Luận án Vấn đề công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH NGUYỄN HỒNG SƠN HỒNG SƠN VấN Đề CÔNG BằNG Xã HộI TRONG ĐIềU KIệN KINH Tế THị TRƯờNG ĐịNH HƯớNG Xã HộI CHủ NGHĩA ở VIệT NAM HIệN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYấN NGÀNH: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ HÀ NỘI - 2015 HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH NGUYỄN HỒNG SƠN VấN Đề CÔNG BằNG Xã HộI TRONG ĐIềU KIệN KINH Tế THị TRƯờNG ĐịNH HƯớNG Xã HộI CHủ NGHĩA ở VIệT NAM HIệN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYấN NGÀNH:

pdf171 trang | Chia sẻ: huong20 | Ngày: 15/01/2022 | Lượt xem: 27 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Luận án Vấn đề công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ Mã số : 62 22 03 02 Người hướng dẫn khoa học: GS.TS.Dương Xuân NgọcTS Dương Xuân Ngọc HÀ NỘI - 2015 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định. MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 1 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU.............................................. 5 1.1. Những công trình nghiên cứu về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ................................................................................... 5 1.2. Những công trình nghiên cứu về công bằng xã hội ...................................... 8 1.3. Những công trình nghiên cứu về thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ............ 15 1.4. Đánh giá chung các công trình nghiên cứu liên quan và định hướng nghiên cứu của đề tài .................................................................................. 21 Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ................................................................................... 24 2.1. Nhận diện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và công bằng xã hội .................................................................................................. 24 2.2. Tính quy luật về việc thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ................................................. 44 2.3. Kinh nghiệm thực hiện công bằng xã hội trong một số mô hình kinh tế thị trường trên thế giới ............................................................................... 62 Chương 3: THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ......................................... 71 3.1. Thực trạng thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ...................................... 71 3.2. Những vấn đề đặt ra đối với việc thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ............ 98 Chương 4: NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU BẢO ĐẢM THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ................... 115 4.1. Xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ................................................................................................... 115 4.2. Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước trong thực hiện công bằng xã hội... . ........................................................ 115 4.3. Đổi mới, hoàn thiện các chính sách kinh tế, chính sách xã hội theo hướng giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích ........................................... 127 4.4. Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, các tệ nạn xã hội ........................................ 140 KẾT LUẬN .............................................................................................................. 148 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ .................. 150 TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 151 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN CBXH CNCS CNH, HĐH CNTB CNXH KTTT NXB TTKT Tr XHCN Công bằng xã hội Chủ nghĩa cộng sản Công nghiệp hóa, hiện đại hóa Chủ nghĩa tư bản Chủ nghĩa xã hội Kinh tế thị trường Nhà xuất bản Tăng trưởng kinh tế Trang Xã hội chủ nghĩa 1 MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Công bằng xã hội (CBXH) là một hiện tượng, một quá trình xã hội, vận hành cùng với sự phát triển của lịch sử nhân loại. CBXH phản ánh mục tiêu, khát vọng và là thước đo những thành tựu của con người trong quá trình đấu tranh, xây dựng, cải tạo và phát triển xã hội. Trong mỗi thời kỳ lịch sử, với những chế độ xã hội khác nhau, vấn đề CBXH được nhận thức và thực hiện khác nhau, do vậy, bên cạnh những giá trị chung nhất định, khó có một quan niệm thống nhất về CBXH, nhất là trong bối cảnh thế giới diễn biến đa dạng và phức tạp, với nhiều lợi ích và khuynh hướng chính trị khác biệt, thậm chí đối lập nhau như hiện nay. Có thể nói, CBXH là một vấn đề không mới, nó được đặt ra khi con người biết liên kết để gây dựng nên xã hội loài người cho đến ngày nay, song đây lại là vấn đề luôn có tính thời sự, cần được tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và phát triển. Hiện nay, cùng với mục tiêu phát triển kinh tế, hành trình của nhân loại vẫn là hành trình tìm kiếm, tạo dựng những giá trị CBXH, vì một thế giới hòa bình và thịnh vượng, vì mỗi cá nhân với những lợi ích chính đáng cần được thừa nhận và bảo vệ. Ở nước ta, CBXH là một trong năm thành tố của mục tiêu chung mà chúng ta phấn đấu trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH)“Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đại hội XI (2011) của Đảng đã khẳng định: “Thực hiện có hiệu quả tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển” [32, tr.227]. Trong những năm đổi mới vừa qua, cùng với sự phát triển kinh tế, vấn đề CBXH luôn được đặt ra, giải quyết và đạt được những thành tựu quan trọng góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, xã hội; các cơ hội phát triển được mở rộng cho đông đảo nhân dân; lợi ích tăng trưởng ngày càng lớn và được phân phối trên quy mô 2 rộngTuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế thị trường (KTTT), bên cạnh mặt tích cực, còn không ít tiêu cực, ảnh hưởng nghiêm trọng tới CBXH: sự phân hóa giàu, nghèo quá mức giữa các tầng lớp dân cư và giữa các vùng; tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm, tình trạng bất công trong phân bổ tư liệu sản xuất, phân bổ giá trị, bất công trong việc tạo cơ hội học tập, việc làm cho người lao độnggia tăng, trở thành những vấn đề bức xúc, tác động tiêu cực đến tính chất xã hội chủ nghĩa (XHCN) của sự phát triển, đe dọa đến sự ổn định về chính trị - xã hội. Trong điều kiện KTTT định hướng XHCN, thực hiện CBXH luôn là bài toán khó khăn đặt ra đối với quá trình phát triển, bởi lẽ để biến mục tiêu đó thành hiện thực thì phải có hàng loạt những điều kiện khách quan và chủ quan cần thiết, phải giải quyết nhiều quan hệ đa dạng và phức tạp trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội - đặc biệt là quan hệ thường không dễ điều hòa giữa tăng trưởng kinh tế (TTKT) và CBXH, giữa quy luật cạnh tranh thị trường cùng những hệ quả tiêu cực của nó với mục tiêu xây dựng xã hội lành mạnh, tiến bộ. Trong cơ chế thị trường, các vòng quay lợi nhuận luôn tạo sự bất công, do đó khó có thể xác lập CBXH toàn diện. Thực tế cho thấy, muốn thúc đẩy TTKT, trong nhiều trường hợp, chúng ta phải chấp nhận bất CBXH, nhưng tính chất và giới hạn của bất CBXH là gì và đến đâu v.v.., là những vấn đề rất mới. Ngay những nước phát triển, đã trải qua một quá trình lịch sử lâu dài với bao sự bất công xã hội thì mới có thể giải quyết CBXH ở những mức độ nhất định và còn nhiều khó khăn, thử thách... Trong những thập kỷ gần đây, nhiều nước trên thế giới đã và đang phải xem xét, điều chỉnh lại mô hình phát triển, kể cả những mô hình đã có một thời được xem là ưu việt nổi trội như mô hình Bắc Âu với nhà nước phúc lợi, mô hình châu Âu đại lục với thị trường xã hội. Xét theo nội hàm, vấn đề kinh tế cũng nằm trong lĩnh vực xã hội, nhưng không phải lúc nào giải quyết TTKT cũng đồng nghĩa với việc giải quyết vấn đề CBXH. 3 Vì vậy, hiểu như thế nào về CBXH trong nền KTTT định hướng XHCN; làm thế nào để đảm bảo gắn kết giữa phát triển kinh tế và CBXH trong từng bước và cả quá trình phát triển; vai trò của Nhà nước trong việc quản lý, điều tiết nền KTTT nhằm thực hiện CBXH v.v.., là những vấn đề quan trọng, cấp bách cần được nhận thức và giải quyết hiện nay ở nước ta. Từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: “Vấn đề công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” làm Luận án tiến sĩ Triết học. 2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN ÁN 2.1. Mục đích của luận án Trên cơ sở nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về CBXH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN, luận án phân tích thực trạng và giải pháp nhằm thực hiện tốt CBXH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay. 2.2. Nhiệm vụ của luận án - Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về KTTT định hướng XHCN và CBXH. - Khái quát những vấn đề có tính qui luật về thực hiện CBXH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN. - Phân tích thực trạng và những vấn đề đặt đối với việc thực hiện CBXH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay. - Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt CBXH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay. 3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 3.1. Đối tượng nghiên cứu Luận án nghiên cứu những vấn đề có tính qui luật và thực trạng việc thực hiện CBXH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Luận án nghiên cứu vấn đề CBXH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam thời kỳ đổi mới, tập trung từ Đại hội VIII (1996) đến nay. 4 4. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4.1. Cơ sở lý luận Luận án vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về CBXH và CBXH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN; Luận án kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học trong, ngoài nước có liên quan. 4.2. Phương pháp nghiên cứu Vận dụng tổng hợp những nguyên tắc, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp hệ thống, lôgic, lịch sử, phân tích, tổng hợp và so sánh, v.v. để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra. 5. