Luận án Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh về nhân dân và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay

1 HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH NGUYỄN PHƯƠNG AN TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH VỀ NHÂN DÂN VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI HIỆN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH TRỊ HỌC Hà Nội - 2017 2 HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH NGUYỄN PHƯƠNG AN TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH VỀ NHÂN DÂN VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI HIỆN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH TRỊ HỌC Mã số : 62 31 20 01 Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. NGUYỄN VĂN HUYÊN

pdf171 trang | Chia sẻ: huong20 | Ngày: 15/01/2022 | Lượt xem: 22 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Luận án Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh về nhân dân và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TS. HỒ VIỆT HIỆP Hà Nội - 2017 3 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn theo quy định. Tác giả 4 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI LUẬN ÁN 7 1.1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 7 1.2. Những vấn đề đặt ra luận án cần tiếp tục nghiên cứu 21 Tiểu kết Chương 1 24 Chương 2 VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA NHÂN DÂN TRONG SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG VIỆT NAM THEO TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH 25 2.1. Quan niệm về Nhân dân theo tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh 25 2.2. Nhân dân là mục tiêu và động lực của sự nghiệp cách mạng Việt Nam 43 Tiểu kết Chương 2 70 Chương 3 SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG VIỆT NAM THEO TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH LÀ ĐƯA NHÂN DÂN LÊN ĐÚNG VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA NHÂN DÂN 72 3.1. Giải phóng Nhân dân, đưa Nhân dân lên địa vị là chủ và làm chủ xã hội, làm chủ đất nước 72 3.2. Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân 87 Tiểu kết Chương 3 103 Chương 4 Ý NGHĨA CỦA TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH VỀ NHÂN DÂN ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI HIỆN NAY Ở NƯỚC TA 105 4.1. Công cuộc đổi mới phải đạt tới mục tiêu và lý tưởng của nhân dân Việt Nam 105 4.2. Công cuộc đổi mới chỉ thành công khi phát huy được toàn bộ sức mạnh của nhân dân 128 Tiểu kết Chương 4 146 KẾT LUẬN 148 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 151 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến Nhân dân. Người khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân” [87, tr.453]. Độc lập cho dân tộc, tự do và hạnh phúc cho Nhân dân là tất cả những gì Hồ Chí Minh muốn, tất cả những gì Người làm. Giải phóng Nhân dân, xây dựng chế độ chính trị của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, mang lại ấm no, tự do, hạnh phúc cho Nhân dân không chỉ dừng lại ở mong mỏi mà kết tinh thành lý luận, biến thành hoạt động thực tiễn thể hiện trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh. Tư tưởng chính trị về Nhân dân là một trong những nội dung quan trọng, có tầm bao quát và có ý nghĩa đặc biệt trong tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng chính trị của Người nói riêng. Đó là tư tưởng chỉ đạo đường lối, là nguồn sức mạnh quyết định những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng, phát triển đất nước. Thắng lợi mà cách mạng Việt Nam có được là do sức mạnh của Nhân dân được tập hợp và phát huy dưới ánh sáng soi đường của tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh về Nhân dân. Sự nghiệp đổi mới đất nước là thử thách lớn đối với Đảng. Sự nghiệp ấy không chỉ diễn ra từ thúc bách của thực tiễn khủng hoảng, mà còn từ trăn trở trọng trách của Đảng đối với tiền đồ cách mạng. Với nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử, song vẫn còn không ít khó khăn, thử thách, nguy cơ. Phát huy thành tựu, triệt tiêu khó khăn, vượt qua thử thách, loại trừ nguy cơ là yêu cầu cấp thiết của cách mạng đặt ra cho Đảng. Từ thực tiễn đổi mới, Đảng đề ra năm bài học lớn, trong đó “... đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa 2 vào nhân dân, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân,...” [42, tr.19] được xem là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng. Thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa được tạo nên bởi mối quan hệ bền chặt giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân. “Chính những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới của Đảng. Cũng do nhân dân hưởng ứng đường lối đổi mới, dũng cảm phấn đấu, vượt qua biết bao khó khăn, thử thách mà công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu...” [40, tr.73]. Điều đó cho thấy, trong quá trình đổi mới, về cơ bản chúng ta đã làm đúng theo tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh về Nhân dân. Tuy nhiên, chưa thật sự chú trọng, phát huy sức mạnh Nhân dân với tinh thần tất cả của Nhân dân, vì Nhân dân là một thực tế trong đời sống chính trị nước ta hiện nay. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức có quyền, có những biểu hiện sa sút phẩm chất, sống xa dân, vô trách nhiệm với dân. Nhiều cán bộ lãnh đạo các cấp, các ngành giữ tác phong quan liêu, gia trưởng, độc đoán, thậm chí trù dập, ức hiếp quần chúng. Ở nhiều nơi trong khi đời sống nhân dân còn khó khăn, nhiều yêu cầu thiết yếu của quần chúng chưa được bảo đảm thì lại có những cán bộ, đảng viên chỉ lo thu vén cá nhân, xoay xở làm giàu, sinh hoạt bê tha. Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: "Thậm chí có người vô trách nhiệm với dân, vô cảm trước những khó khăn, đau khổ của quần chúng. Một số người còn lợi dụng chức quyền để đục khoét, vơ vét của cải của Nhà nước, trở thành những con sâu mọt tệ hại của xã hội. Có lẽ đây là điều mất mát lớn nhất trong tình cảm của nhân dân, là điều người dân cảm thấy xót xa, buồn phiền nhất"; “Một số hiện tượng tham nhũng, đặc quyền đặc lợi trong Đảng và trong các cơ quan nhà nước không được đấu tranh kiên quyết và xử lý nghiêm minh. Do đó đã làm tổn thương thanh danh, uy tín của Đảng, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng” [141]. Về phía Nhân dân, trong điều kiện mở cửa, phát triển nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, ý thức chính trị của Nhân dân không thuần nhất như 3 thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc. Bên cạnh mặt tích cực chính trị, ở một khía cạnh khác, sự quan tâm đến các vấn đề chính trị bị phân tán, thậm chí bị lấn át bởi các nhu cầu về kinh tế. Chủ nghĩa cá nhân và lối sống thực dụng trỗi dậy. Mục tiêu và lý tưởng của Đảng chưa biểu lộ đậm nét, nếu không nói là mờ nhạt trong suy nghĩ và hành động của một bộ phận người dân. Sự gắn kết giữa Nhân dân với Đảng và Nhà nước có lúc, có nơi chưa thật sự là nhu cầu tự giác, nhiều khi trừu tượng, thậm chí vì động cơ cá nhân. Nhiều người dân không nể trọng, thậm chí thiếu tin tưởng cả về đạo đức và năng lực của không ít cán bộ, đảng viên. Hiện tượng Nhân dân không hăng hái phấn đấu vào làm việc trong hệ thống chính trị hoặc phấn đấu gượng ép, vì động cơ trục lợi cá nhân có chiều hướng tăng. Nhân dân tham gia vào các hoạt động của hệ thống chính trị còn hạn chế, có lúc có nơi mang tính hình thức. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu các bài học kinh nghiệm lớn của cách mạng, trong đó bài học thứ hai cảnh báo: “... xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng” [43, tr.65]. Thông điệp đầu năm 2015 của Chủ tịch nước khẳng định: “Chúng ta không sợ bất cứ kẻ thù nào dù là hung bạo nhất, chỉ sợ mất lòng dân. Lòng dân, đó là Quốc bảo dựng nước và giữ nước Việt Nam!”. Sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay có thời cơ, thuận lợi lớn, nhưng khó khăn, thách thức cũng vô cùng gay gắt, quyết liệt. Chỉ có sự đồng lòng, nhất trí của toàn dân, khối đại đoàn kết toàn dân tộc mới là sức mạnh vô địch để chúng ta vượt qua mọi sóng to, gió lớn của thời cuộc. Khắc phục những yếu kém, hạn chế trong quan hệ có tính quyết định thành công sự nghiệp cách mạng Việt Nam hiện nay là nhiệm vụ vừa căn bản vừa cấp bách. Tuy nhiên, nhận thức đúng, đề ra giải pháp đúng và đặc biệt là định hình mối quan hệ nêu trên trong thực tế thì không phải là đơn giản. Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của cách mạng Việt Nam. Trong đó, Hồ Chí Minh thể hiện sự quan tâm 4 đặc biệt đối với Nhân dân bằng một hệ thống các quan điểm toàn diện, sâu sắc và rất có giá trị. Đi sâu nghiên cứu, vận dụng và phát huy tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh về Nhân dân sẽ mang lại những chỉ dẫn phương pháp luận soi đường cho việc giải quyết hạn chế nêu trên, đẩy lùi các biểu hiện tiêu cực, thực hiện đúng và phát huy hiệu quả của tư tưởng ấy, góp phần tiếp tục củng cố mối quan hệ bền chặt giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân, phát huy sức mạnh vô địch của Nhân dân tiếp tục tạo nên các thắng lợi to lớn và mang tính bước ngoặt của sự nghiệp đổi mới. Với toàn bộ những vấn đề nêu trên, việc nghiên cứu “Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh về Nhân dân và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay” với tư cách một đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành Chính trị học là hết sức có ý nghĩa và cấp thiết. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.1. Mục đích Luận án nghiên cứu, làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh về Nhân dân; trên cơ sở đó, phân tích ý nghĩa to lớn của tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh về Nhân dân đối với sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay. 2.2. Nhiệm vụ Để đạt được mục đích nêu trên, luận án thực hiện các nhiệm vụ sau: - Phân tích, làm rõ tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh về quan niệm và vị trí, vai trò của Nhân dân trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam. - Phân tích, làm rõ việc đảm bảo thực hiện vị trí, vai trò của Nhân dân trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam theo tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh – giải phóng Nhân dân, đưa Nhân dân lên địa vị làm chủ; công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. - Phân tích làm rõ ý nghĩa to lớn của tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh về Nhân dân đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay. 5 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3.1. Đối tượng nghiên cứu Những quan điểm cốt lõi về Nhân dân trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh. Ý nghĩa của tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh về Nhân dân đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu những nội dung cơ bản của tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh về Nhân dân theo nghĩa là những khái quát ban đầu. Nghiên cứu tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh về Nhân dân trên cơ sở các công trình, bài viết, bài nói, thực tiễn hoạt động chính trị của Người trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước. 4. Cơ sở lý luận, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu cụ thể - Cơ sở lý luận: Cơ sở lý luận của luận án là quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về Nhân dân. - Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử là phương pháp luận của việc nghiên cứu, thực hiện đề tài luận án. - Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Kết hợp giữa phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc; phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp; phương pháp lý luận gắn liền với thực tiễn; phương pháp khái quát hóa. 5. Những đóng góp mới về khoa học của luận án - Thứ nhất, luận án khái quát về mặt lý luận những tư tưởng chính trị của Hồ Chí Minh về quan niệm và vị trí, vai trò của Nhân dân trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam. - Thứ hai, luận án khái quát những tư tưởng chính trị của Hồ Chí Minh về việc đảm bảo thực hiện vị trí, vai trò của Nhân dân trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam, cụ thể: trước hết là giải phóng Nhân dân; sau đó là đưa Nhân 6 dân lên địa vị là chủ và làm chủ xã hội, làm chủ đất nước; kế tiếp là tạo lập nội dung, cơ chế, điều kiện để Nhân dân xây dựng và phát triển xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. - Thứ ba, luận án phân tích, làm rõ ý nghĩa to lớn của tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh về Nhân dân đối với công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, đó là: Đổi mới hướng tới và thực hiện cho được mục đích, lý tưởng cao đẹp của Nhân dân Việt Nam theo tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh về Nhân dân; công cuộc đổi mới của Đảng và Nhân dân ta hiện nay chỉ đạt tới thành công theo hướng nêu trên khi Đảng, Nhà nước phát huy cao nhất toàn bộ sức mạnh của Nhân dân. 6. Ý nghĩa của luận án 6.1. Ý nghĩa lý luận Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần khái quát rõ hơn tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh về Nhân dân; cung cấp nhận thức đúng đắn về quan niệm của Hồ Chí Minh về Nhân dân và vị trí, vai trò của Nhân dân cũng như việc đảm bảo thực hiện vị trí, vai trò đó trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam; từ đó giúp cho việc sử dụng lực lượng vô tận của Nhân dân, phát huy lực lượng của Nhân dân trong xây dựng chủ nghĩa xã hội nói chung, đổi mới đất nước hiện nay nói riêng. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của luận án góp vào thực tiễn hoạt động của hệ thống chính trị trong việc đảm bảo và phát huy vai trò của Nhân dân ở sự nghiệp đổi mới hiện nay; là tài liệu phục vụ nghiên cứu và giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh. 7. Kết cấu của luận án Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận án gồm 4 chương với 8 tiết. 7 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI LUẬN ÁN 1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1.1. Tình hình nghiên cứu về tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh 1.1.1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Vì công trình nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh ở nước ngoài không nhiều nên các nghiên cứu chuyên biệt về tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh gần như chưa được thống kê. Ở các nước tư bản phương Tây, chưa thấy có công trình nào nghiên cứu trực diện và hệ thống tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh; đôi khi xuất hiện một vài quan điểm đề cập đến tư tưởng chính trị của Hồ Chí Minh trong quá trình phân tích cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Jean Lacouture, sử gia nổi tiếng của Pháp, là tác giả công trình Ho Chi Minh, A Political Biography in lần đầu năm 1967 [169]. Công trình gồm 15 chương mô tả một cách sinh động toàn bộ cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh. Lồng ghép trong những trình bày về quá trình hoạt động (chủ yếu là hoạt động chính trị) của Hồ Chí Minh, Jean Lacouture vừa làm nổi bật phẩm chất cá nhân vừa thông qua đó liên hệ lý giải nguyên nhân thắng lợi mang tính tất yếu của cách mạng Việt Nam. Tác giả cho rằng Hồ Chí Minh “Là một kiểu mẫu cao nhất và hầu như độc đáo, một người gắn bó mật thiết với quần chúng” [169], là “người có óc xét đoán vượt trội với những năng khiếu đột hứng và trí thông minh kỳ diệu” [169]. David Halberstam trong tác phẩm Ho đánh giá đóng góp chính trị của Hồ Chí Minh trên phạm vi quốc tế: Lúc sinh thời, ông Hồ Chí Minh không những đã giải phóng đất nước của ông mà thay đổi chiều hướng của chế độ thuộc địa ở cả châu Phi lẫn châu Á, mà ông còn làm được một điều đáng chú ý hơn: ông đã dùng tới nền văn hóa và tâm hồn của kẻ địch của ông. Đối với Hồ Chí Minh ...đó là một cuộc đời đầy đủ. Ở một góc độ khác, A. Pátti– trong cuốn Why Vietnam? (Tại sao Việt Nam?) [4] 8 nhìn nhận phẩm chất lãnh tụ chính trị của Hồ Chí Minh khá sắc sảo: “Ông Hồ không hiện lên đối với tôi như một nhà cách mạng không thực tế hay một người cấp tiến cuồng nhiệt, theo đuổi những lời nói rập khuôn, hét to đường lối của đảng, hay thiên về phá hoại mà không có những kế hoạch xây dựng lại. Đây là một con người thông minh, thấu hiểu những vấn đề của đất nước mình, một con người biết điều và tinh tế” [4]. Tầm vóc của Hồ Chí Minh được tác giả nhận định: “...Hơn một phần tư thế kỷ nay, chỉ có Hồ Chí Minh mới giữ được cho ngọn đuốc độc lập bập bùng cháy trong trái tim, khối óc của những người Việt Nam cộng sản cũng như không cộng sản, và duy nhất chỉ có ông đã trở thành hiện thân của chủ nghĩa quốc gia Việt Nam, một Gioócgiơ Oasinhtơn của Việt Nam... Từ lâu ông đã trở thành Bác Hồ của người nghèo và tầm thường với một ánh hào quang trên đầu mà tất cả các chế độ bù nhìn liên tiếp đã không bao giờ có khả năng đánh đổ được” [4]. N. Khơrútsốp, trong Hồi ký đã dành hẳn một chương viết về Hồ Chí Minh và đi đến kết luận: Trong cuộc đời hoạt động chính trị của mình, tôi đã biết rất nhiều người nhưng không có người nào gây được ở tôi một ấn tượng đặc biệt như Hồ Chí Minh. Những người có đầu óc tín ngưỡng thường hay nói đến các vị Thánh. Đúng vậy, với cách sống và uy tín của ông đối với đồng bào trong nước, Hồ Chí Minh đúng là có thể so sánh với “các vị Thánh đó, một vị Thánh cách mạng...”; “Không ai có thể chống lại nổi ông vì niềm tin của ông mãnh liệt, tin ở nhân dân mình và tất cả các dân tộc cũng như ở sự nghiệp cao cả. Mỗi lời nói của ông hình như dựa vào niềm tin là về nguyên tắc tất cả mọi người cộng sản đều là anh em cùng giai cấp, họ chỉ có thể tỏ ra trung thực và chân thành với nhau mà thôi. Hồ Chí Minh quả thực là một trong “các vị Thánh” của chủ nghĩa cộng sản. Cũng với góc nhìn phẩm chất chính trị của Hồ Chí Minh, Stanley Karnow trên tờ Time (Mỹ) có bài viết nhận định: Một thân hình gầy gò, chòm râu dài, chiếc áo khoác cũ và đôi dép cao su đã mòn, Hồ Chí Minh đã tạo ra một hình ảnh Bác Hồ hiền lành giản dị. Nhưng người là nhà cách mạng dày dạn kinh nghiệm và một nhà dân tộc chủ nghĩa nồng 9 nhiệt, suốt đời đấu tranh cho một mục đích duy nhất: mang lại độc lập tự do cho dân tộc mình. Không có sự dao động trong niềm tin của Hồ Chí Minh, không thể lay chuyển ý chí của Người, ngay cả khi cuộc chiến tranh của Mỹ leo thang, tàn phá đất nước, người vẫn giữ niềm tin đối với nền độc lập của Việt Nam. Dưới con mắt phương Tây, điều dường như không thể tưởng tượng được là Hồ Chí Minh có thể cống hiến sự hy sinh to lớn như ông đã làm. Tsuboi Yoshiharu trong tham luận tại Hội thảo Việt Nam học lần thứ 3 tổ chức tại Hà Nội (5-8/12/2008) đi vào “Khảo cứu lại Hồ Chí Minh” [150]. Trên một lập trường cho rằng “giá trị tự do hơn”, tác giả tiếp cận nghiên cứu Hồ Chí Minh với tư cách là một người theo chủ nghĩa Cộng hòa và “nhận ra rằng có lẽ giá trị mà Hồ Chí Minh coi trọng nhất trong suốt cuộc đời của mình là những giá trị của nền Cộng hòa... nếu nhận thức Hồ Chí Minh như một người theo chủ nghĩa Cộng hòa, chúng ta có thể đánh giá được một cách đầy đủ và đúng đắn nhất những tư tưởng và hành động của Ông” [150]. Tác giả phân tích “Tinh thần nền Cộng hòa Pháp” và nhận thức tinh thần Cộng hoà của Hồ Chí Minh để kết luận: “có lẽ Hồ Chí Minh là lãnh đạo chính trị duy nhất ở Đông Á nhận thức được một cách đúng đắn nhất tinh thần nền Cộng hòa và Ông đã cố gắng đưa nó vào Việt Nam” [150]. Tác giả phân tích “Ý nghĩa của Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” mà Hồ Chí Minh đề ra và phấn đấu thực hiện để làm cơ sở cho việc khẳng định: “chúng ta có thể nhìn thấy một phần cách suy nghĩ theo chủ nghĩa Cộng hòa của Hồ Chí Minh” [150]. Công trình này của Tsuboi Yoshiharu góc độ tiếp cận có nhiều khác biệt nên trên không ít nhận định ngược lại với quan điểm chính thống ở Việt Nam. Tuy nhiên, có thể thiên về lý giải sự khác biệt do tính chất khoa học hơn là động cơ xấu về chính trị của tác giả. Như vậy, đến nay chưa thấy thống kê các công trình nghiên cứu chuyên biệt về tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh ở nước ngoài. Nhận định sau đây của nhà nghiên cứu Vladimir N. Kolotov (Nga) có thể xem như là một trong những lý giải: "Mặc dù hệ tư tưởng Hồ Chí Minh đã thấm sâu vào mọi lĩnh 10 vực của xã hội Việt Nam, cho đến nay, vấn đề này còn được nghiên cứu rất ít ở phương Tây, nơi người ta thích nhìn vào Việt Nam qua lăng kính hệ tư tưởng của mình, dán vào các quá trình khách quan những nhãn hiệu không có gì giống hiện thực" [151]. 1.1.1.2. Công trình nghiên cứu trong nước Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh là nội dung cốt lõi và bao trùm trong tư tưởng Hồ Chí Minh nên các công trình nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất đã là nghiên cứu tư tưởng chính trị của Người. Tuy nhiên, nghiên cứu tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh một cách riêng biệt và độc lập thì còn ít được triển khai. Công trình Tư tưởng chính trị của C. Mác, Ph.Ănghen, V.I. Lênin và Hồ Chí Minh của Lê Minh Quân [119] là một trong số ít đó khi dành một phần nội dung đề cập những vấn đề rất cơ bản của tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh. Tác giả quan niệm: Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh là một bộ phận chủ yếu trong hệ thống tư tưởng của Người, đề cập đến nhiều vấn đề, từ nhận thức hay quan niệm về chính trị đến những vấn đề của chính trị trong thực tiễn như đường lối của cách mạng Việt Nam; từ những vấn đề xây dựng Đảng, giành và giữ chính quyền, xây dựng chế độ mới, xây dựng và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, vấn đề cán bộ và đạo đức cách mạng, vấn đề vận động quần chúng đến những vấn đề về chiến lược, sách lược và nghệ thuật chính trị, phương pháp và phong cách của hoạt động và con người chính trị. Phân tích các nội dung chủ yếu trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh về đường lối cách mạng Việt Nam, xây dựng Đảng, xây dựng chế độ mới, phương pháp và nghệ thuật chính trị, con người chính trị, tác phẩm trên khẳng định: Chính trị trong quan niệm của Hồ Chí Minh là đạo đức và hành động cách mạng vì nước, vì dân, vì con người; tự do cho Tổ quốc, độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho Nhân dân là tất cả những gì nhà chính trị Hồ Chí Minh muốn, tất cả những gì Người làm. Đặc biệt, trong phân tích nội dung xây dựng và thực hiện quyền lực của Nhân dân, xây dựng nhà nước của dân, do 11 dân và vì dân, tác giả đã khái quát và đi đến khẳng định các quan điểm chính trị toàn diện và sâu sắc của Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò, quyền hạn, trách nhiệm, sức mạnh, lực lượng của Nhân dân; phương thức Nhân dân sử dụng quyền lực; mối quan hệ giữa Nhà nước với Nhân dân. Tất cả đều phải hướng tới mục tiêu xây dựng Nhà nước ta thành Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân để thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân ngày càng rộng rãi hơn, thực sự hơn. Các bộ phận, các yếu tố cấu thành nội dung tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh được nghiên cứu trong nhiều công trình. Đó là các công trình nghiên cứu tư tưởng về Đảng và xây dựng Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh như Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng của Nguyễn Quốc Bảo [22], Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh của Phạm Ngọc Anh và Bùi Đình Phong [5], Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa Đảng do Phạm Ngọc Anh chủ biên [6],... Các công trình này đề cập một cách hệ thống, toàn diện nhiều khía cạnh về vai trò lãnh đạo cách mạng của Đảng; về các mặt công tác (tổ chức – cán bộ, tư tưởng, kiểm tra, dân vận,...), các yếu tố (văn hóa, bản chất, mục tiêu, lý tưởng,...) của Đảng; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; về việc vận dụng tư tưởng đó vào công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở nước ta... từ vị trí, vai trò của Đảng và công tác xây dựng Đảng. Nhiều công trình nghiên cứu xoay quanh tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước đã luận giải trên nhiều khía cạnh: cơ sở, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân, vì dân; quan niệm về nhà nước của dân, do dân và vì dân; bản chất giai cấp công nhân của nhà nước ta; nhà nước pháp quyền; tổ chức, bộ máy, phương thức hoạt động;... Một số công trình tiêu biểu đề cập đến các vấn đề trên là: Tư tưởng Hồ Chí Minh về tổ chức nhà nước và cán bộ, công chức (Hà Quang Ngọc, Nguyễn Minh Phương) [102]; Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin về xây dựng Nhà nước pháp quyền (Phạm Ngọc Dũng) [32]; Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh (Vũ Đình Hòe) [64];... 12 Con người chính trị là một nội dung quan trọng của Chính trị học. Trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh, con người chính trị được đề cập rất nhiều. Các công trình nghiên cứu về vấn đề này phải kể đến Hồ Chí Minh đào tạo cán bộ và trọng dụng nhân tài (Đức Vượng) [159], Tư tưởng Hồ Chí Minh về việc giải quyết mối quan hệ cá nhân – xã hội trong đạo đức của người cán bộ cách mạng (Phạm Huy Kỳ) [77],... Ở các công trình này, trong khi khẳng định cán bộ là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp cách mạng thì việc gắn bó với Nhân dân, đi đúng đường lối Nhân dân là yêu cầu trước tiên và bao trùm đối với cán bộ. Nhân dân vừa là nguồn cung cấp cán bộ, vừa là môi trường nuôi dưỡng, rèn luyện cán bộ, vừa là lực lượng không gì hơn giúp cán bộ hoàn thành nhiệm vụ, đồng thời cũng là đối tượng mà cán bộ thực hiện vai trò lãnh đạo và đầy tớ. Như vậy, nghiên cứu tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh đa số đi vào các nội dung bộ phận, đến nay chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt. Khái niệm, bản chất, nội dung của hệ thống tư tưởng này vẫn còn là vấn đề mới cần phải được tập trung nghiên cứu làm rõ. Tuy nhiên, từ nhiều công trình nghiên cứu các nội dung bộ phận của tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh nêu trên cho thấy hầu hết nội dung của tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh đều liên quan đến Nhân dân, đều cho thấy Nhân dân đóng vai trò rất quan trọng và bao trùm. 1.1.2. Tình hình nghiên cứu tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh về Nhân dân và ý nghĩa, vận dụng tư tưởng đó trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam 1.1.2.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Hồ Chí Minh từ lâu đã là đề tài nghiên cứu thu hút sự quan tâm của không ít cá nhân, tổ chức. Các nghiên cứu của những học giả nước ngoài về Hồ Chí Minh là khá đa diện và đạt được nhiều thành tựu. Tuy nhiên, tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh về Nhân dân thì hầu như chưa có các công trình nghiên cứu một cách hệ thống và chuyên biệt; phần lớn được thể hiện qua các nhận 13 định trong những công trình nghiên cứu tiểu sử, sự nghiệp hoạt động chính trị của Hồ Chí Minh. Một số tiêu biểu như: Công trình “Ho” của David Halberstam xem Hồ Chí Minh “là hiện thân của một cuộc cách mạng”, “là biểu tượng của cuộc sống, hy vọng, đấu tranh, hy sinh và thắng lợi” của nông dân – thành phần chiếm đại đa số trong Nhân dân Việt Nam. Tác giả đi tìm nguyên nhân từ những yếu tố thuộc phẩm chất cá nhân của Hồ Chí Minh, đặc biệt nhấn mạnh Hồ Chí Minh “không cố tìm kiếm cho mình những cái trang sức quyền lực vì ông tự tin ở mình và ở mối quan hệ của ông với nhân dân”. Ahn Kyong Hwan trong Chủ tịch Hồ Chí Minh qua cảm nghĩ của một người Hàn Quốc [1], cho rằng tinh thần yêu nước thương dân, yêu dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một nhân vật vĩ đạt nhất xứng đáng là tấm gương cho tất cả các nhà lãnh đạo chính trị trên thế giới. Người đã không màng đến địa vị của mình, được công nhận là một nhà lãnh đạo tầm cỡ thế giới, sống như cuộc sống của người dân bình thường, chăm lo cải thiện cuộc sống của đồng bào Việt Nam. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thể nói một cách tóm tắt là "Tinh thần cùng với người dân" (cùng sống với người dân, cùng ăn với người dân, cùng làm việc với người dân). Tác giả đưa ra và nêu ra nhiều dẫn chứng để phân tích ba lý do sau đây nhằm lý giải vì sao Hồ Chí Minh được toàn dân tôn kính, vì sao Người có thể tập hợp được sức mạnh của toàn dân: (i) Trong bất cứ hoàn cảnh nào Người cũng sống cuộc sống thanh liêm; (ii) Mang hoài bão về giáo dục của đất nước, Người giáo dục cho giới trẻ để chuẩn bị cho tương lai của quốc gia; (iii) Lúc nào cũng đứng về phía những người yếu thế, luôn đùm bọc che chở những người cô đơn. Trong bài viết Đấng cứu tinh của hòa bình, độc lập và hạnh phúc [51], Geetesh Sharman (Chủ tịch điều hành Ủy ban đoàn kết Ấn Độ - Việt Nam) cũng đánh giá theo hướng nêu trên khi khẳng định Nhân dân luôn là tâm điểm của quá trình tư tưởng Hồ Chí Minh; Nhân dân chiếm một vị trí quan trọng, vững chắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Sự quan tâm của Người đối với Nhân 14 dân không bị giới hạn trong các ranh giới địa lý. Hồ Chí Minh là người mà trong lời nói và việc làm của mình luôn nhấn mạnh đến độc lập và phúc lợi của Nhân dân. Mục đích của Người không chỉ là giải phóng đất nước mình khỏi sự thống trị ngoại bang mà trong chiều sâu tư tưởng của mình, bên cạnh mục đích giành độc lập, Người còn mong ước mang đến sự công bằng, bình đẳng và no ấm cho Nhân dân mình. Tư tưởng Hồ Chí Minh và triết lý chính trị theo định hướng vì Nhân dân của Người không phải là ảo tưởng theo bất kỳ nghĩa nào. Người đã đồng hóa cái cốt lõi của toàn bộ kinh nghiệm với triết lý của mình và do đó triết lý theo định hướng Nhân dân hoàn toàn thực dụng và thực tiễn. Sự nghiệp cách mạng Việt Nam vĩ đại như thế không thể đạt được nếu thiếu sự lãnh đạo sáng suốt và nhân cách của Hồ Chí Minh với những chính sách, chiến lược theo hướng coi Nhân dân là nhân tố quyết định của Người. So với các vĩ nhân của thời kỳ hiện đại thì những lý tưởng và chính sách của Hồ Chí Minh dễ hiểu hơn đối với các quyền lợi của Nhân dân. Tiếp cận từ góc độ nghiên cứu Chính sách xã hội và tinh thần thời đại của Hồ Chí Minh [2], nhà nghiên cứu người Nga A.X. Varônhin cho rằng tầm vóc nhân vật Hồ Chí Minh như một chính trị gia đòi hỏi chúng ta nghiên cứu những quan điểm và chính sách chính trị - xã hội của Người trong bối cảnh lịch sử rộng hơn nữa. Phẩm chất vĩ đại của Hồ Chí Minh như một chính trị gia là ở chỗ Người hiểu rất rõ và đặt niềm tin sâu sắc vào năng lực, sự nhiệt huyết và sự nhận thức đang trỗi dậy trong Nhân dân. Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ nhân dân, chưa bao giờ đi chệch khỏi con đường phục vụ Nhân dân, bảo vệ lợi ích của Nhân dân, dù chỉ một bước, dù phải chịu bao nhiêu gian khổ. Trong mọi vấn đề, trong mọi việc, từ nhỏ đến lớn, thước đo chân lý của Người là một đất nước Việt Nam độc lập tự do và tiến bộ xã hội. Lợi ích của Nhân dân là khởi điểm và cũng là cái đích đến cuối cùng, là hòn đá tảng của triết lý và hoạt động chính trị của Hồ Chí Minh. Không hiểu được điều này có nghĩa là không hiểu được điều quan trọng nhất tạo nên sự khác biệt của Hồ Chí Minh với các chính trị gia vĩ đại khác của thế kỷ XX. 15 Khẳng định giá trị và sức sống của giá trị tinh thần Hồ Chí Minh trong lòng Nhân dân thế giới nói chung, cụ thể là Nhân dân Mỹ Latinh, nhà báo, nhà hoạt động chính trị người Mêhicô Igơnaxiô Gônxalết Hanxen trong Tinh thần Hồ Chí Minh ở Mỹ Latinh [74] đã phân tích tầm nhìn xa và thiên bẩm chính trị của Hồ Chí Minh trong mối tương tác với Nhân dân. Theo tác giả, đối với những người cách mạng và những nhà đấ... bộ phận khác là giai cấp và tầng lớp thống trị xã hội" [160, tr.1238]. Quan niệm này kế thừa cách tiếp cận Nhân dân theo địa vị bị trị trong mối tương quan đối lập với bộ phận thống trị xã hội đã được sử dụng nhiều từ lâu. Tuy nhiên, trong điều kiện quá độ lên chủ nghĩa hội ở Việt Nam, với mục tiêu, lý tưởng xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, với quan điểm cán bộ, đảng viên là người đầy tớ của Nhân dân, thì việc xác định Nhân dân như trên cần phải bổ sung, điều chỉnh. Hơn nữa, ngay cả những người làm việc trong cơ quan công quyền - cán bộ, công chức, viên chức,... – thì không phải lúc nào họ cũng tồn tại với tư cách và vị thế đó để phân biệt với những người lao động bình thường không thuộc bộ máy công quyền. Khi không thực thi công vụ, sinh hoạt đời thường thì họ cũng tồn tại với tư cách công dân, một thành phần trong Nhân dân. Một số nghiên cứu tiếp cận khái niệm Nhân dân từ các tiêu chí khác nhau: + Lấy tiêu chí mẫu số chung về địa bàn sống, nghề nghiệp, có người xem "nhân dân là một thể thống nhất bao gồm tất cả các dân tộc, giai cấp, tầng lớp cùng sinh sống, lao động trên lãnh thổ Việt Nam" [128, tr.17]. Theo quan niệm này, Nhân dân đồng nhất với dân cư. Đây là quan niệm chung nhất về Nhân dân nên chưa phản ánh hết nội hàm khái niệm này. Đơn cử, công dân 31 nước ngoài vì nhiều lý do đến công tác, sinh sống tạm trú trên lãnh thổ Việt Nam không thể xem là thành phần trong Nhân dân Việt Nam được. + Căn cứ vào sự thống nhất về văn hóa và lịch sử, có quan niệm cho rằng nhân dân là cộng đồng người gắn kết với nhau bởi nền văn hóa và lịch sử chung. Văn hóa và lịch sử đề cập ở đây thuộc phạm vi quốc gia. Nói cách khác, nhân dân một nước là cộng đồng người gắn kết với nhau bởi nền văn hóa và lịch sử của nước ấy. Quan niệm bao gồm trong nhân dân các thành phần phản động, có mục tiêu và lợi ích sống đối nghịch với số đông còn lại. Nếu vậy thì dù có chung một nền văn hóa và lịch sử cũng không thể gắn kết thành một thể thống nhất hợp thành nhân dân được. + Lấy tiêu chí là sự thống nhất ý chí, mục tiêu thúc đẩy tiến bộ xã hội, có nghiên cứu cho rằng "Nhân dân là khái niệm chỉ giai cấp, tầng lớp, tập đoàn xã hội chiếm số đông, thuận theo sự phát triển của lịch sử và thúc đẩy lịch sử tiến lên"; "Khái niệm “nhân dân” dùng để chỉ một cộng đồng của mọi cá nhân trong xã hội tuy có sự khác nhau về thành phần xã hội như dân tộc, sắc tộc, hoạt động chính trị - xã hội, quan điểm tư tưởng, tôn giáo, giới tính, nghề nghiệp... nhưng thống nhất lại, vượt lên trên sự khác biệt xã hội để có và thực hiện một ý chí, một định hướng, một mục tiêu phát triển cộng đồng, đất nước" [162]. Quan niệm này có sự kế thừa quan niệm của Lênin về nhân dân. Từ các khái niệm nhân dân nêu trên có thể nhận thấy những đặc trưng nổi bật sau của phạm trù này: Trước hết, nhân dân là toàn thể cộng đồng người (nghĩa rộng, hiểu thông thường) hoặc cộng đồng người chiếm đa số trong xã hội (nghĩa hẹp, cách hiểu khoa học chặt chẽ). Thứ hai, nhân dân là cộng đồng người được gắn kết chặt chẽ thành thể thống nhất bởi mẫu số chung. Mẫu số chung này khác nhau trong nhiều quan niệm. 32 Thứ ba, nhân dân là phạm trù chính trị - xã hội có tính lịch sử, vừa mang tính cộng đồng xã hội vừa mang tính giai cấp. Thành phần trong nhân dân có sự thay đổi và luôn khác biệt về giai cấp, tầng lớp. Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thành lập đến này luôn tồn tại trong mối quan hệ máu thịt với Nhân dân Việt Nam. Tư tưởng thể hiện xuyên suốt qua nhiều văn kiện của Đảng là: "Thực hiện đại đoàn kết các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp, thành phần kinh tế, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng của đất nước, người trong Đảng và người ngoài Đảng, người đang công tác và người đã nghỉ hưu, mọi thành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam dù sống trong nước hay ở nước ngoài" [41, tr.45]. Như vậy, Nhân dân là toàn thể dân tộc, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, vị thế xã hội, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo cùng tham gia sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Phạm trù "nhân dân" không chỉ gồm cộng đồng dân cư trên lãnh thổ Việt Nam mà còn gồm cả những người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài. Trong sự đồng thuận, thống nhất, đoàn kết toàn dân, lực lượng nền tảng, nòng cốt là giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức. Quan niệm về dân của chúng ta hiện nay có thể được xem như là một bước nhảy vọt, một sự biến đổi về chất so với truyền thống lịch sử, là sự phù hợp thực tế, khách quan với yêu cầu phát triển của xã hội Việt Nam hiện đại. 2.1.2. Cơ sở hình thành và nội dung quan niệm về Nhân dân trong tư tưởng chính trị của Hồ Chí Minh Trong tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh nói riêng, Nhân dân đứng ở vị trí trung tâm thể hiện qua tần suất rất lớn các quan điểm đề cập đến trong di sản bài viết, bài nói. Trong đó, quan niệm về Nhân dân là sự khởi đầu, điểm xuất phát cho hệ thống quan điểm chính trị toàn diện và sâu sắc về Nhân dân của Người. 33 2.1.2.1. Cơ sở hình thành quan niệm về Nhân dân trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh Quan niệm của Hồ Chí Minh về Nhân dân là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo quan niệm về nhân dân của các nhà tư tưởng Mác – Lênin và nhiều quan niệm thuộc các trường phái tư tưởng khác, kế thừa và phát huy tư tưởng chính trị truyền thống của dân tộc vào điều kiện cụ thể đương thời của Việt Nam. Do vậy, Nhân dân trong quan niệm của Người vừa có điểm nhất quán, vừa có những thay đổi, điều chỉnh phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể. Quan niệm về Nhân dân trong dòng chảy tư tưởng, văn hóa truyền thống Việt Nam là yếu tố đến với Hồ Chí Minh sớm nhất, đặt cơ sở đầu tiên và tạo dựng nền tảng cho việc tiếp thu các quan niệm khác sau này. Mạn đàm của phụ thân với các nhà yêu nước đề cập nhiều đến tình cảnh nhân dân Việt Nam đương thời đã bước đầu hình thành trong nhận thức của Hồ Chí Minh rằng Nhân dân là những người bị áp bức, bóc lột trong mối quan hệ với giai cấp phong kiến thống trị và thế lực ngoại xâm. Nhân dân là đối tượng mà những người có trách nhiệm với đất nước phải nghĩ đến, chăm lo, dẫn dắt. Họ chiếm số đông trong xã hội, lao động bình thường và là những người yếu thế. Các quan niệm về Nhân dân trong dòng chảy tư tưởng, văn hóa truyền thống dân tộc tiếp tục “thẩm thấu” vào Hồ Chí Minh trong quá trình Người theo phụ thân rời quê hương đến sống và trải nghiệm hiện thực ở nhiều nơi. Tuy nhiên, quan niệm truyền thống nghiêng về tạo dựng hình ảnh Nhân dân là những người cần được giúp đỡ, chăn dắt hơn là những người có khả năng “tự mình giúp mình”. Mặc dù đánh giá rất cao vai trò của Nhân dân nhưng trong thực tế thì quan niệm truyền thống vẫn cho rằng Nhân dân không thể tự thực hiện được các hành vi làm chủ xã hội; đó là công việc của vua quan trong cương vị phụ mẫu chăn dân. Nhận thức này dẫn đến dù tiến bộ thế nào đi nữa thì hầu hết các quan niệm truyền thống về Nhân dân đều dẫn đến việc đặt nhân dân trong vị trí người bị trị, thụ động; đều dẫn đến việc bảo vệ vương quyền. 34 Dù chưa rõ ràng nhưng có lẽ Hồ Chí Minh không hoàn toàn đồng tình với quan niệm nêu trên và chắc chắn manh nha những suy nghĩ khác. Điều đó dần được thể hiện rõ trong quá trình ra đi tìm đường cứu nước. Đến nhiều nơi, nhất là các nước Anh, Pháp, Mỹ, Hồ Chí Minh nghiên cứu các lý thuyết chính trị và khảo nghiệm thực tiễn đời sống. Hồ Chí Minh sớm phát hiện điểm giống cũng như khác của nhân dân ở các nước này so với nhân dân trong nước. Tình cảnh cùng bị áp bức, bóc lột là điểm chung nhưng dù là vậy thì nhân dân các nước tư bản phương Tây mà Hồ Chí Minh đến vẫn có vị trí tốt hơn khi được tham gia bầu cử tổ chức nên bộ máy chính quyền và những quyền tự do, bình đẳng khác mà luật pháp quy định. Dân chủ, dân quyền dù chưa thật sự triệt để trong thực tế nhưng ít nhiều đã được khẳng định trong hiến pháp và các đạo luật. Một hình ảnh đơn giản nhưng tác động rất lớn đến nhận thức của Hồ Chí Minh đó là việc người bình dân ở Pháp có thể ngồi chung quán ăn và được phục vụ giống như những người làm việc và có chức vụ trong bộ máy chính quyền. Điều đó hoàn toàn khác với hình ảnh “kẻ trên” (vua, quan) - “bề dưới” (dân) như ở trong nước. Đến đây, nhận thức của Hồ Chí Minh đã có sự thay đổi. Nhân dân bình đẳng với giai cấp cầm quyền trước pháp luật hơn so với trong nước, đặc biệt là sự tham gia chính trị của nhân dân mang tính hiện thực hơn. Tuy nhiên, sống cùng với nhân dân lao động các nước, Hồ Chí Minh nhận thấy dù có được tự do, bình đẳng nhưng trong thực tế nhân dân vẫn bị đặt trong mối quan hệ với giai cấp cầm quyền trong tư thế “bên dưới”. Quyền của nhân dân vẫn còn có sự khác nhau tùy thuộc vào tài sản, xuất thân. Nhân dân là lực lượng chủ thể của quyền lực chính trị, xã hội và đất nước là rõ ràng. Vấn đề còn lại ở chỗ nhân dân sẽ là lực lượng thực hiện vị thế đó như thế nào. Nhìn vào tính chất, mức độ và những thành phần tham gia thực hiện hành vi làm chủ ở những nơi khác nhau sẽ cho thấy những quan niệm khác nhau về dân. Trong quan niệm về dân truyền thống đã tiếp nhận trước đó, Hồ Chí Minh xác lập nhận thức một cách bền vững vị thế dân là 35 chủ, ý dân là ý trời – một vị thế rất cao – nhưng không hài lòng với sự thể hiện gần như hoàn toàn trái ngược trong thực tiễn. Con đường để hiện thực hóa quan niệm ấy hầu như chưa có. Với lý thuyết và hiện thực dân chủ tư sản phương Tây, Hồ Chí Minh nhận thấy tiến bộ hơn ở chỗ nhân dân là công dân chứ không phải thần dân, tức là họ có quyền lợi và trách nhiệm được pháp luật quy định rõ ràng, đồng thời các quy định đó được hiện thực hóa bằng hành vi, cơ chế cụ thể chứ không phải dừng lại trên lời nói. Như vậy, yếu tố chủ yếu của lý thuyết và hiện thực ở phương Tây mà Hồ Chí Minh bổ sung vào nhận thức là nhân dân phải được và có khả năng trực tiếp tham gia đời sống chính trị - xã hội trong cương vị là chủ. Tuy nhiên, điều đó lại không công bằng giữa các giai tầng, bộ phận xã hội khác nhau về xuất thân và tài sản. Ở phương Tây, càng nhìn xuống số đông người giảm dần về tài sản thì càng có nhiều những hoài nghi, do dự về khả năng làm chủ dẫn đến những thiết kế luật pháp và bộ máy nhà nước có sự khác nhau trong thực hiện quyền là chủ giữa các thành phần xã hội. Hồ Chí Minh không chấp nhận điều này và do vậy không dừng lại ở lý thuyết, hiện thực dân chủ tư sản phương Tây. Tiếp tục tìm kiếm một lý thuyết và hiện thực phản ánh quan niệm về dân triệt để hơn là điều Hồ Chí Minh tiếp tục. Hồ Chí Minh đã nghiên cứu các tác phẩm của chủ nghĩa Mác trong quá trình tìm hiểu lý thuyết tư sản. Hoạt động này được đẩy mạnh sau khi Hồ Chí Minh chọn con đường cứu nước theo quỹ đạo cách mạng vô sản, trở thành người cộng sản. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về quần chúng nhân dân được Hồ Chí Minh tiếp thu, đó là: (1) Nhân dân là người sáng tạo ra mọi của cải vật chất và những giá trị tinh thần - nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội; (2) Nhân dân là lực lượng cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội. Các quan điểm này được thực chứng bằng hiện thực Liên Xô mà Hồ Chí Minh trực tiếp thấy. Tiếp thu lý thuyết và hiện thực dân chủ xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh hiểu nhân dân một cách đầy đủ hơn. Ngoài quan niệm đề cao vai trò của nhân dân tương đồng với các lý thuyết khác thì chủ 36 nghĩa Mác – Lênin bổ sung thêm vào nhận thức của Hồ Chí Minh rằng nhân dân là chủ thể, lực lượng, mục tiêu của sự nghiệp cách mạng – con đường giành lấy và hiện thực hóa vị thế là chủ của nhân dân. Sau này, vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh nhấn mạnh cả tính giai cấp và tính dân tộc trong quan niệm về nhân dân. Hồ Chí Minh dần hoàn chỉnh quan niệm về nhân dân trong quá trình thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam. 2.1.2.2. Nội dung quan niệm về Nhân dân trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh đề cập đến Nhân dân chủ yếu là Nhân dân Việt Nam. Trong một số trường hợp, khi bàn đến các vấn đề chính trị khu vực và quốc tế, khi tham gia xây dựng khối đoàn kết quốc tế, tranh thủ khai thác sức mạnh thời đại cho cuộc đấu tranh trong nước, Hồ Chí Minh đề cập đến nhân dân các nước, khu vực, thế giới, nhưng không trực tiếp nêu khái niệm. Nhân dân Việt Nam trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh vừa có đặc điểm chung giống với nhiều quan niệm đã được Hồ Chí Minh kế thừa vận dụng, vừa mang sắc thái riêng phản ánh điều kiện cụ thể của Việt Nam. * Quan niệm từ góc độ tiếp cận thành phần trong Nhân dân Hồ Chí Minh hay gọi Nhân dân một cách ngắn gọn là dân theo cách nói thông thường, quen thuộc. Cũng giống như nhiều quan niệm khác, Hồ Chí Minh xem Nhân dân là tập hợp gắn kết đa số người khác nhau về dân tộc, tôn giáo, giới tính, giai tầng, địa vị,... trong xã hội nhưng thống nhất thành một cộng đồng chung. Đó là toàn dân, toàn dân tộc Việt Nam, bao gồm mọi người thuộc các dân tộc đa số và thiểu số, sống ở trong nước hay ở nước ngoài, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, tôn giáo. Tuy nhiên, dân không phải là một khối đồng nhất, mà là cộng đồng gồm nhiều dân tộc, giai cấp, tầng lớp, có sự thống nhất và khác biệt về lợi ích, có thái độ và vai trò khác nhau đối với sự phát triển của xã hội. Trong điều kiện nước Việt Nam nông nghiệp, thuộc địa, nói đến dân chủ yếu là nói tới Nhân dân lao động gồm công nhân, nông dân, trí thức, là lực lượng trực tiếp sản xuất, có tiềm lực 37 vật chất và tinh thần to lớn nhất. Họ là nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Hồ Chí Minh viết: Dân là mọi người dân Việt Nam; là mọi con dân nước Việt; là mỗi người con Rồng cháu Tiên, không phân biệt già, trẻ, gái, trai, giàu, nghèo, quý, tiện, trong đó công nông chiếm tuyệt đại đa số. Do quan niệm như trên, trong nhiều trường hợp, Hồ Chí Minh gọi Nhân dân là quần chúng, quốc dân, đồng bào. Quan niệm này bao hàm trong đó các tiêu chí văn hóa, lịch sử, lãnh thổ cư trú. Nhân dân Việt Nam là cộng đồng mọi người dân, không phải tất cả, mà phải là người Việt Nam chung