Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành cơ khí Việt Nam

LỜI MỞ ĐẦU Trong giai đoạn hiện nay, khi Việt Nam gia nhập WTO thì cơ khí càng ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Công nghiệp cơ khí không chỉ cung cấp các sản phẩm tiêu dùng mà còn cung cấp các thiết bị máy móc cho nhiều ngành sản xuất khác. Đặc biệt, trong điều kiện khi đất nước tiến hành công nghiệp hóa-hiện đại hóa thì công nghiệp cơ khí càng có vai trò quan trọng hơn bao giờ hết. Ngay từ khi mới ra đời, ngành công nghiệp cơ khí ở nước ta đã được Đảng và nh

doc33 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1358 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành cơ khí Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
à nước xác định là ngành có vai trò then chốt và luôn được ưu tiên phát triển. Tuy nhiên, từ khi bước sang cơ chế thị trường, ngành cơ khí Việt Nam đã bộc lộ nhiều mặt yếu, nhất là về vấn đề khả năng cạnh tranh. Do vậy, các doanh nghiệp trong ngành đã không đủ năng lực cạnh tranh với thị trường nước ngoài. Vì vậy, để ngành cơ khí có thể tồn tại và phát triển để đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước không còn cách nào khác là phải nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp cơ khí không chỉ ở trong nước mà còn trên trường quốc tế. Do tầm quan trọng và những đóng góp to lớn của ngành cơ khí, đặc biệt là trong giai đoạn hội nhập như hiện nay nên em đã chọn đề tài: “ Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành cơ khí Việt Nam”. Kết cấu của đề án gồm 3 phần: Phần I: Tồng quan về vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành cơ khí Việt Nam trong cơ chế thị trường. Phần II: Thực trạng về năng lực cạnh tranh của ngành cơ khí Việt Nam hiện nay. Phần III: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành cơ khí Việt Nam. Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Th.s Nguyễn Ngọc Điệp đã giúp em hoàn thành đề án này. PHẦN I TỔNG QUAN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH CƠ KHÍ TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp. Thị trường là gì? Theo giáo trình Marketing: “Thị trường là nơi kết hợp giữa cung và cầu, trong đó người mua và người bán cùng bình đẳng, cùng cạnh tranh với nhau”. Việc xác định bên mua hay bên bán hàng hóa và dịch vụ với số lượng và giá cả bao nhiêu do cung cầu xác định”. Thị trường gắn liền với quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa, nó ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của sản xuất lưu thông hàng hóa. Thị trường hoạt động dựa trên các quy luật sau: - Quy luật giá trị - Quy luật cung cầu - Quy luật lưu thông tiển tệ - Quy luật cạnh tranh 1.2. Cạnh tranh trong cơ chế thị trường. 1.2.1. Cạnh tranh là gì? “Cạnh tranh” có nguồn gốc từ tiếng La tinh với nghĩa là sự đấu tranh, ganh đua, thi đua giữa các đối tượng cùng phẩm chất, cùng loại, đồng giá trị nhằm đạt được những ưu thế. lợi ích, mục tiêu. Theo kinh tế học: “ Cạnh tranh là sự tranh giành thị trường để tiêu thụ sản phẩm giữa các doanh nghiệp”. 1.2.2. Các loại hình cạnh tranh. 1.2.2.1. Phân loai dựa vào chủ thể tham gia thị trường. - Cạnh tranh giữa người bán và người mua - Cạnh tranh giữa người mua với nhau - Cạnh tranh giữa người bán với nhau 1.2.2.2. Phân loại dựa vào mức độ, tính chất của cạnh tranh trên thị trường. - Cạnh tranh hoàn hảo: là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường có rất nhiều người mua và người bán và không có người nào có ưu thế để có thể ảnh hưởng đến giá cả thị trương. - Cạnh tranh không hoàn hảo: Có ít nhất một người bán lớn đến mức có thể ảnh hưởng đến giá cả trên thị trường. - Cạnh tranh độc quyền: là loại hình cạnh tranh mà trên thị trường chỉ có một số người bán một sản phẩm thuần nhất hoặc nhiều người bán một loại sản phẩm không đồng nhất. 1.2.2.3. Phân loại dựa vào phạm vi ngành kinh tế. - Cạnh tranh trong nội bộ ngành: là cuộc cạnh tranh giữa các nhà doanh nghiệp trong cùng một ngành. - Cạnh tranh giữa các ngành: Là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hay đồng minh giữa các nhà doanh nghiệp trong các ngành kinh tế với nhau nhằm giành lợi nhuận cao nhất. 1.3. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. 1.3.1. Năng lực cạnh tranh là gì? Khả năng cạnh tranh là năng lực, khả năng về mọi mặt hoạt động của doanh nghiệp: hoạt động sản xuất, hoạt động quản trị cũng như khâu tiêu thụ … nhằm sản xuất ra được những sản phẩm hàng hóa và dịch vụ có chất lượng cao với chi phí thấp, được thị trường chấp nhận nhờ đó tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, không ngừng duy trì và mở rộng thị phần, xác lập cho doanh nghiệp một chỗ đứng vững trên thị trường. 1.3.2. Các chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh. 1.3.2.1. Các chỉ tiêu định lượng. - Thị phần của doanh nghiệp: Đây là một chỉ tiêu thường được sử dụng để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này được đo bằng tỷ lệ phần trăm doanh số của công ty so với doanh số của toàn ngành. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh cao và ngược lại. - Doanh thu: Dựa vào doanh thu có thể đánh giá được khả năng tiêu thụ của doanh nghiệp là tốt hay không tốt. - Tỷ suất lợi nhuận: Là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và cũng thể hiện tính hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Quy mô về vốn: Một doanh nghiệp có tổng vốn kinh doanh lớn sẽ có khả năng cạnh tranh cao hơn do có điều kiện mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ. - Năng suất lao động: Được đo bằng giá trị sản lượng / một công nhân. Năng suất lao động càng cao càng phản ánh doanh nghiệp có khả năng giảm chi phí, hạ giá thành, do đó có khả năng cạnh tranh càng cao trên thị trường. - Giá thành sản xuất: Phản ánh khả năng cạnh tranh về giá của doanh nghiệp. Giá thành sản xuất càng thấp, giá bán càng giảm, do đó sẽ tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp. 1.3.2.2. Các chỉ tiêu định tính. - An toàn trong kinh doanh: Chỉ tiêu chủ yếu về an toàn trong kinh doanh là đa dạng hóa đầu tư và sản phẩm với kết quả cuối cùng là bảo đảm và phát triển nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Chi tiêu này càng cao phản ánh khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp càng cao và ngược lại. - Vị thế doanh nghiệp trên thị trường: Các doanh nghiệp phải xây dựng nhãn hiệu riêng của mình de người tiêu dùng có thể nhan biệt được chất lượng, phương thức phục vụ của sản phẩm. 2. Sản phẩm công nghiệp và thị trường sản phẩm công nghiệp. 2.1. Sản phẩm công nghiệp. Theo quan niệm truyền thống, sản phẩm công nghiệp là tổng hợp các dạng đặc trưng vật ly, hóa học có thể quan sát và được tâp hợp trong một hình thức đồng nhất là vật mang giá trị sử dụng. Theo quan điểm kinh tế hàng hóa, sản phẩm công nghiệp chứa đựng các thuộc tính hàng hóa. Nó không chỉ là sự tổng hợp các đặc trưng lý hóa và đặc trưng giá trị sử dụng, mà còn là vật mang giá trị trao đổi hay giá trị. Theo quan điểm Marketing, sản phẩm công nghiệp là một tập hợp đặc trưng vật chất và đặc trưng phi vật chất nhằm thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng trên thị trường. 2.2. Thị trường sản phẩm công nghiệp. Dựa vào mối quan hệ giữa doanh nghiệp công nghiệp với các rhị trường, người ta chia ra thị trường sản phẩm công nghiệp với thị trường các yếu tố sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong thực tế, việc phân định thị trường sản phẩm công nghiệp và thị trường các yếu tố sản xuất chỉ mang tính tương đối. Nếu xem xét theo sự can thiệp của nguời bán đối với giá cả thị trường, thị trường sản phẩm công nghiệp được chia thành thị trường cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh có tính độc quyền, độc quyền nhóm và độc quyền. Vì công nghiệp có tính điển hình cao, nên đặc điểm thị trường sản phẩm công nghiệp về cơ bản tương tự những đặc điểm của thị trường hàng hóa nói chung. Tuy nhiên, so với các thị trường hàng hóa cụ thể khác, thị trường sản phẩm công nghiệp cũng có một số nét khác biệt. 3. Những nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp. 3.1. Nhóm nhân tố thuộc môi trường vĩ mô. Đây là nhóm nhân tô có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nhóm nhân tố này bao gồm các nhân tố sau: - Các nhân tố về mặt kinh tế. - Các nhân tố về chính trị, luật pháp. - Các nhân tố về khoa học-công nghệ. - Các yếu tố về văn hóa-xã hội. - Các yếu tố tự nhiên. 