Một số giải pháp để đạt được các mục tiêu cho thị trường Tiêu thụ sản phẩm công nghiệp nông thôn

lời nói đầu Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá là con đường tất yếu phải tiến hành đối với bất cứ nước nào, nhất là những nước có xuất phát điểm từ nền kinh tế nông nghiệp kém phát triển muốn xây dựng nền kinh tế phát triển hiện đại. Trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông thôn, công nghiệp nông thôn đóng một vai trò cực kỳ quan trọng, có quan hệ mật thiết với sự phát triển kinh tế xã hội nông thôn, khái niệm công nghiệp nông thôn mức chỉ nêu ra từ những năm 70 thập kỷ này nh

doc58 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1285 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Một số giải pháp để đạt được các mục tiêu cho thị trường Tiêu thụ sản phẩm công nghiệp nông thôn, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ưng thực tế công nghiệp nông thôn đã được hình thành như một thực thể kinh tế độc lập với các trình độ phát triển khác nhau, gắn liền với sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn từ rất lâu. Hiện nay ở nhiều nước, nhất là các nước đang phát triển, phát triển công nghiệp nông thôn được coi là vấn đề tất yếu có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Đối với Việt Nam một quốc gia lạc hậu, 80% dân số sống ở khu vực nông thôn với một cơ cấu kinh tế độc canh thuần nông, năng suất lao động thấp, nhu cầu việc làm rất bức bách. Đại hội lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định tính đúng đắn đường lối công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở nước ta, trong đó đặc biệt coi trọng phát triển công nghiệp nông thôn, từ đó làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Từ thực tiễn và trên cơ sở tham khảo ý kiến của giáo viên hướng dẫn, em đã chọn đề tài nghiên cứu sau: “Một số giải pháp để đạt được các mục tiêu cho thị trường tiêu thụ sản phẩm công nghiệp nông thôn”. Với đề tài này, em mong góp phần vào những cố gắng chung đáp ứng nhu cầu nghiên cứu tình hình phát triển công nghiệp nông thôn trong công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá của đất nước. Ngoài phần mở đầu, kết luận, đề tài gồm 4 phần: Chương I - Vai trò của thị trường đối với phát triển công nghiệp nông thôn. Chương II - Thực trạng thị trường tiêu thụ sản phẩm cho công nghiệp nông thôn nước ta. Chương III - Giải pháp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm cho công nghiệp nông thôn. chương I vai trò của thị trường đối với phát triển công nghiệp nông thôn I. Định nghĩa công nghiệp nông thôn 1.1. Định nghĩa: Một quan niệm coi công nghiệp nông thôn (CNNT) là công nghiệp đóng trên địa bàn nông thôn, sử dụng chủ yếu các nguồn lực tại chỗ (vốn, nguyên liệu, lao động,...) phục vụ trực tiếp cho phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn. Không loại trừ các trường hợp: một phần vốn hoặc nguyên liệu hay thậm chí cả lao động được mang từ nơi khác tới và quá trình sản xuất được thực hiện ngay trên địa bàn nông thôn. Chúng tôi đồng tình với quan niệm này. Và như vậy, có thể coi CNNT là công nghiệp ngoài quốc doanh, trừ công nghiệp ngoài quốc doanh ở một số đô thi lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng. 1.2. Các loại hình tổ chức của CNNT Việt Nam Qua khảo sát ở một số địa phương cho thấy CNNT Việt Nam được tổ chức dưới 3 dạng là hợp tác xã, công ty (công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân) và các hộ cá thể. Trong đó, tới khoảng 95-97% số cơ sở sản xuất được tổ chức dưới dạng hộ cá thể (bao gồm cả hộ chuyên và hộ kiêm). Hiện tại, ở nhiều địa phương CNNT đang có xu hướng chuyển hoá về loại hình tổ chức. Cụ thể là: - Các hợp tác xã, do sản xuất kém hiệu quả, trong quá trình chuyển đổi thành HTX cổ phần (theo luật HTX) nhưng chưa tìm được hướng đi thích hợp nên không phát triển được. Trừ một số HTX chuyển đổi thành công, chỉ khoảng 50%, số còn lại hoạt động cầm chừng, hoặc không hoạt động, thậm chí phân rã và chuyển hoá thành các cơ sở sản xuất tư nhân mà hình thức vẫn mang danh HTX (vì nhiều lý do không giải thể được). - Kể từ khi luật thuế giá trị gia tăng được thi hành, một số công ty tư nhân (bao gồm cả công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân) do không trang trải được mức thuế do Nhà nước qui định, đã xin ngừng sản xuất hoặc giải thể để trở về hình thức tổ chức hộ cá thể, lý do là với loại hình tổ chức này, sẽ được nộp thuế theo hình thức khoán (thường thấp hơn so với mức thuế được áp dụng cho các doanh nghiệp cùng ngành nghề). Tình trạng này khiến cho, nếu chỉ nhìn vào các con số thống kê đơn thuần, dễ đi đến những nhận định sai lầm, không phản ánh được bức tranh thật của CNNT Việt Nam. 1.3. Cơ cấu ngành nghề của CNNT Việt Nam Kết quả khảo sát ở các địa phương, sau khi xử lý được trình bày bằng bảng dưới đây: Bảng 1: Cơ cấu ngành nghề STT Các ngành nghề chính Tỷ lệ về số lượng (%) Tỷ lệ về giá trị (%) Cơ sở có đăng ký Hộ phi Nhà nước Hộ kiêm 1 Chế biến lương thực, thực phẩm 28 35 37 36 2 Chế biến lâm sản 21 16 11 15 3 Chế biến nông sản khác 10 8 22 16 4 Cơ khí sửa chữa 6 17 4 8 5 Sản xuất Dệt - May 4 12 16 13 6 Sản xuất VLXD 21 8 6 10 7 Các ngành thủ công khác 4 3 1 3 Tổng cộng 100 100 100 100 1.4. Một số chỉ tiêu chủ yếu đánh giá hiệu quả của CNNT Việt Nam Qua thống kê ở nhiều tỉnh (ở nhiều vùng kinh tế trong cả nước) một số năm gần đây, giá trị sản xuất của CNNT thường chiếm từ 22-25% giá trị sản xuất của công nghiệp toàn quốc. Năm 1998 đạt khoảng 20.000 tỷ. - Giá trị gia tăng tính cho mỗi lao động trong các doanh nghiệp đạt khoảng trên 7 triệu đồng. Còn ở các hộ gia đình phi nông nghiệp và các hộ kiêm, con số này lần lượt là 6,5 triệu đồng và 4,5 triệu đồng. Con số này là nhỏ so với giá trị khoảng trên 10 triệu đồng giá trị gia tăng tính cho mỗi lao động mà các DNNN tạo ra. Nhưng thực tế, nó lại hiệu quả hơn nếu xét ở góc độ vốn đầu tư, vì ở các DNNN, vốn đầu tư cho mỗi lao động thường gấp khoảng 2 lần so với các DNNQD (14,5 triệu đồng) gấp 2,5 lần so với các hộ phi nông nghiệp (8 triệu đồng) và gấp 7 lần so với các hộ kiêm (4 triệu đồng). Trong khu vực chế biến nông sản, trong khi các DNNN ở nông thôn phía Bắc chịu mức lỗ trung bình tương đương 13,8% doanh thu, hay mức lãi âm (lỗ) tính trên vốn cố định trước thuế là 23%, thì các DNNQD có mức lãi trung bình trước thuế là 5,1% và mức lãi tính trên vốn cố định trước thuế là 27%. Tương tự như vậy, trong khu vực công nghiệp và xây dựng (trừ ngành chế biến nông sản), trong khi các DNNN (cùng hoạt động ở khu vực nông thôn) có mức lỗ trung bình tương đương với 8,6% doanh thu, hay mức lãi âm (lỗ) tính trên vốn cố định trước thuế là 15% thì các DNNQD trong cùng lĩnh vực có mức lãi trung bình trước thuế là 1,2% doanh thu hay mức lãi tính trên vốn cố định trước thuế là 4,3%. Một hiệu quả rất lớn nữa về mặt xã hội là thu hút lao động. Thường xuyen có khoảng 2,2 triệu người và nguồn thu nhập chủ yếu từ các hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng (ở khu vực CNNT), chiếm 55% tổng số lao động trong ngành công nghiệp và xây dựng toàn quốc. Không có sự khác biệt về thu nhập trung bình của người lao động trong các doanh nghiệp quốc doanh và ngoài quốc doanh đang hoạt động ở khu vực nông thôn. Mức thu nhập thay đổi trong khoảng từ 160.000đ-260.000/đ/người/tháng. Con số này cao hơn mức lương trung bình của cả nước là khoảng 230.000đ/người/tháng (số liệu 1996). Trong khi đó, mức thu nhập ở cách phi nông nghiệp và hộ kiêm còn cao hơn nữa. Các con số tương ứng là 350.000đ và 300.000đ/người/tháng. II. Vai trò của công nghiệp nông thôn trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông thôn Việt Nam 1. Công nghiệp nông thôn trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển nông thôn. 1.1. Cơ cấu kinh tế nông thôn và công nghiệp nông thôn. Trong lịch sử và cho đến nay, cơ cấu kinh tế Việt Nam được tổ chức gắn liền với các ngành nghề và lãnh thổ như sau: (1) Làng xã thuần nông nghiệp. (2) Làng nông nghiệp, kiêm thêm nghề phụ. (3) Làng chuyên các ngành nghề truyền thống, thí dụ như làng gốm sứ, làng dệt, làng thêu ren, làng sơn mài, làng nghề chạm khắc bạc và gỗ, làng luyện đúc kim loại. (4) Làng nghề mới hình thành (ven đô thị, ven các trục đường giao thông) thí dụ như các làng vận tải, làng xây dựng, làng may mặc, làng làm đồ da dụng cao cấp, làng vật liệu xây dựng, làng chế biến và cung cấp thực phẩm cho các thành phố. (5) Các cơ sở và doanh nghiệp phi nông nghiệp (trang trại, xí nghiệp phi nông nghiệp ở các thị trấn, thị tứ) thường là quy mô nhỏ, thí dụ như các trạm giấy, trạm sửa chữa cơ khí, ngân hàng huyện, chi nhánh điện, hạt giao thông, bưu điện, trường học, y tế... (6) Các xí nghiệp công thương nghiệp dịch vụ của tỉnh (thường là quy mô nhỏ). (7) Các xí nghiệp công thương nghiệp dịch vụ của trung ương đặt tại địa bàn tỉnh và các thành phố (quy mô lớn). Trong cơ cấu kinh tế hiện tại ở Việt Nam, có một thực thể bao gồm các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn với phạm vi trải rộng từ các dạng hình tổ chức hoạt động kinh tế từ (2) đến (5) được quy ước là các dạng hoạt động công nghiệp nông thôn. 1.2. Vai trò của công nghiệp nông thôn trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thực hiện công nghiệp hoá. - Công nghiệp nông thôn là một bộ phận của công nghiệp với các trình độ khác nhau, phân bổ ở nông thôn, gắn liền với sự phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn, bao gồm nhiều ngành nghề, đan xen chặt chẽ với kinh tế nông thôn, nhất là sản xuất nông nghiệp. Công nghiệp nông thôn không phải là toàn bộ các hoạt động phi nông nghiệp hoặc bó hẹp trong các hoạt động tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn mà bao gồm bộ phận sản xuất công nghiệp và các dịch vụ có tính chất công nghiệp ở nông thôn của thợ thủ công chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp; các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, các hợp tác xã và các tổ hợp, tổ sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp; các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh chế biến lương thực thực phẩm hoặc các xí nghiệp công nghiệp khác, quy mô vừa và nhỏ mà hoạt động của nó trực tiếp gắn với kinh tế địa phương (nông thôn). - Công nghiệp nông thôn có vai trò ngày càng to lớn, hiện đang thu hút 60% tổng số lao động và tạo ra khoảng 40% giá trị tổng sản lượng của tiểu thủ công nghiệp trong cả nước. Công nghiệp nông thôn thúc đẩy sự hình thành hoàn thiện và mở rộng thị trường, góp phần nâng cao trình độ kỹ thuật, mở rộng quy mô của quá trình sản xuất và tái sản xuất kinh tế nông thôn. Công nghiệp nông thôn gắn chặt với sự phát triển kinh tế xã hội nông thôn, nó có tác động đến sản xuất nông nghiệp ở cả đầu vào lẫn đầu ra trong sản xuất nông nghiệp. + Tác động ở đầu vào: tại vị trí đầu vào, công nghiệp nông thôn cung cấp cho sản xuất nông nghiệp điện để mở rộng hoạt động hệ thống tưới tiêu, mở rộng diện tích canh tác thúc đẩy áp dụng các loại máy động lực phục vụ công tác chế biến nông sản phân hoá học là yếu tố đầu vào quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp, nhất là đối với các loại giống lúa mới, các loại máy nông nghiệp phục vụ công tác làm đất, chăm sóc cây trồng, bơm nước, chống úng. + Tác động ở đầu ra: Công nghiệp nông thôn cung cấp máy và công cụ phục vụ thu hoạch phơi sấy, bảo quản, sơ chế, chế biến và vận chuyển nông sản trước khi tới tay người tiêu dùng. Công nghệ sau thu hoạch bao gồm nhiều công đoạn từ thu hoạch phân loại, chế biến, bảo quản nông sản phẩm. * Những thách thức đối với nông nghiệp Việt Nam trong quá trình phát triển. - Hiện nay khu vực nông thôn vẫn đang ở trong tình trạng xuất phát thấp khi chuyển sang giai đoạn mới: GDP từ nông nghiệp chỉ chiếm 30% tổng sản phẩm quốc nội, thu nhập bình quân một lao động/tháng chỉ khoảng 100.000đ thấp hơn rất nhiều so với thành thị. Thêm vào đó tình trạng phân hoá lớn giữa khu vực thuần nông và phi thuần nông. - Khu vực nông thôn tỷ lệ người nghèo còn quá lớn: thành thị số hộ nghèo đói khoảng 2,4%, còn nông thôn 35 - 40%, đặc biệt vùng cao, vùng xa. - Sự phát triển không đồng đều giữa các khu vực nông thôn: Đồng bằng sông Cửu Long, miền đông Nam Bộ, đồng bằng sông Hồng là ba khu vực tương đối phát triển, còn lại là khu vực chậm phát triển. - Sự bùng nổ ngành nghề ở nông thôn với vấn đề môi trường sinh thái. - Vấn đề tỷ lệ thất nghiệp cao ở nông thôn trên 15%. Từ việc phân tích những thách thức này để xác định được những đòi hỏi của thị trường, đi tìm khu vực thuận lợi để sản xuất các mặt hàng, sau đó mới triển khai phát triển các công nghiệp nông thôn. * Những điều kiện tiền đề cho công nghiệp hoá nông thôn. - Quá trình phân công lao động trong nông thôn phải thực sự chuyển đổi mạnh mẽ theo hướng giỏi nghề nào làm nghề đó, không nên quá phụ thuộc vào nghề nghiệp thuần nông. Sau cải cách ruộng đất, việc chia đều ruộng đất cho mọi người dân, sẽ diễn ra quá trình tập trung ruộng đất vào trong tay một số trung nông làm ăn giỏi phát triển thành nhà quản lý trang trại, còn bộ phận nông dân vốn có ruộng đất nhưng không có khả năng canh tác buộc phải chuyển nhượng ruộng đất để sẵn sàng chuyển sang hoạt động phi nông nghiệp. Muốn vậy cần có thể chế cho tồn tại thị trường, trao đổi, chuyển nhượng ruộng đất và thị trường lao động ở nông thôn. - Năng suất lao động trong nông nghiệp phải đủ cao để nuôi sống số người không có việc làm nông nghiệp, nhưng chưa tìm được việc làm phi nông nghiệp mà vẫn không phải quay về làm nghề nông. Điều kiện này giúp duy trì một đội ngũ những người lao động nông nghiệp bị bứt ra khỏi hoạt động nông nghiệp làm tăng sức ép tạo ra các việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn. - Phải có các trung tâm ngành nghề mới (phi nông nghiệp), thương mại dịch vụ được mở ra với thu nhập cao hơn sản xuất nông nghiệp để thu hút lao động nông nghiệp. - Văn hoá, tâm lý, tập quán của nông dân địa phương phải phù hợp và thuận lợi cho việc di chuyển ngành nghề chuyển đổi lao động, yếu tố này cũng hình thành nên nhu cầu chi phối sự phát triển của các hoạt động nông nghiệp hay phi nông nghiệp. 2. Công nghiệp nông thôn một số nước và lãnh thổ trên thế giới. 2.1. Trung Quốc. Công nghiệp nông thôn Trung Quốc hình thành và phát triển theo phương châm “ly nông bất ly hương, nhập xưởng bất nhập thành” được biểu hiện ở sự phát triển của các xí nghiệp hương trấn. Xí nghiệp hương trấn là một hình thức mới của công nghiệp hoà nông thôn mang màu sắc Trung Quốc đã góp phần đẩy mạnh tốc độ, công nghiệp hoá đất nước, làm giảm sự chênh lệch giữa thành thị nông thôn, đời sống công nhân nông dân. Xí nghiệp hương trấn từ sản xuất thủ công và chế biến sản phẩm phụ nông nghiệp đã phát triển thành 5 ngành: công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp kiến trúc, giao thông vận tải và các ngành dịch vụ thương nghiệp, có quy mô tương đối lớn. - Đặc điểm: - Xí nghiệp có quyền tự chủ kinh doanh. - Thực hiện chế độ phân phối làm nhiều hưởng nhiều. - Thực hiện chế độ trách nhiệm đối với cán bộ, chế độ hợp đồng đối với công nhân. - Quan điểm về kinh tế hàng hoá mạnh. - Khả năng ứng biến thích nghi với thị trường. - Chú trọng sản phẩm mới và ứng dụng công nghệ mới. - Vấn đề tồn tại: - Xí nghiệp hương trấn phân bố không đồng đều ở các vùng. - Lãng phí vốn xây dựng thừa năng lực sản xuất, khó tiêu thụ sản phẩm. - Chất lượng sản phẩm xí nghiệp kém, mất uy tín. - Trang bị kỹ thuật lạc hậu, chắp vá. - Gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái của nông nghiệp. - Vai trò: - Lợi nhuận các xí nghiệp hương trấn hỗ trợ cho công việc nông nghiệp dưới hình thức lấy công bù nông, lấy công dựng nông. - Tăng thu nhập cho nông dân, tăng đầu tư của nông dân cho nông nghiệp. - Thu hút số lượng lao động dôi thừa của nông nghiệp. 