9. Vương Như Cần (2001), “Tư duy chiến lược của cán bộ lãnh đạo cần đủ bốn quan điểm”, Phan Huy Quang dịch, Tạp chí Tiền tuyến, (12). 10. Nguyễn Trọng Chuẩn, Đỗ Minh Hợp (1999), Vấn đề về tư duy trong triết học Hêghen, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 11. Nguyễn Trọng Chuẩn (Chủ biên) (2001), Nửa thế kỷ nghiên cứu và giảng dạy triết học ở Việt Nam, Viện Triết học xuất bản, Hà Nội. 155 12. Nguyễn Trọng Chuẩn, Đặng Hữu Toàn (Đồng chủ biên) (2002), Những vấn đề lý luận đặt ra từ các văn kiện Đại hội IX của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 13. Nguyễn Trọng Chuẩn (2006), “Vấn đề rèn luyện tư duy và nâng cao năng lực tư duy cho cán bộ trong điều kiện hiện nay”, Tạp chí Lý luận chính trị, (12), tr.16-20. 14. Đỗ Minh Cương, Phương Kỳ Sơn (1995), Vai trò con người trong quản lý doanh nghiệp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 15. Đỗ Minh Cương, Nguyễn Viết Lộc (2016), Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực tham mưu chiến lược, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 16. Phạm Như Cương (1999), Đổi mới phong cách tư duy, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 17. D.J.Levitin (2017), Tư duy có hệ thống, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội. 18. Phan Đình Diệu (1990), "Lý luận nhận thức của Lênin và việc đổi mới tư duy", Tạp chí Triết học, (2). 19. Nguyễn Thị Thanh Dung (2010), Phong cách tư duy Hồ Chí Minh với việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 21. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 22. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 24. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 25. Đảng Cộng sản Việt Nam (2009), Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 156 26. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội. 27. Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương, Ban Chỉ đạo tổng kết (2015), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986-2016), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 28. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội. 29. Đảng Cộng sản Việt Nam (2017), Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 khóa XII, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội. 30. Đảng Cộng sản Việt Nam (2018), Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội. 31. Dương Minh Đức (2006), Nâng cao năng lực tư duy lý luận của cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 32. Ngô Huy Đức (2018), “Nâng cao năng lực tư duy của cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược”, Tạp chí Cộng sản, (906). 33. E.V.Ilencôv (2002), Lôgíc học biện chứng, Nguyễn Anh Tuấn dịch, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. 34. Harold Koontz, Cyil Odonnell và Heinz Weihrich (1994), Những vấn đề cốt yếu của quản lý, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội. 35. Nguyễn Ngọc Hà (2011), Đặc điểm tư duy và lối sống con người Việt Nam hiện nay. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 36. Nguyễn Hùng Hậu (2010), Đại cương lịch sử triết học Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 37. Vũ Minh Hiếu (2017), "Năng lực tư duy lý luận và các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tư duy lý luận", Tạp chí Triết học, (10). 38. Học viện Nguyễn Ái Quốc (1988), Mấy vấn đề cấp bách về đổi mới tư duy lý luận, Hà Nội. 157 39. Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (2012), Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng ta từ năm 1986 đến nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 40. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2017), Nghiên cứu, giảng dạy triết học trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam - Kỷ yếu hội thảo khoa học cấp Học viện, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội. 41. Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia (2011), Giáo trình Triết học Mác-Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 42. Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn (1995), Từ điển bách khoa Việt Nam, tập 4, Trung tâm biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam, Hà Nội. 43. Đoàn Minh Huấn (2018), “Xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược ở nước ta hiện nay - quan niệm, đặc điểm và những mâu thuẫn cần giải quyết”, tại trang [truy cập ngày 12/2/2019]. 44. Trần Đình Huỳnh (1995), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của năng lực trí tuệ và lý luận”, Tạp chí Xây dựng Đảng, (2), tr.9-13. 