Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động Xuất khẩu trong các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam

Lời nói đầu Nền kinh tế thương mại Việt Nam đang ở trong thời kỳ phát triển theo xu hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá, diễn ra với tốc độ nhanh chóng và mức độ sâu rộng. Việt Nam với chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế đã từng bước hội nhập vào nền kinh tế - Thương mại khu vực và toàn cầu. Việt Nam đã là thành viên của ASEAN, OPEC, ASEM... đã ký hiệp định thương mại với Mỹ và đang trong quá trình xin gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO). Các nước đã đánh giá rất cao vai tr

doc101 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1144 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động Xuất khẩu trong các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ò và vị trí của Việt nam trong khu vực và trên thế giới, đồng thời cũng đánh giá cao tiềm năng phát triển kinh tế của Việt Nam. Chiến lược mở cửa để đưa dần nền kinh tế nước ta hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới đã được Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện cách đây hơn 13 năm.Chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và đặc biệt quan trọng là thu hút đầu tư trực tiếp vào lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu có vai trò then chốt trong chiến lược phát triển kinh tế của Việt nam. Có thể nói, các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (DN FDI) ở Việt Nam là nhân tố quan trọng trong chủ trương, chiến lược xuất khẩu nói riêng và chiến lược phát triển kinh tế nói chung của Đảng và Nhà nước ta. Việc nghiên cứu hoạt động xuất khẩu và đưa ra các giải pháp để thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của các DN FDI là một vấn đề mang tính cấp thiết để từng bước đưa nền kinh tế nước ta phát triển hội nhập vào xu thế chung của thế giới. Nhận thức được tầm quan trọng đó, trong thời gian tìm hiểu thực tế tại Vụ Đầu Tư - Bộ Thương Mại được sự giúp đỡ, chỉ bảo nhiệt tình của TS. Lê Thị Anh Vân cùng các cô chú công tác trong Vụ Đầu Tư em đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu trong các DN FDI tại Việt nam”. Nội dung nghiên cứu bao gồm: Chương I: Những vần đề lý luận chung. Chương II: Thực trạng hoạt động xuất khẩu của các DN FDI tại Việt Nam trong thời gian vừa qua. Chương III: Một số kiến nghị nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của các DN FDI tại Việt nam trong thời gian tới. Do thời gian và trình độ còn hạn chế cũng như kinh nghiệm còn ít nên trong quá trình thực hiện đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong được sự chỉ bảo hơn nữa của thầy cô giáo cùng các cán bộ nhân viên Vụ Đầu Tư Bộ Thương Mại để đề tài của em được hoàn thiện và sâu sắc hơn. Em xin chân thành cảm ơn! Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Thanh Hiền Chương I Những vấn đề lý luận chung. I. Một số vấn đề cơ bản về Thương mại quốc tế và hoạt động xuất khẩu. 1. Lý thuyết về Thương mại quốc tế. Các lý thuyết về thương mại quốc tế nhằm giải thích tại sao có thương mại giữa các quốc gia và tại sao xuất hiện các hình thức thương mại. Thương mại chính là sự trao đổi tự nguyện giữa các quốc gia, dân tộc hay nói chính xác hơn các quốc gia sẽ tự nguyện tham gia vào thương mại khi họ thu được những lợi ích từ thương mại. Adam Smith là nhà kinh tế học đã đưa ra lý thuyết khoa học về thương mại. Theo ông, thương mại giữa các quốc gia dựa trên lợi thế tuyệt đối. Khi một nước có hiệu quả hơn (có lợi thế tuyệt đối) về sản xuất một mặt hàng nào đó và kém hiệu quả hơn( có nhược điểm tuyệt đối) về sản xuất một mặt hàng khác trong so sánh với một nước thứ hai thì cả hai sẽ có lợi hơn khi chuyên môn hoá vào sản xuất mặt hàng thuộc về lợi thế tuyệt đối của mình và dùng một phần sản phẩm đó trao đổi với nước kia để nhận được sản phẩm mà sản xuất ra nó là nhược điểm tuyệt đối của mình. Bằng các này nguồn lực của mỗi nước sẽ được sử dụng có hiệu quả hơn và sản phẩm của hai mặt hàng sẽ tăng lên. David Ricard đã đưa ra một lý thuyết tổng quát hơn về thương mại. Theo ông, thương mại cả đôi bên cùng có thể xảy ra ngày cả khi một trong hai nước có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất cả hai mặt hàng so với nước kia, trừ phi lợi thế tuyệt đối là đồng đều cho tất cả các mặt hàng. David Ricardo giải thích đó là lợi thế tương đối mang lại. Lợi thế tương đối là một khái niệm hết sức quan trọng của kinh tế học. Theo quy luật lợi thế so sánh, nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so với các quốc gia khác trong sản xuất hầu hết các loại sản phẩm thì quốc gia đó vẫn có thể tham gia vào thương mại quốc tế tạo ra lợi ích cho mình nghĩa là quốc gia có hiệu quả thấp trong sản xuất tất cả các loại hàng hoá sẽ chuyên môn hoá sản xuất và trao đổi các loại hàng hoá mà việc sản xuất chúng ít bất lợi nhất ( những hàng hoá không có lợi thế tương đối). Tuy nhiên, lý thuyết của David Ricardo là phiến diện vì nó dựa trên những giả thuyết thiếu thực tế. Vì vậy, lý thuyết của Ricardo chỉ mang tính lý thuyết nhưng chính nó là cơ sở cho Heckscher và Ohlin phân tích ảnh hưởng của các yếu tố tiềm tàng đến thương mại và chỉ ra rằng một nước sẽ chuyên môn hoá vào sản xuất đòi hỏi sử dụng nhiều yếu tố sản xuất mà nước đó tương đối dư thừa và rẻ, đổi lấy những mặt hàng mà việc sản xuất chúng đòi hỏi sử dụng nhiều yếu tố sản xuất mà nước đó tương đối khan hiếm và đắt. Nói một cách khác, một nước tương đối giàu lao động sẽ sản xuất hàng hoá sử dụng nhiều lao động đổi lại hàng hoá sử dụng nhiều vốn. Kết quả của dạng thức thương mại này là lợi nhuận tương đối cũng như lợi nhuận tuyệt đối của cùng một loại yếu tố sản xuất trở lên đồng đều nhau giữa các nước, giảm sự khác biệt về lương và lãi suất ở các nước. Như vậy, thương mại quốc tế sẽ là sự thay thế cho sự năng động quốc tế của các yếu tố sản xuất. Kinh tế theo qui mô là hiện tượng khi lợi nhuận của sản xuất tăng theo qui mô sản xuất. Kinh tế theo qui mô rất phổ biến trong sản xuất nhiều loại mặt hàng. Thậm chí trong trường hợp hai nước giống hệt nhau về mọi phương diện thì vẫn có cơ sở cho sự trao đổi thương mại, bởi khi một nước chuyên môn hoá vào sản xuất một mặt hàng và dùng một phần sản phẩm của mình trao đổi lấy sản phẩm của mặt hàng mà nước thứ hai chuyên môn hóa, thì tổng sản phẩm của hai mặt hàng sẽ lớn hơn khi không có chuyên môn hóa nếu việc sản xuất các mặt hàng có tính kinh tế theo qui mô. Thương mại quốc tế là lĩnh vực quan trọng tạo điều kiện cho các quốc gia phát triển nền kinh tế của mình. Trong điều kiện hiện nay, xét trên phạm vi quốc tế, nền kinh tế được quốc tế hoá thì không chỉ có nước giàu mà còn cả nước nghèo cũng không thể phát triển nếu tự tách mình hoặc tự cô lập khỏi thị trường quốc tế, sản xuất hàng hoá ra đời và phát triển kéo theo sự phát triển không ngừng của trao đổi và lưu thông hàng hoá cũng như sự phát triển của phân công lao động và chuyên môn hoá quốc tế. Thương mại quốc tế ngày nay không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là buôn bán mà là sự phụ thuộc tất yếu giữa các quốc gia vào phân công lao động quốc tế. Vì vậy, phải coi trọng thương mại quốc tế như là một tiền đề, một nhân tố phát triển trong nước trên cơ sở lựa chọn một cách tối ưu sự phân công lao động và chuyên môn hoá quốc tế. 2. Sự cần thiết của hoạt động xuất khẩu: 2.1. Khái niệm xuất khẩu: Hoạt động xuất khẩu hàng hoá là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho một quốc gia khác trên cơ sở tiền tệ thanh toán. Tiền tệ trong trương hợp này có thể là ngoại tệ đối với một hoặc hai quốc gia. Mục đích của hoạt động xuất khẩu là khai thác được lợi thế so sánh của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế. Hoạt động xuất khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán ở phạm vi quốc tế có điều kiện không gian và thời gian. Nó không phải là hành vi mua bán riêng lẻ mà có một hệ thống các quan hệ mua bán trong một nền thương mại có tổ chức cả bên trong và bên ngoài. Song hoạt động mua bán ở đây có những sự khác biệt phức tạp hơn mua bán trong nước, các chủ thể thực hiện hành vi mua bán có các quốc tịch khác nhau và hàng hoá để mua bán được đưa tới một quốc gia khác. Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện kinh tế từ xuất khẩu hàng hoá tiêu dùng cho đến tư liệu sản xuất, máy móc thiết bị và công nghệ kỹ thuật cao. Hoạt động xuất khẩu có thể diễn ra trong thời gian rất ngắn song cũng có thể kéo dài hàng năm, có thể tiến hành trên phạm vi một quốc gia hoặc nhiều quốc gia. 2.2. Sự cần thiết của hoạt động xuất khẩu: Kinh doanh hoạt động xuất khẩu là một khâu của quá trình kinh doanh xuất nhập khẩu. Xét trên bình diện một quốc gia thì kinh doanh xuất khẩu là hoạt động cơ bản nhất, là nguồn thu chủ yếu đối với hoạt động thu ngoại tệ của một quốc gia , tức là các doanh nghiệp đã tham gia vào một trong hai khâu của quá trình tái sản xuất mở rộng: phân phối và lưu thông hàng hoá và dịch vụ. Hoạt động xuất khẩu là chiếc cầu nối sản xuất và tiêu dùng trong nước với sản xuất và tiêu dùng trên thị trường nước ngoài. Hoạt động kinh doanh xuất khẩu không chỉ mang lại nguồn lợi lớn cho doanh nghiệp mà còn góp phần đẩy mạnh sản xuất trong nước nhờ tích luỹ vốn từ khoản ngoại tệ thu về, phát huy tính năng động sáng tạo của các đơn vị kinh tế thông qua cạnh tranh quốc tế. Kinh doanh xuất khẩu còn là phương tiện để khai thác triệt để các lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, nguồn nhân lực... và thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa các nước, đẩy nhanh tiến trình hoà nhập vào nền kinh tế toàn cầu. 3. Vai trò của hoạt động xuất khẩu: 3.1. Đối với nền kinh tế quốc dân: Xuất khẩu có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của từng quốc gia. Các lý thuyết về tăng trưởng và phát triển đều chỉ ra rằng, để tăng trưởng và phát triển kinh tế, mỗi quốc gia cần có 4 điều kiện: nguồn nhân lực, tài nguyên, vốn và khoa học công nghệ. Song không phải quốc gia nào cũng có đầy đủ những điều kiện đó. Hiện nay,các nước đang phát triển đang thiếu vốn và kỹ thuật công nghệ nhưng lao động và nguồn tài nguyên thiên nhiên lại rất dồi dào. Các nước phát triển lại dồi dào về vốn và khoa học công nghệ nhưng lại thiếu lao động và tài nguyên thiên nhiên. Để giải quyết tình trạng này, họ buộc phải nhập từ bên ngoài những yếu tố sản xuất chưa có hoặc gặp khó khăn trong sản xuất, có nghĩa là phải cần một nguồn ngoại tệ chính là khoản ngoại tệ thu về từ xuất khẩu. Xuất khẩu là hoạt động chính tạo ra tiền đề cho nhập khẩu, tạo điều kiện cho quy mô và tốc độ tăng trưởng của nhập khẩu. Vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế quốc dân thể hiện qua một số khía cạnh sau: + Xuất khẩu bảo đảm cho khả năng phát triển kinh tế. Trong những nước đang phát triển, một trong những vật cản chính của quá trình tăng trưởng kinh tế là sự thiếu vốn. Nguồn vốn huy động từ nước ngoài được coi là chủ yếu nhưng mọi cơ hội tiếp nhận đầu tư hay vay nợ nước ngoài chỉ tăng lên khi chủ đầu tư hay người cho vay nợ nhận thấy khả năng xuất khẩu của nước đó vì đây là nguồn chính đảm bảo khả năng trả nợ. + Xuất khẩu thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Thực tế cho thấy rằng xuất khẩu góp phần làm chuyển dịch nền kinh tế của các quốc gia đang phát triển từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế được nhìn nhận dưới 2 khía cạnh sau: Chỉ xuất khẩu những sản phẩm thừa so với nhu cầu tiêu dùng nội địa. Điều này có nghĩa là trong trường hợp nền kinh tế qui mô nhỏ và lạc hậu, sản xuất còn chưa đủ tiêu dùng thì xuất khẩu chỉ bó hẹp trong một phạm vi nhỏ và tăng trưởng chậm nếu không muốn nói là không thể tăng trưởng. Do đó, các ngành sản xuất không có cơ hội để phát triển và mở rộng. Coi thị trường thế giới là mục tiêu để tổ chức sản xuất và xuất khẩu. Quan điểm này tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển sản xuất. Cụ thể là : Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành cùng có điều kiện và cơ hội phát triển.Ví dụ: khi ngành dệt may xuất khẩu phát triển, các ngành liên quan như bông, sợi, nhuộm, tẩy, hấp... sẽ có cơ hội phát triển. Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng thị trường sản phẩm, tạo lợi thế nhờ quy mô Xuất khẩu là phương tiện tạo vốn và thu hút kỹ thuật công nghệ mới từ các nước phát triển nhằm hiện đại hoá nền kinh tế nội địa, tạo năng lực sản xuất mới. Xuất khẩu thúc đẩy quá trình chuyên môn hoá, tăng cường hiệu quả sản xuất của các quốc gia bởi khi khoa học công nghệ ngày càng phát triển thì phân công lao động ngày càng sâu sắc. Có những sản phẩm mà việc sản xuất từng bộ phận được thực hiện ở những nước khác nhau vì vậy để có những sản phẩm hoàn chỉnh, hoạt động xuất khẩu là cần thiết. Mặt khác, thông qua xuất khẩu một nước có thể tập trung vào sản xuất mặt hàng mình có lợi thế để trao đổi lấy thứ mình cẩn một cách có hiệu quả hơn. + Xuất khẩu tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân. Hoạt động xuất khẩu thu hút hàng triệu lao động và tạo thu nhập ổn định cho người lao động. Mặt khác, xuất khẩu tạo ra nguồn ngoại tệ để nhập khẩu hàng tiêu dùng đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng và phong phú của nhân dân. + Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy phát triển các mối quan hệ kinh tế đối ngoại. Xuất khẩu và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại khác có sự tác động qua lại, phụ thuộc lẫn nhau. Xuất khẩu là hoạt động chủ yếu, thể hiện mối liên kết trên toàn thế giới, từ đó thúc đẩy các mối quan hệ khác như du lịch quốc tế, tín dụng quốc tế,...phát triển theo. Ngược lại sự phát triển của các ngành này tạo điều kiện cho ngành xuất khẩu càng phát triển hơn. + Ngân sách Nhà nước cũng có thêm một khoản thu nhờ thuế xuất khẩu. 3.2. Đối với doanh nghiệp : + Thông qua xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nước có cơ hội tham gia vào cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả chất lượng. Những yếu tố đó đòi hỏi doanh nghiệp phải hình thành một cơ cấu sản xuất phù hợp với thị trường. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp phát triển tới một mức độ cao hơn. + Xuất khẩu tạo điều kiện để doanh nghiệp mở rộng thị trường, mở rộng quan hệ kinh doanh với các bạn hàng cả trong và ngoài nước trên cơ sở hai bên cùng có lợi, tăng doanh số và lợi nhuận, đồng thời chia sẻ rủi ro, mất mát trong hoạt động kinh doanh, tăng uy tín của doanh nghiệp. + Xuất khẩu khuyến khích các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như hoạt động đầu tư, nghiên cứu phát triển, maketing... 4. Các hình thức xuất khẩu chủ yếu: 4.1. Xuất khẩu trực tiếp: Đây là hình thức xuất khẩu các hàng hoá và dịch vụ do chính doanh nghiệp sản xuất ra hoặc thu mua từ các đơn vị sản xuất trong nước sau đó xuất khẩu ra nước ngoài với danh nghĩa là hàng của mình. Với hình thức này, doanh nghiệp đứng ở hàng thế chủ động trong hoạt động kinh doanh, mọi lợi nhuận doanh nghiệp được hưởng hết. Nhưng doanh nghiệp lại cần có nghiệp vụ ngoại thương cao và kinh nghiệm xuất khẩu. 4.2. Xuất khẩu uỷ thác: Dưới hình thức này, các đơn vị ngoại thương đóng vai trò là người trung gian thay cho đơn vị sản xuất tiến hành ký kết hợp động mua bán ngoại thương, tiến hành những thủ tục cần thiết để xuất khẩu hàng hoá cho nhà sản xuất và qua đó thu được một số tiền nhất định. Hình thức này không ổn định trong thời gian dài. 4.3. Buôn bán đối lưu: Đây là hình thức giao dịch trong đó hoạt động xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với hoạt động nhập khẩu , người bán đồng thời là người mua, lượng hàng trao đổi có giá trị tương đương. Mục đích của buôn bán đối lưu là tránh những rủi ro do sự biến động của tỷ giá hối đoái trên thị trường ngoại hối. 4.4. Xuất khẩu theo nghị định thư: Đây là hình thức xuất khẩu được thực hiện theo nghị định thư được ký kết giữa hai chính phủ ( thường với mục đích trả nợ). Mặc dù hình thức này có nhiều bảo đảm chắc chắn như khả năng thanh toán cao (do Nhà nước chi trả), giá cả tương đối cao nhưng hình thức này ngày này ít được áp dụng. 4.5. Xuất khẩu tại chỗ: Đây là hình thức đang phổ biến. Dưới hình thức này, hàng hoá không nhất thiết phải vượt qua biên giới quốc gia. Do vậy, giảm được những rủi ro cũng như những chi phí trong quá trình vận chuyển và bảo quản hàng hoá. Các thủ tục cũng đơn giản hơn rất nhiều, do đó tạo điều kiện thuần lợi cho hoạt động xuất khẩu. 4.6. Gia công quốc tế: Hình thức kinh doanh trong đó bên nhận gia công nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm và giao lại cho bên đó, nhận phí gia công. Đây là hình thức xuất khẩu phổ biến ở những nước đang phát triển có nguồn nhân công dồi dào để tạo thêm công ăn việc làm, tiếp nhận công nghệ mà không phải bỏ nhiều vốn và không phải là thị trường tiêu thụ. 4.7. Tạm nhập, tái xuất: Hình thức xuất khẩu những hàng hoá trước đây đã nhập khẩu nhưng chưa qua chế biến. Hàng hoá có thể đi từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu. Tiền sẽ được nước tái xuất khẩu thu từ nước nhập khẩu và trả cho nước xuất khẩu. 4.8. Chuyển khẩu: Là hình thức một nước bán hàng hoá cho một nước khác mà không cần làm thủ tục xuất nhập khẩu. 5. Các bước cần thiết để tiến hành hoạt động xuất khẩu: Hoạt động xuất khẩu là một quy trình kinh doanh bao gồm nhiều công đoạn khác nhau, mỗi công đoạn lại mang những đặc trưng riêng. Vì vậy, hoạt động xuất khẩu phức tạp hơn nhiều so với hoạt động thương mại trong nước. Để tiến hành hoạt động xuất khẩu cần tiến hành các bước sau: 5.1. Nghiên cứu thị trường xuất khẩu: Thị trường là yếu tố sống còn và là yếu tố vận động không ngừng, vì vậy bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải nỗ lực tìm hiểu, nghiên cứu để chỉ ra phương thức hoạt động của nó như thế nào cho phù hợp để từ đó doanh nghiệp có đối sách thích hợp trong quá trình xuất khẩu sang từng loại thị trường. Hoạt động nghiên cứu thị trường bao gồm: 5.1.1. Nghiên cứu môi trường. Điều này thể hiện việc nghiên cứu môi trường kinh tế, môi trường văn hoá - xã hội, môi trường chính trị- luật pháp, môi trường công nghệ. 5.1.2. Nghiên cứu giá cả hàng hoá. Xu hướng biến động của giá cả trên thị trường quốc tế rất phức tạp và chịu sự chi phối của những nhân tố làm phát, chu kỳ , cạnh tranh lũng đoạn giá cả. 5.1.3. Nghiên cứu về cạnh tranh. + Ai có thể là đối thủ cạnh tranh? + Cạnh tranh như thế nào (cạnh tranh về độ tin cậy, đổi mới công nghệ hay khuếch trương quảng cáo). 5.1.4. Nghiên cứu về nhu cầu. Nhu cầu là một yếu tố chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi những nhân tố khác như văn hoá, sở thích, kinh tế, chính trị... 5.2. Tạo nguồn hàng xuất khẩu: Nguồn hàng xuất khẩu là toàn bộ hàng hoá, dịch vụ của một công ty hoặc một địa phương hoặc một vùng, hoặc toàn bộ đất nước có khả năng xuất khẩu được. Để tạo nguồn hàng xuất khẩu các doanh nghiệp có thể đầu tư trực tiếp hay gián tiếp cho sản xuất, thu gom hoặc ký kết hợp đồng thu mua với những đơn vị sản xuất. 5.3. Lập phương án giao dịch, đàm phán, ký kết và tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu. 5.3.1. Chuẩn bị giao dịch. Do hoạt động kinh doanh đối ngoại phức tạp hơn các hoạt động đối nội vì nhiều lẽ: bạn hàng ở cách xa nhau, hoạt động kinh doanh chịu sự điều tiết của nhiều hệ thống luật pháp, hệ thống tiền tệ tài chính khác nhau... nên trước khi tiến hành hợp tác làm ăn, doanh nghiệp cẩn phải chuẩn bị chu đáo. Kết quả của việc giao dịch phụ thuộc phần lớn vào sự chuẩn bị đó. 5.3.2. Giao dịch đàm phán trước khi ký kết hợp đồng xuất khẩu. Đây là giai đoạn quan trọng bởi nó quyết định đến lợi ích mà doanh nghiệp sẽ thu được trong quá trình làm ăn với đối tác nước ngoài. 5.3.3. Ký kết hợp đồng. 5.3.4. Thực hiện hợp đồng xuất khẩu. Sau khi hợp đồng được ký kết, doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu với tư cách là một bên của hợp đồng phải tổ chức thực hiện hợp đồng đó. Nó đòi hỏi phải tuân thủ luật quốc gia và quốc tế, đồng thời đảm bảo được quyền lợi quốc gia và uy tín kinh doanh của doanh nghiệp. II. Xuất khẩu trong các doanh nghiệp FDI: 1. Doanh nghiệp FDI : 1.1. Khái niệm doanh nghiệp FDI: Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, thực hiện các hoạt động kinh doanh trên thị trường nhằm mục đích làm tăng giá trị tài sản của chủ sở hữu. DN FDI là doanh nghiệp sử dụng vốn dưới dạng tiền hoặc hiện vật của các tổ chức cá nhân nước ngoài vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận. Đầu tư trực tiếp (FDI) là một loại hình di chuyển vốn quốc tế, trong đó người chủ sở hữu đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn đầu tư. Về thực chất, FDI là sự đầu tư của các công ty nhằm xây dựng các cơ sở, chi nhánh ở nước ngoài và làm thủ tục toàn bộ hay từng phần cơ sở đó. Đây là hình đầu tư mà chủ đầu tư nước ngoài đóng góp một số vốn đầu tư lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ và cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư. 1.2. Phân loại doanh nghiệp FDI: Đầu tư nước ngoài được thông qua nhiều hình thức như: hợp đồng hợp tác kinh doanh; doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vôn nước ngoài; hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao(BOT); hợp đồng phân chia sản phẩm (SPC); cho thuê thiêt bị. Ngoài ra các nhà đầu tư nước ngoài còn được đầu tư vào các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao với các hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh, liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài. Dưới đây sẽ là hai loại hình doanh nghiệp có vôn đầu tư trực tiếp nước ngoài phổ biến nhất: 1.2.1. Doanh nghiệp liên doanh: Theo điều 11 của nghị định số 24/2000/NĐ-CP của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam ngày 30/07/2000 quy định: + Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được thành lập tại Việt nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh ký giữa hai bên hoặc nhiều bên để tiến hành đầu tư, kinh doanh tại Việt nam. Trong trường hợp đặc biệt , doanh nghiệp liên doanh có thể được thành lập trên cơ sở Hiệp định ký kết giữa Chính Phủ Việt nam với Chính Phủ nước khác. + Doanh nghiệp liên doanh mới là doanh nghiệp được thành lập giữa doanh nghiệp liên doanh đã được thành lập tại Việt nam với: 1 Nhà đầu tư nước ngoài. 1 Doanh nghiệp Việt nam. 1 Người Việt nam định cư ở nước ngoài. 