Luận án Nghiên cứu mô hình câu lạc bộ cầu lông trong một số trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TDTT BẮC NINH ----------------------- LÊ THANH HÀ NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH CÂU LẠC BỘ CẦU LÔNG TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC BẮC NINH – 2018 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TDTT BẮC NINH ----------------------- LÊ THANH HÀ NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH CÂU LẠC BỘ CẦU LÔNG TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊ

pdf209 trang | Chia sẻ: huong20 | Ngày: 14/01/2022 | Lượt xem: 106 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Luận án Nghiên cứu mô hình câu lạc bộ cầu lông trong một số trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
A BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI Ngành : Giáo dục học Mã số : 9140101 LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1. PGS.TS. BÙI QUANG HẢI 2. PGS.TS. LÊ ĐỨC CHƯƠNG BẮC NINH – 2018 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào. Tác giả luận án Lê Thanh Hà DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT BGD-ĐT : Bộ Giáo dục và Đào tạo CLB : Câu lạc bộ Cm : centimet CNH-HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CP : Chính phủ CSVC : Cơ sở vật chất CT : Chỉ thị GD : Giáo dục GDTC : Giáo dục thể chất GD-ĐT : Giáo dục - đào tạo GS : Giáo sư GV : Giảng viên HLV : Huấn luyện viên m : mét mi : Tần suất lặp lại NĐ : Nghị định NQ : Nghị quyết QĐ : Quyết định s : giây SV : Sinh viên TDTT : Thể dục thể thao TDTT NK : Thể dục thể thao ngoại khóa THCS : Trung học cơ sở Tp. : Thành phố TS : Tiến sĩ TW : Trung ương MỤC LỤC Lời cam đoan Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt Danh mục các đơn vị đo lường Mục lục Danh mục bảng, sơ đồ, biểu đồ PHẦN MỞ ĐẦU 1 Mục đích nghiên cứu 3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3 Giả thuyết khoa học 4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 5 CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6 1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác Thể dục thể 6 thao trong trường học 1.2. Tác dụng của tập luyện Cầu lông 12 1.3. Khái quát về Câu lạc bộ Thể dục thể thao và Câu lạc bộ Thể 18 dục thể thao trong trường học các cấp 1.4. Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động thể dục thể thao trong các 24 trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội 1.5. Đặc điểm tâm - sinh lý sinh viên đại học 30 1.6. Một số công trình nghiên cứu có liên quan 37 Nhận xét chương 1 45 CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 47 2.1. Phương pháp nghiên cứu 47 2.1.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu tham khảo 47 2.1.2. Phương pháp phỏng vấn tọa đàm 48 2.1.3. Phương pháp quan sát sư phạm 49 2.1.4.Phương pháp kiểm tra sư phạm 50 2.1.5. Phương pháp phân tích Swot 55 2.1.6. Phương pháp thực nghiệm sư phạm 56 2.1.7. Phương pháp toán học thống kê 56 2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 57 2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 58 2.2.2. Thời gian nghiên cứu 60 2.2.3. Địa điểm nghiên cứu 60 CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 61 3.1. Đánh giá thực trạng phong trào tập luyện thể thao trong 61 các trường đại học trên địa bàn Thành phố Hà Nội 3.1.1. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới phong trào tập luyện thể 61 dục thể thao trong các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội 3.1.2. Thực trạng phong trào tập luyện môn Cầu lông trong các 74 trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội 3.1.3. Thực trạng kết quả tập luyện thể dục thể thao trong các 82 trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội 3.1.4. Bàn luận kết quả nghiên cứu nhiệm vụ 1 91 3.2. Nghiên cứu ứng dụng và đánh giá hiệu quả mô hình Câu 102 lạc bộ Cầu lông đã lựa chọn trong một số trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội 3.2.1. Cơ sở khoa học xây dựng mô hình Câu lạc bộ Cầu lông cho 102 sinh viên các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội 3.2.2. Xây dựng mô hình Câu lạc bộ Cầu lông cho sinh viên các 111 trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội 3.2.3. Ứng dụng và đánh giá hiệu quả ứng dụng mô hình Câu lạc bộ 126 Cầu lông cho sinh viên các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội 3.2.4. Bàn luận kết quả nghiên cứu nhiệm vụ 2 137 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 142 A. Kết luận 142 B. Kiến nghị 143 Danh mục các công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan 144 đến luận án DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ Thể Số Nội dung Trang loại TT 3.1. Kết quả phỏng vấn xác định các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt 62 động TDTT của sinh viên các trường đại học tại Hà Nội (n=36) 3.2. Kết quả khảo sát nhận thức và thái độ tập luyện thể dục 64 thể thao tại các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội (n=1464) 3.3. Kết quả khảo sát nhu cầu và động cơ tập luyện thể dục thể Sau thao tại các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội Tr.65 (n=1328) 3.4. Sự quan tâm của lãnh đạo các trường về công tác giáo dục 67 thể chất nội khóa và hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa (n=51) 3.5. Thực trạng chương trình giáo dục thể chất nội khóa tại các Sau trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội (n=11) Tr.67 3.6. Thực trạng cở sở vật chất phục vụ hoạt động TDTT trong 70 Bảng Bảng các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội (n=11) 3.7. Thực trạng đội ngũ giảng viên thể dục thể thao trong các 72 trường đại học tại Hà Nội (n=11 trường) 3.8. Thực trạng công tác tổ chức hoạt động thể dục thể thao Sau ngoại khóa trong các trường đại học tại Hà Nội (n=11) Tr.73 3.9. Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ tập luyện môn Cầu 75 lông trong các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội (n=11) 3.10. Thực trạng đội ngũ giảng viên hướng dẫn tập luyện môn 76 Cầu lông trong các trường đại học tại Hà Nội (n=11 trường) 3.11. Thực trạng và nhu cầu tập luyện ngoại khóa môn Cầu 78 lông của sinh viên các trường đại học tại Hà Nội (n=1328) 3.12. Thực trạng hình thức tổ chức tập luyện môn cầu lông 80 trong các trường đại học tại Hà Nội (n=11) 3.13. Thực trạng tính pháp lý và tình hình sở hữu các Câu lạc Sau bộ Cầu lông cho sinh viên các trường đại học tại Hà Nội Tr.80 (n=35 CLB) 3.14. Kết quả học tập môn học giáo dục thể chất trong các 83 trường đại học tại Hà Nội (n=4400) 3.15. Thực trạng nội dung tập luyện TDTT ngoại khóa của sinh 84 viên các trường đại học tại Hà Nội (n=1328) 3.16. Thực trạng hình thức tập luyện và hình thức tổ chức hoạt 87 động TDTT ngoại khóa của sinh viên các trường đại học tại Hà Nội (n=635) 3.17. Thực trạng khó khăn của sinh viên khi tham gia tập luyện 88 Bảng thể dục thể thao ngoại khóa (n=1328) 3.18. Thực trạng trình độ thể lực của sinh viên các trường đại Sau học tại Hà Nội (n=2200) Tr.89 3.19. Kết quả phân loại trình độ thể lực của sinh viên các 90 trường đại học tại Hà Nội theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo (n=2200) 3.20. Sử dụng phân tích SWOT để đánh giá thực trạng các yếu Sau tố ảnh hưởng tới phát triển phong trào tập luyện Cầu lông Tr.103 trong các trường đại học tại Hà Nội 3.21. Kết quả phỏng vấn lựa chọn tiêu chí xác định mô hình Sau Câu lạc bộ Cầu lông cho sinh viên các trường đại học trên Tr.106 địa bàn thành phố Hà Nội (n=31) 3.22. Kết quả phỏng vấn xác định mô hình Câu lạc bộ Cầu lông 110 cho sinh viên các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội (n=31) 3.23. Mức độ phù hợp của mô hình hoạt động Câu lạc bộ Cầu 125 lông cho sinh viên các trường đại học tại Hà Nội (n=22) 3.24. Kết quả phỏng vấn lựa chọn tiêu chí đánh giá hiệu quả Sau ứng dụng mô hình Câu lạc bộ Cầu lông trong các trường Tr.128 đại học tại Hà Nội (n=30) 3.25. Kết quả phát triển phong trào tập luyện Cầu lông trong 131 các trường đại học tại Hà Nội (n=4 trường) 3.26 Kết quả khảo sát mức độ hài lòng của sinh viên và HLV, 132 hướng dẫn viên khi tham gia Câu lạc bộ Cầu lông ngoại khóa tại các trường đại học tại Hà Nội (n=103) 3.27 So sánh sự khác biệt trình độ thể lực của đối tượng thực 134 nghiệm sau 01 năm thực nghiệm (n=92) 3.28 So sánh kết quả phân loại trình độ thể lực của đối tượng 135 thực nghiệm thời điểm trước và sau thực nghiệm (n=92) 3.29 So sánh trình độ chuyên môn của đối tượng thực nghiệm 136 thời điểm trước và sau thực nghiệm (n=92) 3.1. Các yếu tố chính ảnh hưởng tới hoạt động TDTT của sinh 63 viên các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội 3.2. Nội dung tập luyện môn Cầu lông trong các trường đại 79 học tại Hà Nội 3.3. Mô hình Câu lạc bộ Cầu lông do nhà trường quản lý trong 111 Sơ đồ Sơđồ các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội 3.4. Mô hình Câu lạc bộ Cầu lông do nhà trường kết hợp với 119 tư nhân quản lý trong các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội 3.1. Tỷ lệ các môn thể thao bắt buộc và tự chọn trong chương 69 trình GDTC chính khóa tại các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội 3.2. Tỷ lệ các môn thể thao được tổ chức ngoại khóa tại các 74 Biểu đồ đồ Biểu trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội 3.3. Tỷ lệ tập luyện TDTT ngoại khóa của sinh viên các 85 trường đại học tại Hà Nội 1 PHẦN MỞ ĐẦU Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, với những mục tiêu dân giàu – nước mạnh – xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, hiện nay con người là nguồn nhân lực được coi là nhân tố quan trọng hàng đầu, quyết định sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của nền kinh tế, chính trị nước nhà. Đảng và nhà nước ta khẳng định con người “vừa là mục tiêu, vừa là động lực” phát triển kinh tế xã hội. Vì vậy, vấn đề cốt lõi là chúng ta phải thực hiện chiến lược giáo dục, phát triển nguồn nhân lực, phát triển con người một cách toàn diện cả về phẩm chất đạo đức, thể lực lẫn trí lực, phát triển toàn diện: “trí, đức, thể, mỹ, lao”. Giáo dục và đào tạo phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu. Trong thông tư liên tịch “Hướng dẫn phối hợp quản lý và chỉ đạo công tác TDTT trường học giai đoạn 2006-2010” của Bộ Giáo dục và Đào tạo nêu rõ: TDTT trường học là bộ phận đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao sức khỏe và thể lực, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, ý chí. TDTT trường học là môi trường thuận lợi và giàu tiềm năng để phát hiện bồi dưỡng tài năng thể thao cho đất nước. Phát triển TDTT trường học theo hướng đổi mới và nâng cao chất lượng giờ học nội khóa, đa dạng hóa các hình thức hoạt động ngoại khóa, đồng thời tổ chức chặt chẽ việc kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện thân thể đối với người học. Giáo dục thể chất trong các trường Đại học, Cao đẳng là bộ phận hữu cơ của TDTT trường học nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục và đào tạo, đồng thời là một mặt giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ nhằm đào tạo lớp người mới, có năng lực, phẩm chất, và sức khỏe, lớp người “phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”. Có thể khẳng định rằng việc duy trì và tăng cường thể chất con người Việt Nam phải được bắt đầu từ thế hệ trẻ. Rèn luyện TDTT là một biện pháp quan trọng đem lại sức khỏe và thể chất cường tráng cho thế hệ trẻ hiện nay và mai sau. Bởi vậy việc làm cần thiết và đặc biệt quan trọng của sự nghiệp giáo dục đào tạo nước ta là chuẩn bị nguồn lực con người cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. 