2.2. ấn độ. - ấn Độ phát triển công nghiệp nông thôn trên cơ sở tư nhân và hợp tác ở vùng nông thôn và đã đề cập đến các lợi thế của khu vực công nghiệp nhỏ trong nền kinh tế như đảm bảo việc làm tối đa ở quy mô lớn, tạo ra một phương thức bảo đảm phân chia hợp lý hơn thu nhập quốc gia và huy động có hiệu quả các nguồn lực, vốn và tay nghề còn chưa được sử dụng hết. - ở ấn Độ, công nghiệp nông thôn được hiểu là những xí nghiệp mà nhu cầu vốn tín dụng không quá 25.000 rupi, bao gồm thủ công nghiệp và các xí nghiệp nhỏ mà hoạt động của chúng là chế tạo, chế biến và bảo quản và các hoạt động dịch vụ ở các làng và thị trấn nhỏ. - Các xí nghiệp này sử dụng các tài nguyên thiên nhiên và tay nghề sẵn có của địa phương. - Các hoạt động công nghiệp nông thôn bao gồm một loạt các ngành chế biến sản phẩm sơ cấp (lương thực, thực phẩm, các hoạt động gắn với nông nghiệp và khai thác mỏ...), các xưởng chế tạo cho nông nghiệp và sản xuất hàng tiêu dùng tiêu thụ ở nông thôn chính với những ngành công nghiệp mà người nghèo có thể tham gia dễ dàng hơn. - Khuyến khích phát triển ngành thủ công nghiệp độc lập và mỹ nghệ dân gian mà ấn Độ có truyền thống rất phong phú. - Thành lập các trung tâm công nghiệp huyện cung cấp mọi sự giúp đỡ cần thiết cho xí nghiệp nông thôn: tiềm năng khu vực, máy móc thiết bị, tín dụng, đào tạo... 2.3. Đài Loan. Đài Loan rất chú trọng vào phát triển nông thôn với phương châm “công nghiệp hỗ trợ nông nghiệp phát triển. Nhà nước đã ra các chính sách phát triển công nghiệp để hỗ trợ cho nông nghiệp. - Bãi bỏ việc dùng lúa đổi lấy phân bón hoá học. - Hủy bỏ các khoản phụ thu thuế ruộng. - Giảm nhẹ lãi suất tín dụng nông nghiệp. - Cải thiện điều kiện giao thông chuyển chở nông sản. Đài Loan đã biết kết hợp nhuần nhuyễn cả hai quan niệm đặt sự phát triển của công nghiệp nông thôn trên nền tảng và trong quan hệ khăng khít với công nghiệp ngay từ đầu của quá trình công nghiệp hoá. Chương II Thực trạng tiêu thụ sản phẩm cho CNNT ở nước ta I. Thực trạng ttsp ở thị trường nước ngoài. Theo báo cáo tổng cục hải quan tính đến ngày 20/11/99 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của việt nam là 19,945 tr USD nhập siêu 1,4% tổng tiêu ngạch. Trong đó xuất khẩu 9,903tr USD, nhập khẩu 10,042 tr USD Biểu 2: Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam - 1999 STT Mặt hàng XK Khối lượng (triệu tấn) Trị giá (triệu USD) 1 2 3 4 Gạo Cà phê Cao su Dệt may 4,23 0,3787 0,210 965 477 114,9 1.489 Trên cơ sở tổng hợp và phân tich tình hình dự báo, các chuyên gia bộ thương mại báo cáo tổng kim ngạch xuất khẩu 1999 ước11ty USD, tăng 17,5% so với 1998, vượt 10,5% so với kế hoạch. Trong đó DNVN 8,55 ty USD, chiếm 77,7%, tăng 15,8%, dn có vốn đầu tư nước ngoài là 2,45 ty USD chiếm 22,3%, tăng 23,6%. Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu: gạo, dệt may, cà phê. Tính đến tháng 11/99 4 mặt hàng công nghiệp đạt giá trị KNXK trên 1ty USD là: dầu thô,dệt may,da giầy, gạo. Một số mặt hàng tuy KN chưa lớn nhưng có mức tăng cao: máy động lực, máy công nghiệp, sữa bột,dầu thực vật. Cơ cấu xuất khẩu chuyển dịch theo hướng tích cực hơn: tỷ trọng nguyên liệu thô và sơ chế giảm. Biểu 3: Tỷ trọng ngành hàng xuất khẩu STT Ngành Tỷ lệ % Giá trị (triệu USD) 1 2 3 4 5 Nông lâm sản Hải sản Dệt may+Da giầy Thủ công mỹ nghệ Lĩnh vực khác 18,2 8,6 28 1,5 19,4 2000 950 3100 180 2130 1. Ngành cà phê Theo thống kê của hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam (VICOFA) niên vụ cà phê 1998-1999 Việt Nam XK 404.206 tấn cà phê nhân, tăng so với 97/98 khoảng 10.000 tấn. Biểu 4: Danh sách 10 công ty XK cà phê lớn nhất Việt Nam STT Doanh nghiệp Khối lượng (tấn) Giá trị (triệu USD) 1. 2. 3. 4. 5. 6. 7. 8. 9. 10. VINA cà phê Công ty 2/9 Enxim Đắc Lắc Công ty TM du lịch Hiệp Phước Công ty XNK Gia Lai Công ty Tín Nghĩa Công ty cà phê Phước An Công ty PETEC Công ty Thắng Lợi Công ty TM XNK Gia Lai 52.300 51.789 46.184 28.740 26.044 20.268 17.131 13.027 9.880 9.803 72,277 70,509 64,174 40,7 34,2 27,1 24,036 17,853 14,194 13,18 Những cây cà phê đầu tiên được trồng trên đất Việt Nam là do các giáo sỹ truyền giáo đưa vào trồng từ năm 1857 ở khu vực các nhà thờ tu viện thiên chúa giáo thuộc 2 tỉnh Quảng Bình,Quảng Trị. Đến cuối thế kỷ 19 các đồn điền trồng cà phê đầu tiên là ở các tỉnh miền bắc: Hà Nam,Sơn Tây, Hoà Bình, Tuyên Quang, Phú Thọ, Phủ Quỳ. Vào những năm 1920-1925 khi phát hiện ra vùng cao nguyên Bazan ở miền trung.Người ta mới mở ra các đồn điền cà phê ở Tây Nguyên. Nhưng cả một thời gian dài diện tích trồng cà phê chưa được mở rộng,đến trước năm 1995 miền bắc có 14000 ha miền nam có 14.420 ha,cả nước25.420ha Sau ngày đất nươc thống nhất 1975, ngang cà phê Việt Nam đi vào thơi kì phát triển,sản lượng sản xuất ra chủ yếu để XK thu ngoại tệ.theo số liệu tổng cục thống kê và ngành Cà phê thì sản xuất Cà phê của ta mỗi năm một tăng. Biểu 5: Tình hình sản xuất, XK cà phê qua các năm Năm Diện tích (ha) Sản lượng sản suất Khối lượng XK theo niên vụ (tấn) Kim ngạch (Triệu USD) 1995 1996 1997 1998 1999 175.000 230.000 250.000 320.000 240.000 350.000 360.000 410.530 233.000 246.000 350.000 390.000 360.000 520 420 400 600 540 Sản xuât Cà phê Việt Nam có những điều kiện thuận lợi về khí hậu, đất đai, tập chung ở Tây Nguyên, Dông Nam Bộ, các tỉnh miền trung và miền núi phía bắc (Sơn La, Lai châu, Yên Bái, Hà Giang),điều kiện thổ nhưỡng khí hậu ở vùng này thích hợp với loại Cà phê Arabica nên năng xuất khá cao. Tây nguyên với bốn tỉnh: Đắc Lắc, Lâm Đồng, Gia Lai, Kom Tum là khu vực chủ lực của ngành Cà phê Việt Nam. Diện tích Cà phê của khu vực này lên tới 180.000 ha chiếm hơn 78% tổng diện tích trồng Cà phê cả nước trong đó Đắc Lắc với diện tích và sản lượng Cà phê là lớn nhất, chiếm 60% của cả khu Tây Nguyên. sự mở rộng của chính sách XNK theo nghị định số 57/1998/ND – CP của chính phủ đã tạo nhiều thuận lợi cho các DN có thể tham gia xuất khẩu Cà phê. Từ 30 DN XK Cà phê vụt tăng lên 100 DN. Riêng Đắc Lắc từ 16 DN tăng lên 26 DN. Hiẹn nay sản lượng sản xuất Cà phê của Đắc Lắc chiếm 60% tổng sản lượng Cà phê cả nước. Theo thống kê của sở thương mại Đắc Lắc. Sản lượng Cà phê xuất khẩu niên vụ 98 / 99 (1/10/98 – 30/9/99) đạt 218.596 tấn, tăng 3,5% so với niên vụ 97/98, kim ngạch khoảng 300 triệu USD, giảm 7,2%. Sản lượng tăng, kim ngạch giảm là do giá giảm, giá XK bình quân khoảng 1.372 USD/tấn, giảm 10% so với 97/98 đây là lần đầu tiên sau nhiều năm KNXK Cà phê Đắc Lắc giảm do giá thế giới giảm. tỷ lệ Cà phê R1 của Đắc Lắc vùa qua đạt thấp, khoảng 18000 tấn, chiếm 8% tổng lượng xuất khẩu thấp hơn tỷ lệ R1 chung của cả nước 11% làm giảm KNXK. (Chỉ riêng hai loại Cà phê chất lượng R1,R2 chênh lệch 100 USD/tấn, giữa R2 –5% và R2 -8% chênh lệch 40 đến 60 USD/tấn). Điều đáng mừng là chất lượng Cà phê xuất khẩu của Việt Nam ngày càng có uy tín trên thị trường Thế giới: Biểu 6: Chất lượng xuất khẩu tăng hàng năm(đơn vị:%). Cấp hạng chất lượng 94/95 95/96 96/97 97/98 Loại I Loại II A Loại II B Tiêu thụ nội bộ 2 15 80 3 6 45 44 5 7 60 27 6 16 72 5 7 Thị trường XK ngày nay càng được mở rộng. Trước năm 90 khoảng 50% khối lượng cà phê XK của Việt Nam là sang thị trường Liên Xô và Đông Âu,50% còn lại là sang thị trường Singapore thực chất là một thị trường trung chuyển. Đến năm 1996 XK cà phê Việt Nam đã sang tới 30 quốc gia, chủ yếu là XK trực tiếp. Đặc biệt cà phê Việt Nam đã được