gốc tích, lịch sử, văn hóa. Người nước ngoài đến tạm trú, khác biệt về gốc tích, lịch sử, văn hóa, thì không nằm trong thành phần Nhân dân Việt Nam. Hồ Chí Minh cũng không cứng nhắc khi lấy tiêu chí lãnh thổ cư trú để xác định thành phần Nhân dân. Cần lưu ý cách Hồ Chí Minh nói: Dân là mọi người dân Việt Nam; là mọi con dân nước Việt; là mỗi người con Rồng cháu Tiên... . "người dân Việt Nam" muốn nói ở đây là tất cả mọi người Việt Nam đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. Hồ Chí Minh đặt ở vị trí đầu tiên trong quan niệm nêu trên tiêu chí về lãnh thổ cư trú để nhấn mạnh. Ở điểm này, Hồ Chí Minh tương đồng với nhiều quan niệm hiện nay khi lấy chủ quyền quốc gia làm một trong những tiêu chí để xác định thành phần nhân dân. Tuy nhiên, biên độ Nhân dân của Hồ Chí Minh không dừng lại ở phạm vi lãnh thổ cư trú – lãnh thổ quốc gia – mà mở rộng ra ở phạm vi văn hóa. Hồ Chí Minh nhận thấy, Nhân dân Việt Nam nếu chỉ giới hạn trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam sẽ bỏ mất lực lượng người Việt Nam đang sinh sống, định cư ở nước ngoài. Cách mạng Việt Nam nói chung, cuộc đấu tranh chính trị - xã hội với đế quốc thực dân và tay sai phản động, công cuộc xây dựng chế độ chính trị của dân, do dân, vì dân định hướng xã hội chủ nghĩa nói riêng chỉ có thể thành công khi xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đó là trách nhiệm chung nên không thể để kiều bào đứng ngoài. "mọi con dân nước Việt", "mỗi người con Rồng cháu Tiên" trong quan niệm về Nhân dân của Hồ Chí Minh chỉ cả người Việt Nam ở trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài. Kết hợp tiêu chí lãnh thổ 38 cư trú và văn hóa, lịch sử giúp cho quan niệm về Nhân dân của Hồ Chí Minh phản ánh đầy đủ thành phần trong Nhân dân, vừa có trọng tâm là mọi người Việt Nam sinh sống trong nước, vừa bao quát khi có cả người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Đây là quan niệm về Nhân dân theo nghĩa rộng. Từ cách tiếp cận hẹp hơn, Hồ Chí Minh phân biệt sự khác nhau giữa quốc dân và Nhân dân. Quốc dân là tất cả mọi người Việt Nam chung gốc tích, văn hóa, lịch sử, không phân biệt trong đó tính chất tiến bộ hay phản động. Nhân dân cũng là tập hợp tất cả người Việt Nam thuộc các giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau, chủ yếu là những người lao động, nhưng không bao hàm những kẻ tay sai, bán nước, phản động, xâm hại lại lợi ích quốc gia, dân tộc. Hồ Chí Minh viết: “Nhân dân và quốc dân khác nhau. Nhân dân là bốn giai cấp công, nông, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và những phần tử khác yêu nước. Đó là nền tảng của quốc dân. Những bọn phản động chưa đến nỗi bị xử tử, vẫn là quốc dân. Nhưng chúng không được ở trong địa vị nhân dân, không được hưởng quyền lợi như nhân dân. Chúng không có quyền tuyển cử, ứng cử; không có quyền tổ chức tuyên truyền, v.v.. Song chúng cần phải làm tròn nghĩa vụ, như phục tùng trật tự, tuân theo pháp luật của nhân dân” [85, tr. 264]. Xác định quyền lực chính trị thuộc về Nhân dân cũng có nghĩa là phải sử dụng quyền lực đó để chuyên chính với kẻ thù của Nhân dân. Hồ Chí Minh viết: "Dưới chế độ dân chủ nhân dân, chuyên chính là đại đa số nhân dân chuyên chính với thiểu số phản động chống lại lợi ích của nhân dân, chống lại chế độ dân chủ của nhân dân" [87, tr. 457]. Phản động ở đây được hiểu là những kẻ chống lại Nhân dân lao động, "kẻ phá hoại", chống lại lợi ích của Nhân dân. Lý giải về điều này, Hồ Chí Minh dẫn chứng: Bảo Đại khi trao ấn kiếm thoái vị, trở thành công dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tham gia Chính phủ của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân thì ông ta được xếp vào Nhân dân Việt Nam. Khi quay đầu chống phá cách mạng, chống phá chính quyền của Nhân dân, phản bội lại lợi ích của dân tộc, của Nhân dân, trở 39 nên phản động, thì ông ta bị tước bỏ tư cách công dân, loại ra khỏi Nhân dân nhưng vẫn là người Việt con rồng cháu tiên nên nằm trong quốc dân. Hồ Chí Minh xem Nhân dân "là nền tảng của quốc dân". Trong quốc dân, "Nhân dân là bốn giai cấp công, nông, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và những phần tử yêu nước". Lênin lấy vai trò tiến bộ, cách mạng thúc đẩy xã hội phát triển để xác định Nhân dân. Hồ Chí Minh lấy "yêu nước" làm tiêu chí để xác định các thành phần trong quốc dân gắn kết thành khối thống nhất với tên chung "Nhân dân". Trong điều kiện nước Việt Nam nghèo nàn, lạc hậu đang bị ngoại xâm thống trị thì hành động tiến bộ nhất là hành động yêu nước – mẫu số giá trị bao trùm nhất, cao nhất trong bảng giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc. Tuy nhiên, "yêu nước" được Hồ Chí Minh nhắc đến ở đây không chung chung, trừu tượng, mà biểu hiện qua nhận thức và hành động mang tính chính trị - xã hội rõ nét. Đó là đấu tranh lật đổ chế độ thống trị của ngoại xâm và tay sai, làm cho "nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành" [81, tr. 187]. Đó là trung thành, đoàn kết thống nhất thực hiện đường lối chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam - tổ chức chính trị được đại đa số thành phần trong quốc dân tin cậy, trao cho quyền lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo chính quyền; hiệp đồng dựng lên, chung sức bảo vệ, củng cố và phát triển nhà nước của dân, do dân, vì dân. Tóm lại, yêu nước gắn chặt với yêu chế độ chính trị được thiết lập bởi cuộc đấu tranh cách mạng của đại đa số thành phần trong xã hội, lấy phục vụ lợi ích của số đông đó làm mục tiêu tồn tại và hoạt động. Trong quan niệm nêu trên, Hồ Chí Minh nhìn Nhân dân theo nghĩa hẹp. Nhân dân không đồng nhất với dân cư, quốc dân. Nhân dân là khối đông đảo người yêu nước thuộc các giai cấp và tầng lớp lao động không bóc lột trong dân cư, trong quốc dân, trực tiếp sản xuất ra của cải cho xã hội, có khả năng tham gia giải quyết những nhiệm vụ phát triển tiến bộ xã hội; tức là phần lớn chứ không phải toàn bộ. Quan niệm này của Hồ Chí Minh cũng cho 40 thấy, khái niệm Nhân dân mang màu sắc và ý nghĩa chính trị khá rõ rệt, phần nào phản ánh mối quan hệ giữa các giai cấp trong xã hội. Nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh là một phạm trù rộng, mang tính cộng đồng dân tộc mà vẫn bao hàm và thể hiện bản chất giai cấp sâu sắc. Điểm nổi bật dễ nhận thấy là có hai kiểu phân chia thành phần Nhân dân trong quan niệm của Hồ Chí Minh: Thứ nhất, căn cứ theo giai tầng, tôn giáo, tầng lớp, độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, dân tộc, Hồ Chí Minh xem Nhân dân là tập hợp thống nhất của "bốn giai cấp công, nông, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và những phần tử khác yêu nước" [85, tr. 264]; cộng đồng người không phân biệt "già, trẻ, gái, trai, giàu, nghèo, quý, tiện". Trong đó, Hồ Chí Minh khẳng định liên minh công nhân - nông dân - trí thức là cốt lõi, nền tảng. Biên độ Nhân dân ở đây rộng hơn Phan Bội Châu khi nhà yêu nước theo hệ tư tưởng dân chủ tư sản này đưa ra quan điểm tập hợp lực lượng gồm: 1. Phú hào; 2. Quý tộc; 3. Sĩ phu; 4. Lính tập; 5. Tín đồ đạo Thiên chúa; 6. Du đồ hội đảng; 7. Nhi nữ anh sĩ; 8. Thông ngôn; 9. Ký lục; 10. Bồi bếp. Tập hợp này không phải là số đông trong xã hội, không phản ánh hết thành phần trong nhân dân, nhất là thành phần cốt lõi. Đến cuối đời, Phan Bội Châu cũng đã nhìn thấy lực lượng cơ bản nhất trong xã hội là công nhân và nông dân, nhưng lực bất tòng tâm, lực đã tàn, sức đã kiệt. Thứ hai, căn cứ theo hệ giá trị tinh thần, vào vai trò tiến bộ xã hội, theo Hồ Chí Minh, về đại thể dân gồm ba tập hợp con người: "Bất kỳ nơi nào có quần chúng, thì nhất định có ba hạng người: hạng hăng hái, hạng vừa vừa, và hạng kém. Mà trong ba hạng đó, hạng vừa vừa, hạng ở giữa, nhiều hơn hết, hạng hăng hái và hạng kém đều ít hơn" [82, tr. 329]. Plato và nhiều chính trị gia khác chia xã hội thành ba lớp người giàu, nghèo và trung lưu và phê bình thói xấu, cái bệnh của người giàu là khinh người nghèo; phê bình thói xấu, cái bệnh của người nghèo là ghen ghét người có của. Plato chỉ phê bình cái giàu và cái nghèo về vật chất, chưa chú trọng yếu tố tinh thần. Hồ Chí Minh bàn 41 tới Nhân dân không đề cập nhiều tới mối quan hệ vật chất mà rất chú trọng tới đặc điểm tinh thần. Hăng hái, vừa vừa hay kém, nói đến ở đây là tinh thần đối với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ chính trị mới của toàn dân tộc. Trong ba hạng đó, không bao giờ có thành phần phản động. * Quan niệm từ góc độ tiếp cận vị trí, vai trò của Nhân dân trong các mối quan hệ Trong nhiều hoàn cảnh cụ thể, Hồ Chí Minh quan niệm về Nhân dân một cách ngắn gọn, phản ánh những đặc trưng chung nhất. Hồ Chí Minh quan niệm về Nhân dân trong mối quan hệ với quyền lực chính trị, tập trung là với quyền lực nhà nước. Đây là cách tiếp cận quan niệm Nhân dân đi vào nội hàm, trả lời cho câu hỏi Nhân dân có gì (vị trí, vai trò), khác với cách tiếp cận ngoại diên nêu trên trả lời cho câu hỏi Nhân dân gồm những ai. Ở cách tiếp cận này, vị trí, vai trò của Nhân dân được lấy làm tiêu chí để quan niệm. Với logic ấy, đặt trong mối quan hệ với chế độ chính trị, sự nghiệp chính trị, hệ thống chính trị, rộng hơn nữa là với xã hội, với đất nước, Hồ Chí Minh đưa ra các quan niệm cụ thể: - Với con người chính trị (chủ yếu là cán bộ, đảng viên,...), Nhân dân là chủ, là đối tượng lãnh đạo và phục vụ. Những ai được xem là đối tượng để lãnh đạo, lấy làm mục tiêu phục vụ thì đó là Nhân dân. Trong quan điểm về mối quan hệ với Nhân dân, Hồ Chí Minh thường xuyên xác định cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật sự trung thành. Cán bộ, đảng viên là “đầy tớ” của nhân dân trong tư cách “người lãnh đạo”. Lãnh đạo để phục vụ nhân dân. Tư duy biện chứng của Hồ Chí Minh thể hiện ở chỗ này. Lãnh đạo nhân dân, nhưng người đảng viên cộng sản không phải là “quan” dân, “không vào Đảng để hưởng thụ, để làm quan cách mạng”, mà phải “một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phải là người đầy tớ hết sức trung thành của nhân dân”, là người kiên cường bất khuất, "không sợ kẻ địch nào dù cho chúng hung tợn đến mấy, không sợ nhiệm vụ nào dù nặng nề, nguy hiểm đến mấy", nhưng đối với nhân dân “sẵn sàng vui 42 vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân”. “Lãnh đạo” và “đầy tớ” là hai mặt có quan hệ chặt chẽ trong vai trò của người đảng viên. Lãnh đạo để làm đầy tớ dân, phục vụ dân. Đầy tớ trong tư cách người lãnh đạo, giác ngộ, hướng dẫn, tổ chức, quản lý nhân dân. Trong “lãnh đạo” có “đầy tớ”, trong “đầy tớ” có lãnh đạo. Hai mặt của một chỉnh thể thống nhất. - Với hệ thống chính trị (Đảng, chính quyền, đoàn thể), Nhân dân là lực lượng tổ chức ra, nuôi dưỡng và bảo vệ, đồng thời là người chịu sự lãnh đạo, quản lý. Tư tưởng Hồ Chí Minh luôn khẳng định nhất quán, rõ ràng rằng tất cả các thành tố của hệ thống chính trị đều từ Nhân dân mà ra, do Nhân dân tổ chức nên. Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể chính trị - xã hội ra đời từ nhu cầu, nguyện vọng của Nhân dân. Cán bộ, đảng viên – nhân tố cấu thành các tổ chức trong hệ thống chính trị - là “con, em” của Nhân dân. Nguồn kinh phí để tổ chức và duy trì hoạt động do Nhân dân cung cấp thông qua đóng thuế và các nguồn đóng góp khác. Nhân dân đoàn kết, hy sinh bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ chế độ chính trị. Tuy nhiên, đồng thời với khẳng định vai trò là lực lượng tổ chức ra, nuôi dưỡng và bảo vệ Đảng, Nhà nước, Hồ Chí Minh cũng xác định Nhân dân là người chịu sự lãnh đạo, quản lý. ồ Chí Minh xem "dân chúng chính là những người chịu đựng cái kết quả của sự lãnh đạo của ta" [82, tr. 325]. - Với sự nghiệp chính trị, Nhân dân là chủ thể, lực lượng chủ yếu. Sự nghiệp cách mạng Việt Nam trước hết là sự nghiệp chính trị bởi các mục tiêu cốt yếu và bao trùm là các mục tiêu chính trị. Khi đề cập đến vị trí, vai trò của Nhân dân đối với sự nghiệp chính trị, Hồ Chí Minh cũng đồng thời đưa ra quan niệm. Người thường xuyên khẳng định cách mạng Việt Nam là sự nghiệp của Nhân dân. Lực lượng chính yếu thực hiện sự nghiệp đó cũng chính là Nhân dân. Đây là một trong những tiêu chí cụ thể, rất rõ ràng để xác định Nhân dân. 43 Nhìn chung, với cách tiếp cận này, quan niệm về Nhân dân của Hồ Chí Minh vừa cho thấy vị trí, vai trò của Nhân dân, vừa cho thấy mối quan hệ giữa Nhân dân với các chủ thể khác, vừa nêu rõ những yêu cầu về nghĩa vụ, trách nhiệm của Nhân dân. Như vậy, đặt Nhân dân trong mối quan hệ với cán bộ, đảng viên), hệ thống chính trị (Đảng, chính quyền, đoàn thể), sự nghiệp chính trị (đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ mới) nên mọi quan niệm về Nhân dân của Hồ Chí Minh trước hết đều là quan niệm chính trị, đều mang sắc thái chính trị. Quan niệm ấy thống nhất với nhiều quan niệm khác về Nhân dân ở chỗ xem đó là tập hợp, cộng đồng người thống nhất. Tuy nhiên, quan niệm Nhân dân trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh cũng mang sắc thái riêng thể hiện sự kế thừa, vận dụng và phát triển nhiều quan niệm khác. Kết hợp cả hai cách hiểu rộng và hẹp, nhân dân trong quan niệm của Hồ Chí Minh vừa có biên độ rất rộng, là toàn dân tộc, vừa có sự chọn lọc khi đề ra tiêu chuẩn yêu nước, vai trò tiến bộ. Nhân dân là cộng đồng xã hội không chung chung, đồng nhất, mà có sự khác biệt về giai tầng, tôn giáo, dân tộc, giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp,... trong đó liên minh công nhân – nông dân – trí thức là nền tảng. Tính cộng đồng và tính giai cấp tồn tại thống nhất trong Nhân dân. 2.2. NHÂN DÂN LÀ MỤC TIÊU VÀ ĐỘNG LỰC CỦA SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG VIỆT NAM 2.2.1. Nhân dân là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng Việt Nam Nếu như quan niệm về Nhân dân là tiền đề xuất phát để Hồ Chí Minh xây dựng hệ thống các quan điểm chính trị thì đích đến cuối cùng của hệ thống quan điểm đó cũng chính là Nhân dân. Nói cách khác, tư tưởng – liền với đó là hành vi chính trị - của Hồ Chí Minh có đối tượng hướng đến cuối cùng không phải là bản thân Hồ Chí Minh hay hệ thống chính trị (Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội) do Người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện. Xét đến cùng, nhận thức cũng như hành vi chính trị của Hồ Chí 44 Minh nhất quán hướng đến Nhân dân như là mục tiêu thường xuyên và tối thượng. Sự nghiệp cách mạng (tập trung trước hết ở cách mạng chính trị - xã hội), tổ chức chính trị, con người chính trị – những chủ thể chiếm vị trí bao trùm toàn bộ nội dung tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh – đều được Hồ Chí Minh xác định có mục tiêu, lý tưởng vì Nhân dân. Trên tất cả các nội dung, ở mọi phạm vi, cấp độ đề cập của sự nghiệp cách mạng đều được Hồ Chí Minh xác định là vì dân. Mong muốn thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu hàng ngày như tương, cà, mắm, muối, áo cho dân mặc, nhà cho dân ở, dạy cho dân học,... là mục tiêu cách mạng Việt Nam. Giải phóng Nhân dân, giúp Nhân dân phát triển toàn diện, phát huy tối đa sức mạnh của Nhân dân, đưa Nhân dân lên địa vị làm chủ vận mệnh của chính mình, làm chủ chế độ, làm chủ sự nghiệp cách mạng, làm chủ xã hội là lý tưởng chính trị của sự nghiệp cách mạng. Ở mọi giai đoạn của sự nghiệp cách mạng (cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, cách mạng xã hội chủ nghĩa), mọi cấp độ của tổ chức chính trị (trung ương đến cơ sở); từ nhận thức đến chủ trương, quan điểm, nghị quyết, cương lĩnh, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, tôn chỉ cũng như đường hướng hoạt động của Mặt trận và đoàn thể; từ phong cách đến phương pháp, đạo đức, văn hóa chính trị của người cán bộ, đảng viên, tất cả không được giây phút nào xao lãng mục đích phục vụ Nhân dân. Nhân dân tồn tại với tư cách là mục tiêu cần hướng đến của sự nghiệp cách mạng không chỉ hình thành khi Hồ Chí Minh nêu lên các quan điểm chính trị khởi điểm hay ở những hành vi chính trị đầu tiên. Từ trước đó, thuở thiếu thời cho đến trước khi hoạt động chính trị chuyên nghiệp và xây dựng nên hệ thống quan điểm chính trị của mình, Nhân dân đã tồn tại trong nhận thức, tư duy của Hồ Chí Minh dưới góc độ triết lý đạo đức, văn...Hồ Chí Minh về Nhân dân có thể phân chia thành hai nhóm chính: Một là, các quan điểm về vị trí, vai trò của Nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh quan niệm về Nhân dân vừa có biên độ rất rộng, là toàn dân tộc, vừa có sự chọn lọc khi đề ra tiêu chuẩn yêu nước, vai trò tiến bộ. Nhân dân là cộng đồng xã hội không chung chung, đồng nhất, mà có sự khác biệt về giai tầng, tôn giáo, dân tộc, giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp,... trong đó liên minh công nhân – nông dân – trí thức là nền tảng. Tính cộng đồng và tính giai cấp tồn tại thống nhất trong Nhân dân. Vị trí, vai trò của Nhân dân đối với cách mạng Việt Nam thể hiện ở chỗ Nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng. Xác định nhân dân là mục tiêu của cách mạng là vấn đề có tính chiến lược, được duy trì và phát triển theo hướng không ngừng củng cố, bổ sung ở mọi phạm vi, cấp độ, thể hiện tựu trung qua: (1) Dân tộc độc lập; (2) Nhân dân tự do; (3) 149 Nhân dân hạnh phúc; (4) Dân trí nâng cao; (5) Thực hành dân chủ. Mục tiêu vì Nhân dân trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt, ngọn hải đăng dẫn đường cho toàn bộ quan điểm, hành vi chính trị của Hồ Chí Minh và sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Nhân dân là động lực của sự nghiệp cách mạng Việt Nam thể hiện ở chỗ là chủ thể và lực lượng của sự nghiệp cách mạng; trực tiếp xây dựng, nuôi dưỡng và bảo vệ chế độ chính trị; nguồn cung cấp đội ngũ cán bộ, đảng viên cho cách mạng. Mặt khác, Nhân dân là động lực của tư tưởng Hồ Chí Minh – nền tảng tư tưởng của cách mạng Việt Nam. Nhân dân là nguồn cảm hứng, môi trường nảy sinh và nuôi dưỡng, môi trường thực hiện, thử thách và kiện toàn nên giá trị to lớn của hệ thống quan điểm Hồ Chí Minh. Đến lượt mình, tư tưởng Hồ Chí Minh là động lực soi đường cho tiến trình thắng lợi trong sự nghiệp cách mạng của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Hai là, các quan điểm về đảm bảo vị trí, vai trò nêu trên của Nhân dân thông qua sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Sự nghiệp của Hồ Chí Minh mang nội dung chính trị đậm nét. Trên cách nhìn chung nhất, sự nghiệp đó phản ánh hai giai đoạn cơ bản của cách mạng Việt Nam: Giai đoạn thứ nhất, tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân với nhiệm vụ đánh đổ sự thống trị của chủ nghĩa thực dân đế quốc giành độc lập cho dân tộc, xóa bỏ tàn tích chế độ phong kiến và tiền phong kiến đem lại ruộng đất cho nông dân, thực hiện quyền tự do, dân chủ cho nhân dân và thiết lập chế độ cộng hòa dân chủ, mở đường cho xã hội phát triển; Giai đoạn thứ hai tiếp nối theo đó là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa nhằm bảo vệ và phát triển thành quả đạt được trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, củng cố chính quyền của dân, do dân, vì dân, xây dựng đất nước phát triển lên chủ nghĩa xã hội. Sự nghiệp cách mạng Việt Nam, trên tất cả các vấn đề cơ bản, từ con đường, mục tiêu, lực lượng, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đến đối tượng, nhiệm vụ, quan hệ quốc tế của cách mạng Việt Nam đều xoay quanh vấn đề lợi ích của Nhân dân, đều vì sự phát triển của Nhân 150 dân, đều đảm bảo vị trí, vai trò vốn có của Nhân dân. Lợi ích và sự phát triển của Nhân dân là cặp đôi song trùng mà sự nghiệp cách mạng Việt Nam dưới ánh sáng soi đường của tư tưởng Hồ Chí Minh hướng đến. Thứ hai, về ý nghĩa của tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh về Nhân dân đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay. Đổi mới là yêu cầu có ý nghĩa sống còn đối với đất nước. Để đổi mới thành công, đạt nhiều thành tựu, chúng ta xác định rõ ràng và dứt khoát phải quán triệt sâu sắc trong nhận thức và hành động bài học "lấy dân làm gốc". Để đảm bảo đi đúng định hướng, sự nghiệp đổi mới phải xác định mục tiêu vì dân. Để có thể vượt qua khó khăn, thách thức mà tiến lên, sự nghiệp đổi mới phải khai thác, phát huy được sức mạnh của Nhân dân. Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định. Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh về Nhân dân là hệ thống lý luận khoa học làm nền tảng cho hệ thống chính trị trong việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, quan điểm, đồng thời là kim chỉ nam cho tổ chức thực tiễn, nhằm đảm bảo mục tiêu vì Nhân dân của sự nghiệp đổi mới cũng như tập hợp, khai thác, phát huy sức mạnh của Nhân dân để đổi mới đạt nhiều thành tựu. 151 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Nguyễn Phương An (2011), “Quan điểm của Hồ Chí Minh về “Dân vận khéo””, Tạp chí Mặt trận, (10). 2. Nguyễn Phương An (2012), “Chủ trương xây dựng và kiện toàn Ủy ban nhân dân các cấp sau Cách mạng tháng Tám năm 1945”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (8). 3. Nguyễn Phương An (2013), “Củng cố, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và Dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Mặt trận, (117 – 118). 4. Nguyễn Phương An (2016), “Vấn đề Nhà nước thuộc về Nhân dân trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh”, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, (6). 5. Nguyễn Phương An (2016), “Nhân dân là động lực trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh”, Tạp chí Giáo dục lý luận, (247). 152 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO A. TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG VIỆT 1. Ahn Kyong Hwan (2010), Chủ tịch Hồ Chí Minh qua cảm nghĩ của một người Hàn Quốc, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị - Hành chính, Hà Nội. 2. A.X. Varônhin (2010), Chính sách xã hội và tinh thần thời đại của Hồ Chí Minh, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị - Hành chính, Hà Nội. 3. A.M. Ru-mi-an-txép (Chủ biên) (1986), Chủ nghĩa cộng sản khoa học từ điển, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mát-xcơ-va, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội. 4. A. Pátti (1995), Why Vietnam? (Tại sao Việt Nam?), Nhà xuất bản Đà Nẵng, Đà Nẵng. 5. Phạm Ngọc Anh, Bùi Đình Phong (Chủ biên) (2005), Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội. 6. Phạm Ngọc Anh (2010), Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa Đảng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 7. Phạm Ngọc Anh (2011), "Quan điểm của Hồ Chí Minh về các biện pháp phát huy nguồn lực của nhân dân trong xây dựng và phát triển đất nước", Tạp chí Lịch sử Đảng, (12). 8. Nguyễn Thị Mai Anh (2002), "Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân và dân chủ", Tạp chí Dân vận, (12). 