2 Chỉ thị 36 CT/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 7 đã nêu rõ “Thực hiện GDTC trong tất cả các trường học làm cho việc tập luyện TDTT trở thành một nếp sống hàng ngày của học sinh, SV, thanh niên, chiến sĩ, các lực lượng vũ trang, cán bộ viên chức và một số bộ phận của nhân dân”. Rèn luyện thể chất là một yếu tố không thể thiếu ở bất cứ một trường học nào từ bậc tiểu học đến bậc đại học. Điều đó đã góp phần nâng cao thể chất cho học sinh, SV một cách toàn diện và tạo một sân chơi lành mạnh cho thế hệ trẻ trong thời gian học tập trong nhà trường. Thực hiện quan điểm TDTT của Đảng và Nhà nước, công tác GDTC trong nhà trường những năm qua tuy đã có nhiều cố gắng, tiến bộ, song nhìn chung còn nhiều yếu kém và bất cập. Cụ thể là: việc tổ chức các hoạt động GDTC trong nhà trường chưa đạt được hiệu quả cao. Giờ học Thể dục nội khóa hai tiết một tuần không đủ để thực hiện một lượng vận động có tác dụng tăng cường thể lực cho học sinh nhất là mới thực hiện ở 55% tổng số trường học trong cả nước. Hơn thế nữa, do thiếu giảng viên và điều kiện cơ sở vật chất phục vụ tập luyện, do nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của GDTC mà nhiều trường còn tự ý cắt xén giờ học Thể dục hoặc thực hiện một cách miễn cưỡng, hình thức. Hiện nay hoạt động TDTT ngoại khóa mới được thực hiện ở 15% tổng số trường học trong cả nước, chủ yếu ở thành phố, thị xã [14]. Thực trạng đó đang được đặt ra cho các ngành GD-ĐT và Ngành Văn hóa Thể thao và Du lịch nhiều việc phải giải quyết, từ cải tiến nội dung, chương trình giảng dạy, tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, đào tạo bồi dưỡng giảng viên TDTT, tạo dựng cơ sở vật chất phục vụ tập luyện đến việc nghiên cứu các hình thức tổ chức hoạt động TDTT ngoài giờ học của học sinh, sinh viên. Trong những năm qua, Bộ Giáo Dục và Đào tạo đặc biệt quan tâm đến công tác giảng dạy chuyên môn GDTC trong các trường đại học, thể hiện qua việc thường xuyên cải cách và ban hành các nội dung học đa dạng (bóng rổ, cầu lông, đá bóng, bóng chuyền) phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh đất nước, tổ chức các phong trào TDTT, khuyến khích học sinh, SV tham gia giải 3 thi đấu của Ngành GDĐT và của Ngành TDTT. Tuy nhiên, do mỗi trường đại học có đặc thù riêng về môi trường sư phạm và điều kiện sinh hoạt của SV nên gặp nhiều những khó khăn nhất định. Hiện nay, xu hướng tổ chức hoạt động tập luyện thi đấu thể thao theo hình thức CLB không chỉ phổ biến trong xã hội mà còn phát triển trong các trương trình đại học, hình thức phát triển của các CLB diễn ra mạnh mẽ như Bóng rổ, Bóng đá, Cờ vua, Cầu lông Trong đó, CLB Cầu lông tại các trường đại học đã thu hút đông đảo SV tham gia. Nhưng thực tiễn cho thấy các phong trào ngoại khóa diễn ra còn mang tính tự phát,chưa được tổ chức chặt chẽ và khoa học nên chất lượng chưa cao. Hoạt động của các CLB TDTT nói chung và CLB Cầu lông nói riêng chưa được nghiên cứu và đánh giá hiệu quả về công tác tổ chức, quản lý cũng như chưa có các chỉ tiêu, tiêu chuẩn đánh giá trình độ của người tập Việc nghiên cứu giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động CLB TDTT cho SV trong các trường học ở Việt Nam đã được rất nhiều tác giả nghiên cứu: Nguyễn Hữu Bính (2000); Nguyễn Gắng (2000); Nguyễn Văn Thầm (2001); Tô Thị Việt Châu (2006); Lương Phúc Thành (2010); Phạm Thị Điều (2012) Những công trình trên có ý nghĩa to lớn trong việc nâng cao chất lượng hoạt động CLB thể thao trường học. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về mô hình CLB Cầu lông SV trong các trường đại học. Xuất phát từ những lý do nêu trên, với mục đích phát triển phong trào tập luyện môn Cầu lông, cũng như nâng cao sức khỏe thể lực cho SV trong các trường đại học tại Thành phố Hà Nội chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu mô hình CLB Cầu lông trong một số trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội”. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu mô hình CLB Cầu lông phù hợp với nhu cầu tập luyện của SV và điều kiện của một số trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội. 4 Qua đó góp phần nâng cao chất lượng công tác giáo dục thể chất và hoàn thành mục tiêu đào tạo của các trường. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu sau: Nhiệm vụ 1. Đánh giá thực trạng phong trào tập luyện thể thao trong các trường đại học trên địa bàn Thành phố Hà Nội Quá trình giải quyết nhiệm vụ 1 được tiến hành theo các bước: Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới phong trào tập luyện thể dục thể thao trong các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội Thực trạng phong trào tập luyện môn Cầu lông trong các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội Thực trạng kết quả tập luyện thể dục thể thao trong các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội Bàn luận kết quả nghiên cứu nhiệm vụ 1 Nhiệm vụ 2. Nghiên cứu ứng dụng và đánh giá hiệu quả mô hình CLB Cầu lông đã lựa chọn trong một số trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội Quá trình nghiên cứu nhiệm vụ 2 được tiến hành theo các bước: Cơ sở khoa học xây dựng mô hình câu lạc bộ Cầu lông cho sinh viên các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội Xây dựng mô hình câu lạc bộ Cầu lông cho sinh viên các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội Ứng dụng và đánh giá hiệu quả ứng dụng mô hình câu lạc bộ Cầu lông cho sinh viên các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội Bàn luận kết quả nghiên cứu nhiệm vụ 2 Giả thuyết khoa học Qua tìm hiểu thực trạng phong trào tập luyện Cầu lông của các trường đại học trên địa bàn Thành phố Hà Nội có thể thấy đa số còn yếu về số lượng và chất lượng do nội dung, tổ chức hoạt động, cũng như trình độ huấn luyện 5 viên và hướng dẫn viên chưa được xây dựng thành một mô hình đặc trưng và chưa đảm bảo đầy đủ cơ sở khoa học cần thiết. Nếu xây dựng được mô hình phùhợp, có hiệu quả sẽ đem lại hiệu quả phát triển phong trào tập luyện Cầu lông trong trường học, góp phần nâng cao sức khỏe, thể lực cho SV và góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo. Ý nghĩa khoa học của luận án Hệ thống hóa, bổ sung và hoàn thiện các kiến thức lý luận về các vấn đề liên quan tới hoạt động TDTT NK cũng như về CLB TDTT, các kiến thức chuyên môn về mô hình tập luyện CLB TDTT ngoại khóa nói riêng và mô hình hoạt động CLB Cầu lông ngoại khóa nói riêng. Ý nghĩa thực tiễn của luận án Đánh giá được thực trạng phong trào tập luyện TDTT nói chung và tập luyện ngoại khóa môn Cầu lông nói riêng tại một số trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội. Trên cơ sở đó, nghiên cứu xây dựng mô hình hoạt động CLB Cầu lông cho các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội, bước đầu ứng dụng mô hình lựa chọn trong thực tế đã cho thấy hiệu quả thiết thực trong cả phát triển phong trào tập luyện ngoại khóa môn Cầu lông và trong việc nâng cao thể lực cho SV. 6 CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác Thể dục thể thao trong trường học Thể dục thể thao trường học bao gồm hoạt động GDTC bắt buộc và hoạt động TDTT tự nguyện của HS, SV trong trường học các cấp thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, là bộ phận cơ bản và quan trọng của nền TDTT nước ta. Vấn đề này đã được làm rõ trong các văn bản, chỉ thị của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực GDTC và TDTT trường học. Đặc biệt trong Hội nghị Trung ương lần 8 khoá III đã ra nghị quyết, nhấn mạnh phải đẩy mạnh hoạt động y tế và TDTT. Trong nghị quyết có đoạn: “Bắt đầu đưa việc dạy thể dục và một số môn thể thao cần thiết vào chương trình học tập của các trường phổ thông, chuyên nghiệp và đại học” [60]. Năm 1970, Trung ương Đảng tiếp tục ra Chỉ thị 180 CT/TW về tăng cường công tác TDTT trong tình hình mới nhấn mạnh: “Cần tăng cường xây dựng và bồi dưỡng hướng dẫn viên, cán bộ, huấn luyện viên, vận động viên thể thao... và có chủ chương biện pháp cải tiến công tác của các trường TDTT nhằm nâng cao chất lượng đào tạo phù hợp với nhu cầu và nhiệm vụ mới.” [60]. Năm 1975, khi đất nước được thống nhất, Đảng ta đã kịp thời ra Chỉ thị 221 CT/TW (6/1975) về công tác giáo dục ở miền Nam sau ngày giải phóng. Chỉ thị này nêu rõ: “Nội dung giáo dục phổ thông phải toàn diện, bao gồm giáo dục chính trị và đạo đức cách mạng, giáo dục văn hoá khoa học, giáo dục kỹ thuật, giáo dục lao động và giáo dục thể chất.” [60]. Trong Hiến pháp Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam sửa đổi năm 2013 tại Điều 37 đã quy định: "Thanh niên được Nhà nước, gia đình và xã hội tạo điều kiện học tập, lao động, giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân; đi đầu trong công cuộc lao động sáng tạo và bảo vệ Tổ quốc". [42] 7 Các Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, XI của Đảng đã xác định những quan điểm cơ bản và chủ trương lớn trong công tác TDTT của thời kỳ đổi mới. Chăm sóc sức khỏe, tăng cường thể chất của nhân dân luôn được coi là một nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước ta. Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi nhân dân ta phải có sức khỏe dồi dào, thể chất cường tráng, tinh thần phấn khởi. Vận động TDTT là một biện pháp hiệu quả để tăng cường lực lượng sản xuất và lực lượng quốc phòng của nước nhà. Đó chính là những quan điểm của Đảng ta về phát triển sự nghiệp TDTT ở Việt Nam. [1], [2]. Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, năm 1960 đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, năm 2011, trong các văn kiện và nghi ̣ quyết Đại hội, Trung ương đều nêu quan điểm chỉ đạo công tác TDTT trong cả nhiệm kỳ. Đồng thời trong một số nhiệm kỳ, Ban chấp hành Trung ương đảng đã ban hành chỉ thi ̣, nghi ̣ quyết chuyên đề về công tác TDTT. Hoạt động TDTT lần đầu tiên được luật hóa thông qua là Pháp lệnh TDTT được ban hành năm 2000 [40]. Sau một thời gian dài chuẩn bị, năm 2006 Luật TDTT được Quốc hội thông qua, ghi dấu ấn mới cho sự phát triển TDTT của nước nhà. Luật TDTT đã dành riêng một mục gồm 6 điều để quy định về công tác GDTC và hoạt động thể thao trong nhà trường, đây là cơ sở pháp lý để tăng cường trách nhiệm đối với công tác TDTT nói chung, công tác TDTT trong trường học nói riêng [61]. Phát triển TDTT và nâng cao thể lực cho học sinh SV chính là mục tiêu quan trọng, nhằm tạo ra những con người đầy đủ chí và lực, đáp ứng được những yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Từ nhiều năm qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chăm lo GDTC trong nhà trường và đạt được những thành quả nhất định. Năm 1996, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành “Quy hoạch phát triển TDTT Ngành Giáo dục và Đào tạo 1996-2001 và định hướng tới năm 2025 (tháng 12/1996). Hai ngành đã phối hợp chỉ đạo và tổ chức các hoạt động nhằm đẩy mạnh nâng cao chất lượng GDTC trong trường học. Công tác GDTC trong các trường Đại học có một vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc đào tạo đội 8 ngũ tri thức mới, để thực hiện mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”. Giai đoạn học tập trong các trường Đại học của SV, là một giai đoạn quan trọng nhất trong việc chuyển biến từ những bậc học mầm non đến hết phổ thông. Sau khi tốt nghiệp ra trường, lớp SV trở thành những người cán bộ khoa học, có đầy đủ sức khoẻ, trí thức, có phẩm chất đạo đức và có thể hoạt động một cách độc lập sáng tạo trong chuyên ngành của mình. Trong toàn hệ thống giáo dục thì GDTC có vai trò rất to lớn, thông qua các hoạt động TDTT, SV đại học phát triển một cách hài hoà, cân đối, tăng cường sức khoẻ, nâng cao năng lực làm việc, nhanh chóng thích nghi với điều kiện học tập, sinh hoạt mới. [60] Năm 1998, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã ban hành quyết định 203/QĐ-GDTC ngày 23/01/1998 quy định tổ chức hoạt động thể thao ngoại khoá cho học sinh, SV. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng giúp phát triển hoạt động TDTT ngoại khóa cho học sinh, SV trong trường học các cấp. [60] Nghị định số 11/2015/NĐ-CP ngày 31/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ “Quy định về GDTC và hoạt động thể thao trong nhà trường”: “GDTC trong nhà trường là nội dung giáo dục, môn học bắt buộc, thuộc chương trình giáo dục của các cấp học và trình độ đào tạo, nhằm trang bị cho trẻ em, HS, SV các kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen luyện tập thể dục, thể thao để nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện”. [54] Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2020 đã dành riêng một phần quan trọng cho GDTC và hoạt động thể thao trường học. Đề cập đến những yếu kém, tồn tại của công tác GDTC, chiến lược đã nêu: “Công tác GDTC trong nhà trường và các hoạt động thể thao ngoại khóa của HS, SV chưa được coi trọng, chưa đáp ứng yêu cầu duy trì và nâng cao sức khỏe cho HS, là một trong số các nguyên nhân khiến cho thể lực và tầm vóc người Việt Nam thua kém rõ rệt so với một số nước trong khu vực Chương trình chính khóa cũng như nội dung hoạt động ngoại khóa còn nghèo nàn, chưa hợp lý, không hấp dẫn HS tham gia các hoạt động thể thao ngoại khóa” [52]. Trong đó đã nêu ra các chỉ tiêu đến năm 2015 có 100% số trường phổ thông thực 9 hiện đầy đủ chương trình GDTC nội khóa, 45% số trường phổ thông có CLB TDTT, có CSVC đủ phục vụ cho hoạt động TDTT, có đủ GV và hướng dẫn viên TDTT, thực hiện tốt hoạt động thể thao ngoại khóa, 75% số HS được đánh giá và phân loại thể lực theo tiêu chuẩn rèn luyện thân thể [52]. Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 01 tháng 12 năm 2011 về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020: “Mục tiêu của Nghị Quyết này là nhằm tiếp tục hoàn thiện bộ máy tổ chức, đổi mới quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thể dục, thể thao; tăng cường CSVC, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ làm nền tảng phát triển mạnh mẽ và vững chắc sự nghiệp TDTT; đến năm 2020” [3]; Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 08NQ/TW ngày 01/12/2011 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về thể dục, thể thao đến năm 2020 (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 16/NQ-CP ngày 14/01/2013 của Chính phủ) đã khẳng định: “Đổi mới chương trình và phương pháp GDTC, gắn GDTC với giáo dục ý chí, đạo đức, giáo dục quốc phòng, giáo dục sức khỏe và kỹ năng sống của HS, SV. Mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động TDTT quần chúng: Nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, vận động và thu hút đông đảo nhân dân tham gia tập luyện thể dục, thể thao; Các cấp uỷ Đảng, chính quyền, mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cần quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng về công tác thể dục, thể thao” [53]. Song song với việc phát triển TDTT với ngân sách Nhà nước, ngay từ năm 1994, Chỉ thị 36-CT/TW ban hành ngày 24/3/1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá VII về “công tác thể dục thể thao trong giai đoạn mới” đã nêu rõ: “Phát triển thể dục thể thao là trách nhiệm của cấp ủy đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân và tổ chức xã hội, là nhiệm vụ của toàn xã hội, trong đó ngành TDTT giữ vai trò nòng cốt. Xã hội hóa tổ chức hoạt động thể dục thể thao dưới sự quản lý thống nhất của nhà nước”... để sự nghiệp TDTT Việt Nam ngày càng phát triển, trên cơ sở những thành tích đã đạt được, cần 10 có những giải pháp thiết thực, cụ thể... Năm 1999, Thủ tướng chính phủ đã ban hành nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao; Năm 2005, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 về việc đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao; tới năm 2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 53/2006/NĐ-CP ngày 25/5/2006 của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển các cơ sở cung ứng dịch vụ ngoài công lập; năm 2008, Thủ tướng chính phủ đã ban hành nghị định 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 về chính sách khuyến khích xã hội hóa với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường; Năm 2012, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 40/NQ-CP ngày 09/8/2012 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Thông báo kết luận số 37-TB/TW ngày 26/5/2011 của Bộ Chính trị về Đề án “Đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hóa một số lĩnh vực dịch vụ sự nghiệp công”;. Đặc biệt, trong luật TDTT sửa đổi vừa được Quốc hội thông qua, các nội dung sửa đổi tập việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung nhằm khuyến khích, thúc đẩy xã hội hóa hoạt động TDTT như Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân, thành lập các câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp, đào tạo vận động viên, huấn luyện viên và tổ chức thi đấu thể thao chuyên nghiệp; khắc phục những vướng mắc, bất cập, những vấn đề mới phát sinh trong hoạt động TDTT Xã hội hóa giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể dục - thể thao: là chủ trương của Đảng và Nhà nước về vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể dục - thể thao; xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế, xã hội lành mạnh và thuận lợi cho các hoạt động giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể dục - thể thao; phát triển rộng rãi các hình thức hoạt động do các tập thể hoặc các cá nhân tiến hành trong khuôn khổ chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; mở rộng các cơ hội cho 11 các tầng lớp nhân dân tham gia chủ động và bình đẳng vào các hoạt động trên; mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội; phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể dục - thể thao phát triển nhanh hơn, có chất lượng cao hơn. Tóm lại, các văn bản, chỉ thị của Đảng và Nhà nước đã thể hiện tư tưởng nhất quán: Coi trọng và đề cao vai trò của TDTT trong xã hội, trong đó có TDTT trong trường học các cấp. GDTC là một môn học thuộc chương trình giáo dục quốc dân, là một mặt giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, chủ nhân tương lai của đất nước nhằm đào tạo cho đất nước một thế hệ phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức, đáp ứng yêu cầu của quá trình CNH, HĐH đất nước. Chính vì vậy, đổi mới công tác GDTC và TDTT trong trường học các cấp và tăng cường công tác xã hội hóa trong hoạt động TDTT cũng là vấn đề cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. 1.2. Tác dụng của tập luyện Cầu lông 1.2.1. Lịch sử phát triển môn Cầu lông ở Việt Nam và trên thế giới 1.2.1.1. Lịch sử phát triển môn Cầu lông trên thế giới Cầu lông được bắt nguồn từ trò chơi dân gian của một số dân tộc vùng Nam Á và Đông Nam Á vào khoảng cách đây 2000 năm. Theo các tài liệu của Trung Quốc thì môn Cầu lông được bắt nguồn từ trò chơi poona của Ấn Độ. Trò chơi này được phổ biến rộng rãi ở vùng poona và có tiền thân giống ...ọc xong 26 chưa tập trung cao độ. Mức tập trung chú ý cao thể hiện ở học sinh tập trung chú ý lắng nghe giảng giải, phân tích, thị phạm và chú ý đúng sai của bản thân cũng như bạn bè trong thực hiện các bài tập kỹ thuật, cũng như thể lực. Các hành vi chỉ mức độ tham gia vào hoạt động trong học tập cũng gồm có 4 mức: Mức thờ ơ trong việc tham gia các hoạt động học tập, mức học tập thụ động, chỉ đâu làm đấy. Mức tham gia đầy đủ các nội dung học tập và mức học tập một cách chủ động và tích cực. Khi phân loại tính tích cực học tập của người học cần căn cứ vào các tiêu chí để xác định mức độ tích cực của mỗi loại biểu hiện ở người học trong giờ học để có đánh giá tổng hợp để phân loại rất tích cực, tích cực, bình thường và không tích cực để từ đó có đối sách nâng cao tính tích cực học tập cho người học [61]. 1.4.1.3. Nhu cầu tập luyện Thể dục thể thao ngoại khóa của sinh viên Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người, là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau. Thể dục thể thao ngoại khóa, còn gọi là Thể dục ngoại khóa là hoạt động tự nguyện của người học được tổ chức theo phương thức ngoại khoá phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao [8]. Nhu cầu tham gia hoạt động TDTT ngoại khóa của SV nằm trong nhóm nhu cầu vận động và là một trong những nhu cầu tự nhiên như ăn, uống, thở của con người. 1.4.1.4. Động cơ tập luyện Thể dục thể thao ngoại khóa của sinh viên Động cơ là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ não con người. Động cơ định hướng và thúc đẩy con người hoạt động theo một mục tiêu nhất định nhằm thỏa mãn những nhu cầu và tình cảm của con người. Trong tâm lí học động cơ là một vấn đề được các nhà khoa học rất quan tâm. Tất cả những công trình nghiên cứu nhằm mục đích lí giải vì sao con 27 người hành động thế này hay thế khác về thực chất là những công trình nghiên cứu về động cơ. Khái niệm động cơ thường được dùng như một khái niệm trung tâm để lí giải hành vi của con người. Các nhà tâm lí học nghiên cứu và chỉ ra rằng động cơ có một vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động của con người. Động cơ chính là lực thúc đẩy con người hành động để đạt được mục đích của mình. Nói khác đi động cơ chính là yếu tố thôi thúc con người hành động để thoả mãn nhu cầu. Con người không thể đạt được mục đích của mình nếu thiếu vắng động cơ. Trong quá trình học tập nói chung, học tập môn học GDTC và hoạt động TDTT ngoại khóa nói riêng, động cơ có vai trò vô cùng quan trọng và được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu [61]. 