XKtrực tiếp sang các thị trường khó tính như Đức, Anh,ý. Đáng lưu ý là Mỹ thị trường nổi tiếng là khó xâm nhập nhưng năm 1996 đã tiêu thụ khoảng 1/3 khối lượng cà phê XK của Việt Nam.Hiên nay Đức đă trở thành nhà nhập khẩu cà phê lớn nhất của Việt Nam.Trong 11 tháng năm 99 vừa qua tổng lượng xuất khẩu : 362000 tấn kim ngạch khoảng 500 triệu USD Biểu 7: Thị trường xuất khẩu cà phê của Việt Nam Thị trường xuất khẩu cà phê của Việt Nam Tỷ lệ % Đức Mỹ Italia Tây Ban Nha Anh Bỉ 16,5 15,5 10,6 8,8 7,7 6,3 Cà phê đặc sản (Gounmet coffee) được quảng cáo bằng tên hấp dẫn: Cà phê trăng rằm (full moon coffee) hay cà phê gã chăn bò thứ thiệt (real Cowboy coffee)... tiêu thụ đang tăng nhanh chóng trên thế giới, các cửa hiệu chuyên bán cà phê đặc sản đang mọc lên như nấm tại Mỹ,các thành phố lớn ở Châu Âu và Nhật Bản nhưng mức tiêu thụ của Mỹ giảm từ 10kg/người/năm nay chỉ ở mức 4kg. Nguyên nhân của tình trạng này là phần lớn cà phê tiêu thụ ở Mỹ không phải là loại có phẩm chất cao nhất nên hiện nay Mỹ đang tích cực quảng cáo, khuyến trương cho loại cà phê này người tiêu dùng Mỹ thích loại cà phê này và thị trường tăng tốc độ 30%/năm. đây là một thị trường đầy hứa hẹn cho xuất khẩu cà phê Việt Nam sang Mỹ, nếu chất lượng cà phê của Việt Nam đạt được tiêu chuẩn quốc tế về độ axit, mùi quả và các mùi vị khác Theo dự đoán mới nhất của Bộ nông nghiệp Mỹ sản lượng cà phê thế giới 99/2000 giảm 20%(2,13tr bao)so vụ trước còn 104,5 tr bao: Biểu 8: Sản lượng cà phê thế giới Niên Vụ 97/98 98/99 99/2000 Sản Lượng (tr bao) 97,67 106,63 104,50 Brazin Côlômbia Indônêxia Việt Nam Mêxicô 23,5 12,03 7,2 6,67 4,97 34,7 11 6,85 6,33 4,95 26,5 12,7 7,2 6,45 5,3 Tiêu thụ 101,86 103,2 104,30 Sau niên vụ cà phê 97/98 bội thu,KNXK đạt khoảng 600 tr USD,thì niên vụ 98/99 lại chịu nhều biến đọng.Sản lượng cà phê quả năm nay giảm không nhiều,nhưng sản lượng cà phê hạt đạt thấp 394.000 tấn cà phê nhân,bằng 90-98% so vụ trước.Chất lượng cà phê không được cải thiện: cỡ hạt nhỏ, tỉ lệ hạt đen,vỡ nhiều do thời tiết khô hạn,ở giữa năm rồi mưa kéo dài cuối năm 98,mưa cuối vụ ở Tây Nguyên gây ảnh hưởng đến quá trình chăm sóc,thu hoạch,bảo quản,phơi sây.Trong khi đó cà phê thế giới lại được mùa lớn ước đạt 106,8tr bao(1 bao=60kg) tăng khoảng 9,1tr bao so vụ trước,riêng Brazin đạt trên 3tr bao.Mặt khác nhu cầu tiêu thụ càphê trên thế giới có phần giảm sút do khủng hoảng tài chính khu vực Tình hình đó làm giá càphê giảm nhanh chóng ở mức 1305USD/tấn,giảm khảng 250USD/tấn so với cùng kì năm ngoái,giảm 200USd/tânso với đầu năm nay.Giá cà phê Rôbusta loạI 2 có 5% hạt đen vỡ đã xuống ở mức 1280-1290USD/tấn,giảm 18% so với tháng 1 năm 99(1567USD/tấn).Sáu tháng đầu năm 99, khó khăn đang chồng chất thì các DNXK cà phê lại phải chịu thêm giá cước vận chuyển tăng.Từ ngày 1/4/99 giá cước tăng thêm 150USD đi các nước Châu Âu và 750USD đi các nước Băc Mỹ trên mỗi container 20 feet.Năm 1998 Việt Nam xuất khẩu cà phê vào 36 thị trường nước ngoài,nhưng riêng 4 tháng đầu năm 99,12 thị trường giảm tỉ trọng nhâp khẩu.Các thị trường có tỉ trọng giảm mạnh đáng lưu ý là Mỹ giảm 9,5% Thái Lan giảm 2,5%, Pháp – 1,6%, Iran năm 98 nhập khẩu 2% thì bốn tháng đầu năm chưa nhập nhưng cũng có một số thị trường tăng tỉ trọng nhập khẩu cà phê Việt Nam. Trong 4 tháng đầu năm 99 Thuỵ Sĩ tăng 5% Italia tăng 2,1% so cùng kỳ. Điều đáng quan tâm là năm nay do nắm được thông tin giá cả cho nên người trồng cà phê đã không bán ồ ạt, khống chế số lượng nhằm giữ giá cà phê. Hiện nay lượng lưu kho trong DN và trong dân còn khá lớn khỏng 65 đến 60000 tấn riêng các DN của VINACOFFE còn năm nghìn tấn. 2. Ngành dệt 2.1. Tình hình sản xuất. Trong những năm của thập kỷ 90, ngành dệt có tốc độ phát triển không ổn định, tốc độ tăng trưởng đạt 13% năm 1994, sau giảm xuống dưới 1% vào năm 1995, và lại tăng lên 14% vào năm 1997. Tốc độ phát triển không đều nói trên một phần là do sự yếu kém của ngành dệt trong việc chiếm lĩnh thị trường trong nước của các sản phẩm dệt Việt Nam so với sản phẩm dệt ngoại, phần khác là do thiếu nguồn vốn nhập trang thiết bị và nguyên liệu cho sản xuất vào những năm 1995 và 1996 (Xem Vietnam Investment Review ngày 18/2/1996). Bảng 9: Những chỉ tiêu cơ bản của ngành dệt trong những năm 1990 Đơn vị: Tỷ đồng 1993 1994 1995 1996 1997 1998 (*) GDP 36735 39982 195567 213833 231264 244676 Tốc độ tăng trưởng GDP (%) 8,07 8,84 9,54 9,34 8,15 5,80 Giá trị tổng sản lượng của ngành dệt 1438,3 1624,0 6176,2 6373,6 7261,2 7696,9 Tỷ trọng giá trị tổng sản lượng ngành dệt trong GDP (%) 3,92 4,06 3,16 2,98 1,87 1,87 Giá trị tổng sản lượng của ngành dệt - may 1806 2180 9126 9774 11587 12282 Tỷ trọng giá trị tổng sản lượng dệt trong giá trị tổng sản lượng ngành dệt - may 79,6 74,5 67,7 64,2 62,7 62,7 Tốc độ tăng trưởng giá trị tổng sản lượng của ngành dệt (%) 1,1 12,9 0,6 3,2 13,9 6,0 Nguồn: Niên giám thống kê Ghi chú: số liệu của năm 1993 và 1994 tính theo giá cố định năm 1989, số liệu của các năm khác tính theo giá cố định năm 1994. * Số liệu năm 1998 là ước tính Tỷ trọng giá trị tổng sản lượng ngành dệt trong GDP có xu hướng giảm dần, chiếm gần 4% GDP năm 1993 xuống còn gần 2% GDP năm 1998. Và ngay trong ngành dệt - may cũng phản ánh xu hướng này. Mặc dù dệt vẫn chiếm tỷ trọng cao trong ngành dệt - may, nhưng tỷ trọng của ngành dệt đã giảm đi rất nhiều, từ gần 80% năm 1993, xuống còn hơn 6% năm 1998. Bảng 10: Tốc độ tăng trưởng hàng năm của một số mặt hàng dệt quan trọng trong những năm 1994-1998 (tính theo hiện vật) Đơn vị: % 1994 1995 1996 1997 1998 (*) Sợi dệt 16 34 11 3 5 Vải lụa 6 15 8 5 6 Len dạ 50 7 36 7 -6 Hàng dệt kim -13 12 -16 -1 16 Nguồn: - Niên giám thống kê 1998 - Bộ công nghiệp. Ghi chú: * số liệu năm 1998 là ước tính 2.2. Thực trạng công nghệ, trang thiết bị. Thực trạng công nghệ, trang thiết bị của ngành dệt rất khác nhau tuỳ thuộc vào các lĩnh vực khác nhau của ngành như kéo sợi, dệt thoi, dệt kim, nhuộm, in và hoàn tất. Mặc dù ngành đã có nỗ lực đầu tư đổi mới trang thiếtbị, xong nhìn chung toàn ngành, công nghệ, trang thiết bị vẫn ở trong tình trạng lạc hậu so với các nước trong khu vực. Đối với lĩnh vực kéo sợi: đến năm 1996 ngành có 800.124 suốt kéo sợi và 3.520 rô tơ kéo sợi. Trong số đó có 90.600 là suốt mới mua (chiếm 11,32%), với 55.960 suốt mua cũ của các nước Tây Âu; 107.000 suốt được cải tiến (chiếm 13,4%). Công suất kéo sợi hàng năm tăng lên 70.000 tấn, với chỉ số Nm là 61 (Báo cáo của VINATEX). Đối với lĩnh vực dệt thoi: năm 1996 ngành có 10.500 máy dệt thoi. Máy nhập mới chỉ chiếm 15%. Khoảng 50% máy dệt thoi là quá cũ và không còn khả năng sản xuất. Đối với lĩnh vực dệt kim: công nghệ dệt kim của ngành khá hiện đại so với các công nghệ khác. Phần lớn các máy dệt kim nhập của Trung Quốc, Tiệp và Đông Đức từ trước năm 1986 đều đã thanh lý và chuyển nhượng cho địa phương. Hiện nay các doanh nghiệp dệt lớn của Nhà nước đều sử dụng máy dệt kim nhập của các nước như Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan và Đức từ sau năm 1996; 30% số máy này thuộc thế hệ mới, một số máy đã được vi tính hoá. Vì chất lượng sợi bông kém nên hầu hết các doanh nghiệp chọn phương án sản xuất sử dụng sợi Pe/Co để sản xuất những sản phẩm dệt đơn giản như vải màn, vải valise, chưa quan tâm đến sản xuất các loại vải cao cấp như vải trang trí, vải thảm, vải dùng trong xây dựng,... Đối với lĩnh vực nhuộm, in và hoàn tất: Tất cả các thiết bị in, nhuộm và hoàn tất là nhập từ nước ngoài. Hiện nay 35% thiết bị in và nhuộm trong ngành nhập từ năm 1986 trở lại đây (khoảng 300 máy). Tất cả các thiết bị này đều thuộc thế hệ A2, A3 và vẫn hoạt động tốt. Số còn lại nhập từ trước năm 1985, thậm chí có những máy nhập từ những năm 60. Theo chủ trương của VINATEX những