3.2. Nhóm nhân tố thuộc môi trường ngành. Môi trường ngành là môi trường phức tạp nhất và ảnh hưởng nhiều nhất đến cạnh tranh. Sự thay đổi thường diễn ra thường xuyên khó dự báo được và phụ thuộc vào các lực lượng sau đây: - Sức ép của đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành: Khi đối thủ cạnh tranh đông hoặc có nhiều đối thủ thống lĩnh thị trưòng thì cạnh tranh sẽ ngày càng gay gắt hơn. - Sự đe dọa của các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn sẽ gia nhập thị trường. - Sức ép của nhà cung ứng: Thông qua sức ép về giá nguyên vật liệu. - Sức ép của khách hàng: Vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp còn bị đe dọa bởi chính năng lực, trình độ nhận thức, khả năng của nguời tiêu dùng. - Sự xuất hiện các sản phẩm thay thế: Khi trên thị trường xuất hiện thêm sản phẩm mà doanh nghiệp đang sản xuất tất yếu sẽ giảm khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường. 3.3. Nhân tố bên trong doanh nghiệp. 3.3.1. Nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực có vai trò quan trọng nhất trong mọi hoạt động của doanh nghiệp. Nguồn nhân lực bao gồm: - Quản trị viên cấp cao: Gồm ban giám đốc và các trưởng phòng phó ban. Đây là đội ngũ có ảnh hưởng quyết định đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Quản trị viên cấp trung gian: Đây là đội ngũ quản lý trực tiếp phân xưởng sản xuất đòi hỏi phải có kinh nghiệm và khả năng hợp tác, ảnh hưởng tới tốc độ sản xuât và chất lượng sản phẩm. - Đội ngũ quản trị viên cấp cơ sở và cán bộ công nhân viên trực tiếp sản xuất sản phẩm: Đội ngũ ảnh hưỏng trực tíêp đến chất lượng sản phẩm. 3.3.2. Nguồn lực vật chất. Máy móc, thiết bị và công nghệ ảnh hưởng rất lớn đến năng lực của doanh nghiệp, nó là nhân tố quan trọng nhất thể hiện năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiêp. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến sản phẩm, chất lượng của sản phẩm và giá thành của sản phẩm. Do vậy, khả năng cạnh tranh sẽ tốt hơn. 3.3.3. Nguồn lực tài chính. Khả năng tài chính của doanh nghiệp quyết định tới việc thực hiện hay không thực hiện bất cứ một hoạt động đầu tư, mua sắm hay phân phố của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có tiềm lực về tài chính sẽ có điều kiện để đổi mới công nghệ, đầu tư trang thiết bị, đảm bảo nâng cao chất lượng, hạ giá thành. Như vậy, doanh nghiệp sẽ duy trì và nâng cao sức cạnh tranh, củng cố vị trí của mình trên thị trường. 4. Một số vấn đề liên quan đến hoạt động quản trị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp. 4.1. Đối với lĩnh vực sản xuất. Sản xuất là việc sử dụng con người lao động để tác động lên các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất để làm ra các sản phẩm hay dịch vụ phù hợp với nhu cầu thị trường. Lĩnh vực này gồm các nhiệm vụ cụ thể sau: - Hoạch định chương trình - Xây dựng kế hoạch sản xuất - Điều khiển quá trình sản xuất - Kiểm tra chất lượng Lĩnh vực sản xuất có vai trò rất quan trọng. Tổ chức sản xuất hợp lý sẽ góp phần to lớn vào việc sử dụng có hiệu quả nguyên vật liệu, thiết bị, mày móc và sức lao động trong quá trình sản xuất. Từ đó, có thể sản xuất được những sản phẩm có chất lượng cao, phù hợp với nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất. 4.2. Đối với lĩnh vực Marketing. Nhiệm vụ chung của quản trị Marketing là: nghiên cứu khách hang và thị trưòng để trên cơ sở đó đề ra các chiến lược về thị trường, về sản phẩm, tiêu thụ … Cụ thể bao gồm những nội dung sau: - Nghiên cứu các thông tin về thị trường - Hoạch định chính sách sản phẩm - Hoạch định chính sách giá cả - Hoạch định chính sách phân phối - Chính sách hỗ trợ tiêu thụ 4.3. Đối với lĩnh vực nhân sự. Quản trị nhân sự là một tập hợp các biện pháp của chủ thể quản trị tác đông lên đối tượng bị quản trị nhằm thực hiện tốt nhất những nhiệm vụ sản xuất-kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời phải chú ý thỏa đáng đến lợi ích của người lao động cũng như đến sự phát triển mọi mặt của người lao động. Nội dung của hoạt động quản trị nhân sự gồm: - Tuyển dụng nguồn nhân sự - Sử dụng nguồn nhân lực - Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 4.4. Đối với lĩnh vực tài chính. Quản trị tài chính là việc lập kế hoạch, điều khiển và kiểm tra các dòng lưu thông của các phương tiện tài chính của doanh nghiệp. Nội dung của quản trị tài chính gồm: - Huy động vốn - Sử dụng vốn - Quản lý vốn Mục đích của quản trị tài chinh là nhằm sử dụng vốn một cách có hiệu quả để thu lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp, bảo đảm khả năng thanh toán cho doanh nghiệp, bảo toàn và phát triển vốn, bảo đảm an toàn tài chính… PHẦN II THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH CƠ KHÍ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Đặc điểm của ngành cơ khí Việt Nam. Quá trình hình thành và phát triển ngành cơ khí ở Việt Nam. Ngành công nghiệp cơ khí ở nước ta có một lịch sử phát triển trên 50 năm và luôn được Đảng và nhà nước ta xác định là một ngành công nghiệp then chốt. Năm 1970, giá trị sản lượng cơ khí chiếm 12% giá trị sản lượng của toàn ngành công nghiệp. Từ sau năm 1985, ngành công nghiệp cơ khí chịu ảnh hưởng bởi chính sách đổi mới kinh tế. Các dòng hàng hóa và thương mại đã thay đổi và phương thức trợ cấp trực tiếp trước đây từ nhà nước cho ngành cơ khí đã giảm. Kết quả là, nhiều doanh nghiệp cấp huyện, cấp tỉnh bị tan rã hoặc hợp nhất hoặc giao lại cho trung ương quản lý. Số lượng các doanh nghiệp cơ khí quốc doanh giảm từ 610 doanh nghiệp năm 1985 còn 463 doanh nghiệp năm 1996. Theo số liệu của Tổng cục thống kê gần đây, cả nước có khoảng 53.000 cơ sở sản xuất cơ khí. Trong đó, có 50% là các cơ sở cơ khí chế tạo, lắp ráp, còn lại là các cơ sở sửa chữa. Có 450 doanh nghiệp quốc doanh, 1.250 cơ sở sản xuất tập thể và 156 xí nghiệp tư doanh, còn lại là cơ sở cá thể nhỏ lẻ. Tổng số vốn của ngành CK quốc doanh vào khoảng 360-380 triệu USD, tổng vốn đăng ký đầu tư nước ngoài (FDI) vào ngành cơ khí vào khoảng 2,1 tỷ USD, trong đó hơn 50% tập trung vào lĩnh vực lắp ráp ô tô, xe máy và các mặt hàng tiêu dùng khác. Khoảng 224000 lao động đang làm việc trong ngành cơ khí, trong đó có khoảng 10000 người có trình độ đại học và trên đại học. Các đặc điểm của ngành cơ khí Việt Nam. Đặc điểm về tổ chức ngành. Hiện tại về mô hình tổ chức và lực lượng sản xuất ngành cơ khí Việt Nam được tập hợp và phân quyền theo quản lý chủ yếu trong 3 khu vực: - Cơ khí quốc doanh: Theo quyết định số 90 và 91 của Thủ tướng chính phủ vào năm 1990 gồm có: 01 Tổng công ty 91 và 07 Tổng công ty 90 của các Bộ kinh tế và quốc phòng, hàng trăm công ty cơ khí thuộc các ngành than, điện, hóa chất, nông-lâm-ngư nghiệp… và các công ty, các nhà máy thuộc các cơ sở của thành phố và tỉnh. - Cơ khí ngoài quốc doanh: Với quy mô vừa và nhỏ đang phát triển khá nhanh tại các thành phố lớn và một số tỉnh, song nhìn chung do vẫn chưa có tiềm lực tài chính mạnh và công nghệ cao nên chủ yếu làm phụ tùng, dịch vụ sửa chữa. Số doanh nghiệp tư nhân đầu tư công nghệ mới tiên tiến chưa xuất hiện nhiều. - Cơ khí có vốn đầu tư nước ngoài: Có quy mô và sản lượng lớn chiếm lĩnh một số ngành hàng công nghiệp trong nước, chủ yếu trong lĩnh vực lắp ráp ô tô, xe máy. Đặc điểm về sản phẩm. Theo quyết định số 186/2002/GĐ-TTg của Chính phủ thì mục tiêu Chuơng trình cơ khí trọng đỉêm đến năm 2010 và tầm nhìn tới năm 2020 là tập trung vào 8 nhóm chuyên ngành cơ khí lớn như: máy động lực, máy kéo và máy nông nghiệp, máy công cụ, thiết bị toàn