1.4.2. Những yếu tố khách quan ảnh hưởng tới hoạt động Thể dục thể thao ngoại khóa trong các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội 1.4.2.1. Sự quan tâm lãnh đạo của Đảng và Nhà nước cùng với sự ủng hộ của Ban giám hiệu Nhà trường và các bộ phận chức năng Sự quan tâm lãnh đạo của Đảng và Nhà nước cùng với sự ủng hộ của Ban giám hiệu Nhà trường và các bộ phận chức năng có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động TDTT ngoại khóa trong trường học các cấp nói chung và trong các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng. Lãnh đạo nào, phong trào đấy. Nếu lãnh đạo quan tâm, phong trào sẽ phát triển mạnh mẽ, ngược lại, nếu lãnh đạo không quan tâm, sự phát triển phong trào sẽ gặp nhiều khó khăn. Trong những năm gần đây, sự phát triển TDTT quần chúng nói riêng và TDTT trong trường học các cấp nói chung đều được Đảng, Nhà nước và các trường ủng hộ. Cụ thể được trình bày trong phần 1.1 của luận án. Như vậy, có thể thấy việc phát triển TDTT ngoại khóa cho học sinh trong trường học các cấp đã được Đảng, Nhà nước và các trường quan tâm chỉ đạo. 1.4.2.2. Hệ thống cơ sở vật chất cho hoạt động Thể dục thể thao ngoại khóa 28 Hệ thống cơ sở vật chất phục vụ hoạt động TDTT ngoại khóa có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động ngoại khóa của học sinh, SV nói chung và của SV các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng. Nhận thức rõ điều này, ngày 30/9/2013, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt “Quy hoạch hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật TDTT quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”. Theo Quy hoạch, đến năm 2020 hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật thể dục, thể thao (TDTT) quốc gia cơ bản đáp ứng nhu cầu tập luyện TDTT của nhân dân, đáp ứng yêu cầu đào tạo, huấn luyện, nâng cao thành tích thi đấu thể thao và đủ khả năng đăng cai tổ chức thành công các giải thi đấu thể thao thành tích cao của khu vực, châu lục và một số giải thi đấu thể thao thành tích cao của thế giới. Đến năm 2020, đất dành cho hoạt động TDTT trên cả nước duy trì ổn định từ 3,5m2 đến 4m2/người dân; hoàn thành cơ bản xây dựng, cải tạo, nâng cấp các công trình thể thao hiện đại, các trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia, các cơ sở đào đạo TDTT. Tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có ít nhất ba công trình TT cơ bản cấp tỉnh (sân vận động, nhà thi đấu, bể bơi), hoàn thành xây dựng một số công trình thể thao phù hợp với các môn thể thao là thế mạnh của địa phương đây là những điều kiện quan trọng để phát triển phong trào TDTT quần chúng của nhân dân, trong đó có TDTT ngoại khóa của học sinh, SV trong trường học các cấp. [52] 1.4.2.3. Kinh phí cho hoạt động Thể dục thể thao ngoại khóa Kinh phí là điều kiện rất quan trọng để có thể tổ chức các hoạt động TDTT ngoại khóa, nhưng không phải là yếu tố quyết định tuyệt đối đến sự thành bại của hoạt động này. Kinh phí dành cho hoạt động TDTT ngoại khóa hàng năm của các trường học các cấp, trong đó có các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội được Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo rất cụ thể: “Hằng năm, nhà trường dành khoản kinh phí từ nguồn ngân sách được cấp, học phí và các nguồn thu hợp pháp khác để chi cho việc thực hiện các nhiệm vụ của công tác tổ chức các hoạt động học tập, tập luyện và thi đấu thể thao cho học sinh, SV”. Kinh phí chi cho việc thực hiện các hoạt động tập luyện và thi đấu thể thao được thực 29 hiện theo quy định tại Thông tư số 23/2007/TT-BTC ngày 21/03/2007 của Bộ Tài chính, Thông tư liên tịch số 106/2006/TTLT-BTC-UBTDTT ngày 17/11/2006 của Bộ Tài chính và Ủy ban TDTT, Quyết định số 234/2006/QĐ- TTg ngày 18/10/2006 của Thủ tướng Chính phủ và các quy định khác hiện hành. Ngoài ra, kinh phí cho các hoạt động nói trên được trích từ các nguồn sau: “Ngân sách nhà nước theo quy định; Các khoản tài trợ, hỗ trợ của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật; Các nguồn thu hợp pháp khác của nhà trường; Các nguồn thu do tự nguyện đóng góp của thành viên hội thể thao, CLB thể thao và người tham gia” [60] Các nguồn huy động kinh phí cho hoạt động TDTT ngoại khóa của SV trước hết là từ Nhà trường, ngoài ra, có thể thu hút kinh phí từ các nguồn như: Phí tham gia các CLB thể thao của SV, phí sân bãi, bồi dưỡng cán bộ hướng dẫn hay thu hút tài trợ từ các doanh nghiệp, các nhà tài trợ thông qua các giải thi đấu thể thao tổ chức hàng năm 1.4.2.4. Nhân sự cho hoạt động Thể dục thể thao ngoại khóa Đội ngũ cán bộ, giảng viên, hướng dẫn viên GDTC đóng vai trò hạt nhân trong việc giảng dạy GDTC nội khóa cũng như công tác phong trào TDTT ngoại khóa. Theo đà phát triển chung của các trường (các giảng viên trình độ dưới đại học và thậm chí có bằng đại học tại chức, chuyên tu cũng không đủ tiêu chuẩn giảng dạy ở đại học kể cả các hệ cao đẳng và trung học chuyên nghiệp). Chính vì vậy, đã có rất nhiều giảng viên GDTC thuộc các trường đại học được nhà trường khuyến khích hoặc tự giác học nâng cao chuyên môn sau đại học nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội. Hơn nữa, với kinh nghiệm nhiều năm gắn bó với nghề cùng sự mở rộng đa dạng nội dung tự chọn giảng dạy ở GDTC nội khóa, các giảng viên GDTC, ngoài chuyên sâu chính sở trường của mình, vẫn có thể hướng dẫn, giảng dạy tốt những môn thể thao khác. Khi nghiên cứu về nhân sự cho hoạt động TDTT ngoại khóa cần phải phân tích cả yếu tố người học và yếu tố người thầy. Cụ thể: Về yếu tố người học 30 Với lý luận và phương pháp dạy học lấy học sinh là trung tâm thì học sinh là 1 yếu tố quyết định đến kết quả học tập của người trò và kết quả dạy học của người thầy. Xong trong yếu tố của người học ngoài các yếu tố di truyền và môi trường xã hội, môi trường giáo dục ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập của người học, yếu tố về xác định động cơ mục đích học tập và lựa chọn phương pháp học tập thích hợp cũng là yếu tố ảnh hưởng to lớn đến kết quả học tập của học sinh. Ngày nay phần lớn các nước tiên tiến đều đổi mới phương pháp dạy học để tích cực hoá quá trình học tập của học sinh. Trong tập luyện TDTT ngoại khóa, yếu tố người học ngày càng trở nên quan trọng bởi đây là hoạt động tập luyện tự nguyện, hiệu quả tập luyện phụ thuộc phần lớn vào yếu tố tự giác, tích cực của người học. Yếu tố người thầy Các chuyên gia sư phạm trong và ngoài nước đều cho rằng: Mặc dù trong dạy học không lấy người thầy làm nhân vật trung tâm như giáo dục cổ điển xong vẫn xác định vai trò dẫn dắt quan trọng của người tầy. Giáo dục hiện đại yêu cầu người thầy ngoài việc cần có phẩm chất đạo đức chuẩn mực thì còn cần có trình độ tri thức lý luận và thực hành cao, năng lực sư phạm tốt, có thể cuốn hút và khai thác được các tiềm năng học tập và làm việc theo nhóm, biết tư duy độc lập, sáng tạo của học sinh. Trong GDTC ngoại khóa, người thầy có vai trò hướng dẫn, định hướng người học. 1.5. Đặc điểm tâm - sinh lý sinh viên đại học 1.5.1. Khái niệm về giai đoạn tuổi sinh viên Thuật ngữ "sinh viên" có nguồn gốc từ tiếng La-tinh "Student" có nghĩa là người làm việc, học tập nhiệt tình, người đi tìm kiếm, khai thác tri thức. Nó được dùng cùng nghĩa tương đương với từ "Student" trong tiếng Anh, "Etudiant" trong tiếng Pháp và "Ctygenm" trong tiếng Nga. "SV" là để chỉ những người theo học ở bậc đại học và phân biệt với học sinh đang theo học ở bậc phổ thông. Theo ngôn ngữ Hán Việt, từ "SV" được diễn nghĩa ra là người bước vào cuộc sống, cuộc đời. Còn theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm "SV" được dùng để chỉ người học ở bậc đại học [19]. 31 Từ đó ta có thể hiểu: khái niệm "sinh viên" là những người đang học tập tại các trường đại học, cao đẳng - nơi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu xã hội. Về tuổi sinh học, đa số SV thuộc lứa tuổi thanh niên từ 17 đến 25 tuổi một số ít có tuổi đời thấp hoặc cao hơn tuổi thanh niên. Vì vậy, sự phát triển và trưởng thành về giải phẫu và sinh lí của tuổi thanh niên là đặc trưng cho lứa tuổi SV. 1.5.2. Đặc điểm tâm lý của sinh viên Thời kì này sự phát triển trí tuệ được đặc trưng bởi sự nâng cao năng lực trí tuệ, biểu hiện rõ nhất trong việc tư duy sâu sắc và rộng, có năng lực giải quyết những nhiệm vụ trí tuệ ngày càng khó khăn, phức tạp hơn, có tiến bộ rõ rệt trong các lập luận logic, trong việc lĩnh hội tri thức. Ở lứa tuổi này trí tưởng tượng, sự chú ý và ghi nhớ đã phát triển thành khả năng hình thành ý tưởng trừu tượng, khả năng phán đoán, nhu cầu hiểu biết và học tập. Một đặc trưng quan trọng trong phát triển trí tuệ của thời kì chuyển tiếp là “tính nhạy bén cao độ”. SV có khả năng giải thích và gán ý nghĩa cho những ấn tượng cảm tính nhờ vào những kinh nghiệm và tri thức đã có trước đây. Chính sự phát triển nêu trên kết hợp với óc quan sát tích cực, nghiêm túc sẽ tạo cho SV biết cách lĩnh hội một cách tối ưu và đó chính là cơ sở của toàn bộ quá trình học tập ở đại học và cả sau khi tốt nghiệp. [44] Sự phát triển tình cảm của SV được đặc trưng bằng “thời kỳ bão táp và căng thẳng”. Đây là một thời kỳ đầy xúc cảm đối với mỗi cá nhân. Có nhiều tình huống mới nảy sinh trong cuộc sống SV, đòi hỏi phải phán đoán và quyết định trong khi họ còn thiếu kinh nghiệm và hiểu biết xã hội. Vì vậy, dễ nảy sinh những tình cảm không thích hợp khi phải ứng xử trước những tình huống đó. Do quá nhạy cảm, SV thường bị lúng túng khi phải giải quyết các tình huống mới, nhất là khi bị phê bình, nhận xét nặng lời, thiếu tôn trọng....Khi bị lâm vào hoàn cảnh đó SV dễ xuất hiện phản ứng như: thiếu tự tin, “khùng”, từ chối công việc hoặc làm một cách miễn cưỡng... [60], [61] Đặc điểm tâm lí quan trọng của thời kỳ chuyển tiếp ở lứa tuổi SV là sự phát triển tự ý thức. Tự ý thức là một loại đặc biệt của ý thức trong đời sống 32 cá nhân, có chức năng điều chỉnh nhận thức và thái độ đối với bản thân. Tự ý thức là quá trình tự quan sát, tự phân tích, tự kiểm tra, tự đánh giá về hành động, kết quả của hành động của chính bản thân về mặt tư tưởng, tình cảm, phong cách, đạo đức, hứng thú....Tự ý thức chính là điều kiện để phát triển và hoàn thiện nhân cách, hướng nhân cách theo yêu cầu của xã hội. Tự ý thức của SV được hình thành trong quá trình xã hội hóa và liên quan chặt chẽ với tính tích cực nhận thức của SV. [67]. 1.5.2.1. Sự thích nghi của sinh viên với cuộc sống và hoạt động mới Hoạt động học tập, hoạt động xã hội và môi trường sống của SV có những nét đặc trưng và đòi hỏi khác về chất so với các lứa tuổi trước đó. Để hoạt động học tập có kết quả, trong thời gian đầu ở trường đại học, cao đẳng, SV phải thích nghi với hoạt động học tập, hoạt động xã hội cũng như các sinh hoạt trong đời sống tập thể SV. Quá trình thích nghi này tập trung chủ yếu ở các mặt: Nội dung học tập mang tính chuyên ngành; Phương pháp học tập mới mang tính nghiên cứu khoa học; Môi trường sinh hoạt mở rộng phạm vi quốc gia, thậm chí quốc tế; Nội dung và cách thức giao tiếp với thầy, cô giáo, bạn bè và các tổ chức xã hội phong phú, đa dạng... [67]. 