máy này cần phải giải quyết dần. Năm 1997, công suất sử dụng máy móc, thiết bị của ngành là 75%. Năm 1998, tình hình còn xấu đi nhiều do tác động của khủng hoảng tài chính khu vực. Nhìn chung, tình trạng công nghệ lạc hậu đã làm cho ngành dệt không có khả năng đáp ứng yêu cầu về chất lượng của nguyên liệu đầu vào cho ngành may, n._.gành may phải phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu, và như vậy đất nước mất đi nhiều cơ hội cho sản xuất thay thế nhập khẩu trong các khâu sử dụng khá nhiều lao động của ngành dệt. 2.3. Thị trường các sản phẩm. a. Thị trường trong nước: Trên thị trường trong nước, các nhà sản xuất của ngành dệt phải cạnh tranh với các đối thủ mạnh hơn trong khu vực. Là thành viên của ASEAN và đang trong quá trình thực hiện AFTA, thị trường Việt Nam là sân chơi của các nước trong khu vực. Do vậy chiếm lĩnh thị trường nội địa là một thách thức rất lớn đối với các nhà sản xuất dệt Việt Nam. Theo thống kê của VINATEX, trong những năm vừa qua tỷ trọng tiêu thụ nội địa trong tổng số hàng dệt sản xuất trong nước chỉ chiếm khoảng 55%. Điều này chứng tỏ hàng dệt Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu trong nước cả về chất lượng và số lượng. b. Thị trường xuất nhập khẩu Từ khi Việt Nam thực hiện quá trình đổi mới (từ năm 1989), giá trị xuất khẩu hàng dệt có tăng lên, tuy là mức tăng không bằng ngành may. Cũng như ngành may, ngành dệt đã chuyển từ thị trường Liên Xô cũ và Đông Âu sang thị trường phương Tây và Châu á. Thị trường xuất khẩu hàng dệt hiện nay của Việt Nam bao gồm thị trường có quota và phi quota. Thị trường Eu là thị trường xuất khẩu có quota. Dệt Việt Nam bắt đầu xâm nhập thị trường này từ năm 1993 khi Hiệp định buôn bán hàng dệt may giữa Việt Nam và EU được ký kết và có hiệu lực. Cho đến nay kim ngạch xuất khẩu hàng dệt vào thị trường EU tăng lên hàng năm. Canada và NaUy cũng là thị trường có quota, nhưng giá trị xuất khẩu sang hai thị trường này rất không đáng kể. Thị trường xuất khẩu phi quota được mở rộng mạnh trong những năm gần đây. Nhật Bản là thị trường phi quota lớn nhất về mặt hàng dệt. Hồng Công, Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc là những nước nhập khẩu khá nhiều hàng dệt của Việt Nam. Hiện nay Việt Nam vẫn tiếp tục xuất khẩu hàng dệt sang Nga và các nước Đông Âu, nhưng chủ yếu dưới hình thức đổi hàng và thanh toán nợ. Bảng 11: Trị giá xuất khẩu của ngành dệt - may Việt Nam Đơn vị: (Triệu USD) Năm Ngành dệt Ngày may Ngành dệt - may 1985 6,5 21,1 27,5 1986 11,1 36,0 47,1 1987 13,3 27,4 40,6 1988 15,8 27,0 42,8 1989 25,1 68,1 93,1 1990 27,8 90,7 118,5 1991 29,4 142,9 172,3 1992 39,6 357,2 396,8 1993 61,7 521,0 582,7 1994 107,8 691,6 799,4 1995 147,8 878,8 1.026,6 1996 175,5 1.162,7 1.338,2 1997 - - 1.349 1998 - - 1.351 Nguồn: UNIDO, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê, Vietnam Economic News số 6/1998, số 4/1999. Việt Nam là một nước nhập khẩu ròng lớn về hàng dệt. Tỷ lệ thương mại ròng âm ở mức cao trong suốt 10 năm vừa qua (UNIDO and DSI/MPI, 1998). Trong khi đó các nước Trung Quốc, Inđônêxia, Thái Lan đều có một ngành công nghiệp dệt xuất khẩu khá lớn. Điều này cho thấy là trong một môi trường chính sách thích hợp, Việt Nam có thể đi theo hướng của các nước kể trên. Việt Nam thực thi chính sách bảo hộ đối với một số mặt hàng dệt sản xuất được trong nước. Thuế xuất nhập khẩu đối với các sản phẩm này tương đối cao (40-50%). Tuy vậy ngành dệt Việt Nam vẫn chịu sự cạnh tranh rất mạnh từ phía hàng ngoại. Hàng năm nhập khẩu các mặt hàng dệt (kể cả nguyên liệu cho ngành dệt và sản phẩm dệt) chiếm 6-7% tổng giá trị nhập khẩu của cả nước. Nhập khẩu hàng dệt cho mục đích tiêu dùng chiếm phần lớn số hàng dệt nhập (4-5% tổng giá trị nhập khẩu của cả nước). Tóm lại, từ những trình bày trên cho thấy là ngành dệt Việt Nam trong những năm 90 là ngành công nghiệp thực hiện chiến lược thay thế nhập khẩu, đã phấn đấu vươn lên xuất khẩu. Và ngành đã thu được những thành công nhất định. Nhưng nhìn chung khả năng cạnh tranh còn yếu, chưa đủ mạnh để chiếm lĩnh thị trường trong nước và tăng cường xuất khẩu, tốc độ tăng trưởng của ngành không cao và không ổn định. Thực trạng này của ngành là do nhiều yếu tố tác động. Có những yếu tố là khách quan, nhưng cũng có những yếu tố chủ quan. II. Thực trạng tiêu thụ sản phẩm ở thị trường nội địa. Thị trường trong nước số cung ngày càng vượt quá số cầu cạnh tranh ngày càng gay gắt: Số cung: thêm nhiều DN ra nhập thị trường, năng lực sản xuất của các DN ngày càng ra tăng- sự hiện diện của các DN có vốn nước ngoài – hàng ngoại nhập đặc biệt là hàng nhập lậu không ngừng tấn công vào thị trường nội địa. Số cầu: gia tăng chậm hơn so với số cung – sức mua có khả năng thanh toán còn hạn chế – nhu cầu ngày càng đa dạng và ngày càng trở nên khó tính. Nền kinh tế nước ta đang ở trong giai đoạn cuối cùng của thế kỷ XX, sau nhiều năm hoạt động mức tăng trưởng cao thì hiện nay tốc độ tăng trưởng đã chậm lại và giảm sút. 6 tháng đầu năm 1999 GDP tăng 4,3% mức thấp nhất so cùng kỳ 3 năm trước, cụ thể: Biểu 12: Mức tăng trưởng GDP 6th/96 6th/97 6th/98 6th/99 GDP Trong đó Sản xuất CN Sản xuất NN +9,3 +13,2 +4,8 +9,1 +13,7 +2,0 +6,7 +12,6 +2,0 +4,3 +10,4 Chỉ số giá tám tháng đầu năm tăng 0,8% so tháng 12/98 là mức thấp nhất so cùng kỳ 5 năm trở lại đây. Chỉ số giá giảm liên tục trong 6 tháng liền từ tháng 3dến tháng 8. Biểu 13: Chỉ số giá tiêu dùng 8 tháng đầu năm 1999 Tháng T3 T4 T5 T6 T7 T8 Chỉ số giá giảm 0,7% 0,6% 0,4% 0,3% 0,4% 0,5% Tổng cầu xã hội giảm sút, lượng lượng hàng tồn kho của một số ngành như sau (tính đến tháng 6 năm 1999) Biểu 14: Lượng tồn kho tính đến tháng 6/1999 Ngành Lượng tồn kho (triệu tấn) Trị giá(tỷ đồng) Ximăng Đường Cà phê Giấy Cao su Dệt may 1,32 0,33 0,08 0,022 0,018 200 1700 160 220 150 100 Tỷ lệ lao động không có việc làm tăng lên. Mỗi năm nước ta có từ 1,8 đến 2,0tr người đến tuổi lao động cần phải được thu hút vào khu vực sản xuất. Tuy nhiên do kinh tế 6 tháng đầu năm gặp khó khăn nên số người đến tuổi lao động không được thu hút vào khu vực sản xuất, đồng thời có hiện tượng “chảy ngược “lao động từ một số ngành sản xuất gặp khó khăn ra thị trường lao động tự do, làm tăng áp lực lao động dư thừa, tạo sức ép giảm giá trị ngày công. Tóm lại, giá cả thị trường liên tục giảm xảy ra đồng thời với sự suy giảm tốc độ tăng trưởng GDP tăng tỷ lệ lao động khong có việc làm là những đặc trưng cơ bản tạo ra hiện tượng thiểu phát của nền kinh tế trong 7 tháng đầu năm 1999. Tuy nhiên cho đến nay các giải pháp kích cầu của nhà nước đã bắt đầu phát huy tác dụng, chỉ số giá tiêu dùng bắt đầu nhích lên.Tháng 11 giá tiêu dùng tăng 0,4% so với tháng10.Trong 11 nhóm hàng hoá dịch vụ có 5 nhóm gia tăng (lương thực,thực phẩm,thiết bị đồ dùng gia đình văn hoá thể thao giải trí ) đáng chú ý là lương thực tăng cao nhất 1,7%.theo dự đoán tháng 12 chỉ số giá tiêu dùng có xu hướng tăng thậm chí còn cao hơn tháng 11. * Ngành dệt. Từ những phân tích về thực trạng của ngành dệt và những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực của ngành, chúng ta thấy rằng khả năng cạnh tranh của ngành còn khá khiêm tốn, ngành dệt mới chỉ đang ở giai đoạn đầu của quá trình thực hiện chiến lược thay thế nhập khẩu, phấn đấu vươn lên xuất khẩu. Trong chiến lược phát triển các ngành thì ngành dệt may thuộc nhóm ngành có tính cạnh tranh cao và được ưu tiễn hỗ trợ phát triển từ phía Nhà nước. Nhà nước đã thi hành một số chính sách hỗ trợ cho ngành. Nhưng từ thực tế ngành dệt đang gặp rất nhiều khó khăn và có xu hướng giảm sút, nên một câu hỏi được đặt ra ở đây là ngành dệt có khả năng phát triển thực sự hay không trong điều kiện môi trường chính sách phù hợp hơn. Câu trả lời là có, bởi vì so với