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN - Góp phần làm rõ tính quy luật của việc thực hiện CBXH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam. - Khái quát kinh nghiệm thực hiện CBXH trong một số mô hình KTTT trên thế giới. - Phân tích thực trạng, những vấn đề đặt ra và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện CBXH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay. 6. Ý NGHĨA CỦA LUẬN ÁN 6.1. Ý nghĩa lý luận Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn Luận án làm cơ sở cho công tác quản lý xã hội, xây dựng và thực hiện các chính sách nhằm đảm bảo CBXH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN ở nước ta hiện nay. 7. KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương, 13 tiết. 5 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Thực hiện CBXH trong điều kiện KTTT và KTTT định hướng XHCN là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân các nhà khoa học trong và ngoài nước. Đến nay, đã có nhiều đề tài khoa học, sách, tạp chí, kỷ yếu khoa học và các bài viết đề cập tới vấn đề này. Các công trình khoa học đã trình bày và phân tích các quan niệm về KTTT, KTTT định hướng XHCN, về CBXH và mối quan hệ giữa TTKT và thực hiện CBXH; lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn thực hiện CBXH trong điều kiện KTTT ở một số nước,...với nhiều góc độ tiếp cận khác nhau như Triết học, Kinh tế học, Chính trị học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Xã hội học, v.v.. 1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM Kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình kinh tế được xây dựng trong quá trình đổi mới ở Việt Nam, đây là vấn đề có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn cấp bách, do vậy luôn thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của đông đảo các nhà khoa học. Trong cuốn sách “Một số vấn đề về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩaở Việt Nam” do Vũ Đình Bách chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội (2004), các tác giả đã khái quát lý luận về KTTT và KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, so sánh tính thống nhất và tính đặc thù giữa KTTT ở Việt Nam và KTTT ở nhiều nước trên thế giới; phân tích những nhân tố và động lực thúc đẩy sự phát triển của KTTT, từ đó đề xuất những quan điểm và giải pháp chủ yếu để xây dựng nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam. Trên cơ sở xác định bản chất, mục tiêu của KTTT, nhận diện và phát huy sức mạnh tổng hợp của các nguồn lực xã hội nhằm phát triển KTTT luôn là vấn đề đặc biệt có ý nghĩa, tác giả Lê Du Phong và Hoàng Việt qua bài viết: “Động lực trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định 6 hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, đã phân tích các động lực của cơ chế KTTT bao gồm: động lực kinh tế, động lực chính trị, tinh thần, đồng thời khẳng định, việc phát huy tốt các động lực trên sẽ là điều kiện đảm bảo thành công quá quá trình xây dựng KTTT định hướng XHCN ở nước ta [3, tr 254 - 272]. Ở phương diện tiếp cận khác, tác giả Nguyễn Văn Nam trong bài viết “Đặc điểm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế” đã nghiên cứu sự vận động của KTTT Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, tác giả nhấn mạnh KTTT mà chúng ta xây dựng là nền kinh tế “mở” dựa trên cơ sở sự kết hợp những nguyên tắc và quy luật của KTTT với những nguyên tắc bản chất XHCN. Hội nhập kinh tế quốc tế không gây cản trở cho sự kết hợp đó, ngược lại, còn mở ra những cơ hội mới làm tăng tính khả thi của phương án kết hợp giữa KTTT với CNXH. Sự kết hợp đó phải được thực hiện trên các nội dung: sở hữu, cơ chế vận hành, phân phối thu nhập, đồng thời phải xác định được lộ trình hội nhập phù hợp với các điều kiện kinh tế của đất nước và đảm bảo các thông lệ, thỏa ước quốc tế [3, tr 51 - 67]. Trong đề tài khoa học cấp nhà nước KX.01.01“Đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”(2005) do Vũ Đình Bách làm chủ nhiệm, các tác giả đã khái quát quá trình hình thành và phát triển của KTTT trên thế giới; các mô hình chủ yếu, đặc trưng và xu thế phát triển của KTTT hiện đại như: mô hình KTTT tự do Hoa Kỳ, mô hình KTTT có điều khiển Nhật Bản, mô hình KTTT xã hội Cộng hòa Liên bang Đức, mô hình KTTT nhà nước phúc lợi Thụy Điển, qua đó đánh giá những thành tựu và hạn chế của các mô hình tiêu biểu trên, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam. Nội dung trọng tâm của đề tài là các tác giả đã làm rõ bản chất và ý nghĩa của nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam; đánh giá thực trạng, nguy cơ và thách thức, đồng thời chỉ ra những điều kiện đảm bảo cho sự vận hành và 7 phát triển của nền KTTT ở Việt Nam đó là: đổi mới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản; nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước; cải tạo và xây dựng cơ cấu trong nền KTTT và xây dựng hạ tầng hiện đại, phát triển đồng bộ thể chế và các thị trường riêng của KTTT. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện KTTT định hướng XHCH là nhiệm vụ cơ bản trong thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và hội nhập quốc tế hiện nay ở nước ta, trong đó, trọng tâm chính là xây dựng và hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN. Tác giả Ngô Quang Minh trong bài viết:“Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” (Tạp chí Lý luận chính trị, số 5/2008) đã phân tích các thành tố cơ bản của thể chế KTTT đó là: các luật, quy tắc; các chủ thể; hệ thống thị trường và cơ chế thực thi, từ đó đề xuất giải pháp chủ yếu tiếp tục hoàn thiện thể chế KTTT ở nước ta. Cũng trên tinh thần đó, trong cuốn sách “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” do Đinh Văn Ân chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2008, các tác giả đã phân tích thực tiễn xây dựng thể chế KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất các giải pháp nhằm tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam trong thời gian tới. Tác giả Nguyễn Tấn Dũng trong bài viết “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng”(Tạp chí Cộng sản, số 832 tháng 2/2012) đã nêu rõ quan điểm xây dựng thể chế KTTT hiện đại trong điều kiện toàn cầu hóa và cạnh tranh gay gắt hiện nay; xác định những đặc trưng cơ bản của KTTT hiện đại phải là cơ sở, chuẩn mực trong quá trình hoàn thiện thể chế và thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế ở nước ta hiện nay. Tác giả Nguyễn Gia Thơ trong bài viết “Mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã 8 hội ở nước ta” (Tạp chí Triết học, số 253, tháng 6/2012) đã tập trung phân tích mối quan hệ biện chứng giữa KTTT và định hướng XHCN trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta. Tác giả đã chỉ ra nội hàm của khái niệm “kinh tế thị trường” và “định hướng XHCN”, đồng thời cho rằng KTTT hoàn toàn không mâu thuẫn với định hướng XHCN mà chúng có thể bổ sung nhau trong quá trình phát triển; định hướng XHCN chế ngự các mặt tiêu cực của KTTT, còn KTTT làm tăng năng suất lao động xã hội, góp phần xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH [130, tr.12 - 16]. 1.2. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở nước ngoài, có các công trình nghiên cứu khoa học về CBXH tiêu biểu như sau: Tác giả David Miller, giáo sư Triết học tại Đại học Oxford - Mỹ, trong cuốn “Principles of social juctice”, Harvard University press, 2001[161], cho rằng, CBXH luôn là mục tiêu và lý tưởng của các chính phủ dân chủ trong suốt thế kỷ XX. Thậm chí, ngay cả những người có tư tưởng đối lập nó cũng không thể phủ nhận những giá trị tiềm năng và hiệu quả của CBXH. Tuy nhiên, tác giả cũng cho rằng, ý nghĩa đích thực của CBXH vẫn còn được ít người biết đến. Các lý thuyết hiện đại về CBXH được xây dựng khá phong phú, nhưng cũng đã không thành công trong việc tiếp cận những giá trị cơ bản của CBXH. Trong cuốn sách, David Miller đã đưa ra một lý thuyết mới về CBXH. Ông cho rằng, CBXH là phạm trù lịch sử, nội dung và các nguyên tắc cơ bản của nó phải được hiểu gắn với các điều kiện khác nhau của các cộng đồng xã hội khác nhau. Xã hội hiện đại khá phức tạp, do vậy, các lý thuyết về CBXH cũng phức tạp, đó là một điều hoàn toàn dễ hiểu. Tác giả đã đưa ra ba thành phần chính trong hệ thống các nguyên tắc của CBXH cần phải được thực hiện và bảo đảm, đó là: công lao, nhu cầu và sự bình đẳng của con người. Trên cơ sở sử dụng các phương pháp nghiên cứu tổng hợp, đặc biệt là phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, tác giả đã chứng minh cho vai trò 9 trung tâm của những nguyên tắc này trong những nội dung phổ biến về CBXH. Cuốn sách làm rõ những cơ sở, điều kiện, cũng như những khó khăn, thách thức nhằm thực hiện những nguyên tắc của CBXH trong thời đại ngày nay, thời đại toàn cầu hóa với đặc trưng đa dạng về các khuynh hướng lợi ích kinh tế, chính trị và văn hóa. Các tác giả Matthew Clayton và Andrew Williams trong cuốn “Social justice”, Blackwell publishing Ltd (2004) [169], đã hệ thống các quan điểm về công bằng và bình đẳng xã hội trong thời kỳ cận đại như Jonh Loke, David Hium cho tới thời hiện đại như Jonh Rawls, Robert Nozick, Dworkin, G.A. Cohen, thông qua đó, cuốn sách đã luận giải các quan điểm tiêu biểu về CBXH như: phân phối công bằng về lợi ích và đảm bảo trách nhiệm giữa các cá nhân, nhóm xã hội; quyền sở hữu tài sản, tính lương thiện, bình đẳng giới. Đây là những quan điểm của các nhà triết học cận đại như Jonh Loke, David Hium. Đồng thời, các tác giả cũng làm rõ các quan điểm triết học hiện đại về CBXH như Jonh Rawls, Robert Nozick, Dworkin, trong đó có nhấn mạnh tới các vấn đề đáng quan tâm của xã hội hiện đại liên quan tới công bằng như sự đói nghèo, sự tác động hai mặt của KTTT đối với CBXH; vấn đề nhân quyền, những cơ hội và thách thức nổi bật của thời đại ngày nay đối với thực hiện CBXH, v.v..Có thể nói, đây là công trình nghiên cứu công phu, là tài liệu tham khảo quý báu phục vụ công tác nghiên cứu và tìm kiếm những giải pháp thực hiện công bằng, bình đẳng xã hội. Các tác giả Ira C.Colby, Catherine N.Dulmus, Karen M.Sowers trong cuốn sách“Social work and social policy: advancing the principles of economic and social justice”, Hoboken:John Wiley & Son press (2013) [167], đã nêu lên những quan điểm khá độc đáo về công tác xã hội và chính sách phúc lợi xã hội toàn cầu như một nội dung chủ yếu để thực thi CBXH hiện nay. Bên cạnh đó, các tác giả cũng đã nhấn mạnh vai trò của Nhà nước, như một công cụ quản lý và điều tiết chủ yếu, một chiếc “van” hiệu quả nhằm giải 10 quyết những mâu thuẫn, xung đột xã hội để thực thi công bằng và bình đẳng. Cuốn sách cũng đề cập tới những thách thức cơ bản của xã hội châu Á trong việc thực thi CBXH, đó là: sự cọ xát giữa các yếu tố truyền thống và hiện đại trong việc tìm kiếm những giải pháp thực thi CBXH trong nền KTTT; tính thiếu đồng bộ trong thể chế chính trị, pháp lý và hệ thống chính sách xã hộiCuối cùng các tác giả đã phân tích làm rõ những phương pháp cải cách chính sách xã hội, đặc biệt là chính sách an sinh, phúc lợi xã hội; phương pháp phát huy vai trò của nhà nước phúc lợi; phương pháp sử dụng có hiệu quả các công cụ truyền thông mới nổi nhằm truyền bá và thực hiện CBXH v.v.. Ở trong nước, xung quanh quan niệm về CBXH, các tác giả đã đưa ra các cách tiếp cận và lý giải khác nhau, trong đó, trước tiên phải kể đến là các bài viết trong Kỷ yếu hội thảo quốc tế "Công bằng xã hội, trách nhiệm xã hội và đoàn kết xã hội (International Conference: social justice, social responsibility and social solidarity), của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (VASS), Hà Nội, năm 2007. Tác giả Nguyễn Gia Thơ trong bài “Vấn đề công bằng và bình đẳng trong lịch sử triết học và chính trị học phương Tây”, đã phân tích các quan niệm tiêu biểu về công bằng và bình đẳng xã hội trong lịch sử tư tưởng triết học và chính trị phương Tây từ thời kỳ cổ đại cho tới nay, từ đó đưa ra kết luận quan trọng: Sự phát triển lịch sử nhân loại cho đến ngày nay