Mâu thuẫn biện chứng & biểu hiện của nó trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở Việt Nam

A.Phần mở đầu: 1. Lý do chọn đề tài. Nước ta đang trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội vì vậy việc đề ra một đường lối, một chiến lược phát triển kinh tế phù hợp là hết sức quan trọng. Trong những năm gần đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng nền kinh tế nước ta đã có nhiều tiến triển, cơ cấu kinh tế, có sự chuyển dịch tiến bộ và phù hợp hơn với điều kiện mỹ quan trong nước. Một trong những nguyên nhân làm nên sự tăng trưởng đó là việc bước đầu hình thành nền kinh tế nhiều thành phần vận động

doc29 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1244 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Mâu thuẫn biện chứng & biểu hiện của nó trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Đất nước ta đã trải qua hai cuộc chiến tranh sau đó lại trải qua thời kỳ bao cấp khó khăn đại hội Đảng lần thứ VI “12-1985” đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, Đảng ta đã khẳng định phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là một chủ trương chiến lược lâu dài trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Việc chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần chính là để giải phóng sức lao động, động viên tối đa mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội, cải thiện đời sống nhân dân. Động lực để phát triển nền kinh tế nhiều thành phần chủ yếu là sự đấu tranh giữa hai mặt đói lập tồn tại sẵn trong nền kinh tế. Để có cái nhìn cụ thể hơn về nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta em đã chọn đề tài “Mâu thuẫn biện chứng và biểu hiện của nó trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở Việt Nam” Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và hướng dẫn tận tính của các thầy cô đã giúp em hiểu sâu sắc hơn và hoàn thành bài tiểu luận này. B. Nội dung chính Lý luận chung Quy luật mâu thuẫn trong biện chứng duy vật. Mâu thuẫn là khái niệm chỉ sự liên hệ tác động qua lại giữa các mặt đối lập, mỗi mâu thuẫn là một mặt đối lập trong cùng mộ sự vật vừa thống nhất với nhau vừa thường xuyên đấu tranh với nhau. Trong các sự vật, hiện tượng bao giờ cũng có các mặt đối lập tồn tại, chúng thống nhất với nhau và là cơ sơ cho sự tồn tại của sự vật đó, biểu hiện tính ổn định tương đối của sự vật đó. Sự thống nhất đó cũng tồn tại lên một mâu thuẫn khi mới xuất hiện mâu thuẫn biểu hiện ở sự khác nhau giữa hai mặt trong sự vật. Sự khác nhau đó dần trở thành đối lập – mâu thuẫn thể hiện rõ nét hơn khi hai mặt đối lập đấu tranh với nhau. Sự đấu tranh phát triển gay gắt lên đến đỉnh cao thì xảy ra xung đốt giữa hai mặt đối lập. Hai mặt đó chuyển hoá lẫn nhau trong những điều kiện nhất định tức là mâu thuẫn được giải quyết. Mâu thuẫn cũng mất đi, mâu thuẫn mới ra đời, sự vật cũng mất đi, sự vật mới ra đời thay thế nó. Trong sự vật mới, hình thành và tồn tại một sự thống nhất mới, các mặt đối lập lại đấu tranh với nhau, mâu thuẫn lại phát triển và lên tới đỉnh cao thì lại được giải quyết đó là sự chuyển hoá lẫn nhau của các mặt đối lập trong những điều kiện xác định vật cũ mất đi, vật mới được sinh ra thay thế. Cứ như vậy sự đấu tranh giữa các mặt đối lập diễn ra thường xuyên làm cho sự vận động, phát triển không ngừng, mâu thuẫn chính là nguồn gốc của sự phát triển, là động lực cho sự phát triển trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, các thành phần kinh tế có sự thống nhất và có sự đối lập với nhau. Thống nhất ở chỗ mục đích chung của các thành phần kinh tế là sự phát triển của nền kinh tế, sự phát triển của đất nước. Để là cho dân giầu nước mạnh. Nhưng mỗi thành phần kinh tế, đứng phía sau là những chủ thể với những mục đích, lợi ích riêng dẫn đến cạnh tranh đối lập với nhau. Vậy, các thành phần kinh tế chính là các mặt đối lập trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Trong đó mâu thuẫn