Luận án Vai trò của nhà nước trong việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái ở nước ta hiện nay

Tài liệu Luận án Vai trò của nhà nước trong việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái ở nước ta hiện nay, ebook Luận án Vai trò của nhà nước trong việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái ở nước ta hiện nay

doc176 trang | Chia sẻ: huong20 | Ngày: 15/01/2022 | Lượt xem: 59 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Luận án Vai trò của nhà nước trong việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái ở nước ta hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
án chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình khoa học nào khác. TÁC GIẢ LUẬN ÁN Nguyễn Thị Khương MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 6 1.1. Các công trình nghiên cứu về kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái 6 1.2. Các công trình nghiên cứu về vai trò của nhà nước trong tăng trưởng kinh tế và vai trò của nhà nước trong bảo vệ môi trường sinh thái 20 Chương 2: KẾT HỢP TĂNG TRƯỞNG TẾ VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI - YÊU CẦU CỦA SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG SỰ KẾT HỢP ĐÓ 28 2.1. Kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái - yêu cầu của sự phát triển bền vững 28 2.2. Vai trò của Nhà nước trong kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái 49 Chương 3: VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG KẾT HỢP TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 70 3.1. Mâu thuẫn của việc đòi hỏi cần phải có tính đồng bộ về chính sách, chiến lược, pháp luật trong kết hợp tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái, với tình trạng còn thiếu, chưa đồng bộ 70 3.2. Mâu thuẫn giữa yêu cầu nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát việc kết hợp tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái, với hiệu quả thực tế còn bất cập, nhiều hạn chế 84 3.3. Mâu thuẫn của việc đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà nước cùng các tổ chức, các lực lượng xã hội trong kết hợp tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái, với tình trạng phối hợp còn lỏng lẻo, chưa chặt chẽ 97 Chương 4: MỘT SỐ NHÓM GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG KẾT HỢP TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 113 4.1. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng hệ thống chính sách, chiến lược, pháp luật của nhà nước trong kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái 113 4.2. Nhóm giải pháp nâng cao vai trò, hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của bộ máy nhà nước trong kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái 126 4.3. Nhóm giải pháp nâng cao vai trò của nhà nước trong việc tạo ra sự đồng thuận của toàn xã hội nhằm thực hiện tốt việc kết hợp tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái 136 KẾT LUẬN 149 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 151 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 153 PHỤ LỤC 165 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CN : Công nghệ CT - XH : Chính trị - xã hội ĐT : Đào tạo GD : Giáo dục KH : Khoa học KT - XH : Kinh tế - xã hội MT : Môi trường MTST : Môi trường sinh thái Nxb : Nhà xuất bản PTBV : Phát triển bền vững TN - MT : Tài nguyên - môi trường TNTN : Tài nguyên thiên nhiên TTKT : Tăng trưởng kinh tế XHCN : Xã hội chủ nghĩa MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Loài người chúng ta đã bước vào thiên nhiên kỷ thứ ba và đang đứng trước những thách thức có tính toàn cầu. Biến đổi khí hậu cùng với suy thoái TNTN, ô nhiễm MTST là mối quan tâm lớn nhất của thế giới đương đại. Tình trạng ô nhiễm MTST đã, đang và sẽ làm thay đổi toàn diện, sâu sắc các hệ sinh thái tự nhiên, ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng của nền kinh tế cũng như toàn bộ đời sống xã hội, đe dọa nghiêm trọng tới an ninh MT, năng lượng, lương thực trên phạm vi toàn cầu. Biến đổi khí hậu, ô nhiễm MTST trên thế giới bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân: sự chưa hoàn thiện của kỹ thuật, công nghệ khai thác, chế biến TNTN; sự hiểu biết chưa đầy đủ của con người về MTST. Đặc biệt là do trong các chính sách phát triển, các quốc gia thường chỉ chú trọng, ưu tiên cho mục tiêu TTKT mà ít quan tâm tới mục tiêu bảo vệ MTST. Để bảo vệ MTST, chống biến đổi khí hậu, việc làm có ý nghĩa tiên quyết mà các quốc gia cần phải tiến hành là thiết lập hài hoà mối quan hệ giữa TTKT và bảo vệ MTST. Đây cùng là đòi hỏi tất yếu của công cuộc phát triển bền vững mà các quốc gia đang theo đuổi trong thế kỷ XXI. Cũng giống như nhiều quốc gia khác trên thế giới, ở Việt Nam, do tác động của việc duy trì khá lâu mô hình phát triển theo chiều rộng, dựa chủ yếu vào khai thác TNTN và các yếu tố MT, nên chất lượng MTST ở Việt Nam thời gian qua suy giảm nhanh. Các hệ sinh thái tự nhiên bị thu hẹp diện tích, xuống cấp về chất lượng, nhiều nguồn TNTN bị suy kiệt, dẫn tới nguy cơ không đảm bảo nguồn cung Tình trạng đó đã tác động tiêu cực lên các mặt đời sống KT - XH, ảnh hưởng không nhỏ tới tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, đe dọa an ninh lương thực, an ninh MT và sức khỏe cộng đồng, đe dọa nghiêm trọng tới tiến trình PTBV ở Việt Nam. Nhằm khắc phục những tiêu cực đó, trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã tiến hành đổi mới mô hình phát triển. Theo đó, mô hình “phát triển toàn diện” mà nội dung quan trọng là “phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ mội trường” [53, tr.162] đã ra đời. Nhờ thực hiện mô hình này, nền kinh tế thị trường định hướng XHCH ở nước ta được hình thành và có những bước đi khá vững chắc. Việt Nam được đánh giá là quốc gia có nền kinh tế tăng trưởng cao trong khu vực. Đặc biệt, những thành tựu mà TTKT đem lại đã giúp nước ta có được sự tiến bộ rõ rệt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ. Các vấn đề xã hội như xóa đói, giảm nghèo, phát triển y tế, giáo dục, văn hóa từng bước được giải quyết. Tuy nhiên, không phải là không có những hạn chế trong việc thực hiện mô hình phát triển mới. Trong hàng loạt các hạn chế, yếu kém thì việc “quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên hiệu quả chưa cao, còn lãng phí” [55, tr.166], “môi trường ở nhiều nơi tiếp tục bị xuống cấp, một số nơi đã đến mức báo động” [55, tr.169] đã được Đảng và Nhà nước ta đánh giá là một trong những hạn chế lớn nhất. Hạn chế này do nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó nguyên nhân chủ quan vẫn là chính. Tư duy coi trọng tăng trưởng kinh tế, xem nhẹ bảo vệ môi trường vẫn còn phổ biến; phát triển kinh tế vẫn còn theo chiều rộng, chủ yếu dựa vào khai thác TNTN; nhiều ngành, lĩnh vực sản xuất còn sử dụng công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm MT nghiêm trọng; gia tăng dân số, đô thị hóa nhanh đang gây áp lực lớn lên MT. Trong khi đó, thể chế, chính sách về bảo vệ MT và PTBV vẫn chưa theo kịp với yêu cầu phát triển KT - XH của đất nước. Hệ thống tổ chức quản lý nhà nước vẫn còn nhiều bất cập, thiếu nhân lực, nhất là ở các địa phương. Đầu tư của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân cho bảo vệ môi trường chưa đáp ứng được yêu cầu. Khâu tổ chức thực hiện còn nhiều yếu kém, còn thiếu cương quyết và chưa xử lý nghiêm các vụ việc vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường. Đảng và Nhà nước ta khẳng định, hạn chế nêu trên, nếu không được giải quyết một cách thỏa đáng, sẽ không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ, mà còn đe dọa nghiêm trọng tới sự tăng trưởng của nền kinh tế, gây ra nhiều hiểm họa khôn lường cho đời sống của nhân dân. Phát triển nhanh, bền vững là yêu cầu cấp thiết trong chiến lược phát triển KT - XH của đất nước. Gắn TTKT với bảo vệ MTST trong thời gian tới có ý nghĩa sống còn, là nhiệm vụ hết sức khó khăn, phức tạp. Đòi hỏi Nhà nước ta phải đổi mới tư duy, đổi mới cách làm, phải tiếp tục củng cố chính sách, công cụ pháp luật, đảm bảo thực hiện tốt công tác tổ chức, thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát quá trình quản lý kinh tế và quản lý TN - MT, đầu tư tài chính cho công tác bảo vệ TN - MT, nâng cao nhận thức cho quần chúng nhân dân về ý nghĩa của kết hợp TTKT với bảo vệ MTST Từ những phân tích trên đây cho thấy, việc nghiên cứu vai trò của nhà nước đối với vấn đề bảo vệ MTST trong TTKT là rất cần thiết. Xuất phát từ những lý do đó, nghiên cứu sinh lựa chọn vấn đề “Vai trò của Nhà nước trong việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái ở nước ta hiện nay” làm đề tài luận án tiến sỹ triết học của mình. 2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.1. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở làm rõ những nội dung cơ bản về vai trò của nhà nước trong kết hợp TTKT với bảo vệ MTST, luận án phân tích những vấn đề đặt ra đối với việc nâng cao vai trò của Nhà nước ta trong kết hợp TTKT với bảo vệ MTST, qua đó, đề xuất một số nhóm giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của Nhà nước trong kết hợp TTKT với bảo vệ MTST ở Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu - Làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa TTKT với bảo vệ MTST và những nội dung cơ bản thể hiện vai trò của nhà nước trong kết hợp TTKT với bảo vệ MTST. - Phân tích, đánh giá những vấn đề đặt ra đối với việc nâng cao vai trò của Nhà nước trong kết hợp TTKT với bảo vệ MTST ở Việt Nam. - Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của Nhà nước trong kết hợp TTKT với bảo vệ MTST ở Việt Nam. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3.1. Đối tượng nghiên cứu Luận án tập trung nghiên cứu, tìm hiểu vai trò của nhà nước trong kết hợp TTKT với bảo vệ MTST ở Việt Nam. 2.3. Phạm vi nghiên cứu Luận án làm rõ việc kết hợp TTKT với bảo vệ MTST dưới góc độ triết học. Thông qua chức năng xã hội của nhà nước với tư cách là nhân tố quan trọng trong kiến trúc thượng tầng; luận án đề xuất những nội dung cơ bản thể hiện vai trò của Nhà nước ta trong việc kết hợp TTKT với bảo vệ MTST thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH từ năm 1996 đến nay ở Việt Nam. 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 4.1. Cơ sở lý luận Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về phát triển KT - XH trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Trong khi thực hiện, luận án còn kế thừa một số thành tựu của các công trình khoa học có liên quan. 4.2. Phương pháp nghiên cứu Luận án dựa trên cơ sở những nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời kết hợp với các phương pháp khác như: lôgic - lịch sử, phân tích - tổng hợp, quy nạp - diễn dịch, điều tra, thu thập thông tin, khảo sát, tra cứu, đối chiếu so sánh... 5. Đóng góp mới của luận án - Luận án làm rõ được những vấn đề đặt ra đối với việc nâng cao vai trò của Nhà nước trong kết hợp giữa TTKT với bảo vệ MTST ở Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH. - Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của Nhà nước ta trong kết hợp giữa TTKT với bảo vệ MTST thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH. 6. Ý nghĩa của luận án - Luận án góp phần vào việc đưa ra những luận cứ khoa học để Đảng và Nhà nước ta đề ra chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật đúng đắn, nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa TTKT và bảo vệ MTST. - Những vấn đề luận án đề cập và giải quyết sẽ góp phần nâng cao vai trò của Nhà nước ta trong lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai việc kết hợp TTKT với bảo vệ MTST. - Luận án còn có thể làm tài liệu tham khảo cho những người nghiên cứu, giảng dạy và những người quan tâm đến lĩnh vực kết hợp TTKT với bảo vệ MTST. 7. Kết cấu của luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 4 chương, 10 tiết. Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ KẾT HỢP TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI 1.1.1. Các nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế là chủ đề được bàn luận khá nhiều trong thời gian qua dưới các góc độ kinh tế, xã hội, môi trường Trên khía cạnh kinh tế học, khái niệm TTKT thường được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau: TTKT là mức tăng sản lượng thực tế (sản phẩm hàng hóa, dịch vụ) của một quốc gia theo một thời gian nhất định [58]; TTKT là mở rộng quy mô sản xuất sản xuất quốc gia, tiềm năng của một nước, tiềm năng hiện thực: việc mở rộng khả năng kinh tế để sản xuất [146]; TTKT là sự tăng lên của sản lượng hàng hóa và dịch vụ trong một nước do sự tăng lên của thu nhập quốc dân và sản phẩm bình quân đầu người [132]; TTKT là một khái niệm kinh tế học được dùng để chỉ sự gia tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời gian nhất định. Các chỉ tiêu để đánh giá TTKT thường được sử dụng là tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), GDP và GNP bình quân đầu người cùng một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp khác [127], [144]. Đi sâu hơn nữa về TTKT, nhiều công trình đã có những luận chứng sâu sắc về quá trình TTKT ở Việt Nam, qua đó đề ra các giải pháp giúp nâng cao tốc độ tăng trưởng cho nền kinh tế ở nước ta, tiêu biểu như các công trình sau: Trong công trình “Các mô hình tăng trưởng kinh tế” của tác giả Trần Thọ Đạt [57] và “Mô hình tăng trưởng kinh tế” của tác giả Trần Văn Tùng [147] đã đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu về các mô hình TTKT trên thế giới như: Mô hình tăng trưởng trường phái Keynes, Harrod Domar, tăng trưởng tân cổ điển mở rộng, tăng trưởng nội sinh. Các nghiên cứu này còn chỉ rõ những nội dung cơ bản của các lý thuyết TTKT, lý thuyết TTKT dưới dạng các mô hình toán học và tập trung phân tích quá trình tăng trưởng ở các khu vực, các quốc gia trên thế giới và ở nước ta hiện nay. Về mô hình TTKT ở nước ta hiện nay, các nghiên cứu đều khẳng định cho đến nay mô hình TTKT trong nước vẫn tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng, dựa vào tăng quy mô tài sản cố định và khai thác TNTN là chính. Mô hình này, ở phương diện tích cực đã đem lại nhiều lợi thế để kinh tế đất nước tăng trưởng với tốc độ nhanh, song, mô hình kinh tế đó còn để lại nhiều hạn chế, trong đó có hạn chế lớn nhất là làm cho kinh tế tăng trưởng chưa thật sự bền vững. Bài viết “Về chất lượng phát triển của Việt Nam thời kỳ 2000 - 2010”, được biên soạn theo tài liệu của các cơ quan Trung ương, Tạp chí Lý luận chính trị [148] đã khẳng định, “trong thời kỳ chiến lược 2001 - 2010, nước ta đã đạt được tốc độ tăng trưởng khá cao và ổn định, ước tính tăng trưởng GDP đạt khoảng 7,2%/năm. Việt Nam tiếp tục giữ vị trí là một trong những nước có sự tăng trưởng nhanh so với các nước trong khu vực và trên thế giới” [148, tr.48], “tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh có ý nghĩa rất quan trọng giúp nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển và bước vào thời kỳ mới, gia nhập nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình” [148, tr.48]. Tuy nhiên, bài báo cũng khẳng định, nền kinh tế trong nước vẫn kéo dài tình trạng tăng trưởng chủ yếu vào các yếu tố phát triển theo theo chiều rộng. TTKT trong những năm qua nghiêng nhiều về yếu tố vốn hơn là yếu tố lao động. Bên cạnh đó, mức tiêu hao năng lượng ở nước ta còn khá cao, năng lực cạnh tranh tổng thể của nền kinh tế thấp; đặc biệt những hạn chế về lĩnh vực xã hội còn nhiều: chẳng hạn thành tựu xóa đói, giảm nghèo chưa vững chắc, bất bình đẳng có xu hướng gia tăng giữa các vùng và các tầng lớp dân cư, tệ nạn xã hội có xu hướng gia tăng, việc “quản lý, bảo vệ tài nguyên còn buông lỏng; một số tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là những tài nguyên không có khả năng tái tạo đang bị khai thác với công nghệ lạc hậu, gây lãng phí và đứng trước nguy cơ cạn kiệt” [148, tr.54]. Tác giả Nguyễn Thị Doan trong bài viết “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta” [44] cho rằng, trong những năm đổi mới, “so với các quốc gia, nước ta đứng vào hàng các quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và liên tục. Cùng với tăng trưởng kinh tế cao, chất lượng tăng trưởng kinh tế cũng đang được cải thiện” [44, tr.61]. Tuy nhiên, tác giả cũng nhấn mạnh, “tăng trưởng kinh tế của nước ta chủ yếu vẫn theo bề rộng, dựa vào tăng quy mô tài sản cố định, tài nguyên thô và số lượng lao động; cơ cấu kinh tế kém hiệu quả, năng suất lao động, chất lượng và sức cạnh tranh thấp; các cân đối vĩ mô của nền kinh tế chưa thật vững chắc” [44, tr.61]. Do đó, Việt Nam cần phải thay đổi mô hình TTKT từ tăng trưởng theo bề rộng là chủ yếu sang tăng trưởng bền vững theo chiều sâu, TTKT phải dựa trên nền tảng coi trọng chất lượng. Về lâu dài, cần triệt để chuyển từ tăng trưởng nhờ tăng quy mô vốn đầu tư, khai thác TNTN và sức lao động sang tăng trưởng dựa vào tri thức và công nghệ, giảm các ngành tiêu hao nhiều năng lượng, TNTN, tăng các ngành sử dụng năng lượng sinh học, năng lượng gió. Bên cạnh đó, cần có các giải pháp chiến lược như đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa lớn; GD, ĐT nguồn nhân lực chất lượng cao; phát triển KH và CN để KH, CN trở thành động lực phát triển đất nước, cần mạnh dạn đổi mới tư duy trong quản lý, điều hành, điều tiết nền kinh tế của Nhà nước; tăng cường giám sát, kiểm tra việc sử dụng vốn của Nhà nước và xử lý dứt điểm các kết luận sau thanh tra, kiểm tra. Nghiên cứu dưới góc độ tăng trưởng bền vững, các tác giả Hoàng Đức Thân, Đinh Quang Ty trong cuốn sách “Tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt Nam” [127]; tác giả Nguyễn Phú Trọng trong cuốn “Về các mối quan hệ lớn cần được giải quyết tốt trong quá trình đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta” [144] đã đi sâu nghiên cứu mối quan hệ giữa TTKT với các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như mối quan hệ giữa TTKT với tiến bộ, công bằng xã hội, mối quan hệ giữa TTKT với phát triển văn hoá, mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và định hướng XHCN, mối quan hệ giữa TTKT với bảo vệ MT... Các tác giả cho rằng, đó là những mối quan hệ cơ bản, phức tạp, có liên quan đến sự tồn vong của quốc gia dân tộc, đòi hỏi Nhà nước ta phải có những biện pháp để giải quyết thỏa đáng. Trong nội dung về mối quan hệ giữa TTKT và bảo vệ MT, các tác giả khẳng định, ở nước ta, kể từ khi đổi mới, kinh tế có sự tăng trưởng khá, song vấn đề MT lại ngày một xuống cấp. Nhà nước cần phải có những chính sách, chiến lược hợp lý để giải quyết dứt điểm tình trạng này. Các tác giả Nguyễn Văn Nam, Trần Thọ Đạt trong nghiên cứu “Tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” [102] đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến tốc độ, chất lượng TTKT ở Việt Nam. Qua việc phân tích thực trạng, chất lượng TTKT ở nước ta giai đoạn cuối thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI, các tác giả cho rằng, những yếu tố thể hiện chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế nước ta là: tổng giá trị sản xuất, tổng sản phẩm quốc nội, tổng thu nhập quốc dân, thu nhập bình quân đầu người và một số các tiêu chí định tính khác như: xóa đói giảm nghèo, phúc lợi xã hội, công bằng xã hội, môi trường môi sinh. Cũng trong cuốn sách này, các tác giả đã chỉ ra và phân tích những giải pháp cơ bản để thúc đẩy kinh tế Việt Nam tăng trưởng đạt chất lượng và hiệu quả cao. Như vậy, qua nghiên cứu một số công trình khoa học về TTKT, cho thấy, nhìn chung, các nghiên cứu đều tập trung làm rõ nội hàm của khái niệm TTKT, chỉ ra các mô hình TTKT khác nhau trên thế giới và mô hình kinh tế mà Việt Nam đang theo đuổi. Các nghiên cứu còn làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô TTKT trên thế giới và ở Việt Nam, vạch ra các giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy quá trình TTKT ở nước ta giai đoạn CNH, HĐH đất nước. 1.1.2. Các nghiên cứu về môi trường sinh thái, về bảo vệ môi trường sinh thái Môi trường sinh thái là một trong những vấn đề được đề cập đến khá nhiều trong thời gian qua ở nước ta trên các bình diện khác nhau. Dựa trên các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc bảo vệ MTST. Nhằm bảo vệ sức khỏe cho cộng đồng, đảm bảo quyền con người được sống trong MT trong, sạch, đẹp, phục vụ sự nghiệp PTBV đất nước, Đảng và Nhà nước đã ra nhiều văn bản luật, dưới luật, các chỉ thị, nghị quyết về MTST và bảo vệ MTST. Trong một loạt các văn bản quy phạm pháp luật như “Luật Bảo vệ môi trường và văn bản hướng dẫn thi hành”; “ Luật Bảo vệ môi trường năm 2005”; “Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia” Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định nhiều nội dung quan trọng về MTST cũng như bảo vệ MTST. Theo đó, bảo vệ MTST được quan niệm là bảo vệ các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và các giống loài động thực vật. Thực chất của bảo vệ MTST là bảo vệ MT nước, MT không khí, bảo vệ TNTN, bảo tồn đa dạng sinh học [20], [27], [31], [33], [111], [113], [105]. Tác giả Nguyễn Minh Hằng trong bài viết “Môi trường sinh thái - vấn đề của mọi người” [62] khẳng định, MTST là một mạng lưới chỉnh thể có mối liên quan chặt chẽ với nhau giữa đất, nước, không khí và các cơ thể sống trong phạm vi toàn cầu. Trong quá trình sinh sống vì nhiều lý do khác nhau, con người đã làm suy thoái MTST, thể hiện rõ nhất ở sự suy thoái tầng ôzon, gây “hiệu ứng nhà kính”, ô nhiễm nguồn nước sạch. Các giải pháp cơ bản mà tác giả nêu ra nhằm khắc phục tình trạng ô nhiễm MTST là: xây dựng ý thức sinh thái, kết hợp giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêu sinh thái trong quá trình sản xuất Tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm trong bài viết “Khía cạnh triết học - xã hội của vấn đề môi trường sinh thái ở Việt Nam” [138] cho rằng, MTST hay MT sống vốn là MT tự nhiên, là đối tượng nghiên cứu của khoa học tự nhiên, trực tiếp là của sinh thái học - sinh học. Nói đến MTST là nói đến môi trường tự nhiên - xã hội hay môi trường sinh thái - nhân văn và thực chất vấn đề MTST là vấn đề về mối quan hệ giữa con người - xã hội - tự nhiên. Theo tác giả, cùng với sự phát triển của xã hội, dưới tác động của con người, MTST đang ngày càng biến đổi theo chiều hướng xấu. Do vậy, để bảo vệ MTST, cần phải có sự thay đổi cơ bản trong quan niệm về sự phát triển, thay đổi quan niệm về tự nhiên, về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên; đồng thời kết hợp với việc ngăn chặn, loại bỏ các tệ nạn trong xã hội; đưa vấn đề giáo dục MT trở thành một nội dung quan trọng trong GD và ĐT. Tác giả Nguyễn Văn Kim trong bài viết “Mối quan hệ giữa phát triển và bảo vệ môi trường - kinh nghiệm của Nhật Bản” [80] lại khẳng định, chính con người là tác nhân chủ yếu gây ra tình trạng ô nhiễm MT, làm mất cân bằng sinh thái. Phân tích sự phát triển kinh tế của Nhật Bản trong những năm đầu thế kỷ XX có ảnh hưởng tới