1 Cơ sở khám chữa bệnh, giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học đáp ứng các điều kiện do Chính phủ quy định. 1 Doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đã được thành lập tại Việt nam. +Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn. Mỗi bên liên doanh chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn cam kết góp vào vốn pháp định của doanh nghiệp. Doanh nghiệp liên doanh có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt nam, được thành lập và hoạt động kể từ ngày được cấp giấy phép đầu tư. Những đặc trưng cơ bản của một doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài: * Đặc trưng về mặt kinh doanh: Doanh nghiệp liên doanh được thành lập trên cơ sở các bên cùng sở hữu về vốn góp, cùng tham gia quản lý, cùng phân phôi lợi nhuận và cùng chia sẻ rủi ro mạo hiểm, mỗi yếu tố phản ánh những khía cạnh khác nhau về mặt kinh doanh của doanh nghiệp liên doanh và được thể hiện ở: + Cùng sở hữu về vốn: các bên tham gia có thể góp vốn bằng tiền mặt, máy móc thiết bị, chi tiết, phụ tùng, đất đai, nhà xưởng, quyền sử dụng mặt nước, mặt biển, các dịch vụ xây dựng, sản xuất, phục vụ các bằng phát minh, sáng chế... Các bên cũng có thể góp khả năng kinh nghiệm, uy tín công ty hoặc nhãn hiệu hàng hoá... + Cùng tham gia quản lý: các bên tham gia cùng phối hợp xây dựng bộ máy quản lý hoạt động liên doanh, đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý liên doanh, đội ngũ công nhân viên phục vụ đồng thời tạo ra môi trường nội bộ liên doanh thích hợp với điều kiện nước sở tại. Thông thường , số lượng thành viên tham gia hội đồng quản trị cũng như mức độ quyết định của các bên đối với các vấn đề sản xuất- kinh doanh của doanh nghiệp liên doanh phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn pháp định của các bên. + Cùng phân phối lợi nhuận: các bên tham gia cùng tiến hành phân phối các khoản lợi nhuận thu được của doanh nghiệp liên doanh sau khi đã thực hiện đẩy đủ các nghĩa vụ về tài chính đối với nước sở tại. Tỷ lệ phân chia lợi nhuận giữa các bên dựa theo ty lệ vốn góp trong vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh. + Cùng chia sẻ rủi ro, mạo hiểm: quá trình hoạt động của liên doanh thường gặp phải những rủi ro; những rủi ro này có thể do quá trình thiết kế liên doanh không chu đáo, do những biến động về chính trị, do những thay đổi của hệ thống pháp lý, do cạnh tranh haydo những yếu tố bất ngờ khác... thiệt hại do những rủi ro này gây ra sẽ do các bên tham gia gánh chịu theo tỉ lệ phân chia như đối với lợi nhuận. * Đặc trưng về mặt pháp lý: Doanh nghiệp liên doanh là một thực thể pháp lý độc lập hoạt động theo luật pháp của nước sở tại, chịu sự điều chỉnh của luật pháp nước sở tại. Doanh nghiệp liên doanh có tư cách pháp nhân. Quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia liên doanh được ghi trong hợp đồng liên doanh. Doanh nghiệp liên doanh được thành lập dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần, đôi khi nó còn được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm vô hạn hoặc các hiệp hội góp vốn hữu hạn. Mỗi bên tham gia liên doanh vừa có tư cách pháp lý riêng- chịu trách nhiệm phap lý với bên kia và tư cách pháp lý chung- chịu trách nhiệm với toàn thể liên doanh. Nếu hợp đồng liên doanh là điều kiện cần để hình thành lên doanh nghiệp liên doanh thì điều lệ hoạt động của doanh nghiệp liên doanh là điều kiện đủ để đảm bảo tính chỉnh thể, độc lập của thực thể pháp lý này, nó cũng là cơ sở để phân biệt thực thể này với thực thể kinh doanh khác. Hoạt động của doanh nghiệp liên doanh diễn ra trong môi trường kinh doanh nước sở tại, môi trường này bao gồm cả các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội, mức độ hoàn thiện luật pháp, trình độ học vấn của dân cư... các yếu tố này chi phối rất lớn đến hoạt động của liien doanh, đồng thời doanh nghiệp liên doanh cũng có mối quan hệ nhất định với thị trường nước ngoài... 1.2.2. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài: Theo điều 21 của nghị định số 24/2000/NĐ- CP quy định: Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, được thành lập và hoạt động kể từ ngày được cấp giấy phép đầu tư. Những đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài: * Đặc trưng về mặt kinh doanh: Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài hoạt động dựa trên sự điều hành, quản lý của chủ đầu tư nước ngoài nhưng vẫn phải tuỳ thuộc vào các điều kiện về môi trường kinh doanh của nước sở tại, đó là các điều kiện về kinh tế, chính trị, văn hoá, mức độ cạnh tranh... để đạt được hiệu quả cao nhất trong kinh doanh, các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài phải tạo lập được các mối quan hệ mật thiết với các doanh nghiệp nước sở tại nhằm khai thác các nguồn lực sẵn có tạo nên thế và lực trong sức mạnh cạnh tranh. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài cũng phải dựa trên các điều kiện về cơ sở hạ tầng của nước sở tại như: đất đai, hệ thống giao thông công cộng... để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Mặt khác, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài cũng phải nỗ lực hình thành nên một hình ảnh hấp dẫn trong khách hàng của nước sở tại về sản phẩm, nhanh chóng tạo được chỗ đứng trong thị trường nước sở tại. Như vậy, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài tuy thuộc quyền sở hữu, điều hành của chủ đầu tư nước ngoài nhưng khi tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh vẫn phải dựa trên các điều kiện sẵn có của nước sở tại và phải hình thành nên được một chiến lược kinh doanh đa dạng phù hợp với thị trường nước sở tại. * Đặc trưng về mặt pháp lý: Đặc trưng về mặt pháp lý nổi bật của doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là nó có tư cách pháp nhân, là một thực thể pháp lý độc lập hoạt động theo luật pháp của nước sở tại. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn. Quyền lợi và nghĩa vụ của nhà đầu tư nước ngoài được quy định trong điều lệ doanh nghiệp; ngoài ra doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài phải tuân thủ các điều khoản trong giấy phép đầu tư. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài cũng phải thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong các văn bản pháp lý có liên quan . Như vậy, đặc trưng về mặt kinh doanh và đặc trưng về mặt pháp lý đã định hình một cách cụ thể loại hình doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài trong hoạt động đầu tư quốc tế. Cả hai đặc trưng này đều cùng nhằm xác định một thực thể độc lập. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài. Do đó, cũng có thể coi doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là một thực thể kinh doanh pháp lý độc lập. 2. Vai trò của các doanh nghiệp FDI trong nền kinh tế quốc dân Việt nam: 2.1. Tăng vốn đầu tư cho sản xuất và khai thác tiềm năng. Về mặt chiến lược, nguồn vốn trong nước là quyết định và là điều kiện để tiếp thu nguồn vốn nước ngoài. Nhưng trong những năm tới đây, nguồn vốn bên ngoài là đặc biệt quan trọng đối với việc phát triển nền kinh tế của đất nước. Trong nguồn vốn bên ngoài vốn đầu tư nước ngoài có nhiều lợi thế hơn vốn vay vì đây là nguồn vốn tư nhân đầu tư vào Việt nam trên cơ sở đôi bên cùng có lợi, chủ đầu tư phải quan tâm đến hiệu quả kinh tế đồng thời Chính phủ không phải lo trả nợ và ít chịu ảnh hưởng của các quan hệ chính trị. Nguồn vốn của các DN FDI là nguồn vốn bổ xung quan trọng để nước ta tiên hành công cuộc công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nước. Đầu tư trực tiếp nước ngoài thời kỳ 1991-1995 chiếm 25,7% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội. Do đó nguồn vôn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ, tăng vốn đầu tư cho sản xuất... nhằm khai thác hết các tiềm năng sẵn có của đất nước như: tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, nguồn nhân lực dồi dào... 2.2. Tạo ra một khối lượng hàng hoá lớn và có chất lượng để xuất khẩu. Với sự ra đời và hoạt động của các DN FDI tại Việt nam, danh mục hàng hoá xuất khẩu mang thương hiệu Việt nam ngày càng được bổ xung nhiều hơn và có điều kiện tham gia vào cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đóng góp một phần không nhỏ để tạo ra một khối lượng hàng hoá lớn cho xuất khẩu. Con số đó được thể hiện rất rõ ở sự gia tăng không ngừng kim ngạch xuất khẩu của các DN FDI, tỷ trọng xuất khẩu của các DN FDI ngày càng gia tăng trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Theo thống kê năm 1996 tỷ trọng của các DN FDI trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước là 10,83%, năm 1997 là 16,85% con số này tiếp tục tăng lên cho đến năm 1999 đạt 22,36%. Nhiều ngành nghề mới xuất hiện như: sản xuất lắp ráp ô tô, máy giặt, điều hoà nhiệt độ, linh kiện điện tử... đều do các DN FDI chiếm toàn bộ sản phẩm sản xuất ra, điều này càng làm phong phú thêm các mặt hàng xuất khẩu của Việt nam. Các DN FDI đã sản xuất ra nhiều mặt hàng mới có chất lượng cao phục vụ cho xuất khẩu: đã có 16 nhóm mặt hàng hoàn toàn mới và khoảng 20 nhóm hàng lần đầu tiên thâm nhập vào một số thị trường. Một số ngành hàng sản xuất hàng thay t._.hế nhập khẩu của các DN FDI chiếm tỷ lệ lớn trong sản lượng toàn quốc như: thép 1,3 triệu tấn/năm , xe máy chiếm 60% , phân bón NPK 52%, thuốc trừ sâu 53%, sứ vệ tinh 40%, gạch ốp lát 45%, xi măng 29%... Một số ngành chiếm vị trí quan trọng đối với chủng loại hàng xuaat khẩu của Việt nam như ngành giầy 72 triệu đôi/ năm chiếm 41% công suất toàn quốc, ngành may 40 triệu sản phẩm/ năm chiếm 16%, ngành sợi chiếm 29%, ngành vải 26%... Nếu như năm 1991 mới có 4 mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là dầu thô, thuỷ hải sản , gạo, dệt may đạt kim ngạch xuất khẩu 100 triệu USD( theo báo cáo của Bộ Thương Mại) thì đến năm 1999 đã có thêm 8 mặt hàng xuất khẩu chủ lực mới đó là cà phê, cao su , nhân điều, giày dép, than đá, hàng điện tử, hàng thủ công mỹ nghệ và rau quả. Có được thành công đó phải kể đến một phần đóng góp không nhỏ của các DN FDI. Tỷ trọng các nhóm mặt hàng qua chế biến tăng dần. Chất lượng hàng xuất khẩu đã được nâng lên đáng kể, một số mặt hàng đã có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế, đồng thời cũng có tác động tích cực đến chất lượng hàng hoá trong nước. Hiện nay dầu thô, gạo , thuỷ hải sản, hàng dệt may, giày dép của Việt nam đã được thừa nhận đạt hoặc xấp xỉ tiêu chuẩn chất lượng quốc tế. Cũng theo báo cáo này, khoảng 75% kim ngạch xuất khẩu của các DN FDI là hàng chế biến, có một số mặt hàng có chứa hàm lượng kỹ thuật cao. 2.3. Tạo công ăn việc làm giải quyết thất nghiệp. Các DN FDI không chỉ góp phần tạo ra hàng hoá xuất khẩu mà còn đóng góp một phần đáng kể trong quá trình tạo công ăn việc làm và giải quyết thất nghiệp của Chính phủ. Về lao động, các DN FDI đã trực tiếp giải quyết việc làm cho một số lượng đáng kể lao động người Việt nam( bằng khoảng 7% lao động trong các doanh nghiệp nhà nước) đồng thời cũng đã góp phần tạo công ăn việc làm và thu nhập cho hàng chục vạn lao động gián tiếp khác trong lĩnh vực dịch vụ, xây dựng... Đây là đóng góp rất có ý nghĩa về mặt xã hội cần được chú trọng. Theo báo cáo của Vụ Đầu Tư, tính đến tháng 9/2000 các DN FDI đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho khoảng 337 ngàn lao động. Như vậy, hàng năm đã có một số lượng lao động lớn của nước ta được làm việc trong các DN FDI, lực lượng lao động này hàng năm có tổng thu nhập hàng trăm triệu USD góp phần tạo ra sức mua mới, kích cầu, kích thích sản xuất phát triển, tạo điều kiện cho ổn định đời sống kinh tế và an toàn xã hội. 2.4. Thực hiện chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất, nâng cao trình độ nghề nghiệp cho lao động và quản lý . Đầu tư nước ngoài là một biện pháp quan trọng trong chính sách mở cửa, nhằm góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước ta. Qua hợp tác với nước ngoài, thông qua các DN FDI , chúng ta đã tiếp nhận được một số kỹ thuật, công nghệ tiên tiến trong nhiều ngành như: viễn thông, thăm dò dầu khí, công nghiệp xi măng, sắt thép, điện tử, hoá chất... qua đó tiếp cận và học tập được nhiều kinh nghiệm quản lý điều hành. Các DN FDI đã góp phần tích cực bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ lao động ở nước ta. Đó chính là đội ngũ nòng cốt trong việc học tập, tiếp thu kỹ thuật, công nghệ hiện đại, năng lực quản lý tiên tiến của nước ngoài. 