1.5.2.2. Sự phát triển về nhận thức, trí tuệ của sinh viên Bản chất hoạt động nhận thức của những người SV trong các trường đại học, cao đẳng là đi sâu, tìm hiểu những môn học, những chuyên ngành khoa học cụ thể một cách chuyên sâu để nắm được đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp, qui luật của các khoa học đó, với mục đích trở thành những chuyên gia về các lĩnh vực nhất định. Hoạt động nhận thức của họ một mặt phải kế thừa một cách có hệ thống những thành tựu đã có, mặt khác lại phải tiệm cận với những thành tựu của khoa học đương đại và có tính cập nhật, thời sự. Vì vậy, nét đặc trưng cho hoạt động học tập của SV là sự căng thẳng nhiều về trí tuệ, sự phối hợp của nhiều thao tác tư duy như phân tích, so sánh, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa. [44], [62] 1.5.2.3. Sự phát triển của động cơ học tập ở sinh viên 33 Theo các nhà tâm lý học nghiên cứu và chỉ ra rằng động cơ có một vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động của con người. Động cơ chính là lực thúc đẩy con người hành động để đạt được mục đích của mình. Nói khác đi động cơ chính là yếu tố thôi thúc con người hành động để thoả mãn nhu cầu. Con người không thể đạt được mục đích của mình nếu thiếu vắng động cơ phấn đấu. Động cơ hoạt động của SV rất phong phú và thường bộc lộ rõ tính hệ thống. Trong đó việc học tập và hoạt động chung của SV thường bị tác động bởi nhiều động cơ. Qua nghiên cứu của A.N.Ghebơxơ, việc hình thành động cơ học tập của SV phụ thuộc vào các yếu tố: Ý thức mục tiêu và mục đích của việc học; Mức độ am hiểu lý luận vả thực tiễn các tri thức được lĩnh hội; Tính mới mẽ, hấp dẫn của thông tin khoa học; Tính nghề nghiệp được thể hiện rõ trong tài liệu được trình bày; Năng lực sư phạm khi truyền đạt thông tin của giảng viên. Trong đó, vai trò của giảng viên chi phối khá mạnh động cơ học tập của SV. [61], [62] 1.5.2.4. Đời sống xúc cảm, tình cảm của sinh viên Sinh viên có đời sống xúc cảm - tình cảm đóng một vai trò quan trọng trong đời sống con người nói chung và thể thao nói riêng. Sau khi phát sinh trong mối quan hệ tương tác giữa con người và môi trường trong quá trình học tập, lao động, tập luyện thi đấu, cảm xúc trở thành yếu tố tác động đến tính chất và hiệu quả của những hoạt động đó. Một khi rơi vào tình trạng “đói tình cảm” thì toàn bộ hoạt động sống của con người không thể phát triển bình thường được. Bên cạnh tình bạn thì tình yêu và các mối quan hệ khác giới cũng xuất hiện. Do vị thế xã hội, trình độ học vấn và tuổi đời quy định nên lứa SV bước vào lĩnh vực với một tư thế hoàn toàn khác so với tuổi trước đó. Nhìn chung tình yêu nam nữ ở tuổi SV rất đẹp, lãng mạn, thi vị, thuần khiết và chưa rõ ràng, chưa dứt khoát ranh giới giữa tình bạn và tình yêu. Các nhà tâm lý học gọi tình cảm này là tình yêu đương bạn bè. Nếu xác định thì tình yêu cũng là nguồn động viên SV trong học tập. Tuy nhiên tình yêu tuổi SV gặp nhiều mâu thuẫn nội tại và để giải quyết những vấn đề này sẽ đối mặt với nhiều khó khăn và đã có lúc đi vào bế tắc. Vì vậy, đa số SV chọn cách tập trung cho học 34 tập, học nghề trong thời gian học đại học, qua đó giúp họ gặt hái thành quả chuyên ngành và vững vàng, chính chắn hơn trong cuộc sống. [44] 1.5.3. Đặc điểm sinh lý của sinh viên Ở lứa tuổi 18 đến 22, hình thể đã đạt được sự hoàn chỉnh về cấu trúc và sự phối hợp các chức năng. Đầu thời kỳ này, con người đạt được 9/10 chiều cao và 2/3 trọng lượng của cơ thể trưởng thành. Riêng não bộ đã đạt được trọng lượng tối đa (trung bình là 1400 gram) và số tế bào thần kinh đã phát triển đầy đủ tới trên một trăm tỷ nơron. Quan trọng hơn, chính ở lứa tuổi này, hoạt động thần kinh cao cấp đã đạt đến mức trưởng thành. Khoa học đã chứng minh rằng: ở nơron của lứa tuổi SV hoàn hảo hơn, cách ly tốt hơn, đốt nhánh nhiều; nhiều tế bào thần kinh não đến tuổi SV có thể nhận tin từ 1200 nơron trước và gửi đi 1200 nơron sau. Điều này đảm bảo một sự liên lạc vô cùng rộng, chi tiết, tinh tế giữa vô số kênh vào và vô số kênh ra, làm cho trí tuệ của SV vượt xa trí tuệ của học sinh phổ thông. Ước tính có tới 2/3 số kiến thức học được trong một đời người do được tích luỹ trong thời gian này. [27] Ở lứa tuổi 18 – 22 về cơ bản các hệ thống cơ quan quan trọng và thể chất của con người đã hoàn thiện. Lứa tuổi này xương và khớp bắt đầu ổn định, từ 20 – 25 tuổi xương có thể cốt hoá hoàn toàn và không thể phát triển thêm nữa. Mặt khác, cơ thể lại phát triển mạnh theo bề ngang và tăng trọng lượng cơ thể. Nếu được tập luyện TDTT thường xuyên thì mức độ linh hoạt của các khớp xương có thể thay đổi. Song khả năng giải phẫu sinh lý của khớp phải là yếu tố quyết định khi lựa chọn động tác trong tập luyện TDTT. Ở lứa tuổi từ 18 – 22 cơ bắp đã phát triển, tạo điều kiện thuận lợi để tập luyện phát triển sức mạnh và sức bền. Cơ thể con người có năng lực hoạt động cao. Tập luyện TDTT có hệ thống, khoa học sẽ làm tăng lực co cơ chính là nhờ tăng số lượng tiết diện ngang cũng như tăng độ đàn hồi của cơ. [28] Các khả năng sinh học của cơ thể trưởng thành cho phép tập luyện tất cả các môn thể thao và ở lứa tuổi này có thể đạt được những thành tích xuất sắc trong các môn thể thao mang tính nghệ thuật (thể dục dụng cụ, thể dục nghệ thuật), cũng như trong bơi lội và các môn thể thao tốc độ. Những môn thể thao sức mạnh, sức bền thì thành tích cao nhất lại đạt vào lứa tuổi 25 – 30. 35 1.5.3.1. Hệ thần kinh Ở lứa tuổi 18-22 hệ thần kinh đã hoàn thiện về cơ cấu tế bào. Trọng lượng não đạt mức tối đa, số lượng nơ-ron thần kinh lên mức cao nhất (14- 16 tỉ), với chất lượng hoàn hảo nhờ quá trình myelin hóa cao độ. Hưng phấn chiếm ưu thế, khả năng phân tích tổng hợp, tiếp nhận thông tin cao và sâu sắc, dễ thành lập phản xạ và cũng khó phai mờ, hệ thần kinh thực vật hoạt động mạnh, tình cảm, tâm lý, cảm xúc thể hiện rõ nét trước và trong thi đấu TDTT. [43] 1.5.3.2. Hệ vận động Hầu hết ở lứa tuổi 18 – 22, lứa tuổi thanh niên, đây là những năm tháng phát triển rực rỡ của sức mạnh tinh thần lẫn thể chất. Ở lứa tuổi này cấu trúc xương và khớp bắt đầu ổn định, xương giảm tốc độ phát triển sau lứa tuổi 20 – 25. Sự phát triển về mặt giải phẫu của chiều cao chậm so với lứa tuổi thiếu niên. Sự tăng kích thước của cơ thể diễn ra vào những năm đầu của tuổi thanh thiếu niên sau đó chậm dần và tăng nhanh lần nữa ở tuổi thanh niên, sau đó chậm lại và đến tuổi 20-23 thì các em gái chậm hơn các em trai. Sự tăng kích thước cơ thể về chiều rộng hơn chiều dài. Độ cứng của những xương chủ yếu đã hình thành, trừ những xương ống to. Bộ xương trở nên vững chắc hơn, ít bị cong vẹo. Lượng cơ lứa tuổi 18 – 22 đạt tới chất lượng mới, sức mạnh cơ tăng lên. [27], [28], [43] 1.5.3.3. Hệ tuần hoàn Hệ tuần hoàn của SV ở lứa tuổi 18 - 22 đang phát triển và hoàn thiện. Hệ thống tim mạch trong giai đoạn hoàn thiện về cấu trúc và chức năng. Dưới ảnh hưởng của quá trình phát triển sinh học tự nhiên và sự tác động của tập luyện đã tạo nên những biến đổi thích ứng. Tần số giảm trong yên tĩnh, buồng tim giãn rộng, thành tim dầy lên và lực co bóp tim tăng là cơ sở tăng lưu lượng phút, lưu lượng tâm thu, huyết áp tối đa trong vận động. [27], [28], [43] 1.5.3.4. Hệ hô hấp Theo số liệu y học, độ tuổi SV đã phát triển hoàn thiện. Phổi phải nặng khoảng 700 gram, phổi trái nặng khoảng 600 gram. Phổi có từ 350-700 triệu 36 phế - nang, đủ che rợp một diện tích 200m2. Theo ước tính, mỗi nhịp thở phổi lại nạp một dung tích là 0.5 lít không khí, cứ một ngày một đêm có khoảng 10.000 lít không khí lưu thông qua buồng phổi (nghĩa là 746 triệu lít khí cho cả đời người). Tuổi trưởng thành của cơ thể có sự thay đổi về độ dài của chu kỳ hô hấp, tỷ lệ thở ra hít vào, thay đổi độ sâu, chu kỳ hô hấp. Ở lứa tuổi từ 18-22 hệ hô hấp của các em phát triển tương đối hoàn chỉnh, các cơ hô hấp đã phát triển mạnh, sự điều tiết của hệ thần kinh trung ương đối với việc thở được bền vững và nhịp nhàng. [27], [28], [43] 1.5.3.5. Hệ bài tiết: Thận là cơ quan quan trọng nhất của hệ bài tiết. Ở người trưởng thành, trọng lượng thận dao động trong khoảng 120-200 gram, với chiều dài từ 4-10 cm, chiều rộng từ 5-6 cm và bề dày từ 3-5 cm. 1.5.3.6. Hệ tiêu hóa: Trong cơ thể, gan, dạ dày và ruột là những cơ quan chủ yếu của hệ thống tiêu hóa. Năng lực tiêu hoá của các bộ phận này tốt sẽ có những ảnh hưởng tốt đối với sức khoẻ con người, SV thường xuyên tham gia các hoạt động xã hội, tập luyện TDTT ngoại khóa, sẽ nâng cao được công năng tiêu hoá của gan, dạ dày và ruột, đồng thời còn có tác dụng trị liệu và phòng ngừa một số bệnh về hệ thống tiêu hóa và các hệ cơ quan khác trong cơ thể. [27], [28], [43] 1.5.3.7. Trao đổi chất và chuyển hóa năng lượng Trao đổi chất và chuyển hóa năng lượng là bản chất của sự sống. Trong hoạt động, mức tiêu hao năng lượng cho quá trình vận động rất lớn, phụ thuộc vào cường độ, thời gian, khối lượng vận động và yếu tố môi trường. Khả năng năng lượng sinh học của cơ thể là một yếu tố sinh hóa quan trọng xác định năng lực vận động tối đa của con người. Tùy thuộc vào khả năng cung cấp năng lượng mà cơ thể có thể thu nhận năng lượng từ hai quá trình chuyển hóa yếm khí và ưa khí. Mỗi loại hình hoạt động thể lực khác nhau tùy thuộc đặc điểm kỹ thuật và tố chất chuyên môn riêng biệt của nó, đòi hỏi một quá trình trao đổi chất chuyển hóa năng lượng đặc trưng. Như vậy, tập luyện nâng cao thành tích thể thao cũng chính là quá trình tập luyện nâng cao năng lực thích nghi của một hệ thống trao đổi chất nào đó với cường độ 37 và khối lượng vận động của môn thể thao tương ứng, là cơ sở của sự nâng cao năng lực vận động và thành tích của môn thể thao đó. Quá trình phát triển các chỉ số năng lượng sinh học theo lứa tuổi có sự khác biệt phụ thuộc vào giới tính, ở nam giới cường độ yếm khí tăng nhanh đến tuổi 20, cao nhất tuổi 30 và sau đó giảm dần. Chỉ số cường độ của quá trình ưa khí – VO 2 max, ở nam cực đại tuổi 25, ổn định cho đến 40 tuổi, sau đó giảm dần. Lượng Acid lactic máu cao nhất của nam và nữ đạt được ở tuổi 22, sau đó giảm nhanh ngay sau 30 tuổi. [27], [28], [43] 1.6. Một số công trình nghiên cứu có liên quan 1.6.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 1.6.1.1. Các công trình nghiên cứu về Cầu lông Cầu lông là môn thể thao được phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Chính vì vậy, rất nhiều công trình nghiên cứu về môn Cầu lông trên thế giới đã được tiến hành và thu được nhiều kết quả tốt thiết thực. Có thể kể tới một số công trình nghiên cứu sau: Tiếp cận từ góc độ nghiên cứu phát triển thành tích môn Cầu lông: Năm 1997, tác giả Bành Mỹ Lệ, Hậu Chính Khánh (Lê Đức Chương dịch năm 2000) đã nghiên cứu về môn Cầu lông và đưa ra các nội dung kiểm tra, đánh giá trình độ tập luyện của VĐV Cầu lông [33]. Nghiên cứu của các tác giả Bành Mỹ Lệ và Hậu Chính Khánh không chỉ đưa ra các nội dung kiểm tra, đánh giá trình độ tập luyện của VĐV Cầu lông mà còn đưa ra được tỷ lệ điểm của từng chỉ tiêu trên tổng điểm kiểm tra, hay nói cách khác là tầm quan trọng của mỗi chỉ tiêu trong đánh giá. Đây là bước quan trọng giúp đánh giá chính xác trình độ tập luyện của VĐV. Theo Bo.Omosegoard (2005), (tài liêu huấn luyện Cầu lông của Liên đoàn Cầu lông Thành phố Hồ Chí Minh), khi huấn luyện thể lực chuyên môn cho VĐV trẻ đã sử dụng 08 chỉ tiêu đánh giá [34]. Trong kết quả nghiên cứu của mình, Bo.Omosegoard đã quan tâm tới nhiều tố chất thể lực trong quá trình đánh giá trình độ thể lực của VĐV, đã đánh giá cả thể lực chung và thể lực chuyên môn, sử dụng các phương tiện đa dạng trong các test đánh giá Tuy nhiên, Bo.Omosegoard lại chưa đưa ra được tỷ trọng ảnh hưởng của từng 38 tố chất thể lực trong công tác kiểm tra, đánh giá trình độ thể lực của VĐV cũng như tầm quan trọng của thể lực chung hay chuyên môn trong từng giai đoạn tập luyện. Tương tự như Bo.Omosegoard, tác giả D.P Gunalan, nguyên Tổng thư ký Liên đoàn Cầu lông Châu Á, khi đánh giá thể lực chuyên