Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác huy động vốn trong dân cư tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương (VietcomBank) Ba Đình

LỜI MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài. Mỗi nền kinh tế vận hành và phát triển đều phải dựa trên một hệ thống các nguồn lực trong đó vốn là nguồn lực không thể thay thế. Vốn ở đây bao gồm tiền tệ, vật tư, kỹ thuật, tri thức, khoa học. Trong cơ chế thị trường với các quan hệ kinh tế được tiền tệ hoá thì tiền tệ trở thành nguồn vốn quan trọng nhất. Vì vậy việc tìm kiếm những giải pháp huy động vốn cho sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước có ý nghĩa rất quan trọng. Một trong các nguồn

doc76 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 994 | Lượt tải: 3download
Tóm tắt tài liệu Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác huy động vốn trong dân cư tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương (VietcomBank) Ba Đình, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
huy động vốn cơ bản là từ dân cư được thực hiện bởi các Ngân hàng thương mại. Là một Ngân hàng thương mại lớn nhất tại Việt Nam, vấn đề Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank) hết sức quan tâm là làm thế nào để huy động tối đa nguồn vốn trong dân cư nhằm tài trợ cho các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá của đất nước. Vì vậy sau 3 tháng thực tập tại chi nhánh Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Ba Đình (Vietcombank Ba Đình), kết hợp với lý luận được học tại Học viện Ngân hàng, bản thân thấy sáng tỏ thêm nhiều vấn đề nên em đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác huy động vốn trong dân cư tại Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Ngoại Thương Ba Đình”. Mục đích của chuyên đề. Hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm lý luận, góp phần rút ngắn khoảng cách giữa lý luận và thực tiễn về công tác huy động vốn. Khẳng định vai trò của nghiệp vụ huy động vốn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Đánh giá thực trạng nghiệp vụ huy động vốn (chủ yếu là bằng VND) tại chi nhánh Vietcombank Ba Đình. Nghiên cứu giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tại chi nhánh 3. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu. * Đối tượng: Chuyên đề tập trung nghiên cứu các vấn đề cơ bản liên quan đến việc huy động vốn trong dân cư tại chi nhánh Vietcombank Ba Đình. * Phương pháp nghiên cứu. Chuyên đề có sử dụng kết hợp nhiều phương pháp khác nhau như: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp thống kê, so sánh…để đánh giá, phân tích các thông tin, số liệu có liên quan đến việc huy động vốn tại chi nhánh. 4. Kết cấu của chuyên đề. Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các bảng biểu, chuyên đề được kết cấu thành 3 phần: Chương 1: Nghiệp Vụ Huy Động Vốn Với Hoạt Động Kinh Doanh Của NHTM Trong Nền Kinh Tế Thị Trường. Chương 2: Thực Trạng Huy Động Vốn Trong Dân Cư Của Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Ngoại Thương Ba Đình. Chương 3: Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Qủa Huy Động Vốn Tại Chi Nhánh NHTM CP Ngoại Thương Ba Đình. Là một sinh viên với năng lực nghiên cứu còn hạn chế, sự hiểu biết chưa sâu nên nội dung của chuyên đề không tránh khỏi những thiếu sót. Song với nguyện vọng em muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình giúp Vietcombank Ba Đình nói riêng và của ngân hàng nói chung ngày càng mở rộng thu hút nhiều nguồn vốn trong dân cư hơn. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô, ban lãnh đạo cùng tập thể cán bộ nhân viên Vietcombank Ba Đình để chuyên đề của em được hoàn chỉnh hơn. CHƯƠNG I NGHIỆP VỤ HUY ĐỘNG VỐN VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG. NHTM và hoạt động của NHTM trong nền kinh tế thị trường. Khái niệm NHTM. Ngân hàng là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với từng cộng đồng dân cư nói riêng. Có thể định nghĩa Ngân hàng theo nhiều cách tiếp cận khác nhau, qua chức năng, qua các nghiệp vụ hoặc qua vai trò mà ngân hàng thực hiện trong nền kinh tế. Tuy nhiên các yếu tố trên luôn không ngừng thay đổi. Trong thực tế, rất nhiều tổ chức tài chính đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của Ngân hàng, và để đối phó với các đối thủ cạnh tranh cũng như đáp ứng được xu thế phát triển chung của thế giới, các Ngân hàng cũng đang mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ của mình như bất động sản, môi giới chứng khoán và tham gia hoạt động bảo hiểm…Cách tiếp cận thận trọng nhất là định nghĩa Ngân Hàng trên phương diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp. “Ngân hàng là một loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.” Mặc dù có nhiều cách thể hiện khác nhau, nhưng dễ dàng nhận thấy các NHTM có chung một tính chất, đó là: Việc huy động tiền gửi (không kì hạn và có kỳ hạn) để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay, đầu tư và các dịch vụ kinh doanh khác của chính Ngân hàng. Chức năng của NHTM. Đặc trưng của Ngân hàng được thể hiện rõ nhất ở loại hình NHTM thông qua 3 chức năng sau: Chức năng làm thủ quỹ xã hội. Thực hiện chức năng này, NHTM nhận tiền gửi của công chúng, các doanh nghiệp và các tổ chức, giữ tiền cho khách hàng của mình, đáp ứng nhu cầu rút tiền và chi tiền của họ. Chức năng này xuất phát từ nhu cầu muốn bảo đảm an toàn cho tài sản và mong muốn tích lũy giá trị của công chúng và các doanh nghiệp trong xã hội. Chức năng trung gian thanh toán. Ngân hàng làm trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích TKTG của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào TKTG của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. NHTM thực hiện chức năng trung gian thanh toán trên cơ sở nó thực hiện chức năng thủ quỹ cho xã hội. Việc nhận tiền gửi và theo dõi các khoản thi, chi trên tài khoản tiền gửi của khách hàng là tiền đề để ngân hàng thực hiện vai trò trung gian thanh toán. Chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động kinh tế. Chức năng là trung gian tín dụng. Ngân hàng làm trung gian tín dụng khi nó là “cầu nối” giữa người có vốn dư thừa và người có nhu cầu về vốn. Thông qua việc huy động các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, Ngân hàng hình thành nên quỹ cho vay rồi đem cho vay đối với nền kinh tế. Với chức năng này Ngân hàng vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay. Chức năng trung gian tín dụng xuất phát từ đặc điểm tuần hoàn vốn tiền tệ trong quá trình tái sản xuất xã hội. Thông qua chức năng này, NHTM đã góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên trong quan hệ là người gửi tiền, Ngân hàng, người đi vay và đảm bảo lợi ích của nền kinh tế. Như vậy, các chức năng của NHTM có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung, hỗ trợ nhau, trong đó chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bản nhất tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng sau. Đồng thời khi ngân hàng thực hiện tốt chức năng thủ quỹ và chức năng trung gian thanh toán lại góp phần làm tăng nguồn vốn tín dụng mở rộng quy mô hoạt động của ngân hàng. Vai trò của NHTM. Có thể khẳng định Ngân hàng là “mạch máu” quan trọng của nền kinh tế, không thể có một nền kinh tế mạnh mà hệ thống Ngân hàng lại yếu kém. Ngược lại, một nền kinh tế trì trệ và chậm phát triển thì khó có thể tồn tại một hệ thống Ngân hàng vững mạnh. Vai trò của Ngân hàng được thể hiện cụ thể như sau: Thứ nhất: NHTM là nơi cung ứng vốn cho nền kinh tế. NHTM là chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh. Xuất phát từ một trung gian tài chính, NHTM đứng ra huy động các nguồn vốn nhàn rỗi và tạm thời của mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế trong xã hội. Thông qua nghiệp vụ tín dụng, NHTM cung cấp vốn cho hoạt động kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời cho quá trình tái sản xuất. Như vậy, với khả năng cung ứng vốn, NHTM đã trở thành một trong những điểm khởi đầu cho sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Thứ hai: NHTM là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường. Hoạt động trong nền kinh tế thị trường đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với một môi trường năng động và có sự cạnh tranh gay gắt. Để có thể tồn tại và phát triển thì doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới trang thiết bị, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, nâng cao trình độ công nhân và trình độ quản lý doanh nghiệp. Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ khả năng về tài chính để thỏa mãn các yêu cầu trên, do vậy buộc họ phải tìm kiếm vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Nguồn vốn tín dụng của Ngân hàng sẽ giúp doanh nghiệp có đủ khả năng thỏa mãn nhu cầu tối đa của thị trường trên nhiều phương diện: giá cả, chất lượng. chủng loại, thời gian, địa điểm…NHTM sẽ là cầu nối giữa doanh nghiệp và thị trường gần hơn cả về không gian và thời gian. Thứ ba: NHTM góp phần quản lý doanh nghiệp có hiệu quả. Khi tham gia vào quan hệ tín dụng, doanh ngiệp vay vốn và ngân hàng đều phải quán triệt nguyên tắc tín dụng. Việc cho vay vốn của Ngân hàng được thực hiện theo 3 nguyên tắc sau: Tiền vay được sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả. Tiền vay được hoàn trả cả gốc và lãi đúng hạn. Việc đảm bảo tiền vay được thực hiện theo quy định của Chính phủ và của NHTW. Việc tuân thủ theo các nguyên tắc trên đòi hỏi doanh nghiệp phải hạch toán kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí và tăng khả năng sinh lời…Đó chính là ngân hàng đã góp phần quản lý doanh nghiệp có hiệu quả. Thứ tư: NHTM đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách tiền tệ của NHTW. Phần lớn các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ của NHTW chỉ được thực thi có hiệu quả khi có sự hợp tác tích cực của các NHTM. Từ việc chấp hành quy chế dự trữ bắt buộc, quy chế thanh toán không dùng tiền mặt, đến vệc nâng cao hiệu quả đầu tư. NHTM góp phần ổn định giá cả khi có hiện tượng lạm phát xảy ra. Để kiềm chế lạm phát, Ngân hàng sẽ thực hiện những biện pháp cấp bách bằng cách ngừng phát hàng tiền vào lưu thông và tăng lãi suất tiền gửi, đặc biệt là tiền gửi tiết kiệm. Biện pháp này đã thu hút được một lượng tiền khá lớn từ lưu thông vào ngân hàng, góp phần làm giảm cơn sốt lạm phát. Thứ năm: NHTM là cầu nối tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế. Trong xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa như hiện nay thì vai trò này ngày càng ngày được thể hiện một cách rõ rệt hơn, áp lực cạnh tranh buộc nền kinh tế mỗi quốc gia khi mở cửa hội nhập phải có tiềm lực lơn về mọi mặt, đặc biệt là tiềm lực về tài chính. Thông qua các loại hình dịch vụ khác nhau của hệ thống NHTM như: thanh toán quốc tế, nghiệp vụ ngoại hối, cho vay ủy thác đầu tư,… đã giúp cho luồng vào, ra một cách hợp lý, đưa nền tài chính nước nhà bắt kịp với nền tài chính quốc tế. Đây là một trong những điều kiện tiên quyết cho tiến cho tiến trình hội nhập kinh tế ở mỗi quốc gia trên thế giới. Hoạt động huy động vốn của NHTM. Khái niệm về vốn của ngân hàng thương mại. Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc huy động được, dùng để cho vay, đầu tư hoặc để thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác. Về thực chất, thì nguồn vốn của ngân hàng là một bộ phận thu nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất phân phối và tiêu dùng, mà người chủ sở hữu để thực hiện các mục đích khác nhau gửi vào ngân hàng. Và như vậy ngân hàng đã thực hiện vai trò tập trung và phân phối lại vốn dưới hình thức tiền tệ, tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, phục vụ kích thích mọi hoạt động kinh tế phát triển. Phân