may ngành dệt có sức cạnh tranh kém hơn, xong dệt vẫn là ngành sử dụng khá nhiều lao động so với nhiều ngành khác và sự yếu kém của ngành dệt hôm nay hoàn toàn có thể được cải thiện bằng những thay đổi về điều kiện sản xuất, năng lực quản lý, về thể chế,... Phần này xin tập trung vào phân tích một số chính sách của Nhà nước có tác động tới ngành dệt, đó là: - Chính sách tài chính và đầu tư: Nhà nước có chính sách ưu tiên đầu tư từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước cho các doanh nghiệp của ngành dệt với lãi suất ưu đãi và có sự bảo lãnh của Chính phủ. Trên thực tế chỉ các doanh nghiệp dệt quốc doanh được hưởng sự ưu đãi này. Ví dụ, nếu như doanh nghiệp nào được hưởng chính sách ưu tiên đầu tư của Nhà nước, doanh nghiệp đó chỉ phải chịu lãi suất là 0,3%/tháng, thấp hơn nhiều so với vốn vay đầu tư thông thường khác là 0,7%/tháng (theo kết quả điều tra các doanh nghiệp dệt do Viện kinh tế tiến hành năm 1998-1999). Tuy nhiên sự hỗ trợ này của Nhà nước rất không đáng kể. Kết quả điều tra kể trên cho thấy là chỉ có 6 trong số 24 doanh nghiệp dệt quốc doanh được hưởng chính sách này. Và trong số đó thì 3 doanh nghiệp được hỗ trợ 80-100% vốn đầu tư, còn 3 doanh nghiệp chỉ được hỗ trợ không quá 50% vốn đầu tư. Nguồn vốn cho vay đầu tư lớn nhất chỉ khoảng 50 triệu đồng. Doanh nghiệp dệt tư nhân rất khó khăn trong việc tiếp cận với nguồn tài chính cho cả vốn đầu tư và vốn lưu động. Thứ nhất, các doanh nghiệp dệt tư nhân thường là mới thành lập, có quy mô nhỏ. Các ngân hàng Nhà nước rất ngại cho doanh nghiệp tư nhân vay vì các doanh nghiệp này không có sự bảo lãnh và không có độ tin cậy (kinh doanh tư nhân ở Việt Nam vẫn chưa gây được lòng tin trong dân chúng). Thứ hai, các doanh nghiệp tư nhân thường không đáp ứng được yêu cầu thế chấp theo thủ tục cho vay của ngân hàng. Rõ ràng là khu vực dệt tư nhân phát triển mà không có sự giúp đỡ từ khu vực tài chính chính thức. Chi phí vay vốn để hoạt động từ các nguồn tài chính không chính thức cao hơn khá nhiều là từ các nguồn tài chính chính thức. Điều này làm tổn hại đến khu vực dệt tư nhân nói riêng và đến khả năng cạnh tranh của ngành nói chung. Mặc dù các doanh nghiệp dệt quốc doanh có thuận lợi hơn trong việc vay vốn từ khu vực tài chính chính thức, xong trên thực tế không hoàn toàn như vậy. Theo kết quả điều tra các doanh nghiệp dệt may của Viện kinh tế học thì mức lãi suất trung bình cho vốn vay lưu động mà các doanh nghiệp quốc doanh phải trả cao hơn là mức lãi suất trần do Ngân hàng Nhà nước ấn định. Điều đó cho thấy là cả các doanh nghiệp quốc doanh đôi khi cũng phải đi vay từ các nguồn tài chính không chính thức. Bảng 15: Mức lãi suất trần cho vốn lưu động Năm Tiền Mức lãi suất Quy định bởi 1997 Đồng 1,00%/tháng Quyết định 197-NH1 ngày 28/6/1997 Đôla 8,50%/năm Quyết định 197-NH1 ngày 28/6/1997 1998 Đồng 1,20%/tháng Quyết định 39/1998 - QĐ-NHNN1 ngày 28/6/1997 Đôla 7,5%/năm Quyết định 309/1998 - QĐ-NHNN1 ngày 10/9/1997 1999 Đồng 0,85%/tháng Quyết định 338/1999 - QĐ-NHNN1 ngày 22/10/1997 Tóm lại, chính sách tài chính có sự phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp quốc doanh và doanh nghiệp tư nhân. Các doanh nghiệp tư nhân phải phụ thuộc vào thị trường tài chính không chính thức với mức lãi suất cao hơn nhiều. Do vậy Nhà nước cần phải có một chính sách tài chính không có sự phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp trong ngành. - Chính sách thương mại: Cơ cấu thuế nhập khẩu hiện nay đối với các mặt hàng dệt được thể hiện ở mức thuế suất cao đối với các sản phẩm sản xuất được trong nước và thấp đối với nguyên vật liệu, trang thiết bị phải nhập. Thuế nhập khẩu có cấu trúc như sau: 0% : Bông, sợi tổng hợp, chỉ, thuốc nhuộm, máy móc; 10-20%: sợi bông, tổng hợp thành phẩm; 40% : sợi đan; 50% : vải. Thuế suất trung bình giản đơn của các sản phẩm dệt là 26,7% thuế suất trung bình theo tỷ lệ nhập khẩu là 31%: tỷ lệ bảo hộ hữu hiệu tương ứng là 47,5% và 58,1%. Đối với toàn bộ nền kinh tế thì những con số tương ứng là 19,0%; 18,3%; 47,6% và 47,1% (theo tính toán của dự án “Thương mại và khả năng cạnh tranh” do IDRC - Canada tài trợ và thực hiện bởi Viện Kinh tế học). Như vậy nhìn chung mức độ bảo hộ của Nhà nước đối với ngành là không cao so với các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân. Một chính sách khác có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của ngành là chính sách phân bổ quota xuất khẩu. Quata xuất khẩu hàng dệt - may của Việt Nam là do EU, Na Uy, Canada quy định thông qua các Hiệp định song phương với mục đích giúp các nước đang phát triển đẩy mạnh xuất khẩu. Việt Nam đã có sự tăng trưởng khá về quota trong những năm qua. Xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường quota chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Do vậy cơ chế phân bổ quota cho các doanh nghiệp có tác động tích cực đến sự tăng trưởng của ngành. Nhà nước đã thường xuyên cải tiến cơ chế này nhằm bảo đảm sử dụng triệt để quota. Cơ chế phân bổ quota hiện hành được quy định trong Thông tư liên bộ số 20/1998/TTLT/BTM/BKHDT/BCN ngày 10/12/1998. Hiện nay Bộ Thương mại đang áp dụng thí điểm đấu thầu phân bổ quota. Có một số điểm không hợp lý trong chính sách thương mại đối với ngành dệt cần phải được cải tiến là: Thứ nhất, mục tiêu bảo hộ ngành thể hiện trong cơ cấu thuế nhập khẩu trở nên không có ý nghĩa do tình trạng buôn lậu diễn ra phổ biến. Điều đó chứng tỏ cơ cấu thuế nhập khẩu hàng dệt là hợp lý, không có tác dụng bảo hộ các nhà sản xuất dệt như mục tiêu đề ra. Thứ hai, có sự khác biệt rất lớn về thuế suất cho các sản phẩm giống nhau với mục đích sử dụng khác nhau, gây ra sự tuỳ tiện cho các bộ hải quan. Thứ ba, quy chế phân bổ quota vẫn còn nhiều điểm chưa rõ ràng và thể hiện sự ưu đãi đối với doanh nghiệp Nhà nước hơn là các doanh nghiệp tư nhân và nước ngoài. Thứ tư, thủ tục xuất - nhập khẩu rất phức tạo và mất thời gian. Đây là hạn chế lớn cho ngành dệt vốn phải tham gia nhiều vào hoạt động này. Ngành dệt trong mấy năm gần đây tuy đạt được một số thành công nhất định, nhưng chưa ổn định và còn nhiều bất cập. Tiếp tục phát triển ngành dệt đòi hỏi phải có nỗ lực rất lớn của ngành và quyết tâm của Chính phủ. Bên cạnh đó, nỗ lực của chính cách doanh nghiệp dệt đóng vai trò rất quan trọng. Sự phát triển của công ty dệt Thái Tuấn là một điển hình minh chứng cho tiềm năng hứa hẹn của ngành. III. Nguyên nhân 1. Nguyên nhân về phía nhà nước. 1.1. Quy hoạch, kế hoạch và đầu tư của nhà nước mất cân đối. Khi mà nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý và mỏ cửa hội nhập thị trường trong nước và thế giới có diễn biến phức tạp, thì việc định hướng, dự báo, quy hoạch, kế hoạch, xác định chính sách, đầu tư phải tính đến một cách kỹ lưỡng, khoa học, những quan hệ cân đối lớn như cung _ cầu, xuất nhập, cán cân thanh toán.. để tránh phải thay đổi lớn hoặc phà vỡ quy hoạch, kế hoạch. Kéo theo nhiều sự thay đổi khác. Việc xây dựng các nhà máy đường đã tiến hành không đồng bộ gắn với vùng nhiên liệu. ở phía Nam ngoài 4 nhà máy ép của tổng công ty mía đường, 2 nhà máy của các địa phương và 13 nhà máy 100% vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động với tổng công suất 20.250 tấn /ngày. hiện có thêm 8 nhà máy đưa tổng số lên 25 nhà máy với tổng công suất 367500 tấn/ngày tiêu thụ 5,5 tấn mía cây. Trữ lượng mía dùng để ăn tươi, làm giống là giành cho khu vực chế biến đường thủ công, sản lượng trên khó được đáp ứng đủ. Việc đầu tư xây dựng tràn lan các nhà máy đường, mía không có quy hoạch cho các vùng nguyên liệu nên ngành mía đường có sự điều chế. 1.2. Nhà nước chưa thông tin kịp thời đầy đủ, cụ thể, về thị trường nước ngoài cho DN. Sáu tháng đầu năm 99 ngành