MTST, tác giả cho rằng, sự tập trung quá mức các ngành sản xuất và dân cư vào những khu vực địa lý nhất định đã dẫn đến tình trạng mất cân bằng sinh thái và ô nhiễm MT sống. Từ đây, tác giả đưa ra một số kinh nghiệm của Nhật Bản trong bảo vệ MT và phát triển kinh tế như luật hóa các chính sách về MT, động viên nhân dân tham gia bảo vệ MT, có lối sống hòa hợp với nhiên nhiên. Cũng trong bài viết này, tác giả còn khẳng định, Việt Nam nên coi kinh nghiệm của Nhật Bản như một bài học để phát triển kinh tế và bảo vệ MT bền vững. Tác giả Đỗ Huy trong bài viết “Giáo dục đạo đức sinh thái và xây dựng môi trường văn hoá trong lịch trình thế kỷ XXI” [74] đã làm rõ vai trò vô cùng quan trọng của MTST trong quá trình phát triển kinh tế. Theo tác giả, do nhu cầu tăng năng suất lao động người ta đã từng coi việc khai thác vô hạn độ MT là hành động tích cực. Kết quả là có nhà máy, công trường, có thêm việc làm cho người lao động, song, các giá trị văn hoá bị xuống cấp, sức khoẻ con người giảm sút thì lại không được chú ý thích đáng. Theo tác giả bài viết thì giá trị của hệ sinh thái có ảnh hưởng lớn đến cuộc sống con người, các giá trị này tuy “im lặng” nhưng nếu con người lạm dụng quyền lực của mình, tác động thô bạo vào chúng thì cái giá phải trả là rất lớn. Do đó, tác giả khẳng định, việc giáo dục đạo đức sinh thái là rất cần thiết để MT và con người phát triển một cách hài hoà. Đi sâu nghiên cứu về đạo đức sinh thái, tác giả Phan Thị Hồng Duyên trong bài viết “Giáo dục đạo đức sinh thái vì sự phát triển bền vững cho con người và giới tự nhiên” [46] lại thể hiện sự bức xúc về vấn đề MT và bảo vệ MT hiện nay ở nước ta. Theo tác giả, Việt Nam cần thiết phải PTBV, nghĩa là phải tạo ra sự cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ MT. Tác giả cũng cho rằng việc bảo vệ MT để nâng cao chất lượng cuộc sống, phát triển KT - XH không thể chỉ bằng những văn bản, chỉ thị mà giáo dục đạo đức sinh thái cũng là một trong những biện pháp có tác dụng lâu dài và quan trọng. Giáo dục đạo đức sinh thái phải được tiến hành từ tuổi ấu thơ tới tuổi trưởng thành, với mọi đối tượng từ những người dân, đến những người làm công tác lãnh đạo, quản lý, hoạch định đường lối, chiến lược phát triển KT - XH của đất nước. Quan niệm này hoàn toàn đúng và có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của đất nước ta trong cả hiện nay lẫn mai sau. Tác giả Vũ Trọng Dung trong cuốn sách “Đạo đức sinh thái và giáo dục đạo đức sinh thái” [45] quan niệm “môi trường sinh thái là tất cả những điều kiện xung quanh có liên quan đến sự sống của sinh thể, của con người” [45, tr.153]. Theo tác giả thì các nguyên nhân cơ bản gây ra tình trạng ô nhiễm MTST là các vấn đề về công nghiệp hóa, kỹ thuật hóa, sự phát triển dân số Không chỉ nhấn mạnh một phương diện quan trọng trong việc giải quyết vấn đề ô nhiễm MTST đó là giáo dục đạo đức sinh thái, tức là giáo dục thái độ, ý thức, hành vi tôn trọng và yêu quý thiên nhiên, giữ gìn và bảo vệ MTST cho mọi chủ thể, tác giả còn khẳng định sự thống nhất giữa nghĩa vụ đạo đức với nghĩa vụ pháp lý trong việc giữ gìn và bảo vệ MTST là đòi hỏi cấp bách đối với mỗi người và đó cũng là giải pháp cơ bản để giải quyết vấn đề ô nhiễm MTST ở Việt Nam hiện nay. Tác giả Nguyễn Danh Sơn trong bài viết “Một số vấn đề về bảo vệ tài nguyên và môi trường trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở nước ta” [71] nhấn mạnh, tài nguyên và MT là một yếu tố nền tảng của PTBV. Nguy cơ suy giảm, cạn kiệt tài nguyên, suy thoái MT đang hiện hữu và đe dọa đến tiến trình PTBV của nước ta. Việt Nam là quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu mà một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do nạn cạn kiệt TNTN. Do đó, các quyết định phát triển và quản lý phát triển trong thời gian tới ở nước ta cần phải tính đến tác động của biến đổi khí hậu. Để thực hiện việc này, cần thiết phải bảo vệ TN - MT, cần hướng quá trình phát triển vào việc tăng trưởng xanh, phát triển xanh. Như vậy, thông qua nghiên cứu các công trình khoa học trên, có thể thấy, MTST là tổng hợp các yếu tố vật chất tự nhiên và các loại TNTN, chúng giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế. Do vậy, việc bảo vệ MTST là hết sức quan trọng. Bảo vệ MTST là bảo vệ các yếu tố tự nhiên và các loại TNTN. Bảo vệ MTST không những tạo điều kiện cho kinh tế tăng trưởng ngày một bền vững hơn, mà còn giúp cho con người ngày một tiếp cận với cuộc sống văn minh hơn, tốt đẹp hơn. 1.1.3. Các nghiên cứu về kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái Ở Việt Nam, trong những năm qua, vấn đề về phòng chống ô nhiễm MTST, khai thác bền vững nguồn TNTN, gắn TTKT với bảo vệ MTST cùng nhiều vấn đề liên quan đã trở thành nội dung quan trọng trong các chiến lược, các hội nghị, hội thảo về phát triển, các công trình nghiên cứu khoa học của nhiều cấp bộ, ngành từ trung ương đến địa phương. Trong các Chiến lược quan trọng ban hành từ năm 2010 đến nay như: “Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” [20]; “Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020” [27]; “Chiến lược khoáng sản đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” [30]; “Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu” [31]; “Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” [33]; “Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020” [34]; “Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh” [35] Chính phủ Việt Nam đã nhấn mạnh tới PTBV như là sự gắn kết chặt chẽ giữa TTKT với bảo vệ MTST. Tất cả các Chiến lược đã có đều khẳng định PTBV trên khía cạnh gắn TTKT với bảo vệ MTST là nội dung hết sức quan trọng trong quá trình phát triển KT - XH ở nước ta thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH. Nội dung này phải được coi là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân; toàn thể các bộ, ngành, các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương cũng như mọi doanh nghiệp, mọi tổ chức xã hội. Những năm gần đây, còn có khá nhiều hội nghị, hội thảo khoa học quốc tế và trong nước bàn luận khá sôi nổi về vấn đề gắn TTKT với bảo vệ MTST, về PTBV như: “Hội nghị quốc tế Động thái dân số, biến đổi khí hậu và phát triển bền vững” [15]; Hội thảo “Toàn cầu hoá và ảnh hưởng đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương: khía cạnh kinh tế, xã hội và văn hoá” [65]; “Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 23” [66]; Hội thảo “Xây dựng và phát triển bền vững” [72], Hội thảo “Phát triển năng lượng bền vững” [149]... Các hội nghị, hội thảo này đã đề cập tới nhiều vấn đề quan trọng của PTBV và gắn TTKT với bảo vệ MTST ở các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Các vấn đề như: tình hình, thách thức đang đặt ra hiện nay cho tiến trình PTBV chung của thế giới trong đó có Việt Nam; nỗ lực và tăng cường ý nguyện chính trị của cộng đồng quốc tế để cùng nhau xây dựng cương lĩnh hành động, thực hiện các cam kết, giải quyết những vấn đề cấp thiết của các nước đang phát triển nhằm thúc đẩy toàn diện tiến trình PTBV của thế giới; xem xét, giải quyết các hoạt động xây dựng trong sự PTBV về kinh tế, xã hội, môi trường; đánh giá tổng quát về tình hình năng lượng tại Việt Nam, chỉ ra những thách thức mà Việt Nam đang phải đối mặt như: khai thác đa dạng và hiệu quả các nguồn tự nhiên trong nước, phát triển các dự án mới, phát triển năng lượng đi kèm với bảo vệ MT, thành lập thị trường công nghệ cạnh tranh, thúc đẩy chương trình năng lượng nông thôn... được bàn luận khá sôi nổi tại các hội thảo này. Phát triển bền vững, gắn TTKT với bảo vệ MTST còn là chủ đề của nhiều bài viết và công trình nghiên cứu khoa học theo các hướng khác nhau của các tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm, Nguyễn Văn Kim, Chu Thái Thành, Trương Mạnh Tiến, Bùi Văn Dũng Trong rất nhiều bài viết đăng trên các tạp chí như:“Sự kết hợp giữa các mục tiêu kinh tế và sinh thái trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [136]; “Khía cạnh triết học - xã hội của vấn đề môi trường sinh thái ở Việt Nam” [138]; “Về cách tiếp cận triết học - xã hội đối với hiện trạng môi trường sinh thái nhân văn ở Việt Nam: các vấn đề, nguyên nhân và giải pháp” [139]; “Xây dựng đạo đức sinh thái - một trách nhiệm của con người đối với tự nhiên” [142] tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm đã đề cập tới nhiều phương diện khác nhau của vấn đề bảo vệ MTST. Theo tác giả, nói đến MTST là nói đến môi trường tự nhiên - xã hội hay môi tr...nh thuế, bảo hộ sở hữu trí tuệ, điều chỉnh, duy trì pháp luật và trật tự có thể tác động tới các hoạt động sáng chế, phát minh [theo 57]. Như vậy, TTKT là khái niệm đã thực sự được bàn đến từ thế kỷ XVIII. Từ đó đến nay khái niệm này luôn được bổ sung, phát triển theo các hướng khác nhau. Mặc dù có điểm chung là cố gắng chỉ ra căn nguyên cơ bản của TTKT, song hầu hết các quan điểm trên mới chỉ nhấn mạnh đến những yếu tố kinh tế đơn thuần, ít cắt nghĩa về sự tác động của các yếu tố xã hội đến nhịp độ tăng trưởng của nền kinh tế. Ở Việt Nam, khái niệm TTKT được hiểu theo nhiều lát cắt khác nhau Theo lát cắt kinh tế, TTKT “là khái niệm diễn tả động thái của kinh tế phát triển, đó là việc mở rộng sản lượng quốc gia tiềm năng qua thời gian của một nước, hay là mở rộng khả năng kinh tế để sản xuất, di chuyển giới hạn khả năng sản xuất qua thời gian” [44, tr.14]. Hiểu theo nghĩa rộng, TTKT “là sự tăng thêm về quy mô, sản lượng hàng hoá và dịch vụ trong một thời kì nhất định (thường là một năm). Đó là kết quả được tạo ra bằng tất cả các hoạt động dịch vụ của nền kinh tế” [68, tr.37]. Hiện nay, một số nhà khoa học còn cho rằng, TTKT “là một khái niệm kinh tế học được dùng để chỉ sự gia tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kì nhất định. Các chỉ tiêu để đo tăng trưởng kinh tế thường được sử dụng là mức tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), GDP và GNP bình quân đầu người cùng một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp khác” [144, tr.155]. Điểm giống nhau của các định nghĩa trên là đều có chung một nhận định: TTKT là mức tăng sản lượng thực tế trong một thời kì nhất định. Các chỉ tiêu GDP, GNP, GDP bình quân đầu người thường được sử dụng để đánh giá về mức độ tăng trưởng cao hay thấp của nền kinh tế. Nếu tốc độ tăng GDP, GNP, GDP bình quân đầu người thời kì sau cao hơn thời kì trước thì nền kinh tế có sự tăng trưởng và ngược lại nền kinh tế đang sút giảm. Như vậy, theo các quan niệm trên, khái niệm TTKT mới chỉ nói lên mặt lượng trong quá trình phát triển của nền kinh tế. TTKT chưa phải là phát triển kinh tế. Phát triển kinh tế là “sự gia tăng cả về số lượng và chất lượng của nền kinh tế quốc dân trong một thời kì nhất định. Các chỉ tiêu phản ánh phát triển kinh tế là hiệu quả của nền kinh tế, hiệu quả đầu tư, cơ cấu kinh tế, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế so với các nước khác trong khu vực và thế giới” [127, tr.17]. Với nghĩa này, TTKT và phát triển kinh tế nằm trong mối quan hệ tác động qua lại với nhau. TTKT phản ánh sự đi lên về mặt lượng của nền kinh tế, còn phát triển kinh tế cho thấy cả mặt chất trong quá trình đi lên của nền kinh tế. Tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần, cơ bản để phát triển kinh tế. Nếu không có TTKT thì sẽ không có phát triển kinh tế. TTKT giúp cho sản phẩm làm ra ngày một nhiều, việc làm và thu nhập trong xã hội tăng lên, xã hội có thêm điều kiện vật chất để đảm bảo các vấn đề an sinh xã hội như GD và ĐT, chăm sóc sức khỏe, bảo vệ MTST Nhưng, nếu kinh tế có sự tăng trưởng mà nạn thất nghiệp tăng, MTST bị hủy hoại, các tệ nạn xã hội gia tăng thì không thể có phát triển kinh tế. Từ đó, có thể thấy rằng, điều kiện đủ cho kinh tế phát triển là quá trình TTKT phải gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo tính cân đối, tính hiệu quả, tính mục tiêu cũng như khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, TTKT ở giai đoạn trước sẽ không cản trở quá trình TTKT ở giai đoạn sau. Nói cách khác, trong TTKT phải vừa có sự gia tăng về mặt số lượng, vừa đạt được sự gia tăng cần thiết về mặt chất lượng. Để có được điều này, sự gia tăng của nền kinh tế nhất thiết phải dựa trên việc khai thác các nguồn lực sẵn có từ tự nhiên và xã hội. Xuất phát các quan niệm trên có thể rút ra kết luận: Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng không chỉ về số lượng mà cả về chất lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định dựa trên việc khai thác các nguồn lực tự nhiên và xã hội. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, để có thể tăng trưởng nhanh và ở mức độ cao, mọi nền kinh tế phải dựa trên các trụ cột cơ bản như nguồn nhân lực chất lượng cao, áp dụng công nghệ mới, phát triển kết cấu hạ tầng hiện đại, nguồn TNTN dồi dào Nguồn nhân lực: Ngay từ thế kỷ XVIII, các nhà kinh tế học tư sản hiện đại đã nhận thấy, nguồn lực để sản xuất ra của cải vật chất chỉ có thể là lao động và tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên đất đai. Còn chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX, khi phân tích phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, đã khẳng định chính người lao động mới là nhân tố giữ vai trò quyết định trong sản xuất ra của cải vật chất. Đúng như quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin, ngày nay, mặc dù trình độ kinh tế phát triển đã khác xa so với các giai đoạn trước nhưng nguồn lực con người vẫn là một trong các yếu tố quyết định, ưu thế của nguồn lực con người dần được khẳng định trên thực tế. Lý thuyết hiện đại về sự tăng trưởng của nền kinh tế và sự phát triển thần kỳ của nhiều nước, vùng lãnh thổ ở khu vực Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan cùng với tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của nhiều nước công nghiệp mới, các nước ASEAN, Trung Quốc là những minh chứng sống động cho việc khẳng định tầm quan trọng thiết yếu của nguồn nhân lực. Tất nhiên, cái cấu thành nên giá trị nội tại của nguồn nhân lực là ở chất lượng của nó. Chất lượng nguồn nhân lực không chỉ thể hiện ở tri thức, trí tuệ, chất xám hay năng lực cơ bắp, mặc dù đó là những yếu tố cực kỳ quan trọng. Trong nhiều trường hợp, chất lượng nguồn nhân lực còn thể hiện ở tinh thần dám nghĩ, dám làm, khả năng lao động sáng tạo và các phẩm chất đạo đức như lòng dũng cảm, trung thực, yêu lao động Công nghệ hiện đại: Yếu tố này bao gồm cả những tiến bộ về KH và CN trong sản xuất và trong tổ chức quản lý sản xuất. Trong những thập kỷ qua, loài người đã chứng kiến sự thay đổi chưa từng thấy của KH và CN. Chúng đi sâu vào mọi ngõ ngách của nền sản xuất, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Nhờ đó mà nhiều quốc gia tiến hành mở rộng quy mô sản xuất, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, trở thành các nước phát triển mạnh. Sự phát triển của KH và CN không chỉ đem lại nhiều khả năng tái sinh và bảo vệ các nguồn TNTN, mà còn giúp con người tạo ra những vật liệu mới thay thế cho các nguồn TNTN đang ngày càng khan hiếm để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng. Tất nhiên, sự phát triển của KH và CN cũng có thể tiềm ẩn những nguy cơ bất lợi cho MTST, bởi lẽ, việc ứng dụng các thành tựu của KH và CN hiện đại vào sản xuất nếu không được kiểm duyệt nghiêm ngặt sẽ có nguy cơ trở thành nhân tố tàn sát MTST nhanh hơn. Kết cấu hạ tầng hiện đại: Đây là tiền đề để mở rộng năng lực sản xuất của nền kinh tế, giúp kinh tế tăng trưởng nhanh. Tuy nhiên, muốn xây dựng được kết cấu hạ tầng hiện đại, phải có tiềm năng về kinh tế nghĩa là phải có nguồn vốn đủ lớn và sử dụng vốn có hiệu quả. Đối với các nước đang phát triển như ở Việt Nam, nguồn vốn cho TTKT có được từ tích luỹ nội bộ nền kinh tế và đi vay. Việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn này sẽ đem đến khả năng tăng trưởng nhanh cho nền kinh tế. Nhưng, nếu việc huy động nhanh cả hai nguồn vốn này không cẩn thận sẽ làm phương hại đến MTST. Vì lẽ, để đẩy nhanh nguồn vốn, có thể phải chấp nhận bóc lột TNTN. Đây là nghịch lý mà trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải có bàn tay can thiệp của nhà nước để lựa chọn hướng đi đúng đắn nhất, vừa duy trì sự tăng trưởng của nền kinh tế, vừa không làm tổn hại đến MTST. Tài nguyên thiên nhiên: Để sản xuất vật chất, con người phải khai thác, sử dụng những dạng vật chất khác nhau trong tự nhiên như: đất đai, rừng, biển, khoáng sản Do sự phát triển của KH và CN, nhiều loại vật liệu nhân tạo mới như tơ, sợi hoá học, các loại chất dẻo xuất hiện thay thế nguyên liệu truyền thống. Song, không vì thế mà giá trị của các nguồn TNTN bị mất đi. Xét đến cùng, nguyên vật liệu dùng để sản xuất ra các loại vật liệu nhân tạo mới cũng được lấy từ tự nhiên. Việc khai thác các nguồn TNTN, do đó, sẽ đem đến nhiều lợi ích to lớn cho nền kinh tế. Đương nhiên, kinh tế chỉ có thể tăng trưởng vững chắc nếu TNTN được khai thác một cách hợp lý. Ngoài các nhân tố trên, ngày nay, các nhân tố cấu thành quan hệ sản xuất và một số nhân tố khác như thể chế kinh tế, hệ thống chính trị, đặc điểm cộng đồng dân cư cũng giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế tăng trưởng. Song, xét đến cùng, các yếu tố về nguồn nhân lực, TNTN, khoa học kỹ thuật vẫn được coi là những nguồn lực chủ yếu, quyết định mức độ tăng trưởng của nền kinh tế. Nếu các nguồn lực này được đảm bảo, nền kinh tế sẽ có sự tăng trưởng bền vững. 2.1.1.2. Khái niệm môi trường sinh thái và bảo vệ môi trường sinh thái Để tìm hiểu khái niệm môi trường sinh thái, trước hết cần hiểu về khái niệm môi trường. Môi trường là khái niệm được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam, môi trường được định nghĩa “bao gồm các yếu tố tự nhiên và các yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và thiên nhiên” [70, tr.940]. Hiểu theo nghĩa rộng, môi trường là khái niệm “chỉ toàn bộ các điều kiện vô cơ và hữu cơ có liên quan đến sự tồn tại và phát triển của các cơ thể sống, bao gồm tất cả những gì đang tồn tại khách quan, là toàn bộ thế giới với tất cả các hình thức biểu hiện muôn màu của nó” [45, tr.7]. Luật Bảo vệ môi trường (2005) của nước ta thì cho rằng, môi trường “bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật” [113, tr.8]. Theo quan niệm của UNESCO, MT của con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình (đô thị, hồ chứa...) và những cái vô hình (tập quán, niềm tin, nghệ thuật...), trong đó con người bằng lao động, tiến hành khai thác các loại tài nguyên nhằm thoả mãn những nhu cầu của mình. Với nghĩa này, MT sống đối với con người không chỉ là nơi tồn tại, sinh trưởng, phát triển mà còn là khung cảnh của cuộc sống, của lao động và sự nghỉ ngơi của con người. Như vậy, MT là khái niệm có nội hàm rộng lớn. Từ khái niệm này người ta chia ra thành các khái niệm hẹp hơn như “môi trường tự nhiên”, “môi trường xã hội”, “môi trường nhân tạo”, “môi trường sinh thái”, “môi trường sinh thái nhân văn” Mỗi khái niệm đó lại được nghiên cứu ở các góc độ khác nhau. Không thể đi sâu vào từng khái niệm, luận án chỉ đề cập tới những khái niệm điển hình nhất, được nhiều người thừa nhận và có mối liên quan chặt chẽ tới đối tượng nghiên cứu trong luận án. Môi trường xã hội, hiểu một cách chung nhất là tổng thể các mối quan hệ giữa các cá nhân con người, giữa các cộng đồng người với nhau và hợp lại thành quốc gia, xã hội. Từ đó hình thành nên luật lệ, thể chế, quy định, các hình thức tổ chức, các thể chế KT - XH khác nhau. Môi trường nhân tạo là khái niệm dùng để chỉ MT do con người tạo ra, bao gồm những nhân tố vật lý, sinh học, xã hội Các yếu tố này luôn nằm trong mối quan hệ với nhau, chịu sự chi phối của con người và phục vụ cho cuộc sống của con người cũng như của cộng đồng xã hội trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. Môi trường tự nhiên là khái niệm dùng để chỉ các nhân tố, các hiện tượng tự nhiên và các loại TNTN bao quanh cuộc sống của con người như bầu khí quyển, nước, động vật, thực vật, thổ nhưỡng, khoáng sản, không khí. Các yếu tố này luôn có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Chúng tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con người, có ảnh hưởng đến cuộc sống của con người và ít nhiều chịu sự chi phối của con người. Ngay từ khi con người xuất hiện trên Trái Đất đã bị chi phối bởi MT tự nhiên và chính bản thân con người cũng chinh phục lại MT tự nhiên. Bởi vậy, ngày nay không có cái gọi là MT tự nhiên (theo nghĩa “nguyên thủy”, thuần túy nữa), mà phải được hiểu như là “môi trường tự nhiên - xã hội” hay “môi trường tự nhiên - người hóa”. Một khái niệm khác được hiểu trong mối tương quan với khái niệm MT tự nhiên là môi trường sinh thái. Đây cũng là khái niệm được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau. Trên cơ sở khẳng định vai trò của MT đối với con người và xã hội, tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm định nghĩa MTST là “tất cả những điều kiện tự nhiên và xã hội, cả vô cơ và hữu cơ có liên quan đến sự sống của con người, sự tồn tại và phát triển của xã hội” [138, tr.208]. Ở khía cạnh khác, MTST còn được gọi là môi trường sinh thái tự nhiên hay môi trường sinh thái - nhân văn, đó “là môi trường của sự sống hay sinh quyển, nó bao gồm một phần của tự nhiên có tồn tại sự sống” [4, tr.13]. Để làm rõ sự khác nhau giữa khái niệm MTST với khái niệm môi trường sinh thái - nhân văn, tác giả Hoàng Duy Chúc cho rằng “môi trường sinh thái là môi trường sống hay cái nhà ở của sinh vật, bao gồm tất cả các điều kiện xung quanh có liên quan đến sự sống của sinh thể” [39, tr.3]; còn “môi trường sinh thái nhân văn là tổng hợp tất cả những điều kiện tự nhiên và xã hội, cả vô cơ lẫn hữu cơ, có liên quan đến sự sống của con người, sự tồn tại và phát triển của xã hội” [39, tr.3-4]. Như vậy, dù hiểu theo khía cạnh nào thì MTST vẫn được quan niệm như một chỉnh thể trọn vẹn có quan hệ với sự ổn định và phát triển của xã hội. Đó là nơi cung cấp cho con người các sản phẩm vật chất với tính cách là yếu tố đầu vào và chứa đựng các sản phẩm đầu ra của quá trình sản xuất. MTST không chỉ bao gồm các hợp chất vô cơ mà còn có cả các hợp chất hữu cơ có sẵn từ tự nhiên hoặc được tạo ra từ con người. Nếu trong quá trình sản xuất, con người chỉ biết khai thác triệt để các nguồn lợi từ tự nhiên mà không biết tái tạo, phục hồi, không kiểm soát chặt chẽ đầu ra của quá trình sản xuất, các chất thải độc hại được xả thẳng ra MT, sẽ dẫn đến huỷ hoại MTST. Xuất phát từ những quan điểm trên, có thể nhận định: (1) Nói đến MTST là nói đến một bộ phận của giới tự nhiên có tồn tại sự sống; (2) MTST được cấu thành từ các yếu tố vô cơ (đất, nước, TNTN...) và hữu cơ (động - thực vật); (3) MTST còn được gọi là môi trường sống nếu xét nó trong mối tương quan với sự sống, sự tồn tại của đối tượng vật chất sống nhất định; (4) MTST còn được gọi là “môi trường tự nhiên”, “môi trường sinh thái tự nhiên”. Dưới góc độ nghiên cứu của