giữa chúng là luôn luôn tồn tại và không thể phủ nhận được. Giải quyết được những mâu thuẫn đó mới có thể phát triển nền kinh tế nước ta theo đúng hướng của Đảng và có hiệu quả. Câu hỏi đặt ra là tại sao chúng ta lại chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Để làm rõ, trước hết chúng ta nền tìm hiểu một vài nét về nền kinh tế cũ đã tồn tại một thời gian dài ở nước ta. II. Nền kinh tế bao cấp. 1. Khái niệm. Nền kinh tế bao cấp là nền kinh tế sản xuất theo kế hoạch, phân phối, theo kế hoạch quyền lực nằm trong tay Nhà nước. 2. Đặc điểm của nền kinh tế bao cấp. Nước ta trải qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ với nhiều hậu quả nghiêm trọng. Đất nước ta bị tàn phá, kinh tế trí trệ kém phát triển cơ sở hạ tầng thiếu thốn bị phá huỷ. Chúng ta phải nhanh chóng khắc phục tình trạng đó để đảm bảo đời sống nhân dân, khắc phục kinh tế đưa nước ta tiến lên theo con đướng chủ nghĩa xã hội với bản chất là một quy luật kinh tế trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, với những ưu điểm của mình, nền kinh tế bao cấp đã được duy trì, tồn tại trong một thời gian dài và đem lại nhiều thành tựu. Điển hình là việc tăng năng suất và sự thành công của các kế hoạch 5 năm. a. Ưu điểm của nền kinh tế bao cấp: Nền kinh tế bao cấp tạo ra công ăn việc làm cho toàn xã hội không tạo ra tình trạng thất nghiệp (có những hạn chế). Đó là nền kinh tế phát triển theo kế hoạch vì vậy nó tạo sực mạnh cho nền kinh tế Nhà nước nhằm giữ vai trò chủ chốt, điều phối toàn bộ nền kinh tế dẫn đến có thể tập trung phát triển một số ngành công nghiệp mũi nhọn chủ chốt. Bên cạnh những ưu điểm đó, nhược điểm của nó cũng không phải là ít. Do có chế độ phân phối sản phẩm, chia công, tính công điểm trong sản xuất. Người làm ít, kẻ làm nhiều nhưng lợi ích được phân chia ngang nhau chạy theo số lượng mà bỏ qua chất lượng. Điều đó không khuyến khích được người dân sản xuất sinh ra tư tưởng ỷ lại chỉ làm đủ công không phát huy tinh thần sáng tạo trong sản xuất với việc phân phối chế độ tem phiếu, cuộc sống của người dân thiếu thốn, khổ cực, bên cạnh đó lại sinh ra thái độ hách dịch, cửa quyền. Nhiều kế hoạch đề ra, cán bộ lãnh đạo chạy theo thành tích, số lượng mà không quan tâm đến đời sống thực sự của người dân, sản xuất kinh doanh theo kế hoạch nên không đáp ứng được nhu cầu thực tiễn của thị trường. Tập trung vào phát triển công nghiệp nặng mất nhiều vốn mà thị trường trong nước lại không có nhu cầu. Trước đây do có sự viện trợ của Liên Xô, xuất được sản phẩm sang nước Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa nhưng sau khi chiến tranh kết thúc, viện trợ lại bị cắt giảm. bên cạnh đó, máy móc lạc hậu, sản phẩm kém chất lượng, không có khả năng cạnh tranh trong khi đó các ngành công nghiệp nhẹ yêu cầu vốn ít, quay vòng vốn nhanh, thị trường rộng không lại không được chú trọng, trong nước, các sản phẩm tư liệu sinh hoạt, tiêu dùng thiếu thốn. Một số tư nhân có khả năng đứng ra kinh doanh đáp ứng nhu cầu cho nhân dân không cạnh tranh được với Nhà nước. Nhà nước độc quyền trong sản xuất và phân phối. Không thể tồn tại một hình thức sở hữu, không thành phần kinh tế nào khác ngoài tập thể và Nhà nước. III. Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. 1. Khái niệm. Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là nền kinh tế có sự tham gia của nhiều thành kinh tế khác nhau dưới sự quản lý của Nhà nước. * Các thành phần kinh tế bao gồm Kinh tế quốc doanh Kinh tế tập thể Kinh tế cá thể tiểu chủ Kinh tế tư bản Nhà nước Kinh tế tư bản tư nhân Kinh tế liên doanh, đầu tư 2. Đặc điểm. Là nền kinh tế hiện đại với các thành phần kinh tế cùng hoạt động dưới sự quản lý của Nhà nước trong đó kinh tế Nhà nước chiếm vai trò của đạo, Nhà nước vẫn giữa vai trò quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế. Nội dung quan trọng hay mục tiêu của nền kinh tế là mở cửa hội nhập với thế giới trên cơ sở bình đẳng, hợp tác, giữ vững