môn cho các VĐV Cầu lông đã sử dụng 06 chỉ tiêu đánh giá [22]. D.P Gunalan đã quan tâm rất nhiều tới sức nhanh và tính linh hoạt của chân trong di chuyển môn Cầu lông. Tuy nhiên, cũng như Bo.Omosegoard, ông cũng chưa làm rõ được tỷ trọng ảnh hưởng của sức nhanh và linh hoạt của chân với thành tích thi đấu của VĐV hay với trình độ thể lực của VĐV. Cũng nghiên cứu đánh giá trình độ thể lực của VĐV, Kikkilsen và Boo Mose đã sử dụng 08 chỉ tiêu để đánh giá trình độ thể lực của VĐV Cầu lông 12 – 13 tuổi. Trong công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đã quan tâm nhiều hơn tới các test đánh giá thể lực chung. Điều này hoàn toàn phù hợp với thực tế và với quy luật huấn luyện, vì lứa tuổi 12-13, VĐV Cầu lông trẻ mới chỉ ở giai đoạn huấn luyện sơ bộ, chưa bước vào chuyên môn hóa nên việc phát triển thể lực chung của VĐV là vấn đề quan trọng, làm tiền đề cho phát triển thể lực chuyên môn cũng như thành tích thể thao cao sau này. Tiếp cận từ góc độ sinh lý học, có nhiều tác giả đã quan tâm tới môn Cầu lông. Có thể kể tới một số công trình nghiên cứu sau: tác giả D Cabello Manrique and J J González – Badillo (2003) [68], sự đáp ứng mạch đập trong thi đấu đơn Cầu lông của tác giả Young Chul Kim, Han Kook Sung, Hai Mo Gu (2002) [70], đặc điểm thi đấu môn Cầu lông của tác giả Faude O, Meyer T, Rosenberger F, Fries M, Huber G, Kindermann W (2007) [71], luận án còn thu thập được một số công trình nghiên cứu của các tác giả sau: Theo tác giả Asok Kumar (2008) [69], (mạch đập và nồng độ lactate khi thực hiện đập cầu). Các nghiên cứu về yêu cầu sinh lý trong thi đấu Cầu lông, dựa trên mạch đập từ trước đến nay trên thế giới có (Coad et al, 1979, Mikkelsen, 1979, Abe et al, 1989; Kim et al, 2002), dựa trên mạch đập và lactate máu có (Mikkelsen, 1979; Abe et al. 1990; Ghosh et al, 1990) và đáp ứng chuyển hóa trong thi đấu có (Coad et al, 1979; Mikkelsen, 1979, Faccini and Dal Monte, 39 1996; Cabello et al, 2003). Nghiên cứu về sinh cơ học và phân tích chuyển động có (Gowitzke, 1978; Gowitzke & Waddell, 1977 a, 1977 b, 1978, 1979; Hong, 1993; Jack et al, 1978; Jack & Adrian, 1979). Đặc điểm thi đấu dựa trên yêu cầu về năng lượng, nhịp độ trận đấu có (Cabello & Gonzalez - Badillo, 2003; Cabello et al, 2003) [68]. Về đặc điểm sinh lý của VĐV đỉnh cao và cận đỉnh cao môn Cầu lông, tác giả Ooi CH, Tan A, Ahmad A, Kwong KW, Sompong R, Ghazali KA, Liew SL, Chai WJ, Thompson MW, (2009) [72].; Về đặc điểm sinh lý VĐV đỉnh cao trẻ, nhóm tác giả Kerry Ann và Lieshout (2002) [73] Các tác giả trên đã nghiên cứu rất sâu về đặc điểm sinh lý của VĐV trong tập luyện môn Cầu lông. Tuy nhiên, để áp dụng những tiêu chí trên trong thực tế còn gặp nhiều vấn đề bất cập như: Sự không đồng nhất về trình độ tập luyện của VĐV giữa các quốc gia; các phương tiện đánh giá và cách thức đánh giá không đồng nhất Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu của các tác giả trên đã tạo nguồn tài liệu tham khảo phong phú cho thực tiễn huấn luyện cũng như nghiên cứu về môn Cầu lông tại nước ta hiện nay. 1.6.1.2. Các công trình nghiên cứu về Thể dục thể thao ngoại khóa Nghiên cứu về TDTT ngoại khóa trong trường học các cấp cũng là vấn đề được nhiều nhà khoa học thuộc các quốc gia trên thế giới quan tâm và tiếp cận dưới nhiều góc độ. Có thể kể tới một số công trình nghiên cứu sau: Năm 1998, tác giả Thẩm Hải Cầm (Trung Quốc) đã tiến hành nghiên cứu về quá trình sinh trưởng và phát dục của học sinh thiếu niên, nhi đồng Trung Quốc, nghiên cứu về quy luật phát dục của Thiếu niên, Nhi đồng; tình hình sinh trưởng của Thiếu niên Nhi đồng qua gốc tích của các em thuộc các loại phát dục khác nhau; thành phần cơ thể của Thiếu niên Nhi đồng và tiêu chuẩn đánh giá sự phát dục của Thiếu niên Nhi đồng Trung Quốc [74]. Đây là công trình nghiên cứu khoa học rất có ý nghĩa trong việc theo dõi sự phát triển của thiếu niên, nhi đồng, làm cơ sở tác động các giải pháp về dinh dưỡng, y học, tập luyện TDT...Những ý kiến còn thiếu sót, xin các thầy (cô) ghi bổ sung ở ô trống phía dưới và cho luôn sự đánh giá. Câu hỏi. Ông (bà) đánh giá như thế nào về mức độ phù hợp của mô hình Câu lạc bộ Cầu lông đã xây dựng cho sinh viên các trường đại học tại Hà Nội ? * Mô hình CLB Cầu lông do nhà trường quản lý Đánh giá chung về mô hình Tính mục đích Tính nhiệm vụ Tính nội dung Tính đặc điểm Các cấp quản lý Cơ cấu tổ chức Đối tượng tham gia Cơ sở pháp lý Chức danh trong CLB Kinh phí hoạt động * Mô hình CLB Cầu lông do nhà trường và tư nhân kết hợp quản lý Đánh giá chung về mô hình Tính mục đích Tính nhiệm vụ Tính nội dung Tính đặc điểm Các cấp quản lý Cơ cấu tổ chức Đối tượng tham gia Cơ sở pháp lý Chức danh trong CLB Kinh phí hoạt động Mức độ phát triển thể lực của người tập Mức độ phát triển trình độ chuyên môn của người tập Di chuyển ngang sân đơn 10 lần (s) Di chuyển tiến lùi nửa sân 10 lần (s) Di chuyển nhặt đổi cầu 6 điểm trên sân 5 vòng (s) Phát cầu ngắn vào ô 30x30cm 20 lần (số lần vào ô) Đập cầu vào ô 30x30cm 20 lần (số lần vào ô) Lên lưới bỏ nhỏ kết hợp lùi sau 3m đập cầu 10 lần (s) Tấn công 2 góc cuối sân 10 lần (s) Chi tiết mô hình: 1. Mô hình câu lạc bộ Cầu lông do nhà trường quản lý Câu lạc bộ Cầu lông do nhà trường quản lý bao gồm CLB Cầu lông hoạt động dưới hình thức đội tuyển Cầu lông của các trường và CLB Cầu lông phong trào đều có chung mô hình hoạt động nhưng có mục đích, nhiệm vụ, nội dung tập luyện khác nhau. Có thể khái quát mô hình CLB Cầu lông do nhà trường quản lý qua sơ đồ 1. Sở Giáo dục và Đào tạo thành Ban Giám hiệu Trường Hội thể thao Đại học và ph ố Hà Nội (Bộ môn GDTC, Đoàn thể) chuyên nghiệp Việt Nam Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ Tiểu ban tài chính và cơ Tiểu ban chuyên Tiểu ban tuyên truyền, Tiểu ban khác sở vật ch ất môn vận động tài trợ (nếu có) (nếu có) Các lớp tập Sơ đồ 1. Mô hình Câu lạc bộ cầu lông do nhà trường quản lý trong các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội Giải thích mô hình: Mô hình CLB Cầu lông do nhà trường quản lý trong các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội trước hết là loại hình Câu lạc bộ TDTT công lập, do nhà trường đầu tư cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động và cử cán bộ, giảng viên Nhà trường tham gia Ban chủ nhiệm CLB, quản lý và hướng dẫn tập luyện. Đây là hoạt động TDTT ngoại khóa cho sinh viên, tổ chức theo nguyên tắc tự tập luyện, có huy động sự đóng góp kinh phí hoạt động của sinh viên, các cơ quan đoàn thể, xã hội. Ban chủ nhiệm CLB chịu sự quản lý của: Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hà Nội (quản lý các vấn đề liên quan tới cấp phép chuyên môn, quyền lợi của CLB với các giải đấu do Ngành Giáo dục và Đào tạo tổ chức); Ban Giám hiệu Trường (Quản lý về chủ trương, quyết định thành lập CLB, phương thức hoạt động, kinh phí hoạt động, nhân sự hoạt động, cơ cấu tổ chức); Hội thể thao đại học và chuyên nghiệp Việt Nam (chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức các Đại hội TDTT trường, các giải vô địch trường môn Cầu lông, thi đấu hữu nghị môn Cầu lông giữa các lớp, các khoa, thi đấu giao hữu với trường bạn) Ban chủ nhiệm CLB: Thường gồm Hiệu trưởng (hoặc phó hiệu trưởng phụ trách hoạt động TDTT hoặc công tác đoàn thể là Trưởng ban. Có ít nhất 2 phó chủ nhiệm: Phó chủ nhiệm phụ trách tài chính, cơ sở vật chất thường do 01 phó hiệu trưởng phụ trách và phụ trách chuyên môn thường do trưởng bộ môn GDTC phụ trách. Ngoài ra có thể có thêm các phó chủ nhiệm đại diện các tổ chức xã hội trong trường như: Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội sinh viên, Công đoàn trường. Ban chủ nhiệm CLB có trách nhiệm quản lý và điều hành tất cả các vấn đề liên quan tới CLB, xây dựng kế hoạch hoạt động từng năm cũng như các kế hoạch dài hạn, đảm bảo cơ sở vật chất cho hoạt động CLB. Các tiểu ban: Có 2 tiểu ban bắt buộc phải có trong mô hình CLB Cầu lông do nhà trường quản lý trong các trường đại học tại Hà Nội gồm Tiểu ban Chuyên môn và Tiểu ban tài chính – cơ sở vật chất. Trong đó: Tiểu ban chuyên môn: Thường do phó chủ nhiệm phụ trách chuyên môn (trưởng bộ môn GDTC) phụ trách. Nhân sự của tiểu ban gồm các HLV, hướng dẫn viên, các giảng viên Cầu lông. Tiểu ban chuyên môn có trách nhiệm: Xây dựng kế hoạch huấn luyện và thi đấu hàng năm trình Ban chủ nhiệm duyệt; tổ chức hướng dẫn, huấn luyện các lớp theo kế hoạch; Tổ chức các buổi thi đấu, hội thao nội bộ trường, tham gia các giải thi đấu ngoài trường theo kế hoạch; Kiểm tra đánh giá thành tích và kết quả tập luyện của các hội viên CLB; Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng hướng dẫn viên hướng dẫn tập luyện; Trực tiếp quản lý, sử dụng trang thiết bị, dụng cụ tập luyện được giao theo kế hoạch Tiểu ban tài chính và cơ sở vật chất: Thường do phó chủ nhiệm CLB (phó hiệu trưởng) phụ trách. Tham gia tiểu ban thường có đại diện các tổ chức như: Công đoàn, đoàn thanh niên, hội sinh viên, đại diện giảng viên và các nhà tài trợ Tiểu ban tài chính và cơ sở vật chất có trách nhiệm quản lý hội viên, quản lý tài chính theo quy định của Nhà nước; mua sắm và quản lý cơ sở vật chất của CLB, Thực hiện các chế độ chính sách cho HLV, hướng dẫn viên, cán bộ quản lý CLB Tiểu ban tuyên truyền và vận động tài trợ: Thường do đ/c Bí thư đoàn trường hoặc chủ tịch Hội sinh viên trường phụ trách. Thành viên trong tiểu ban thường gồm đại diện các tổ chức như: Công đoàn, đoàn thanh niên, hội sinh viên, đại diện giảng viên và các nhà tài trợ. Tiểu ban này có trách nhiệm tuyên truyền vận động sinh viên, cán bộ giảng viên tham gia CLB; vận động tài trợ của các cơ quan đoàn thể xã hội và các cá nhân; tạo các nguồn thu hợp pháp theo Quy định của Nhà nước. Với những CLB có quy mô nhỏ, tiểu ban tuyên truyền và vận động tài trợ có thể ghép với tiểu ban tài chính và cơ sở vật chất. Ngoài ra, khi CLB phát triển hơn nữa sẽ có thể tách nhỏ các tiểu ban như: Tiểu ban huấn luyện, tiểu ban thi đấu, tiểu ban vận động tài trợ, tiểu ban truyền truyền, tiểu ban thi đua – khen thưởng Các tiểu ban có tác động qua lại 2 chiều với nhau trong quá trình hoạt động CLB. Các lớp tập: Lớp tập thường bao gồm các thành viên CLB. Với những CLB phát triển mạnh, đông sinh viên thường có nhiều lớp tập có phân theo thời gian tập luyện khác nhau tùy theo thời gian rảnh của sinh viên hoặc phân theo trình độ chuyên môn môn Cầu lông của người tập để nâng cao hứng thú tập luyện cho các thành viên CLB. Chi tiết về mô hình CLB Cầu lông hoạt động dưới hình thức đội tuyển Tên gọi: Đội tuyển Cầu lông Trường Đại học. 1. Mục đích hoạt động: Là loại hình tổ chức tập luyện TDT ngoại khóa của sinh viên trong trường nhằm bồi dưỡng những sinh viên có năng khiếu môn Cầu lông, tổ chức huấn luyện để sinh viên đạt được thành tích tốt nhất trong các giải thi đấu chính thức có sự tham gia của Nhà trường. 