là sự phát triển và điều chỉnh công bằng và bình đẳng xã hội, cách mạng xã hội là phương thức tất yếu nhằm thay đổi và thiết lập lại trật tự công bằng xã hội, đây là xu hướng khách quan đưa công bằng, bình đẳng xã hội từ khả năng thành hiện thực. Tác giả khẳng định, công bằng xã hội là một phạm trù thuộc lĩnh vực đạo đức, chính trị - xã hội, phản ánh sự tương ứng giữa vai trò của các cá nhân (nhóm xã hội) khác nhau trong đời sống xã hội, giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa tội lỗi và sự trừng phạt, giữa công lao và sự thừa nhận xã hộiSự không 11 tương xứng trong các mối quan hệ trên được gọi là bất công. Tác giả cũng đã so sánh khái niệm CBXH với khái niệm luôn đồng hành với nó là khái niệm bình đẳng xã hội. Bình đẳng xã hội được hiểu là quyền con người, nhóm xã hội trong một xã hội nhất định. Trong một xã hội mà giới hạn quyền con người, nhóm xã hội có sự khác nhau đáng kể thì được coi là bất bình đẳng [143, tr.126], tuy nhiên, những tiêu chí, giới hạn của sự bất bình đẳng xã hội là gì?, tương quan giữa công bằng xã hội với bình đẳng xã hội như thế nào?, tác giả chưa làm rõ. Tác giả Nguyễn Tấn Hùng trong bài viết: “Công bằng xã hội: Mâu thuẫn và phương pháp giải quyết”, đã khẳng định, bản chất của CBXH là sự tương xứng (sự phù hợp) giữa một loạt các khía cạnh khác nhau trong quan hệ giữa cái mà cá nhân, nhóm xã hội làm cho tập thể, cho xã hội hoặc cho cá nhân, nhóm xã hội khác với cái mà họ được hưởng từ tập thể, xã hội hay từ cá nhân, nhóm xã hội khác. Tác giả cũng chỉ ra rằng, thực chất của CBXH chính là sự tương tác lợi ích giữa các cá nhân, nhóm và cộng đồng xã hội, do vậy để thực hiện CBXH cần phải nhận diện và giải quyết các mâu thuẫn cơ bản như: mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội, mâu thuẫn giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội của nhà nước; mâu thuẫn giữa lợi ích nhà đầu tư và lợi ích người lao động; mâu thuẫn trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo [143, tr.352 - 360]. Ở phương diện tiếp cận khác, tác giả Đỗ Lan Hiền với bài viết “Công bằng xã hội theo quan điểm của Kitô giáo”; tác giả Trần Duy Nhiên với bài “Công bình theo quan điểm của Công giáo”,“Lướt qua vấn đề công bằng xã hội trong mấy tác phẩm của Nho giáo và trong tư tưởng của Phật giáo, Lão Tử, Trang Tử, Hàn Phi Tử” đã trình bày quan niệm về CBXH của các tôn giáo tiêu biểu như Kitô giáo, Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo... trong đó nhấn mạnh điểm chung của các tôn giáo là lý giải về CBXH trên cơ sở thế giới quan duy tâm, tìm cơ sở cho việc giải thoát con người khỏi những bất công xã hội từ những nguyên tắc đạo đức, luân lý, từ sự khôi phục bản tính lương 12 thiện và tình thương của con người chứ không phải dựa trên cơ sở khoa học và hiện thực để giải quyết vấn đề. Tuy nhiên, các tác giả cũng khẳng định khát vọng về một xã hội công bằng, bình đẳng, tự do trong quan niệm của các tôn giáo là những ý tưởng có tính đề xướng và thúc đẩy, đồng thời nó còn có giá trị hiện sinh rõ rệt trong đời sống hiện nay [143, tr 247 - 257]. Trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh việc thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Triết học số 1/2008, tác giả Lê Hữu Tầng nêu lên và phân tích hàng loạt những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách xoay quanh chủ đề CBXH. Trước hết, tác giả đã chỉ ra tính thống nhất và tính khác biệt giữa CBXH và bình đẳng xã hội, trong đó, bình đẳng xã hội là sự ngang bằng nhau giữa người với người về một phương diện xã hội nào đấy, chẳng hạn như về kinh tế, chính trị, văn hóa. Trong khi đó, CBXH chỉ là một dạng của bình đẳng xã hội, đó là sự bình đẳng trong phương diện quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ theo nguyên tắc cống hiến ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau, ở đây, khái niệm CBXH và bình đẳng xã hội đã được phân tích khá thấu đáo trong sự so sánh tương tác của các khái niệm, tạo cơ sở đi sâu, làm rõ hơn nội hàm của các khái niệm. Tác giả cho rằng, trong khái niệm CBXH, cống hiến và hưởng thụ phải được hiểu theo nghĩa rộng: chúng không chỉ bao gồm những khía cạnh tích cực như chúng ta vẫn quen dùng, mà cả khía cạnh tiêu cực nữa như công, tội, thưởng, phạt [116, tr.39]. Khi bàn về vấn đề CBXH, trong những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu đã đề cập tới vấn đề công bằng về cơ hội, thậm chí có tác giả còn đánh giá rằng, trong tư duy phát triển hiện đại, công bằng về cơ hội phát triển là nội dung bao trùm của CBXH. Theo tác giả đó, trong trường hợp này, nội hàm của khái niệm CBXH sẽ phải bao hàm sự công bằng trong việc phân phối các cơ hội và điều kiện thực hiện cơ hội, tuy nhiên, thế nào là công bằng trong việc phân phối cơ hội và điều kiện thực hiện cơ hội? Ví dụ như phân phối công bằng về tư liệu sản xuất, phải chăng là sự chia đều theo nguyên tắc theo 13 đơn vị hành chính (chia đều cho 64 tỉnh, thành phố trong phạm vi cả nước); chia theo mật độ dân số (nơi nào có mật độ dân số cao hơn sẽ được phân phối nhiều hơn); chia theo hiệu quả sản xuất kinh doanh (cao hơn sẽ được phân phối nhiều hơn); chia theo hiệu quả kinh tế - xã hội (nơi nào đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao hơn sẽ được phân phối nhiều hơn). Trong 4 cách trên, cách nào là công bằng? do bản thân khái niệm công bằng không được giải thích nên nội hàm của khái niệm ở đây cũng không được giải thích. Theo tác giả Lê Hữu Tầng, nên thay khái niệm công bằng về cơ hội (vì không làm rõ được thế nào là công bằng trong trường hợp này) bằng khái niệm bình đẳng về cơ hội theo nghĩa bình đẳng trong tiếp cận các cơ hội. Trong trường hợp đó, bình đẳng về cơ hội có vai trò gì trong việc thực hiện CBXH? Ở đây, khái niệm CBXH vẫn được hiểu theo nghĩa trình bày trên, nghĩa là những ai có cống hiến ngang nhau thì đều hưởng thụ ngang nhau, đó là thước đo của CBXH. Nhưng thước đo ấy chỉ chuẩn xác khi những người cống hiến này đều xuất phát từ cùng một vạch tức là cùng một mặt bằng trong việc tiếp cận các cơ hội, điều đó cũng có nghĩa là bình đẳng về cơ hội chính là tiền đề để đảm bảo CBXH thực sự [116, tr.40]. Tác giả Nguyễn Minh Hoàn, trong cuốn sách “Công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009 đã đề cập đến hai khái niệm CBXH và tiến bộ xã hội. Hai khái niệm này được tác giả khảo sát trong lịch sử nhân loại từ thời kỳ cổ đại đến nay. Tác giả đã chỉ ra vị trí, vai trò của CBXH trong tiến bộ xã hội và đi đến khái quát CBXH với tư cách là động lực của tiến bộ xã hội và CBXH với tư cách là thước đo về mặt xã hội của tiến bộ xã hội. Tác giả Bùi Đại Dũng, trong cuốn “Công bằng trong phân phối, cơ sở để phát triển bền vững”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012, trên cơ sở phân tích một số các quan điểm tiêu biểu về CBXH trong lịch sử, đặc biệt là các triết gia phương Tây hiện đại như Max Otto Lorenz, Corrado Gini, John Rawls, từ đó đi đến quan niệm, CBXH thường được sử dụng với phạm vi: 14 “Sự công bằng về lợi ích nhận được, trách nhiệm phải đóng góp và hình phạt có thể áp dụng giữa các cá nhân trong xã hội phù hợp với công lý và lẽ phải, đặc biệt là các mối quan hệ giữa giữa cống hiến và được đền bù; tội lỗi và bị trừng phạt đối với mỗi cá nhân cần được cân nhắc trong mối liên hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội, giữa ngắn hạn và trung hạn v.v..[18, tr 35]. Ở đây, tác giả đã có sự phân tích thấu đáo vai trò, ý nghĩa của CBXH trong việc đảm bảo không chỉ lợi ích của các cá nhân, các nhóm xã hội mà còn là lợi ích c... những tiền đề vật chất và tinh thần cho CNXH. Ở một nước kinh tế chưa phát triển, thực hiện nhiệm vụ xây dựng CNXH, bỏ qua chế độ TBCN, đòi hỏi phải có một quá trình phát triển lâu dài. Riêng trong lĩnh vực kinh tế, không thể có ngay nền kinh tế XHCN, mà cần phải xây dựng và phát triển nền kinh tế theo định hướng XHCN. Trong nền kinh tế này, cùng với việc phát triển lực lượng sản xuất, đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế để từng bước thoát ra khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành một nước phát triển thì phải 29 từng bước tạo ra những nhân tố, giá trị XHCN trong quan hệ sản xuất, để những yếu tố XHCN ngày càng lớn, trở thành bộ phận chi phối, chỉ đạo định hướng phát triển của cả nền kinh tế. Kinh tế thị trường định hướng XHCN là một hình thức đặc thù của KTTT. Định hướng XHCN là tính chất của KTTT ở nước ta, phản ánh tính định hướng chính trị của KTTT ở Việt Nam trong thời đại ngày nay. Trong nền kinh tế đó, các thế mạnh của “ thị trường” được sử dụng để tạo nên cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH, nâng cao đời sống nhân dân, còn tính “định hướng xã hội chủ nghĩa” được thể hiện trên cả ba mặt của quan hệ sản xuất: sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối, nhằm mục đích cuối cùng là dân giàu, nước mạnh, tiên tiến hiện đại trong xã hội; do dân làm chủ, nhân ái, có văn hóa, có kỷ cương, xóa bỏ áp bức bất công, tạo điều kiện cho mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. KTTT định hướng XHCN, do vậy, mang những đặc trưng cơ bản như sau: Một là, mục đích của nền KTTT định hướng XHCN là phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới XHCN, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Chính mục tiêu này quy định phương tiện, động lực của KTTT định hướng XHCN. Con đường đạt tới mục tiêu này là sử dụng KTTT, mở cửa, hội nhập, đẩy mạnh CNH, HĐH để phát triển nhanh và bền vững. Hai là, KTTT định hướng XHCN là nền kinh tế đa dạng các hình thức sở hữu, nhưng sở hữu Nhà nước là chủ đạo; nhiều thành phần kinh tế, nhưng kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể là nền tảng của nền kinh tế. Ba là, nền kinh tế có sự quản lý của Nhà nước XHCN. Trong điều kiện KTTT định hướng XHCN, tự do cạnh tranh là cơ chế chủ yếu vận hành kinh tế, nhằm đảm bảo phân bổ hợp lý các nguồn lực và các lợi ích, kích thích phát triển tiềm năng kinh doanh, tăng hiệu quả và tăng năng suất lao động xã hội. Tuy nhiên, điều đó không thể phủ nhận vai trò của Nhà nước XHCN trong 30 việc quản lý, hiệu chỉnh những sai lệch và thất bại của cơ chế thị trường. Nhà nước XHCN tổ chức và quản lý nền KTTT thông qua pháp luật, chiến lược, kế hoạch, chính sách, đồng thời sử dụng cơ chế thị trường để kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy tính tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực, những khuyết tật của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động và toàn thể nhân dân. Đảm bảo vửa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Bốn là, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, CBXH, phát triển văn hóa, y tế, giáo dục và bảo vệ môi trường; giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người. Kinh tế thị trường định hướng XHCN được xây dựng và hoàn thiện vì mục tiêu xã hội nhân văn, càng đi sâu vào KTTT, phúc lợi xã hội càng được chăm lo tốt hơn; mục tiêu giải quyết việc làm, phát triển giáo dục, văn hóa, chăm sóc sức khỏe nhân dân càng được đề cao hơn; các nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực xã hội được phát huy; xóa đói, giảm nghèo được đẩy mạnh. Thể chế KTTT định hướng XHCN phải khuyến khích, tạo điều kiện để mọi người dân làm giàu chính đáng, đồng thời giúp đỡ người khác thoát nghèo, mọi người cùng khá giả. KTTT định hướng XHCN đảm bảo thực hiện các chính sách ưu đãi xã hội đối với những người có công với nước; bảo đảm an toàn cho cuộc sống của mọi thành viên trong cộng đồng, hỗ trợ những vùng, người bị thiên tai, hoặc gặp khó khăn cơ nhỡ. Năm là, là nền kinh tế thực hiện đa dạng hóa các hình thức phân phối: phân phối theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế là chủ yếu; phân phối theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua phúc lợi xã hội, an sinh xã hội. Cơ chế phân phối này vừa tạo động lực kích thích các chủ thể kinh tế nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời hạn chế những bất công xã hội. Việc phân bổ các nguồn lực vừa được tiến hành theo hướng vừa nâng cao hiệu quả, vừa giúp thu hẹp khoảng cách giữa các địa phương. Phát triển kinh tế gắn với tiến bộ và CBXH trong từng bước đi, từng chính sách phát triển. 