Một số biện pháp thúc đẩy Xuất khẩu ở Việt Nam trong quá trình hội nhập AFTA

lời mở đầu Thế giới đã và đang diễn ra những biến đổi to lớn và sâu sắc. Các quốc gia trên thế giới phụ thuộc lẫn nhau trong mối quan hệ kinh tế, không có quốc gia nào phát triển mà không mở rộng mối quan hệ kinh tế đối ngoại, đặc biệt là ngoại thương. Xu hướng khu vực hoá và toàn cầu hoá càng thể hiện một cách rõ nét chẳng hạn như sự lớn mạnh của các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới: WTO, EU, ASEAN, APEC ... Thêm vào đó, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới diễn ra hết sức sôi độn

doc69 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1280 | Lượt tải: 1download
Tóm tắt tài liệu Một số biện pháp thúc đẩy Xuất khẩu ở Việt Nam trong quá trình hội nhập AFTA, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
g và phát triển như vũ bão . Sự phát triển của khoa học công nghệ đã đẩy nhanh quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới. Chính vì vậy, ngày nay hợp tác quốc tế đã trở thành yêu cầu tất yếu đối với sự phát triển đi lên cửa mỗi quốc gia. Hoà nhập với xu thế trên, trong công cuộc phát triển kinh tế ,xây dựng đất nước, đặc biệt là sau khi tiến hành đổi mới kinh tế xã hội, Đảng và Chính phủ Việt Nam rất coi trọng hoạt động kinh tế đối ngoại. Việc định ra một chiến lược phát triển kinh tế, trong đó đặc biệt coi trọng chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu, là một yêu cầu thực sự cấp bách đối với Việt Nam hiện nay. Chiến lược kinh tế hướng về xuất khẩu của Việt Nam phải hướng vào không ngừng mở rộng phân công và hợp tác quốc tế trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật, khai thác tối đa và có hiệu quả lợi thế so sánh của đất nước để phát triển kinh tế thông qua con đường xuất khẩu. Để thực hiện chiến lược trên, trong những năm qua Việt Nam đã không ngừng mở rộng quan hệ kinh tế với các nước trên thế giới, các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới. Việc gia nhập ASEAN (07/1995) đánh dấu một bước khởi đầu cho Việt Nam trong tiến trình hội nhập với các tổ chức kinh tế trên thế giới. Là thành viên của ASEAN, Việt Nam đã cam kết thực hiện CEPT/AFTA. Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) đặt cho Việt Nam những cơ hội và thách thức mới đối với hoạt động ngoại thương. Những cơ hội và thách thức này đỏi hỏi trong tiến trình thực hiện chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu, Việt Nam cần đặt ra cho mình các chính sách và biện pháp thúc đẩy xuất khẩu sao cho phát huy được những mặt lợi thế và khắc phục những mặt hạn chế. Xuất phát từ thực tế khách quan trên và dưới sự tận tình hướng dẫn của giáo viên, tôi chọn đề tài “Một số biện pháp thúc đẩy xuất khẩu ở Việt Nam trong quá trình hội nhập AFTA” cho luận văn tốt nghiệp của mình, với mong muốn từ sự phân tích thực trạng xuất khẩu của Việt Nam trong quá trình hội nhập AFTA, sẽ là cơ sở đánh giá các mặt ưu nhược điểm trong hoạt động xuất khẩu của Việt Nam.Từ đó đề ra một số biện pháp thúc đẩy xuất khẩu đối với Việt Nam trước thềm thế kỷ mới. Kết cấu luận văn trừ phần mở đầu và kết luận được chia làm ba chương chính: Chương 1: Xuất khẩu với xu thế hội nhập AFTA. Chương 2: Phân tích thực trạng xuất khẩu trong quá trình hội nhập AFTA. Chương 3: Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu trong quá trình hội nhập AFTA. Chương 1 Xuất Khẩu Với Xu Thế Hội Nhập AFTA 1.1-/ Vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế quốc dân. 1.1.1-/ Nguồn gốc hoạt động xuất khẩu. Xuất khẩu và nhập khẩu là nội dung quan trọng và cốt lõi của thương mại quốc tế. Vì vậy nghiên cứu nguồn gốc ra đời của hoạt động xuất khẩu trước hết ta nghiên cứu về nguồn gốc của thương mại quốc tế. Thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng hoá và dịch vụ giữa các nước thông qua mua bán. Hoạt động trao đổi giữa các quốc gia có vai trò vô cùng quan trọng đổi với nền kinh tế bởi thương mại quốc tế mở rộng khả năng sản xuất và tiêu dùng của một nước. Thương mại quốc tế cho phép một nước tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lượng nhiều hơn mức có thể tiêu dùng so với đường giới hạn khả năng sản xuất trong nước khi thực hiện chế độ đóng cửa, tự cung, tự cấp. Tiền đề xuất hiện sự trao đổi là phân công lao động xã hội, sự khác biệt về điều kiện tự nhiên và khả năng sản xuất. Với tiến bộ của khoa học kỹ thuật, phạm vi chuyên môn hoá ngày càng sâu rộng, số sản phẩm và dịch vụ thoả mãn nhu cầu con người ngày một dồi dào,sự phụ thuộc giữa các quốc gia ngày càng tăng. Điều này là tất yếu bởi thương mại quốc tế xuất hiện từ sự đa dạng về điều kiện tự nhiên sản xuất giữa các quốc gia dẫn tới việc chuyên môn hoá sản xuất một số mặt hàng có lợi thế để xuất khẩu và nhập khẩu các mặt hàng từ nước ngoài mà kém lợi thế khi sản xuất trong nước. Tuy nhiên, vì sao một quốc gia hoàn toàn kém lợi thế hơn trong việc sản xuất các sản phẩm mà vẫn duy trì đưọc hoạt động thương mại quốc tế ? Quy luật lợi thế tương đối của David Ricardo đã trả lời cho câu hỏi này. Lý thuyết này khẳng định nếu mỗi quốc gia chuyên môn hoá vào sản xuất các sản phẩm mà nước đó có lợi thế tương đối hay có hiệu quả sản xuất so sánh cao nhất thì thương mại quốc tế đem lại lợi ích cho tất cả các nước. Nền tảng của quy luật lợi thế tương đối là chi phí cơ hội. Chi phí cơ hội của một sản phẩm là số lượng các sản phẩm khác mà người ta phải từ bỏ để sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm đó. Sự chênh lệch giữa các nước về chi phí cơ hội trong việc sản xuất ra một mặt hàng là cơ sở quyết định phương thức thương mại quốc tế. Và sau nay phát triển lên thành lý thuyết H-O. Lý thuyết H-O còn được gọi là lý thuyết lợi thế so sánh về các nguồn lực sản xuất vốn có. Đây cũng chính là lý thuyết hiện đại giải thích về nguồn gốc thương mại quốc tế nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng. Lý thuyết này được các nhà kinh tế nổi tiếng khác như T.M Rubczyuski, Wolfgang Stolper, Paul A Samuelson, James William...tiếp tục mở rộng và phát triển hơn để khẳng định những tư tưởng khoa học và giá trị thực tiễn to lớn của định lý H-O, hay còn gọi là quy luật H-O về tỷ lệ cân đối các yếu tố sản xuất mà trước đó đã được Hecksher và Ohlin đưa ra với nội dung là: một nước sẽ xuất khẩu hàng hoá mà việc sản xuất nó cần sử dụng nhiều yếu tố rẻ và tương đối sẵn có của đất nước đó và nhập khẩu hàng hoá mà việc sản xuất nó cần nhiều yếu tố đắt và tương đối đắt ở nước đó. Tuy còn có những khiếm khuyết lý luận trước thực tiễn phát triển phức tạp của hoạt động thương mại quốc tế ngay nay. Xong quy luật này vẫn đang là quy luật chi phối động thái phát triển của thương mại quốc tế và có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn quan trọng đối với các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nước chưa phát triển. Vì nó chỉ ra rằng đối với những nước này, đa số là nước đông dân, nhiều lao động, nhưng nghèo vốn. Do đó, trong giai đoạn đầu công nhgiệp hoá đất nước, cần tập trung xuất khẩu những hàng hoá sử dụng nhiều lao động. Sự lựa chọn các sản phẩm xuất khẩu phù hợp với các lợi thế so sánh về các nguồn lực sản xuất vốn có, sẽ là điều kiện cần thiết để đưa các nước đang phát triển và chưa phát triển có thể nhanh chóng hội nhập vào sự phân công lao động và hợp tác thương mại quốc tế. Trên cơ sơ lợi ích thương mại thu được sẽ thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước 1.1.2-/ Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với quá trình phát triển kinh tế Đối với các quốc gia trên thế giới hoạt động xuất nhập khẩu đóng vai trò quan trọng, không thể thiếu được trong mục tiêu phát triển kinh tế đất nước. Mỗi quốc gia trên đều có điều kiện sản xuất, tài ngyên, thiên nhiên và trình độ kỹ thuật khác nhau ...vì thế một quốc gia không thể sản xuất các mặt hàng để đáp ứng nhu cầu của người dân, mà sẽ tập trung chuyên môn hoá vào sản xuất các mặt hàng đem lại lợi thế cao hơn. Hoạt động xuất khẩu sẽ giúp quốc gia đó khai thác triệt để lợi thế so sánh và mở rộng khả năng tiêu dùng của nước nhập khẩu. Xuất khẩu là cơ sơ của nhập khẩu, là hoạt động kinh doanh đem lại lợi nhuận lớn, và là phương tiện thúc đẩy phát triển kinh tế . Mở rộng xuất khẩu để tăng thu ngoại tệ, tạo điều kiện cho nhập khẩu và phát triển cớ sở hạ tầng. Luôn luôn coi trọng và thúc đẩy các ngành kinh tế hướng vè xuất khẩu, khuyến kích các thành phần kinh tế mở rộng xuất khẩu còn giải quyết việc làm và chuyển đổi cơ cấu kinh tế . Vì vậy, vai trò của xuất khẩu thể hiện ở những điểm sau: a, Xuất khẩu tạo nguồn vốn quan trọng để thoả mãn nhu cầu nhập khẩu và tích luỹ phát triển sản xuất phục vụ công nghiệp hoá đất nước. Công nghiệp hoá đất nước theo những bước đi thích hợp là con đường tất yếu để khắc phục tình trạng nghèo nàn và chậm phát triển. Để công nghiệp hoá đất nước trong thời gian ngắn đòi hỏi phải có số vốn lớn để nhập khẩu máy móc thiết bị kỹ thuật, công nghệ tiên tiến. Nguồn vốn để nhập khẩu có thể được hình thành từ nhiều nguồn như: liên doanh đầu tư nước ngoài , vay nợ , viện trợ, thu từ hoạt động du lịch, từ hoạt động xuất khẩu. Xong các nguồn vốn này rồi cũng phải trả nợ bằng cách này hay cách khác ở thời kỳ sau này. Vì vậy xuất khẩu là nguồn vốn quan trọng nhất để thoả mãn nhu cầu nhập khẩu những tư liệu sản xuất thiết yếu phục vụ cho công nghiệp hoá và hiện đại háo đất nước. Bài học kinh nghiệm của một số nước trên thế giới tăng trưởng chri dựa trên nguòon vốn vay nợ, viện trợ và đầu tư nước ngoài đã phải trả một giá đắt đã ming chứng cho điều này. Hơn nữa, trong thực tế xuất khẩu và nhập khẩu có mối quan hệ mật thiết với nhau, vừa là kết quả vừa là tiền đề của nhau. Đẩy mạnh xuất khẩu là để tăng cường nhập khẩu để nó mở rộng, tăng nhanh khả năng xuất khẩu. b, Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang nền kinh tế hướng ngoại: Cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi vô cùng mạnh mẽ. Đó là thành quả của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tấe sang nền kinh tế hướng ngoại trong quá trình công nghiệp hoá ở nước ta hiện nay là phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế thế giới. Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Một là, xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vượt quá nhu cầu nội địa. Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển như ở nước ta, sản xuất về cơ bản chưa đủ để tiêu dùng nếu chỉ thụ động ở sụ dư thừa của sản xuất thì xuất khẩu vẫn cứ nhỏ bé và chậm chạp. Hơn nữa, nó không góp phần chuyên môn hoá sản xuất và thuíc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng có lợi. Hai là, coi thị trường và đặc biệt là thị trường thế giới là hướng quan trọng để tổ chức sản xuất. Điều đó có tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế thể hiện ở: Xuất khẩu tạo điều kiện cho ngành liên quan có điều kiện phát triển thuận lợi. Chẳng hạn, khi phát triển ngành dệt may xuất khẩu sẽ tạo điều kiện cho việc phát triển ngành sản xuất nguyên liệu như bông hay thuốc nhuộm. Sự phát triển của công nghiệp chế biến thực phẩm xuất khẩu (dầu thực vật, chè...) kéo theo sự phát triển của ngành công nghiệp chế tạo thiết bị để sản xuất ra các sản phẩm đó. Xuất khẩu tạo khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, cung cấp đầu vào cho sản xuất, khai thác tối đa sản xuất trong nước. Xuất khẩu tạo những tiền đề kinh tế, kỹ thuật nhằm đổi mới thường xuyên năng lực sản xuất trong nước. Nói cách khác, xuất khẩu là điều kiện tạo thêm vốn kỹ thuật, công nghệ tiên tiến từ thế giới bên ngoài vào Việt Nam nhằm hiện đại hoá nền kinh tế nước ta. Thông qua xuất khẩu, hàng hoá Việt Nam sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả và chất lượng. Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi phải tổ chức lại sản xuất phù hợp với nhu cầu thị trường. Để đáp ứng yêu cầu cao của thị trường thế giới về quy cách, chất lượng sản phẩm, muốn thắng lợi trong cạnh tranh thì một mặt sản xuất phải đổi mới trang thiết bị công nghệ, mặt khác người lao động phải nâng cao tay nghề học hỏi kinh nghiệm sản xuất tiên tiến trên thế giơí. Hơn nữa, nhu cầu sở thích của người tiêu dùng ngày càng đa dạng và hết sức phong phú, muốn xuất khẩu được hàng hoá đoì hỏi phải có sự đổi mới về mẫu mã, chất lượng, kiểu dáng, kích thước của hàng hoá. Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp luôn luôn đổi mới và hoàn thiện công tác quản lý sản xuất, kinh doanh nâng cao chất lượng sản phẩm hạ giá thành. c, Xuất khẩu góp phần tích cực vào giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống nhân dân. Xuất khẩu góp phần tích cực vào giải quyết công ăn việc làm. Các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến hàng xuấ khẩu, các khu công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu đã tác động tích cực đến đội ngũ lao động không chỉ gia tăng về số lượng lao động có việc làm mà từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ lao động để đáp ứng với yêu cầu công nghiệp hoá. Sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường quốc tế đối với mặt hàng xuất khẩu đã khiến cho Việt nam cũng đã bắt đầu hình thành và đang có xu hướng phát triển ngày càng mạnh đội ngũ lao động gồm cả trí thức, công nhân kỹ thuật cao trong một số ngành kinh tế kỹ thuật hiện đại như dầu khí, điện tử tin học, cơ khí chính xác, bưu chính viễn thông ... Phát triển các ngành sản xuất hàng xuất khẩu cần nhiều lao động là một trong những con đường chắc chắn nhất để tạo nên nhiều công ăn việc làm và thu được nhiều ngoại tệ mà không phải sử dụng tài nguyên quí hiếm. Dựa vào việc lập hàm hồi qui về mối quan hệ giữa xuất khẩu và việc làm cho thấy nếu xuất khẩu tăng lên 1% so với năm gốc thì chỗ việc làm cho người lao động sẽ tăng lên ít nhất 0,4% so với năm gốc. Xuất khẩu tạo công ăn việc làm và làm tăng thu nhập cho người lao động không chỉ ở các vùng đô thị, các khu chế xuất, các xí nghiệp công ty liên doanh đầu tư nước ngoài mà đã lan rộng đến nhiều vùng nông thôn. Do vậy, xuất khẩu đã góp phần cải thiện đời sống của nhân dân và từng bước xoá bỏ chênh lệch mức sống thực tế giữa các tầng lớp dân cư ở nhiều khu vực lãnh thổ khác nhau. Hơn nữa, xuất khẩu còn tạo nguồn vốn nhập khẩu về vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ cho đời sống, và đáp ứng ngày càng phong phú thêm nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. d, Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta. Xuất khẩu và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại đã làm cho nền kinh tế nước ta gắn chặt với phân công lao động quốc tế. Thông thường hoạt động xuất khẩu ra đời sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác nên nó thúc đẩy các quan hệ này phát triển. Chẳng hạn, xuất khẩu và sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng đầu tư vận tải quốc tế ... Đến lượt nó chính xác các quan hệ kinh tế đối ngoại lại tạo điều kiện tiền đề mở rộng xuất khẩu. Như việc ký kết các hiệp định và tham gia vào các tổ chức quốc tế và khu vực lại khuyến khích hoạt động xuất khẩu. Như vậy, nhận thức được vai trò của xuất khẩu, đối với nước ta, một quốc gia đang chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước thì hoạt động xuất khẩu được đặt ra cấp thiết và có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế xã hội. Không thể nào xây dựng được một nền kinh tế hoàn chỉnh nếu chỉ dựa trên nguyên tắc"Tự cung tự cấp", vì nó đòi hỏi rất tốn kém về vật chất, thời gian và cũng rất khó mà đạt được hiệu quả như mong đợi. Vì vậy, cần phải đẩy mạnh nâng cao hiệu quả của hoạt động mở rộng ngoại thương, trên cơ sở" Hợp tác bình đẳng không phân biệt thể chế chính trị và đôi bên cùng có lợi" như nghị quyết của đại hội Đảng lần thứ VII đã khẳng định. Hơn nữa, nước ta còn đang là một trong những nước có trình độ phát triển kinh tế thấp, những nhân tố thuộc tiềm năng là: tài nguyên thiên nhiên và lao động rẻ. Còn những nhân tố thiếu là: vốn, kỹ thuật, thị trường và khả năng quản lý thì việc mở rộng quan hệ buôn bán giữa nước ta với nước ngoài là điều kiện quan trọng thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế. Muốn phát triển nền kinh tế ta phải dựa vào sự đầu tư về vốn, kỹ thuật từ nước ngoài, trong đó kết hợp tận dụng nguồn lao động dồi dào, giá rẻ cùng với nguồn tài nguyên phong phú để tăng hiệu quả sản xuất, hấp thụ khoa học kỹ thuật hiện đại nhằm hướng tới xuất khẩu các sản phẩm có lợi thế đưa ra thị trường quốc tế thu được ngoại tệ, tạo công ăn việc làm cho người lao động, ổn định và phát triển nền kinh tế, biến nước ta trỏ thành một mắt xích quan trọng trong sự phân công và chuyên môn hoá lao động trên thế giới hiện nay. 1.2-/ Xu thế hội nhập AFTA 1.2.1-/ Xu thế toàn cầu hoá và liên kết kinh tế khu vực Trong mấy thập niên qua, thế giới trải qua khong ít biến động to lớn mà hệ quả là diện mạo đời sống kinh tế chính trị, xã hội trên trường quốc tề đã và đang có những thay đổi hết sức căn bản, toàn diện và sâu sắc, trật tự kinh tế thế giới cũng đã có những biến đổi so với thời kỳ trước "Chiến tranh lạnh". Hiện tượng này đưa đến xu thế hội nhập và toàn cầu hoá giữa mọi quốc gia, dân tộc, đặc biệt là sự giao thoa về kinh tế ngày càng bức xúc. Một mặt, luôn tạo thêm nguồn lực cần thiết thúc đẩy toàn cầu hoá, mặt khác, cũng làm nảy sinh không ít trở ngại cho quá trình này. Việc xem xét trên bình diện chung nhất quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới của từng quốc gia, trong đó có Việt Nam, dưới sự tác động của toàn cầu hoá là vấn đề không kém phần bức xục hiện nay. Trước hết, kể từ sau thời kỳ "Chiến tranh lạnh" với dấu mốc quan trọng là sự tan rã của Liên Xô cũ và sự suy yếu trên một số mặt của Hoa Kỳ (so voí các quốc gia đối thru và đồng minh khác), thế gới đã chuyển từ hai cực luôn đối đầu sang xu thế đối thoại, tìm điểm tương đồng cần thiết, sẵn sàng thoả hiệp để gắn hết mọi lợi ích kinh tế, chính trị và văn hoá theo mục đích chung. Theo đó việc truyền bá văn hoá, tri thức thông tin và mọi phương thức sinh tồn ngày càng mang tính toàn cầu. Hơn nữa, sản xuất và dịch vụ có xu thế quốc tế hoá rõ rệt. Cuộc cánh mạng khoa học và công nghệ đạt tới giai đoạn cao đã và đang thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyên môn hoá và hợp tác hoá giữa các quốc gia làm cho lực lượng sản xuất được quốc tế hoá cao độ. Thực ra sự xuất hiện rất sớm của các công ty xuyên quốc gia ở một số nước phát triển đã khởi động cho sự ra đời hệ thống sản xuất toàn cầu vào nửa đầu thế kỷ XX, phát triển nhanh vào sau chiến tranh thế giới thứ hai và đến cuối thập niên 70 thì trở thành làn sóng lớn, dần dần loại trừ, thay thế cơ cấu sản xuất trong nước. Đến nay chính các công ty xuyên quốc gia cũng luôn phải đổi mới hàng ngày đểv mở rộng ảnh hưởng trực tiếp, thúc đẩy chu chuyển vốn đầu tư đi kèm sát nhập và hợp nhất để lớn mạnh lên nhanh chóng. Thập niên 80 và 90 được ghi nhận bởi hiện tượng nổi trội về đầu tư quốc tế vượt quá mức tăng trưởng mậu dịch quốc tế. Đáng chú ý là thị trường tài chính quốc tế phát triển hết sức nhanh chóng đã trở thành một sức mạnh kinh tế xuyên quốc gia. Từ cuối thập niên 70, kỹ thuật tin học bắt đầu được ứng dụng rộng rãi làm cho việc chuyển tải thông tin được dễ dàng và nhanh chóng; giúp cho nghiệp vụ tài chính quốc tế phát triển mạnh mẽ, thu hẹp dần phạm vi quản chế cứng nhắc thị trường tiền tệ theo từng quốc gia năng lực khống chế của ngân hàng trung ương đối với gía trị đồng bản tệ ngày càng gảim sút. Thị trường tài chính thế giới phát triển mạnh cũng thúc đẩy mạnh theo quá trình quốc tế hoá sản xuất và dịch vụ, bởi lẽ các công ty xuyên quốc gia có thể tập trun và di chuyển một cách thuận lợi trên thị trường tài chính thế giới mà khộng bị khống chế. Các ngân hàng và các công ty giao dịch chứng khoán thường tổ chức thành công ty độc quyền dạng Xanh-đi-ca, giúp đỡ nhau và cạnh tranh nhau. Các ngân hàng lớn đều đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện ở các trung tâm tài chính chủ yếu cuả thế giới. Cuối cùng, vấn đề môi trường cũng trở thành nan giải, mang tính toàn cầu do hậu quả của công nghiệp hoá mang tính toàn cầu phát triển đến mức khó kiểm soát gây nên tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng. Tính nghiêm trọng đáng báo động còn ở chỗ không một quốc gia nào có khả năng một mình giải quyết được vấn đề ô nhiễm môi trường mang tính toàn cầu này. Rõ ràng, trong khung cảnh mang tính toàn cầu hoá như vậy, hội nhập kinh tế thế giới bằng cánh hình thành các liên bang kinh tế khu vực và toàn cầu là một tất yếu khách quan đối với bất kỳ một nước nào trên con đường phát triển trong điều kiện mới ngày nay. Liên kết kinh tế khu vực là bao gồm các mối liên kết kinh tế và vị trí địa lý để hình thành các khối liên kết kinh tế, các khu vực kinh tế hay còn gọi là khu vực hoá nền kinh tế như khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), liên minh châu Âu (EU), hiệp ước thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR)... Đặc điểm chung nhất của các tổ chức kinh tế khu vực là quan hệ láng giềng gần gũi, có hệ ngôn ngữ và truyền thống văn hoá tương tự, có tài nguyên, lao động, trình độ kinh tế kỹ thuật gần giống nhau. Trên cơ sở gia nhập một cách tự nguyện, các tổ chức kinh tế này lập ra quy chế và thủ tục cần thiết bảo đảm mối quan hệ giữa các thành viên trong khu vực và quan hệ với nền kinh tế thế giới. Tính ưu việt của các tổ chức kinh tế khu vực là; thực hiện chính sách ưu đãi trong nội bộ các thành viên về đầu tư tài chính, phát triển kỹ thuật, giải quyết việc làm, đào tạo tay ngề trao đổi hàng hoá... Tổ chức kinh tế khu vực còn thực hiện chế độ mậu dịch tự do giữa các nước hoặc giảm thuế đối với các lĩnh vực sản xuất mũi nhọn, tạo điều kiện phát triển cho mọi thành viên, bảo đảm lợi ích cho từng thành viên và sự vững mạnh của cả cộng đồng. Từ các mối liên kết kinh tế khu vực sẽ tạo điều kiện cho các nước hình thành các thị trường thương mại, đầu tư, các trung tâm công nghiệp khu vực. Từ đó sẽ làm hàng rào thuế quan và phi thuế quan cản trở buôn bán nội bộ khu vực bị triệt tiêu, hàng hoá lưu chuyển giữa các nước không bị hạn chế. Trong khu vực buôn bán tự do FTA, các nước thành viên vẫn duy trì hàng rào buôn bán riêng đối với các nước thứ ba không nằm trong khu vực liên kết. Những sản phẩm buôn bán trong khu vực FTA muốn được hưởng ưu đãi phải đáp ứng yêu cầu một tỷ lên nhất định được tất cả các nước thành viên chầp thuận về xuất xứ được sản xuất ở bất kỳ nước thành viên nào. Trong gian đoạn liên kết này, các nước tham gia vẫn duy trì hàng rào buôn bán quốc gia riêng đối với nước thứ ba. Như vậy xu hướng hình thành liên kết kinh tế khu vực của các nước để ngăn chặn sự tác động từ bên ngoài, tạo điều kiện ổn định kinh tế khu vực, ổn định thị trường để các nước trong khối kinh tế có thể bổ sung cho nhau những thế mạnh của mình về kỹ thuật, tài nguyên, lao động bảo đảm hiệu quả kinh tế trong trao đổi. Chính vì vậy, vai trò của ngoại thương, đặc biệt là xuất khẩu đều được các nước hết sức quan tâm, do không một quốc gia nào muốn bị gạt ra ngoài lề của dòng chảy phát triển, nên phải xây dựng cho mình chính sách kinh tế, nhất là kinh tế đối ngoại, tạo lập môi trường thông thoáng để khuyến khích đầu tư và buôn bán quốc tế. Do đó Việt Nam không phải là trường hợp ngoại lệ trong việc hội nhập kinh tế khu vực. Vấn đề là phải lựa chọn tiến trình hội nhập ra sao để phù hợp với hoàn cảnh đất nước đồng thời phù hợp với xu thế toàn cầu hoá và liên kết kinh tế khu vực diễn ra ngày càng mạnh mẽ trên thế giới. 1.2.2-/ Sự ra đời của AFTA Lịch sử hình thành tổ chức ASEAN (The Association of South East Asia Nations, 1967) trước hết bắt nguồn từ lý do chính trị và an ninh khu vực vào thập kỷ 60. Trong bối cảnh tồn tại của cuộc chiến tranh lạnh và ở khu vực ASEAN đã thực sự là một thực tế mang tầm cỡ quốc tế khiến thế giới phải quân tâm trên diễn đàn chính trị thế giới. ở Việt Nam, cuộc chiến tranh đang diễn ra và một số nước trong khu vực bước vào trận. ở Trung Quốccách mạng văn hoá ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống tinh thần của cộng đồng người Hoa ở Đông Nam á. Trong khi đó, Liên Xô cũ hình thành hệ thống an ninh tập thể Châu á ...Trước hàng loạt thách thức kinh tế chính trị của khu vực đồng thời phải giải quyết những khó khăn về sức ép từ bên ngoài, nhu cầu liên kết khu nhằm tập trung sức mạnh tiềm lực để đối phó là cần thiết với các dân tộc Đông Nam á. Trong bối cảnh đó, ngày 8/8/1967, tuyên bố Băng Cốc đã được bộ trưởng ngoại giao của năm nước: INDONESIA, MALAYSIA, PHILIPIN, SINGAPORE và THAILAND ký kết. Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á chính thức được thành lập. Mười bảy năm sau 8/8/1984, BRUNEI là thành viên thứ sáu của ASEAN. Ngày 28/7/1995, Việt Nam gia nhập ASEAN. Đến năm 2000, Lào và MYANMA và năm 2002 CAMPUCHIA tham gia vào tổ chức này nâng tổng số thành viên của ASEAN thành 10 thành viên. Từ năm 1976, vấn đề hợp tác kinh tế ASEAN đẫ được chú trọng trở lại với kế hoạch hợp tác kinh tế mà lĩnh vực ưu tiên là cung ứng và sản xuất hàng hoá cơ bản, các xí nghiệp công nghiệp lớ, các thoả thuận thương mại ưu đãi và các quan hệ kinh tế đối ngoại như thoả thuận thương mại ưu đãi PTA, kế hoạch hợp tác công nghiệp ASEAN AIC, kế hoạch hợp tác từng khu vực BBC, liên doanh công nghiệp AIJV... Tuy đã cso rất nhiều nỗ lực để thúc đẩy hợp tác kinh tế trong ASEAN, nhưng kết quả của các nỗ lực đó không đạt được mục tiêu như mong đợi. Đồng thời, vào đầu những năm 90, môi trường chính trị, kinh tế quốc tế và khu vực đã có những thay đổi quan trọng do chiến tranh lạnh kết thúc. ở kỷ nguyên hậu chiến tranh lạnh, vị trí của ASEAN trong chiến lược khu vực và quốc tế bị hạ thấp. Nên đến năm 1992 khi các nước thành viên ASEAN ký kết một hiệp định về khu vực mậu dịch tự do ASEAN AFTA (ASEAN Free Trade Area) thì hợp tác kinh tế các nước ASEAN mới thực sự đưa lên một tầm mức mới. Từ đây khu vực mậu dịch tự do ASEAN chính thức ra đời và đi vào hoạt động. Bằng cách tạo dựng nền tảng thuế quan chung trong khuân khổ AFTA, các quốc gia thành viên sẽ có thể tạo ra sự tương hợp và phát huy được lợi thế so sánh của mình trong quá trình tổ chức sản xuất và phân công lao động khu vực. Tuy thế, sự ra đời của AFTA là kết quả phức hợp giữa sự tác động của các nhân tố bên trong và bên ngoài sau: Về nhân tố bên trong, có thể thấy rằng công nghiệp hoá trong hai thập kỷ qua đã làm tăng nhanh chóng quy mô buôn bán lẫn nhau giữa các nền kinh tế AESAN. Người ta tính rằng, vào đầu những năm 90, phần xuất khẩu nội bộ ASEAN trong tổng kim ngạch xuất khẩu của nhóm nước này đẫ đạt tới khoảng 20% và điều đó chứng tỏ khuynh hướng liên kết thương mại khu vực đã ngày càng trở lên mạnh mẽ. Các nền kinh tế ASEAN mang tính hướng ngoại dựa vào xuất khẩu và hơn bao giờ hết, chúng có nhu cầu bức thiết trong việc tìm kiếm và liên kết thị trường, trước hết là các thị trường láng giềng. Điều này càng được thúc đẩy nhanh hơn nhờ sự tác động tích cực của tăng trưởng kinh tế khu vực và các biện pháp tự do hóa thương mại. Các chính phủ của từng nước ASEAN cũng đã thấy rõ sự trở ngại của chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch trong chiến lược phát triển và đi đến đề xuất về một khu vực mậu dịch tự do ASEAN nhằm tự do hoá thương mại giữa các thành viên một cách hiệu qủa. Về các nhân tố bên ngoài, sự kết thúc chiến tranh lạnh và sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường của hàng loạt các nước như Trung Quốc, các nước Đông Âu dẫn đến các quốc gia ASEAN ngày càng có nhiều các đối thủ cạnh tranh mới về thu hút đầu tư nước ngoài và thương mại. Hơn nữa, trong thời kỳ hậu chiến tranh lạnh, các nền kinh t ế ASEAN còn phải đứng trước những thách thức mới do sự xuất hiện của những tổ chức hợp tác khu vực hơn hẳn về quy mô, tiềm năng và trình đọ phát triển như EU, NAFTA. Nói cách khác, trước sức ép cảu chủ nghĩa khu vực với sự xuất hiện của EU, NAFTA và những biến đổi của nền kinh tế thế giới theo hướng ngày càng cso nhiều dấu hiệu làm mất đi lợi thế cạnh tranh đòi hỏi các nước ASEAN phải có sự thống nhất để đi đến những biện pháp thúc đẩy nhanh chóng buôn bán nội bộ và tự do hoá quan hệ thương mại giữa khu vực với các khối liên kết kinh tế khác. Đây là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với sự cấp thiết thành lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN. Sự hình thành AFTA nhằm giải quyết hai mục tiêu cơ bản: Thứ nhất, liên kết thị trường khu vực với tư cách là một trung tâm sản xuất và thương mại quốc tế nhằm cải thiện lợi thế cạnh tranh của ASEAN trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài - một nhân tố được coi là động lực tăng trưởng và tạo ra sự năng động của châu á trong những năm gần đây. Thứ hai, thôgn qua AFTA, sẽ tạo điều kiện thúc đẩy các nước thành viên tự do hoá thương mại nội bộ khu vực, xoá bỏ các rào chắn thương mại, kể cả các biện pháp bảo hộ mậu dịch tiêu cực nhằm rut ngắn quá trình hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu. Tóm lại, xuất phát từ tổng thể các nhân tố bên trong và bên ngoài tác động, AFTA ra đời đã trở thành một bộ phận hợp thành của xu thế tự do hoá thương mại rộng lớn ở khu vực châu á - Thái Bình Dương và toàn cầu. Do đó, tạo lập AFTA cho ASEAN cũng chính là tạo lập khu vực mở, một sự thích ứng cho sự phát triển của ASEAN trong xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá. 1.2.3-/ Bối cảnh nền kinh tế Việt Nam. Trên cơ sở thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hoá và đa dạng hoá, với tinh thần Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới . Nên chính sách đối ngoại cũng được đổi mới, phù hợp với cải cách kinh tế trong nước và nhanh chóng hội nhập vào khu vực và thế giới. Với đường lối đổi mới và hội nhập đúng đắn, Việt Nam đã thu được những kết quả quan trọng bước đầu về ổn định và phát triển kinh tế, tăng trưởng kinnh tế cao liên tục trong nhiều năm liền, ổn định về chính trị, chính sách kinh tế không thay đổi lớn. Chính phủ đã thực hiện một số chính sách khuyến khích mọi thành viên tham gia hoạt động kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài vào sản xuất để xuất khẩu, từng bước thực hiện tự do hoá thương mại dẫn đến tự do hoá tài chính, ổn định đồng tiền, hoàn thiện cơ sở hạ tầng nhằm tạo một môi trường đầu tư hấp dẫn các nhà đầu tư. Quan hệ kinh tế - chính trị đối ngoại cũng được mở rộng, vị thế quốc tế cũng được nâng cao tạo nhiều thế và lực, khả năng và cơ hội để tiếp tục phát triển trong những năm tới. Sau khi đã khai thông được quan hệ với các tổ chức tài chính - tiền tệ quốc tế như IMF, WB, ADB, ngày 17/10/1994, Việt Nam chính thức gửi đơn xin gia nhập Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam á (ASEAN), từ ngày 28/7/1994 đã chính thức tham gia tổ chức này và từ ngày 01/01/1996, Việt Nam bắt đầu thi hành nghĩa vụ thành viên theo AFTA. Tháng 12/1994, Việt Nam đã gửi đơn xin gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO). Tiếp đó, tháng 03/1996, Việt Nam đã tham gia với tư cách thành viên sáng lập Diến Đàn hợp tác á - Âu (ASEM). Ngày 15/06/1996, Việt Nam gửi đơn xin gia nhập Diễn đàn hợp tác Châu á - Thái Bình Dương (APEC) và trở thành thành viên chính thức của tổ chức này từ tháng 11/2001. Đối với WTO, Việt Nam đã gửi văn bản giới thiệu về chính sách thương mại, từ tháng 07/1996, đữ tiến hành trả lời các cau hỏi dành cho thành viên WTO về thương mại hoá và đã đàm phán vòng đầu với tổ chức này. Do đó, muốn tham gia vào các tổ chức kinh tế thế giới thì trước hết Việt Nam đã phải tham gia vào các tổ chức kinh tế khu vực, hội nhập với khu vực tạo tiền đề cũng như tạo cho Việt Nam trở thành khu vực hấp dẫn hơn để có điều kiện tham gia ngày càng rộng hơn vào thị trường khu vực và toàn cầu. Nên việc hội nhập vào ASEAN, thực hiện AFTA thể hiện thiện chí trong việc gia nhập vào khối kinh tế kyhu vực của Viện nam đồng thời đáp ứng được yêu cầu của nền._. kinh tế trong nước và nước ngoài. Vì đây là lần đầu tiên các nước ASEAN đã có sự nhất trí cao về tiến trình tự do hoá thương mại khu vực. Điều này không chỉ thể hiện ở những điều khoản trong Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) mà còn cho thấy nhận thức sâu sắc của từng thành viên về tính cần thiết của liên kết kinh tế khu vực. Trong điều kiện của xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay, vấn đề đặt ra là kinh tế Việt Nam không thể tách rời hệ thống kinh tế khu vực và toàn cầu. Muốn vậy, Việt Nam hội nhập vào kinh tế khu vực đồng nghĩa với việc thực hiện chính sách mở cửa, thực hiện tự do hoá thương mại theo hướng xuất khẩu nhằm thích ứng với nhu cầu phát triển của các nước trong khu vực và xu hướng phát triển chung của thế giới. Thông qua tự do hoá thương mại sẽ kích thích khả năng cạnh tranh trong các thành phần kinh tế ở Việt Nam. Cạnh tranh là động lực của tăng trưởng đòi hỏi Việt Nam phải cố gắng dàn xếp những khiếm khuyết và nhanh chóng cải tổ cơ cấu kinh tế, giảm dần khoảng cách tụt hậu nhằm đưa chất lượng sản phẩm đạt bằng các tiêu chuẩn quốc tế quy định. Nhờ thế hàng xuất khẩu của nước ta mới có khả năng tiêu thụ và cạnh tranh với các sản phẩm của các nước trong khu vực và quốc tế. Hơn nữa, tham gia vào khu vực sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam có khả năng tận dụng các lợi thế sẵn cso về tài nguyên thiên nhiên, nhân công, thị trường đồng thời cũng tạo điều kiện cho Việt Nam tạo ra những động lực hấp dẫn mới trên cơ sở hiện đại hoá nền kinh tế, chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu các phương pháp quản lý và tiếp thị trước các đối thủ khác có điều hấp dẫn hơn, như các nước ASEAN, SNG, Đông Âu... 1.3-/ Chiến lược phát triển kinh tế hướng mạnh vào xuất khẩu và kinh nghiệm của các nước ASEAN. 1.3.1-/ Các quan điểm phát triển. Hiện nay trên thế giới tồn tại hai quan điểm phát triển thương mại; Thay thế nhập khẩu - hướng nội và thúc đẩy xuất khẩu - hướng ngoại. Theo quan điểm của những người theo chủ nghĩa bảo hộ, ủng hộ hướng nội, ban đầu, các nước đang phát triển cần thay thế nội địa về những sản phẩm được chế tạo phức tạp ở một phạm vi rộng lớn hơn. Với chính sách bảo hộ chặt chẽ nền sản xuất trong nước bằng thuế nhập khẩu cao và hạn ngạch cho các mặt hàng nhập khẩu và với sự tiến bộ của sản xuất trong nước, các nước đi theo mô hình này hy vọng sẽ xuất khẩu được những sản phẩm với hiệu quả sản xuất cao có thể cạnh tranh với những sản phẩm đang có trên thị trường thế giới. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, khi đi theo mô hình hướng nội một số nước đã bộc lộ những nhược điểm như không đáp ứng nhu cầu ngaọi tệ cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá xoá đi cạnh tranh - một yếu tố cực kỳ quan trọng cho sự phát triển. Trong bối cảnh các thực thể của nền khinh tế thế giới ngày càng có mối quan hệ mật thiết với nhau, mô hình này chính là hàng rào ngăn cản các nước hướng theo xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá. Còn với những người ủng hộ mô hình hướng ngoại cho rằng thúc đẩy xuất khẩu, kể cả sản phẩm sơ cấp lẫn sản phẩm chế tạo. Bản chất của mô hình hướng về xuất khẩu là căn cứ vào nhu cầu thị trường thế giới và lợi thế so sánh của từng quốc gia để điều chỉnh cơ cấu xuất khẩu hàng hoá một cách hợp lý và hiệu quả. Đây chính là sự thay thế thị trường trong nước nhỏ hẹp bằng các thị trường quốc tế rộng lớn. Chính vì vậy, so với mô hình hướng nội - thay thế nhập khẩu, mô hình thúc đẩy xuất khẩu - hướng ngoại tỏ ra hơn hẳn ở chỗ: + Thứ nhất, giải quyết sự thiếu hụt ngoại tệ nhờ xuất khẩu các sản phẩm đặc biệt là các sản phẩm chế tạo có giá trị cao. + Thứ hai, từ thị trường trong nước mở rộng ra thị trường quốc tế, mức độ tiêu thụ tăng lên cho phép mở rộng quy mô sản xuất, giảm chi phí sản xuất do tạo được lợi thế nhờ quy mô, tạo thêm công ăn việc làm. + Thứ ba, thúc đẩy tốc đọ cạnh tranh buộc các xí nghiệp phải cải tiến quản lý, không ngừng nâng cao trình độ cán bộ, luôn đổi mới công nghệ để thích nghi với những đòi hởi gay gắt của thị trường quốc tế. 1.3.2-/ Kinh nghiệm phát triển của các nước ASEAN Để thấy rõ hơn sự lựa chọn chiến lược, ta xét tới quá trình lựa chọn chiến lược phát triển của một số nước Đông Nam á - ASEAN. Từ đó, khẳng định vững chắc quan điểm công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu mở rộng giao lưu kinh tế với tất cả các nước trong khu vực cũng như trên thế giới. Xuất phát của các nước ASEAN đều giống nhau đó là sự phát triển từ kinh tế nông nghiệp, xuất khẩu chủ yếu là nông sản và nguyên liệu thô. Các nước ASEAN đã sớm nhận ra giới hạn của thị trường này do tính chất không ổn định và đặc điểm kém co giãn theo thu nhập củn phẩm nông nghiệp, nên các nước này đã chủ trương phát triển công nghiệp nhằm thay đổi cơ cấu kinh tế, tạo thế cân bằng mới đồng thời tạo điệu kiện để cho nông nghiệp phát triển, giải quyết việc làm cho lực lượng lao động sẵn có. Để thực hiện điều này, từ những năm 1960, chính phủ các nước này đã tiến hành quá trình công nghiệp hoá và mục tiêu ban đầu chỉ nhằm vào thị trường trong nước, đó là chiến lược hoá thay thế nhập khẩu. Đặc trưng của chiến lược này là tìm cách sản xuất để thay thế dần những sản phẩm tiêu dùng phải nhập khẩu, đi đến chỗ hoàn toàn tự cung tự cấp. Sở dĩ các nước ASEAN lựa chọn hướng đi này là vì mong muốn được độc lập về kinh tế. Tuy nhiên sau một thời gian thực hiện mô hình thay thế nhập khẩu đã bọc lộ những nhược điểm như sự thiếu hiệu quả, kém năng động, hạn chế sự hợp tác trong khu vực và trên thế giới. Bước vào thập kỷ 70, do làn sóng mở cửa và tự do hoá trên thế giới tràn tới, cùng với sự thành công của các nước NICs đã áp dụng thành công mô hình hướng ngoại, các nước ASEAN đã mạnh dạn thay đổi mô hình thay thế nhập khẩu sang mô hình hướng về xuất khẩu để tận dụng nguồn vốn của nước ngoài có tính đến kinh nghiêm của các nước đi trước. Tùy thuộc vào tình hình cụ thể cảu mỗi nước mà quá trình chuyển đổi diễn ra tại các thời điểm khác nhau. Nước đi đầu trong quá trình chuyển đổi là Singapo do thị trường trong nước quá nhỏ hẹp. Sau khi tách khỏi liên gbang Malayxia, chính phủ Singapo đã quyết định lựa chọn mô hình này. Còn Indonexia, do thị trường trong nước rộng lớn, lại thêm trình độ kinh tế thấp hơn và chỉ đến năm 1982, chính phủ nước này mới quyết định phát triển kinh tế theo chiến lược hướng ngoại. Chính phủ các nước này đã tiến hành một số vấn đề sau: a, Lựa chọn cơ cấu hàng xuất khẩu hợp lý. Đối với các nước ASEAN, một cơ cấu hàng xuất khẩu hợp lý sẽ cho phép phát huy lợi thế so sánh của từng nước, mà trước hết dựa vào nguồn tài nguyên và lao động sẵn có, Do đó từ chỗ xuất khẩu hàng sơ cấp bao gồm các nguyên liệu thô và sản phẩm nông nghiệp là chủ yếu, các nước ASEAN đã chuyển sang xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp nhẹ cần nhiều lao động như hàng dệt may, may mặc, giầy dép, chế biến nông sản và sau này khi tích lũy được tương đối nguồn tư bản, trình độ công nghệ và tay nghề nâng lên, một số nước đã chuyển sang xuất khẩu một số sản phẩm kỹ nghệ cao như máy chính xác, đồ điện cao cấp. Bảng 1 - Sự biến đổi cơ cấu hàng xuất khẩu của các nước ASEAN. Đơn vị: % Các mặt hàng Sản phẩm chế tạo Sản phẩm sơ cấp. Tên nước 1960 1985 1993 1995 1960 1985 1993 1995 Singapo 26,0 52,3 73,0 77,8 74,0 47,7 27,0 22,2 Indonexia 0 13,7 36,0 48,5 100,0 86,3 64,0 51,5 Thái Lan 2,2 41,0 64,0 66,5 98,8 59,0 36,0 33,5 Malayxia 6,0 31,5 44,0 65,6 94,0 68,5 56,0 34,4 Philipin 4,0 31,9 52,3 43,6 96,0 68,1 48,0 56,4 Nguồn: Vụ kế hoạch - Bộ thương mại - 1996 Tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh của mỗi nước mà quá trình chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu cũng diễn ra khác nhau. Với tốc độ đầu tư cao và sự can thiệp sâu của chính phủ, Singapo đã sớm lựa chọn một cơ cấu hàng xuất khẩu hợp lý. Quá trình chuyển dịch diễn ra theo hai giai đoạn: Giai đoạn 1: từ 1960-1985: tập trung phát triển một số ngành ưu tiên như: lọc dầu, sản xuất giàn khoan, đóng sửa dàn, chế tạo phụ tùng , lắp ráp xe hơi, máy kéo... Giai đoạn 2: từ 1980 đến nay: Singapo chuyển sang đầu tư mạnh vào các ngành kỹ thuật cao như thiết bị điện tử cao cấp, máy chính xác, hoá chất, công nghệ sinh học... ở Thái Lan, thời kỳ đầu chủ yếu xuất khẩu nguyên liệu thô và sản phẩm nông nghiệp và sau đó chuyển sang sản xuất các mặt hàng chế biến mà theo chính phủ Thái Lan xác định là trong tâm phát triển . Do đó trong thập niên 80, vốn được tập trung dành cho ngành công nghiệp chế biến thục phẩm. Ngoài ra những nỗ lực trong sản xuất ngành tiêu dùng thông thường không yêu cầu kỹ thuật cao cũng đem lại cho Thái Lan những thành công đáng kể. Indonexia, trước những năm 80, chủ yếu là sản xuất dầu mỏ, khí đốt và lâm sản. Sau đó, do có sự giảm giá mạnh các mặt hàng này trên thị trường thế giới đã buộc chính phủ nước này phải chú ý đến những mặt hàng xuất khẩu khác như hàng dệt quần áo, nông sản chế biến... Nếu năm 1981 những mặt hàng này chỉ chiếm 17,7% tổng giá trị hàng hoá xuất khẩu của Indonexia thì đến năm 1994, con số này đã lên tới 63%. Malaysia, từ các mặt hàng xuất khẩu quen thuộc là thiếc, cao su (chiếm 70% tổng thu nhờ xuất khẩu vào năm 1970), họ đã chuyển sang xuất khẩu các sản phẩm cần nhiều lao động như hàng dệt, quần áo, dày dép... Do lợi thế về giá nhân công rẻ đang mất dần hơn nữa khi đã cso một nguồn vốn tích luỹ được suốt hai mươi năm qua, chính phủ nước này đã cho đầu tư phát triển ngành xuất khẩu kỹ thuật cao như sản xuất các linh kiện và thiết bị điện tử, phụ kiện viễn thông. Philippin, mặc dù đã lựa chọn mô hình hướng ngoại tương đối sớm nhưng họ lại thực hiện chuyển đổi cơ cấu chậm do những hạn chế về điều kiện khí hậu bất thường, chính trị thiếu ổn định nên cơ cấu hàng chế biến của Philippin nhỏ hơn các nước khác và không ổn định. b, Lựa chọn thị trường chủ lực để xuất khẩu. Đã từ lâu, các nước ASEAN đều cho rằng thị trường Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu là những thị trường quan trọng nhất. Đặc biệt với số dân hơn 250 triệu và sức tiêu dùng vô cùng lớn, Mỹ thực sự trở thành một thị trường lớn mà bất cứ nước nào cũng muốn thâm nhập. Cho đến năm 1993, có tới 21,2% hàng nhập khẩu vào Mỹ, 19,6% vào EU là từ các nước ASEAN. Những năm gần đây, do nhều biến động của nền kinh tế thế giới gắn liền với xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá, ASEAN đã chủ trương mở rộng ra các thị trường NICs, Nga, Đông Âu, Trung Quốc, Nam Mỹ, Trung Đông, trong đó NICs là một trong những bạn hàng quân trọng hiện nay của ASEAN. c, Chính sách thu hút vốn đầu tư. Ngay từ khi theo đuổi mô hình hướng nội, các nước ASEAN đã đưa ra mọt số chính sách nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Cụ thể các nước ASEAN cố gắng tạo ra một môi trường đầu tư hấp dẫn như nguồn lao động rẻ, tài nguyên thiên nhiên phong phú , hệ thống pháp luật phù hợp với tập quấn và thông lệ quốc tế, có kết cấu hạ tầng đủ tiêu chuẩn và tình hình chính trị ổn định, tạo điều kiện cho kinh doanh và đầu tư phát triển. Nhờ vậy, ở giai đoạn trước 1993 nguồn vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào các nước ASEAN liên tục tăng, chủ yếu từ Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu. Trong vòng hai mươi năm (1967-1987), tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ASEAN là 32,85 tỷ USD. Như vậy mỗi năm các nước này đã thu hút mọt nguồn vốn tư bản là 1,64 tỷ USD. Vào năm 1987, bình quân mỗi người nhận được 10USD là mức tiếp nhận đầu tư thuộc hàng cao nhất so với các nước đang phát triển cùng thời kỳ. Bước qua những năm đầu của thập kỷ 90 NICs trở thành khu vực đầu tư quan trọng của các nước ASEAN. Năm 1997, tổng đầu tư cảu các nước NICs đã chiếm tới 44,6% trong tổng đầu tư của Indonexia, 21% của Philipin và 29,9% của Malaysia. Tuy nhiên mức độ đầu tư của Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu vào ASEAN lại không tăng nhanh lắm. Nhìn chung, trong ba mươi năm qua, đầu tư nước ngoài vào ASEAN vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng liên tục. Nhờ những chính sách như trên mà các nước ASEAN đã đạt được những thành tựu nhất định trong hoạt động xuất khẩu. Một số mặt hàng xuất khẩu tăng cả về số lượng lẫn chất lượng, thị trường, bạn hàng được mở rộng, lượng ngoại tệ thu về ngày càng nhiều. Rõ ràng sau khi thay đổi hướng phát triển kinh tế các nước ASEAN đã đạt được những thành tựu đáng kể. Việc nghiên cứu kinh nghiệm của các nước đi trước, đặc biệt là các nước ASEAN - những nước có nhiều nét tương đồng và có mối quan hệ chặt chẽ với talà hết sức cần thiết trong việc định ra một hướng đi phù hợp với tiềm lực, khả năng của Việt Nam để nhanh chóng xây dựng được hoạt động xuất khẩu vững mạnh trong xu thế hội nhập vào khu vực. Chương 2 Phân tích thực trạng xuất khẩu của Việt Nam trong quá trình hội nhập vào AFTA 2.1-/ Thực trạng xuất khẩu của Việt Nam qua các thời kỳ. 2.1.1-/ Thực trạng xuất khẩu của Việt Nam trước năm 1986. Những năm trước thời kỳ đổi mới, trên tư duy kinh tế , chính trị của ta đã nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại trong đó có việc thực hiện một chiến lược ngoại thương đúng đắn, năng động, phù hợp với thực tiễn đất nước và bối cảnh quốc tế sẽ luôn luôn là động lực trực tiếp cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng. Xong do nhiều nguyên nhân lịch sử ( trong nước và trên thế giới) cộng với sự nóng vội mong đốt cháy giai đoạn để đi nhanh đến chủ nghĩa xã hội, chúng ta đã nhận thức và hành động sai lầm về con đường phát triển kinh tế nói chung và phát triển kinh tế đối ngoại và ngoại thương nói riêng. Đó là xây dựng quan điểm duy ý chí, tự lực cách sinh, biệt lập khép kín cùng với việc duy trì cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp. Điều này trở thành vật cản, làm triệt tiêu các động lực, kìm hãm tốc độ phát triển kinh tế. Riêng trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại, mặc dù ngay từ năm 1960 đã có hơn bốn mươi nước ký kết quan hệ ngoại thương với Việt Nam (miền Bắc), nhưng thực tế cả một thời gian dài trước năm 1975, các hoạt động thương mại của Việt Nam với thế giới bên ngoài mới chỉ tiến hành với các nước khu vực I (khu vực XHCN). Xuất khẩu sang các nước này thường xuyên chiếm trên 70% tổng kim ngạch xuất khẩu (KNXK). Từ năm 1976, với chủ trương không ngừng mở rộng phân công lao động quốc tế trên lĩnh vực kinh tế khoa học, kỹ thuật và đẩy mạnh thương mại quốc tế. Hoạt động kinh doanh xuất khẩu đã mang tính chất của một hoạt động kinh tế vì mục tiêu lợi nhuận. Thời kỳ này mọi hoạt động kinh doanh xuất khẩu đều do nhà nước đặt kế hoạch bằng các chỉ tiêu, pháp lệnh. Các đơn vị kinh doanh xuất khẩu hoàn toàn chỉ do các công ty và tổng công ty quốc doanh chuyên doanh xuất khẩu thuộc Bộ ngoại thương đảm nhận. Bước vào những năm đầu của thập kỷ 80, trước những đòi hỏi của thực tế và sức ép từ cơ sở, cơ chế quản lý thương mại quốc tế và chính sách kinh tế đối ngoại Việt Nam bắt đầu có sự thay đổi. Ngày 7/2/1980 chính phủ ra nghị điịnh 40CP quy định chính sách và biện pháp hàng xuất khẩu. Trong đó có thu hẹp các chỉ tiêu pháp lệnh đối với hàng xuất khẩu chủ yếu và đồng thời mở rộng quyền