2.5. Mở rộng các hoạt động kinh tế đối ngoại. Các DN FDI đại diện cho nhiều tập đoàn, công ty của nhiều nước trên thế giới đó là yếu tố tác động vào việc cải thiện quan hệ giữa Việt nam và các nước khác trên thế giới đồng thời thúc đẩy sự hội nhập của nền kinh tế Việt nam với đời sống kinh tế khu vực và thế giới. Trên 70 nước và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư vào Việt nam, trong đó có nhiều công ty, tập đoàn lớn có tiềm lực lớn về công nghệ và tài chính. Phần lớn những nước này đều thuộc Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) nên đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho Việt nam mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại cũng như hội nhập khu vực và quốc tế. 3. Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI. Hoạt động xuất khẩu chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, trong số đó có thể liệt kê ra một số nhân tố sau đây: 3.1. Yếu tố kinh tế trong nước và định hướng xuất khẩu của Chính phủ. Hoạt động xuất khẩu đương nhiên phụ thuộc vào tiềm lực sản xuất trong nước và định hướng của Chính phủ: coi trọng sản xuất tiêu dùng trong nước hay hướng về xuất khẩu thì khi đó hoạt động xuất khẩu mới phát triển. 3.2. Quy chế xuất nhập khẩu. 3.2.1. Thuế quan xuất khẩu. Thuế quan xuất khẩu làm tăng thu cho ngân sách nhưng nó lại làm cho giá cả quốc tế của hàng hoá bị đánh thuế cao hơn mức giá cả trong nước. Tác động của thuế quan xuất khẩu nhiều khi mang đến bất lợi cho khả năng xuất khẩu do quy mô xuất khẩu của một nước là nhỏ so với dung lượng của thị trường thế giới, thuế xuất khẩu hạ thấp tương đối mức giá cả trong nước của hàng hoá có thể xuất khẩu xuống so với mức giá cả quốc tế và sẽ làm giảm sản lượng trong nước của mặt hàng có thể xuất khẩu, sản xuất trong nước sẽ thay đổi bất lợi đối với mặt hàng xuất khẩu. Mặt khác việc duy trì một mức thuế xuất khẩu cao trong một thời gian dài sẽ làm hạn chế hoạt động xuất khẩu và ngược lại thuế xuất khẩu thấp sẽ tạo điều kiện cho hoạt động xuất khẩu. 3.2.2. Các nhân tố phi thuế quan. + Hạn ngạch: là quy định của Nhà nước về số lượng cao nhất của một mặt hàng hay một nhóm mặt hàng được cấp giấy phép xuất khẩu hay nhập khẩu từ một thị trường trong một thời gian nhất định thông qua hình thức cấp giấy phép. Hạn ngạch nhập khẩu của một nước sẽ ảnh hưởng đến số lượng hàng hoá xuất khẩu của nước khác. + Hạn chế xuất khẩu tự nguyện: là hình thức quốc gia nhập khẩu đòi hỏi quốc gia xuất khẩu phải hạn chế bớt số lượng hàng xuất khẩu sang nước mình một cách tự nguyện, nếu không họ sẽ áp dụng biện pháp trả đũa kiên quyết. Khi một mặt hàng xuất khẩu gặp phải hạn chế xuất khẩu tự nguyện sẽ gặp khó khăn trong số lượng hàng được xuất khẩu tương tự như hạn ngạch. + Nhà nước quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật : bao gồm những quy định về vệ sinh, đo lường, an toàn lao động, bao bì đóng góp đặc biệt là các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn bảo vệ môi trường sinh thái đối với máy móc thiết bị và dây chuyền công nghệ. + Trợ cấp xuất khẩu: Chính phủ có thể áp dụng những biện pháp trợ cấp trực tiếp hoặc cho vay với lãi xuất thấp đối với các nhà xuất khẩu hoặc có thể thực hiện một khoản vay ưu đãi cho các bạn hàng nước ngoài để họ có điều kiện mua các sản phẩm do nước mình sản xuất. Khi đó hoạt động xuất khẩu sẽ dễ dàng hơn, kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng lên đáng kể. + Chính sách tỷ giá: trong trường hợp tỷ giá hối đoái tăng lên nghĩa là đồng nội tệ mất giá thì giá cả hàng hoá xuất khẩu rẻ tương đối so với các hàng hoá của những nước xuất khẩu cùng loại hàng hoá đó. Từ đó số lượng hàng hoá xuất khẩu sẽ tăng lên nhưng lúc đó giá cả nguyên vật liệu nhập khẩu để sản xuất hàng hoá xuất khẩu đó ( nếu có) sẽ tăng lên không có lợi cho hoạt động xuất khẩu. Ngược lại, khi tỷ giá hối đoái giảm xuống nghĩa là đồng nội tệ lên giá thì giá cả hàng hoá nhập khẩu trở lên đắt tương đối so với mức giá chung trên thế giới dẫn đến số lượng hàng hoá xuất khẩu sẽ giảm đi. Lúc này sẽ cần đến sự điều chỉnh của Chính phủ. 3.3. Quan hệ kinh tế quốc tế. Rõ ràng là quan hệ kinh tế quốc tế ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu. Ta có thể lấy ví dụ: Irắc khi bị cấm vận về kinh tế, không có một mối liên hệ nào với thế giới bên ngoài do đó cũng không có hoạt động xuất khẩu gì, dẫn đến tình hình kinh tế trong nước vô cùng khó khăn. Một nước có mối quan hệ tốt với thế giới bên ngoài thì hoạt động xuất khẩu sẽ phát triển. 3.4. Cơ chế quản lý và chính sách ngoại thương của các quốc gia. Cơ chế quản lý và chính sách ngoại thương có ảnh hưởng lớn đến quan hệ thương mại giữa các nước. Một cơ chế, chính sách không phù hợp ( lỏng lẻo quá hoặc chặt chẽ quá) đều gây cản trở cho sự phát triển của hoạt động ngoại thương dẫn đến việc mất cân đối cơ cấu kinh tế, nền kinh tế tăng trưởng chậm hoặc không ổn định và những ảnh hưởng tiêu cực khác. Cụ thể là, một cơ chế, chính sách quá chặt chẽ sẽ không khuyến khích hoạt động ngoại thương. Các doanh nghiệp xuất khẩu không có khả năng phát triển hoạt động của mình. Ngược lại, một cơ chế chính sách quá lỏng lẻo dẫn đến những rối loạn nghiêm trọng trong lĩnh vực ngoại thương. Các doanh nghiệp xuất khẩu thì hoạt động một cách tự phát và vô tổ chức. Hàng hoá ngoại nhập thì cạnh tranh gay gắt với hàng hoá trong nước. Các hành vi phi pháp như nhập lậu hàng hoá, buôn bán hàng hoá quốc cấm sẽ có có hội phát triển. Cần thấy rõ cơ chế quản lý và chính sách có tác dụng định hướng cho các hoạt động xuất nhập khẩu theo đúng mục tiêu mà Nhà nước đặt ra. Do đó, cơ chế quản lý, chính sách phù hợp sẽ giúp cho các hoạt động xuất khẩu đi đúng hướng góp phần tích việc phát triển quan hệ ngoại thương của các quốc gia. 3.5. Q uan hệ tỉ giá hối đoái giữa đồng tiền của các nước. Tỉ giá hối đoái có tác động lớn tới hoạt động xuất khẩu của mỗi quốc gia. Khi tỉ giá hối đoái tăng, đồng nội tệ bị mất giá, nghĩa là phải bỏ ra nhiều đồng nội tệ mới mua được một động ngoại tệ, do đó, khuyến khích cần phải xuất khẩu. Ngược lại, nếu đồng nội tệ lên giá sẽ hạn chế xuất khẩu. Đối với hầu hết các nước, tỉ giá hối đoái là một công cụ kinh tế vĩ mô quan trọng để điều chỉnh các hoạt động xuất khẩu theo một mục tiêu nào đó. Rõ ràng, tỉ giá hối đoái có ảnh hưởng khá quan trọng đến quan hệ thương mại giữa các nước. Vì vậy, mỗi nước cần phải điều chỉnh tỉ giá hối đoái ở một mức độ phù hợp để có lợi cho cả xuất khẩu và nhập khẩu. 3.6. Trình độ khoa học- công nghệ của các nước. Nhà nước khó khăn yếu kém trong trình độ khoa học-công nghệ chính là một trở ngại lớn đối với hoạt động xuất khẩu bởi khoa học-công nghệ có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao khả năng sản xuất, đa dạng hoá các mặt hàng xuất khẩu, nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu của một nước. Một nền sản xuất nhỏ và lạc hậu chỉ dựa vào tài nguyên trong nước thì chỉ thường xuất khẩu những mặt hàng thô, sơ chế hoặc nếu xuất khẩu các sản phẩm chế biến, chế tạo thì lại gặp vấn đề về chất lượng, mẫu mã, giá cả và cơ cấu hàng hoá thì đơn điệu. Các mặt hàng này có sức cạnh tranh kém, chịu nhiều biến động của thị trường và không thể xâm nhập vào các thị trường của các nước phát triển. Việc xuất khẩu không phát triển thì không đáp ứng đủ các nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu. Quan hệ xuất khẩu do đó không thể phát triển và có xu hướng tụt hậu. Ngược lại, những nước có trình độ khoa học- công nghệ phát triển sẽ có điều kiện nâng cao sức sản xuất, đa dạng hoá cơ cấu xuất khẩu, nâng cao chất lượng, mẫu mã sản phẩm. Các sản phẩm xuất khẩu thường là có hàm lượng công nghệ , hàm lượng chất xám cao và có nhiều sản phẩm mang tính sáng tạo lớn, tinh độc quyền cao. Các nước này còn có khả năng tiêu chuẩn hoá và thích nghi hoá sản phẩm trong chiến lược khuếch trương quốc tế về sản phẩm. Do đó, các hàng hoá xuất khẩu của các quốc gia này có khả năng cạnh tranh mạnh, dễ dàng thâm nhập vào các thị trường khó tính và nhiều khi thâu tóm được cả thị trường thế giới ( ví dụ như sản phẩm phần mềm máy tính của hãng Micrsoft-Mỹ). 3.7. Lợi thế so sánh của một nước. Theo lý thuyết H-O , mỗi nước đều có lợi thế so sánh về một hoặc một số yếu tố mà nhờ đó việc sản xuất những sản phẩm cần đến các yếu tố sản xuất này có chi phí cơ hội và do đó có cho phí tương đối ( chi phí so sánh) thấp hơn, tạo khả năng cho các sản phẩm đó cạnh tranh trên thị trường thế giới. 3.8. ảnh hưởng của yếu tố văn hoá. Mỗi quốc gia trên thế giới đều có một nền văn hoá riêng đặc trưng cho quốc gia mình. Văn hoá bao gồm các thành tố như ngôn ngữ, lối sống , tín ngưỡng, phong tục tập quán, lễ hội, các loại hình nghệ thuật,... văn hoá dân tộc có ảnh hưởng rất sâu sắc đến suy nghĩ và hành vi của mỗi người dân trong quốc gia đó. Trong xuất khẩu, yếu tố văn hoá rất được chú trọng. Khi một cá nhân hoặc một doanh nghiệp của một nước nào đó làm ăn buôn bán với cá nhân hoặc doanh nghiệp nước ngoài, họ cần quan tâm đến nền văn hoá của nước đối tác. Với mỗi nước, mỗi nền văn hoá khác nhau cần có một chiến lược kinh doanh khác nhau. Nếu họ tìm hiểu nền văn hoá của nước đối tác, quan hệ sẽ dễ đi đến thành công. Như vậy, quan hệ thương mại nói chung và quan hệ xuất khẩu nói riêng giữa các nước chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố đa dạng và phức tạp. Do đó, các nước trong quá trình hoạt động xuất khẩu phải luôn xem xét và điều chỉnh các yếu tố đó một cách thích hợp nhằm tạo điều kiện cho hoạt động xuất khẩu phát triển nhanh chóng và ổn định, góp phần vào sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế nước mình. 4. Khả năng xuất khẩu trong các doanh nghiệp FDI: 4.1. Các doanh nghiệp FDI có khả năng huy động nguồn vốn lớn nên việc đầu tư vào xuất khẩu hàng hoá cao. 4.2. Có trang thiết bị và công nghệ hiện đại sẽ thúc đẩy công tác xuất khẩu. 4.3. Luật đầu tư nước ngoài đã được thực thi hơn 13 năm, đến nay đã có trên 70 nước và vùng lãnh thổ với nhiều tập đoàn kinh tế- tài chính lớn đầu tư vào nước ta. Về phương diện xuất khẩu, các DN FDI chủ động đầu ra, trường vốn và công nghệ cao, mô hình quản lý tiên tiến, gọn nhẹ và có hiệu quả đã đóng góp ngày càng nhiều vào xuất khẩu toàn quốc cả về trị số tuyệt đối và tỉ trọng. Năm 1995 là 440 triệu USD, bằng 8% kim ngạch cả nước, đến năm 2000 hai chỉ số tương ứng là 3,3 tỷ USD và 22%. Trong 6 tháng đầu năm 2001 kim ngạch vượt xuất khẩu của đầu tư trực tiếp nước ngoài cả năm 1997 ( các số liệu trên không kể phần xuất khẩu dầu thô của liên doanh dầu khí Việt- Xô). Do cơ chế chính sách đã luôn được cải tiến, luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam ban hành năm 1987 cùng với các văn bản kèm theo liên tục được sửa đổi bổ xung theo hướng thông thoáng hơn qua các năm 1990,92,96 và gần đây, trên nền tảng luật đầu tư nước ngoài ( sửa đổi) tháng 6/2001. Nghị định 24 của Chính phủ và Thông tư số 22 của Bộ Thương Mại đã mở rộng khung hoạt động xuất khẩu của các DN FDI như: bãi bỏ việc duyệt kế hoạch xuất khẩu; việc ban hành quy chế tín dụng hỗ trợ xuất khẩu( quyết định số 133/2001/NĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ ngày 10/9/2001); thông tư số 23/1999/TT-BTM áp dụng cho việc mua, bán hàng hóa giữa nội địa Việt nam với doanh nghiệp chế xuất, xuất khẩu tại chỗ... và các DN FDI từng bước được hưởng các lợi ích tương ứng với các doanh nghiệp Việt nam như được xét thưởng về thành tích xuất khẩu. Do đó, tỉ lệ đầu tư nước ngoài vào Việt nam ngày càng nhiều, xuất khẩu ngày một gia tăng. Việc cải cách các thủ tục hành chính đã có bước tiến quan trọng bằng việc Bộ Thương Mại uỷ quyền cho các cơ sở thương mại và các ban quản lý các khu công nghiệp địa phương, giải quyết một số chức trách về quản lý Nhà nước đối với các DN FDI và các cơ quan đó tiếp nhận suôn sẻ, gần như không xảy ra ách tắc trong thời điểm chuyển giao trách nhiệm đã kích thích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các doanh nghiệp trong nước, thúc đẩy cán cân xuất nhập khẩu. Với nhiều dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài, ngành công nghiệp nói chung và đặc biệt là ngành dệt- may, da- giày, điện tử... tăng nhanh về sản xuất và xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu 3 mặt hàng này thường chiếm từ một nửa đến 2/3 tổng kim ngạch của các DN FDI và góp phần đưa 3 mặt hàng đó thành những mũi nhọn trên mặt trận xuất khẩu nói chung. Bên cạnh đó đã xuất hiện nhiều dự án đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng sử dụng nhiều lao động trong nước, tận dụng nhiều nguyên liệu tại chỗ. Như vậy, khả năng xuất khẩu trong các DN FDI là rất lớn. Trong những năm qua, xuất khẩu trong các doanh nghiệp này đã đạt được những thành tựu đáng kể và tiếp tục nâng cao khả năng xuất khẩu trong những năm tiếp theo. Chương II Thực trạng hoạt động xuất khẩu của các DN FDI tại Việt nam trong thời gian vừa qua I. Thực trạng hoạt động xuất khẩu của Việt nam thời kỳ 1996 đến 2001. Bảng 1: Tình hình xuất khẩu của Việt nam thời kỳ 1996- 2001. Năm Trị giá kim ngạch XK (Triệu USD) Tốc độ tăng (%) 1996 6.868 10,42 1997 8.785 13,29 1998 9.323 14,15 1999 11.460 17,39 2000 14.448 21,93 2001 15.027 22,82 Tổng số 65.884 100,00 Nguồn: Vụ Đầu Tư- Bộ Thương Mại Bảng 2: Kim ngạch xuất khẩu của Việt nam 2001 so với 2000 theo châu lục. Châu lục Trị giá ( Triệu USD) Tỷ trọng (%) Thay đổi so với 2000 (%) Châu á 8.776,16 58,40 1,79 Châu âu 3.537,16 23,54 6,10 Châu Mỹ 1.461,05 9,75 38,09 Châu Đại Dương 1.078,30 7,18 - 16,70 Châu Phi 174,57 1,16 23,99 Tổng cộng 15.027,26 100,00 4,00 Trong đó ASEAN 2.510,72 16,71 - 3,51 EU 2.998,59 19,95 5,47 OPEC 10.353,11 68,90 1,o1 Hoa Kỳ 1.065,33 7,09 45,44 Nguồn vốn đầu tư - Bộ Thương Mại. Quy mô và tốc độ của hoạt động xuất khẩu không ngừng được mở rộng và gia tăng bình quân 18,4%/ năm so với mức tăng trưởng GDP bình quân 7,6%/ năm ( nhanh hơn 2,6 lần). Cán cân thương mại quốc tế từ nhập siêu so với kim ngạch xuất khẩu là 63,6% năm 1996 thu hẹp chỉ còn 0,7% năm 1999. Sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997- 1998 thì năm 1999 kinh tế của các nước Đông Nam á bước vào giai đoạn phục hồi kinh tế, tốc độ tăng trưởng thương mại cao, đã cuốn hút hoạt động thương mại Việt nam phát triển theo. Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 1999 ước đạt 11,520 tỷ USD, tăng 23,1% so với năm 1998 ( chỉ tiêu kế hoạch Quốc Hội đề ra tăng 5- 7%). Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ đạt 17,5 tỷ USD, tăng khoảng 5,1% so với năm 2000. Tuy tốc độ tăng đạt thấp, chỉ bằng một nửa chỉ tiêu Quốc Hội đề ra nhưng nếu loại trừ tác động của giá thì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu sẽ là 19,8%. Cơ cấu nhóm hàng, mặt hàng xuất khẩu được cải thiện nhất định nhờ chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tỷ trọng nhóm hàng qua chế biến tăng dần. Tính đến năm 1999 có thêm 8 mặt hàng chủ lực là cà phê, cao su, giầy dép, hàng điện tử, than đá, thủ công mỹ nghệ, hạt điều, rau quả với chất lượng đã đạt hoặc xấp xỉ tiêu chuẩn thế giới. Theo số liệu thống kê mới công bố của ngành hải quan, đến năm 2001, nước ta đã có 18 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu từ 100 triệu USD trở lên, với tổng kim ngạch khoảng 11.921 triệu USD, chiếm 79,5% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Ngoài những mặt hàng trước đây ( dầu thô, dệt may, thuỷ sản, giầy dép, gạo, máy tính và linh kiện lắp ráp, cà phê, rau quả, sữa và sản phẩm sữa, thủ công mỹ nghệ, cao su, hạt điều, điện tử, than đá) đã xuất hiện một số mặt hàng mới như sản phẩm gỗ, dây điện và dây cáp điện, sản phẩm nhựa và xe đạp, phụ tùng xe đạp. Ngoài ra, còn có hai mặt hàng gần đạt ngưỡng 100 triệu USD là hạt tiêu( trên 91 triệu USD) và chè ( trên 78 triệu USD). Theo các chuyên gia, nếu trong năm 2002 được mở rộng thị trường, thì hai mặt hàng này có thể trở thành hai mặt hàng chủ lực mới của Việt nam. Ngoài xuất khẩu hàng hoá, xuất khẩu dịch vụ có mức tăng nhanh: năm 2000 số khách du lịch vào Việt nam khoảng 2 triệu lượt khách, đạt doanh thu 450 triệu USD; dịch vụ ngân hàng, hàng không, bưu chính, xây dựng đạt khoảng 1 tỷ USD, 9 vạn lao động ở nước ngoài gửi về 500 triệu USD vào năm 2000. Cơ cấu thị trường xuất khẩu có sự chuyển biến cơ bản, đến tháng 4/2000 đã có Hiệp định thương mại với 52 nước và có thoả thuận tối huệ quốc với 72 nước và vùng lãnh thổ, quan hệ thương mại với trên 100 nước. Nước ta là thành viên ASEAN ( năm 1995), ASEM (1996), OPEC (1998) và quan sát viên WTO (1995). Nhìn chung trong những năm qua, lĩnh vực xuất khẩu đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, về cơ bản đã thực hiện được những chủ trương nêu ra trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế- xã hội, góp phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, thúc đẩy sản xuất, tạo thêm nhiều công ăn việc làm, thu ngoại tệ để trang trải nhu cầu nhập khẩu và tích luỹ. Những thành tựu trên bắt nguồn từ những nguyên nhân chủ yếu sau: Một là: Công cuộc đổi mới đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, cơ cấu sản xuất chuyển dịch dần, từ đó thúc đẩy hoạt động xuất khẩu và cải thiện cơ cấu xuất nhập khẩu. Hai là: Xuất khẩu được đặt thành một nhiệm vụ trọng tâm, sản xuất gắn liền với lưu thông, xuất khẩu; các cơ chế chính sách ngày càng phù hợp, thông thoáng, tạo thuận lợi cho các ngành sản xuất, các địa phương và các thành phần kinh tế tham gia xuất khẩu. Ba là: Chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hoá, đa phương hoá, từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới đã góp phần đẩy lùi chính sách bao vây cấm vận, mở rộng thị trường xuất khẩu. Bên cạnh những thành tựu đạt được còn tồn tại những khó khăn như: + Quy mô xuất khẩu còn quá nhỏ so với các nước trong khu vực, bình quân tính theo đầu người khoảng 175USD/ 2000 trong khi Malaysia năm 1996 đạt mức 3700 USD, Thái Lan 933 USD và Philippin là 285 USD. Riêng Trung Quốc năm 1999 kim ngạch xuất khẩu đạt 195 tỷ USD bình quân đầu người 163 USD. + Việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất, ngành hàng chưa bám sát tín hiệu của thị trường thế giới nên nhiều sản phẩm làm ra không tiêu thụ được, khả năng cạnh tranh thấp do giá cả cao, chất lượng kém. + Sự hiểu biết về thị trường nước ngoài còn hạn chế. + Việc hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới còn không ít lúng túng. + Công tác quản lý Nhà nước về thương mại tuy đã có nhiều sự cải tiến nhưng nhìn chung còn khá thụ động. Những tồn tại trên bắt nguồn từ những nguyên nhân sau: Một là: Trình độ phát triển kinh tế của nước ta còn thấp kém, cơ cấu kinh tế nói chung còn lạc hậu, từ năm 1997 lại chịu tác động của không ít cuộc khủng hoảng trong khu vực. Hai là: Nền kinh tế nước ta trên thực tế mới chuyển sang cơ chế thị trường và mới tiếp cận với thị trường toàn cầu trong khoảng mười năm trở lại đây, trình độ cán bộ còn chưa theo kịp nhu cầu nên không thể tránh khỏi bỡ ngỡ. Ba là: Còn lúng túng trong việc đề ra cơ chế quản lý nhằm thực hiện phương châm hướng mạnh ra xuất khẩu và chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Biểu đồ: Cơ cấu vốn năm 2000 (%). 59,8% 16,8% 23,4% Trong đó: Vốn nhà nước: 59,8% Vốn ngoài quốc doanh: 23,4% Vốn FDI: 16,8% II. Thực trạng hoạt động xuất khẩu trong các DN FDI tại Việt nam thời gian vừa qua. 1. Số lượng các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu: Theo báo cáo của Vụ Đầu Tư- Bộ Thương Mại tính từ năm 1998 đến ngày 31/12/2001, các DN FDI có tổng số dự án là 3.692 dự án với tổng số vốn đăng kí hơn 45.950 triệu USD, trong đó đã giải thể 649 dự án với tổng số vốn đầu tư là 7.234 triệu USD, số dự án còn hoạt động là 3.043 dự án với tổng số vốn đầu tư là 38.715 triệu USD. Tổng số dự án đầu tư năm 2001 là 430 dự án với tổng vốn đầu tư 1.747 triệu USD, so với năm 2000 (2001/2000): số dự án tăng 23% và số vốn đầu tư tăng 8%. Ghi chú: vì năm 2000, cuối năm có cấp dự án khai thác dầu khí Nam Côn Sơn có vốn đăng kí 581 triệu USD. Bảng 3: Doanh thu và kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI. Đơn vị tính: 1000USD STT Lĩnh vực kinh tế Doanh thu Tỷ trọng (%) Kim ngạch xuất khẩu %XK/ DT 1 Công nghiệp 11.659.257 89,4 5.021.565 43,06 - Công nghiệp nặng 5.715.376 1.997.524 35 - Công nghiệp nhẹ 3.389.864 2.656.922 78,4 - công nghiệp thực phẩm 2.554.017 367.119 14,4 2 Nông lâm nghiệp 1.227.743 9,4 309.714 25,2 3 Thuỷ sản 164.021 1,2 61.815 37,7 Tổng số 13.051.021 5.393.094 Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Vụ Đầu tư- Bộ Thương mại Căn cứ vào số liệu bảng 3 ta thấy, cơ cấu đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp chiếm tỷ trọng đáng kể (35,2% tổng vốn đầu tư). Tỷ lệ % kim ngạch xuất khẩu/doanh thu của các ngành trong lĩnh vực công nghiệp chiếm tỷ lệ rất cao mà đáng kể là ngành công nghiệp nhẹ với 78,4% trong đó đáng kể là một số ngành như may mặc, sản xuất giầy thể thao, dệt… tỷ lệ này phản ánh hiệu quả xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực kinh doanh của mình. Doanh thu, doanh số xuất khẩu hàng hoá của các doanh nghiệp FDI thuộc lĩnh vực công nghiệp chiếm phần lớn. Tuy nhiên có những lĩnh vực chiếm giá trị lớn như du lịch, khách sạn…lại không có khả năng xuất khẩu và đạt doanh thu không cao. Trong một vài năm tới đây cần có sự cân đối về đầu tư giữa các lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân, đặc biệt là giữa công nghiệp và nông nghiệp đồng thời cần có những biện pháp khuyến khích đầu tư vào những lĩnh vực thu hút nhiều lao động như nông nghiệp, thuỷ sản…để phát huy lợi thế so sánh của đất nước. * Xét về hình thức đầu tư có các hình thức đầu tư như: + BOT (Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh) ( Built- Transfer- Operate): có 7 dự án với tổng số vốn đầu tư là 1,563 tỷ USD. + Hợp đồng kinh doanh với 161 dự án có tổng số vốn đầu tư là 3,94 tỷ USD. + Đầu tư nước ngoài (100%): Có 1802 dự án với tổng số vốn đầu tư 11,84 tỷ USD. + Công ty liên doanh: Có 1138 dự án với tổng số vốn đầu tư là 21,733 tỷ USD. Số dự án đầu tư của FDI trong các khu công nghiệp là 697 dự án với tổng số vốn đầu tư là 6,349 tỷ USD. Tính đến nay, tại 10 khu công nghiệp Đồng Nai đã có 21 Quốc gia và lãnh thổ có dự án đầu tư với tổng số 346 dự án ( trong đó công ty Vedan và công ty Pouchen nằm ngoài khu công nghiệp được công nhận hoạt động theo Nghị định 36/CP) , tổng vốn đầu tư là: 4.654,02 triệu USD, chia ra: - Vốn đầu tư nước ngoài là 247 dự án, với vốn đăng kí là 4.317,97 triệu USD. - Vốn đầu tư Việt nam 100% là 99 dự án, với vốn đăng kí là 336.05 triệu USD. Hiện đã có 184 dự án đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, với vốn đầu tư là 3.828.87 triệu USD, chiếm tỷ lệ 82,27% so với tổng vốn đăng kí; 13 dự án đang xây dựng với tổng vốn đăng kí là 73,6 triệu USD chiếm tỷ lệ là 1,58% so với tổng vốn đăng kí; 49 dự án chưa triển khai xây dựng với tổng vốn đăng kí là 751,55 triệu USD, chiếm tỷ lệ 16,15% so với tổng vốn đăng kí. * Đầu tư FDI phân theo ngành có 3113 dự án với tổng số vốn đầu tư là 39,114 tỷ USD. Bảng 4: Đầu tư FDI phân theo ngành. STT Ngành Số vốn đầu tư ( triệu USD) Số dự án đầu tư 1 TC- NHàng 53.000 9 2 KCX 190.416 3 3 Thuỷ sản 199.032 74 4 VH- Ytế- GD 1.243.023 283 5 Dịch vụ 1.711.451 201 6 Nông-lâm nghiệp 2.873.053 420 7 GTVT-Bưu điện 3.117.292 95 8 CN dầu khí 3.596.704 74 9 KSạn-Du lịch 5.212.992 203 10 CN nặng 6.713.491 503 11 Xây dựng 7.092.382 190 12 CN nhẹ 7.654.778 1055 13 Dịch vụ khác 11.000 3 Tổng số 39.114.612 3113 * Đầu tư của FDI trong các KCX có 150 dự án với tổng số vốn đầu tư là 701.263 triệu USD. Bảng 5: Đầu tư FDI trong các KCX. Đơn vị tính 1000 USD. STT KCX Số vốn đầu tư Số dự án 1 KCX Cần Thơ 2.003 1 2 KCX Lin Trung 1.000 1 3 KCX Linh Trung 130.129 34 4 KCX Tân Thuận 568.131 