chủ quyền quốc gia, bảo đảm việc phân chia lợi ích một cách công bằng. 3. Tính tất yếu của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Trong quá trình tồn tại nền kinh tế cũ, các thành phần kinh tế mới, kinh tế tư nhân bước đầu hình thành và phát triển tuy không có quy mô lớn vì phải cạnh tranh với các thành phần kinh tế thuộc quyền quản lý của Nhà nước. Thành phần kinh tế cá thể tư nhân có khả năng đóng góp nhiều lợi ích cho xã hội như tiền vốn, sức lao động, kinh nghiệm truyền thống có phạm vi rộng lớn trong cả nước và trong tất cả các lĩnh vực kinh tế. Nó có khả năng thúc đầy nền kinh tế phát triển nhưng lại bị cơ chế quản lý cũ, cơ chế tập trung quan liêu bao cấp phủ định làm kìm hãm. Ngoài mâu thuẫn đó còn tồn tại mâu thuẫn về chế độ sở hữu. Mấy năm trước đây ta xoá bỏ chế đổ tư hữu xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Chế độ công hữu đã bao gồm sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Ví dụ hợp tác xã nông nghiệp tất cả tư liệu sản xuất đều là của chung, mọi người dùng chung, làm chung, hưởng chung(chia bình quân sản phẩm, chia theo công điểm). Từ đó nảy sinh tính ỉ lại không có sự cạnh tranh, làm việc không có hiệu quả, tập trung vào số lượng và bỏ qua chất lượng không biết bảo vệ của công vì “cha chung không ai khóc” vì vậy, đại hội Đảng lần thứ 6 của Đảng đã phát hiện và kiên quyết sửa chữa, phải gắn sở hữu với lợi ích kinh tế vì lợi ích kinh tế chính là bản chất kinh tế của xã hội. Nước ta phát triển theo đường lối xã hội chủ nghĩa từ chế độ phong kiến, bỏ qua tư bản chủ nghĩa, coi tư bản chủ nghĩa là kẻ thù, là đối thủ trên mọi chiến trường chính trị, kinh tế chủ nghĩa tư bản với sự tiến bộ khoa khọc kỹ thuật với đường lối quản lý tiến bộ đã đạt được một thành tựu to lớn trong lĩnh vực phát triển kinh tế, xây dựng một nền kinh tế năng động, linh hoạt. Nứơc ta muốn xây dựng một nền kinh tế năng động như vậy nhưng không thể dập khuôn theo các nước tư bản chủ nghĩa vì nó mâu thuẫn với những điều kiện trong nước và với đường lối đổi mới, phát triển đất nước. Việc thu hút đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài là một điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế nhưng nếu không kiểm soát có thể đem lại hậu quả, đó là sự lệ thuộc kinh tế vào các nước tư bản dẫn đến có thể phải chịu áp lực về chính trị, lệ thuộc về chính trị. Vì vậy, sự vận động của tất cả các mâu thuẫn ấy dẫn tới tất yếu là phải đổi mới nền kinh tế nước ta, xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa và có sự quản lý của Nhà nước. Sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần sẽ khắc phục được tình trạng cửa quyền, tạo ra động lực cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế, thúc đầy nền kinh tế hàng hoá phát triển, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là đặc trưng cơ bản của kinh tế quá độ vừa là một sự tất yếu, cần thiết, vừa là phương tiện để đạt được mục tiêu của nền sản xuất xã hội. Nó tạo cơ sở làm chủ cho kinh tế vừa bảo đảm kết hợp hải hoà hệ thống lợi ích kinh tế. Đó chính là động lực cho sự phát triển. Tất yếu phải xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần để thay thể nền sản xuất cũ để cải thiện đời sống của nhân dân đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Là cơ sở để xây dựng một nền kinh tế năng động, linh hoạt, có khả năng tích ứng với sự biến đổi không ngừng của nền kinh tế thế giới. Tạo ra một cơ chế thông thoáng, xoá bỏ cơ chế quản lý tập trung bao cấp rườm rà, cải thiện chính sách đầu tư để thu hút vốn đầu tư của các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, mở cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam kinh doanh tạo ra một môi trường có tính cạnh tranh cao trong đó các doanh nghiệp Nhà nước muốn tồn tại được bên cạnh các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài thì phải tự mình đổi mới công nghệ, cách quản lý, hiện đại kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm và uy tín của mình nếu không sẽ bị đào thải. Qua đó khuyến khích các thành phần kinh tế tư nhân phát triển, loại bỏ được sức ì trong xã hội kể cả những người quản lý và những người lao động. Như vậy nền kinh tế nước ta mới có thể phát triển đuổi kịp và hoà nhập với tất cả các nước trên thế giới. Vậy việc xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là sự lựa chọn đúng đắn nhất để phát triển được vai trò của nó . Kinh tế thị trường định hưỡng xã hội chủ nghĩa là gì? 1.1. Kinh tế thị trường và những đặc điểm của kinh tế thị trường. Như đã biết, vào cuối thời kỳ công xã nguyên thuỷ, đầu thời kỳ xã hội nô lệ loại người đã có một bước tiến nhảy vọt trong lĩnh vực sản xuất ra của cải vật chất. Trong sản xuất đã bắt đầu có sản xuất thặng dư, tức là phần sản phẩm nhảy vọt quá phần sản phẩm tất yếu do người sản xuất tạo ra. Mặc dù lúc đầu sự dư thừa đó chỉ là ngẫu nhiên nhưng cùng với chế độ tư hữu được xác lập, người lao động đã có thể làm chủ những sản phẩm dư thừa đó, mang trao đổi với nhau để nhận lại những sản phẩm mà mình thiếu do kết quả phân công chuyên môn hoá đưa lại thị trường sơ khai xuất hiện từ đó. Tuy nhiên, phải trải qua quá trình phát triển lâu dài, mãi đến giai đoạn cuối xã hội phong kiến đầu xã hội TBCN kinh tế thị trường mới được xác lập, và phải đến cuối giai đoạn phát triển của CNTB tự do cạnh tranh thì kinh tế thị trường mới được xác lập hoàn toàn. Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá với những đặc trưng riêng của nó là người làm ra sản phẩm với mục đích đi bán (để trao đổi) chứ không phải tiêu dùng hay ngẫu nhiên như trước. Đặc trưng đó ngày càng được bổ sung phong phú thêm. Như vậy kinh tế thị trường phát triển từ sơ khai đến hiện đại là một công trình sáng tạo của loài người trong quá trình sản xuất và trao đổi đó là trình độ văn minh mà nhân loại đạt được. Do đó mọi quan điểm cho rằng kinh tế thị trường là phát minh riêng của chủ nghĩa tư bản là không có căn cứ. Việc đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản rồi nó tránh, hoặc sử dụng nó như một công cụ tạm thời, hoặc coi việc áp dụng kinh tế thị trường là mặc nhiên chấp nhận con đường TBCN.... Đều có thể dẫn đến sai lầm đáng tiếc. Ngay trong văn kiện đại hội VIII Đảng ta đã khẳng định “sản xuất hàng hoá là thành tựu văn minh chung của nhân loại”, chúng ta không chỉ kiên định “không bỏ qua kinh tế hàng hoá ” mà còn khẳng định kinh tế hàng hoá còn tồn tại khách quan cho đến khi chủ nghĩa xã hội được xây dựng . lần này trong dự thảo văn kiện đại hội IX tiếp tục khẳng định “Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nói gọn là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. 2.1. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và những yêu cầu của nó. a. Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. - Kinh tế thị trường khác hẳn với nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp trước kia sự cạnh tranh nghiên cứu dưới góc độ quan điểm toàn diện chúng ta nhận thấy rằng một mặt nền kinh tế thị trường làm cho cạnh tranh thúc đẩy khoa khọc phát triển, tiếp thu được các công nghệ và bí quyết mới. Nhưng mặt khác cạnh tranh cũng làm cho hàng loạt Xí nghiệp doanh nghiệp bị phá sản. Đó là do kinh tế thị trường bao hàm cả hai mặt tích cực và tiêu cực. - Về mặt tích cực: Kinh tế thị trường tạo ra được những con người năng động, quyết đoán có được nhiều kinh nghiệm sau những lần cạnh tranh thắng lợi hay thất bại từ đó thúc đẩy lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động đẩy mạnh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, quá trình xã hội hoá lực lượng sản xuất. - Về mặt tiêu cực và hạn chế: phân hoá giầu nghèo quá xa, dẫn đến mọi cân bằng xã hội, xuất hiện mâu thuẫn xã hội. Sự phát triển mù quáng của các doanh nghiệp mang lẻ tất yếu dẫn đến khủng hoảng kinh tế. Xuất hiện nhiều tệ nạn xã hội, quá coi trọng đồng tiền xem thường đạo đức truyền thống. Vậy để