than xuất khẩu có tăng, đạt 1,52 triệu tấn, tăng 16% nhưng do giá than giảm khoảng 13% so với giá bán bình quân năm 1998 nên KNXK đạt 45,06 tr USD chỉ tăng 15%. đây là một ngịch lý và là mối quan tâm của nhiều bộ, ngành hữu quan. Nguyên nhân có nhiều nhưng tình trạng thiếu thông tin về thị trường xuất khẩu của các DN là đáng báo động hơn cả. các DN có hàng trong tay nhưng không biết xuất khẩu sang thị trường nào họ không biết thị trường các nước cần hàng gì để xuất khẩu, hoàn toàn thiếu thông tin về thị trường nước ngoài nhu cầu khách hàng, đối thủ cạnh tranh, các quy định, tiêu chuẩn hàng hoá, luật phấp nước sở tại. Đây là nhữngyếu tố cơ bản hết sức quan trọng giúp DN ra các quyết định cho chính xác: sản xuất hàng gì cho xuất khẩu, sản xuất trên công nghệ nào theo tiêu chuẩn nào, xuất khẩu cho ai, số lượng bao nhiêu và khi nào xuất. Hiện nay, các DNXK hàng công nghiệp chỉ khai thác thông tin về thị trường nước ngoài chủ yếu theo “kênh” gián tiếp là dựa vào Bộ Thương Mại, phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam, ban vật giá Chính Phủ, các phái đoàn ngoại giao của Việt Nam cung cấp nhưng những thông tin đó mang tính chất tổng hợp, không đầy đủ nên không đáp ứng đầy đủ những đòi hỏi của từng DN. Mặt khác việc thu thập thông tin về thị trường của DN từ “kênh này” cũng không dễ dàng và thuận tiện do trở ngại của thủ tục hành chính đối với DN có văn phòng đại diện hay trụ sở đóng tại thành phố lớn thì còn có điều kiện tiếp xúc với nhiều nguồn thông tin khác nhau, nhưng đối với DN vừa và nhỏ và ở xa trung tâm lớn thì việc thu thập thông tin cực kỳ khó khăn, nếu họ có thông tin thì cơ hội kinh doanh cũng qua rồi. Còn “kênh” thông tin trực tiếp giữa DN và thị trường nước ngoài thì vượt xa khả năng của DN do “tài chính eo hẹp”. 1.3. Do sự mất cân đối cơ cấu kinh tế giữa các khu vực, vùng trong cả nước. Cơ cấu tăng trưởng giữa các khu vực của nền kinh tế không hợp lý làm cho thu nhập và theo đó là nhu câu của một bộ phận dân cư lớn nhất nước ta (khu vực nông thôn chiếm 76,5% dân số cả nước) không tăng lên được. Theo số liệu của tổng cục thống kê, tương quan thu nhập của một lao động nông nghiệp với một lao động cong nghiệp như sau: năm 1996 – 65,95%, năm 1997 – 62,91%, năm 1998 – 56,69% mặc dù tương quan già giữa sản phẩm nông nghiệp và sản phẩm công nghiệp trong những năm gần đây có lợi cho nông nghiệp, tốc độ tăng trưởng của khu vực này thấp (đến cuối năm 1998 so với 1990 công nghiệp tăng 2,7 lần trong khi nông nghiệp tăng 1,4 lần), sự suy giảm về thu nhập đẫn đến sức mua ở khu vực nông thôn luôn duy trì ở mức thấp. Tiền lương thực tế cúa cong nhân viên khu vực hành chính – sự nghiệp giảm do lạm phát. Tiền lương danh nghĩa kể từ năm 1993 đến nay về cơ bản không thay đổi, trong khi tỷ lệ lạm phát của 6 năm 1993 – 1999 gần 50%. Nhà nước mới bù trượt giá khoảng 20% ( năm 1995). Như vậy thu nhập thực tế của công nhân viên khu vực hành chính sự nghiệp hiện nay chỉ còn 30% thu nhập danh nghĩa, ảnh hưởng đến sức mua của một bộ phận dân cư. 1.4. Sự phối hợp không đồng bộ của các cơ quản chức năng, hệ thống các văn bản của cơ quan nhà nước bị chồng chéo. Tình hình sản xuất buôn bán hàng giả 6 tháng đầu năm 1999 có xu hướng ngày càng tăng. Hàng giả phổ biến là sử dụng nhãn mác bao bì của hang thật nhái theo kiểu dáng của hàng thật, cả hàng thật trong nước và ngoài nước hàng giả bao gồm hầu hết các chủng loại từ mặt hàng đơn giản rẻ tiền như nước giải khát,bánh kựo, đá quý ...hàng giả trực tiếp gây ảnh hưởng đến sức khoẻ, tính mạng của con người và nguy hại hơn là làm cho uy tín của nhà sản xuất kinh doanh,hàng không bán được tồn kho.Sáu tháng đàu năm 1999bột ngọt AJINOMOTO giả chiếm 90%thị phàn.hàng rau câu của công ty đồ hộp Hạ Long bị nhái nhãn mác có thời diểm lên tới 90% thị phần khu vực mièn Tay Nam Bộ.Trong khi tệ nạn làm hàng giả ngày càng gia tăng thì việc phân công, phân cấp quản lý của các cơ quan quản lý Nhà Nước về chất lượng hàng hoá còn thiếu nhất quán, thhậm chí còn phủ định lẫn nhau.Điều 6 Nghị định 140HĐBT ban hành ngày 25/4/1991 quy định 7 cơ quan có thẩm quyền kiếm tra, xử lý việc sản xuât buôn bán hàng giả: Hệ thống cơ quan quản lý thị trường thuọc Bộ Thương Mại ;cơ quan Tiêu chuẩn đo lương chất lượng sở hữu công nghiệp,y tế,Thanh tra nhà nước, Công an hải quan.khi có nhiều người cùng chịu trách nhiệm làm một việc thì dễ dẫn đến mạnh ai nấy làm,dễ làm khó bỏ chồng chéo ‘lấn sân” nhau. Hiện nay, nhản hiệu sản phẩm hàng hoá lưu thông trên thị trường có nhiều văn bản điều tiết.Bộ Thương Mại có quyết định 636/TMQLCL ngày 26/7/1996 ban hành “quy chế nhãn sản phẩm đối vởi hàng hoá lưu thông trên thị trường”.Ba tháng sau, ngày27/2/1996 Bộ khoa học công nghệ và môi trường có quyết định 2576/QD-TDC cvề đăng ký chất lượng hàng hoá ... quy định về nhãn sản phẩm hàng hoá. Vậy cơ sở sản xuất, lực lượng kiểm tra kiểm soát phải tuân theo văn bản nào. Trong xử lý vi phạm có tới bốn nghị định 92/CP và 93/CP ngày 27/11/93; 46/CP ngày6/8/96 và 57/CP ngày 31/5/97. Cùng điều chỉnh xử lý đối với hành vi giả mạo nhãn sản phẩm theo tiết b, khoản 3, điều 15 nghị định 57/CP bị phạt từ 1—5 tr đồng. Nhưng đi vào cụ thể từng loại hàng hoá thì số tiền phạt cao nhất còn thấp hơn mức trần thấp nhất ở nghị định trên (VD:giả nhãn thuốc thú y đang lưu hành đã được đăng ký phạt 100.000-500.000đ theo tiết c, khoản 1 điều 5 nghị định 93/CP; giả mạo nhãn thuốc bảo vệ thực vật phạt 100.000-500.000đ theo tiết c, khoản 3 điều 5 nghị định 92/CP..). áp dụng văn bản nào trong 4 nghị định trên cho một hành vi vi phạm là điều băn khoăn của những người thực thi nhiệm vụ. Sự chồng chéo mà người sản xuất kinh doanh rất e ngại là chòng chéo trong hoạt động thanh tra kiểm tra hàng giả. Mặc dù điều 7 nghị định 140/HDBT nêu rất rõ ràng, một trong 7 cơ quan có chức năng chống hàng giả khi nhận được nguồn tin tố cáo thì phải phối hợp với cơ quan khác tiến hành kiểm tra xử lý.. song trên thực tế sự phối hợp ấy chẳng những hãn hữu mà nhiều khi còn hoàn toàn mâu thuẫn với nhau. Tháng 3/1997 đội quản lý thị trường quận Bình Thạnh TP Hồ Chí Minh đã kiểm tra phát hiện và lập biên bản đối với chi nhánh công ty đồ hộp Hạ Long tại TP Hồ Chí Minh vì vi phạm quy chế nhãn sản phẩm,cho công nhân bóc nhãn cũ có thời gian sử dung đến 1996, thay nhãn mới có thời hạn sử dụng đến năm 2000. Sau đó chi cục thú yTP Hồ Chí Minh tiến hành kiểm tra, láy mẫu đồ hộp để kiểm nghiệm.Tiếp đến Bộ Y tế, Bộ Thuỷ Sản, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường lại phối hợp kiểm tra và đưa ra kết quả trái nghược với Chi cục thú y.Ai cũng nói mình có quyền, ngành thú y bảo đấy là sản phẩm động vật nên là đối tượng thanh tra của mình, ngành Thuỷ Sản bảo là sản phẩm thuỷ sản, ngành y tế cho rằng đây thuộc chức năng quản lý nhà nước về hàng thực phẩm, bộ KH-CN-MT bảo là thống nhất quản lý nhà nước về chất lượng hàng hoá.. sự việc gây xôn xao dư luận và tốn không biết bao mực của các nhà bào và cuối cùng đi đên kết luận là “ chi nhánh Đồ hộp Hạ Long không vi phạm. 1.5. Nhà nước khống chế quảng cáo khuyến mại. Trong sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường, quảng cáo là một công cụ hữu hiệu góp phần TTSP của DN. Nhưng theo luật thuế thu nhập DN “chi phí quảng caó khuyến mại liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ vàg các khoản chi phí khác được khống chế tối đa không quá 7% tổng số chi phí”. Việc khống chế quảng cáo khuyến mại chỉ ở mức 7% chi phí đã làm sản xuất kinh doanh của ngành bia chững lại. Nếu như năm 1997 doanh thu của tổng công ty Rượi - bia- nước giải khát đạt 2.385,574 tỷ đ nộp ngân sách 1.232,714 tỷ đ. Năm 1998 doanh thu đạt 2.529,594 tỷ đồng nộp ngân sách 1.295,151 tỷ đồng. Nhưng bắt đầu từ cuối