114 Tổng số 701.263 150 Nguồn: Vụ đầu tư- Bộ Thương mại * Đầu tư FDI phân theo năm tính từ năm 1996 trở lại đây có 2.026 dự án với tổng số vốn đầu tư là 21,576 tỷ USD. Bảng 6: Đầu tư của FDI từ 1996 đến 2002. Đơn vị tính: 1000USD. Năm Số vốn đầu tư Số dự án 1996 8.326.105 308 1997 3.867.236 312 1998 4.018.148 264 1999 1.635.296 293 2000 1.626.568 343 2001 2.013.227 443 2002 90.229 63 Tổng 21.576.809 2.026 Nguồn: Vụ đầu tư- Bộ Thương mại Đầu tư FDI phân theo địa phương gồm có 3115 dự án với tổng số vốn đầu tư 39,118 tỷ USD. Từ đầu năm đến ngày 31/11/2001 toàn TP HCM có 164 dự án được cấp giấy phép với tổng vốn đầu tư 606,2 triệu USD, tăng 47,7% về số dự án và 1,9 lần về vốn đầu tư so với năm 2000, trong đó công ty 100% vốn nước ngoài có số dự án đầu tư cao nhất (81,7%), cụ thể: 100% vốn đầu tư nước ngoài có số dự án là 134 dự án và vốn đầu tư là 273,5 triệu USD. Liên doanh có 26 dự án với số vốn đầu tư là 30,2 triệu USD. Hợp tác kinh doanh có 4 dự án với số vốn đầu tư là 302,5 triệu USD. Các ngành có vốn đầu tư cao là ngành công nghiệp có số dự án cao nhất 120 dự án với vốn đầu tư 126 triệu USD; kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn có 24 dự án với số vốn đầu tư 8,8 triệu USD. Gồm các nước : Đài Loan : 44 dự án, số vốn đầu tư 42,7 triệu USD. Hàn Quốc : 31 dự án, số vốn đầu tư 27 triệu USD. Nhật : 14 dự án, số vốn đầu tư 7,3 triệu USD. Hồng Kông: 3 dự án, số vôn đầu tư 33 triệu USD. Vốn đầu tư bình quân một dự án là 3,7 triệu USSD. Một dự án có vốn đầu tư cao nhất là hợp đồng hợp tác kinh doanh dịch vụ điện thoại di động CDMA SaiGon Telecom với tổng vốn đầu tư 299,6 triệu USD, dự án xây dựng trung tâm tiêu thụ nông sản thực phẩm của công ty Metrro Cash và Carry với tổng vốn đầu tư 120 triệu USD, dự án xây dựng bệnh viện đa khoa của công ty y tế Viễn Đông Việt nam với tổng vốn đầu tư 32 triệu USD. Trong năm có 55 dự án điều chỉnh tăng vốn đầu tư, tổng số vốn đăng kí tăng là 231 triệu USD, 01 dự án giảm vốn, giảm 3 triệu USD. Nếu tính cả số dự án mới được cấp giấy phép và dự án điều chỉnh cấp vốn, từ đầu năm đến nay TP HCM đã thu hút được 834 triệu USD vốn FDI; có 14 dự án được cấp giấy phép, tổng số vốn rút là 252 triệu USD. Một số dự án mới được cấp giấy phép trong năm: công ty liên doanh Sài Gòn Tả Ngạn vốn đầu tư 85 triệu USD, công ty liên doanh khách sạn Cột Cờ Thủ Ngữ 81,5 triệu USD, bệnh viện quốc tế Xanh 20,5 triệu USD, công ty trách nhiệm hữu hạn Luks An Khánh 20 triệu USD... Nguyên nhân chủ yếu là do đối tác gặp khó khăn không triển khai hoặc không hiệu quả, một số dự án chuyển thành 100% vốn Việt nam; có 1050 dự án còn hiệu lực hoạt động với tổng vốn đầu tư 11.101 triệu USD. Trong đó có 636 dự án 100% vốn nước ngoài với đầu tư là 3.472 triệu USD, 365 dự án liên doanh với 6,261 triệu USD, 49 dự án hợp đồng hợp tác kinh doanh. Nhìn chung số lượng các DN FDI tham gia xuất khẩu ngày càng gia tăng. Đến nay đã có khoảng 700 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu, trong đó có trên 100 doanh nghiệp có kim ngạch xuất khẩu trên 3,7 triệu USD và khoảng trên 20 doanh nghiệp có kim ngạch xuất khẩu trên 10 triệu USD, có doanh nghiệp xuất khẩu lên đến 570 triệu USD. 2. Về tình hình xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu của các DN FDI tăng liên tục qua các năm với tốc độ cao. Kim ngạch xuất khẩu của các DN FDI trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung của cả nước cũng không ngừng tăng lên. Bảng 7: Kim ngạch xuất khẩu của các DN FDI trong những năm gần đây Đơn vị tính: triệu USD. Kim ngạch XK của FDI Kim ngạch XK toàn quốc Tỷ lệ FDI so với toàn quốc (%) Tốc độ tăng XK của toàn quốc (%) Tốc độ tăng XK của FDI (%) Chưa kể dầu thô Kể cả dầu thô Chưa kể dầu thô Kể cả dầu thô Chưa kể dầu thô Kể cả dầu thô Năm 1996 786 2.131 6.868 11,4% 31,0% 26% 78% Năm 1997 1.790 2.910 8.758 20,4% ._.- xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để lựa chọn. Đòi hỏi phải nhập khẩu thiết bị tiên tiến và hiện đại cho mọi ngành sản xuất, bất kể hiệu quả, bất kể khả năng quản lý và vận hành của cơ sở sử dụng thiết thực thực chất là một sự lãng phí không kém gì nhập khẩu thiết bị lạc hậu. Các loại thiết bị công nghệ cao thường sử dụng ít hoặc rất ít lao động. Trong một số trường hợp, việc nhập khẩu các loại thiết bị này sẽ không giúp ích nhiều cho việc tạo công ăn việc làm và tận dụng thế mạnh lao động rẻ để cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Giá thiết bị cao còn làm tăng giá thành sản phẩm và làm suy khả năng cạnh tranh của hàng hoá. Vì lý do đó, việc nhập khẩu thiết bị tiên tiến cần được tính toán kỹ về mặt hiệu quả, tập trung cho một số ngành then chốt như năng lượng, tin học, điện tử, viễn thông, công nghệ sinh học và vật liệu mới nhằm kiến tạo một cơ sở hạ tầng vững chắc và góp phần đẩy nhanh qúa trình tạo ra các mặt hàng mới cho xuất khẩu. Trong những ngành còn lại, cần biết tận dụng các công nghệ có trình độ vừa phải, sử dụng nhiều lao động, vừa phù hợp với trình độ phát triển của ta, vừa đáp ứng nhu cầu chế biến nguyên liệu thô. Nếu có khó khăn về vốn đầu tư trong khi việc nâng cấp thiết bị là cần thiết thì nên tập trung vào những khâu quyết định chất lượng sản phẩm. * Nhà Nước đầu tư thành lập Ngân hàng Dữ liệu công nghệ để cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp. Một phần vốn đầu tư cho khoa học công nghệ nên được dành để thành lập Ngân hàng Dữ liệu nhằm cung cấp cho doanh nghiệp những thông tin cập nhật nhất về lĩnh vực công nghệ mà họ quan tâm. Việc này đã được làm nhưng quy mô nhỏ, lại thiếu quảng cáo nên rất ít doanh nghiệp biết về sự tồn tại của một trung tâm như vậy. Tới đây nên tiến hành đầu tư một cách bải bản hơn cho lĩnh vực này, đồng thời tăng cường phổ biến đến các doanh nhân để họ biết và có điều kiện tham khảo dữ liệu trước khi ra quyết định đầu tư. * Tạo lập thị trường công nghệ để các sản phẩm khoa học công nghệ được trả giá đúng mức và lưu thông bình thường như một dạng hàng hoá đặc biệt. Đây là biện pháp có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy các nghiên cứu khoa học gắn bó hơn với tiến trình phát triển, đồng thời rút ngắn được khoảng thời gian giữa nghiên cứu và ứng dụng. Để tạo lập thị trường công nghệ, nên khuyến khích việc ký hợp đồng giữa các doanh nghiệp với các cơ sở nghiên cứu khoa học bằng cách thiết lập Quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển công nghệ Quốc Gia. Quỹ này sẽ cho các doanh nghiệp vay trong trường hợp họ có nhu cầu đặt hàng với các Viện nghiên cứu. Làm như vậy vừa gắn được việc nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn của sản xuất, vừa tạo điều kiện cho các nhà khoa học giỏi phát huy tài năng, vừa không phí phạm nguồn vốn ít ỏi của ngân sách Nhà Nước. * Thi hành nghiêm túc các quy định của luật pháp về bảo hộ quyền sở hữu công nghệ cũng là biện pháp quan trọng khuyến khích đầu tư nghiên cứu khoa học phục vụ cho công cuộc đổi mới và cải tiến công nghệ. Tình trạng ăn cắp chất xám, bản quyền, kiểu dáng công nghệ… phổ biến hiện này đã làm nhiều doanh nghiệp và nhiều nhà khoa học nản chí trong đầu tư cho khâu nghiên cứu và ứng dụng (R&D). Nhà Nước cần tỏ ra nghiêm khắc hơn nữa với các vi phạm pháp luật kiểu này để các doanh nghiệp và các nhà khoa học yên tâm nghiên cứu, đầu tư. áp dụng chế độ đăng ký và kiểm tra chất lượng bắt buộc đối với hàng xuất khẩu để vừa thúc đẩy các doanh nghiệp quan tâm hơn nữa đến vấn đề công nghệ (đặc biệt là công nghệ sạch), vừa nâng cao uy tín cho hàng hoá Việt Nam trên thị trường thế giới. Chất lượng hàng hoá xuất khẩu có thể được nâng cao, từ đó tạo ra sức cạnh tranh cho hàng hoá Việt Nam bằng cánh áp dụng chế độ kiểm tra chất lượng bắt buộc đối với một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn như dệt may, đồ điện tử, thực phẩm chế biến, tạp hoá tiêu dùng. Chính sách về vấn đề đào tạo nguồn nhân lực. Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới và khu vực (như Nhật Bản và Singapo...) cho thấy công tác đào tạo là một trong những nhân tố quyết định thành công đối với sự phát triển của đất nước. Ngày nay nhân tố này lại càng có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh nền kinh tế tri thức đang hình thành và ảnh hưởng sâu rộng tới tư duy quản lý, tư duy kinh tế và phương thức sản xuất kinh doanh. Vì vậy để thực hiện thành công những mục tiêu chiến lược đã đề ra, vấn đề tạo dựng một đội ngũ cán bộ, doanh nhân có năng lực và một đội ngũ công nhân lành nghề tham gia công tác xuất nhập khẩu đóng vai trò hết sức quan trọng. Có thể nói tư duy kinh doanh, nghiệp vụ và phương thức kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam nhìn chung ở trình độ thấp, có khoảng cách khá xa so với trình độ thế giới. Hơn thế nữa, với mục tiêu chiến lược là tăng trưởng xấp xỉ 14%/năm thì nhu cầu về công nhân lành nghề (may mặc, lắp ráp điện tử, cơ khí...) sẽ rất lớn. Cứ xuất khẩu 1 tỷ USD hàng may mặc hoặc giày dép thì cần tới 300.000-400.000 công nhân, cứ xuất khẩu 1 triệu USD hàng thủ công mỹ nghệ thì cần thêm 3000-4000 công nhân... Vì vậy, song song với việc đào tạo một đội ngũ cán bộ, đội ngũ doanh nhân có năng lực phải trú trọng tạo dựng một đội ngũ công nhân đủ về số lượng thạo về tay nghề để thực hiện chiến lược nhập khẩu. Nhà nước cần nghiên cứu tổ chức những lớp đào tạo và bồi dưỡng giám đốc để hình thành dần đội ngũ doanh nhân có năng lực, khả năng sử lý linh hoạt, đồng thời cần có chính sách khuyến khích doanh nhân giỏi đặc biệt là trong khu vực doanh nghiệp Nhà nước. Nếu cần, có thể xem xét lại chế độ tiền lương cho người đứng đầu các doanh nghiệp Nhà nước. 1.2.6. Các chính sách về kiểm tra * Việc kiểm tra hoạt động của doanh nghiệp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn giải quyết những vấn đề phát sinh thực hiện theo đúng quy định của giấy phép đầu tư và quy định của pháp luật. Việc kiểm tra phải theo đúng các quy định sau: UBND cấp tỉnh hoặc Ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh (đối với doanh nghiệp trong khu công nghiệp) xây dựng kế hoạch và chủ trì tổ chức kiểm tra định kỳ để đánh giá tình hình thực hiện các quy định của giấy phép đầu tư, đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp; Các Bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ xây dựng kế hoạch và chủ trì tổ chức kiểm tra chuyên ngành để đánh giá tình hình thực hiện các quy định của pháp luật liên quan đến việc quản lý theo thẩm quyền; Các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tổ chức kiểm tra bất thường khi doanh nghiệp có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc khi có sự cố. * Cơ quan kiểm tra có trách nhiệm thông báo trước với UBND cấp tỉnh hoặc ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh nơi có doanh nghiệp về kế hoạch và nội dung kiểm tra. Việc kiểm tra định kỳ, kiểm tra chuyên ngành được thực hiện không quá một lần trong năm đối với một doanh nghiệp. * Cơ quan kiểm tra định kỳ và kiểm tra chuyên ngành có trách nhiệm thông báo kế hoạch, nội dung kiểm tra cho doanh nghiệp ít nhất là 7 ngày làm việc trước khi tiến hành kiểm tra. Thời gian kiểm tra tại một doanh nghiệp tối đa không quá 5 ngày làm việc; trường hợp thời gian kiểm tra đòi hỏi dài hơn thì cơ quan kiểm tra phải thông báo cho UBND cấp tỉnh hoặc ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh. Mọi hoạt động kiểm tra tuỳ tiện không đúng pháp luật lợi dụng kiểm tra gây phiền hà cho doanh nghiệp đều bị xử lý theo đúng quy định của pháp luật. 1.3. Quản lý một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu: Cần dành ưu tiên cao cho các ngành sản xuất hàng xuất khẩu. Quản lý xuất khẩu của một số mặt hàng như: Hàng dệt may xuất khẩu theo hạn ngạch mà Việt nam thoả thuận với nước ngoài, Bộ Thương Mại sẽ công bố cho từng thời kỳ. Hàng cần khuyến khích xuất khẩu theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt nam ký kết hoặc tham gia, Bộ Thương Mại sẽ công bố cho từng thời kỳ. Trường hợp các DN FDI được cấp giấy phép đầu tư hoặc giấy phép kinh doanh để sản xuất những mặt hàng gạo; động vật rừng; thực vật rừng dùng làm giống; đá quí, kim loại quí, ngọc trai tự nhiên thì việc xuất khẩu được thực hiện theo giấy phép đầu tư và các văn bản qui phạm pháp luật có liên quan. Cần khuyến khích mạnh mẽ việc thu hút FDI vào các ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp chế biến; công nghiệp phục vụ phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn; các dự án ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, dầu khí, điện tử, vật liệu mới, viễn thông, sản xuất phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội và các ngành mà Việt Nam có nhiều lợi thế cạnh tranh gắn với công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. 