loại nguồn vốn của ngân hàng thương mại. Vốn tự có Vốn điều lệ Là số vốn lớn hơn hoặc bằng số vốn pháp định (vốn tối thiểu để thành lập một ngân hàng), được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau. Đối với Ngân hàng Quốc doanh thì nguồn vốn này do Nhà nước cung cấp. Nếu là Ngân hàng cổ phần thì nguồn vốn được hình thành từ sự đóng góp từ các cổ đông. Vốn tích luỹ (quỹ dự trữ) Là số vốn do ngân hàng tạo ra từ kết quả kinh doanh tổng hợp và các hoạt động của ngân hàng. Theo pháp lệnh của Ngân hàng và dự thảo luật Ngân hàng thì mọi Ngân hàng thương mại hoạt động ở Việt Nam đều phải thành lập quỹ dự trữ sau: - Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: Theo quy định của Nhà nước, hàng năm ngân hàng phải trích 5% trên lợi nhuận ròng để lập quỹ này. Quỹ được lập cho đến khi bằng 50% vốn điều lệ tại thời điểm trích lập quỹ. - Quỹ dự trữ đặc biệt: Là bộ phận quỹ dùng để dự phòng bù đắp cho các rủi ro trong quá trình hoạt động, được trích lập hàng năm bằng 10% lợi nhuận ròng. Quỹ này được trích lập cho đến khi bằng 100% vốn điều lệ thực có tại thời điểm trích lập quỹ. Ngoài ra vốn tích luỹ còn bao gồm: lợi nhuận chưa chia, giá trị tăng thêm do đánh giá lại tài sản, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi. Vốn huy động Vốn huy động là phương tiện tiền tệ do các ngân hàng quản lý và huy động từ chức năng và nghiệp vụ nhận tiền gửi của các đối tượng giao dịch với ngân hàng. Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu và chiểm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn ngân hàng (khoảng 70-80%). Tuy nhiên các NHTM không được phép huy động quá 20 lần vốn tự có. Nguồn vốn huy động của một NHTM được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: qua việc mở tài khoản thanh toán, huy động tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn và không kỳ hạn, huy động thông qua phát hành trái phiếu, kỳ phiếu, huy động từ các tổ chức kinh tế xã hội, các tầng lớp dân cư... Vốn vay Vốn vay là nguồn vốn được hình thành bởi mối quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với nhau hoặc giữa các tổ chức tín dụng với NHNN thể hiện ở các hình thức sau: - Vay các NHTM: Đó là khoản vốn vay giữa các NHTM trên thị trường liên ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán giữa các ngân hàng với nhau. - Vay NHNN: Các NHTM vay vốn của NHNN thông qua các hình thức như: vay bổ sung vốn tín dụng ngắn hạn; thực hiện tái chiết khấu thương phiếu và các chứng từ có giá trị chưa đến hạn thanh toán của NHTM, vay bổ sung thanh toán bù trừ giữa các NHTM... Vốn trong thanh toán Vốn trong thanh toán là vốn do Ngân hàng tạo lập được khi thực hiện làm trung gian thanh toán cho nền kinh tế. Quá trình thanh toán giữa các doanh nghiệp, các cá nhân đã hình thành các khoản tiền nhàn rỗi tạm thời. Vốn khác Ngoài những nguồn vốn nêu trên, Ngân hàng còn có thể nhận được những nguồn vốn khác như: vốn tài trợ, vốn uỷ thác đầu tư và các nguồn vốn khác trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình. Như vậy, nhìn một cách tổng quát, ta có thể kết luận rằng nguồn vốn của Ngân hàng chủ yếu được hình thành từ nguồn vốn huy động trong quá trình tập trung một bộ phận tiền tệ của khu vực dân cư, của các tổ chức kinh tế. Nguồn vốn này là nền tảng cơ bản nhất để Ngân hàng cấp tín dụng cho nền kinh tế. Do đó Ngân hàng cần có những biện pháp thích hợp để huy động được nhiều nhất, đặc biệt từ khu vực dân cư, với chi phí bỏ ra là thấp nhất mà vẫn đem lại hiệu quả cao. Một số nội dung về huy động vốn trong dân cư. Vai trò của vốn huy động từ dân cư đối với hoạt động kinh doanh của NHTM. Trong hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng của Ngân hàng thì nguồn vốn nói chung và nguồn gửi tiền nói riêng không những giữ vai trò quan trọng mà còn mang tính chất quyết định đến hoạt động kinh doanh của một Ngân hàng. Vì vậy việc quan tâm, chăm lo công tác huy