31 2.1.2. Quan niệm về công bằng xã hội 2.1.2.1. Quan niệm ngoài mác xít về công bằng xã hội Trong xã hội phương Đông truyền thống, CBXH được nhìn nhận chủ yếu trên phương diện đạo đức, văn hóa, tôn giáo, đây cũng là nét đặc thù trong phương thức tư duy và quan niệm giá trị của người phương Đông. CBXH chưa được hình thành một cách có hệ thống và độc lập, do vậy, chưa thực sự trở thành công cụ lý luận để cải tạo chế độ xã hội đương thời. Khổng Tử (551 – 479 TCN), Mặc Tử (480 – 420 TCN), những nhà tư tưởng tiêu biểu của Trung Quốc cổ đại, quan niệm xã hội công bằng là xã hội an bình thái hòa, với một nhà nước lý tưởng, “vua sáng tôi hiền”, không có tranh giành, bóc lột, vui vẻ, hòa thuận, cùng yêu thương nhau trên tinh thần “kiêm ái”. Tuy nhiên, do đứng trên lập trường của giai cấp thống trị, Khổng Tử và Mặc Tử đều thừa nhận sự phân chia giai, tầng xã hội như là một tất yếu, trong đó, mỗi người có những bổn phận và quyền lợi riêng, việc thực hiện đúng bổn phận, trách nhiệm và thụ hưởng lợi ích tương xứng với vị trí của giai tầng xã hội sẽ tạo nên một xã hội công bằng. Ở các nước phương Tây, Platôn (427 - 347 TCN), nhà tư tưởng kiệt xuất Hy Lạp cho rằng, không thể có sự bình đẳng giữa các cá nhân trong xã hội, bởi vì con người vốn sinh ra là khác nhau. Trong hai tác phẩm Nhà nước và Luật lệ, ông cho rằng “Sự bình đẳng giữa những người không bình đẳng là tệ xấu của mọi nền dân chủ”[146, tr55]. Platôn cho rằng, công bằng không phải là sự tương xứng trong quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ mà là sự phân định về đẳng cấp, theo đó, công bằng là công bằng giữa những người ở trong cùng một đẳng cấp chứ không phải giữa những người ở các đẳng cấp khác nhau. Cùng quan niệm với Platôn, Arixtốt (384 - 322 TCN), nhà triết học Hy Lạp cổ đại cũng thừa nhận sự phân chia địa vị xã hội là lẽ tự nhiên; công bằng là sự đối xử ngang nhau giữa những người có cùng địa vị xã hội. Điều đáng lưu ý là, Arixtốt cho rằng, sự không công bằng giữa những người có địa vị và 32 đẳng cấp khác nhau cũng chính là công bằng, và như vậy, cũng giống như Platôn, xuất phát từ lập trường của giai cấp chủ nô, quan điểm của Arixtốt về CBXH vẫn thể hiện rõ tính đẳng cấp và ảo tưởng. Trong xã hội phong kiến trung đại, dưới sự thống trị của nhà thờ Kitô giáo, các nhà tư tưởng phương Tây không đưa ra một quan niệm đáng kể nào về CBXH, khát vọng CBXH được thể hiện chủ yếu thông qua các cuộc khởi nghĩa, đấu tranh đơn lẻ, khoác áo tôn giáo, như nhận xét của Ăng ghen: “Điều đó lý giải vì sao chế độ phong kiến lại có nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại địa chủ, lãnh chúa để đòi CBXH” [66, tr243]. Bước vào thời kỳ cận đại, cùng với sự ra đời của CNTB, CBXH được khơi dậy nhờ sự “phục hưng” những giá trị truyền thống tốt đẹp thời cổ đại, đồng thời tạo ra những bước tiến mới trong nhận thức của nhân loại về CBXH. J.J.Rút - xô (1772 - 1778), nhà triết học khai sáng vĩ đại người Pháp, đã tập trung phê phán quan hệ đẳng cấp, bất bình đẳng trong xã hội tư bản. Để xóa bỏ được tình trạng đó, con người phải thiết lập “khế ước xã hội” nhằm cải biến chính mình, loại bỏ tính xấu xa, đặc biệt là lòng tham và tính ích kỷ thì sẽ đạt được công bằng và bình đẳng. Ở đây, J.J.Rútxô đã chú ý đến sự CBXH trong lĩnh vực kinh tế, nhưng giải pháp để thực hiện CBXH lại dựa trên quan điểm duy tâm về xã hội, đó là những giải pháp dựa trên những thỏa thuận có tính chủ quan của con người mà không căn cứ vào những điều kiện vật chất khách quan của đời sống xã hội. Các nhà chủ nghĩa xã hội không tưởng như Xanh Xi Mông (1760 - 1825), S.Phuriê (1772 - 1837), R. Ôoen (1771 - 1858) cũng đã thể hiện khát vọng về một xã hội lý tưởng và công bằng. Trong xã hội đó, mọi người đều được lao động và hưởng thụ như nhau, không có đặc quyền, đặc lợi. Tuy nhiên, xã hội công bằng do các ông xây dựng ngay từ đầu đã mang tính chất không tưởng, đó là xã hội theo chủ nghĩa bình quân, không phải được thực hiện bằng những cải tạo xã hội tích cực của những người lao động. 33 Ngày nay, những thăng trầm về kinh tế - xã hội đã giúp cho CNTB có được những bài học kinh nghiệm trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội theo hướng công bằng hơn, nhờ vậy, trong một chừng mực nhất định đã làm “dịu đi” những mâu thuẫn gay gắt trong lòng xã hội tư bản. Chính giai cấp tư sản cũng ý thức được rằng, những áp lực ngày càng tăng về CBXH nếu không được xoa dịu, có thể làm tổn hại đến thể chế chính trị của nó. Tuy nhiên, với bản chất thống trị, bóc lột, CNTB không thể giải quyết triệt để vấn đề CBXH. Hiện nay, CNTB đang phải đối mặt với nhiều thử thách gay gắt về CBXH, nhất là khi vấn đề này được xem xét trong điều kiện tốc độ tăng trưởng kinh tế ngày càng cao. Trong bối cảnh đó, xuất hiện nhiều trào lưu tư tưởng và lý thuyết về CBXH. J.Rawls (1921 - 2002), giáo sư triết học thuộc Đại học Harvard - Mỹ, trong tác phẩm “Lý thuyết về công bằng” cho rằng, xã hội công bằng là xã hội mà ở đó các thành viên được hưởng một cách bình đẳng những quyền con người, đó là những quyền tự do cơ bản đã được hợp thức hóa. Ông thừa nhận sự bất công trong những giới hạn nhất định về kinh tế - xã hội và cho rằng, những bất công đó phải được tổ chức sao cho mọi người có thể chấp nhận được và chúng được gắn với những vị trí và chức năng được mở ra cho tất cả mọi người. Ông đã đưa ra nguyên tắc “tối đa hóa cái tối thiểu” (nguyên tắc maximin) cho những người bị thiệt thòi, yếu thế trong xã hội, xem đó như là lý tưởng xã hội công bằng và con đường tiến lên xã hội đó bằng đạo đức. Max Weber (1864 - 1920), nhà triết học Đức lý giải nguyên nhân của sự bất bình đẳng xã hội là sự khác biệt về khả năng thị trường. Ông cho rằng đối với những cá nhân khác nhau thì sự hiểu biết, kỹ năng nghề nghiệp, cũng như cơ may, vận hội chiếm lĩnh thị trường là khác nhau, và chính sự khác biệt đó tạo nên những vị thế khác nhau của các cá nhân và tập đoàn người trong xã hội. Học thuyết này có những đóng góp lớn trong nhận thức về cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội, tuy nhiên, chưa làm rõ được bản chất của sự bất công trong CNTB. 34 Nhìn lại lịch sử tư tưởng nhân loại từ thời kỳ cổ đại cho tới thời kỳ hiện đại, chúng ta thấy rằng, vấn đề CBXH luôn là vấn đề “nóng” được quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Mặc dù có những thành công nhất định, nhưng do hạn chế bởi lập trường giai cấp cũng như yếu tố thời đại, các nhà tư tưởng mới chỉ dừng lại ở việc khái quát dưới dạng lý tưởng về CBXH, nhiều quan niệm còn mang tính chất phiến diện, chủ quan, chưa chỉ rõ được vai trò, bản chất giai cấp của CBXH; chưa nêu lên được những phương thức, điều kiện và lực lượng để thực hiện CBXH. Nhiều tác giả đã gắn CBXH với việc biện minh cho tình trạng đẳng cấp trong xã hội hoặc quá trình thực thi quyền lực của giai cấp thống trị v.v.. 2.1.2.2. Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về công bằng xã hội C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin là những người đấu tranh không mệt mỏi vì lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, vì sự công bằng và tiến bộ của xã hội loài người, với bản chất khoa học và cách mạng, chủ nghĩa Mác - Lênin đã tạo ra một bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển tư tưởng nhân loại nói chung và tư tưởng về CBXH nói riêng. Trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng, kết hợp với việc kế thừa có chọn lọc những tư tưởng tiến bộ của các nhà lý luận trước đó, vấn đề CBXH đã được quan niệm một cách đúng đắn về thực chất, vai trò cũng như các giải pháp thực hiện nó trong đời sống xã hội. Trước hết, chủ nghĩa Mác - Lênin coi CBXH là phạm trù có tính lịch sử, CBXH không phải là hình ảnh của tôn giáo, của những lực lượng tự nhiên mà chính là sản phẩm của đời sống xã hội, là quan hệ giữa con người với con người hình thành trong quá trình hoạt động sinh sống. CBXH thay đổi tùy theo những điều kiện lịch sử khác nhau.Vì thế sẽ không có quan niệm đúng đắn về CBXH nếu không gắn nó với lợi ích giai cấp, tầng lớp xã hội nhất định cùng với những điều kiện vật chất sinh ra nó; đồng thời, với tính chất lịch sử cụ thể, không thể có quan niệm chung về CBXH cho mọi thời đại, mọi dân tộc, mọi giai cấp như một “chân lý vĩnh cửu” (chữ của Ăngghen). 35 Khi phân tích CNTB, C.Mác chỉ ra chế độ sở hữu tư nhân tư bản là cơ sở khách quan của tình trạng bất công trong xã hội, bởi vì chế độ sở hữu đó đã quy định chế độ phân phối bất hợp lý trong CNTB, đó là phân phối không dựa vào sức lao động mà căn cứ chủ yếu vào lượng tài sản, vốn sở hữu. Và kết quả của phương thức phân phối này là nhà tư bản ngày càng giàu có trên sự đau khổ và nghèo đói của những người công nhân và nhân dân lao động. Theo Mác, dưới dế độ XHCN, giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản, khi tư liệu sản xuất được công hữu hóa, công bằng gắn liền với nguyên tắc phân phối theo lao động. Tiêu chuẩn chủ yếu quyết định phẩm giá, địa vị xã hội, quyền hưởng dụng các phúc lợi xã hội của mỗi người sẽ tương đương với hoạt động có ích của người đó cho xã hội. Trong xã hội, sau khi khấu trừ đi những khoản cần thiết để duy trì sản xuất, tái sản xuất cũng như duy trì đời sống cộng đồng, toàn bộ sản phẩm xã hội còn lại sẽ được phân phối theo nguyên tắc: mỗi người sản xuất sẽ được nhận trở lại từ xã hội một số lượng sản phẩm tiêu dùng trị giá ngang với số lượng lao động mà người đó cung cấp cho xã hội. Tuy nhiên, nguyên tắc phân phối theo lao động cũng chỉ là công bằng trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản, chứ chưa phải là công bằng thực sự. Sự bất bình đẳng ở mức độ nhất định vẫn còn tồn tại, đó là thiếu sót của nguyên tắc phân phối theo lao động - một thiếu sót không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa. Mác cho rằng, công bằng thực sự chỉ có thể có được khi xã hội bước vào giai đoạn phát triển cao, khi con người không còn phụ thuộc vào sự phân công theo lao động; lao động không đơn thuần là phương tiện sinh sống mà là nhu cầu hoạt động và phát triển. Một xã hội như vậy có thể có được dần dần trong tương lai xa, đó là “giai đoạn cao hơn của xã hội cộng sản”. Công bằng xã hội chính là một giá trị định hướng và nó sẽ được thực hiện từng bước trong quá trình phát triển để tiến tới xã hội có sự công bằng và bình đẳng hoàn toàn. 36 2.1.2.