bộ, cơ khí xây dựng, cơ khí tàu thủy, cơ khí ô tô và cơ khí giao thông vận tải, thiết bị điện… Ngành cơ khí Việt Nam sản xuất và cung cấp một phạm vi sản phẩm khá rộng nhưng hầu hết các sản phẩm này chất lượng chưa cao, chưa có khả năng cạnh tranh ở thị trường trong nước và trên thị trường quốc tế. Đặc điểm về thị trường. Ngành cơ khí có một thị trưòng sản phẩm rộng lớn, đa dang. Bao gồm: thị trường máy móc-thiết bị phục vụ cho sản xuất công nghiệp và giao thông vận tải, thị trường máy móc-thiết bị phục vụ sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp, thị trường máy móc-thiết bị phục vụ xây dựng, thị trường máy móc-thiết bị phục vụ tiêu dùng… Theo Thứ trưởng Bộ Công nghiệp Đô Hữu Hào, hiện nay, ngành cơ khí Việt Nam đã đảm bào được 35% nhu cầu thị trường từ đóng tàu, sản xuất, lắp ráp ô tô đến sản xuất máy công cụ, thiết bị giao thông… Thứ trưởng nhấn mạnh: “Nếu có chinh sách, tạo cú húc ban đầu thì ngành cơ khí còn phát triển mạnh hơn nữa”. Thực tế cho thấy, thị trường cơ khí ở nước ta còn rất nhiều tiềm năng. Mỗi năm, chúng ta nhập khẩu khoảng 7-8 tỷ USD thiết bị cơ khí. Do đó, khi ngành cơ khí trong nước phát triển, sẽ tạo được doanh thu lớn và giành được thị phần màu mỡ này. Được biết, ngành cơ khí đang có mức tăng trưởng đột biến, bình quân 40,7%/năm. Dự đoán trong vòng 3 năm nữa, ngành này có thể đáp ứng tối thiểu 45-50% nhu cầu trong nước. Tuy nhiên, các chuyên gia và doanh nghiệp cơ khí cho rằng, hiện nay sản phẩm CK mới chỉ ở mức “bằng bằng”, chưa chiếm được thị phần trong nước, xuất khẩu còn thấp. Nếu không có những chính sách kịp thời, tương lai Việt Nam sẽ trở thành “đại công trường” gia công cơ khí cho các nước. Đặc điểm về công nghệ. Theo Bộ Khoa học-Công nghệ và môi trường, trình độ công nghệ của ngành cơ khí Việt Nam chỉ tương đương với thòi kỳ cách đây 30-50 năm của các nước trung bình trên thế giới , lạc hậu hơn các nước tiên tiến từ 50-100 năm. Cơ khí tuy là ngành công nghiệp quan trọng, nhưng vốn đầu tư cho ngành tăng không đáng kể, các thiết bị được đầu tư từ thời bao cấp. Phần lớn là các thiết bị nhỏ lẻ, không đồng bộ và đã hết khấu hao. Trong khi đó các doanh nghiệp lại rất khó khăn về vốn đầu tư đổi mới thiết bị và công nghệ. Đặc điểm về nguồn lực. Ngành cơ khí có một lực lượng lao động khá lớn. Theo số liệu thống kê của tổng cục thống kê, chưa kể khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, hiện nay có khoảng 224000 lao động đang làm việc trong ngành cơ khí, trong đó có khoảng 10000 người có trình đôj trên đại học. Tuy nhiên, nhìn chung chất lượng nguồn nhân lực ngành cơ khí không cao. Phần lớn đội ngũ công nhân cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý chưa được trang bị các kiến thức mới để đáp ứng đòi hỏi của nền sản xuất cơ khí có công nghệ cao trong cơ chế thị trường.Mặt khác, ngành cơ khí còn thiếu lực lượng nghiên cứu phát triển, từ lực lượng tư vấn, thiết kế công nghệ và thiết kế chế tạo, đến các chuyên gia đầu ngành. Nguồn vốn cho đầu tư phát triển thiếu, chưa có chiến lược thị trường, sản phẩm, trình độ quản lý doanh nghiệp thấp. Quản lý thị trường yếu kém để hàng cơ khí chất lượng thấp, giá rẻ tràn vào thị trường trong nước, gây nên tình trạng cạnh tranh không lành mạnh cho các doanh nghiệp làm sản phẩm CK chính xác. Đặc điểm về vốn. Theo số liệu thống kê của tổng cục thống kê, hiện nay cả nước có gần 500 doanh nghiệp cơ khí quốc doanh, tuy nhiên bình quân vốn của mỗi doanh nghiệp rất nhỏ chưa đầy 1 triệu USD. Hơn nữa, đầu tư vốn cho ngành cơ khí trong những năm gần đây rất nhỏ, khoảng dưới 2 triệu USD, chỉ chiếm khoảng 0,6% vốn đầu tư. Đây là một khó khăn cho ngành cơ khí nhất là trong việc mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, đổi mới công nghệ. Mối quan hệ với các ngành khác. Trong khi bản chất của ngành cơ khí là chuyên môn hóa rộng, hợp tác sâu thì các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam vẫn thiếu sự hợp tác với nhau. Việc tổ chức sản xuất còn khép