2. Nhiệm vụ: Tổ chức huấn luyện, bồi dưỡng đội tuyển Cầu lông của trường để chuẩn bị lực lượng tham gia thi đấu các giải thể thao chính thức trong năm. Phát hiện và bồi dưỡng VĐV có năng khiếu môn Cầu lông, chuẩn bị lực lượng tham gia các giải thi đấu giao hữu, các giải thi đấu ngoài trường hàng năm. 3. Nội dung tập luyện Tiểu ban chuyên môn sẽ xây dựng kế hoạch huấn luyện chi tiết cho đội tuyển theo từng năm và căn cứ vào kế hoạch từng giải thi đấu trong năm sao cho: - Huấn luyện chuyên môn: Kỹ thuật, chiến thuật cầu lông nâng cao. Tập trung nhiều vào huấn luyện chiến thuật và thi đấu môn cầu lông - Huấn luyện thể lực: Phát triển toàn diện cả thể lực chung và chuyên môn, trong đó tập trung vào phát triển thể lực chuyên môn, đặc biệt là các tố chất thể lực chuyên môn đặc thù môn Cầu lông - Huấn luyện tâm lý: Chú trọng huấn luyện tâm lý trong quá trình tập luyện và thi đấu Cầu lông - Chuẩn bị tham gia các giải thi đấu thể thao, hội thao các cấp theo lịch hàng năm - Đánh giá thành tích, kết quả tập luyện của các hội viên CLB. 4. Đặc điểm CLB Là tổ chức xã hội dành cho các bạn sinh viên có năng khiếu môn Cầu lông, tự nguyên tham gia. Là loại hình sự nghiệp TDTT công lập 5. Các cấp quản lý Các lớp tập luyện chịu sự quản lý của: Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hà Nội, Ban Giám hiệu Nhà trường, Hội thể thao Đại học và chuyên nghiệp Việt Nam, Ban chủ nhiệm CLB và các tiểu ban. 6. Cơ cấu tổ chức Gồm Ban chủ nhiệm CLB (01 chủ nhiệm CLB và từ 02 Phó chủ nhiệm trở lên; Từ 02 tiểu ban trở lên (Bắt buộc có Ban chuyên môn và Ban Tài chính – Cơ sở vật chất, ngoài ra có thể có ban Tuyên truyền và vận động tài trợ, ban thi đua khen thưởng. tùy quy mô của CLB). 7. Đối tượng tham gia Là sinh viên Nhà trường, có năng khiếu môn Cầu lông, yêu thích và tự nguyện tham gia tập luyện. 8. Cơ sở pháp lý Có quyết định thành lập CLB của trường chủ quản. 9. Chức danh trong CLB Chủ nhiệm CLB: Người đứng đầu CLB, chịu trách nhiệm chính về hoạt động của CLB. Phó chủ nhiệm CLB: Giúp việc cho chủ nhiệm CLB, phụ trách các mảng công việc được giao. Trưởng các tiểu ban: Phụ trách các ban chuyên môn theo sự phân công của chủ nhiệm CLB. Phó trưởng các tiểu ban: Giúp việc các trưởng tiểu ban trong hoạt động chuyên môn của các tiểu ban. Huấn luyện viên: Tổ chức huấn luyện các lớp tập theo kế hoạch chuyên môn được phê duyệt. Chịu trách nhiệm về chất lượng huấn luyện VĐV. Hướng dẫn viên: Trợ giúp HLV trong tổ chức huấn luyện theo kế hoạch chuyên môn được phê duyệt. Thành viên CLB: Là những sinh viên có năng khiếu Cầu lông, tự nguyện tham gia tập luyện và thi đấu theo kế hoạch được phê duyệt của CLB. 10. Kinh phí hoạt động Hoạt động theo kinh phí được Nhà trường cấp. Ngoài ra, có thể sử dụng nguồn kinh phí tài trợ, xã hội hóa để tổ chức các hoạt động của CLB theo quy định của pháp luật. Chi tiết về mô hình CLB Cầu lông phong trào Tên gọi: Câu lạc bộ Cầu Lông Trường Đại học .. 1. Mục đích hoạt động: Là loại hình tổ chức tập luyện TDT ngoại khóa của sinh viên trong trường nhằm: Bổ sung chương trình GDTC chính khóa; phát triển thể chất, đào tạo con người phát triển toàn diện; Bước đầu phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu môn Cầu lông. Là loại hình hoạt động TDTT thu hút đông đảo sinh viên tham gia tập luyện, giao lưu, sinh hoạt văn hóa lành mạnh, góp phần ngăn chặn sự xâm nhập những tiêu cực, tệ nạn xã hội vào trường học. 2. Nhiệm vụ: Giáo dục đạo đức, ý chí, góp phần phát triển thể chất cho sinh viên, tạo cho sinh viên thói quen tập tự tập luyện, rèn luyện thể chất suốt đời. Tạo môi trường sinh hoạt và giao lưu văn hóa thể chất lành mạnh Tổ chức hướng dẫn phổ cập kỹ thuật cơ bản môn Cầu lông cho sinh viên, giúp cho sinh viên có thể tự tập luyện, tự tổ chức chơi, giao lưu, thi đấu môn Cầu lông. Tổ chức các buổi thi đấu giao hữu môn Cầu lông, hội thao nội bộ trường Phát hiện và bồi dưỡng VĐV năng khiếu môn Cầu lông. 3. Nội dung tập luyện Hướng dẫn phổ cập môn Cầu lông Trang bị các kiến thức cơ bản về rèn luyện sức khỏe, phát triển thể chất Trang bị các kiến thức cơ bản về tự tập luyện TDTT và phương pháp tự tập luyện TDTT Trang bị các kỹ, chiến thuật cơ bản, luật thi đấu môn Cầu lông cũng như các kiến thức thường thức môn Cầu lông Hướng dẫn tổ chức thi đấu và trọng tài Cầu lông 4. Đặc điểm CLB Là tổ chức xã hội dành cho các bạn sinh viên có yêu thích và tự nguyện tham gia tập luyện môn Cầu lông. Là loại hình sự nghiệp TDTT công lập 5. Các cấp quản lý Các lớp tập luyện chịu sự quản lý của: Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hà Nội, Ban Giám hiệu Nhà trường, Hội thể thao Đại học và chuyên nghiệp Việt Nam, Ban chủ nhiệm CLB và các tiểu ban. 6. Cơ cấu tổ chức Gồm Ban chủ nhiệm CLB (01 chủ nhiệm CLB và từ 02 Phó chủ nhiệm trở lên; Từ 02 tiểu ban trở lên (Bắt buộc có Ban chuyên môn và Ban Tài chính – Cơ sở vật chất, ngoài ra có thể có ban Tuyên truyền và vận động tài trợ, ban thi đua khen thưởng. tùy quy mô của CLB). 7. Đối tượng tham gia Là cán bộ, giảng viên, sinh viên Nhà trường, yêu thích và tự nguyện tham gia tập luyện. Là người ngoài trường có nhiệt tình tham gia đóng góp cơ sở vật chất để xây dựng và duy trì hoạt động CLB. 8. Cơ sở pháp lý Có quyết định thành lập CLB của trường chủ quản. 9. Chức danh trong CLB Chủ nhiệm CLB: Người đứng đầu CLB, chịu trách nhiệm chính về hoạt động của CLB. Phó chủ nhiệm CLB: Giúp việc cho chủ nhiệm CLB, phụ trách các mảng công việc được giao. Trưởng các tiểu ban: Phụ trách các ban chuyên môn theo sự phân công của chủ nhiệm CLB. Phó trưởng các tiểu ban: Giúp việc các trưởng tiểu ban trong hoạt động chuyên môn của các tiểu ban. Huấn luyện viên: Tổ chức huấn luyện các lớp tập theo kế hoạch chuyên môn được phê duyệt. Chịu trách nhiệm về chất lượng huấn luyện VĐV. Hướng dẫn viên: Trợ giúp HLV trong tổ chức huấn luyện theo kế hoạch chuyên môn được phê duyệt. Thành viên CLB: Là những cán bộ, giảng viên, sinh viên yêu thích và tự nguyện tham gia tập luyện và thi đấu theo kế hoạch được phê duyệt của CLB. Những người ngoài trường có nhiệt tình tham gia đóng góp cơ sở vật chất để xây dựng và duy trì hoạt động CLB 10. Kinh phí hoạt động Hoạt động theo kinh phí được Nhà trường cấp. Ngoài ra, có thể sử dụng nguồn kinh phí tài trợ, xã hội hóa để tổ chức các hoạt động của CLB theo quy định của pháp luật. 2. Mô hình câu lạc bộ Cầu lông do nhà trường và tư nhân kết hợp quản lý Câu lạc bộ Cầu lông do nhà trường và tư nhân kết hợp quản lý bao gồm CLB Cầu lông có thu phí, có người hướng dẫn và CLB Cầu lông có thu phí, không có người hướng dẫn. Hai loại hình hoạt động CLB có chung mô hình hoạt động, có chung mục đích, nhiệm vụ, nội dung hoạt động dưới hình thức CLB có thu phí, chỉ khác nhau ở có và không có người hướng dẫn trong CLB. Có thể khái quát mô hình CLB Cầu lông do nhà trường và cá nhân kết hợp quản lý qua sơ đồ 2. Sở Giáo dục và Đào Ban Giám hiệu Trường Hội thể thao Đại học và Cá nhân/ đơn vị tạo thành phố Hà Nội (Bộ môn GDTC, Đoàn th ể) chuyên nghiệp Việt Nam (Tư nhân) Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ Tiểu ban tài chính và cơ Tiểu ban chuyên Tiểu ban tuyên truyền, Tiểu ban khác sở vật chất môn vận động tài trợ (nếu có) (nếu có) Các lớp tập Sơ đồ 2. Mô hình Câu lạc bộ cầu lông do nhà trường kết hợp với tư nhân quản lý trong các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội Giải thích mô hình: Mô hình CLB Cầu lông do nhà trường và tư nhân kết hợp quản lý trong các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội trước hết là loại hình Câu lạc bộ TDTT bán công lập, do nhà trường đầu tư cơ sở vật chất, hoặc cho thuê cơ sở vật chất, đơn vị hoặc cá nhân (gọi tắt là: Tư nhân) đứng ra tổ chức hoạt động CLB, nguồn kinh phí hoạt động được tiến hành thông qua kinh phí đóng góp của các thành viên CLB. Đây là hoạt động TDTT ngoại khóa cho sinh viên, tổ chức theo nguyên tắc tự tập luyện, có thu phí tập luyện. Ban chủ nhiệm CLB chịu sự quản lý của: Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hà Nội (quản lý các vấn đề liên quan tới cấp phép chuyên môn, quyền lợi của CLB với các giải đấu do Ngành Giáo dục và Đào tạo tổ chức); Ban Giám hiệu Trường (Quản lý về chủ trương, quyết định thành lập CLB, phương thức hoạt động, kinh phí hoạt động, nhân sự hoạt động, cơ cấu tổ chức); Hội thể thao đại học và chuyên nghiệp Việt Nam (chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức các Đại hội TDTT trường, các giải vô địch trường môn Cầu lông, thi đấu hữu nghị môn Cầu lông giữa các lớp, các khoa, thi đấu giao hữu với trường bạn) và Cá nhân hoặc đơn vị (tư nhân) đứng ra chịu trách nhiệm về hoạt động CLB. Ban chủ nhiệm CLB: Khác với Ban chủ nhiệm của CLB Cầu lông do nhà trường quản lý, Ban Chủ nhiệm CLB Cầu lông do nhà trường và tư nhân kết hợp quản lý cũng có 1 Chủ nhiệm CLB (thường là đại diện cá nhân/ đơn vị (tư nhân) đứng ra tổ chức CLB). Từ 03 phó chủ nhiệm trở lên, trong đó có 01 Phó chủ nhiệm thuộc trường (Bộ môn GDTC hoặc Đoàn thanh niên, Hội sinh viên hay Công đoàn trường) làm công tác quản lý chung tình hình CLB và 02 phó chủ nhiệm là đại diện cá nhân/ đơn vị (tư nhân) đứng ra tổ chức CLB quản lý về chuyên môn và tài chính – cơ sở vật chất hoạt động CLB. Ban chủ nhiệm CLB có trách nhiệm quản lý và điều hành tất cả các vấn đề liên quan tới CLB, xây dựng kế hoạch hoạt động từng năm cũng như các kế hoạch dài hạn, đảm bảo cơ sở vật chất cho hoạt động CLB. Các tiểu ban: Có 2 tiểu ban bắt buộc phải có trong mô hình CLB Cầu lông do nhà trường và tư nhân kết hợp quản lý trong các trường đại học tại Hà Nội gồm Tiểu ban Chuyên môn và Tiểu ban tài chính – cơ sở vật chất. Trong đó: Tiểu ban chuyên môn: Do đại diện cá nhân/ đơn vị (tư nhân) đứng ra tổ chức CLB phụ trách. Nhân sự của tiểu ban gồm các HLV, hướng dẫn viên, các giảng viên Cầu lông. Tiểu ban chuyên môn có trách nhiệm: Xây dựng kế hoạch huấn luyện và thi đấu hàng năm trình Ban chủ nhiệm duyệt; tổ chức hướng dẫn, huấn luyện các lớp theo kế hoạch; Tổ chức các buổi thi đấu, hội thao nội bộ trường, tham gia các giải thi đấu ngoài trường theo kế hoạch; Kiểm tra đánh giá thành tích và kết quả tập luyện của các hội viên CLB; Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng hướng dẫn viên hướng dẫn tập luyện; Trực tiếp quản lý, sử dụng trang thiết bị, dụng cụ tập luyện được giao theo kế hoạch Với loại hình CLB Cầu lông có thu phí, không có người hướng dẫn, tiểu ban chuyên môn có trách nhiệm xây dựng kế hoạch tập luyện hàng năm, định hướng nội dung tập luyện cũng như tổ chức các buổi thi đấu giao hữu, giao lưu giữa các CLB. Tiểu ban tài chính và cơ sở vật chất: Do đại diện cá nhân/ đơn vị (tư nhân) đứng ra tổ chức CLB phụ trách. Tham gia tiểu ban thường có đại diện các tổ chức như: Công đoàn, đoàn thanh niên, hội sinh viên, đại diện giảng viên và các nhà tài trợ Tiểu ban tài chính và cơ sở vật chất có trách nhiệm quản lý hội viên, quản lý tài chính theo quy định của Nhà nước; mua sắm và quản lý cơ sở vật chất của CLB, Thực hiện các chế độ chính sách cho HLV, hướng dẫn viên, cán bộ quản lý CLB Tiểu ban tuyên truyền và vận động tài trợ: Thường do đ/c Bí thư đoàn trường hoặc chủ tịch Hội sinh viên trường phụ trách. Thành viên trong tiểu ban thường gồm đại diện các tổ chức như: Công đoàn, đoàn thanh niên, hội sinh viên, đại diện giảng viên và các nhà tài trợ. Tiểu ban này có trách nhiệm tuyên truyền vận động sinh viên, cán bộ giảng viên tham gia CLB; vận động tài trợ của các cơ quan đoàn thể xã hội và các cá nhân; tạo các nguồn thu hợp pháp theo Quy định của Nhà nước. Với những CLB có quy mô nhỏ, tiểu ban tuyên truyền và vận động tài trợ có thể ghép với tiểu ban tài chính và cơ sở vật chất. Ngoài ra, khi CLB phát triển hơn nữa sẽ có thể tách nhỏ các tiểu ban như: Tiểu ban huấn luyện, tiểu ban thi đấu, tiểu ban vận động tài trợ, tiểu ban truyền truyền, tiểu ban thi đua – khen thưởng Các tiểu ban có tác động qua lại 2 chiều với nhau trong quá trình hoạt động CLB. Các lớp tập: Lớp tập thường bao gồm các thành viên CLB. Với những CLB phát triển mạnh, đông sinh viên thường có nhiều lớp tập có phân theo thời gian tập luyện khác nhau tùy theo thời gian rảnh của sinh viên hoặc phân theo trình độ chuyên môn môn Cầu lông của người tập để nâng cao hứng thú tập luyện cho các thành viên CLB. Chi tiết về mô hình CLB Cầu lông do nhà trường và tư nhân kết hợp quản lý Tên gọi: Câu lạc bộ Cầu Lông (Tên do đơn vị tổ chức CLB đặt) Trường Đại học .. 