xuất khẩu trực tiếp cho các liên hiệp xí nghiệp, các xí nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu do Bộ quản lý, các cơ sở sản xuất chế biến hành xuất khẩu thuộc thành phần kinh tế tập thể, công ty hợp doanh, tư nhân và cá thể đủ điều kiện cần thiết sẽ được cấp giấy phép kinh doanh xuất khẩu thường xuyên hay từng chuyến. Trong thời kỳ này, ngoài các nước khu vực I, Việt Nam đã tăng cường quan hệ thương mại với các nước khu vực II (các nước TBCN và các nước đang phát triển) như Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông, Cộng hoà Liên bang Đức, Thuỵ Điển, ấn Độ, Pháp, Thái Lan, Singapo... Nhờ đó tổng kim ngạch xuất khẩu của khu vực II đã tăng lên đến 46,8% (năm 1999), trong đó nổi bật lên vai trò của Nhật Bản là một trong những bạn hàng lớn nhất của Việt Nam ( sau Liên Xô cũ). Đáng lưu ý là mặc dù kim ngạch xuất khẩu sang các nước khu vực I thời kỳ này vẫn tiếp tục tăng lên về tuyệt đối so với thời kỳ trước nhưng so với mức tăng tương đối của kim ngạch xuất khẩu sang các nước khu vực II thì tốc độ tăng ở khu vực I lại thấp hơn ở khu vực II (khu vực II tăng 3,3 lần trong khi khu vực II tăng 4,2 lần). Bảng 2 - Xuất khẩu theo hai khu vực thời kỳ 1976-1986. Năm Khu vực I Khu vực II Tổng kim ngạch XK Giá trị (tiền Rúp) Tốc độ tăng % Giá trị (tiền Rúp) Tốc độ tăng % Giá trị (tiền Rúp) Tốc độ tăng % 1976 1977 1978 1979 1980 1981 1982 1983 1984 1985 1986 132,9 211,2 246,7 235,0 225,0 235,0 337,1 381,3 407,9 425,8 438,9 66,4 11,5 -4,7 -4,3 4,4 43,4 13,1 6,9 4,4 3,1 89,8 101,3 86,1 85,5 112,7 165,6 189,5 235,2 241,7 272,7 384,1 12,8 -20,9 6,7 31,8 46,9 14,4 24,1 2,8 12,8 40,8 222,7 322,4 326,8 320,5 337,7 400,6 526,6 616,5 640,6 698,5 823 44,7 1,4 -1,9 5,4 18,6 31,4 17,1 5,4 7,5 17,8 Nguồn: Niên giám thống kê - Nhà xuât bản Thống kê Hà Nội Qua bảng số liệu trên cũng có thể thấy được hoạt động xuất khẩu trong thời kỳ1976-1986 là không ổn định, tốc độ tăng không đều giữa các năm. Đặc biệt có những năm, tốc độ tăng trưởng xuât khẩu giảm. Điều này chứng tỏ mặt hàng xuất khẩu của chúng ta thời kỳ này chưa có chỗ đứng vững chắn trên các thị trường. Chưa có nhiều thị trường mang tính ổn định lâu dài. Những số liệu này cũng phản ánh đúng với thực trạng xuất khẩu của thời kỳ này là chủ yếu xuất khẩu theo nghị định thư cho nên chưa ký kết được hiệp định thư thì không thể xuất khẩu. Trong các năm 1979, 1980, mặc dù xuất khẩu sang khu vực II tăng lên nên tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu vẫn được tăng. Từ năm 1980 đến 1986, giá trị xuất khẩu liên tỵuc tăng cả về giá trị và tốc độ. Tuy tốc độ tăng có không đều giữa các năm, tốc độ tăng bình quân là 14,7% là một dấu hiệu đáng mừng cho hoạt động xuất khẩu củat Việt Nam. Đáng chú ý nhất là năm 1986, xuất khẩu sang khu vực I và cả sang khu vực II đạt giá trị cao nhất trong những năm trước đó, riêng khu vực II, giá trị xuất khẩu tăng 40,8% so với năm trước đó. Trong thời kỳ này, sản phẩm xuất khẩu vừa nhỏ bé về chất lượng, vừa đơn điệu về cơ cấu chủng loại, chất lượng bao bì. Chiếm trên 80% tổng kim ngạch xuất khẩu là hàng nông lâm sản, tiểu thủ công, mỹ nghệ và khoáng sản, nghĩa là chủ yếu là sản phẩm thô hoặc sơ chế. Cùng với sự yếu kém về sản phẩm xuất khẩu là sự ràng buộc phiền hà của cơ chế cũ đẫ khiến cho Việt Nam bị hạn chế nhiều trong việc mở rộng thị trường, tìm kiếm bạn hàng mới. Năm 1986 là năm đạt kim ngạch xuất khẩu cao nhất so với các năm trước đó, nhưng cũng chỉ mới đạt đến con số hơn 800 triệu rúp. Nếu đem con số này so với các nước khác thì giá trị XNK tính theo đầu người của Việt Nam (năm 1986) mưói chỉ đạt 12 rúp, vào loại thấp nhất thế giới. 2.1.2-/ Thực trạng xuất khẩu của Việt Nam từ 1986 đến nay. a, Thời kỳ 1986-1998 Từ cuối năm 1986, thực hiện đường lối đổi mới kinh tế do đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra, đường lối kinh tế đối ngoại được coi là "mũi nhọn" của sự đổi mới. Cùng với việc "bung ra của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, lần đầu tiên ở Việt Nam các thuật ngữ " mở cửa nền kinh tế", "đa dạng hoá kinh tế đối ngoại" , "đa phương hoá thị trường" đã được đề cập đến trong các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế đối ngoại. Quan niệm cứng nhắc coi "độc quyền ngoại thương" làbản chất kinh tês của Nhà nước Xã hội chủ nghĩa đã được xem xét lại và phần nào cũng đã được "vượt rào"trong thực tiễn. Đáng lưu ý ngoại thương, đặc biệt là các hoạt động sản xuất kinh doanh xuất khẩu đã được đề cao, coi đó là một trong ba chương trình kinh tế trọng điểm của Việt Nam. Nghị định 64/HĐBT ngày 16/6/1989 của Hội đồng Bộ trưởng về chế độ tổ chức, quản lý kinh doanh hoạt động xuất nhập khẩu là cơ sở chính sách thượng mại thời kỳ này, về cơ bản đã thể hiện bước ngoặt quan trọng đầu tiên của sự nới lỏng cơ chế quản lýngoại thương theo tinh thần đổi mới cơ chế trên đây. Với chính sách thông thoáng như vậy đã góp phần thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại cua nước ta trong thời kỳ này. Hoạt động xuất khẩu nhờ đó có sự biến đổi tích cực, Nếu như năm 1976-1980, tộc độ tăng của xuất khẩu hàng năm bình quân là 11%, những năm tiếp theo từ 1982- 1985 là 15,6%, thì dù trong hai năm 1986-1987đã đạt tới mức 27%. Riêng năm 1989 so với năm 1988, tăng 75,3% (gần bằng mức tăng của cả 15 năm từ 1960-1975). Năm 1993, lần đầu tiên kim ngạch xuất khẩu đã vượt mức 2 tỷ USD, tăng 21,6% so với năm 1989 và gấp hai lần so với năm 1988. Khoảng cách chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu đã rút ngắn lại từ tỷ lệ 1,7 giai đoạn 1960-1975 xuống tỷ lệ đáng kể 1/1,3. Trong những năm này (1986-1993), ngoài việc tiếp tục duy trì quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước khu vực I, quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước khu vưch II ngày càng được mở rộng . Xuất khẩu sang khu vực II của 5 năm (1986-1993) đã đạt được 3,5 tỷ USD, gấp Bảng 3 - Xuất nhập khẩu theo khu vực II thời kỳ (1981-1993) Năm Xuất khẩu (triệu USD) Nhập khẩu (triệu USD) Cán cân ngoại thương 1981-1985 1986-1993 1989-1993 1104,7 3506,3 2308,3 2166,6 3807,6 2081,7 -1061,9 -301,2 226,6 Nguồn: Bộ thương mại -1995 Theo bảng số liệu trên, cả xuất và nhập khẩu đều phát triển ngày càng tăng và khoảng cách chênh lệch cán cân thương mại giữa xuất và nhập khẩu ngày càng thu hẹp, đặc biệt trong hai năm 1989-1993 cả xuất lẫn nhập đều tăng vọt và việc tăng xuất khẩu hơn nhập khẩu đã khiến nước ta lần đầu tiên xuất siêu. Từ năm 1994 đến nay, mặc dù hoạt động ngoại thương đã diễn ra trong những điều kiện , hoàn cảnh khó khăn (do sự đổ vỡ của thị trường Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu trước đây. Trước tháng 3/1995, Mỹ vẫn thi hành chính sách cấm vận kinh tế với Việt Nam). Việt Nam phải cùng một nước chuyển hướng tìm kiếm thị trường, bạn hàng mới, vừa phải thay đổi phương thức và nghệ thuật kinh doanh đúng với thông lệ quốc tế nưhng vẫn phải đạt kết quả khả quan trong hoạt động xuất nhập khẩu. Bảng 4 - Tình hình xuất khẩu qua các năm 1986-1998 Năm Kim ngạch XNK (triệu USD) Kim ngạch XK (chia ra) Tốc độ tăng XK(%) Tỷ trọng XK trong tổng kim ngạch XNK (%) Triệu USD Triệu USD 1986 1987 1988 1989 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1944,2 3309,3 3795,1 4511,8 5156,4 4425,2 5121,4 6909,2 8600,0 12800,0 789,1 854,2 1038,4 1946,0 2404,0 2087,1 2580,7 2985,2 3600,0 5300,0 350,1 3633,2 87,4 1138,2 1353,2 2009,8 2552,4 2952,0 3571,0 5300,0 8,2 26,1 87,4 23,5 -13,2 23,7 15,7 20,6 47,2 26,8 25,8 27,4 43,1 46,6 47,2 50,4 43,2 41,9 41,1 Nguồn: Niên giám thống kê - NXB Hà Nội. Như vậy, qua bảng số liệu, năm 1994 là năm có kim ngạch xuất khẩu giảm sút so với năm 1993, song sự giảm sút đó không đáng kể so với những khó khăn hụt hẫng lơn do sự đổ vỡ cảu thị trường Liên xô và Đông Âu gây ra. Kim ngạch xuất khẩu năm 1994 giảm 13% so với năm 1993. Ngoài ra cũng phải nhận thấy năm 1994 là năm đầu tiên Việt Nam có kim ngạch xuất khẩu vượt hơn 2 tỷ USD. Qua đó mới thấy được những cố gắng lớn của ngoại thương Việt Nam trong công cuộc đổi mới. Từ năm 1995 trở đi liên tục kim ngạch xuất khẩu của năm sau cao hơn năm trước với tốc độ tăng trưởng khá mạnh và đều vượt kế hoạch dự kiến ban đầu. Hơn nữa tỷ trọng xuất khẩu trong tổng kim ngạch xuất khẩu có chiều hướng tăng dần lên theo các năm. Năm 1986, xuất khẩu mới chiếm 26,8% trong tổng kim ngạch thì đến năm 1989, đạt được 43,1% và liên tục từ năm 1989 trở đi, giá trị xuất khẩu chiếm hơn 40% trong tổng kim ngạch xuất khẩu, và đặc biệt năm 1995, xuất khẩu đã chiếm hơn 50% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu. Điều này chứng tỏ, xuất khẩu đã đáp ứng được một phần ngoại tệ cho hoạt động nhập khẩu của đất nước. Năm 1995, kim ngạch xuất khẩu đạt 2,58 tỷ R-USD , tăng 23,7% so với năm 1994. Năm 1996, kim ngạch xuất khẩu đạt 2,98% tỷ R-USD, tăng 15,7% so với năm 1995. Năm 1997 kim ngạch xuất khẩu đạt 3,6% tỷ R-USD, tăng 20,6% so với năm 1996, Năm 1998 kim ngạch xuất khẩu đạt 5,3% tỷ R-USD, tăng 47,2% so với năm 1997. Tính chung cả kế hoạch 5 năm (1994-1998) tổng kim ngạch xuất khẩu đạt gần 16,5 tỷ USD, vượt 10% so với chỉ tiêu kế hoạch đã được Quốc hội đề ra 12-15 tỷ USD, bình quân hàng năm tăng khoảng 18,7% (nếu không tính sự sụt giảm xuất khẩu của năm 1994 thì tăng khoảng 21%). So với giai đoạn 1986-1993, kim ngạch xuất nhập khẩu giai đoạn 1994-1998 tăng gấp hai lần, trong đó xuất khẩu tăng hơn 2,3 lần. Số liệu phân tích trên có thể thấy rằng tốc độ tăng trưởng ngoại thương của nước ta trong giai đoạn này là khá nhanh và cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế (8%) là phù hợp với xu thế phát triển kinh tế đã trở thành quy luật chung của thế giới, đặc biệt là các nước có nền kinh tế mới bắt đầu đi lên đang trong giai đoạn thực thi chính sách mở của nền kinh tế. Những kết quả , thành tựu phát triển khả quan đó đã chứng tỏ ngoại thương Việt Nam đã từng bước trở thành động lực trực tiếp cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa nền kinh tế và phần quan trọng cho sự tăng trưởng và phát triển đất nước. Cùng với tiến triển trên đây, cơ cấu giá trị các nhóm hàng xuất khẩu trong kim ngạch xuất khẩu cũng đã có sự biến đổi phù hợp theo sự chuển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá: tỷ trọng hàng công nghiệp tăng lên tương đối và tỷ trọng hàng nông - lâm - thủy - sản giảm xuống tương đối trong khi cả hai loại hàng này đều tăng tuyệt đối về quy mô khối lượng hàng hoá và giá trị xuất khẩu. Cụ thể là hàng công nghiệp nặng và khoáng sản chiếm 32,8% (thời kỳ 1986-1993 là 16%), hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp chiếm 18,1% (thời kỳ 1986-1993 là 16%), hàng nông - lâm - thủy sản chiếm 41,9% (thời kỳ 1986-1993 là 54%). Sở dĩ hàng công nghiệp nặng và khoáng sản có sự tăng nhanh như vậy là do sản phẩm dầu thô và than đá tăng vọt về quy mô và giá trị xuất khẩu, xuất khẩu dầu thô từ con số 0 năm 1988 tăng lên 3,9 triệu tấn năm 1994 và đến năm 1998 con số tăng lên đến 7,7 triệu tấn, tăng gấp hai lần. Tính chung cả 5 năm 1994-1998 sản lượng dầu thô xuất khẩu là 30,6 triệu tấn, tăng gấp 7,7 lần so với sản lượng năm 1994. Tương tự như vậy, năm 1994, than đá còn ở mức 1,17 triệu tấn nhưng đến năm 1998 đã lên tới 2,2 triệu tấn, tăng gấp 1,9 lần. Tính gộp giai đoạn 1994-1998 xuất khẩu than đá đạt tới 8,689 triệu tấn, tăng gần 7,5% so với sản lượng năm 1994. Với sự gia tăng của hoạt động xuất khẩu và sự biến đổi cơ cấu sản phẩm xuất khẩu thì thị trường xuất khẩu trong giai đoạn này có sự chuyển biến lớn. Xuất khẩu sang hai thị trường đều tăng nhanh, nhưng sang khu vực II tăng mạnh hơn. Cho đến năm 1988,1989, các nước Liên Xô cũ và Đông Âu vẫn là bạn hàng chính của Việt Nam thời kỳ 1993-1997. Các số liệu của bảng dưới đây cho thấy sự thay đổi phương hướng thị trường xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ 1993-1997. Sự thay đổi có tính chất tương phản giữa các bạn hàng châu Âu và châu á cho thấy sự chuyển hướng khá linh hoạt quan hệ buôn bán của Việt Nam sau khi Liên Xô tan vỡ. Tỷ trọng của các nước XHCN Đông Âu cũ trong xuất khẩu của Việt Nam giảm từ 45% năm 1993 xuống còn 3,0% năm 1997. Trong khi tỷ trọng của các nước châu á trong xuất khẩu tăng từ43,3% lên 75,0%. Quan hệ buôn bán của Việt Nam với các nước khu vực khác còn ở mức độ hạn chế. Bảng 5 - Sự thay đổi cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam 1993-1997. Đơn vị:% Vùng lãnh thổ 1993 1994 1995 1996 1997 Châu á Đông Nam á ASEAN NIC Nhật Bản Hàn Quốc Trung Quốc Châu Âu Đông Âu Tây Âu Châu Mỹ Châu Phi Châu úc Không phân biệt xuất xứ 43,3 15,0 13,0 21,0 14,0 1,1 0,3 51,0 45,0 6,0 0,7 0,2 0,3 4,7 77,0 25,0 24,6 36,0 34,0 2,5 0,1 17,0 11,0 6,0 0,3 0,6 0,3 4,7 74,0 22,0 21,5 30,0 32,0 3,6 4,0 15,0 5,0 10,0 1,0 1,0 1,0 8,0 73,0 21,0 13,0 26,0 32,0 4,6 5,0 14,0 6,0 8,0 1,4 2,0 2,2 9,4 75,0 22,9 21,7 26,0 30,0 2,2 7,6 14,5 3,0 10,9 3,4 1,2 1,2 5,4 Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư -2000 Phân tích kỹ hơn cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam trong thời kỳ này cho thấy: Nhật Bản và các nước công nghiệp hoá ở châu á là bạn hàng chính chiếm gần 805 tổng kim ngạch buôn bán của Việt Nam. Tron đó kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các nước ASEAN chiếm từ 25 đến 30% tổng kim ngạch xuất khẩu. Tổng mức lưu chuyển ngoại thương giữa Việt Nam với các nước ASEAN đã tăng dần lên 20 lần trong vòng 9 năm (120 triệu USD năm 1986 lên 2,5 tỷ USD năm 1998). Đây là một thị trường mà Việt Nam là một bộ phận của thị trường đó với gần 500 triệu dân sôi đôngj và đầy tiềm năng này sẽ cùng nhau tăng nhanh lợi ích thu được từ hoạt động ngoại thương, đặc biệt là lĩnh vực xuất khẩu. b, Tình hình xuất khẩu qua các năm 1999, 2000, 2001 và 2002. Năm 1999, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 18,4 tỷ USD, bằng 46,4% tổng kim ngạch của cả thời kỳ 1994-1998 và tăng 35% so với riêng năm 1998. Xuất khẩu đã đạt 7,2558 tỷ USD, tăng 33,2% so với năm 1998 và chiếm sấp sỉ 30% GDP nhưng tốc độ tăng vẫn thấp hơn tốc độ tăng nhập khẩu (36,6%). Kim ngạch xuất khẩu tính theo đầu người đã đạt mức trên dưới 95USD vào năm 1999 gấp hơn 3 lần so với năm 1994 (30USD) và gấp 9 lần so với năm 1986 (11USD). Tuy nhiên con số này còn khá khiên tốn so với mức 170USD được thế giới thừa nhận là mức của một nước có nền kinh tế ngoại thương tương đối phát triển. Cơ cấu hàng xuất khẩu đã có chuyển biến tích cực, tỷ trọng hàng chế biến năm 1999 đã tăng lên 30%. Tỷ trọng các mặt hàng xuất khẩu trong tổng kim ngạch xuất khẩu như sau: Nông nghiệp chiếm 34,1%, lâm nghiệp chiếm 1,9%, thuỷ sản chiếm 9,0%, công nghiệp và khai khoáng 36,4%, dầu thô 18,9%. Một số mặt hàng chủ lực đã hình thành, có kim ngạch tương đối lớn và chất lượng ngày càng được cải tiến, bước đầu gây được tín nhiệ trên thị trường thế giới như: dầu thô, gạo, hải sản, dệt may, giày dép, cà phê, cao su, hạt điều. . . Đặc biệt hai mặt hàng là dầu thô và dệt may đạt giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD, cụ thể: dầu thô giá trị xuất khẩu đạt 1,3457 tỷ USD, và dệt may 1,150 tỷ USD. Về thị trường xuất khẩu, chúng ta vẫn tiếp tục duy trì các thị trường quen thuộc. Nhật Bản trong năm 1999 tiêu thụ hàng xuất khẩu của Việt Nam với giá trị xấp xỉ 1,5 tỷ USD. Đây là thị trường được đánh giá là tiềm năng nhất trong những năm trở lại đây. Thị trường EU vẫn là thị trường lớn tiêu thụ hàng dệt may, giầy dép của Việt Nam. Đối với Mỹ là bạn hàng mới nhưng Mỹ đầy tiềm năng đối với Việt Nam trong việc mở rộng xuất khẩu. Năm 1999 cũng là năm đầu tiên đánh giá năm đầu tiên đánh giá về quan hệ giữa Việt Nam với các nước ASEAN sau ngày gia nhập chính thức vào tổ chức này (7/1998._.yển dịch cơ cấu kinh tế hướng về xuất khẩu phải phù hợp với bước đi của nước ta từng giai đoạn 1999 - 2003, 2005 - 2010 và 2011 - 2020. Chuyển đổi nhanh cơ cấu thị trường xuất khẩu theo hướng đa dạng hoá thị trường, đa dạng hoá bạn hàng; từng bước thực hiện tự do hoá thương mại, phát triển thị trường trong nước nhiều thành phàn, thực hiện thị trường mở; khuyến khích các thành phần kinh tế và các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu. Nhu cầu của thế về loại hàng hoá Việt Nam xuất khẩu đang tăng, các nước đều có cơ hội tăng nhu cầu thông qua các giải pháp tổ chức thị trường và tiếp thị. Chuyển đổi nhanh cơ cấu hàng xuất khẩu từ thô và sơ chế sang chế biến sâu. Trước đây ta xuất nguyên liệu thô, các nước nhập nguyên liệu thô của ta về chế biến sâu để sử dụng trong nước và tái xuất nay ta tổ chức chế biến để xuất sản phẩm chế biến. Thực hiện nguyên tắc “có đi có lại” trong kinh doanh thương mại do tổ chức thương mại thế giới (WTO) đề ra; tạo nên mối quan hệ gắn bó giữ thị trường xuất khẩu và thị trường nhập khẩu, phấn đấu từng bước cân bằng xuất khẩu với từng nước và cân bằng tổng xuất - tổng nhập. Ta sử dụng lao động rẻ có thể sản xuất ra sản phẩm có giá cạnh tranh để chiếm lĩnh thị trường của nước khác. Thực hiện chiến lược “công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu” để tạo ra nhiều hàng hoá đạt chất lượng quốc tế có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới, hoạt động nhập khẩu cũng phải thực hiện tốt chiến lược này. Công nghệ nhập khẩu là công nghệ hiện đại đồng bộ của những nước kinh tế phát triển, công nghệ nguồn (Mỹ, Nhật bản, EU, Canada...) giảm đến mức tối đa nhập khẩu công nghệ trung gian và công nghệ đã qua sử dụng. Bảng 9 - Những căn cứ để định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế hướng về xuất khẩu đến năm 2003, 2010, và 2020. TT Tên nhóm hàng hoá và dịch vụ Nhu cầu trong nước Tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu làm căn cứ đầu tư A B C D 1 Lương thực, cây công nghiệp, rau quả và thuỷ sản Nhu cầu đến năm 2020. - Lương thực: 30 - 35 triệu tấn. - Rau quả: 30 - 40 triệu tấn. - Thuỷ sản: 1,8 - 2 triệu tấn - Xuất khẩu 3 triệu tấn gạo, nông sản chế biến và rau quả 5 - 8 tỷ USD/năm - Có khả năng xuất khẩu thuỷ sản chế biến 2,5 - 3 tỷ USD/năm 2 Hàng công nghiệp nhẹ: - Hàng dệt - may mặc. - Hàng giầy dép và sản phẩm da. - Hàng tiểu thủ công nghiệp. Đến năm 2020 nhu cầu hàng chục triệu sản phẩm may mặc, hàng chục triệu đôi giày và hàng triệu sản phẩm tiểu thủ công nghiệp. Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân hàng năm. - Hàng dệt - may mặc 30%. 2003: 3 tỷ USD, 2010: 5 tỷ USD; 2020: 10 tỷ USD. - Hàng giày dép và các sản phẩm da: 40% 2003: 1,5 tỷ USD, 2010: 3 tỷ USD, 2020: 5 tỷ USD. - Hàng tiểu thủ công nghiệp: 10% - 2003: 10 triệu USD; 2010: 30 triệu USD. 3 Các ngành dịch vụ chủ yếu: - dịch vụ quảng cáo - dịch vụ xuất nhập khẩu. - dịch vụ phần mềm và sản xuất phần mềm. - Dịch vụ du lịch - Dịch vụ tài chính Bình quân hàng năm có 5 - 10 triệu khách du lịch trong nước đi nghỉ mát và tham quan, có hàng chục triệu tấn hàng hoá xuất nhập khẩu. - Có khả năng thu hút 5 - 10 triệu khách du lịch quốc tế/năm. - Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của nước ta từ 20 - 30% năm. - Làm dịch vụ xuất khẩu và dịch vụ phần mềm cho các nước. - Làm dịch vụ cho các doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. 4 Nhóm hàng điện tử - tin học - bưu chính viễn thông. - Máy tính điện tử. - Thiết bị điện tử - Hàng tiêu dùng điện tử. - Đồ chơi điện tử. - Thiết bị viễn thông. Nhu cầu bình quân hàng năm: - Máy tính điện tử: 100.000 chiếc. - Ti vi: 300.000 chiếc. Đồ chơi điện tử: 100.000 chiếc. - Máy điện thoại: 30 - 33 chiếc/100 dân (mục tiêu năm 2010) - Tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp điện tử - tin học: 20%/năm. - Tốc độ tăng trưởng dịch vụ 14%/năm - Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng điện tử - tin học bình quân 50%/năm. Nguồn: Chuyên đề nghiên cứu kinh tế - Viện kinh tế thế giới 2002. 3.1.3-/ Mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu trong giai đoạn 1999 - 2003 và 2005 - 2010. Để từng bước rút ngắn khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển của Việt Nam so với thế giới, Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam đến năm 2003 với mục tiêu tổng quát là phấn đấu tổng sản phẩm quốc nội (GDP) khi đó phải tăng gấp 2 lần so với năm 1993. Có nghĩa là đến năm 2003, GDP/đầu người của Việt Nam cũng phải đạt ít nhất là 400 USD, gấp 2 lần so với 200 USD của năm 1993. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và khả năng phát triển, Đại hội VIII đã xác định rằng để đạt được như vậy, trong kế hoạch 5 năm (1999 - 2003). GDP của Việt Nam phải có mức tăng bình quân hàng năm khoảng 9 - 10%. Để góp phần tích cực thực hiện mục tiêu tổng quát này, riêng trong lĩnh vực ngoại thương, kim ngạch xuất khẩu hàng năm của Việt Nam sẽ phải đạt mức bình quân khoảng 28%, nâng mức kim ngạch xuất khẩu trên đầu người năm 2003 lên trên 200 USD. Và do đó, tổng kim ngạch xuất khẩu ở năm 2003 cũng phải tăng lên ít nhất 7 - 8 lần so với năm 1993, hoặc gấp 3,2 - 3,7 lần so với năm 1998, nghĩa là sẽ phải đạt khoảng 17 - 20 tỷ USD. Hai phương án tăng trưởng xuất khẩu đến năm 2003 và 2010 được Bộ Thương mại và Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng nhiều nhà khoa học, quản lý, hoạch định chiến lược, chính sách kinh tế đối ngoại trình Đại hội VIII như sau: Phương án I: Phương án có mức tăng trưởng xuất khẩu 24,5%/năm. Năm Dân số (triệu người) Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu là 24,5%/năm Kim ngạch (triệu USD Bình quân (USD/người) 2001 78,8 10.200 130 2002 80,3 12.600 156 2003 81,8 15.200 186 1999-2003 57.800 2005-2010 518.360 2010 92,4 105.533 1.142 Nguồn: Bộ Thương mại. Phương án I là phương án xây dựng từ yêu cầu thực tiễn là phấn đấu hoàn thành và vượt mục tiêu đã được Đại hội VIII đề ra ở mức trung bình, từ nay đến năm 2010 sẽ có mức tăng GDP bình quân hàng năm khoảng 9%. Theo phương án này thì 5 năm 1999 - 2003 sẽ đạt khoảng 57,8 tỷ USD, tăng gấp 3,4 lần và kim ngạch xuất khẩu tại năm 2003 sẽ phạt đạt mức 15,2 tỷ USD, tăng gấp 3 lần so với năm 1998; và do đó tốc độ bình quân tăng xuất khẩu 5 năm 1999 - 2003 sẽ phải đạt khoảng 24,5%. Hoàn thành phương án này, thời điểm năm 2003, Việt Nam sẽ phải đạt kinh ngạch xuất khẩu đầu người khoảng 170 - 190 USD, và như vậy, Việt Nam sẽ được xếp vào danh sách những nước có nền ngoại thương tương đối phát triển. Phương án II - Phương án có mức tăng trưởng xuất khẩu 28 - 30%/năm Năm Dân số (triệu người) Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu 28-30%/năm Kim ngạch (triệu USD Bình quân (USD/người) 2001 78,8 10.950 139 2002 80,3 13.900 173 2003 81,8 17.500 213 1999-2003 62.630 2005-2010 580.560 2010 92,4 156.402 1.607 Nguồn: Bộ Thương mại Phương án II là phương án tăng trưởng xuất khẩu ở mức cao, nhằm vượt lên trên tránh tụt hậu về lâu dài. Theo phương án này, nếu thực hiện được, ngoại thương Việt Nam sẽ đạt được sự nhảy vọt cả về lượng và chất, vì khi đó (năm 2003), Việt Nam có thể đạt kim ngạch xuất khẩu ở mức 17 - 20 tỷ USD còn cao hơn tổng kim ngạch xuất khẩu đã đạt 5 năm (1994 - 1998), và gộp cả 5 năm kim ngạch xuất khẩu 1999 - 2003 có thể đạt tới 62,630 tỷ USD, tăng gần 3,7 lần giai đoạn 1994 - 1998 với mức tăng trưởng bình quân hàng năm khoảng 28 - 30%. Điều cần lưu ý là việc xác định phương án II về cơ bản đã được căn cứ từ mục tiêu phấn đấu ở mức cao của dự thảo các văn kiện trình Đại hội VIII: GDP bình quân hàng năm (1999 - 2003) tăng khoảng 10%, tương ứng theo kim ngạch xuất khẩu bình quân cũng phải tăng ở mức cao 28 - 30%. So với kết quả đạt được trong thời gian 5 năm 1994 - 1998, thì đó là mức phấn đấu đề ra rất cao đã được Đại hội VIII ghi nhận là chỉ tiêu cần quyết tâm thực hiện, vì nếu đạt được, Việt