đề tài luận án, tác giả quan niệm rằng môi trường sinh thái được hiểu là MTST tự nhiên với tính cách là nơi cung cấp các yếu tố đầu vào cho sự tăng trưởng của nền kinh tế. Theo đó, môi trường sinh thái bao hàm các loại động, thực vật, các hệ sinh thái tự nhiên và đặc biệt là các loại TNTN như đất đai, các loại khoáng sản, nước... và đây cũng chính là các yếu tố mà luận án sẽ đề cập tới và giải quyết ở các nội dung sau. Ngày nay, MTST đã và đang nguy cơ bị lạm dụng nhiều hơn để phục vụ cho TTKT, vượt ra khỏi khuôn khổ của nó, MTST biến đổi đã đem đến nhiều bất lợi cho con người trên cả phương diện sinh hoạt lẫn sức khỏe. Do đó, bảo vệ MTST đang trở thành vấn đề cấp bách mang tính toàn cầu. Ở nước ta, thuật ngữ “Bảo vệ môi trường sinh thái” được Đảng và Nhà nước đề cập từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII và được nhắc lại trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Khi chưa xuất hiện thuật ngữ này, người ta thường sử dụng thuật ngữ “Bảo vệ môi trường”, được hiểu là: Tập hợp các biện pháp giữ gìn, sử dụng và phục hồi một cách hợp lý sinh giới (vi sinh vật, động vật, thực vật) và môi sinh (đất, nước, không khí, lòng đất, khí hậu), nghiên cứu thử nghiệm thiết bị sử dụng tài nguyên thiên nhiên, áp dụng công nghệ ít có và không có phế liệu nhằm tạo ra không gian tối ưu cho cuộc sống của con người. Bảo vệ môi trường địa lý là những vấn đề trước mắt và lâu dài mà toàn thể các cộng đồng phải giải quyết ở quy mô toàn cầu; nhằm sử dụng hợp lý thiên nhiên, hoàn thiện trang thiết bị và các quá trình công nghệ, kiểm tra tình trạng và nguồn gây ô nhiễm môi trường, bảo vệ các danh lam thắng cảnh và các công trình văn hóa [70, tr.160]. Luật Bảo vệ môi trường (năm 2005) ở nước ta quy định: “Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đến môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học” [113, tr.8-9]. Ở khái niệm này, bảo vệ MT không chỉ là khái niệm mang tính hành động của con người nhằm tác động trực tiếp vào MT, khắc phục sự ô nhiễm, suy thoái MT mà còn bao hàm cả việc khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm TNTN, bảo tồn đa dạng sinh học. Bảo vệ MT còn được một số nhà nghiên cứu quan niệm là giữ cho con người không bị đầu độc bởi tất cả các yếu tố độc hại phát sinh từ sự suy thoái, ô nhiễm MT, là tập hợp các biện pháp nhằm quản lý, duy trì, sử dụng hợp lý, phục hồi và nâng cao hiệu quả sử dụng MT tự nhiên, giữ cho cuộc sống của con người và thiên nhiên có sự hài hòa phù hợp. Trên thực tế còn xuất hiện hai cách hiểu khác nhau về vấn đề bảo vệ môi trường. Cách thứ nhất cho rằng bảo vệ MT là phải giữ gìn, tái tạo những gì đã có của MT. Còn cách thứ hai khẳng định bảo vệ MT là phải giữ nguyên hiện trạng tự nhiên mà không khai thác gì cho phát triển kinh tế. Cả hai khuynh hướng này đều có khía cạnh đúng nhưng chưa thật đầy đủ. Vì hai lý do: Thứ nhất, trong cuộc sống, khó có thể buộc con người chỉ có giữ gìn, tái tạo mà lại không khai thác tự nhiên. Để sinh tồn và phát triển, con người phải khai thác tự nhiên. Đây là quy luật tất yếu của xã hội loài người. Thứ hai, giữa khai thác và bảo vệ MT có mối quan hệ với nhau. Do vậy, khai thác các thành tố từ MT phải đi đôi với bảo vệ chúng. Như vậy, có thể thấy, MT được bảo vệ ở đây là MT tự nhiên. Bảo vệ MT tự nhiên là bảo vệ các nguồn lực có từ tự nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học và khai thác hợp lý các nguồn TNTN cho tăng trưởng. Xuất phát từ đối tượng nghiên cứu trong luận án và hiểu MTST trong mối tương quan với MT tự nhiên, là nơi cung cấp các yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất, có thể đi tới kết luận: Bảo vệ môi trường sinh thái là hoạt động của con người nhằm khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý, đảm bảo cân bằng sinh thái trên cơ sở giữ gìn sự trong sạch, tái tạo và cải thiện môi trường, ngăn chặn các hậu quả xấu do tăng trưởng kinh tế gây ra cho môi trường sinh thái. Như vậy, bảo vệ MTST không chỉ là giữ nguyên không khai thác, mà trái lại, phải hướng vào việc khai thác, sử dụng hợp lý nguồn TNTN sao cho việc khai thác đó tạo ra được những điều kiện cần thiết cho phục hồi, tái tạo TNTN, đáp ứng nhu cầu sản xuất vật chất và đảm bảo cân bằng hệ sinh thái tự nhiên. Các hoạt động sản xuất trong nền kinh tế luôn gây ra những hậu quả xấu cho MTST. Do đó, bảo vệ MTST, một mặt, là phải tìm ra những hướng phát triển kinh tế phù hợp, mặt khác, phải tìm cách ngăn chặn những hậu quả xấu mà quá trình TTKT gây ra cho MTST. 2.1.2. Quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái 2.1.2.1. Vai trò và tác động của tăng trưởng kinh tế đối với bảo vệ môi trường sinh thái Con người và xã hội loài người không chỉ thoả mãn nhu cầu sống của mình bằng các vật phẩm có sẵn trong tự nhiên mà buộc phải tiến hành sản xuất vật chất. Theo C.Mác, sản xuất vật chất không chỉ là cơ sở cho sự sinh tồn của con người mà còn là hành vi lịch sử đầu tiên của họ: “hành vi lịch sử đầu tiên là, việc sản xuất ra những tư liệu để thoả mãn những nhu cầu ấy, việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất” [90, tr.40]. Sản xuất vật chất cũng đồng thời là cơ sở để hình thành nên các quan hệ: chính trị, đạo đức, tôn giáo “tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại của con người, và do đó là tiền đề của mọi lịch sử, đó là: người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể “làm ra lịch sử”” [90, tr.39-40]. Chính trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất, mối quan hệ giữa con người với tự nhiên được hình thành và “chừng nào mà lịch sử loài người còn tồn tại thì lịch sử của họ và lịch sử tự nhiên quy định lẫn nhau” [90, tr.25]. Mối quan hệ giữa con người với tự nhiên là mối quan hệ giữa một bên là chủ thể, còn bên kia là khách thể, trong đó, chủ thể thổi hồn vào khách thể để chúng trở nên có ý nghĩa với con người. Sự tác động của con người vào tự nhiên không mù quáng như thế giới loài vật mà là sự tác động có ý thức, như C.Mác đã từng khẳng định “việc tạo một cách thực tiễn ra thế giới vật thể, việc cải tạo giới tự nhiên vô cơ là sự tự khẳng định của con người với tư cách là một sinh vật có tính loài có ý thức, nghĩa là một sinh vật đối xử với loài như với bản chất của chính mình” [96, tr.136-137]. Trong quá trình sản xuất vật chất, TTKT là cách thức chủ yếu, là nhu cầu bắt buộc của mọi quốc gia nhằm từng bước xóa đói, giảm nghèo (phát triển kinh tế làm nền tảng cho sự phát triển xã hội). Để thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, các quốc gia đã tác động tới các yếu tố của lực lượng sản xuất. Có thể khẳng định, tất cả các nhân tố của lực lượng sản xuất thúc đẩy kinh tế tăng trưởng đều tác động tới MTST ở các khía cạnh khác nhau. Sự tác động của TTKT lên MTST trước hết phụ thuộc vào chủ thể của quá trình sản xuất vật chất, đó là “lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại” [86, tr.430]. Là chủ thể tiến hành sản xuất vật chất, trên phương diện quan hệ với MTST, người lao động vừa tạo ra những điều kiện để gìn giữ MTST, nhưng đồng thời lại vừa là tác nhân đem tới những bất lợi cho MTST. Có thể coi đây là những điểm khác biệt giữa con người và thế giới loài vật trong mối quan hệ với MTST. Tuy nhiên, điểm khác biệt căn bản nhất là ở chỗ, nhờ có năng lực nhận thức nên trong quá trình sản xuất, người lao động có thể tiên đoán được những hậu họa của môi sinh để chủ động định hướng điều chỉnh hoạt động của mình. Cùng với sự trợ giúp đắc lực của tiến bộ KH và CN, con người không ngừng tạo ra công cụ lao động mới, thay đổi cách thức tác động vào tự nhiên, cải biến những vật vô tri, vô giác trong tự nhiên thành của cải vật chất để thỏa mãn nhu cầu của mình. Chính trong quá trình đó, người lao động đã ghi dấu ấn của mình lên MTST theo các hướng khác nhau, khi thì thân thiện, khi lại tìm cách “bóc lột” MTST. Với tư cách là con người xã hội, người lao động luôn tìm kiếm cho mình những lợi ích, những phương tiện nhằm thỏa mãn nhu cầu về sự tồn tại và phát triển của mình và xã hội. C. Mác đã đúc kết quy luật ấy qua chân lý: con người ta phải có cái ăn, mặc, ở rồi mới lo tới việc làm nghệ thuật hay chính trị. Như vậy, có thể thấy, khi những nhu cầu tối thiểu của người lao động không được thỏa mãn hay khi họ đang bị nghèo đói mà nói tới bảo vệ MTST thì đó sẽ là cái trống rỗng, vô ích. Tất nhiên, một cách biện chứng, khó có thể khẳng định chắc chắn rằng một khi lợi ích tối thiểu của người lao động được đảm bảo thì họ sẽ có ý thức bảo vệ MTST. Bởi lẽ, không có lợi ích nào là lợi ích cuối cùng cũng như không có nhu cầu nào là nhu cầu có giới hạn đối với con người. Khi lợi ích và nhu cầu này được thỏa mãn, ngay lập tức lại xuất hiện những lợi ích và nhu cầu khác cao hơn. Đây cũng chính là cái thúc đẩy con người ở mọi thế hệ, mọi thời đại cho đến cả loài người hoạt động, lao động không ngừng nghỉ. Trong quá trình lao động để thỏa mãn nhu cầu của mình, con người đã tác động tới tự nhiên, tìm mọi cách khai thác TNTN, thậm chí khai thác vượt ra khỏi khuôn khổ giới hạn chịu đựng giới tự nhiên, gây nên những biến đổi xấu cho MTST. Và hậu quả mà con người nhận được từ sự khai thác vô hạn độ các nguồn lực từ tự nhiên là những cơn bão, những trận động đất, sóng thần kinh hoàng liên tiếp xảy ra. Chính vì vậy, khi con người gây hại cho MTST và bị MTST “trả thù” thì con người lại tìm mọi cách dàn hòa với nó. Kiểm soát tự nhiên, bảo vệ MTST là cái đích mà con người ngày nay đang hướng tới. Trong xã hội hiện đại, để thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, người lao động đã tác động đến sự thay đổi cơ cấu kinh tế, qua đó thúc đẩy sự gia tăng bảo vệ MTST. Sự xuất hiện của kinh tế công nghiệp, kinh tế dịch vụ thay thế cho kinh tế nông nghiệp đã thay đổi phương thức tác động của con người đối với MTST. Với khối óc và đôi bàn tay của mình, con người đã tạo ra công cụ lao động hiện đại, dùng nó để khai thác TNTN một cách hiệu quả hơn. Đồng thời với quá trình đó, người lao động còn tạo ra những nguyên liệu mới thay thế cho những nguyên liệu truyền thống vốn phải lấy trực tiếp từ tự nhiên. Lẽ dĩ nhiên, để có được những thành quả đó, người lao động phải có đầy đủ những năng lực phẩm chất đạo đức và nghề nghiệp cần thiết. Như vậy, có thể thấy rằng sự tác động của TTKT đối với việc bảo vệ MTST nằm ngay trong chính bản thân những người lao động. Nguồn TNTN với tư cách là đối tượng lao động, cũng là một trong những nhân tố quy định sự tác động của TTKT đối với việc bảo vệ MTST. Đối với mỗi quốc gia, nguồn tài nguyên “vô hình” và “hữu hình” trở thành điều kiện cơ bản để phát triển. Thực tế quá trình TTKT trên thế giới cho thấy, TNTN là nguồn lực vô cùng quan trọng để sản xuất ra của cải vật chất. Trong cuộc sống, nếu con người khai thác quá mức nguồn TNTN, không những sẽ làm cho chúng bị cạn kiệt dần, mà còn dẫn đến ô nhiễm MT và mất cân bằng trong hệ sinh thái. Ngược lại, nếu con người biết được giá trị và khai thác hợp lý các nguồn TNTN, thì chúng dần được phục hồi, MTST sẽ không bị ô nhiễm và hệ sinh thái sẽ được cân bằng. Như đã từng thấy, việc sử dụng công nghệ hiện đại để khai thác TNTN là tiêu chí quan trọng để có được sự tăng trưởng của kinh tế. Trong nhiều thập kỷ qua, con người không ngừng đổi mới công cụ lao động, ứng dụng thành tựu của khoa học để khai thác TNTN. Sự phát triển dựa trên thành tựu của KH và CN hiện đại, vừa đem lại cho con người một cuộc sống vật chất tương đối đầy đủ, vừa giúp cho đôi bàn tay con