phát triển kinh tế thị trường cần phải có sự tác động của Nhà nước để tiếp tục phát huy mặt tích cực hạn chế mặt tiêu cực. Điều đó đã được thể hiện rõ trong đường lối kinh tế ở nước ta là Nhà nước quản lý kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa gọi tắt là nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong lịch sử hình thành Nhà nước, chức năng hành chính công, lúc đầu chỉ “mở nhạt” đơn thuần là thu thuế của các tầng lớp dân cư hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng do tính tự phát của kinh tế thị trường đã gây ra những hậu quả ngày càng nặng nền mà xã hội phải gánh chịu, Nhà nước phải can thiệp sâu hơn vào kinh tế từ đó, chức năng kinh tế của Nhà nước cũng dần được xác định. Học thuyết của JMKên (nhà kinh tế học Anh, 1884-1946) là điển hình về sự kêu gọi phải có bàn tay “hữu hình” của Nhà nước can thiệp vào thị trường để hạn chế tính tự phát, tiêu cực của cơ chế thị trường. Tiếp sau học thuyết của Kên là nhiều học thuyết kinh tế với tên gọi khác nhưng chỉ tập trung bàn về việc Nhà nước nên can thiệp vào kinh tế như thế nào mức độ, thời điểm sao cho hiệu quả cao. Do đó, việc can thiệp vào quá trình kinh tế (quản lý kinh tế vĩ mô) đã được coi là đương nhiên, mang tính quy luật của kinh tế thị trường và việc định hướng phát triển của nền kinh tế đó cũng hoàn toàn phụ thuộc vào bản chất giai cấp của Đảng cầm quyền. Chúng ta biết rằng, Nhà nước là sản phẩm của đấu tranh giai cấp, là công cụ của giai cấp cầm quyền, Nhà nước can thiệp vào kinh tế thị trường ngay từ buổi bình minh của nó để đẩy nhanh quá trình tích luỹ nguyên thuỷ và tư bản, nhằm hình thành và phát triển chủ nghĩa tư bản, ngay cả sau này, khi Nhà nước tư bản chủ nghĩa ban hành các đạo luật chống độc quyền cũng quyết không phải vì lợi ích của giai cấp cần lao, mà vẫn là vì lợi ích toàn cục của chế độ TBCN nói chung vì các tập đoàn tài chính nói riêng. Vì thế việc Nhà nước ta quản lý vĩ mô nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cho nền kinh tế thị trường là điều đương nhiên, phù hợp với tính quy luật đã hình thành trong thực tiễn. Ngay trong nghị quyết trung ương 4 khoá VIII Đảng ta đã khẳng định: Đổi mới và tăng cường quản lý Nhà nước vè kinh tế – xã hội coi đó như là một chính sách lớn để đảm bảo cho định hướng xã hội chủ nghĩa được thực hiện. Kinh tế thị trường định hướng Xí nghiệp chủ nghĩa thực chất là kiểu tổ chức nền kinh tế vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên những nguyên tắc bản chất của chủ nghĩa xã hội. Do đó kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có 2 nhóm nhân tố cơ bản tồn tại trong nhau, kết hợp với nhau và bổ sung cho nhau. Đó là nhóm nhân tố của kinh tế thị trường đóng vai trò như là “động lực” thúc đẩy sản xuất xã hội đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, đóng vai trò hướng dẫn, chỉ đạo sự vận đọng của nền kinh tế theo những mục tiêu đã được xác định. Kinh tế thị trường định hưỡng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế mở. Để mở cửa nền kinh tế tuỳ thuộc vào: thứ nhất, bối cảnh quốc tế, khu vực và năng lực nội sinh của nền kinh tế trong quá trình vươn ra tiếp cận với nền kinh tế thế giới, thứ hai, năng lực tổ chức, quản lý, điều hành của Nhà nước xã hội chủ nghĩa và khả năng nội sinh hoá có hiệu quả các yếu tố “ngoại sinh” (vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, trí thức kinh doanh...) du nhập vào nước ta. Như vậy, sự hiện diện của Nhà nước xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vừa với tư cách là bộ phận cấu thành trọng yếu (kinh tế Nhà nước ), vừa với tư cách là chủ thể tổ chức, xây dựng quan hệ quản lý vĩ mô nền kinh tế thị trường. Quản lý Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường là thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế một đặc trưng của kinh tế hiện đại. Đối với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chức năng đó được thực hiện bởi Nhà nước