9. Ban Chỉ đạo Trung ương 6 (2) (2003), Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chống tham nhũng, lãng phí (Tài liệu chỉ đạo, 153 hướng dẫn thực hiện; Lưu hành nội bộ), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 10. Ban Dân vận Trung ương (1997), "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 11. Ban Dân vận Trung ương (2001), Tập bài giảng về công tác dân vận ở cơ sở, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 12. Ban Dân vận Trung ương, Nguyễn Thế Trung (chủ biên) (2014), Tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và Dân trong thời kỳ mới, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 13. Ban Dân vận Trung ương (2014), Nghiệp vụ công tác của cán bộ dân vận, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 14. Ban Dân vận Trung ương, Vụ Nghiên cứu (2014), Tập bài giảng về Công tác Dân vận, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 15. Ban Tổ chức Trung ương – Tạp chí Cộng sản – Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh (2012), Bàn về giải pháp ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 16. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2006), Chuyên đề nghiên cứu Nghị quyết Đại hội X của Đảng (Dùng cho cán bộ chủ chốt và báo cáo viên), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 17. Báo Nhân dân (2013), Những việc cần làm ngay về xây dựng Đảng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 18. Ban Nội chính Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Một số bài nghiên cứu về tham nhũng và phòng, chống tham nhũng đăng trên các tạp chí, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 19. Hoàng Chí Bảo (2004), Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội. 154 20. Hoàng Chí Bảo (2007), Dân chủ và dân chủ cơ sở nông thôn trong tiến trình đổi mới, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 21. Hoàng Chí Bảo (2013), "Truyền thống và giá trị của Đảng nhìn từ mối quan hệ giữa Đảng với Dân", Tạp chí Lịch sử Đảng, (1). 22. Nguyễn Quốc Bảo (2001), Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội. 23. Nguyễn Khánh Bật (chủ biên) (2010), Sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam trong cách mạng giải phóng dân tộc, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 24. Lê Đức Bình (2003), Xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 25. Trần Văn Bính (2000), Vai trò văn hóa trong hoạt động chính trị của Đảng ta hiện nay, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội. 26. Trần Văn Bính (2011), Xây dựng văn hóa, đạo đức, lối sống của người Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội. 27. Phạm Văn Bính (chủ biên) (2008), Phương pháp dân chủ Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 28. Phạm Văn Bính (2013), "Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề dân quyền", Đặc san Hồ Chí Minh học, (1). 29. Bộ Giáo dục và đào tạo (2011), Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh (dành cho sinh viên đại học, cao đẳng khối không chuyên ngành Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 30. Trần Nam Chuân (2008), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về một nhà nước kiểu mới”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, (12). 31. Phạm Hồng Chương (2004), Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội. 155 32. Phạm Ngọc Dũng (2009), Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin về xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 33. Đảng Cộng sản Việt Nam (1977), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội. 34. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986 - 2006) (Lưu hành nội bộ), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 35. Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương, Ban Chỉ đạo Tổng kết (2015), Báo cáo Tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986 – 2016), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 36. Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Tập I, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội. 37. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội. 38. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 39. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 40. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 41. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 42. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 43. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 156 44. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 45. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 51, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 46. Phạm Văn Đồng (1998), Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 47. Phạm Văn Đồng (2009), Hồ Chí Minh – Tinh hoa và khí phách của dân tộc, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 48. Trần Kim Đỉnh (2008), “Về xây dựng mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể để thực hiện tốt quyền làm chủ của nhân dân”, Tạp chí Dân vận, (11). 49. Trần Ngọc Đường (2012), "Phấn đấu để "Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân"", Tạp chí Dân vận, (2). 50. Nguyễn Tất Giáp (2014), "Trọng dân, thân dân – Tư tưởng nổi bật trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh", Tạp chí Lịch sử Đảng, (9). 51. Geetesh Sharman (2010), Đấng cứu tinh của hòa bình, độc lập và hạnh phúc, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị - Hành chính, Hà Nội. 52. Hồng Hà (2000), Sức mạnh nhân dân, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 53. Hồ Anh Hải (2012), Chuyển biến nhận thức về nhân quyền ở Trung Quốc, Tạp chí Tia sáng, tại trang www.tiasang.com.vn, [truy cập ngày 2/3/2014]. 54. Mai Trung Hậu (2009), “Khái niệm nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Lý luận chính trị, (10). 55. Vũ Văn Hiền (chủ biên) (2007), Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 157 56. Đỗ Trung Hiếu (2003), Nhà nước xã hội chủ nghĩa với việc xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 57. Nguyễn Đình Hòa (2011), "Độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh", Tạp chí Triết học, (5). 58. John Lê Văn Hóa (2003), Tìm hiểu nền tảng văn hóa dân tộc trong tư tưởng cách mạng Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Hà Nội, Hà Nội. 59. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Xây dựng Đảng (1999), Xây dựng Đảng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 60. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2006), Hồ Chí Minh tiểu sử, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội. 61. Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (2010), Đảng Cộng sản Việt Nam 80 năm xây dựng và phát triển, Nhà xuất bản Chính trị - Hành chính, Hà Nội. 62. Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I, Khoa Chính trị học (2010), Chính trị học – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 63. Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), Từ điển Bách khoa Việt Nam, Tập 1, Trung tâm biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, Hà Nội. 64. Vũ Đình Hòe (2007), Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh. 65. Đinh Thế Huynh, Phùng Hữu Phú, Lê Hữu Nghĩa, Vũ Văn Hiền, Nguyễn Viết Thông (2015), 30 năm đổi mới và phát triển ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 66. Lê Quốc Hùng (2007), "Về vấn đề hoàn thiện hành lang pháp lý để tăng cường sự tham gia của nhân dân trong quản lý nhà nước và xã hội", Tạp chí Cộng sản, (8). 158 67. Nguyễn Văn Huyên (Chủ biên) (2010), Đảng Cộng sản cầm quyền - Nội dung và phương thức cầm quyền của Đảng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 68. Trần Thị Thu Hương (2010), “Vì nhân dân – Cội nguồn làm nên sức mạnh của Đảng Cộng sản Việt Nam qua 80 năm hoạt động và trưởng thành”, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, tại trang www.dangcongsan.vn, [truy cập ngày 5/4/2014]. 69. Trần Thị Thu Hương (2005), "Vai trò của nhân dân trong công cuộc xây dựng nhà nước hiện nay", Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, (9). 70. Nguyễn Mạnh Hưởng (2004), "Củng cố và tăng cường hơn nữa mối quan hệ biện chứng giữa Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ", Tạp chí Quốc phòng, (11). 71. Đỗ Trung Hiếu (2003), Nhà nước xã hội chủ nghĩa với việc xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 72. Nguyễn Đắc Hưng (2004), "Mối quan hệ "Dân – Đảng" trong tư tưởng Hồ Chí Minh", Tạp chí Khoa giáo, (4). 73. Đới Lập Hưng (2012), Phân tích hiện trạng, đặc điểm và đối sách của mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng ở Trung Quốc, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, (1). 74. Igơnaxiô Gônxalết Hanxen (2010), Tinh thần Hồ Chí Minh ở Mỹ Latinh, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị - Hành chính, Hà Nội. 75. Vũ Trọng Kim (2006), “Tăng cường mối quan hệ hữu cơ giữa Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân tạo cơ sở để thực hiện tốt quyền làm chủ của nhân dân”, Tạp chí Dân vận, (5). 76. Đặng Xuân Kỳ (chủ biên) (2010), Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 159 77. Phạm Huy Kỳ (2002), Tư tưởng Hồ Chí Minh về việc giải quyết mối quan hệ cá nhân – xã hội trong đạo đức của người cán bộ cách mạng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 78. Hồ Chí Minh (2011), Toàn Tập, Tập 1, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 79. Hồ Chí Minh (2011), Toàn Tập, Tập 2, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 80. Hồ Chí Minh (2011), Toàn Tập, Tập 3, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 81. Hồ Chí Minh (2011), Toàn Tập, Tập 4, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 82. Hồ Chí Minh (2011), Toàn Tập, Tập 5, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 83. Hồ Chí Minh (2011), Toàn Tập, Tập 6, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 84. Hồ Chí Minh (2011), Toàn Tập, Tập 7, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 85. Hồ Chí Minh (2011), Toàn Tập, Tập 8, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 86. Hồ Chí Minh (2011), Toàn Tập, Tập 9, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 87. Hồ Chí Minh (2011), Toàn Tập, Tập 10, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 88. Hồ Chí Minh (2011), Toàn Tập, Tập 11, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 89. Hồ Chí Minh (2011), Toàn Tập, Tập 12, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 90. Hồ Chí Minh (2011), Toàn Tập, Tập 13, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 160 91. Hồ Chí Minh (2011), Toàn Tập, Tập 14, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 92. Hồ Chí Minh (2011), Toàn Tập, Tập 15, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 93. Trương Ngọc Nam, Hoàng Anh (đồng chủ biên) (2011), Đảng ta là đạo đức là văn minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 94. Nguyễn Thị Kim Ngân (2011), Bước ngoặt mới trong nỗ lực xoá đói, giảm nghèo, Tạp chí Cộng sản, tại trang www.tapchicongsan.org.vn, [truy cập ngày 24/7/2015]. 95. Vũ Hữu Ngoạn (2011), Về mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh””, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, tại trang www.tapchiqptd.vn, [truy cập ngày 16/5/2014]. 96. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia và Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia (2002), Đổi mới để phát triển, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 97. Trần Nhâm (1997), Có một Việt Nam như thế đổi mới và phát triển, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 98. Trần Nhâm (2011), Hồ Chí Minh – Nhà tư tưởng thiên tài, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 99. Trần Quang Nhiếp (2003), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng”, Tạp chí Cộng sản, (31). 