kín, không sử dụng hết năng lực của thiết bị máy móc hiện có. Một trong những yếu kém của ngành cơ khí là thiếu các ngành công nghiệp liên quan và công nghiệp phụ trợ. Phần lớn các loại nguyện liệu dùng để sản xuất các sản phẩm cơ khí có chất lượng đều phải nhập khẩu. Công nghiệp sản xuất thép trong nước không có khả năng đáp ứng đầu vào cho ngành cơ khí, chưa có công nghiệp luyện nhôm và đồng. Mặt khác, việc cung ứng các loại nguyên liệu khác cũng bị hạn chế và các doanh nghiệp dựa vào các nguồn nhiên liệu sẵn có trong nước đang gặp phải biến động thường xuyên do việc cưng ứng không ổn định. Thực trạng về năng lực cạnh tranh của ngành cơ khí Việt Nam. Nhận xét chung về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành cơ khí Việt Nam hiện nay. Theo số liệu của Tổng cục thống kê, hiện nay, ngành cơ khí có 1599 doanh nghiệp trong nước và gần 30000 hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp cơ khí với giá trị tài sản gần 500 triệu USD, sản xuất khoảng 7000 tỷ đồng giá trị sản lượng với hơn 500 chủng loại sản phẩm như các máy công cụ, động cơ điện, động cơ xăng… Năng lực cạnh tranh của ngành cơ khí Việt Nam được đánh giá là không cao. Khi Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, các hàng rào bảo hộ bị bãi bỏ thì ngành cơ khí sẽ gặp nhiều khó khăn. Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp cho biết, theo bảng xếp loại về khả năng cạnh tranh, chia làm 3 nhóm gồm: nhóm có khả năng cạnh tranh, nhóm có khả năng cạnh tranh có điều kiện và nhóm có khả năng cạnh tranh thấp, thì ngành cơ khí Việt Nam được xếp vào vị trí thứ 6 trong số 19 ngành hàng thuộc nhóm có khả năng cạnh tranh có điều kiện. Trong thời gian qua, ngành cơ khí cũng có nhiều khởi sắc, đạt được một số thành tựu lớn. Theo Thứ trưởng Bộ Công nghiệp Đỗ Hữu Hào, hiện nay, ngành cơ khí Việt Nam mới chỉ đáp ứng được 35% nhu cầu của thị trường. Tốc độ tăng trưởng của ngành cơ khí từ năm 1995 đến 2006 đạt trên 40,7%/năm. Hiện nay ngành cơ khí đã xuất khẩu đạt khoảng 1 tỷ USD/năm. Nhưng có lẽ do đi từ xuất phát điểm quá thấp, có giai đoạn bị thả nổi, được đầu tư quá ít nên khi bước vào hội nhập ngành cơ khí là ngành sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức nhất. 2.1.1. Thị trường trong nước. Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, nhu cầu về sản phẩm cơ khí ngày càng tăng nhanh và đa dạng đặc biệt là nhu cầu về thiết bị đồng bộ để cải tạo đầu tư chiều sâu, xây dựng các nhà máy mới và các loại hàng tiêu dùng cao cấp. Các loại hàng này chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng kinh ngạch nhập khẩu của nước ta trong thời kỳ đổi mới. Theo số liệu của các cơ quan thẩm quyền hàng năm nước ta nhập khẩu khoảng 3,5 tỷ thiết bị máy móc, phương tiện vận tải, phụ tùng… trong đó một nửa là thiết bị lẻ, dịch vụ, phụ tùng và một nửa là thiết bị toàn bộ cho các ngành công nghiệp khác nhau. Nếu coi lượng nhập khẩu này cộng với khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ trong nước là nhu cầu thực tế của thị trường thì nhu cầu hàng năm về sản phẩm cơ khí trong cả nước là vào khoảng 3,8 đến 4 tỷ USD. Đó là một nhu cầu rất lớn, là cơ hội cho các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam. Tuy nhiên, năng lực sản xuất của các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam rất yếu kém, chưa đáp ứng được nhu cầu của nên kinh tế quốc dân. Trước hết, phải thừa nhận rằng trong 10 năm đổi mới vừa qua, ngành cơ khí cũng đã có những bước phát triển: Năm 2000 giá trị tổng sản lưọng của toàn ngành cơ khí đạt trên 19115 tỷ đồng, tăng gấp gần 2,26 lần chỉ tiêu này của năm 1995, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong giai đoạn 1996-2000 là 17,7%. Tuy nhiên so với nhu cầu thì con số đó còn quá nhỏ. Năm 1996, ngành cơ khí mới chỉ đáp ứng được khoảng 8% nhu câu trong nước. Còn hiện nay, mặc dù có sự tăng trưởng đáng kể, song ngành cơ khí mới chỉ đáp ứng được khoảng 10% nhu cầu đó. Và giá trị sản lượng của toàn