45. J. Naisbitt (2009), Lối tư duy của tương lai, 11 lối tư duy thay đổi cách nhìn nhận - và sáng tạo - tương lai, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội. 46. Vũ Khoan (2015), “Tư duy chiến lược và khoa học lãnh đạo, quản lý - những thành tựu nghiên cứu trên thế giới và sự tham khảo, vận dụng cho Việt Nam” trong cuốn Những vấn đề lý luận và thực tiễn mới đặt ra trong tình hình hiện nay, Hội đồng lý luận Trung ương, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội. 47. Vũ Khoan (2017), A, B, C về nghề lãnh đạo, quản lý, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội. 48. Nguyễn Thế Kiệt (Chủ biên) (2001), Ảnh hưởng của đạo đức phong kiến trong cán bộ lãnh đạo quản lý của Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 49. Tăng Quảng Lạc (2004), “Bàn về nguyên tắc cơ bản của tư duy chiến lược của cán bộ lãnh đạo thời kỳ mới”, Phan Huy Quang dịch, Tạp chí Trường Đảng tỉnh ủy Tứ Xuyên, (3). 158 50. Hoàng Thúc Lân (2007), "Một số giải pháp chủ yếu nâng cao năng lực tư duy biện chứng cho sinh viên thông qua phát huy vai trò giảng dạy triết học Mác-Lênin", Tạp chí Lý luận khoa học giáo dục, (160). 51. V.I.Lênin (2002), Toàn tập, tập 1, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 52. V.I.Lênin (2002), Toàn tập, tập 8, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 53. V.I.Lênin (2002), Toàn tập, tập 18, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 54. V.I.Lênin (2002), Toàn tập, tập 23, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 55. V.I.Lênin (2002), Toàn tập, tập 29, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 56. Nguyễn Văn Linh (1987), Đổi mới tư duy và phong cách tư duy, Nxb Sự thật, Hà Nội. 57. Nguyễn Ngọc Long (1987), “Năng lực tư duy lý luận trong quá trình đổi mới tư duy”, Tạp chí Cộng sản, (10), tr.15-21. 58. Trần Văn Long (2016), Nghệ thuật lãnh đạo, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội. 59. Nguyễn Hiền Lương (2015), “Tư duy và vấn đề rèn luyện, nâng cao năng lực tư duy của nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Triết học, (6). 60. Nguyễn Văn Lý (Chủ biên) (2013), Nâng cao năng lực tư duy lý luận của đổi ngũ lãnh đạo quản lý cấp huyện người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 61. C.Mác, Ph.Ănghen (1995), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 62. C.Mác, Ph.Ănghen (1995), Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 63. C.Mác, Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 25, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 64. Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 65. Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 66. Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 67. Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 68. Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 159 69. Lê Hữu Nghĩa (Chủ biên) (1997), Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh, Nxb Lao động, Hà Nội. 70. Lê Hữu Nghĩa, Phạm Duy Hải (1998), Tư duy khoa học trong giai đoạn cách mạng khoa học - công nghệ, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 71. Lê Hữu Nghĩa (1998), "Một số căn bệnh trong phương pháp tư duy của cán bộ ta", Tạp chí Triết học, (2). 72. Lê Hữu Nghĩa (Chủ biên) (2016), Tổ chức triển khai nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn qua 30 năm đổi mới. Thực trạng, bài học và định hướng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 73. Lê Hữu Nghĩa (2018), "Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn: Thực trạng, những vấn đề đặt ra và giải pháp", Tạp chí Cộng sản, (4). 74. Lê Hữu Nghĩa (2018), "Xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ", Tạp chí Quốc phòng toàn dân, (11). 75. Nhà xuất bản Tiến bộ (1986), Từ điển triết học, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 76. Trần Nhâm (2004), Tư duy lý luận với sự nghiệp đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 77. Nhiều tác giả (2016), Khoa học tư duy tự nhiều tiếp cận khác nhau, Nxb Tri thức, Hà Nội. 78. Thái Ninh (1998), “Mấy ý kiến về đổi mới tư duy lý luận”, Tạp chí Cộng sản, (3), tr.15-19. 79. Hoàng Phê (Chủ biên)(2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng. 80. Bùi Đình Phong (2000), Hồ Chí Minh, tầm nhìn thời đại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 81. Trần Văn Phòng (Chủ biên) (2001), Học tập phong cách tư duy Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 82. Trần Văn Phòng (2011), “Năng lực tư duy lý luận với hoạt động của đội ngũ cán bộ quản lý, lãnh đạo cấp huyện người dân tộc thiểu số”, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, (10), tr.25-29. 