1. Mục đích hoạt động: Là loại hình tổ chức tập luyện TDT ngoại khóa của sinh viên trong trường nhằm: Bổ sung chương trình GDTC chính khóa; phát triển thể chất, đào tạo con người phát triển toàn diện; Bước đầu phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu môn Cầu lông. Là loại hình hoạt động TDTT thu hút đông đảo sinh viên tham gia tập luyện, giao lưu, sinh hoạt văn hóa lành mạnh, góp phần ngăn chặn sự xâm nhập những tiêu cực, tệ nạn xã hội vào trường học. 2. Nhiệm vụ: Giáo dục đạo đức, ý chí, góp phần phát triển thể chất cho sinh viên, tạo cho sinh viên thói quen tập tự tập luyện, rèn luyện thể chất suốt đời. Tạo môi trường sinh hoạt và giao lưu văn hóa thể chất lành mạnh Tổ chức hướng dẫn phổ cập kỹ thuật cơ bản môn Cầu lông cho sinh viên, giúp cho sinh viên có thể tự tập luyện, tự tổ chức chơi, giao lưu, thi đấu môn Cầu lông. Tổ chức các buổi thi đấu giao hữu môn Cầu lông, hội thao nội bộ trường Phát hiện và bồi dưỡng VĐV năng khiếu môn Cầu lông. 3. Nội dung tập luyện Hướng dẫn phổ cập môn Cầu lông Trang bị các kiến thức cơ bản về rèn luyện sức khỏe, phát triển thể chất Trang bị các kiến thức cơ bản về tự tập luyện TDTT và phương pháp tự tập luyện TDTT Trang bị các kỹ, chiến thuật cơ bản, luật thi đấu môn Cầu lông cũng như các kiến thức thường thức môn Cầu lông Hướng dẫn tổ chức thi đấu và trọng tài Cầu lông 4. Đặc điểm CLB Là tổ chức xã hội dành cho các bạn sinh viên có yêu thích và tự nguyện tham gia tập luyện môn Cầu lông. Là loại hình sự nghiệp TDTT bán công lập. 5. Các cấp quản lý Các lớp tập luyện chịu sự quản lý của: Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hà Nội, Ban Giám hiệu Nhà trường, Hội thể thao Đại học và chuyên nghiệp Việt Nam, đại diện cá nhân/ đơn vị tổ chức CLB, Ban chủ nhiệm CLB và các tiểu ban. 6. Cơ cấu tổ chức Gồm Ban chủ nhiệm CLB (01 chủ nhiệm CLB và từ 03 Phó chủ nhiệm trở lên; Từ 02 tiểu ban trở lên (Bắt buộc có Ban chuyên môn và Ban Tài chính – Cơ sở vật chất, ngoài ra có thể có ban Tuyên truyền và vận động tài trợ, ban thi đua khen thưởng. tùy quy mô của CLB). 7. Đối tượng tham gia Là cán bộ, giảng viên, sinh viên Nhà trường, yêu thích và tự nguyện tham gia tập luyện. Là người ngoài trường có nhiệt tình tham gia và thực hiện nghiêm túc quy định của CLB. 8. Cơ sở pháp lý Có quyết định thành lập CLB của trường chủ quản. 9. Chức danh trong CLB Chủ nhiệm CLB: Người đứng đầu CLB, chịu trách nhiệm chính về hoạt động của CLB. Phó chủ nhiệm CLB: Giúp việc cho chủ nhiệm CLB, phụ trách các mảng công việc được giao. Trưởng các tiểu ban: Phụ trách các ban chuyên môn theo sự phân công của chủ nhiệm CLB. Phó trưởng các tiểu ban: Giúp việc các trưởng tiểu ban trong hoạt động chuyên môn của các tiểu ban. Huấn luyện viên: Tổ chức huấn luyện các lớp tập theo kế hoạch chuyên môn được phê duyệt. Chịu trách nhiệm về chất lượng huấn luyện VĐV. Hướng dẫn viên: Trợ giúp HLV trong tổ chức huấn luyện theo kế hoạch chuyên môn được phê duyệt. (Với CLB Cầu lông có thu phí, không có người hướng dẫn sẽ không có chức danh HLV và Hướng dẫn viên) Thành viên CLB: Là những cán bộ, giảng viên, sinh viên yêu thích và tự nguyện tham gia tập luyện và thi đấu theo kế hoạch được phê duyệt của CLB. Những người ngoài trường có nhiệt tình tham gia đóng góp cơ sở vật chất để xây dựng và duy trì hoạt động CLB 10. Kinh phí hoạt động Hoạt động theo kinh phí đóng góp của các thành viên CLB và nguồn kinh phí huy động tài trợ theo quy định của Nhà nước. Trân trọng cảm ơn! PHỤ LỤC 7. Phiếu phỏng vấn tiêu chí xác định tiêu chí đánh giá hiệu quả ứng dụng mô hình CLB Cầu lông trong các trường đại học tại Hà Nội BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO & DU LỊCH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC TDTT BẮC NINH Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ----------------------------- -------------------------------- PHIẾU PHỎNG VẤN Kính gửi.. Chức vụ:.. Đơn vị công tác: . Với mục đích xác định chính xác các tiêu chí cần thiết khi đánh giá hiệu quả mô hình CLB Cầu lông đã xây dựng cho sinh viên các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội, kính mong ông (bà) trả lời giúp các câu hỏi dưới đây: Cách trả lời cụ thể theo 5 mức: Rất không cần thiết: 1 điểm Không cần thiết: 2 điểm Trung bình: 3 điểm Cần thiết: 4 điểm Rất cần thiết: 5 điểm Những ý kiến còn thiếu sót, xin các thầy (cô) ghi bổ sung ở ô trống phía dưới và cho luôn sự đánh giá. Câu hỏi 1. Theo thầy (cô), các tiêu chí nào sau đây cần thiết để đánh giá hiệu quả ứng dụng mô hình CLB Cầu lông trong các trường đại học tại Hà Nội? * Mức độ phát triển phong trào tập luyện Cầu lông tại trường Số lượng CLB Cầu lông tại trường Số lượng thành viên trong các CLB Số giải thi đấu giao hữu được tổ chức trong năm Số lượng VĐV tham gia các giải giao hữu trong năm Số lượng các giải Cầu lông chính thức đã tham gia trong năm Số lượng VĐV tham gia các giải chính thức trong năm Thành tích đạt được trong các giải thi đấu chính thức trong năm Đảm bảo nhiệm vụ chung của TDTT trường học (GDTC, giáo dưỡng thế chất; phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu thể thao) Có mục đích riêng phù hợp từng loại hình CLB (không trái với mục đích chung của TDTT trường học) * Mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội của mô hình đã xây dựng Nhận xét chung về hoạt động CLB Cầu lông tại Trường Mức độ đáp ứng nhu cầu được vận động, vui chơi lành mạnh, phát triển thể chất Thuận tiện cho cán bộ, giáo viên và sinh viên tham gia tập luyện Chương trình tập luyện phù hợp với đối tượng người tập Trang thiết bị, dụng cụ tập luyện đảm bảo nhu cầu Thành viên CLB có quyền lợi và nghĩa vụ rõ ràng, minh bạch, phù hợp Thành viên CLB được trang bị các kiến thức về tập luyện an toàn, phòng tránh chấn thương và tự tập luyện Mô hình hoạt động giúp thành viên CLB giao lưu tốt với nhau và với các CLB khác Đáp ứng nhu cầu hoạt động tập thể của thành viên CLB Sinh viên nhận được sự tôn trọng của HLV, hướng dẫn viên và các thành viên khác trong CLB Giúp phát hiện và bồi dưỡng thành viên có năng khiếu Mức độ phát triển thể lực của người tập Mức độ phát triển trình độ chuyên môn của người tập * Mức độ phát triển trình độ chuyên môn của người tập Di chuyển ngang sân đơn 10 lần (s) Di chuyển tiến lùi nửa sân 10 lần (s) Di chuyển nhặt đổi cầu 6 điểm trên sân 5 vòng (s) Phát cầu ngắn vào ô 30x30cm 20 lần (số lần vào ô) Đập cầu vào ô 30x30cm 20 lần (số lần vào ô) Lên lưới bỏ nhỏ kết hợp lùi sau 3m đập cầu 10 lần (s) Tấn công 2 góc cuối sân 10 lần (s) Trân trọng cảm ơn! PHỤ LỤC 8. Phiếu phỏng vấn mức độ hài lòng khi tham gia CLB Cầu lông ngoại khóa BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO & DU LỊCH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC TDTT BẮC NINH Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ----------------------------- -------------------------------- PHIẾU PHỎNG VẤN Kính gửi:.. Chức vụ:.. Đơn vị công tác: . Với mục đích đánh giá chính xác hài lòng của ông (bà, anh, chị) khi tham gia hoạt động ngoại khóa môn Cầu lông tại Câu lạc bộ, kính mong ông (bà, anh, chị) trả lời giúp các câu hỏi dưới đây: Cách trả lời cụ thể theo 5 mức: Rất không hài lòng: 1 điểm Không hài lòng: 2 điểm Trung bình: 3 điểm Hài lòng: 4 điểm Rất hài lòng: 5 điểm Những ý kiến còn thiếu sót, xin các ông (bà, anh, chị) ghi bổ sung ở ô trống phía dưới và cho luôn sự đánh giá. Câu hỏi. Xin ông (bà, anh, chị) cho biết mức độ hài lòng của mình khi tham gia hoạt động ngoại khóa môn Cầu lông tại Câu lạc bộ ? Nhận xét chung về hoạt động CLB Cầu lông tại Trường Mức độ đáp ứng nhu cầu được vận động, vui chơi lành mạnh, phát triển thể chất Thuận tiện cho cán bộ, giáo viên và sinh viên tham gia tập luyện Chương trình tập luyện phù hợp với đối tượng người tập Trang thiết bị, dụng cụ tập luyện đảm bảo nhu cầu Thành viên CLB có quyền lợi và nghĩa vụ rõ ràng, minh bạch, phù hợp Mô hình hoạt động giúp thành viên CLB giao lưu tốt với nhau và với các CLB khác Đáp ứng nhu cầu hoạt động tập thể của thành viên CLB Sinh viên nhận được sự tôn trọng của HLV, hướng dẫn viên và các thành viên khác trong CLB Giúp phát hiện và bồi dưỡng thành viên có năng khiếu. Trân trọng cảm ơn! PHỤ LỤC 9. Danh sách các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội trong diện khảo sát của luận án 1. Trường Đại học Thương Mại 2. Trường Đại học Kinh tế Quốc dân 3. Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội 4. Trường Đại học Hà Nội 5. Trường Đại học Công đoàn 6. Trường Đại học Thủy Lợi 7. Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội 8. Học viện Nông nghiệp Việt Nam 9. Trường Đại học Kinh doanh công nghệ 10. Học viện Tài Chính 11. Trường Đại học Quốc gia PHỤ LỤC 10. Xác định tính thông báo của các test đánh giá năng lực chuyên môn cho sinh viên CLB Cầu lông tại Hà Nội (nnam = nnữ = 30) Nam (n=30) Nữ (n=30) TT Nội dung r P r P 1 Di chuyển ngang sân đơn 10 lần (s) 0.81 <0.05 0.82 <0.05 2 Di chuyển tiến lùi nửa sân 10 lần (s) 0.79 <0.05 0.80 <0.05 Di chuyển nhặt đổi cầu 6 điểm trên 3 0.83 <0.05 0.79 <0.05 sân 5 vòng (s) Phát cầu ngắn vào ô 30x30cm 20 lần 4 0.82 <0.05 0.83 <0.05 (số lần vào ô) Đập cầu vào ô 30x30cm 20 lần (số lần 5 0.83 <0.05 0.81 <0.05 vào ô) Lên lưới bỏ nhỏ kết hợp lùi sau 3m 6 0.81 <0.05 0.83 <0.05 đập cầu 10 lần (s) PHỤ LỤC 11. Xác định độ tin cậy của các test đánh giá năng lực chuyên môn cho sinh viên CLB Cầu lông tại Hà Nội (nnam = nnữ = 30) Nam (n=30) Nữ (n=30) TT Nội dung kiểm tra Lần 1 ( x ± δ ) Lần 2 ( x ± δ ) r Lần 1 ( x ± δ ) Lần 2 ( x ± δ ) r 1 Di chuyển ngang sân đơn 10 lần (s) 15.18 ± 1.51 14.97 ± 1.57 0.83 17.46 ± 1.88 17.41 ± 1.82 0.83 2 Di chuyển tiến lùi nửa sân 10 lần (s) 19.33 ± 0.97 19.38 ± 0.93 0.85 20.61 ± 1.04 20.65 ± 1.06 0.85 Di chuyển nhặt đổi cầu 6 điểm trên 3 65.47 ± 2.98 65.41 ± 2.94 0.82 68.54 ± 3.37 68.51 ± 3.32 0.82 sân 5 vòng (s) Phát cầu ngắn vào ô 30x30cm 20 4 11.51 ± 1.32 11.59 ± 1.31 0.84 11.21 ± 1.52 11.26 ± 1.56 0.84 lần (số lần vào ô) Đập cầu vào ô 30x30cm 20 lần (số 5 10.54 ± 1.19 10.51 ± 1.13 0.83 10.33 ± 0.96 10.37 ± 0.92 0.86 lần vào ô) Lên lưới bỏ nhỏ kết hợp lùi sau 3m 6 25.29 ± 2.22 25.20 ± 2.24 0.81 29.19 ± 2.65 29.16 ± 2.659 0.83 đập cầu 10 lần (s)

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_an_nghien_cuu_mo_hinh_cau_lac_bo_cau_long_trong_mot_so.pdf
  • doc2. Tom tat luan an.doc
  • doc3. Thong tin nhung dong gop moi luan an.doc
Tài liệu liên quan