100. Lê Hữu Nghĩa (2013), “Tiếp tục phát huy vai trò của nhân dân trong công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh”, Tạp chí Lý luận chính trị, (11). 101. Dương Xuân Ngọc (2005), “Quan điểm và nguyên tắc chỉ đạo tiến hành công tác dân vận theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Dân vận, (10). 161 102. Hà Quang Ngọc, Nguyễn Minh Phương (2013), Tư tưởng Hồ Chí Minh về tổ chức nhà nước và cán bộ, công chức, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 103. Nguyễn Nguyên (2001), Việt Nam định hướng xã hội chủ nghĩa trong thế giới toàn cầu hóa, Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh. 104. Phạm Bá Lượng (2005), "Tư tưởng Hồ Chí Minh về "lấy dân làm gốc"", Tạp chí Triết học, (2). 105. Lê Quốc Lý (2014), "Thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh "không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân", Tạp chí Lịch sử Đảng, (9). 106. Nguyễn Thị Hiền Oanh (2005), Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ chuyên ngành Chính trị học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 107. Nguyễn Xuân Oánh (2001), Đổi mới – Vài nét lớn của một chính sách kinh tế Việt Nam, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh 108. Nguyễn Trọng Phúc (1991), Về xây dựng và bảo vệ chính quyền nhân dân trong những năm 1975 – 1990, Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 109. Lê Khả Phiêu, Thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng vững bước tiến vào thế kỷ XXI, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 110. Bùi Đình Phong, Phạm Ngọc Anh (2005), Công tác xây dựng Đảng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội. 111. Bùi Đình Phong (2008), Hồ Chí Minh học và minh triết Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 162 112. Bùi Đình Phong (2010), “Nhân dân – Một phạm trù văn hóa chính trị Hồ Chí Minh”, Tạp chí Tuyên giáo, (3). 113. Bùi Đình Phong (2011), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân là gốc”, Báo Diễn đàn doanh nghiệp, tại trang www.diendandoanhnghiep.com.vn, [truy cập ngày 11/6/2015]. 114. Vũ Văn Phúc – Ngô Văn Thạo (2011), Những giải pháp và điều kiện thực hiện phòng chống suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 115. Nguyễn Thế Phúc (2014), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy quyền dân chủ để nhân dân tích cực tham gia quản lý nước nhà”, Tạp chí Mặt trận, (7). 116. Đào Bá Phương (1998), Vấn đề dân chủ trên lĩnh vực chính trị ở nông thôn Việt Nam trong công cuộc đổi mới hiện nay (qua khảo sát vùng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long), Luận án tiến sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa cộng sản khoa học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 117. Phạm Ngọc Quang, Nguyễn Viết Thông (2000), Góp phần tìm hiểu sự phát triển tư duy lãnh đạo của Đảng ta trong công cuộc đổi mới trên các lĩnh vực chủ yếu, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 118. Phạm Ngọc Quang, Trần Đình Nghiêm (chủ biên) (2001), Thời kỳ mới và sứ mệnh của Đảng ta (Nghiên cứu văn kiện Đại hội IX của Đảng), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 119. Lê Minh Quân (2009), Tư tưởng chính trị của C. Mác, Ph.Ănghen, V.I. Lênin và Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 120. Quốc hội (1946), Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thông qua ngày 9-11-1946), Cơ sở dữ liệu Bộ Tư pháp tại trang [truy cập ngày 21/3/2014]. 163 121. Tô Huy Rứa, Trần Khắc Việt (đồng chủ biên) (2003), Làm người cộng sản trong giai đoạn hiện nay (Sách tham khảo), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 122. Tô Huy Rứa, Hoàng Chí Bảo, Trần Khắc Việt, Lê Ngọc Tòng (đồng chủ biên) (2006), Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ 1986 đến nay (Sách chuyên khảo), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 123. Nguyễn Văn Sáu, Hồ Văn Thông (đồng chủ biên) (2005), Thể chế dân chủ và phát triển nông thôn Việt Nam hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 124. Nhật Tân (2007), "Tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Quốc hội với nhân dân", Tạp chí Cộng sản, (5). 125. Vũ Minh Tâm (2006), "Quan niệm về dân của phong trào Duy Tân đầu thế kỷ XX ở Việt Nam", Tạp chí Cộng sản, (2+3). 126. Nguyễn Thị Tâm (2007), Dân chủ ở cơ sở và vấn đề thực hiện dân chủ ở nông thôn nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ chuyên ngành Chính trị học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 127. Đặng Văn Thái (2009), "Những tâm huyết trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chăm lo hạnh phúc của nhân dân", Tạp chí Dân vận, (9). 128. Phạm Hồng Thái (2012), "Quyền lực nhân dân và quyền lực nhà nước qua các Hiến pháp Việt Nam", Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, (1). 129. Trần Thị Băng Thanh (2002), Vai trò của Nhà nước đối với việc thực hiện quyền dân chủ của nhân dân ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa cộng sản khoa học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 130. Song Thành (2005), Hồ Chí Minh – Nhà tư tưởng lỗi lạc, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội. 164 131. Song Thành (2010), Hồ Chí Minh – Nhà văn hóa kiệt xuất, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 132. Mạch Quang Thắng (chủ biên) (2009), Hồ Chí Minh – Nhà cách mạng sáng tạo, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 133. Nguyễn Thế Thắng (2008), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân tố nhân dân và dư luận xã hội trong đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng”, Tạp chí Cộng sản, (789). 134. Hoàng Trang, Phạm Ngọc Anh (2000), Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội. 135. Nguyễn Đài Trang (2010), Hồ Chí Minh – Tâm và tài của một người yêu nước, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 136. Nguyễn Đài Trang (2013), Hồ Chí Minh – Nhân văn và phát triển, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 137. Huyền Trang (2010), “Không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân như mong ước của Bác Hồ”, Báo điện tử Đài tiếng nói Việt Nam, tại trang www.vov.vn, [truy cập ngày 20/9/2014]. 138. Nguyễn Phú Trọng (2002), Đảng Cộng sản Việt Nam trong tiến trình đổi mới đất nước, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 139. Nguyễn Phú Trọng (2005), Xây dựng, chỉnh đốn Đảng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 140. Nguyễn Phú Trọng (chủ biên) (2011), Về các mối quan hệ lớn cần được giải quyết tốt trong quá trình đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 141. Nguyễn Phú Trọng (27/5/2016), “Phát biểu tại Hội nghị triển khai chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội 12 của Đảng và các chỉ thị, kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác dân vận”, Báo Tiền Phong online tại trang www.tienphong.vn, [truy cập ngày 05/6/2016]. 165 142. Trần Xuân Trường (1996), Định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam – Một số vấn đề lý luận cấp bách, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 143. Trung tâm Thông tin – Tư liệu, Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (1994), Tư tưởng Hồ Chí Minh – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Thông tin chuyên đề, Tài liệu tham khảo phục vụ lãnh đạo nghiên cứu và giảng dạy, Hà Nội. 144. Lê Minh Thông (2011), Đổi mới, hoàn thiện bộ máy Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân ở Việt Nam hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 145. Nguyễn Tiến Thịnh (Chủ biên) (2005), Công tác dân vận của các cơ quan nhà nước trong thời kỳ mới, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội. 146. Đàm Văn Thọ, Vũ Hùng (1997), Mối quan hệ giữa Đảng và dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 147. Trần Hữu Tiến (2007), “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, Tạp chí Cộng sản tại trang www.tapchicongsan.org.vn, [truy cập ngày 12/7/2015]. 148. Nguyễn Minh Tuấn (2012), Tiếp tục đổi mới đồng bộ công tác cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 149. Nguyễn Thanh Tuyền (2005), “Phương pháp dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua bài báo “Dân vận”- ý nghĩa thực tiễn”, Tạp chí Dân vận, (10). 150. Tsuboi Yoshiharu (2011), Khảo cứu lại Hồ Chí Minh, Kỷ yếu Hội thảo Việt Nam học lần thứ 3, Tập 1, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội. 151. Vladimir N. Kolotov (2015), "Hệ tư tưởng Hồ Chí Minh – Hợp phần then chốt của thắng lợi và cải cách thành công của Việt Nam", Đặc san Hồ Chí Minh học, (2). 166 152. Hồng Văn (2013), "Để tăng cường giám sát của nhân dân trong xây dựng Đảng, chính quyền", Tạp chí Dân vận, (3). 153. V.I. Lênin (1972), Toàn tập, Tập 2, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mátxcơva. 154. V.I. Lênin (1977), Toàn tập, Tập 41, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mátxcơva. 155. VI. Lênin (1978), Toàn tập, Tập 45, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mátxcơva. 156. Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam – Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) (2015), Tăng trưởng vì mọi người – Báo cáo phát triển con người Việt Nam 2015 về tăng trưởng bao trùm, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội. 157. Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô (1986), Từ điển Triết học, Nhà xuất bản Tiến Bộ, Mát-xcơ-va,. 158. Lê Xuân Vũ (2003), Trong ánh sáng tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội. 159. Đức Vượng (1995), Hồ Chí Minh đào tạo cán bộ và trọng dụng nhân tài, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 160. Nguyễn Như Ý (1998), Đại từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, Hà Nội. 161. Đỗ Xuân (2009), “Học Bác lấy dân làm gốc”, Tạp chí Xây dựng Đảng, (9). 162. Đào Trí Úc, Đinh Phượng Huỳnh (2012), “Chế định chủ quyền nhân dân và việc sửa đổi Hiến pháp 1992”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, (17). 163. UNESCO (1987), Nghị quyết số 18.65 Kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại hội đồng thông qua tại Kỳ họp thứ 24, Paris, 20 tháng 10 đến 20 tháng 11 năm 1987. 164. Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (1981), Hội nghị khoa học nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm lần thứ 90 ngày sinh của Hồ Chủ tịch (1890 - 1980), Hà Nội. 167 165. Nguyễn Lương Uyên (2014), "Phát triển kinh tế, không ngừng nâng cao đời sống vật chất của nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh", Đặc san Hồ Chí Minh học, (2). B. TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG NƯỚC NGOÀI 166. Bernard (1967), Ho Chi Minh on Revolution, Frederick A. Praeger. 167. David Halberstam (1971), HO, Random House, New York. 168. Paul Mus (1971), Ho Chi Minh, Le Vietnam, L'Asie, Paris, Seuil. 169. Jean Lacouture (1968), Ho Chi Minh, A Political Biography, Random House, New York. 170. Jean Sainteny (1970), Face à Ho Chi Minh, Édition Seghers, Paris. 171. William J. Duiker (2000), Ho Chi Minh, A Life, Hyperion Books, New York.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_an_tu_tuong_chinh_tri_ho_chi_minh_ve_nhan_dan_va_y_nghi.pdf
  • pdfTOM TAT [TIENG ANH].pdf
  • pdfTOM TAT [TIENG VIET].pdf
  • pdfTrang thong tin Viet-Anh (Nguyen Phuong An).pdf
Tài liệu liên quan