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội Vượt lên những nhà yêu nước tiền bối và đồng thời đứng vững trên lập trường Macxit, Hồ Chí Minh đã chỉ ra nguyên nhân sâu xa của tình trạng bất công và phi nhân tính trong xã hội thực dân đó là sự tồn tại của chế độ tư hữu “vì một số ít người đã chiếm làm tư hữu những tư liệu sản xuất của xã hội”[73, tr 203]. và dùng nó để chiếm đoạt lao động của người khác. Do vậy, để có cuộc sống hòa bình, hạnh phúc cho nhân dân, đòi hỏi phải giành độc lập tự do và xây dựng xã hội mới XHCN. Người cho rằng, trong CNXH, CBXH là một đặc trưng cơ bản, là mục tiêu và động lực của sự nghiệp xây dựng CNXH và xây dựng CNXH là phương thức và điều kiện tất yếu để thực hiện CBXH. “Chỉ có CNCS mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình và hạnh phúc” [72, tr 461]. Theo quan niệm của Hồ Chí Minh, CBXH là việc giải quyết quan hệ phù hợp giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa cống hiến và hưởng thụ. Nguyên tắc phân phối thực hiện CBXH chính là nguyên tắc phân phối theo lao động. Người nhấn mạnh: “Phân phối phải theo mức lao động. Lao động nhiều thì phân phối nhiều, lao động ít thì phân phối ít. Lao động khó thì được phân phối nhiều, lao động dễ thì được phân phối ít” [76, tr185]. Nguyên tắc phân phối này là điều kiện để đảm bảo cho mọi người có thể phát huy mọi năng lực cống hiến cho xã hội và trước tiên là cho bản thân và mỗi gia đình. Đề cao CBXH, nhưng Hồ Chí Minh cũng luôn phê phán tư tưởng cào bằng, bình quân chủ nghĩa, theo Người, bình quân chủ nghĩa sẽ triệt tiêu động lực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, trái với bản chất của CNXH: “Không nên có tình trạng người giỏi, người kém, việc khó, việc dễ cũng công điểm như nhau, đó là chủ nghĩa bình quân, phải tránh chủ nghĩa bình quân” [74, tr 66]. Một trong những đặc trưng nổi bật trong phong cách và phương pháp tư duy Hồ Chí Minh là độc lập, tự chủ, sáng tạo, luôn gắn với tình hình lịch sử 37 cụ thể của dân tộc. Ở Việt Nam, do hoàn cảnh đặc thù, phải trải qua các cuộc chiến tranh kéo dài, trong công cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, nhiều người có những đóng góp to lớn, thậm chí bằng sự hy sinh xương máu của mình. Vì vậy, các đối tượng này, theo Người cần phải có sự quan tâm đặc biệt để họ có thể ổn định cuộc sống và hòa nhập cộng đồng. Trong tác phẩm “Di chúc”, Người đã căn dặn, sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước: “Đối với những người dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình,Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm cách lo cho họ có nơi ăn, chốn ở yên ổn,Đối với cha, mẹ, vợ con (của thương binh, liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương phải giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ đói rét” [76, tr 503]. Hồ Chí Minh còn quan tâm tới các tập đoàn, lực lượng, các giai cấp xã hội, gắn với những đặc điểm cụ thể, theo Người cũng phải được đối xử công bằng, phải luôn có những chính sách xã hội phù hợp để động viên, khuyến khích họ tích cực tham gia vào sự nghiệp phát triển của đất nước: “Trong bao năm kháng chiến chống thực dân Pháp, tiến đến chống đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nhất là đồng bào nông dân đã luôn trung thành với Đảng, và Chính phủ, ra sức góp người, góp của, vui lòng chịu đựng mọi khó khăn, gian khổ. Nay ta đã hoàn thành thắng lợi, tôi có đề nghị miễn thuế nông nghiệp 1 năm cho các hợp tác xã nông nghiệp để cho đồng bào thêm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất” [76, tr 504]. Theo Hồ Chí Minh, CBXH đòi hỏi phải giảm dần sự cách biệt giữa các vùng, miền trong phạm vi cả nước. Phải chú ý xem xét khi phân phối nguồn lực đầu tư cho các vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng, làm giảm bớt sự mất cân đối giữa vùng phát triển và chậm phát triển, rút bớt khoảng cách về mức sống và lối sống trong các tầng lớp nhân dân, làm cho miền núi từng bước tiến kịp miền xuôi. Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh về CBXH mang nội dung toàn diện, phù hợp với tâm nguyện dân tộc và điều kiện thực tế của Việt Nam, vừa sâu 38 sắc trong cốt lõi khoa học, vừa giản dị, hàm súc. CBXH gắn bó hữu cơ với nhiệm vụ giải phóng dân tộc và xây dựng CNXH, vì mục tiêu giải phóng dân tộc và giải phóng con người. CBXH trong tư tưởng Hồ Chí Minh mang giá trị khoa học và nhân bản sâu sắc, luôn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, là cơ sở, kim chỉ nam cho hoạt động cách mạng của toàn Đảng và toàn dân ta trong công cuộc xây dựng xã hội mới. 2.1.2.4. Khái niệm công bằng xã hội Hiện nay, khái niệm CBXH được đề cập hết sức phong phú, dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau. Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam, CBXH được định nghĩa dưới góc độ ý thức đạo đức, ý thức pháp quyền, chỉ điều chính đáng, tương ứng với bản chất con người và quyền con người. Khác với khái niệm thiện và ác dùng để đánh giá những hiện tượng riêng rẽ, khái niệm công bằng nêu ra sự tương quan giữa một số hiện tượng theo quan điểm phân phối phúc và họa, lợi và hại giữa người với người. Công bằng đòi hỏi sự tương xứng giữa vai trò của cá nhân (những giai cấp) với địa vị của họ; giữa hành vi với sự đền bù (lao động và thù lao, công và tội, thưởng và phạt); giữa quyền lợi và nghĩa vụ [50, tr.580]. Nhiều công trình khoa học nghiên cứu về CBXH dưới góc độ triết học, kinh tế học, chính trị học, luật học, v.v..theo đó, các tác giả coi CBXH không phải là sự ngang nhau giữa người với người về mọi phương diện mà là sự thống nhất giữa nghĩa vụ và quyền lợi của con người theo nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ (cống hiến) ngang nhau thì sẽ được hưởng quyền lợi (hưởng thụ) ngang nhau [105, tr 33]. Tác giả Vũ Anh Tuấn cho rằng “CBXH là khái niệm chỉ sự tương xứng giữa vai trò, vị thế của các thành viên xã hội (cá nhân, giai cấp, nhóm xã hội), giữa cái mà họ tạo ra cho xã hội và cái mà họ nhận lại từ xã hội như cống hiến và hưởng thụ, lao động và sự trả công, quyền và nghĩa vụ, vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý v.v..” [136, tr 25]. 39 Tác giả Dương Xuân Ngọc xem xét CBXH với tính cách là một phạm trù xã hội phản ánh sự phát triển của con người và tiến bộ xã hội “CBXH là một phạm trù xã hội dùng để chỉ trình độ phát triển về phương diện xã hội của con người (cá nhân và cộng đồng), được thực hiện và thể hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội từ kinh tế, chính trị và xã hội đến văn hóa, tinh thần, mà trước hết là lĩnh vực xã hội. Nó phản ánh mối quan hệ về nghĩa vụ và quyền lợi giữa xã hội và cá nhân, nhằm đảm bảo sự phát triển hài hòa của con người, của xã hội phù hợp với xu thế tiến bộ xã hội” [86, tr 37]. Tác giả Lê Hữu Tầng đã xem xét CBXH trong tương quan với khái niệm bình đẳng xã hội, cho rằng, CBXH là một dạng biểu hiện cụ thể của bình đẳng xã hội và thực hiện CBXH chính là thực hiện một phần của bình đẳng xã hội, là thực hiện bình đẳng trên một phương diện nhất định - phương diện quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ [116, tr 39]. Dưới góc độ chính trị học, tác giả Võ Thị Hoa cho rằng, CBXH là một phạm trù chính trị - xã hội phản ánh quan hệ giữa người với người, trong đó đảm bảo sự tương xứng giữa phẩm chất và năng lực với cơ hội và điều kiện phát triển, giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa cống hiến và hưởng thụ, v.v.. [44, tr29]. Khi đề cập đến vấn đề CBXH, một số tác giả hiện nay có nêu vấn đề công bằng về cơ hội. Có quan điểm cho rằng công bằng về cơ hội là quyền của mọi người được tiếp cận ngang nhau với một may mắn, thuận lợi nào đó để thực hiện điều mình mong muốn. Theo cách hiểu như vậy, công bằng về cơ hội ở đây chính là bình đẳng về cơ hội, tức là bình đẳng trong tiếp cận các cơ hội. Từ những phân tích trên, căn cứ vào phương diện nghiên cứu, mục tiêu, nhiệm vụ của luận án, tác giả cho rằng: CBXH là một phạm trù lịch sử, phản ánh mối quan hệ giữa người với người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó bảo đảm sự tương xứng giữa phẩm chất và năng lực với cơ hội và điều kiện phát triển, giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa cống hiến và hưởng thụ, phù hợp với khả năng hiện thực của xã hội. CBXH thể hiện khát vọng của con người và là mục tiêu, động lực của sự phát triển xã hội. 40 Với quan niệm trên, CBXH có những đặc trưng cơ bản sau: - Công bằng xã hội là một phạm trù lịch sử: CBXH là sản phẩm của đời sống xã hội, nó phản ánh quan hệ giữa người với người xung quanh vấn đề lợi ích. Vấn đề phân phối lợi ích trong mỗi chế độ xã hội luôn gắn với một phương thức sản xuất nhất định, phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, của phân công lao động xã hội, và quan trọng nhất là tính chất của các quan hệ sản xuất trong phương thức sản xuất đó. Hơn nữa, không chỉ chịu sự tác động bởi điều kiện kinh tế, quan niệm về CBXH còn chịu sự chi phối của các hình thái ý thức xã hội như ý thức chính trị, đạo đức, văn hóa của xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Do vậy CBXH luôn có tính lịch sử. Ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, CBXH được nhìn nhận và giải quyết khác nhau. Đánh giá về vấn đề này, Ăngghen viết: “Công bằng của những người Hy Lạp và La Mã là sự công bằng của chế độ nô lệ. Công bằng của giai cấp tư sản năm 1789 là những đòi hỏi phải xóa bỏ chế độ phong kiến mà nó coi là bất công” [67, tr 327]. Không thể có một quan niệm, một chuẩn mực “bất di, bất dịch” về CBXH chung cho mọi quốc gia, mọi thời đại, cũng như không thể áp đặt những chuẩn mực về CBXH vượt quá những cơ sở, điều kiện khách quan của lịch sử cho phép. - Về bản chất, CBXH được hiểu là sự tương xứng giữa phẩm chất và năng lực với cơ hội và điều kiện phát triển, giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa cống hiến và hưởng thụ.phù hợp với khả năng hiện thực của xã hội. - Về nội dung, CBXH có nội dung phong phú, tuy nhiên có thể khái quát ở hai nội dung chính, đó là công bằng về cơ hội, điều kiện phát triển và công bằng trong phân phối Với nội dung thứ nhất, CBXH là công bằng về cơ hội, điều kiện phát triển, hiện nay, còn có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh vấn đề này. Theo chúng tôi, công bằng về cơ hội, điều kiện phát triển chính là việc tạo cho mọi 41 người tiếp cận phù hợp các cơ hội, điều kiện phát triển, thông qua đó, phát huy mọi năng lực của mình, cống hiến tích cực, có hiệu quả; đồng thời, hưởng thụ một cách tương xứng với kết quả của sự cống hiến đó. Trên thực tế, sự phân biệt về công bằng trong phân phối và công bằng về cơ hội và điều kiện phát triển chỉ có ý nghĩa tương đối. Việc đảm bảo công bằng về cơ hội và điều kiện phát triển cũng chính là hình thức phân phối, chủ yếu dưới dạng phân phối gián tiếp, phân phối lại từ các quỹ, các nguồn lực xã hội để tạo cho các cá nhân, nhóm xã hội có điều kiện phát huy tối đa vai trò của mình đóng góp cho xã hội và được hưởng thụ công bằng. Công bằng cơ hội, điều kiện phát triển ở đây được xác định như là tiền đề để đảm bảo CBXH thực sự. Nội dung thứ hai của CBXH là công bằng trong phân phối. Trong xã hội, các hình thức phân phối khác nhau sẽ quyết định tính chất và mức độ thực hiện CBXH khác nhau, điều này phụ thuộc vào bản chất kinh tế, chính trị - xã hội cũng như điều kiện, năng lực thực tế của các nước trong các giai đoạn lịch sử khác nhau. Dưới CNXH, như Mác đã chỉ ra, phân phối theo lao động là đặc trưng bản chất và là hình thức thể hiện tất yếu về mặt kinh tế của chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Nếu xóa bỏ phân phối theo lao động thì chế độ công hữu về tư liệu sản xuất sẽ không được thực hiện, quyền bình đẳng của người lao động đối với tư liệu sản xuất sẽ trở thành vô nghĩa, CBXH sẽ không được thực hiện. Công bằng xã hội mang tính toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hộitrên cơ sở đảm bảo sự tương xứng giữa việc tạo ra và phân phối các lợi ích xã hội. Phương diện kinh tế của CBXH được xem xét là sự tương xứng giữa cống hiến của cá nhân, nhóm xã hội vào quá trình sản xuất với sự hưởng thụ những kết quả sản xuất, đây là phương diện cơ bản nhất của CBXH. Phương diện chính trị, pháp quyền của CBXH liên quan và quy định đến vấn đề dân chủ, tự do cá nhân, quyền con người, sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhà nước. Phương diện văn hóa - xã hội của CBXH liên 42 quan và quy định vấn đề đạo đức, phong tục tập quán, phân tầng xã hội, an sinh xã hội; vấn đề cơ hội trong việc sáng tạo và thụ hưởng những thành tựu văn hóa, nghệ thuật v.v.. - Công bằng xã hội là giá trị định hướng cho việc giải quyết mối quan hệ giữa người với người theo nguyên tắc: Cống hiến về vật chất và tinh thần tương xứng cho phát triển xã hội thì được hưởng tương xứng những giá trị vật chất và tinh thần do xã hội tạo ra phù hợp với khả năng hiện thực của xã hội; CBXH là khát vọng lớn lao của con người nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần, do vậy, CBXH vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội. Khái niệm CBXH không tách rời với khái niệm bình đẳng xã hội, do đó cần phải nghiên cứu hai khái niệm này trong mối quan hệ với nhau. Bình đẳng (egalite trong tiếng Pháp và equality trong tiếng Anh) là khái niệm chỉ sự bằng nhau, ngang nhau giữa cá nhân hay các nhóm xã hội về một hay một số phương diện nhất định, chẳng hạn ngang bằng giữa cá nhân hay các nhóm xã hội về địa vị xã hội, về quyền và nghĩa vụ công dân v.v..Còn khi nói tới CBXH là nói tới sự ngang bằng nhau giữa người với người không phải về một phương diện bất kỳ, mà chỉ về một phương diện hoàn toàn xác định: phương diện giữa cống hiến và hưởng thụ theo nguyên tắc cống hiến ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau [116, tr39]. Căn cứ vào việc xác định hai khái niệm ở trên, CBXH thường gắn với lĩnh vực kinh tế - xã hội của đời sống xã hội, nó thể hiện sự tương xứng giữa cống hiến và hưởng thụ, còn bình đẳng xã hội thường gắn với nhiều lĩnh vực hơn và đặc biệt là những lĩnh vực liên quan đến chính trị - xã hội. CBXH thường được xem xét là một dạng cụ thể của bình đẳng xã hội. Thực hiện CBXH là thực hiện một phần nội dung của bình đẳng xã hội, là bước tiến trong quá trình thực hiện bình đẳng xã hội hoàn toàn. Giữa CBXH và bình đẳng xã hội có những nội dung không hoàn toàn tách biệt nhau, vì thế thường dẫn tới nhầm lẫn giữa hai khái niệm này. Nhiều 43 khi nói sự công bằng nhưng thực ra, đó không phải là sự công bằng mà là sự bình đẳng và ngược lại, không ít sự bất công được đề cập đến lại không phải là sự bất công mà chỉ là sự bất bình đẳng.Theo chúng tôi, công bằng và bình đẳng là hai khái niệm giao nhau. Bình đẳng có khía cạnh công bằng (như sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ công dân; bình đẳng trong hưởng thụ ở những người có lao động, đóng góp ngang nhau), nhưng cũng có khía cạnh không công bằng như sự phân phối bình quân. Bình quân là bình đẳng ở trình độ sơ khai theo kiểu cào bằng, nhưng hoàn toàn không công bằng, bởi vì những người có những đóng góp, cống hiến khác nhau lại được phân phối như nhau. Bình quân phủ nhận chất lượng, số lượng và hiệu quả công việc dẫn tới trì trệ, khủng hoảng xã hội. Trong ... tục, lâu dài gắn với những giải pháp mang tính tổng thể, đồng bộ như nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý Nhà nước; xây dựng và hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN; đổi mới và hoàn thiện các chính sách kinh tế và chính sách xã hội; phát huy dân chủ xã hội, nâng cao hiệu quả của công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, các tệ nạn xã hội. Những giải pháp này vừa mang tính định hướng, vừa mang tính cụ thể nhằm phát huy vai trò của nhân tố chủ quan và điều kiện khách quan, tạo sức mạnh tổng hợp để thực hiện có hiệu quả CBXH trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta. 148 KẾT LUẬN Trong lịch sử, có nhiều quan niệm khác nhau về CBXH. Sự khác nhau đó phản ánh sự khác nhau về lợi ích của các giai cấp khác nhau trong xã hội. Tuy nhiên, qua mỗi thời kỳ đều ghi dấu quan trọng trong hành trình tìm kiếm và thực thi CBXH; CBXH đã thực sự trở thành động lực của tiến bộ xã hội, là thước đo những thành tựu đạt được của con người trong quá trình phát triển. Đối với nước ta, CBXH là khát vọng của toàn dân và là yêu cầu cấp bách của công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng XHCN. Quan hệ giữa CBXH và KTTT định hướng XHCN là quan hệ gắn bó hữu cơ. Sự thành công của nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta không chỉ biểu hiện ở mức độ TTKT mà còn là những thành tựu đạt được trong quá trình thực hiện CBXH. Thực tiễn khách quan của quá trình xây dựng KTTT định hướng XHCN và thực thi CBXH đã từng bước làm bộc lộ những nội dung cơ bản mang tính quy luật của nó, đòi hỏi phải được nhận thức đúng đắn, nhằm phát hiện những mâu thuẫn và tìm kiếm những giải pháp phù hợp để tiếp tục thúc đẩy quá trình thực hiện CBXH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN ở nước ta. Từ những mô hình lý luận và bài học thực tiễn ở một số nước, căn cứ vào tình hình lịch sử cụ thể, bám sát yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo mục tiêu XHCN, Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng đổi mới tư duy lý luận, xây dựng đường lối chiến lược phù hợp đảm bảo gắn tăng trưởng kinh tế với CBXH; thực hiện CBXH trong từng bước và từng chính sách phát triển v.v.., đây là những quan điểm chiến lược phù hợp, tạo tiền đề thúc đẩy kinh tế - xã hội với những bước phát triển nhanh và bền vững. Sau gần 30 năm đổi mới, nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta đã phát triển mạnh mẽ và phát huy tác dụng to lớn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân. CBXH đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, chúng ta đang còn phải đương đầu với hàng loạt những khó khăn thử thách: tình trạng phân hóa giàu - 149 nghèo, khoảng cách chênh lệch giữa các vùng, miền ngày càng lớn; tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm đang trở thành vấn đề hết sức nan giải trong xã hội; tham nhũng, lãng phí, vi phạm dân chủ đang xảy ra nhiều nơi ảnh hưởng nghiêm trọng tới CBXH. Hiện nay, tư duy lý luận về CBXH trong điều kiện KTTT còn tương đối hạn chế. Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn chưa ngang tầm với đòi hỏi của thực tiễn, còn nhiều lúng túng trong việc xử lý những vấn đề đặt ra do thiếu hụt khung lý thuyết và các mô hình phát triển. Các chính sách vĩ mô của Nhà nước còn chứa đựng nhiều bất cập, tồn tại, đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện nhằm hướng vào khai thác, hội tụ mọi nguồn lực của đất nước, phát triển kinh tế và thực hiện CBXH. Lý luận và thực tiễn đã chỉ ra, thực hiện CBXH là vấn đề lớn, phức tạp, đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ, toàn diện. Các giải pháp phải được thực hiện trên cơ sở tuân thủ những quy luật khách quan của KTTT, có tham khảo và vận dụng sáng tạo kinh nghiệm của các mô hình phát triển tiêu biểu trên thế giới, đồng thời phải đảm bảo tính định hướng XHCN trong quá trình phát triển. Giải pháp có tính đột phá hiện nay là xây dựng và hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, tạo điều kiện vật chất, kinh tế thực hiện CBXH. Để kết hợp thống nhất giữa mục tiêu phát triển KTTT và thực hiện CBXH, điều kiện tiên quyết đó là đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò “bàn tay hữu hình” của Nhà nước cùng với việc xây dựng và hoàn thiện các chính sách kinh tế, chính sách xã hội; phát huy hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, các tệ nạn xã hội là những vấn đề cốt lõi hiện nay. Những giải pháp này có tính định hướng nhằm tìm kiếm những tiền đề khách quan cũng như phát huy nhân tố chủ quan trong việc tạo dựng một xã hội công bằng, bình đẳng, ở đó, con người được phát huy quyền làm chủ, luôn sáng tạo, luôn cống hiến cao nhất năng lực của mình vì sự phát triển tiến bộ của xã hội và lợi ích của mỗi thành viên. 150 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 1. Nguyễn Hồng Sơn (2009), “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và vấn đề công bằng xã hội ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Kinh tế và phát triển, (2). 2. Nguyễn Hồng Sơn (2011), “Góp phần tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ”, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 166 (II). 3. Nguyễn Hồng Sơn (2014), “Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội”, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, (2). 4. Nguyễn Hồng Sơn (2014), “Những nhân tố tác động tới việc thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, (11). 5. Nguyễn Hồng Sơn (2015), “Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội trong thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Lý luận chính trị, (3). 6. Võ Thị Hoa - Nguyễn Hồng Sơn (2015), “Quan hệ giữa phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam”, Tạp chí Triết học, (3). 7. Nguyễn Hồng Sơn (2015), “Nhận thức về việc thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, (4). 8. Nguyễn Hồng Sơn (2015) “Xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện công bằng xã hội ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, (10). 151 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Đinh Văn Ân (2008), Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2. Lê Xuân Bá (2005) “Về xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, Tạp chí Lý luận chính trị, (2). 