1.4. Quản lý các doanh nghiệp chiếm kim ngạch xuất khẩu hàng hoá lớn: Nhà nước cần có các biện pháp nhằm hỗ trợ đẩy mạnh các hoạt động xuất khẩu hàng hoá trong các doanh nghiệp, cải tiến việc thực thi các chính sách hỗ trợ qua các quỹ khuyến khích xuất khẩu theo hướng tập chung vào các chương trình xuất khẩu trọng điểm. Khen thưởng kịp thời các doanh nghiệp xuất khẩu những mặt hàng mới và thâm nhập được thị trường mới. đồng thời phải tập chung tháo gỡ vướng mắc cho các doanh nghiệp nhằm tạo ra bước phát triển mới, vững chắc và ổn định về xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ. 1.5. Chú trọng đến các địa bàn thuận lợi: Nhà nước ta cần có những biện pháp thu hút FDI vào những địa bàn có nhiều thuận lợi như TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương... để phát huy vai trò cuẩ các vùng động lực, tạo điều kiện liên kết phát triển các vùng khác trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh. Bên cạnh đó cũng cần khuyến khích và dành các ưu đãi tối đa cho FDI vào những vùng và địa bàn có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn và đẩy mạnh đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng ở các địa bàn này bằng các nhiệm vụ khác để tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động FDI. Bên cạnh đó Nhà nước cần coi trọng công tác qui hoạch trên các địa bàn; công tác cấp và điều chỉnh giấy phép đầu tư và các hoạt động khác trong các khu công nghiệp như: +quản lý môi trường: ban quản lý phối hợp với Sở Khoa Học Công Nghệ và Môi trường kiểm tra tình hình lưu giữ lượng hoá chất tồn đọng tại các doanh nghiệp. +quản lý lao động: quản lý và cấp các thủ tục xác nhận Hội đồng quản trị và Ban giám đốc cho các doanh nghiệp, cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài và giải quyết các hồ sơ gia hạn giấy phép lao động nước ngoài; giải quyết các vấn đề tranh chấp trong sử dụng lao động; vấn đề tiền lương... 1.7. Các vấn đề về thị trường- thông tin và xúc tiến thương mại. Đây là những vấn đề có liên quan trực tiếp đến chức năng và hoạt động của Bộ Thương mại, đặc biệt là của hệ thống thương vụ tại nước ngoài. * Trước hết, cần quan phân định rõ trách nhiệm về công tác thị trường ở tầm vĩ mô và vi mô, khắc phục đồng thời hai biểu hiện tiêu cực là ỷ lại vào Nhà Nước và phó mặc cho doanh nghiệp. Xét về mặt xuất khẩu Bộ Thương mại có nhiệm vụ: - Hoạch định chiến lược xuất khẩu trong thời một tầm nhìn dài hạn đồng thời cả 3 yếu tố: tốc độ phát triển, cơ cấu thị trường và cơ cấu mặt hàng. - Thu thập và phổ biến thông tin về thị trường, đồng thời làm tốt công tác dự báo để định hướng cho sản xuất và xuất khẩu, phát triển các mặt hàng mới. - Tổ chức thị trường (bao gồm cả việc đàm phán tiếp cận thị trường) và xúc tiến thương mại. Việc hoạch định một chiến lược tổng thể về thị trường là việc có tầm quan trọng hàng đầu. Để xây dựng được chiến lược này, Bộ Thương mại và hệ thống thương mại phải nắm rõ được năng lực và hiện trạng của sản xuất trong nước cũng như đặc điểm, tính chất và thể chế của từng thị trường ngoài để từ đó trả lời trước hết là 5 câu hỏi: mặt hàng nào, đi vào đâu, với số lượng bao nhiêu, đi như thế nào và cần giải quyết vấn đề gì trong quan hệ song phương. Trên cơ sở đó sẽ phát triển cho từng thị trường và cơ cấu tổng thể về thị trường ngoài. Bên cạnh các biện pháp mang tính dài hạn đã đề cập trong chiến lược phát triển xuất khẩu thời kỳ 2001-2010, trong thời gian tới cần thực hiện thêm các biện pháp sau để duy trì và mở rộng thị trường: + Sớm hoàn thành quy chế thương mại biên giới để tăng cường xuất khẩu hàng hoá sang thị trường Trung Quốc. Các vấn đề còn vướng mắc như chủ thể kinh doanh, hàng hoá kinh doanh, cửa khẩu chính thức hay không chính thức…cần được xem xét giải quyết dứt điểm để tạo thuận lợi cho xuất khẩu, kể cả tái xuất. Tăng cường hợp tác với các tỉnh biên giới phía nam Trung Quốc để tận dụng chính sách ưu đãi của Chính phủ Trung Quốc dành cho khu vực này. Quy chế tạm nhập tái xuất và quy chế chuyển khẩu cần có sự điều chỉnh phù hợp để tăng được kim ngạch tái xuất, vừa đảm bảo được quản lý của Nhà Nước. + Sớm hoàn thành một Hiệp định thương mại tự do với CHLB Nga. Nếu xét thấy không thể đàm phán một Hiệp định tổng thể thì có thể tách phần thuế nhập khẩu ra để đàm phán trước. - Quyết định số 46/2001 đã giải quyết một số đề nghị của EU về cấp giấp phép nhập khẩu gạch ốp lát, giấy phép nhập khẩu rượu… Ta cần chủ động thông báo với EU việc này và đề nghị với EU dành thêm các cơ hội về thị trường cho hàng dệt may, hàng hải sản của ta. - Do lo ngại suy thoái kinh tế toàn cầu, một số nước có thể sẽ lui về bảo hộ thị trường trong nước, đặt thêm các hàng rào cản để hạn hàng nhập khẩu từ nước khác. Các tham tán thương mại cần chú ý xu thế này và thông báo ngay khi có vấn đề phát sinh. Một khi đã xác định, các mục tiêu trên sẽ trở thành chỉ tiêu phấn đấu của cả Bộ, trong đó có các tham tán thương mại tại nước ngoài. Nếu thị trường nào đó không đạt được các mức chỉ tiêu phấn đấu thì tham tán sẽ là người đầu tiên phải trả lời. Tham tán cần phải giải thích được lý do không đạt chỉ tiêu và trên cơ sở đó, đề xuất các biện pháp cần thiết để đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường có liên quan. Những mặt hàng và thị trường cần có sự đàm phán ở cấp Chính phủ phải lên kế hoạch đàm phán cụ thể để tạo hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp. Trong các mục tiêu đàm phán sẽ có: đàm phán mở cửa thị trường mới, đàm phán để tiến tới thương mại cân bằng với những thị trường mà ta thường xuyên nhập siêu, đàm phán để thống nhất hoá các tiêu chuẩn vệ sinh, tiêu chuẩn kỹ thuật và đàm phán để nới lỏng các hàng rào phi thuế quan. Trong việc này, thông tin về kinh nghiệm của các nước khác trên thị trường có liên quan cũng như chính sách của nước sở tại với các đối tác khác nhau sẽ là thông tin tối quan trọng. Khi đã phối hợp được các lực lượng có liên quan trong một hệ thống thống nhất, có phân công trách nhiệm rõ ràng thì vấn đề thu thập thông tin sẽ mặc nhiên được giải quyết bởi từng khâu sẽ rõ mình cần phải thu thập những thông tin gì. Trong quá trình thu thập thông tin, cần hết sức lưu ý đến việc phát triển các mặt hàng xuất khẩu mới vào thị trường có liên quan. Mới ở đây được hiểu theo hai nghĩa. Có thể là mặt hàng mà Việt Nam có tiềm năng nhưng chưa xuất khẩu được vào thị trường có liên quan hoặc đã xuất khẩu được nhưng kim ngạch còn nhỏ bé, không xứng với tiềm năng. Cũng có thể là xu hướng tiêu dùng trên thị trường sở tại có sự thay đổi nên một mặt hàng đó Việt Nam lại có thể sản xuất được. Việc phát triển các mặt hàng mới có ý nghĩa rất quan trọng bởi nó vừa có khả năng tác động đến tốc độ mở rộng thị trường và giảm nhập siêu, vừa đóng vai trò tích cực trong việc chuyển đổi cơ cấu hàng xuất của nước ta. Trách nhiệm còn lại trong khâu thông tin là phổ biến thông tin. Để thông tin có thể đến với mọi doanh nghiệp quan tâm theo con đường ngắn nhất, tiết kiệm nhất, Bộ Thương mại cần xây dựng ngay cơ sở dữ liệu và trang chủ (trang Web) của riêng mình đồng thời tăng cường phát hành các tài liệu theo chuyên đề. * Nhanh chóng thành lập Cục Xúc tiến thương mại để hỗ trợ các doanh nghiệp trong lĩnh vực thông tin và tiếp thị. Chức năng chính của Cục Xúc tiến thương mại là phổ biến thông tin và tổ chức xúc tiến các hoạt động thương mại. Trên cơ sở chiến lược thâm nhập thị trường đã được hoạch định. Cục Xúc tiến có nhiệm vụ xây dựng lộ trình hành động cụ thể để đưa được hàng hoá Việt Nam ra thị trường nước ngoài. Cục sẽ quản lý cơ sở dữ liệu của Bộ Thương mại và lo các vấn đề có liên quan đến khía cạnh kỹ thuật như tạo dựng cơ sở dữ liệu để truy cập, tạo dựng trang Web. Nên chăng Chính phủ cho phép thành lập nhanh cơ quan tại Bộ Thương mại? 1.8. Đẩy mạnh cải cách hành chính, xoá bỏ các rào cản bất hợp lý đang cản trở hoạt động xuất khẩu. * Công khai hoá và luật pháp hóa là việc đầu tiên cần làm trong tiến trình đổi mới công tác quản lý. Hiện nay các doanh nghiệp rất thiếu thông tin về các quy định của Nhà Nước có liên quan đến công việc kinh doanh của họ. Đây là yếu điểm lớn cần được khắc phục nhanh, nhất là trong điều kiện quyền kinh doanh xuất khẩu đã được mở ra cho hàng chục nghìn doanh nghiệp. Mọi văn bản về quản lý Nhà Nước chỉ nên có hiệu lực thi hành sau khi đã được đăng trên công báo. Hiện nay tuy Luật đã quy định về vấn đề này nhưng chỉ quy định chung là “phải đăng”. Theo Bộ Thương mại, cần đặt vấn đề theo hướng “chỉ có hiệu lực khi đã đăng” mới đảm bảo cho các quy định đến được với doanh nghiệp một cách kịp thời. Ngoài ra, cần gấp rút ban hành các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh những mảng trống trong kinh doanh xuất khẩu để các doanh nghiệp không bị trở ngại trong kinh doanh do các cơ quan hữu trách thiếu cơ sở pháp lý để nhận định hành vi của họ. * Hoàn thiện cơ chế quản lý xuất khẩu. Gần đây, trong quá trình cải cách hành chính, một số thủ tục cấp giấy phép trong lĩnh vực quản lý xuất khẩu đã được đơn giản hoá hoặc được bải bỏ. Tuy nhiên, có nhiều ý kiến vẫn đề nghị phải đi xa hơn, bãi bỏ gần như hoàn toàn mọi thủ tục giấy phép, mọi biện pháp quản lý hạn ngạch, đầu mối…để “tạo thông thoáng cho hoạt động xuất khẩu” và phù hợp với “xu thế tự do hoá thương mại toàn cầu”. Không một nước nào cho phép tiến hành thương mại tự do theo nghĩa tuyệt đối. Kinh tế thị trường không có ý nghĩa là loại bỏ sự quản lý của Nhà Nước, chỉ có điều sự quản lý đó được thực hiện bằng các công cụ kinh tế vĩ mô chứ không phải bằng các biện pháp hành chính. Tuy nhiên, trong một số lĩnh vực, chỉ có thể sử dụng biện pháp hành chính để đạt tới sự hài hoà quyền lợi giữa cá nhân và cộng đồng. Việc bãi bỏ các hàng rào thuế và phi quan thuế là một trong những giải pháp lớn để khuyến khích phát triển xuất khẩu. Tuy nhiên, việc bãi bỏ phải tuân thủ một số nguyên tắc và trình tự thời gian nhất định, không thể là một hành động tuỳ tiện khi điều kiện còn chưa cho phép. Nếu việc duy trì chế độ giấp phép, thậm chí chế độ đầu mối, để đảm bảo các mục tiêu vĩ mô là việc cần thiết thì vẫn phải duy trì, không hy sinh các biện pháp quản lý đó vì lý do cải cách hành chính. * ổn định môi trường pháp lý. Đây là việc hết sức cần thiết để tạo tâm lý cần thiết cho doanh nghiệp, khiến họ chấp nhận bỏ vốn đầu tư lâu dài. Ngoài ra, với hàng chục nghìn doanh nghiệp tham gia kinh doanh xuất khẩu nếu không ổn định môi trường pháp lý thì sẽ không có cách nào phổ biến thông tin kịp thời tới các doanh nghiệp. Điển hình của sự bất ổn định trong chính sách là thuế xuất nhập khẩu. Khung thuế rộng, quyền hạn thay đổi lại lớn nên thuế suất thay đổi thường luôn nhiều khi 3 tháng một lần. Ngoài ra, các doanh nghiệp còn gặp