người vươn ra xa hơn, đem đến khả năng khai thác tài nguyên hiệu quả hơn và đặc biệt, ít nhiều giúp cho chúng được bảo tồn, được tái tạo. Tuy nhiên, việc sử dụng công nghệ hiện đại vào khai thác TNTN, nếu không được kiểm soát chặt chẽ, có thể sẽ đem đến những bất lợi cho MTST. Như vậy, TTKT chỉ có thể tác động tới bảo vệ MTST thông qua các yếu tố: người lao động, TNTN, khoa học và công nghệ. Đó cũng đồng thời là các yếu tố cơ bản quyết định tới sự tăng trưởng của nền kinh tế và ảnh hưởng tới quá trình bảo vệ MTST. Ngoài ra, các yếu tố thuộc về quan hệ sản xuất, kết cấu hạ tầng, thể chế kinh tế, hệ thống chính trị, đặc điểm cộng đồng dân cư cũng giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ MTST. Tất nhiên, mọi yếu tố đều phải thông qua vai trò của Nhà nước mới có thể phát huy tác dụng trong việc bảo vệ MTST. 2.1.2.2. Vai trò của môi trường sinh thái và sự tác động của bảo vệ môi trường sinh thái lên tăng trưởng kinh tế Trong hệ thống con người - tự nhiên - xã hội, khó có thể xác định đâu là yếu tố quan trọng nhất, bởi lẽ giữa chúng luôn có sự tác động qua lại lẫn nhau. Mỗi yếu tố đều giữ một vị trí, vai trò nhất định tới yếu tố còn lại. Ngày nay, TTKT giữ vai trò hết sức to lớn đối với sự thay đổi về cấu trúc và xu hướng bền vững của MTST. Ngược lại, MTST cũng giữ vai trò quan trọng đối với quá trình tăng trưởng của nền kinh tế. Do đó, nếu MTST được bảo vệ sẽ tạo ra những tiền đề cần thiết để thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và ngược lại, nếu MTST không được bảo vệ sẽ là một trong những nguyên nhân cản trở sự tăng trưởng của kinh tế. Khi đề cập đến vai trò không thể thiếu của môi trường tự nhiên đối với sản xuất, trong “Bản thảo kinh tế - triết học” (1844), C.Mác viết: Công nhân không thể sáng tạo ra cái gì nếu không có giới tự nhiên, nếu không có thế giới hữu hình bên ngoài. Đó là vật liệu, trong đó lao động của anh ta được thực hiện, trong đó hoạt động lao động của anh ta triển khai, từ đó và nhờ đó, lao động của anh ta sản xuất ra sản phẩm. Giới tự nhiên cung cấp cho lao động tư liệu sinh hoạt theo nghĩa là không có vật để cho lao động tác động vào thì lao động không thể sống được; mặt khác chính giới tự nhiên cũng cung cấp tư liệu sinh hoạt theo nghĩa hẹp hơn, nghĩa là cung cấp tư liệu để tồn tại về thể xác cho bản thân người công nhân [96, tr.130]. Từ quan điểm trên của C.Mác, có thể khẳng định MTST giữ vai trò là tiền đề, điều kiện tiên quyết cho sự hình thành, phát triển của con người cũng như nền sản xuất vật chất của xã hội. Vai trò của MTST đối với đời sống con người và nền sản xuất vật chất của nhân loại còn được thể hiện ở chỗ, nó cung cấp những điều kiện vật chất - tức nguồn TNTN sẵn có để con người tiến hành sản xuất ra của cải, duy trì sự sinh tồn và phát triển. Ở thời kỳ bình minh của nhân loại, các loại TNTN trở thành những yếu tố không thể thiếu để con người tồn tại. Tất nhiên, ban đầu, bản thân giới tự nhiên chỉ “là cái kho chứa, mà trong đó con người - cũng là tiền đề với tính cách là sản phẩm của tự nhiên - kiếm được những sản phẩm sẵn có của tự nhiên để tiêu dùng” [93, tr.55]. Trải qua các thời đại kinh tế khác nhau, từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp và hiện nay là kinh tế tri thức, con người vẫn tìm cách có được những thứ mà mình bắt gặp trên con đường chinh phục tự nhiên. Cho dù sau này loài người đã biết chế tạo ra các loại tư liệu lao động và đối tượng lao động phục vụ cho sản xuất, nhưng rõ ràng, vật liệu để tạo ra chúng, cũng phải lấy từ MTST. Các sản phẩm được tạo ra trong các hoạt động sản xuất đều có nguồn gốc từ tự nhiên. Hơn nữa, trong cuộc sống, có nhiều nhiều loại hàng hóa do con người tạo ra rất hoàn hảo nhưng vẫn không thể thay thế được các dạng vật chất có sẵn trong tự nhiên. Về điều này, C.Mác đã từng viết: Trừ ngành công nghiệp khai thác là ngành tìm được đối tượng lao động của nó trong giới tự nhiên - như ngành mỏ, săn bắn, đánh cá, v.v. (ngành trồng trọt cũng thế, nhưng chỉ khi nào người ta khai thác lần đầu tiên những đất hoang mà thôi), - còn tất cả các ngành công nghiệp khác thì đều dùng nguyên liệu, tức là một đối tượng lao động đã được lao động lọc qua rồi, và bản thân đã là một sản phẩm lao động [94, tr.271-272]. Qua đó cho thấy, sẽ không thể có TTKT nếu thiếu các yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất tồn tại dưới dạng TNTN và ở đây, MTST đã thực hiện chức năng cung cấp đối tượng lao động để các hoạt động sản xuất diễn ra bình thường. Tuy nhiên, để duy trì vai trò tích cực này của MTST đối với TTKT, con người cần phải bảo vệ MTST. Nếu MTST được bảo vệ, sẽ có tác động tích cực tới TTKT. B... 3. Nguyễn Thị Khương (2011), “Vai trò quản lý của Nhà nước trong việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Khoa học và công nghệ - Đại học Thái Nguyên, (số 4), tr.87-90. 4. Nguyễn Thị Khương (2011), “Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên với việc giáo dục đạo đức học môi trường cho sinh viên”, Tạp chí Giáo dục, (số 6), tr.60-62. 5. Nguyễn Thị Khương (2012), “Tính tất yếu của việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Giáo dục lý luận, (số 188), tr.69-71. 6. Nguyễn Thị Khương (2012), “Gắn tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái vì mục tiêu phát triển bền vững: những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học và công nghệ - Đại học Thái Nguyên, (số 12), tr.71-74. 7. Nguyễn Thị Khương (2013), “Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò của Nhà nước trong việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Giáo dục lý luận, (số 207), tr.49-52 B. Các công trình tham gia đề tài khoa học, kỷ yếu hội thảo khoa học: 1. Nguyễn Thị Khương (2011), Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường tự nhiên ở các tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học. 2. Nguyễn Thị Khương (2011), Đạo đức học môi trường và vai trò của nhà trường sư phạm trong việc giáo dục đạo đức học môi trường cho thế hệ trẻ, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Nxb Đại học sư phạm, tr.411-415. 3. Nguyễn Thị Khương (2013), Quan niệm của C.Mác và Ph.Ăng ghen về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong một số tác phẩm của hai ông, Kỷ yếu hội thảo khoa học Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, tr.85-88. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Lê Quý An (1992), “Những quan điểm chú ý về môi trường và phát triển tại hội nghị Ri-ô 92”, Tạp chí Thông tin, Môi trường, (3). Vũ Đình Bách, Nguyễn Văn Công, Nguyễn Văn Định (Đồng chủ biên) (1998), Các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Hoàng Chí Bảo (2006), Văn hóa và con người Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Trần Lê Bảo (Chủ biên) (2001), Văn hóa sinh thái nhân văn, Nxb Văn hóa - thông tin, Hà Nội. Hoàng Hữu Bình (Chủ biên) (2006), Những tác động của yếu tố văn hóa - xã hội trong quản lý nhà nước đối với tài nguyên, môi trường trong quá trình CNH, HĐH, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội. Bộ Chính trị (1998), Chỉ thị số 36/CT-TW ngày 25/6/1998 về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, www.cpv.org.vn. Bộ Chính trị (2004), Nghị quyết 41/NQ-TW về bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, www.cpv.org.vn. Bộ Chính trị (2009), Chỉ thị số 29/CT-TW về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện nghị quyết 41/NQ-TW về Bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, www.tuyengiao.vn. Bộ Kế hoạch và đầu tư (2011), Báo cáo tổng hợp Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020, Hà Nội. Bộ Kế hoạch và đầu tư (2012), Tổng hợp các số liệu phát triển kinh tế - xã hội các năm, Hà Nội, tại website www.mpi.gov.vn. Bộ Lao động - Thương binh và xã hội, website: www.molisa.gov.vn. Bộ Tài nguyên và Môi trường, website: http//monre.gov.vn. Bộ Thương mại (1998), Môi trường và phát triển bền vững ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Các Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường (1995) (Việt - Anh), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Chính phủ Cộng hòa Nam Phi (2011), Hội nghị quốc tế Động thái dân số, biến đổi khí hậu và phát triển bền vững, tổ chức tại Pretoria, Cộng hòa Nam Phi. Chính phủ Việt Nam (1995), Chương trình quốc gia về giải quyết việc làm giai đoạn 1995 - 2005, www.chinhphu.vn. Chính phủ Việt Nam (2000), Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến 2020, www.chinhphu.vn. Chính phủ Việt Nam (2002), Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo, www.chinhphu.vn. Chính phủ Việt Nam (2003), Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam đến năm 2010, www.chinhphu.vn. Chính phủ Việt Nam (2003), Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, www.chinhphu.vn. Chính phủ Việt Nam (2004), Chiến lược Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin tài nguyên và môi trường đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020, www.chinhphu.vn. Chính phủ Việt Nam (2004), Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam, www.chinhphu.vn. Chính phủ Việt Nam (2005), Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 41/NQ-TW ngày 15/11/2004 của Bộ chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, www.chinhphu.vn. Chính phủ Việt Nam (2006), Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường, www.chinhphu.vn. Chính phủ Việt Nam (2006), Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm trong 5 năm 2006 - 2010, www.chinhphu.vn. Chính phủ Việt Nam (2006), Giải pháp hỗ trợ dạy nghề và việc làm cho lao động vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp, www.chinhphu.vn. Chính phủ Việt Nam (2006), Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020, www.chinhphu.vn. Chính phủ Việt Nam (2007), Chiến lược về phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai đến 2020, www.chinhphu.vn. Chính phủ Việt Nam (2008), Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo, www.chinhphu.vn. Chính phủ Việt Nam (2011), Chiến lược khoáng sản đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, www.chinhphu.vn. Chính phủ Việt Nam (2011), Chiến lược Quốc gia về Biến đổi khí hậu, www. chinhphu.vn. Chính phủ Việt Nam (2012), Chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm và đào tạo nghề cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp, www.chinhphu.vn. Chính phủ Việt Nam (2012), Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, www.chinhphu.vn. Chính phủ Việt Nam (2012), Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020, www.chinhphu.vn. Chính phủ Việt Nam (2012), Chiến lược Quốc gia về Tăng trưởng xanh, www. chinhphu.vn. Chính phủ Việt Nam (2012), Quy định việc cấp giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước, www.chinhphu.vn. Nguyễn Trọng Chuẩn (2002), Biện chứng của tự nhiên và giá trị hiện thời của nó, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Nguyễn Trọng Chuẩn (2005), “Để phát triển con người một cách bền vững”, Tạp chí Triết học (1/164). Hoàng Duy Chúc (2004), Tập bài giảng Môi trường và con người (Sinh thái - nhân văn), Hà Nội. Chương trình phát triển Liên hiệp quốc, Website: www.undp.org.vn. Hoàng Đình Cúc (2009), “Phát triển bền vững ở Việt Nam: một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Triết học, (8). Cục Cảnh sát môi trường, website: www.canhsatmoitruong.gov.vn. Cục Môi trường (2002), Hành trình vì sự phát triển bền vững 1972-1992-2002, Hà Nội. Nguyễn