của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản. Sự điều tiết của Nhà nước thể hiện ở các mặt sau đây: Một là, Nhà nước tạo môi trườg pháp lý thuận lợi cho các cá nhân, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế hoạt động. ở nước ta hiện nay các cá nhân, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được quyền tự chủ sản xuất kinh doanh; các cá nhân, các doanh nghiệp khi lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh đều lấy lợi nhuận làm thước đo hiệu quả đồng thời làm mục tiêu định hướng các hoạt động kinh tế của mình, tất nhiên, tự chủ kinh doanh theo pháp luật và mọi hành vi đều phải tuân theo pháp luật. Do đó, Nhà nước phải xây dựng và ban hành một hệ thống pháp luật đầy đủ và đồng bộ như: luật về các quyền (sở hữu, chiếm hữu, sử dụng, thừa kế, chuyển nhượng....); luật hợp đồng; luật về sự bảo đảm của Nhà nước đối với các điều kiện khung của nền kinh tế (bảo hộ lao động, bảo vệ môi trường, chống hạn chế cạnh tranh, chăm sóc môi trường, chống hạn chế cạnh tranh, chăm sóc những người không có khả năng lao động, bảo hiểm xã hội...), luật thương mại,..... Hai là, Nhà nước tạo môi trường kinh tế – xã hội ổn định bằng cách xây dựng kết cấu hạ tầng sản xuất (trong đó quan trọng nhất là phát triển hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc) và kết cấu hạ tầng xã hội (trong đó quan trọng nhất là phát triển hệ thống giáo dục- đào tạo, y tế), cùng với các dịch vụ công cộng khác, như đảm bảo an ninh, dịch vụ tiêu dùng... Ba là, Nhà nước soạn thảo kế hoạch, quy hoạch, các chương trình phát triển kinh tế – xã hội và ban hành các chính sách để hướng các chủ thể thị trường thực hiện các kế hoạch, quy hoạch và chương trình ấy thông qua các chính sách tài chính, tiền tệ, sử dụng các đòn bẩy kinh tế như: ưu đãi về thuế, về lãi suất cho vay cho những ai đầu tư vào lĩnh vực mà Nhà nước khuyến khích. Một vấn đề quan trọng là, Nhà nước ta quản lý nền kinh tế thị trường định hưỡng xã hội chủ nghĩa “theo nguyên tắc kết hợp thị trường với kế hoạch hoá, phát huy mặt tích cực, hạn chế, khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động, của toàn thể nhân dân”. Có một số người cho rằng, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường thì Nhà nước đừng có can thiệp vào kinh tế và kế hoạch hoá vĩ mô của Nhà nước cũng không còn cần thiết nữa. Quan niệm đó là giản đơn, hoàn toàn sai lầm và không có căn cứ lý luận và thực tiễn. Mọi người đều thấy rằng, trong tất cả các mô hình kinh tế được đúc kết đến nay trrên thế giới đều có cả hai dạng điều tiết kinh tế, một là, điều khiển trực tiếp bằng kế hoạch hoá và các biện pháp hành chính; hai là, điều tiết gián tiếp thông qua thị trường, vận dụng cơ chế thị trường để tác động đến các hoạt động của các doanh nghiệp, dùng các đòn bẩy kinh tế để khuyến khích hoặc gây áp lực buộc các doanh nghiệp phát triển trong khuôn khổ theo hướng kế hoạch do Nhà nước đề ra. Hai dạng điều tiết kinh tế này chỉ khác nhau ở mức độ, liều lượng và hình thức trong cơ chế chung. Sở dĩ như vậy là vì, với tư cách là công cụ điều tiết vĩ mô, là biện pháp, thủ đoạn kinh tế, cả kế hoạch hoá và thị trường đều có những ưu thế và khuyết tật của nó. Thực chất của vấn đề kế hoạch hoá và thị trường – xét từ góc độ Nhà nước – là sự kết hợp giữa điều khiển trực tiếp bằng kế hoạch và điều khiển gián tiếp thông qua cơ chế thị trường đối với các hoạt động trên thị trường, cũng như đối với các hoạt động kinh tế trong xã hội. Thực tế ngày càng chứng tỏ rằng, sẽ hợp lý hơn và hiệu quả hơn nếu thông qua kế hoạch hoá của Nhà nước điều tiết thị trường để thị trường điều tiết sản xuất và điều chỉnh hành vi của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quản lý nền kinh tế theo nguyên tắc kết hợp kế hoạch với thị trường sẽ càng có thêm điều kiện giải phóng lực lượng sản xuất, đẩy nhanh sự phát triển kinh tế xã hội. Qua 14 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước ta đã đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo các điều kiện để chuyển đổi nền kinh tế sang phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và quản lý Nhà nước nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng đã đem lại nhiều kết quả. Song, nhìn chung, ta còn thiếu tri thức và kinh nghiệm quản lý nền kinh tế thị trường, quản lý Nhà nước về kinh tế, xã hội còn nhiều yếu kém. Trong những năm tới, cần tiếp tục nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý kinh tế củ Nhà nước theo hướng: “Nhà nước thực hiện tốt các chức năng, định hướng sự phát triển, trực tiếp đầu tư vào một số lĩnh vực để cần đạt nổ lực phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thiết lập khuôn khổ luật pháp, có hệ thống chính sách nhất quán để tạo môi trường ổn định và thuận lợi cho giới kinh doanh làm ăn phát đạt, khắc phục, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân, quản lý tài sản công và kiểm kê, kiểm soát toàn bộ hoạt động kinh tế – xã hội. Thực hiện đúng chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế và chức năng chủ sở hữu tài sản công của Nhà nước. Cán bộ và các cấp chính quyền không can thiệp vào chức năng quản lý kinh doanh và quyền tự chủ hạch toán của doanh nghiệp. b. Kế hoạch hoá trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta: Đối với nước ta, giải quyết mối quan hệ giữa thị trường và Nhà nước trong điều tiết, quản lý nền kinh tế cũng còn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn phải nghiên cứu. chẳng hạn như: Thứ nhất, sử dụng cơ chế thị trường đến đâu và như thế nào để phát huy được mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của nó. Thứ hai, với chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước thì kế hoạch hoá được sử dụng như là một trong những công cụ lao động kinh tế vĩ mô như thế nào để đạt được tăng trưởng lâu bền và đảm bảo được định hướng xã hội chủ nghĩa. Ngày nay, kế hoạch hoá được hiểu theo nghĩa rộng nhất bao gồm toàn bộ các hành vi can thiệp một cách có chủ định của Nhà nước vào nền kinh tế để đạt được những mục tiêu đã đề ra. Kế hoạch trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN cũng khác với kế hoạch hoá trước đây nếu trước đây kế hoạch hoá chỉ giới hạn trong phạm vi khu vực kinh tế Nhà nước, thì bây giờ kế hoạch hoá phải bao hàm tổng thể nền kinh tế quốc dân với nhiều thành phần kinh tế và phải nhấn mạnh đến vấn đề quy hoạch, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội v..v... Nhìn nhận kế hoạch hoá với tư cách là một chức năng cơ bản của quản lý kinh tế, thị trường với tư cách là một lĩnh vực hoạt động của đời sống kinh tế xã hội thì mối quan hệ giữa kế hoạch và thị trường có thể hiểu theo cách thị trường vừa là đối tượng, vừa là cơ sở của kế hoạch hoá. Từ Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khoá VI đã khẳng định: “Trong nền kinh tế hàng hoá có kế hoạch. Thị trường vừa là một công cụ vừa là một đối tượng của kế hoạch hoá”. Sự phát triển nền kinh tế hiện nay lệ thuộc rất nhiều vào những yếu tố môi trường, chứ không chỉ lệ thuộc vào sự điều hành và mong muốn của Chính phủ. Ví dụ như môi trường khu vực, môi trường quốc tế, môi trường địa kinh tế, môi trường thiên nhiên..v... vì thế, các mục tiêu trong kế hoạch chỉ mang tính dự báo, tính định hướng và kế hoạch không bao gồm kế hoạch sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Thứ ba, thị trường là khách quan, kế hoạch là sản phẩm chủ quan của Nhà nước, của ngành, của địa phương... vậy xử lý mối quan hệ giữa cái khách quan và cái chủ quan ở đây như thế nào cho phù hợp trong một cơ chế để phát huy tác dụng cao nhất. Nhìn nhận kế hoạch hoá thị trường với tư cách là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô của Nhà nước, thì thực chất của vấn đề kế hoạch hoá và cơ chế thị trường được coi là sự kết hợp giữa điều khiển trực tiếp bằng kế hoạch hoá và điều khiển trực tiếp bằng kế hoạch hoá và điều khiển gián tiếp thông qua cơ chế thị trường