Nam không chỉ thoát khỏi nguy cơ tụt hậu kéo dài mà tại thời điểm 2010 trình độ phát triển có thể tương đương với trình độ phát triển có thể tương đương với trình độ phát triển hiện nay của Thái Lan. Sở dĩ có thể dự báo như vây vì theo kết quả nghiên cứu dự báo từ phương án I là phương án mức trung bình, nếu thực hiện được thì tại năm 2010, kim ngạch xuất khẩu sẽ có thể là 105,53 tỷ USD, khiến cho kim ngạch xuất khẩu đầu người có thể đạt mức 1142 USD, còn cao hơn kim ngạch xuất khẩu đầu người năm 1998 của Thái Lan (khoảng 720 USD). Về tính khả thi của hai phương án xuất khẩu trên đây, đương nhiên với phương án I là dễ hoàn thành hơn, cho dù chúng ta sẽ gặp nhiều khó khăn, thách thức. Tính khả thi của phương án I là rõ ràng vì thực tế cho thấy trong các năm qua, kim ngạch xuất khẩu kể cả quy mô và tốc độ tăng trưởng đều đã liên tục năm sau cao hơn năm trước với mức khá cao và vượt dự kiến ban đầu. Đối với phương án II là phương án phấn đấu mức cao đã được Đại hội VIII ghi nhận thì để thực hiện phương án này sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn, thách thức lớn hơn so với phương án I, do vậy đòi hỏi phải có quyết tâm rất cao và nỗ lực phấn đấu lớn. Song nó vẫn có thể thực hiện được nếu chúng ta khơi dậy hơn nữa các nguồn lực thúc đẩy nhanh sự tăng trưởng xuất khẩu, biến các nguồn lực sẵn có thành các lợi thế so sánh hữu hiệu nhất. Tuy nhiên cần nhận thức một yêu cầu có tính nguyên tắc là cần tính tới khả năng các nguồn lực của đất nước luôn ở trạng thái vận động biến đổi. Do đó, việc đa dạng hoá các nguồn lợi thế so sánh, nguồn gốc của sự đa dạng hoá các sản phẩm xuất khẩu. 3.2-/ Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu trong quá trình hội nhập AFTA. Mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu và xuất khẩu có hiệu quả là điều mong muốn của bất kỳ quốc gia nào. Nhưng để thực hiện được mục tiêu đó các quốc gia cần vạch cho mình những chính sách và biện pháp đúng đắn cho những chính sách và biện pháp đúng đắn cho những bước đi của mình sao cho phải xuất phát từ nội lực của nền kinh tế và phù hợp với xu thế vận động của nền kinh tế thế giới. Rõ ràng, chúng ta nhận thấy rằng những thuận lợi và lợi thế so sánh của Việt Nam chủ yếu là nhân tố khách quan, nhưng những khó khăn lại là những yếu tố bắt nguồn từ chính nội lực nền kinh tế. Điều này chứng tỏ trong quá trình hội nhập khu vực AFTA, cũng như các khu vực khác trên thế giới APEC, WTO, nền kinh tế Việt Nam dễ bị tổn thương so với các nước thành viên và trở thành những thách thức to lớn đòi hỏi chúng ta phải có những cách đi hợp lý để chiến thắng trong cuộc chạy đua và cạnh tranh kinh tế này. 3.2.1-/ Biện pháp chuyển dịch cơ cấu sản phẩm xuất khẩu. Sự định hướng đúng đắn việc chuyển dịch cơ cấu sản phẩm xuất khẩu trong mối quan hệ chặt chẽ với chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Trong giai đoạn đầu tham gia AFTA, chúng ta nên ưu tiên phát triển những ngành mà lợi thế so sánh có thể phát huy tác dụng được nhiều nhất đồng thời tận dụng được ưu đãi thuế quan theo CEPT trong việc xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang các nước ASEAN. Như vậy mới có thể đảm trong thời gian tương đối ngắn những mặt hàng của ta mới có sức cạnh tranh và xuất khẩu không chỉ sang thị trường ASEAN mà còn tới các thị trường khác. Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu thay đổi theo hướng: giảm tỷ lệ trong sản phẩm thô và sơ chế, tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến ngày càng sâu và tinh. Để phát huy hiệu quả nhất các lợi thế so sánh hiện có của Việt Nam về nguồn lao động, vị trí địa lý, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái... thuận lợi cho các khả năng phát triển nông - lâm - ngư nghiệp và khai thác tài nguyên khoáng sản, ngoài việc phát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ như cơ khí chế tạo và sửa chữa máy móc, công cụ lao động, phân bón hoá học, thuốc trừ sâu... cần tập trung phát triển mạnh các ngành công nghiệp chế biến nông lâm - thuỷ sản, đặc biệt là với các sản phẩm chủ lực trong xuất khẩu như: gạo, thịt, mực, tôm, chè, lạc, cà phê, cao su, gỗ, tơ tằm, các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp truyền thống sử dụng nhiều lao động, vốn đầu tư ít lại dễ tạo vốn ban đầu như dệt, may mặc, giầy da, đồ mỹ nghệ chế tạo gốm sứ, thuỷ tinh, mây tre, gỗ... Tăng trưởng xuất khẩu theo các định hướng trên đây chủ yếu mới chỉ diễn ra bằng con đường phát triển kỹ thuật thấp và tình trạng thiếu vốn đầu. Con đường này phù hợp với trình độ phát triển hiện nay, song nếu chỉ dừng lại ở con đường này chúng ta sẽ gặp phải những khó khăn làm chậm dần tốc độ tăng trưởng xuất khẩu. Đó là giới hạn tự nhiên của chính các lợi thế so sánh đó sẽ ngày càng trở lên khan hiếm do sự khai thác của con người; là những biến động bất lợi về quan hệ cung cầu, giá cả của thị trường thế giới về những sản phẩm có hàm lượng lao động nhưng yếu tố kỹ thuật lại thấp. Nên trong quá trình hội nhập AFTA, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu phát triển, Việt Nam cần ưu tiên đầu tư có trọng điểm vào một số ngành đã và sẽ trở thành ngành mũi nhọn có tốc độ tăng trưởng cao, doanh thu lớn lại được hưởng ưu đãi của CEPT như dầu khí, hoá dầu, hoá chất cơ bản, thép, xi măng và các vật liệu xây dựng khác, cơ khí, điện tử và tin học. Từ nay đến năm 2006, đặc biệt chấn chính và phát triển mạnh ngành cơ khí chế tạo theo hướng tận dụng năng lượng hiện có, tranh thủ công nghệ hiện đại, để tạo nền móng vững chắc cho hoạt động làm hàng xuất khẩu. Đưa nhanh công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ sinh học cùng với tăng cường năng lực và nâng cao trình độ công nghệ chế biến đối với sản phẩm xuất khẩu chủ lực như gạo, dầu thô, cao su, tơ tằm, chè, cà phê, thuỷ sản... Thực hiện các định hướng ưu tiên phát triển trên đây chúng ta sẽ tiến tới xây dựng hoàn chỉnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản phẩm hướng mạnh về xuất khẩu một cách năng động, sáng tạo phù hợp với lợi thế so sánh của đất nước và từng bước hội nhập vào phân công lao động và hợp tác trong khu vực cũng như trên thế giới. 3.2.2-/ Biện pháp thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Để có thể sản xuất các sản phẩm chế biến chuyên sâu tạo ra sức cạnh tranh cho sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam vào ASEAN thì bản thân nền kinh tế Việt Nam không thể một sớm một chiều có thể làm ngay được mà phải dựa vào nguồn đầu tư nước ngoài có hiệu quả trong lĩnh vực thay thế nhập khẩu và những ngành hướng mạnh xuất khẩu. Do đó, phải tạo ra môi trường hấp dẫn đầu tư nước ngoài bằng chính các đòn bầy kinh tế nhằm khuyến khíchh xuất khẩu dành cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Cụ thể miễn giảm thuế lợi tức trong một thời gian nhất định cho các nhà đầu tư nước ngoài sản xuất hàng xuất khẩu, môi trường chế biến thuỷ sản, sử dụng công nghệ cao. Hình thức liên doanh là hình thức thích hợp nhất cho Việt Nam trong tích luỹ vốn, chuyển giao công nghệ và học tập kinh nghiệm quản lý. Cả trong trước mắt và lâu dài, đây sẽ là một nhân tố quan trọng cho thay thế nhập khẩu và khuyến khích xuất khẩu của nước ta trong việc hội nhập với khu vực và thế giới. Tuy nhiên theo đánh giá của Thái Lan, đầu tư 100% vốn nước ngoài ở Việt Nam thuận lợi hơn so với thành lập các liên doanh do tính phức của các quy định liên doanh và thuế xuất nhập khẩu và thuê máy móc của Việt Nam rất phức tạp. Đánh giá này không phải không có cơ sở. Chúng ta đã và đang hoàn thiện các chính sách của mình trong đó có cả chính sách thuế và các quy định về liên doanh và điều này đòi hỏi có một thời gian nhất định. Trong thời gian tới khi thực hiện Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Nhà nước nên tuỳ thuộc vào từng giai đoạn, hoàn cảnh cụ thể để ban hành thêm các ưu đãi đầu tư, xong không nên thay đổi Luật một cách quá nhanh chóng để tránh gây ra tình trạng bất ổn định trong quy chế. Việc thu hút vốn đầu tư nhằm khuyến khích xuất khẩu của Việt Nam cần đặt trong tương quan so sánh với các nước trong khu vực và đặt trên quan điểm thúc đẩy đầu tư trong nước với sự kiện gia nhập , đầu tư 100% vốn nước ngoài ở Việt Nam thuận lợi hơn so với thành lập các liên doanh do tính phức của các quy định liên doanh và thuế xuất nhập khẩu và thuê máy móc của Việt Nam rất phức tạp. Đánh giá này không phải không có cơ sở. Chúng ta đã và đang hoàn thiện các chính sách của mình trong đó có cả chính sách thuế và các quy định về liên doanh và điều này đòi hỏi có một thời gian nhất định. Trong thời gian tới khi thực hiện Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Nhà nước nên tuỳ thuộc vào từng giai đoạn, hoàn cảnh cụ thể để ban hành thêm các ưu đãi đầu tư, xong không nên thay đổi Luật một cách quá nhanh chóng để tránh gây ra tình trạng bất ổn định trong quy chế. Việc thu hút vốn đầu tư nhằm khuyến khích xuất khẩu của Việt Nam cần đặt trong tương quan so sánh với các nước trong khu vực và đặt trên quan điểm thúc đẩy đầu tư trong nước với sự kiện gia nhập AFTA, giờ đây việc thu hút đầu tư thúc đẩy xuất khẩu Việt Nam cần phải được đặt trong bối cảnh phát triển của cả khối ASEAN. 3.2.3-/ Tham gia cộng đồng thương mại quốc tế. Để hoàn thành được những mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu trong giai đoạn 2003 - 2010 và thâm nhập được vào thị trường AFTA thì mục đích của việc gia nhập AFTA là không chỉ nhằm vào thị trường ASEAN và xa hơn nữa là tạo điều kiện cho Việt Nam phát triển thị trường mới, Việt Nam cần tiếp tục thực hiện chính sách mở rộng thị trường, tìm kiếm nhiều bạn hàng mới và ổn định. Do đó, Việt Nam cần tham gia các diễn đàn, các tổ chức, các chế định quốc tế và khu vực. Nên không chỉ dứng lại với việc gia nhập AFTA/ASEAN, Việt Nam đã có đơn xin tham gia tổ chức thương mại thế giới (WTO) và đã có một số vòng đàm phán với tổ chức này. Việt Nam có điều kiện hội nhập với kinh tế thế giới, tránh được tình trạng phân biệt đối xử, tranh thủ được ưu đãi mà WTO dành cho nước kém phát triển. Đối với khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) cần từng bước thực hiện hoàn toàn hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT). Đó là một điều kiện cần thiết để phát triển nhanh nền kinh tế mở cửa, nhanh chóng hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực, tạo điều kiện cho kinh tế đối ngoại, đặc biệt là hoạt động xuất khẩu phát triển phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của AFTA bằng cách: Nâng cao chất lượng hàng hoá xuất khẩu, tạo ra uy tín và sức cạnh tranh cho hàng hoá Việt Nam bằng cách kiểm tra bắt buộc về chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000 và ISO 14000 cho mọi hàng hoá Việt Nam xuất sang ASEAN cũng như thế giới. Bằng biện pháp này, hàng hoá của Việt Nam dần dần lấy được uy tín trước mắt và lâu dài trên thị trường các nước ASEAN. Tạo lập uy tín trên thị trường không phải là dễ, nhưng việc giữ uy tín đó lại càng khó hơn đòi hỏi các tổ chức xuất khẩu cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy định chất lượng, làm được điều này sẽ giúp chúng ta có được thị trường ổn định. Mặt khác, để thúc đẩy xuất khẩu thì chúng ta nên thành lập các tổ chức xúc tiến thương mại. Chức năng chính của trung tâm này là cung cấp thông tin và tổ chức xúc tiến các hoạt động thương mại, tiến hành nghiên cứu thị trường và tổ chức đưa hàng hoá Việt Nam ra thị trường ASEAN cũng như thế giới trong đó quan trọng nhất là giúp các doanh nghiệp Việt Nam tham gia hệ thống phân phối hàng hoá ở các nước ASEAN. Trung tâm này sẽ có một ngân hàng dữ liệu về các thị trường nước ngoài và về những nhà cung ứng và người mua trong và ngoài nước. Việc thành lập trung tâm này sẽ cho phép mở rộng khả năng phối hợp giữa các Bộ, các cơ quan cũng như khả năng được cung cấp thông tin và khả năng tham gia vào thị trường nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam. Kinh nghiệm thành lập và vận hành trung tâm này, Việt Nam có thể học từ người Nhật với FETRO, người Hàn Quốc với KOTRA và người Đài Loan với CETRA. 