năm 1998 ngành bia đã gặp rất nhiều khó khăn trong khâu TTSP. Lượng bia tồn kho của 2 công ty bia Sài Gòn và bia Hà Nọi tính đến cuối tháng 5 năm 99 là khoảng 9 tr lít. Trong đó công ty bia Sài Gòn tồn 8tr lít, bia Hà Nội tồn 1tr lít. Theo báo cáo của Tổng công ty, tính đến tháng 6/1999, giá trị tổng sản lượng của tổng công ty ước đạt 1.055,876 tỷ đ bằng 93,5% so với cùng kỳ năm 1998 và bằng 45,31% so với kế hoạch. Do sản phẩm tiêu thụ chậm thị trường tiêu thụ khó khăn và ngày càng bị thu hẹp Tổng công ty đãc tăng cường công tác khuyến mại để hỗ trợ khách hàng tiêu thụ sản phẩm. Nhưng chi phí cho quảng cáo khuyến mại bị khống chế ở mức 7% giá thành. Với các ngành hàng sản xuất kinh doanh khác, tổng chi phí chiếm tới 80-90% doanh thu thì 7% chi phí là con số không nhỏ nhưng ngành bia thì do phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt chiếm tới 60-70% doanh thu ( bia hơi chịu thuế TTĐB 50%, bia lon 65%, bia chai 75%), nên phần chi phí ngoài thuế thấp, 7% chi phí này là không đáng kể. Dự kiến nhu cầu chi phí riêng cho khuyến mại để hỗ trợ khach hàng của công ty bia Sài Gòn là 80 tỷ đ (khoảng 10% tổng chi phí) trong khi chi phí cho phép dùng trong khuyến mại là 22 tỷ đ, số còn lại của7% được dùng cho các chi phí hội họp, tiếp khách, quảng cáo. mặc dù rất nỗ lực giúp đỡ khách hàng nhưng do chi phí hạn hẹp, sự hỗ trợ không được bao nhiêu trong khi các hãng bia nước ngoài không bị hạn chế về quảng cáo, khuyến mại đã có đủ các biện pháp hỗ trợ cho khách hàng với những quà tặng phần thưởng hấp dẫn.. khách hàng quen bắt đầu bỏ sản phẩm của tổng công ty để bán những sản phẩm nước ngoài thu lợi nhuận cao. 2. Nguyên nhân từ phía DN. 2.1. Công nghệ lạc hậu nên chất lượng hàng hoá, hiệu quả sản xuất, năng xuất thấp. Ngành cà phê: chất lượng sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào thu hoạch và công nghệ chế biến, bảo quản sản phẩm. Thu hoạch quả chín tươi, chế biến kịp thời và đúng quy trình công nghệ là yếu tố quan trọng giữ được phẩm chất, vốn có của hạt cà phê. Mặc dù trong thời gian qua, cà phê Việt Nam được các nhà cung ứng Mỹ và Châu Âu đánh giá cao về chất lượng cà phê xuất khẩu mới chỉ là bước đầu, còn chưa ổn định điển hình là số lượng hạt lỗi, vỡ, đen còn khà lớn làm cho chất lượng nước uống bị ảnh hưởng. Hiên nay Việt Nam đang sử dụng hai phương pháp chế biến: phương pháp chế biến kho và phương pháp chế biến ướt nên mặc dù ngành cà phê đã nỗ lực đầu tư vaò thiết bị chế biến để hạn chế tối đa sự mất cân đối giữa sản lương thu hoạch và khả năng chế biến nhưng nhìn lại hệ thống thiết bị hiện có từ máy móc có công suất lớn đến bán cơ khí và thủ công phần lớn còn lạc hậu, chắp vá, không đồng bộ, chất lượng kém. Trên thực tế trừ một số công ty, nông trường lớn là có sân phơi, còn phần lớn nông dân phơi trên đất, khá lắm là phơi trên bạt. phơi gặp mưa cũng không thềm chạy, họ không biết “mùi đất” thấm vào hạt cà phê vị chát là do thu hái cả trái xanh, có nơi cà phê xanh chiếm 15-20% lượng thu hoạch trong khi sản phẩmcà phê của hội nông đân chiếm 85% sản lượng cả nước. 2.2. Trình độ quản lý yếu kém, lạc hậu, chất lượng lao động thấp. Theo nghiên cứu tổ chức BFRI về khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Việt Nam đứng thứ 48/59 Quốc gia được kiểm sát. lao động Việt Nam đạt 32điểm/100, thuộc vào nhóm yếu kém trong khi Singapore và các quốc gia được kiểm sát đạt 84 điểm. Biểu 16: Bảng đánh giá chất lượng lao động một số nước. Quốc gia Năng suất Lao dộng Trình độ Lao động Kỹ năng Nghề nghiệp Đánh giá Chất lượng LĐ Singapore Thuỵ sỹ Nhật Bản Bỉ Mỹ Việt Nam 85(1) 64(4) 68(3) 72(2) 20 83(3) 92(2) 97(1) 40 95(8) 100(1) 100(1) 100(1) 16 84(1) 75(1) 73(3) 73(3) 70(5) 32(48) Ghi chú: số ngoài dấu ( )- số điểm trên thang 100. số trong dấu ( )- thứ hạng về khả năng cạnh tranh trên 59 Quốc gia được kiểm sát. Qua đó ta thấy chất lượng lao động của Việt Nam quá kém dẫn đến mất khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Về trình độ quản lý king tế, sản xuất kinh doanh tuy đã được tăng lên một bước thaeo quy chế mới, song nói chung còn yếu kém tư duy và hành dộng chưa bắt kịp với tốc độ thay đổi của tình hình đâts nước nhiều mặt quản lý nhất là quản lý tài chính còn lỏng lẻo, sơ hở gây lãng phí và thất thoát, có những cơ hội có thể phát triển lại rụt rè, có những lúc mạnh dạn đầu tư lại không gặp vận may do đánh giá tình hình biến động trên thị trường không chính xác, đôi lúc chưa quán triệt sâu sắc mục tiêu hàng đầu của sản xuất kinh doanh là hiệu quả kinh doanh. 2.3. DN chưa xây dựng chiến lược kinh doanh(CLKD) Hiện nay, ở hầu hết các DN chưa xây dựng cho mình một CLKD, mà làm ăn theo từng “ thương vụ” kiểu làm ăn “chụp giựt”. Phải chăng tư tương “ mì ăn liền này” cần phải bổ sung tư tương CLKD tính đến con đường làm ăn lâu dài.Cái lối làm ăn dựa vào các “lợi thế” nhất thời, các thủ thuật “mánh vặt” khai thác kẽ hở của pháp luật, của cô quan Nhà nước ..cần phải được thay thế bằng cung cách kinh doanh chân chính, có “ bài bản”và hiện đại. Điều này một phần do việc nghiên cứu, hướng dẫn, triển khai thực hiện kế hoạch chiến lược trong hoạt động kinh doanh của các DN chưa có được sự hỗ trợ tích cực từ phía Nhà nước và các cơ quan nghiên cứu. Nền kinh tếViệt Nam chưa hội đủ các yếu tố, các điều kiện cần thiết để các DN có thể xây dựng và thực hiện quản lý theo chiến lược. Việc ban hành các chính sách quản lý vĩ mô chưa ổn định và chưa đáp ứng kịp thời sự chuyển biến của nền kinh tế -xã hội mà nhất là trong lĩnh vực kinh doanh XNK. Nhưng nhuyên nhân chủ quan là do sự nhận thức lý luận và thực tiễn về vai trò của công tác Kế hoạch hoá và quản lý chiến lược trong cơ chế thị trường của các DN chưa được nhất quán, nên việc xây dựng và thực hiện CLKD còn là một công việc khá mới mẻ đối vối các DN, điều này làm hạn chế việc sử dụng những phương pháp công cụ xây dựng CLKD mang tính khoa học và làm cho quá trình xây dựng CLKD của các DN chưa tuân theo một quy trình hợp lý 2.4 Quảng cáo chưa được chú trọng, nhiều DNNN còn có quan niệm sai lầm về quảng cáo. Hiện nay, đa số các DN Việt Nam chỉ dành một số vốn rất hạn hẹp cho quảng cáo (một phần do quy định của Nhà nước: chi phí cho quảng cáo không quá 7% tốngố chi phí –theo luật thuế thu nhập DN) vá DN chưa hiểu biết cách sử dụng ngân sách cho quảng cáo. Theo thống kê của IAA (Hiệp hội quảng cáo Quốc tế ) đưa ra trong hội thảo sáng ngày 24/11/99 tại TP Hồ Chí Minh thì doanh số quảng cáo ở Việt Nam năm 1998là 110 tr USD. Bình quân 1,4USD / người trong khi ở Đài Loan là 10,6 USD/ người, ở Châu mĩ là 6-7 USD/ người. Hiện nay, trên các mặt báo chúng ta dễ dàng thấy tràn ngạp kiểu quảng cáo giới thiệu tên trụ sở công ty, lĩnh vực hoạt động và ảnh giám giám đốc.. một kiểu quảng cáo đơn điệu kém hiệu quảvà người đọc thường quyên ngay sau khi rời mắt khỏi trang quảng cáo bởi vì mục tiêu của quảng cáo là để khách hàng biết đến các thông tin về sản phẩm, dịch vụ là chính:chất lượng bao bì, thông số kỹ thuật, công dụng sản phẩm..từ đó có quyết định mua hàng ?Vậy thì sản phẩm ở đây là gì ? là ông giám đốc hay là những ngô nhà cao tầng không có một điểm gì nổi bật, ấn tượng. Còn quảng cáo trên ti vi của các công ty Việt Nam thì sao? Sau một cơn sốt “Phim thương mại” mà đi cùng với nó là điểm quảng cáo của các “ngôi sao” và “người đẹp” không biết họ định giới thiệu sản phẩm là các “ngôi sao” “người đẹp” hay là sản phẩm vì người xem đã bị cuốn vào “ngôi sao”và “người đẹp mất rồi”. Hiện nay công ty Việt Nam đã nhận thức được kiểu quảng cáo không hiệu quả đó thì vẫn rơi vào tình trạng quảng cáo dài,không ấn tượng, không có tính sáng tạo,thông điệp quảng cáo thì ghi hết huy ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docA0613.doc