160 83. Trần Văn Phòng (2012), “Bồi dưỡng tư duy chiến lược cho cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Lý luận chính trị, (1), tr.38-43. 84. Trần Văn Phòng (2018), “Hội nhập quốc tế và yêu cầu về tư duy chiến lược của người lãnh đạo hiện nay”, Tạp chí Lý luận chính trị, (10), tr.11-16. 85. Phùng Hữu Phú và các cộng sự (2016), Một số vấn đề lý luận - thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam qua 30 năm đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 86. Đỗ Văn Quân, Nguyễn Ngọc Lam (2017), “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và yêu cầu đối với lãnh đạo chiến lược”, Tạp chí Lý luận chính trị, (4). 87. Đoạn Bồi Quân (2003), “Nội hàm thời đại và kết cấu của tư duy chiến lược của cán bộ lãnh đạo”, Phan Huy Quang dịch, Tạp chí Trường Bạch, (3). 88. Nguyễn Đăng Quang (1987), "Những đặc trưng cơ bản của phương pháp tư duy khoa học", Tạp chí Triết học, (3). 89. Nguyễn Duy Quý (1987), "Đổi mới tư duy: Nội dung và phương hướng", Tạp chí Triết học, (01). 90. Nguyễn Đức Quyền (2005), “Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Triết học, (3). 91. R. Paul, L.Elder (2015), Cẩm nang tư duy học tập và nghiên cứu, Bùi Văn Nam Sơn dịch và hiệu đính, Nxb Tổng hợp, Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh. 92. Tô Huy Rứa và các cộng sự (2008), Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng ta từ năm 1986 đến nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 93. S.Hibino, G.Nadler (2014), Tư duy đột phá, bảy nguyên tắc giải quyết vấn đề một cách sáng tạo, Nxb Trẻ, Hà Nội. 94. T.Irine Sanders (2006), Tư duy chiến lược và khoa học mới, Nxb Tri thức, Hà Nội. 95. Nguyễn Thanh Tân (2004), "Sự hình thành tư duy và một số đặc trưng của nó", Tạp chí Triết học. 161 96. Tập thể tác giả Trung Quốc (2007), 5 đương đại, Nxb Lao động, xã hội, Hà Nội. 97. Ngô Kim Thanh (2012), Giáo trình Quản trị chiến lược, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội. 98. Chu Văn Thành, Lê Thanh Bình (Đồng chủ biên) (2004), Bàn về khoa học và nghệ thuật lãnh đạo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 99. Trần Thành (Chủ biên) (2003), Tư duy lý luận với hoạt động của người cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 100. Trần Thành (Chủ biên) (2011), Các chuyên đề triết học Mác-Lênin, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội. 101. Hồ Bá Thâm (1994), “Bàn về năng lực tư duy”, Tạp chí Triết học, (2). 102. Hồ Bá Thâm (1995), Nâng cao năng lực tư duy của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 103. Hồ Bá Thâm (2002), "Phát triển năng lực tư duy của người lãnh đạo, quản lý hiện nay", Tạp chí Cộng sản, (23). 104. Võ Văn Thắng (2012), Giáo trình lôgíc học hình thức, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 105. Trần Đình Thiên (2004), "Tư duy dài hạn về mục tiêu tăng trưởng", Tạp chí Tia sáng, (38). 106. Trần Đình Thiên (2013), "Hàn Quốc đã thành công, ta vẫn loay hoay phỏng vấn", Tuần Việt Nam.net, ngày 02/10. 107. Hồ Văn Thông (1987), "Một số vấn đề về tư duy và đổi mới tư duy hiện nay ở nước ta", Tạp chí Triết học, (3). 108. Cao Văn Thống (2016), Tư duy nhiệm kỳ và bệnh thành tích trong công tác xây dựng Đảng và quản lý Nhà nước hiện nay, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội. 109. Hoàng Nguyễn Dự Thu (dịch) (2004), Tư duy chiến lược, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh. 162 110. Trần Thị Thanh Thủy (2018), “Kinh nghiệm đào tạo lãnh đạo chiến lược của Xin-ga-po”, tại trang [truy cập ngày 25/2/2019]. 111. Đào Văn Tiến (1999), Nâng cao năng lực tư duy sáng tạo của đội ngũ sỹ quan cấp phân đội quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Quân sự, Học viện Chính trị Quân sự, Hà Nội. 112. Đặng Hữu Toàn (2007), “Một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua tổng kết 20 năm đổi mới trong các văn kiện đại hội X của Đảng”, Tạp chí Triết học, (8). 113. Nguyễn Phú Trọng (1999), “Tạo bước chuyển biến mới trong việc học tập lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên”, Tạp chí Cộng sản, (11). 114. Đào Duy Tùng (1986), Bàn về đổi mới tư duy, Nxb Sự thật, Hà Nội. 115. Trương Đình Tuyển (2006), "Góp phần chuẩn bị tư duy chiến lược trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới", Tạp chí Lý luận chính trị, (7), tr.5-8. 116. Vũ Văn Viên (2017), "Tư duy logic và bản chất của tư duy khoa học", Tạp chí Triết học, (11). 117. Nguyễn Như Ý (1998), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_an_nang_cao_trinh_do_tu_duy_chien_luoc_cho_doi_ngu_can.pdf
  • pdfTT _ Hai Yen.pdf
  • pdfTT-NGUYỄN THỊ HẢI YẾN.pdf
Tài liệu liên quan