Thị Doan (2010), “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta”, Tạp chí Lý luận chính trị, (4). Vũ Trọng Dung (2009), Đạo đức sinh thái và giáo dục đạo đức sinh thái (Sách chuyên khảo), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Phan Thị Hồng Duyên (2008), “Giáo dục đạo đức sinh thái vì sự phát triển bền vững cho con người và giới tự nhiên”, Tạp chí Triết học, (1). Bùi Văn Dũng (1999), Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường cho sự phát triển lâu bền, Luận án tiến sĩ Triết học, Viện Triết học, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Chỉ thị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khoá IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Văn kiện Hội nghị lần thứ bẩy Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. Trần Thọ Đạt (Chủ biên) (2005), Các mô hình tăng trưởng kinh tế, Nxb Đại học kinh tế quốc dân. Lê Cao Đoàn, (1993) Phát triển kinh tế: lịch sử và học thuyết, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Lê Thị Thanh Hà (2011), “Vai trò của nhà nước Việt Nam trong việc bảo vệ môi trường”, Tạp chí Triết học, (8). Lê Thị Thanh Hà (2013), Nhà nước Việt Nam đối với vấn đề bảo vệ môi trường trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, Nxb Chính trị - Hành chính. Lưu Đức Hải, Nguyễn Ngọc Sinh (2005), Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội. Nguyễn Minh Hằng, “Môi trường sinh thái - vấn đề của mọi người”, http//www.hcmush.edu.vn. Nguyễn Văn Hậu (2013), “Về chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Lý luận chính trị, (1). Trần Đắc Hiến (2009), “Ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay - Thực trạng và một số giải pháp khắc phục”, Tạp chí Triết học, (11). Hiệp hội các hội đồng nghiên cứu Khoa học xã hội châu Á (AASSREC) (2007), Toàn cầu hoá và ảnh hưởng đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương: khía cạnh kinh tế, xã hội và văn hoá, Hội thảo. Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (2013), Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 23, tổ chức tại Brunei Nguyễn Đình Hòa (2004), “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở nước ta hiện nay: khía cạnh môi trường sống”, Tạp chí Triết học, (8). Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2004), Kinh tế chính trị Mác - Lênin và một số vấn đề về tổ chức, quản lý kinh tế ở Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội. Lê Thị Hồng (2001), Vai trò định hướng xã hội chủ nghĩa của nhà nước đối với sự phát triển nền kinh tế Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sỹ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Hội đồng biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam (2002), Từ điển Bách khoa Việt Nam, Tập 2, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội. Hội đồng Khoa học các cơ quan Đảng Trung ương (2013), Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, đẩy mạnh công tác bảo vệ tài nguyên, môi trường - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Hội khoa học và chuyên gia Việt Nam tại Pháp, Xây dựng và phát triển bền vững, Hội thảo Pháp - Việt CIGOS2013 (2013) tổ chức tại Lyon - Pháp Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam - Bộ Tài nguyên và môi trường (2005), Nghị quyết liên tịch về Việc phối hợp hành động bảo vệ môi trường phục vụ PTBV. Đỗ Huy (2007), “Giáo dục đạo đức sinh thái và xây dựng môi trường văn hóa trong lịch trình thế kỷ XXI”, Tạp chí Lý luận chính trị, (2). Đỗ Huy (2009), “Một số vấn đề cần quan tâm trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội”, Tạp chí Triết học, (12). Mai Lan Hương (2012), Vai trò của Nhà nước đối với hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Nguyễn Thị Lan Hương (2009), “Trách nhiệm môi trường - một phương diện của trách nhiệm xã hội”, Tạp chí Triết học, (8). Trần Thị Thu Hường (2010), Vai trò Nhà nước đối với việc xây dựng nền kinh tế Việt Nam độc lập tự chủ trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, Luận án Tiến sĩ triết học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh. S.V.Kalesnik (1970), Các quy luật định lý chung của trái đất, Nxb Mátxcơva. Nguyễn Văn Kim (2004), “Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường - kinh nghiệm của Nhật Bản”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, (316). Đỗ Thị Ngọc Lan (2011), “Từ cảnh báo của Ăng ghen về thảm họa thiên nhiên nghĩ về vai trò của nhà nước đối với bảo vệ môi trường sinh thái”, Tạp chí Lý luận chính trị (7). Vi Thị Hương Lan (2012), Vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam thời kỳ hội nhập quốc tế, Luận án Tiến sĩ Triết học, Hà Nội. Trần Thanh Lâm (1998), “Quản lý, bảo vệ môi trường - hiện trạng và giải pháp”, Tạp chí Quản lý nhà nước, (21). Trần Thanh Lâm (2006), Quản lý môi trường bằng công cụ kinh tế, Nxb Lao động, Hà Nội. V.I.Lênin (1981), Toàn tập, Tập 29, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. V.I.Lênin (2006), Toàn tập, Tập 38, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. V.I.Lênin (2006), Toàn tập, Tập 41, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. Liên hiệp quốc (2012), Hội nghị Liên hiệp quốc về Phát triển bền vững (Rio+20), tổ chức tại Brazil C. Mác-Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. C. Mác-Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, Tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. C.Mác-Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. C.Mác-Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, Tập 13, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. C.Mác-Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, Tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. C.Mác-Ph.Ăngghen (2004), Toàn tập, Tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. C.Mác-Ph.Ăngghen (1997), Toàn tập, Tập 32, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. C.Mác-Ph.Ăngghen (2000), Toàn tập, Tập 42, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Trần Văn Miều (2004), Tuổi trẻ Việt Nam với sự nghiệp bảo vệ môi trường, Hà Nội, Nxb Thanh niên, Hà Nội. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Ngô Quang Minh (2010), “Quản lý nhà nước về kinh tế ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Lý luận chính trị, (2). Nguyễn Văn Nam, Trần Thọ Đạt (Đồng chủ biên) (2006), Tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, Nxb Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội. Ngân hàng thế giới (1998), Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi - Báo cáo về tình hình phát triển thế giới 1997, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Phạm Hữu Nghị (2005), “Vấn đề quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong dự thảo Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi)”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (2). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2005), Luật bảo vệ môi trường và văn bản hướng dẫn thi hành, Hà Nội. S.S.Park (1992), Tăng trưởng và phát triển - Tổng sản phẩm vật chất và chiến lược về lao động, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Trung tâm Thông tin tư liệu, Hà Nội. Nguyễn Văn Phúc, Nguyễn Duy Hùng (Đồng chủ biên) (2012), Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Quốc hội (1995), Hiến pháp Việt Nam (năm 1992), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Quốc hội (1996), Luật Khoáng sản, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Quốc hội (2003), Luật Thủy sản, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Quốc hội (2003), Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Quốc hội (2003), Luật Xây dựng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Quốc hội (2005), Luật Bảo vệ môi trường, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Quốc hội (2005), Luật Đầu tư, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Quốc hội (2005), Luật Thương mại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Quốc hội (2005), Luật Đất đai, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Quốc hội (2012), Luật Biển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Quốc hội (2013), Luật Khoa học và Công nghệ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Hồ Sĩ Quý (Chủ biên) (2000), Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong sự phát triển xã hội, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. Hồ Sĩ Quý (Chủ biên) (2003), Con người và phát triển con người trong quan niệm của C. Mác và Ph.Ăngghen, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Lương Xuân Quỳ, Đỗ Đức Bình (Đồng chủ biên) (2010), Thể chế kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Tô Thị Tâm (2001), Sự tác động của Nhà nước đối với thị trường trong quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Kinh tế. Nguyễn Văn Thanh (2009), “Xây dựng mô hình kinh tế sinh thái hiện đại trong chiến lược phát triển đất nước”, Tạp chí Cộng sản, (802). Chu Thái Thành (2004), “Mấy vấn đề phát triển bền vững”, Tạp chí Con số và sự kiện, (7). Trần Thành (2012), “Vai trò của nhân tố chủ quan trong việc định hướng xã hội chủ nghĩa sự phát triển nền kinh tế ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Triết học, (10). Hồ Bá Thâm, Đinh Thị Hồng Diễm (Đồng chủ biên) (2012), Toàn cầu hoá, hội nhập và phát triển bền vững từ góc nhìn triết học đương đại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Hoàng Đức Thân, Đinh Quang Ty (Đồng chủ biên) (2010), Tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Nguyễn Thị Thơm và An Như Hải (Đồng chủ biên) (2011), Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Chu Khắc Thuật, Nguyễn Văn Thủ (Chủ biên) (1998), Văn hóa, lối sống với môi trường, Trung tâm Nghiên cứu và tư vấn về phát triển, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội. Trần Văn Thuật (2002), “Một số vấn đề phát triển miền núi hiện nay”, Tạp chí Dân tộc và miền núi, (24). Trương Mạnh Tiến (1996), Sự phát triển của thương mại tự do trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay với vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái, Luận án Phó tiến sĩ khoa học Kinh tế. Tìm hiểu một số thuật ngữ khái niệm trong các môn lý luận Mác - Lênin (1992), Nxb Tư tưởng - Văn hóa, Hà Nội Nguyễn Cảnh Toàn (2003), “Tổ chức sao cho giáo dục bảo vệ môi trường có hiệu quả”, Báo Giáo dục và thời đại, (2). Tổng cục môi trường, Báo cáo môi trường quốc gia năm 2010, http//vea.gov.vn. Tổng cục thống kê, website: www.gso.gov.vn Phạm Thị Ngọc Trầm (1996), “Sự kết hợp giữa các mục tiêu kinh tế và sinh thái trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Tạp chí Triết học, (5). Phạm Thị Ngọc Trầm (1997), Môi trường sinh thái, vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Phạm Thị Ngọc Trầm (1998), “Khía cạnh triết học - xã hội của vấn đề MTST ở Việt Nam”, Tạp chí Triết học, (6). Phạm Thị Ngọc Trầm (2004), “Về cách tiếp triết học - xã hội đối với hiện trạng môi trường sinh thái nhân văn ở Việt Nam: các vấn đề, nguyên nhân và giải pháp”, Tạp chí Triết học, (6). Phạm Thị Ngọc Trầm (2005), “Những giải pháp chủ yếu nhằm sử dụng có hiệu quả hơn nhân tố xã hội - nhân văn trong quản lý nhà nước về tài nguyên thiên nhiên và môi trường”, Tạp chí Triết học, (8). Phạm Thị Ngọc Trầm (Chủ biên) (2006), Quản lý nhà nước đối với tài nguyên và môi trường vì sự phát triển bền vững dưới góc nhìn xã hội - nhân văn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. Phạm Thị Ngọc Trầm (2009), “Xây dựng đạo đức sinh thái - Một trách nhiệm xã hội của con người đối với tự nhiên”, Tạp chí Triết học, (6). Lê Nguyễn Hương Trinh (2006), “Về vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường”, Tạp chí Triết học, (11). Nguyễn Phú Trọng (2011), Về giải quyết các mối quan hệ lớn cần được giải quyết tốt trong quá trình đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Phan Quang Trung (2006), “Kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội với bảo vệ môi trường”, Tạp chí Khoa học công nghệ, (6). Trường Đại học kinh tế quốc dân, Bộ môn Kinh tế phát triển (1995), Kinh tế phát triển (Những vấn đề lý luận), Nxb Giáo dục, Hà Nội. Trần Văn Tùng (2002) Mô hình tăng trưởng kinh tế, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội. “Về chất lượng phát triển của Việt Nam thời kỳ 2000 - 2010” (2010), Tạp chí Lý luận chính trị biên soạn theo tài liệu của các cơ quan Trung ương, (4). Viện Khoa học năng lượng (2013), Hội thảo Phát triển năng lượng bền vững (SED3). Viện Ngôn ngữ học (2000), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học, Hà Nội - Đà Nẵng. Website: www.hawacom.vn. Website: www.vea.gov.vn. Website: www.undp.org.vn Website: www.vietnamnet.vn. PHỤ LỤC Phụ lục 1 Mức tăng GDP hàng năm (2005 - 2013) (Tỷ lệ: %) Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 Tỷ lệ 8,44 8,23 8,46 6,31 5,32 6,78 5,89 5,03 5,4 Nguồn: Tổng hợp từ Tổng cục thống kê [135] Phụ lục 2 Thu nhập bình quân đầu người theo các năm (Đơn vị tính: USD) Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 Bình quân 715 723 817 1018 1026,8 1168 1300 1540 1960 Nguồn: Tổng hợp từ Tổng cục thống kê [135] Phụ lục 3 Diện tích rừng trồng tập trung ở Việt Nam Giai đoạn Diện tích rừng trồng 1990 - 1995 743 nghìn ha 1996 - 2000 1.096 nghìn ha 2001 - 2005 1,3 triệu ha 2006 - 2010 2 triệu ha Nguồn: Tổng hợp từ Tổng cục môi trường [152] Phụ lục 4 Diện tích rừng bị huỷ hoại hàng năm ở Việt Nam (Đơn vị: nghìn ha) Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 Diện tích rừng bị cháy 1,5 12,3 - 4,8 7,6 2,4 5,1 1,7 Diện tích rừng bị chặt phá 2,8 5,1 2,0 7,0 10,3 3,1 1,3 2,2 Nguồn: Tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt Nam [127] Phụ lục 5 Tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam (Đơn vị: %) Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 Tỷ lệ 22 15,5 14,75 13,5 12,3 10,7 11,76 9,64 Nguồn: Tổng hợp từ website www.molisa.gov.vn [11] Phụ lục 6 Số lao động đang làm việc trong năm ở Việt Nam (Đơn vị: triệu người) Năm 1990 1995 2000 2005 2010 2011 Số lượng 29,45 33,03 37,08 42,77 49,15 50,35 Nguồn: Tổng hợp từ website www.molisa.gov.vn [11] Phụ lục 7 Xếp hạng chỉ số phát triển con người của Việt Nam Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 Các nước tham gia xếp hạng 177 177 182 177 182 169 187 187 Xếp hạng của Việt Nam 108 109 116 105 116 113 128 127 Nguồn: Tổng hợp từ website: www.undp.org.vn [153] Phụ lục 8 Nguồn vốn chi hàng năm cho công tác bảo vệ môi trường (Đơn vị: tỷ đồng) Năm Tổng số Trung ương Địa phương Phần trăm trong tổng chi ĐTPT từ NSNN Vốn % trong tổng đầu tư Vốn % trong tổng đầu tư 2006 1429,0 230 16 1990 84 1,8 2007 1815,4 400 22 1415,4 78 1,9 2008 1775,4 330 18,5 1445,4 81,5 1,8 2009 2109,7 420 19,9 1689,7 80,1 2,1 2010 2468,9 450 18,2 2018,9 81,8 2,1 2011 2954,3 580 19,6 2374,3 80,4 2,1 Tổng 12.552,7 2410 19 10142,7 81 2,0 Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư [10] Phụ lục 9 Tỷ lệ cán bộ làm công tác quản lý môi trường ở một số quốc gia (Đơn vị: số người/1 triệu dân) Quốc gia Việt Nam Trung Quốc Thái Lan Malaixia Singapore Số người 13 20 30 100 330 Nguồn: Nguyễn Văn Nam, Trần Thọ Đạt [102] Phụ lục 10 Theo số liệu quyết toán thu ngân sách Nhà nước năm 2007 thì số thu từ hoạt động khai thác dầu khí chiếm 24% tổng thu ngân sách nhà nước (khoảng hơn 78 tỷ đồng), thu từ hoạt động thuế tài nguyên cho ngân sách là hơn 23 tỷ đồng, chiếm hơn 7,3% tổng thu ngân sách và hơn 13,1% tổng thu nội địa. Từ đây có thể thấy chính nguồn thu từ các hoạt động khai thác TNTN có vai trò to lớn đối với nền kinh tế. Trong những năm gần đây, đóng góp của ngành khai khoáng chiếm tới hơn 10% GDP. Theo số liệu quyết toán thu ngân sách năm 2007 thì số thu từ dầu khí đã tăng lên tới 24% tổng số thu ngân sách, thu từ thuế tài nguyên chiếm 7,32% tổng thu ngân sách. Năm 2009, doanh thu từ xuất khẩu khoáng sản đạt 8,5 tỷ USD, trong đó riêng dầu thô đạt 6,2 tỷ USD, chiếm tỷ trọng khá lớn, khoảng 25%, trong doanh thu ngân sách nhà nước. Nguồn: Tổng hợp tại các trang web: monre.gov.vn, vietnamnet.vn [12], [154] Phụ lục 11 - Theo đánh giá của Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam, phần lớn hồ, ao, kênh, mương, các đoạn sông trong các đô thị, khu dân cư, đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, một số chỉ số như nồng độ oxy sinh học (BOD), chất rắn lơ lửng đã vượt quy chuẩn cho phép đến hàng chục lần. Cụ thể hàm lượng BOD (mg/l) trên sông Cầu là 5-10mg/l; sông Nhuệ-Đáy 5-10mg/l; sông Sài Gòn 7-15mg/l; sông Đồng Nai 4-6mg/l. - Phần lớn các đô thị trên cả nước và hơn 35% khu công nghiệp, khu chế xuất chưa có hệ thống xử lý chất thải tập trung, hoặc có nhưng không đáp ứng yêu cầu - Ô nhiễm ở các làng nghề tồn tại từ rất lâu nhưng chưa có biện pháp khắc phục và giải quyết hiệu quả. Chỉ tính đến tháng 7/2011, cả nước có 3.355 làng nghề, trong đó có 1.318 làng nghề được công nhận. Qua khảo sát 52 làng nghề điển hình, có tới 46% làng nghề có môi trường bị ô nhiễm nặng, 27% làng nghề ô nhiễm vừa và mức độ ô nhiễm của các làng nghề đều có xu hướng gia tăng. - Hầu hết chất thải rắn sinh hoạt ở đô thị và nông thôn chưa được phân loại tại nguồn. Vẫn còn trên 60% số xã ở khu vực nông thôn chưa tổ chức thu gom rác thải. - Hàng năm ước tính tổng lượng phân bón vô cơ sử dụng trong canh tác nông nghiệp vào khoảng 2,5-3 triệu tấn, trong đó có đến 50-70% không được cây trồng hấp thụ thải ra môi trường. Riêng lượng thuốc bảo vệ thực vật tồn lưu cần tiêu hủy trên cả nước khoảng 90 tấn, 75 tấn bao bì đựng thuốc bảo vệ thực vật vẫn còn tồn đọng từ trước đến nay.    - Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, ô nhiễm môi trường tại Việt Nam những năm qua gây thiệt hại cho nền kinh tế tới 5,5% giá trị GDP. Nguồn: Tổng hợp từ www.canhsatmoitruong.gov.vn [42] Phụ lục 12 - Theo Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên hoang dã thế giới (WWF), sự cạn kiệt tài nguyên của Trái Đất do chính con người gây nên. Nhân loại hiện đang sử dụng vượt quá 50% nguồn TNTN mà Trái Đất có thể cung cấp. Từ năm 2008, nhân loại đã cần tới 18,2 tỷ héc ta đất nhưng Trái Đất chỉ có 12 tỷ héc ta đất có thể canh tác. WWF cảnh báo kể từ năm 1970 đến năm 2008, 28% đa dạng sinh học của Trái Đất đã biến mất. Đa dạng sinh học ở các khu vực nhiệt đới đã giảm tới 61%  và ở các khu vực ôn đới giảm 31%.  - Nghiên cứu mới nhất của Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) cho biết, mỗi năm thế giới mất tới 13 triệu hécta rừng nhiệt đới, tương đương diện tích của Hy Lạp. - Theo báo cáo mới nhất của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), năm 2010 có tới 30,6 tỷ tấn CO2 phát thải vào bầu khí quyển, chủ yếu do hoạt động đốt nhiên liệu hóa thạch, tăng 1,6 tỷ tấn so với năm 2009.  Nguồn: Tổng hợp từ website www.canhsatmoitruong.gov.vn [42] Phụ lục 13 Biến đổi khí hậu là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21. Nó đang ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh thái, TN - MT và cuộc sống của con người. Biến đổi khí hậu làm cho: 1. Mực nước biển dâng: do nhiệt độ trên trái đất ngày càng tăng, khiến các tảng băng tan nhanh hơn. Nằm ở giữa Australia và quần đảo Hawaii (Mỹ) trên Thái Bình Dương, phần lớn lãnh thổ Tuvalu (gồm 9 đảo san hô vòng) cách mực nước biển chưa tới 0,9 m. Nơi cao nhất của nước này chỉ cách mực nước biển 4,5 m. Vì thế mà Tuvalu đang đối mặt với nguy cơ bị nước biển nhấn chìm do tình trạng ấm lên toàn cầu.  2. Băng tan: diện tích của các dòng sông băng trên toàn thế giới đang dần bị thu hẹp lại. Vùng lãnh nguyên (vùng đất cao nơi cây cối không thể sinh trưởng và phát triển) từng bị lớp băng vĩnh cửu bao phủ, nay dưới tác động của nhiệt độ cao, lớp băng đã tan chảy và sự sống của các loài thực vật trên vùng đất này cũng đã xuất hiện. 80% diện tích băng trên đỉnh Kilimanjaro tại Tanzania đã biến mất trong 50 năm qua.  3. Nắng nóng: Trong 50 năm trở lại đây, tần suất xảy ra các đợt nắng nóng đã tăng từ 2- 4 lần. Nhiều khả năng trong 40 năm tới, số lượng các đợt nắng nóng sẽ tăng 100 lần. Theo các chuyên gia, nắng nóng sẽ làm tăng số vụ cháy rừng, các loại bệnh dịch, và mức nhiệt độ trung bình trên hành tinh trong tương lai cũng sẽ tăng theo. 4. Bão và lũ lụt: Số liệu thống kê cho thấy, chỉ trong vòng 30 năm gần đây, những cơn bão mạnh cấp 4 và cấp 5 đã tăng lên gấp đôi. Những vùng nước ấm đã làm tăng sức mạnh cho các cơn bão. Chính mức nhiệt cao trên đại dương và trong khí quyển, đẩy tốc độ cơn bão đạt mức kinh hoàng. Việt Nam mất hàng trăm sinh mạng và hàng triệu USD mỗi năm do thiên tai lũ lụt, hậu quả của biến đổi khí hậu.  5. Hạn hán: Các chuyên gia ước tính tình trạng hạn hán sẽ tăng ít nhất 66% do khí hậu ngày càng ấm hơn. Hạn hán xảy ra thường xuyên sẽ thu hẹp nguồn cung cấp nước, làm giảm chất lượng các sản phẩm nông nghiệp, khiến nguồn cung ứng lương thực toàn cầu trở nên bấp bênh. Hội đồng liên chính phủ về biến đổi khí hậu tại châu Phi cho rằng, tới năm 2020, sẽ có 75 - 250 triệu dân châu Phi không có nước sử dụng và sản lượng nông nghiệp của châu lục này cũng sẽ giảm 50%.  6. Dịch bệnh: Nhiệt độ ngày càng tăng kết hợp với lũ lụt và hạn hán đang trở thành mối đe dọa với sức khỏe dân số toàn cầu. Bởi đây là môi trường sống lý tưởng cho các loài muỗi, những loài ký sinh, chuột và nhiều sinh vật mang bệnh khác phát triển mạnh. 7. Thiệt hại kinh tế: Bão lụt cùng với những tổn thất trong ngành nông nghiệp đã gây thiệt hại hàng tỷ USD. Bên cạnh đó, các chính phủ cũng cần một lượng tiền lớn để xử lý và kiểm soát sự lây lan dịch bệnh. Năm 2005, cơn bão lịch sử đã đổ bộ vào Louisiana, khiến mức thu nhập của người dân nơi đây giảm 15% trong những tháng sau cơn bão, và thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 135 tỷ USD. Theo dự đoán của Viện nghiên cứu Môi trường và phát triển toàn cầu tại Đại học Tufts, Mỹ, chi phí cho cuộc chiến chống biến đổi khí hậu tới năm 2100 sẽ đạt 20 ngàn tỷ USD.  8. Giảm đa dạng sinh học: Nhiệt độ gia tăng đã đẩy nhiều loài sinh vật tới bờ vực suy giảm số lượng hoặc tuyệt chủng. Nếu mức nhiệt độ trung bình tăng từ 1,1ºC - 6,4ºC, 30% loài động thực vật hiện nay sẽ có nguy cơ tuyệt chủng vào năm 2050.  9. Hủy diệt hệ sinh thái: Những thay đổi trong điều kiện khí hậu và lượng khí carbon dioxide tăng nhanh chóng đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới hệ sinh thái, nguồn cung cấp nước ngọt, không khí, nhiên liệu, năng lượng sạch, thực phẩm và sức khỏe. Cả hệ sinh thái trên cạn và dưới nước đều đang phải hứng chịu những tác động từ lũ lụt, hạn hán, cháy rừng, cũng như hiện tượng axit hóa đại dương. Sự biến mất của các rạn san hô diễn ra đặc biệt nghiêm trọng ở Sri Lanka, Kenya, Maldives, Tanzania. Nguồn: website: www.hawacom.vn

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docluan_an_vai_tro_cua_nha_nuoc_trong_viec_ket_hop_giua_tang_tr.doc
  • docThong tin.doc
  • docTom tắt tiếng anh (1).doc
  • docTom tat tieng Viet.doc
Tài liệu liên quan