phải các lệnh cấm có hiệu lực ngay lập tức, các lệnh ngừng tạm thời và vô thời hạn, các thay đổi chính sách có hiệu lực hồi tố gây rất nhiều thắc mắc…để phát triển được ngoại thương, tạo dựng được các doanh nghiệp lớn, cần hết sức chú ý khắc phục tình trạng này. Một trong các biện pháp nâng cao tính ổn định là đưa các vấn đề có tấm quan trọng quốc gia như danh mục hàng cấm, danh mục hàng quản lý số lượng, thuế suất cụ thể của thuế nhập khẩu…về thuộc thẩm quyền giải quyết của Quốc Hội, không thể thuộc thẩm quyền của cơ quan như hiện nay. Nếu vẫn để thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính thì phải có Luật quy định các điều kiện cần và đủ để thực thi quyền này, tránh tình trạng tuỳ tiện. * Đơn giản hoá chế độ hoàn thuế, đặc biệt là hoàn thuế nhập khẩu vật tư phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu và hoàn thuế VAT. * Nhanh chóng ban hành các chú giải biểu thuế để tránh tình trạng tranh chấp trong việc áp mã tính thuế. Do biểu thuế nhập khẩu chưa có chú giải đầy đủ nên việc áp dụng mã thuế hay dẫn đến tranh chấp giữa doanh nghiệp và cơ quan hải quan. Tình hình có thể được cải thiện bằng cách ban hành các quy định về áp dụng đầy đủ công ước HS tại Việt Nam. Việc này đã được Thủ tướng Chính phủ giao Tổng cục Hải quan chuẩn bị nhưng hiện nay đang gặp vướng mắc do trùng lặp với một chương trình khác là tuân thủ cam kết trong các nước ASEAN về biểu mã AHTN. Đề nghị Văn phòng Chính phủ sớm chủ trì họp các cơ quan chức năng để giải quyết. Theo Bộ Thương mại, biểu AHTN đã được xây dựng theo HS2K nên có thể gộp Nghị định thực hiện HS và Quyết định thực hiện AHTN vào một văn bản pháp quy để tránh mâu thuẫn và chồng chéo. Ngoài ra, do AHTN đã hoàn toàn tuân thủ HS2K nên có thể áp dụng biểu này cho toàn bộ hàng hoá nhập khẩu từ tất cả các nước để tạo thuận lợi cho quản lý và kinh doanh. * Hội nhập quốc tế. + Xây dựng một lộ trình hợp lý, phù hợp với điều kiện của Việt Nam và với cam kết quốc tế về giảm quan thuế, thuế hoá đi đôi với việc xoá bỏ hàng rào phi quan thuế, áp dụng chế độ đãi ngộ quốc gia, lịch trình bảo hộ…công bố công khai để các ngành có hướng xắp xếp sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh. + Trước mắt xây dựng lộ trình tổng thể tham gia AFTA, đi đôi với việc tích cực, chủ động xây dựng lộ trình đàm phán với WTO. Thể theo các lộ trình đó, có chương trình điều chỉnh, sửa đổi, xây dựng các văn bản pháp quy tương ứng. 2. Kiến nghị đối với doanh nghiệp FDI: 2.1.Khai thác triệt để công nghệ để sản xuất hàng hóa có chất lượng cao và có khả năng cạnh tranh cao trên thương trường quốc. So với các doanh nghiệp trong nước, đây là ưu thế rõ nét của các doanh nghiệp FDI, những ưu thế về vốn đầu tư, về công nghệ tiên tiến là điều kiện hết sức quan trọng để tăng tính cạnh tranh của hàng hoá trên thương trường quốc tế, chính vì vậy đây là một thế mạnh của các DN FDI cần được phát huy. Cụ thể như các DN FDI trong lĩnh vực sản xuất như: sản xuất giày dép, sản xuất túi sách, ba lô, sản xuất đồ chơi, kim hoàn đá quý, may thêu... đều có trang thiết bị tổ chức sản xuất tốt, sản phẩm có chất lượng cao, có thị trường nước ngoài, nhất là vào thị trường Mỹ. Các DN FDI hầu hết là các công ty tầm cỡ, có năng lực, uy tín trên thị trường thế giới hoặc chính quốc gia và có thực tâm hợp tác làm ăn với Việt Nam. Đó là các doanh nghiệp có công nghệ có kỹ thuật, tổ chức quản lý tốt, sản xuất ổn định, có thị trường đảm bảo và có chiều hướng phát triển. Đơn cử như các doanh nghiệp FDI chế biến tinh thực phẩm đến sản phẩm cuối cùng như: chế biến nông sản, trồng và chế biến thuốc lá, nước hoa quả... đều là các doanh nghiệp có sản phẩm xuất khẩu chế biến tinh, tạo ra giá trị tăng gấp 3-5 lần giá trị sản phẩm xuất khẩu thô, mặt khác các doanh nghiệp này sử dụng có hiệu quả nguồn nguyên liệu sẵn có ở Việt Nam. Đây chính là mặt mạnh của các DN FDI tại Việt Nam. Nên tính tới việc thành lập Ngân Hàng Dữ liệu Công nghệ Quốc Gia để cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp; tạo lập thị trường công nghệ để các sản phẩm khoa học- công nghệ được trả giá đúng mức và lưu thông bình thường như một loại hàng hoá đặc biệt; khuyến khích việc ký hợp đồng giữa các doanh nghiệp với các cơ sở nghiên cứu khoa học; thi hành nghiêm túc các quy định của luật pháp về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp; áp dụng chế độ đăng ký và kiểm tra chất lượng bắt buộc đối với một số mặt hàng xuất khẩu để thúc đẩy các doanh nghiệp quan tâm hơn nữa đến vấn đề công nghệ đặc biệt là công nghệ sạch. 2.2. Các DN FDI phải đưa ra được các mục tiêu: + Chất lượng hàng hoá; + Giao hàng đúng hẹn; + Giá thành sản phẩm thấp; + Luôn coi khách hàng là thượng đế... DN FDI cần có kế hoạch đầu tư thoả đáng không chỉ nhằm gia tăng sản lượng mà cần chú trọng vào việc nâng cao năng suất, chất lượng và đặc biệt là hạ giá thành sản phẩm (cả dịch vụ) xuất khẩu nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường và mở rộng thì trường xuất khẩu. Các doanh nghiệp có trách nhiệm tổ chức tiếp cận và phân tích, khai thác các thông tin, trực tiếp và thường xuyên tiếp tục với thị trường thế giới thông qua hội thảo khoa học, hội chợ triển lãm, đẩy mạnh tiếp thị để kịp thời nắm bắt thị trường, bám sát và tiếp cận được tiến bộ của thế giới trong sản xuất và kinh doanh, tự mình lo tìm bạn hàng, thị trường, ký hợp đồng, tránh tư tưởng ỷ lại vào các cơ quan quản lý Nhà Nước hoặc trông chờ trợ cấp, trợ giá. Chủ động tạo lập nguồn vốn, cải tiến chất lượng và mẫu mã sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh hàng hoá trên thị trường. 2.3. Sử dụng hiệu quả mạng lưới và kênh tiêu thụ của các DN FDI để thâm nhập thị trường. DN FDI tại Việt Nam có ưu thế về thị trường và có nhiều kinh nghiệm về quản lý, tổ chức điều hành hoạt động xuất khẩu, thâm nhập thị trường hơn các doanh nghiệp trong nước. Do vậy, cần phát huy những ưu điểm này để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá ra nước ngoài. Các DN FDI thường có các chi nhánh ở nước ngoài, vì vậy đây là đầu cầu để tăng cường giao lưu trao đổi thông tin và ký kết hợp đồng một cách thuận tiện hơn rất nhiều so với các doanh nghiệp trong nước. Khi phát huy được những lợi thế vốn có này sẽ góp phần đẩy mạnh xuất khẩu trong tương lai. Các giám đốc của phần lớn các DN FDI đều đã hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp tại nhiều thị trường kinh doanh lớn nên họ rất có khả năng, kinh nghiệm trong quá trình tổ chức và điều hành sản xuất. Mặt khác, Việt Nam vốn là một nước thiên nhiên ưu đãi, có vị trí địa lý thuận lợi, có tiềm lực về nguồn nhân lực và đang có chính sách khuyến khích sản xuất hướng về xuất khẩu, đó chính là các cơ hội để các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam tranh thủ, vận dụng vào việc sản xuất hàng xuất khẩu. Những chính sách của Đảng và Nhà nước ta bao gồm nhiều biện pháp, nhiều chính sách ưu tiên cho lĩnh vực xuất khẩu, nhiều mặt hàng được thực hiện với mức thuế suất bằng 0 (không đánh thuế vào hàng hoá xuất khẩu), ngoài ra còn có chính sách thưởng xuất khẩu, Nhà nước một khoản kinh phí để thưởng cho những doanh nghiệp đạt kim ngạch xuất khẩu cao, có mặt hàng mới xuất khẩu hoặc tìm ra thị trường mới cho hàng xuất khẩu. Để đẩy mạnh xuất khâu hàng hoá ra thị trường nước ngoài đòi hỏi các DN FDI tại Việt Nam cần quan tâm đúng mức tới yếu tố con người trong các khâu từ sản xuất đến khâu xuất khẩu hàng hoá, quan tâm đến lĩnh vực đào tạo tay nghề, quan tâm hơn nữa đến thu nhập, lương cũng như các chế độ chính sách liên quan tới sức khoẻ của người lao động. Có như vậy mới phát huy được yếu tố con người trong chiến lược phát triển xuất khẩu hàng hóa trong những năm tới. Để tăng cường hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như hoạt động xuất khẩu hàng hoá của các DN FDI thì không chỉ đón nhận những ý tưởng kinh doanh mới mà còn phải chú ý đến vấn đề xoá bỏ biệt cách về văn hoá cũng như coi trọng chính sách về môi trường và cộng đồng. Để tăng trưởng được trong tình thế khó khăn như hiện nay đòi hỏi các DN FDI phải đưa ra được những sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế đồng thời thiết lập một hệ thống phân phối rộng khắp. Các sản phẩm xuất khẩu của các DN FDI ngày càng phải đáp ứng được những yêu cầu đa dạng của các thị trường, đặc biệt là các yêu cầu về chất lượng và mẫu mã của hàng hoá. Mỗi loại hàng hoá phải hình thành được các thị trường chính, chủ lực và tập trung khả năng mở rộng các thị trường này đồng thời chủ động mở rộng sang các thị trường khác theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá các mối quan hệ buôn bán và nếu cần có thể thông qua các thị trường trung gian. Cần tận dụng mọi khả năng để duy trì tỷ trọng xuất khẩu hợp lý vào các thị trường đã có ở Châu á, đặc biệt là thị trường Nhật Bản; đẩy mạnh hơn nữa hoạt động xuất khẩu vào các thị trường có sức mua lớn như Mỹ, Tây Âu... đồng thời thâm nhập vào một số thị trường mới như khu vực Châu Mỹ, Châu Phi... Hiện nay, vai trò và khả năng của các ngành dịch vụ xuất khẩu, dịch vụ thu ngoại tệ chưa được đánh giá đầy đủ. Đây chính là tiềm năng xuất khẩu mà các DN FDI cần phải đẩy mạnh trong những năm tới, trong đó chú trọng các lĩnh vực xuất khẩu lao động, bưu chính viễn thông, dịch vụ tài chính- ngân hàng- bảo hiểm, dịch vụ vận chuyển hàng hoá đường không, đường biển, đường sắt... quan tâm hơn nữa đến khoa học công nghệ trong thương mại như hệ thống E-COMMERCE, cần quan tâm đầu tư để phát triển du lịch nhanh chóng và đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Kết luận Hoạt động xuất khẩu hàng hoá đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với một nền kinh tế thực hiện chiến lược kinh tế mở. Thông qua hoạt động xuất khẩu hàng hoá giúp cho nền kinh tế đất nước phát triển mạnh, góp phần đưa nền kinh tế quốc gia hội nhập vào nền kinh tế khu vực và trên thế giới phù hợp với xu thế toàn cầu hoá ngày nay. Xuất khẩu hàng hoá đang là đầu ra quan trọng cho nhiều ngành kinh tế, góp phần quan trọng vào công cuộc công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước, là hướng đi đúng đắn và là mục tiêu hàng đầu của một nền kinh tế mở. Đảng và Nhà nước ta đã quán triệt được chủ trương này và đưa ra rất nhiều chính sách, biện pháp để dành ưu tiên cao nhất cho xuất khẩu, từ đó, kích thích tạo ra nhiều nguồn hàng xuất khẩu có chất lượng cao, có sức cạnh tranh cao cho các doanh nghiệp trong nước cũng như các doanh nghiệp FDI, nhanh chóng rút ngắn khoảng cách phát triển kinh tế giữa nước ta và các nước trong khu vực cũng như trên thế giới. Qua hơn 10 năm thực hiện Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam chúng ta đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ, thu hút được một nguồn vốn đáng kể từ bên ngoài để góp phần xây dựng và phát triển kinh tế. Các DN FDI đã có những ưu thế vượt trội hơn so với các doanh nghiệp trong nước trong lĩnh vực xuất khẩu. Trong những năm qua các ưu thế đó đã tạo lập nên vị trí và vai trò quan trọng của các DN FDI trong lĩnh vực xuất khẩu của Việt Nam. Với những lợi thế sẵn có của mình cộng với sự giúp đỡ khuyến khích của Đảng và Nhà nước, chắc chắn hoạt động xuất khẩu của các DN FDI tại Việt Nam sẽ ngày càng phát triển mạnh và đạt hiệu quả cao. Với những tiềm năng sẵn có của đất nước, với các thế mạnh của DN FDI và những chủ trương chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, chúng ta hy vọng hoạt động xuất khẩu của các DN FDI tại Việt Nam sẽ đạt được những kết quả lớn hơn trong những năm tới, đóng góp tích cực vào công cuộc công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước ta trong thế kỷ 21. Mục lục ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docA0450.doc