ngành cơ khí chỉ chiếm khoảng 9% giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành công nghiệp, trong khi đó vốn đầu tư chiếm hơn 10% và số lao động chiếm khoảng 8,4%. Thị trường sản phẩm cơ khí ở Việt Nam bị sản phẩm của các nước Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản… xâm lấn hay nói một cách khác, các đối thủ chủ yếu của Việt Nam trong ngành cơ khí là Trung Quốc, Hàn Quốc. Nhật Bản. + Về thị phần: các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam chỉ chiếm một phần nhỏ Một số sản phẩm của ngành cơ khí đang bị mất dần thị trường tiêu thụ ngay trong nước, đặc biệt trong việc sản xuất và cung cấp thiết bị toàn bộ. Nhìn chung, ngành cơ khí Việt Nam chỉ đáp ứng được 35% nhu cầu của thị trường. Trên thị trường máy động lực và nông nghiệp: Theo con số thống kê của tổng cục thống kê, thị trường nước ta tiêu thụ khoảng 100000 máy động cơ diesel và 30000 máy kéo hai bánh loại nhỏ. Trong đó, hàng Trung Quốc chiếm khoảng 55% thị phần, 20% của các nước Nhật Bản, Hàn Quốc…còn lại 15% thị phần là của hàng Việt Nam. Thị trường máy bơm: Theo số liệu điều tra, máy bơm Trung Quốc chiếm tới 48%, Hàn Quốc chiếm 30%, ngoài ra là sản phẩm của Nhật Bản, Italia… Máy bơm Việt Nam chỉ chiếm thị phần nhỏ bé còn lại. +Về doanh thu: Theo số liệu của tổng cục thống kê, năm 2006 giá trị sản xuất toàn ngành cơ khí đạt 91.737 tỷ đồng và năm 2007 đạt 113.317 tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng chung về giá trị sản xuất nông nghiệp của toàn ngành cơ khí trong giai đoạn 2001-2007 là 21,9%. Về xuất khẩu, năm 2006 giá trị xuất khẩu toàn ngành cơ khí đạt 1,174 tỷ USD. Trong khi đó, doanh thu của các nước như Trung Quốc, Hàn Quốc… gấp mấy lần như thế. + Về quy mô vốn: Hầu hết, các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ (dưới 1 triệu USD). Phần lớn, các nguồn vốn đầu tư vào ngành cơ khí được huy động từ nước ngoài để đổi mới trang thiết bị, cơ sở hạ tầng. Trong khi đó, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản với các trang thiết bị hiện đại cùng với tổng vốn đầu tư lớn đã cạnh tranh với các sản phẩm cơ khí của nước ta + Về giá thành sản phẩm: Theo số liệu của Tổng công ty máy động lực và máy nông nghiệp Việt Nam (VEAM), thị trường máy nông nghiệp Việt Nam đang bị máy Trung Quốc thao túng. Thông thường, máy nông nghiệp của Trung Quốc rẻ hơn máy Việt Nam từ 15-30%. Ví dụ, động cơ 15 mã lực của Trung Quốc hiện bán trên thị trường Việt Nam là 4,5-4,7 triệu đồng 1 chiếc, Việt Nam bán 500-600 USD 1 chiếc, Nhật Bản bán giá 1300 USD 1 chiếc. Hay máy nổ của Trung Quốc công suất 12 mã lực là 4 triệu đồng nhung Việt Nam bán với giá 6,6 triệu đồng. 2.1.2. Thị trường nước ngoài. Khi Việt Nam gia nhập vào WTO, mọi bảo hộ và thuế quan bị dỡ bỏ, chỉ còn lại các rào cản kỹ thuật nhưng đến nay, chúng ta vẫn chưa có các rào cản kỹ thuật đủ mạnh để bảo vệ các sản phẩm cơ khí trọng điểm. Nhiều năm qua, ngành cơ khí đã xuất khẩu nhiều sản phẩm của mình sang các nước Đông Âu, nhưng đó là những sản phẩm có trình độ công nghệ thấp như các loại kìm, cò lê, mỏ lết… theo sự phân công của khối SEV nên giá trị xuất khẩu thấp. Mấy năm gần đây, ngành đã xuất khẩu một số sản phẩm có trình độ cao, tuy nhiên giá trị xuất khẩu rất nhỏ chỉ chiếm khoảng 0,1% tổng giá trị xuất khẩu của cả nước.Gần đây, giá trị xuất khẩu có tăng lên song rât chậm chạp. Qua đó, có thể thấy các sản phẩm cơ khí của nước ta yếu trên thị trường quốc tế. Phân tích về vấn đề này, ông Ngô Văn Trụ - Vụ cơ khí luyện kim và hóa chất Bộ Công Nghiệp cho biết: xét về khía cạnh thương mại thì các nước ASEAN tương đồng như ta về cơ cấu tài nguyên, nhưng họ có điều kiện vốn và công nghệ do đó khă năng cạnh tranh sẽ hơn ta. Các nước ASEAN cũng có chiến lược hướng đến xuất khẩu sớm hơn ta. Hiện nay việc buôn bán giữa các nước ASEAN đã tăng lên. Trong giai đoạn 2000-2005 tỷ trọng buôn bán giữa các nước thành viên đã chiếm tỷ trọng lớn hơn kim ngạch buôn bán. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN chiếm ¼ tổng kim ngạch xuất khẩu, còn nhập khẩu từ ASEAN chiếm 1/3 tổng kim ngạch nhập khẩu. Như vậy với ASEAN Việt Nam ở thế nhập siêu. Nếu ngành công nghiệp cơ khí không nhanh chóng tăng sức cạnh tranh thì các nước ASEAN sẽ lợi dụng CEPT để chiếm lấy thị phần lớn hơn ở Việt Nam. 2.2. Phân tích năng lực cạnh tranh của ngành cơ khí Việt Nam trong tiến trình hội nhập. Về chất lượng sản phẩm. Trước hết, phải khẳng định rằng, trong những năm đổi mới vừa qua ngành cơ khí cũng đã có rất nhiều nỗ lực trong việc đổi mới thiết bị, mở rộng chủng loại sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm để ngày càng đáp ứng nhu cầu thị trường song trên thực tế chất lượng sản phẩm nói chung của cả ngành cơ khí còn chưa phù hợp với yêu cầu của thị trường. Từ đó dẫn đến sản phẩm có khả năng tiêu thụ kém và khó có khả năng xuất khẩu. Đối với thiết bị toàn bộ: Thiết bị toàn bộ được hiểu là một dây chuyền công nghệ hoàn chỉnh liên hoàn nhằm sản xuất ra một hoặc là một số loại sản phẩm nhất định hoặc thực hiện một chức năng nhất định có giá trị lớn. Trong thời gian gần đây, ngành cơ khí Việt Nam đã cung cấp được khá nhiều thiết bị đồng bộ cho các ngành sản xuất vật chất trong nước. Trong lĩnh vực điện khí hóa, ngành cơ khí Việt Nam đã có thể tham gia chế tạo các công trình thủy điện lớn với công suất tổ máy đến 300 MW, có thể chế tạo được các loại kết cấu thép, hệ thống cấp nước, hệ thống ngưng tụ, các máy nghiền than, băng tải, hệ thống lọc bụi… Như vậy, máy móc thiết bị toàn bộ của Việt Nam chưa có đủ khả năng cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm đối với thiết bị ngoại nhập. Chính vì vậy mà nước ta phải nhập hầu hết các thiết bị toàn bộ, chiếm khoảng 1/3 kim ngạch nhập khẩu của toàn ngành cơ khí. Dự đoán kế hoạch 5 năm này sẽ nhập khoảng 9-10 tỷ USD và kế hoach 5 năm tiếp theo sẽ nhập khoảng 15-17 tỷ USD. Lý do chính của tình trạng này là do thiết bị toang bộ của Việt Nam ít về chủng loại, nhỏ bé về khối lượng cung cấp. Hơn nữa, các nhà đầu tư chưa tin tưởng vào chất lượng cuả thiết bị toàn bộ trong nước. Đối với thíêt bị lẻ, dụng cụ, phụ tùng: Đây là các sản phẩm mà sau khi sản xuất xong có thể được sử dụng một cách độc lập hoặc được bán ngay ra thị truờng mà không nhất thiết phải gắn kết với các sản phẩm cơ khí khác. So với thiết bị toàn bộ, nhóm này có khă năng cạnh tranh tốt hơn. Một số sản phẩm đã có thị truờng ổn định ở trong nước, một số sản phẩm đã có thể vươn ra xuất khẩu. Tuy nhiên, nhìn một cách tổng quát, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam về chất lượng sản phẩm vẫn còn rất yếu kém. Đó chính là nguyên nhân khiến các sản phẩm cơ khí của Trung Quốc chiếm lĩnh hầu hết thị trưòng trong cả nước. Trên thị trường động cơ diesel: Theo những nhà quản lý của VINAPRO thì công ty có thị phần chỉ khoảng 5% trong khi đó động cơ của Đài Loan, Trung Quốc và động cơ cũ nhập khẩu ( chủ yếu của Nhật Bản ) chiếm lĩnh hầu như 95% thị phần còn lại. Nói tóm lại, năng lực cạnh tranh bằng chất lượng của ngành cơ khí hiện nay rất thấp. Bên cạnh một số ít sản phẩm, một số ít doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh trong thị trường nội địa và hướng tới xuất khẩu, còn hầu hết các doanh nghiệp cơ khí không cạnh tranh nổi với sản phẩm ngoại nhập, đánh mất dần thị trường trong nước. Vì vậy, nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã là một yêu cầu tất yếu đối với các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam hiện nay. Về giá cả. Các sản phẩm cơ khí của Việt Nam hiện nay, nhìn chung sức cạnh tranh bằng giá cả rất thấp. Hầu hết, các sản phẩm cơ khí Việt Nam đều có giá cao hơn so Trung Quốc-đối thủ cạnh tranh chính trên thị trường. Theo số liệu của Tổng công ty máy động lực và máy nông nghiệp Việt Nam (VEAM), thị trường máy nông nghiệp Việt Nam đang bị máy Trung Quốc thao túng. Lý do máy Việt Nam phải rút khỏi sân nhà ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc25115.doc
Tài liệu liên quan