3.2.4-/ Nhóm các biện pháp tài chính tín dụng. Để gia tăng sức mạnh của hoạt động xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường ASEAN, Chính phủ nên đưa ra các biện pháp tài chính tín dụng như: Khuyến khích vệ tinh của các cơ sở sản xuất hàng hoá xuất khẩu: Khuyến khích xuất khẩu trực tiếp và khuyến khích đất tư sản xuất hàng xuất khẩu mới chỉ nhìn đến các doanh nghiệp có sản xuất trực tiếp hàng xuất khẩu và doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu. Trong thực tế còn có vô số các doanh nghiệp vừa và nhỏ làm nhiệm vụ cung ứng nguyên liệu đầu vào hoặc bán thành phẩm. Họ cũng có quyền được hưởng ưu đãi. Vì vậy, cũng cần miễn giảm một phần thuế cho sản phẩm cung ứng cho cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu. Nếu làm được như vậy thì sự phát triển của một ngành hàng xuất khẩu nào đó sẽ kéo theo sự phát triển của nhiều ngành khác, tất cả cùng hưóng về xuất khẩu, làm cho hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam lúc này sẽ có tính cạnh tranh hơn so với hàng hoá của các nước trong khu vực. Vừa đẩy mạnh xuất khẩu giá trị gia tăng (không phải nhập nguyên liệu, xuất thành phẩm theo kiểu gia công hướng ưu đãi của CEPT, vừa tạo điều kiện thu hút được các nguồn nhân lực và vật lực của đất nước vào lĩnh vực kinh tế có hiệu quả. Lập quỹ bảo lãnh tín dụng: Chính phủ cần đứng ra thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng nhằm mục đích trợ giúp cho các doanh nghiệp có tiềm năng phát triển xuất khẩu nhưng không có điều kiện được tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng do không có tài sản thế chấp. Quỹ sẽ đứng ra bảo lãnh các khoản vay cùng chia sẽ thành công với doanh nghiệp và rủi ro với ngân hàng. Nên đưa một số khoản mục sau vào danh mục bảo lãnh: Bảo lãnh chứng từ thương mại (doanh nghiệp có thể đổi chứng từ lấy tiền mặt tại ngân hàng thông báo L/C ngay sau khi giao hàng, không phải đã chuyển tiền như hiện nay). Bảo lãnh tiền vay mua máy móc, vật tư phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu. Bảo lãnh nộp thuế nhập khẩu đối với máy móc, thiết bị, vật tư nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu. Quỹ bảo hiểm: cần khuyến khích các hiệp hội ngành hàng tự nguyện thành lập các quỹ bảo hiểm (phòng ngừa rủi ro) riêng cho ngành của mình, nhất là trong những ngành quan trọng, có khối lượng xuất khẩu tương đối lớn như gạo, cà phê, cao su... Quỹ bảo hiểm này có nhiệm vụ trợ giúp các thành viên hiệp hội khi giá cả thị trường biến động thất thường. Khi thị trường thế giới thuận lợi, có thể xuất khẩu với giá cao hơn mức giá bảo hiểm thì hiệp hội thu một phần chênh lệch đưa vào quỹ bảo hiểm: ngược lại khi thị trường thế giới biến động không thuận lợi, giá cả xuất khẩu thấp hơn giá bảo hiểm thì trích quỹ để hỗ trợ cho các thành viên. Cho vay theo thành tích xuất khẩu: Chính phủ nên xem xét áp dụng chính sách vay theo thành tích xuất khẩu. Cụ thể tổng mức được phép vay, các điều kiện về thế chấp, bảo lãnh sẽ thay đổi tuỳ theo thành tích xuất khẩu năm trước của doanh nghiệp. 3.2.5-/ Đào tạo một đội ngũ cán bộ quản lý kinh doanh. Trong xu thế hội nhập vào đời sống kinh tế của toàn khu vực, tiến tới tự do hoá thương mại của khối ASEAN, thì lĩnh vực ngoại thương, hàng ngày hàng giờ phải tiếp xúc với các bạn hàng các đối tác thuộc các chính kiến khác nhau, đòi hỏi cần có những con người có đầy đủ năng lực và phẩm chất để làm việc. Tất cả các chiến lược, chính sách sẽ trở thành vô nghĩa nếu không có con người thực hiện. Chính vì thế, sự nghiệp đổi mới nước ta đã và đang đặt con người vào vị trí trung tâm. Tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế nói chung, của hoạt động kinh doanh xuất khẩu nói riêng chỉ có thể đạt được tốc độ cao khi chúng ta giải quyết và phát huy cao độ vai trò của nhân tố con người. Với những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ, với sự thay đổi lớn về quan hệ kinh tế quốc tế đang đòi hỏi khả năng nhận thức và vận dụng công nghệ mới, hiện đại và sự ứng xử linh hoạt trong sản xuất kinh doanh ngày càng phải chính xác và nhanh nhạy. Hơn nữa, con người Việt Nam đã chịu ảnh hưởng khá lâu dài của cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp. Điều đó càng bức thiết đòi hỏi những cán bộ quản lý kinh doanh một mặt phải nhanh chóng bỏ lối làm ăn cũ, mặt khác phải được đào tạo và đào tạo lại để nâng cấp trình độ, kỹ năng, kỹ xảo nắm bắt được kịp thời và áp dụng có hiệu quả những thành tựu khoa học công nghệ mới và những kiến thức về kinh tế thị trường vào quá trình sản xuất kinh doanh. Vì thế phải có những chương trình đào tạo, bồi dưỡng những kiến thức cho phù hợp với yêu cầu của từng đối tượng. Cần tiếp tục thực hiện phương châm đa dạng hoá loại hình đào tạo, kể cả việc mở các lớp dài hạn và ngắn hạn trong nước với sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế để bồi dưỡng các lý thuyết và kinh nghiệm hoạt động trong nền kinh tế thị trường nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao. 3.2.6-/ Tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội. Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội vừa là điều kiện, vừa là giải pháp không thể thiếu được của việc khuyến khích và thúc đẩy xuất khẩu của nước ta. Cơ sở hạ tầng tốt sẽ tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi thu hút đầu tư nước ngoài mà các nhà đầu tư nước ngoài thường là các công ty lớn, các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia. Họ đầu tư vào bất kỳ lĩnh vực nào cũng nhằm hướng tới việc thu được lợi nhuận cao nhất. Muốn vậy, họ phải chiếm lĩnh được thị trường không những của nước nhận đầu tư mà của các nước bên ngoài khác hay họ phải cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ của mình cho thị trường toàn cầu. Do đó, làm cho ngoại thương của nước bản địa phát triển hay chính hoạt động xuất khẩu đang gia tăng thông qua hoạt động đầu tư của các công ty xuyên quốc gia. Tạo điều kiện cho nền kinh tế của các nước nhận vốn đầu tư phát triển hội nhập với nền kinh tế chung của khu vực và toàn cầu. Thực trạng kết cấu hạ tầng của nước ta bên cạnh những tiến bộ đáng kể trong một số lĩnh vực như: bưu điện, viễn thông, điện năng,... Việt Nam còn nhiều yếu kém đặc biệt, đặc biệt là giao thông vận tải (đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, hàng không, bến cảng, kho bãi). Bất cập so với yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hóa nền kinh tế hiện nay. Cơ sở hạ tầng yếu kém đã phần nào làm các nhà đầu tư nước ngoài ngần ngại bỏ vốn vào Việt Nam, nhất là vùng sâu, vùng xa. Bản thân việc cải tạo cơ sở hạ tầng lại cũng không hấp dẫn các nhà đầu tư vì phải bỏ vốn nhiều, lãi ít, thu hồi vốn chậm. Trong hoàn cảnh Việt Nam hiện nay, mặc dù Đảng và Chính phủ đã có nhiều nỗ lực, nhất là phát triển nguồn điện và mạng lưới điện, nhưng khả năng khan hiếm điện trong vài năm tới rất dễ xẩy ra, còn ngành bưu chính viễn thông tuy phát triển vượt bậc có thể theo kịp các nước trong khu vực nhưng giá cả thì quá đắt thậm chí cao gấp hai, ba lần so với các nước trong khu vực. Khu vực cơ sở hạ tầng phát triển chậm, chi phí vận chuyển hiện nay rất cao và nguy cơ tắc nghẽn giao thông là điều khó tránh khỏi. Với cơ sở hạ tầng như vậy sẽ làm cho môi trường kinh doanh kém hấp dẫn, hạn chế sức cạnh tranh trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào nước ta. Chính vì vậy, với điều kiện nguồn vốn trong nước còn có hạn thì cần phải sử dụng sức mạnh tổng hợp trong nước và quốc tế thông qua hình thức liên doanh, liên kết khácn hau để nâng cấp, mở rộng xây dựng kết cấu hạ tầng. Tuy nhiên, thành công của các biện pháp này có đạt được hay không còn tuỳ thuộc vào việc thực hiện một loạt các chính sách kinh tế vĩ mô khác như: chính sách thương mại; chính sách đầu tư phát triển với việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, chính sách tài chính tín dụng,... các chính sách này phải được nghiên cứu và được thực hiện một cách đồng bộ. Thách thức vẫn còn ở phía trướng, nhưng chúng ta phải hy vọng những kết quả có thể đạt được trong quá trình hội nhập nền kinh tế khu vực ASEAN. kết luận Như vậy với những nghiên cứu trên đây cho phép chúng ta kết luận rằng con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá dựa trên tăng trưởng xuất khẩu là con đường đúng đắn đưa nền kinh tế Việt Nam “cất cánh” và thực hiện được lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí MInh là một Việt Nam phát triển cùng sánh vai với các cường quốc trên thế giới. Nhưng trên thực tế con đường chúng ta đi không phải là một con đường dễ dàng. Cùng với những thành tích mà chúng ta đã đạt được, với kinh nghiệm thực tiễn của đất nước và các nước trên thế giới sẽ giúp cho Việt Nam vững bước đi lên. Thực tế trong những năm qua đã cho chúng ta thấy rõ sự chuyển đổi của nền ngoại thương Việt Nam nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng sang cơ chế thị trường, mở cửa đa phương, đa chiều các quan hệ thị trường, bạn hàng theo thông lệ quốc tế, từng bước xoá bỏ nguyên tắc “Nhà nước độc quyền quản lý ngoại thương” bằng các chính sách, biện pháp khuyến khích phát triển một nền ngoại thương nhiều thành phần và thực hiện tự do hoá thương mại. Chính vì thế xuất khẩu Việt Nam đã có những tiến triển vượt bậc, góp phần tích cực vào sự tăng trưởng và phát triển chung của nền kinh tế. Bên cạnh đó, thời gian qua hoạt động xuất khẩu của Việt Nam cũng đã không tránh khỏi những khó khăn vướng mắc đòi hỏi phải có biện pháp tháo gỡ trong trước mắt và lâu dài. Việc tham gia vào AFTA và các tổ chức thương mại khác là một xu thế tất yếu của phát triển kinh tế. Điều này đặt cho Việt Nam một nước có nền kinh tế kém phát triển những cơ hội và thách thức mới, đòi hỏi Việt Nam phải biết tận dụng cơ hội và bằng mọi biện pháp vượt qua những thách thức đó thì mới đi lên được con đường phát triển. Trong giai đoạn từ nay đến 2010 Việt Nam phải lựa chọn cho mình chiến lược ngoại thương đúng đắn, phát huy có hiệu quả cao nhất các lợi thế so sánh của đất nước trong quá trình mở cửa, hợp tác phân công lao động và phát triển thương mại quốc tế. Trong quá trình thực hiện các chiến lược xuất khẩu, cần quán triệt các quan điểm cơ bản của Đảng và kết hợp thực hiện các giải pháp, chính sách lớn và các biện pháp để đạt được mục tiêu đề ra. Tài liệu tham khảo 1. Paul R.Kruman - Maurice Obstfeld - Kinh tế học quốc tế - Lý thuyết và chính sách (tập 1). 2. SamMuelson - Kinh tế học (tập 1). 3. Tô Xuâ Dân - Đỗ Đức Bình - Hội nhập AFTA; cơ hội và thách thức - NXB Thống kê. 4. Vũ Đình Bách - Nguyễn Đình Hưởng - Quan hệ thương mại Việt Nam - ASEAN và chính sách xuất nhập khẩu của Việt Nam - NXB Chính trị Quốc gia, 2002. 5. Võ Đại Lược, chủ biên - Chính sách thương mại đầu tư và sự phát triển một số ngành công nghiệp chủ lực của Việt Nam, 2000. 6. Trần Hoàng Kim - Lê Văn Toàn - Kinh tế ASEAN và khả năng hoà nhập của Việt Nam, NXB Thống kê, 1999. 7. Nguyễn Xuân Thắng - Khu vực mậu dịch tự do ASEAN và tiến trình hội nhập của Việt Nam - NXB Thống kê, 2002. 8. Tạp chí Kinh tế Châu á - Thái Bình Dương, số 3(20)/2002 9. Tạp chí nghiên cứu kinh tế, số 224-1/2000. 10. Tạp chí nghiên cứu Đông Nam á, số 1/2002. 11. Tạp chí Tài chính, số 10+11/2002. 12. Tạp chí những vấn đề kinh tế thế giới, số 4/2000, số 1+5/2002. 13. Thời báo kinh tế Việt Nam 2000-2002. 14. Chuyên đề nghiên cứu kinh tế - Viện kinh tế thế giới, 2002. Mục lục ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docA0503.doc
Tài liệu liên quan