3. Vũ Đình Bách (Chủ biên) (2004), Một số vấn đề về kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà nội. 4. “Báo cáo phát triển thế giới 2006 - Công bằng và phát triển” (2005), NXB Văn hóa và thông tin, Hà Nội. 5. Hoàng Chí Bảo (2010), Luận cứ và giải pháp phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta thời kỳ đổi mới, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 6. Ban tuyên giáo Trung ương (2013), Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị lần thứ VIII của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Khóa XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 7. Nguyễn Đức Bình (Chủ biên) (2003), Về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hôi ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 8. Chu Văn Cấp (2006) “Bàn thêm về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, Tạp chí Thông tin công tác tư tưởng lý luận, (2). 9. Bin Clintơn (1997) Giữa hy vọng và lịch sử, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 10. Trần Văn Chử (2005) “Tư duy của Đảng ta về quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội” Tạp chí Lý luận chính trị, (2). 11. Nguyễn Cúc (2004) “Hai mươi năm đổi mới và sự hình thành thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta”, Tạp chí lý luận chính trị, (10). 152 12. Đoàn Viết Cương (2005), Tiến tới thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe nhân dân - vấn đề và giải pháp, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 13. Mai Ngọc Cường (2012) “Về xây dựng và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội ở nước ta những năm tới”, Tạp chí Kinh tế phát triển, (178). 14. Mai Ngọc Cường (2013) “Một số vấn đề xã hội nhằm giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta, thực trạng và khuyến nghị” Tạp chí Kinh tế Phát triển, (196). 15. Mai Ngọc Cường (2013) “Một số vấn đề cơ bản về chính sách xã hội ở Việt Nam hiện nay”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 16. Diễn đàn kinh tế, tài chính Việt - Pháp, (2004)“Vì một sự tăng trưởng và một xã hội công bằng”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 17. Phạm Tất Dong, (2000), “Tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội - một nội dung của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân. 18. Bùi Đại Dũng (2012), Công bằng trong phân phối, cơ sở để phát triển bền vững, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 19. Nguyễn Tấn Dũng (2012), Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, Tạp chí Cộng sản, (832). 20. Nguyễn Tiến Dũng (2012) “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự tiếp nối của công cuộc đổi mới”, Tạp chí Cộng sản điện tử. 21. Nguyễn Hữu Dũng (2012) “Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện chính sách an sinh xã hội ở nước ta”, Tạp chí Cộng sản điện tử. 22. Lê Cao Đoàn (2001) Triết lý phát triển: quan hệ công nghiệp – nông nghiệp, thành thị - nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà nội. 153 23. Phạm Văn Đức, Đặng Hữu Toàn, Nguyễn Đình Hòa (2010), Vấn đề dân sinh và xã hội hài hòa, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 24. Phạm Văn Đức và các cộng sự (2010) Trách nhiệm xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 25. Đảng Lao động Việt Nam (1960), Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ III, Ban Chấp hành Trung ương Đảng xuất bản, Hà Nội. 26. Đảng cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội Đảng VI, NXB Sự thật, Hà nội. 27. Đảng cộng sản Việt Nam (1994) Văn kiện Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ, khóa VII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 28. Đảng cộng sản Việt Nam (1992), Văn kiện Đại hội Đảng VII, NXB Chính trị quốc gia, Hà nội. 29. Đảng cộng sản Việt Nam, (1996), Văn kiện đại hội Đảng VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà nội. 30. Đảng Cộng sản Việt Nam, (2001), Văn kiện Đại hội Đảng IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà nội. 31. Đảng Cộng sản Việt Nam, (2006), Văn kiện Đại hội Đảng X, NXB Chính trị quốc gia, Hà nội. 32. Đảng Cộng sản Việt Nam, (2011), Văn kiện Đại hội Đảng XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà nội. 33. Đảng Cộng sản Việt Nam, (2015) Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986 - 2015), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 34. Nguyễn Tài Đông (2010) “Một số vấn đề xã hội và dân sinh ở Việt Nam từ đổi mới đến nay”, Tạp chí Triết học, (4). 35. Nguyễn Ngọc Hà – Phạm Quốc Thới (2012) “Thực hiện công bằng xã hội – nội dung cơ bản của định hướng xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học xã hội, (2). 154 36. Lương Đình Hải (2008), Hiện đại hóa xã hội vì mục tiêu công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 37. Trần Hậu (2012), “Về quan điểm tiến bộ và công bằng xã hội ở nước ta”, Tạp chí Triết học, (2). 38. Trần Kim Hào – Nguyễn Thị Nguyệt (2012) “Nâng cao hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước nhằm duy trì tăng trưởng kinh tế”, Tạp chí Kinh tế phát triển, (175). 39. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, (1992) NXB Sự thật. 40. Nguyễn Đình Hoà, (2002), “Về vai trò của Nhà nước đối với việc thực hiện công bằng xã hội trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, Tạp chí Triết học. 41. Hoàng Ngọc Hòa (2007) “Các mô hình, thể chế kinh tế thị trường và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” Tạp chí Cộng sản, (2). 42. Minh Hoài, (2000), “Tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Con số và sự kiện. 43. Tô Đức Hạnh (2009) “Bàn về mô hình kinh tế thị trường trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” , Tạp chí Kinh tế phát triển, (2). 44. Võ Thị Hoa (2011), Nhà nước với việc thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ Chính trị học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 45. Bùi Thị Hoàn (2011), “Phát triển kinh tế thị trường và vấn đề hạn chế làm giàu không chính đáng ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Triết học, (8) (243). 46. Nguyễn Minh Hoàn (2003), “Thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Triết học, (6) (145). 155 47. Nguyễn Minh Hoàn (2009), “Công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội” NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 48. Nguyễn Minh Hoàn (2009), “Sự khác biệt trong quan niệm của C.Mác và J.Rawls về công bằng xã hội” Tạp chí Triết học, (10). 49. Nguyễn Thị Mai Hồng, (2000), Phân hoá giàu nghèo trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường ởt nước ta-Thực trạng xu hướng biến động và giải pháp, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà nội. 50. Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), Từ điển Bách khoa Việt Nam, Trung tâm Từ điển Bách khoa Việt Nam, Hà Nội. 51. Mai Xuân Hợi (2009) “Những nhân tố quyết định tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Kinh tế phát triển, (2). 52. Nguyễn Tấn Hùng, Lê Hữu Ái (2008) “Thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay, mâu thuẫn và phương pháp giải quyết”, Tạp chí Triết học, (4). 53. Đỗ Huy (2008) “Công bằng xã hội ở Việt Nam: Nhận diện và giải pháp” Tạp chí Triết học, (5). 54. Đỗ Huy (2009), “Một số vấn đề quan tâm trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội”, Tạp chí Triết học, (12) (223). 55. Nguyễn Quỳnh Huy (2005),“Thành tựu về tiến bộ và công bằng xã hội của Việt Nam trong những năm gần đây”, Tạp chí Giáo dục lý luận. 56. Nguyễn Văn Huyên (1998), "Về một mô hình phát triển đảm bảo sự tiến bộ xã hội", Tạp chí Triết học. 57. Nguyễn Hải Hữu (2006), “Phát triển hệ thống an sinh xã hội phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta”, Tạp chí Cộng sản. 156 58. Nguyễn Đình Kháng (2000), “Vai trò quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, Tạp chí quốc phòng toàn dân. 59. Phạm Thanh Khiết, (2000) “Kinh tế thị trường ở nước ta và những vấn đề cần giải quyết”, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, (6). 60. Nguyễn Hữu Khiển, (2011)“Nhóm lợi ích và vấn đề chống tham nhũng” Tạp chí Triết học, Số 3. 61. Trương Đình Khương (2008), Thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 62. Vi Thị Hương Lan (2012) Vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện CBXH ở Việt Nam thời kỳ hội nhập quốc tế”, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 63. Lê Bộ Lĩnh (chủ biên), (1998), Tăng trưởng kinh tế và Công bằng xã hội ở một số nước Châu Á và Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 64. Lê Quốc Lý (chủ biên), (2012) Chính sách xóa đói, giảm nghèo, thực trạng và giải pháp NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 65. Lê Quốc Lý (Chủ biên), (2013), “Những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 66. C.Mác - Ăngghen toàn tập, (1995), Tập 3, NXB Sự thật, Hà Nội. 67. C.Mác - Ăngghen (1995) toàn tập, tập 4, NXB Sự thật, Hà Nội. 68. C.Mác - Ăngghen (1995), (toàn tập, tập 18, NXB Sự thật, Hà Nội. 69. C.Mác - Ăngghen (1995), toàn tập, tập 19, NXB Sự thật, Hà Nội. 70. C.Mác - Ăngghen (1980), toàn tập, tập 1, NXB Sự thật, Hà Nội. 71. C.Mác - Ăngghen ( 1995), toàn tập, tập 22, NXB Sự thật, Hà Nội. 157 72. Hồ Chí Minh (2000), toàn tập, tập 1, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 73. Hồ chí minh (2000), toàn tập, tập 7, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 74. Hồ chí minh (2000), toàn tập, tập 10, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 75. Hồ chí minh (2000), toàn tập, tập 11, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 76. Hồ chí minh (2000), toàn tập, tập 12, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 77. Hồ Chí Minh về cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, (1976), NXB Sự thật, Hà Nội. 78. Ngô Quang Minh (2008) “Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam” Tạp chí Lý luận chính trị, (5). 79. Vũ Viết Mỹ (2004), “Kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước”, Tạp chí Thông tin công tác tư tưởng, lý luận, (10). 80. Nguyễn Thu Nghĩa (2010) “Vai trò của việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc với sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” Tạp chí Triết học, (11). 81. Phạm Xuân Nam (chủ biên), (2001), Quản lý sự phát triển xã hội trên nguyên tắc tiến bộ và công bằng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 82. Phạm Xuân Nam (chủ biên), (2002), Triết lý phát triển ở Việt Nam, mấy vấn đề cốt yếu, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 83. Phạm Xuân Nam (2008), “Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, Tạp chí Triết học, (2) (201). 84. Nguyễn Thị Nga (2005), “Công bằng xã hội ở nước ta hiện nay - một số thành tựu và vấn đề đặt ra”, Tạp chí Lý luận chính trị. 85. Nguyễn Thị Nga (Chủ biên) (2007), Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam thời kỳ đổi mới - vấn đề và giải pháp, NXB lý luận chính trị, Hà nội. 86. Dương Xuân Ngọc, Nguyễn Văn Nhớn (2002), "Vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện công bằng xã hội", Tạp chí Triết học. 158 87. Dương Xuân Ngọc (Chủ biên) (2012) Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 88. Trần Văn Ngọc (2004), “Vấn đề phân phối kết quả sản xuất trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 7. 