đối với các hoạt động trên thị trường cũng như đối với các hoạt động kinh tế trong xã hội. Đổi mới kế hoạch hoá trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Với cách đặt vấn đề như trên, cần thấy rằng; kế hoạch hoá là một trong những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô quan trọng của Nhà nước nhằm đạt tăng trưởng lâu bền và đảm bảo định hướng XHCN. Vì thế đổi mới công tác kế hoạch hoá từ tư duy, quan điểm định hướng, nội dung quy trình lập và điều hành cho đến cơ cấu tổ chức và cách thức chỉ đạo, kế hoạch là một nội dung cơ bản của quá trình đổi mới công tác kế hoạch hoá hiện nay. Cơ chế vận hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Cơ chế đó đảm bảo tình huớng dẫn, điều khiển nền kinh tế nhiều thành phần hướng tới đích xã hội chủ nghĩa theo phương châm: Nhà nước điều tiết vĩ mô, thị trường hướng dẫn doanh nghiệp. Cơ chế đó thể hiện ở các mặt cơ bản: một là, Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhân tố đóng vai trò “nhân tố trung tâm” và điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Hai là, cơ chế thị trường là nhân tố đóng vai trò “trung gian” giữa Nhà nước và doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, sự quản lý vĩ mô của Nhà nước phải thích hợp với yêu cầu của các quy luật kinh tế thị trường. Nhà nước phải sử dụng chủ yếu các công cụ, biện pháp kinh tế, luật pháp, quy hoạch, kế hoạch định hướng, chính sách kinh tế – xã hội và khả năng, sức mạnh kinh tế của Nhà nước để tác động tới thị trường, điều tiết hoạt động của các doanh nghiệp cho phù hợp. Vì cơ chế thị trường có cả mặt tích cực và mặt tiêu cực, do đó đặt ra cho nền kinh tế thị trường định hướng XHCN phải kết hợp hài hoà 3 vấn đề sau đây: một là, kết hợp vấn đề lợi nhuận với vấn đề xã hội, đảm bảo cho các chủ thể kinh tế thị trường có được lợi nhuận cao, vừa tạo được điều kiện chính trị – xã hội bình thường cho sự phát triển kinh tế. Hai là, kết hợp chặt chẽ những nguyên tắc của kinh tế thị trường, như: phân phối theo lao động, theo vốn, theo tài năng, phân phói qua quỹ phúc lợi xã hội... Trong đó, nguyên tắc phân phối theo lao động là chính. Thứ ba, điều tiết phân phối thu nhập, một mặt, đòi hỏi Nhà nước phải có chính sách sao cho giảm bớt khoảng cách chênh lệch giữa lớp người giàu và lớp người nghèo...; mặt khác, phải có chính sách, biện pháp nâng cao thu nhập chính đáng của người giàu, người nghèo và của toàn xã hội. Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, do vậy nội dung kế hoạch không được phép chỉ giới hạn trong phạm vi khu vực kinh tế Nhà nước mà phải mang tính tổng thể toàn nền kinh tế. Việc đổi mới này sẽ tác động một cách sâu sắc đến tính dân chủ và công khai của kế hoạch. Những công cụ thường được áp dụng trong nền kinh tế kế hoạch hoá trước kia phải được thay thế bằng những công cụ, chính sách phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Liên quan chặt chẽ với những điểm trên là vấn đề quy hoạch. Quy hoạch được coi là cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch. Nhưng ở nước ta vấn đề quy hoạch cũng còn nhiều hạn chế, bất cập. Cần phải phân biệt rõ 2 loại quy hoạch: quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch đô thị và quy hoạch phát triển ngành. Thời gian qua quy hoạch sử dụng không gian, đặc biệt là quy hoạch đô thị chưa được chú ý đúng mứcc, quy hoạch sử dụng đất thì lại không ổn định. Điều này đã gây lãng phí cho cả Nhà nước lẫn mọi người dân. Quy hoạch phát triển ngành lại được chú ý quá mức, gần như ngành nào cũng có và hầu hết quy hoạch ngành lại được xác định trong điều kiện “tinh” và “đóng cửa”, không tính được đầy đủ những biến động trên thị trường thế giới, đó cũng là nguyên nhân dẫn đến nhiều doanh nghiệp, nhiều sản phẩm được hình thành theo quy hoạch không thể có sức cạnh tranh trên thị trường nếu được Nhà nước bảo hộ. Tư duy về quy hoạch cần đổi mới the._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docT0068.doc