89. Trần Nhâm (2004) Tư duy lý luận với sự nghiệp đổi mới, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 90. Niên giám thống kê, NXB Thống kê, 2014 91. Lê Hữu Nghĩa, Lê Ngọc Hùng (2012) Cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 92. Nguyễn Quốc Phẩm (2005), “Kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội”, Tạp chí Cộng sản. 93. Trần Văn Phòng (2006), “Một số giải pháp nhằm kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Khoa học chính trị. 94. Vũ Văn Phúc (2004), “Tăng trưởng kinh tế gắn với phát triển văn hóa xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân. 95. Vũ Văn Phúc (2012), (chủ biên) Đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 96. Đỗ Thanh Phương (2000), “Quá trình nhận thức kinh tế nhà nước trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta”, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, số 6. 97. Đỗ Nguyên Phương (2006), Tăng trưởng kinh tế gắn với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, Trong “Việt Nam - 20 năm đổi mới”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 98. Phạm Ngọc Quang (2004) “Định hướng và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường – một số vấn đề phương pháp luận”, Tạp chí Thông tin công tác lý luận, (6). 159 99. Phạm Ngọc Quang (2009), “Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, (8). 100. Lương Xuân Quỳ (2002), Xây dựng quan hệ sản xuất định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện tiến bộ công bằng xã hội ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 101. Lương Xuân Quỳ (2005), Quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Đề tài khoa học cấp Nhà nước KX 0109. 102. Lương Xuân Quỳ - Đỗ Đức Bình (2010) Thể chế kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia. 103. Nguyễn Duy Quý (2001), Tiến tới một Asean hòa bình, ổn định và phát triển bền vững, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 104. Kỷ yếu hội thảo (2004)“Vấn đề phân phối và phân hóa giàu nghèo trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta”, NXB Lao động – xã hội. 105. Lương Sơn (1991) “Công bằng xã hội trong kinh tế thị trường”, Tạp chí Cộng sản (11). 106. Hồ Tấn Sáng (2010) “Vai trò của nhân tố lãnh đạo, quản lý trong quá trình xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” Tạp chí Triết học, (6). 107. Nguyễn Hồng Sơn (2009) “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và vấn đề công bằng xã hội ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Kinh tế và phát triển, (2). 108. Nguyễn Hồng Sơn (2009) “Góp phần tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ”, Tạp chí Kinh tế và phát triển, (166) (II). 160 109. Nguyễn Hồng Sơn (2014) “Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội”, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, (2). 110. Nguyễn Hồng Sơn (2014) “Những nhân tố tác động tới việc thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, (11). 111. Nguyễn Hồng Sơn (2015) “Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội trong thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Lý luận chính trị, (3). 112. Nguyễn Hồng Sơn (2015) “Nhận thức về việc thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, (4). 113. Lưu Văn Sùng (2012) Định hướng xã hội chủ nghĩa - Tiến tới xã hội nhân đạo hoàn bị, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 114. Nguyễn Đình Tấn (2005), Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội. 115. Lê Hữu Tầng (1997), Về động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 116. Lê Hữu Tầng (2008) “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh việc thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Triết học, (1) (200). 117. Hoàng Đức Thân (2011) “Giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh trong chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam” Tạp chí Kinh tế phát triển, (173). 118. Trần Thành (2006) “Vai trò của nhà nước trong việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội ở nước ta hiện nay” Tạp chí Triết học, (2). 161 119. Hà Huy Thành (Chủ biên) (2000), Những tác động tiêu cực của cơ chế kinh tế thị trường ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 120. Hà Huy Thành – Nguyễn Ngọc Khánh (2009), Phát triển bền vững từ quan niệm đến hành động, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 121. Ngô Quang Thành, (2000), “Các định tố của bất bình đẳng về thu nhập và chiến lược tăng trưởng kinh tế trong công bằng xã hội cho Việt Nam”, Tạp chí nghiên cứu kinh tế. 122. Ngô Quang Thành (2001), “Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước với mục tiêu tăng trưởng kinh tế gắn liền với công bằng xã hội”, Tạp chí Khoa học Chính trị, (5). 123. Hồ Bá Thâm (2011), Bàn về mâu thuẫn xung đột lợi ích hiện nay, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 124. Trần Phúc Thăng (2003), Quan điểm duy vật lịch sử với việc nhận thức thời đại ngày nay, Thông tin những vấn đề triết học và đời sống. 125. Nguyễn Xuân Thắng (Chủ biên) (2003), Một số xu hướng phát triển chủ yếu hiện nay của nền kinh tế thế giới, NXB Khoa học xã hội. 126. Hoàng Đức Thân - Đinh Quang Ty, chủ biên (2010) Tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 127. Lê Văn Toàn (2012), Phân tầng xã hội ở Việt Nam trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 128. Trần Nguyễn Tuyên (2010), Gắn kết tăng trưởng kinh tế và công bằng, tiến bộ xã hội, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 129. Lưu Đạt Thuyết (2004) “Giải quyết một số vấn đề xã hội trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta”, Tạp chí Lý luận chính trị, (11). 162 130. Nguyễn Gia Thơ (2012), “Mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”, Tạp chí Triết học, (6) (253). 131. Phạm Thị Ngọc Trầm (Chủ biên) (2009), Những vấn đề lý luận cơ bản về công bằng xã hội trong điều kiện hiện nay ở nước ta,, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 132. Nguyễn Ngọc Trân (2003), Một số vấn đề kinh tế toàn cầu hiện nay, NXB Thế giới, Hà Nội. 133. Nguyễn Phú Trọng (2007), “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quan niệm và giải pháp phát triển”, Tạp chí Cộng sản, (1). 134. Nguyễn Phú Trọng (chủ biên) (2008), Đổi mới và phát triển ở Việt Nam, một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 135. Nguyễn Phú Trọng (chủ biên) (2011), Về các mối quan hệ lớn cần được giả quyết tốt trong quá trình đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 136. Vũ Anh Tuấn, (2001), Vai trò của pháp luật trong việc đảm bảo công bằng xã hội ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sỹ Luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 137. Đào Thế Tuấn (2012) “Bàn về giá trị công bằng và tương trợ trong nội dung định hướng xã hội chủ nghĩa” Tạp chí Cộng sản điện tử. 138. Trần Nguyễn Tuyên (2012), Gắn kết tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội, NXB Chính trị quốc gia. 139. Trần Xuân Trường (chủ biên) (2000), Một số vấn đề định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 140. Đỗ Tư - Trịnh Quốc Tuấn - Nguyễn Đức Bách (1996), Lược khảo lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 163 141. Đinh Quang Ty (2004) “Bước đầu tìm hiểu những vấn đề có tính quy luật trong phát triển kinh tế thị trường” Tạp chí Thông tin công tác lý luận, (6). 142. Tô Huy Rứa và các đồng sự Nhìn lại quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng 1986 - 2005, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội (2005). 143. Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2007), Công bằng xã hội, trách nhiệm xã hội và đoàn kết xã hội, kỷ yếu hội thảo quốc tế. 144. Lưu Thị Hồng Việt (2005) “Cơ chế thị trường trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta: những khuyết tật và biện pháp khắc phục” Tạp chí Báo chí và tuyên truyền, (4). 145. Phạm Thị Ngọc Trầm (chủ biên) (2009), Những vấn đề lý luận cơ bản về công bằng xã hội trong điều kiện nước ta hiện nay, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 146. V.P.Vônghin (1979) Lược khảo các tư tưởng xã hội chủ nghĩa”, NXB Sự thật, Hà Nội. 147. Nguyễn Hữu Vượng (2004), Về tiến bộ xã hộ trong kinh tế thị trường, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 148. Đức Vượng (2003) “Chủ nghĩa xã hội và kinh tế thị trường, kinh nghiệm của Trung Quốc và kinh nghiệm của Việt Nam” Tạp chí Cộng sản, (34). 149. Ngô Đình Xây (2011)“Phát triển nhanh và bền vững trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Triết học, (4). 150. Báo Công an nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh điện tử, ngày 22.10.1013. 151. Báo điện tử Chính phủ. bieu-cua-Thu-tuong/Bao-cao-cua-Chinh-phu-do-Thu-tuong-Nguyen- Tan-Dung-trinh-bay-tai-phien-khai-mac-Ky-hop-thu-6-QH-khoa- XIII/183595.vgp 164 152. Báo Nhân dân Điện tử ngày 24/8/2015 153. Báo Lao động điện tử “Chênh lệch thu nhập tại Việt Nam đang tăng”. dang-tang-71455.bld 154. Báo Xã luận điện tử ngày 29/5/2015 155. Báo Sống mới - Kinh tế Online. can-moc-moi-ve-bat-binh-dang-giau-ngheo 156. Cổng thông tin điện tử Bộ tài chính ngày 25/6/1015 157. Cổng thông tin điện tử Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam uchien?categoryId=100002607&articleId=10051323 158. Cổng thông tin điện tử Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam uchien?categoryId=100002927&articleId=10052683. 159 Cổng thông tin điện tử Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam huchien?categoryId=100003029&articleId=10053823 Tiếng Anh 160 Clark, M.Islam, S Ira C.Colby, Catherine N.Dulmus, Karen M.Sowers (2004)“Economic Growth and Social Welfare; Oprerationalizing Normative Social Choice Theory”, Victoria University, Australia. 161 David Miller, (2001)“Principles of social juctice”, Harvard University press. 162 David Shriberg, Samuel Y.Song, Antoinetle Halsell, Kisha M. Radliff (2013) “School psychology and sosial juctice: Conceptual foundations and tools for pratice”, Lodon, New York: Routledge 163 Esner, Wolfram, Lee, Friderics (2011) “Studies in economic reform 165 and social justice: Evaluting economic research in a contested discipline: rakings, pluralsm, and the future of heterodiox economics”, Malden: Wiley - Balckwell. 164 Fillip Taylor (2004)“Social Inequality in Vietnam and the Challenges to Reform” Institute of Southeast Asian Studies Singapore. 165 Frideric S.Lee (2012)“Social Provisioning, Ebeddedness and Modelling the economy: Study in economic reform and social justice”, Wiley - Blackwell press. 166 Hayter, Susan (2011) “The role collective bargaining in the global economy: Negotiating for social justice”, Cheltenham: Edword Egar: Iternational Labour Office. 167 Ira C.Colby, Catherine N.Dulmus, Karen M.Sowers (2013)“Social work and social policy: advancing the principles of economic and social justice”, Hoboken:John Wiley & Son press. 168 Lindert, P.H. (2004)“Growing Public Social Spending and Economic Growth since the eighteeth century”, Cambridge University Press. 169 Matthew Clayton and Andrew Williams (2004)“Social justice”, Blackwell publishing Ltd.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_an_van_de_cong_bang_xa_hoi_trong_dieu_kien_kinh_te_thi.pdf
  • docTom tat LA Sơn.doc
  • docTrang thong tin Viet-Anh.doc
Tài liệu liên quan