động vốn để khơi tăng tạo thêm ngày càng nhiều nguồn gửi tiền làm cho nguồn vốn tăng trưởng đều và ổn định sẽ góp phần tích cực vào việc mở rộng đầu tư tín dụng nhằm đa phương hoá, đa dạng hoá kinh doanh phù hợp với định hướng phát triển của ngành. Vốn tham gia hoạt động kinh doanh của Ngân hàng bao gồm nhiều nguồn, một trong những nguồn vốn được coi là yếu tố tạo ra mặt bằng vốn ổn định và có tiềm năng tăng trưởng mạnh, đó là nguồn vốn huy động. Trong công tác huy động vốn cho nền kinh tế thì huy động vốn dân cư là một kênh huy động vốn rất quan trọng, là nền tảng vốn vững chắc, mặt khác nó có tác dụng phát huy nọi lực kinh tế. Nguồn vốn huy động từ dân cư tuy lẻ tẻ, phân tán, khó huy động nhưng là nguồn vốn có tiềm năng lớn. Qua điều tra của Bộ Kế Hoạch và Đầu tư, Tổng cục hệ thống cho thấy: 44% tiền để dành của dân là để mua vàng và ngoại tệ. 20% tiền để dành của dân là để mua nhà, đất và cải thiện điều kiện sinh hoạt. 17% tiền để dành của dân là để gửi tiết kiệm (chủ yếu là tiết kiệm ngắn hạn). 19% tiền để dành của dân được dùng trực tiếp cho các dự án đầu tư nhưng phần lớn là đầu tư ngắn hạn. Như vậy, Chính phủ mới chỉ huy động được 36% vốn hiện có trong dân dành cho đầu tư phát triển, còn riêng ngành Ngân hàng chỉ mới huy động được 17% trong số đó. Huy động vốn dân cư dưới hình thức phát hàng các công cụ nợ như trái phiếu, kỳ phiếu, tiết kiệm là các chứng chỉ nhận nợ của Ngân hàng để huy động vốn nhàn rỗi trong tầng lớp dân cư (đối tượng huy động chủ yếu là các tầng lớp dân cư). Vốn huy động trong dân cư thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn tự huy động (khoảng từ 40% - 60%), góp phần vào việc kinh doanh có hiệu quả và góp phần tăng tổng tài sản của Ngân hàng. 1.2.3.2. Các hình thức huy động vốn dân cư. Huy động qua tiền gửi tiết kiệm. Tiền gửi tiết kiệm là tiền để dành của dân cư được gửi vào Ngân hàng nhằm mục đích hưởng lãi. Từ lâu, tiền gửi tiết kiệm đã được coi là công cụ huy động vốn truyền thống của các NHTM. Hình thức phổ biến và cổ điển nhất là loại tiền gửi tiết kiệm có sổ. Đối với loại tiền gửi này, người gửi tiền được Ngân hàng cấp cho một cuốn sổ dùng để ghi tiền gửi vào và rút tiền ra. Đồng thời quyển sổ này cùng xác nhận số tiền đã gửi. Loại hình này vẫn còn tồn tại cho đến nay, nó có thể chuyển sang tài khoản séc dễ dàng. Do vậy, nó có khả năng thanh toán cao. Vốn huy động từ các tài khoản tiết kiệm thường chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn huy động từ dân cư. Ở Việt Nam có các hình thức tiền gửi tiết kiệm phổ biến là: - Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Là loại tiền mà khách hàng có thể gửi nhiều lần và rút ra bất cứ lúc nào khi có nhu cầu. Tuy nhiên. số dư tài khoản này thường không lớn, nhưng có ưu điểm hơn so với các tài khoản tiền gửi giao dịch ở chỗ: số dư này ít biến động. Chính vì vậy, đối với loại tiền gửi này, các Ngân hàng thường phải trả lãi suất cao hơn so với tiền gửi thanh toán. Song, khác với tiền gửi không kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn không được ký phát séc để thanh toán. Ngày này, ở các Ngân hàng tỷ trọng tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn có xu hướng giảm vì người dân đã chuyển sang mở tài khoản tiền gửi cá nhân để tiện lợi hơn trong thanh toán. - Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Là loại tiền gửi được rút ra sau một thời hạn nhất định. Tuy vậy, khách hàng có nhu cầu rút tiền trước hạn cùng có thể được đáp ứng với mức lãi suất được hưởng thấp hơn hoặc thậm chí không được hưởng lãi. - Tiền gửi tiết kiệm có mục đích: Thường là hình thức tiết kiệm trung và dài hạn nhằm mục đích xây dựng nhà ở. Người dân tham gia hình thức này ngoài việc hưởng lãi còn được Ngân hàng cho vay bổ sung thêm vốn để mua, xây nhà với lãi suất ưu đãi. Huy động qua phát hành các giấy tờ có giá. - Phát hành kỳ phiếu: Việc phát hành kỳ phiếu có cùng bản chất với việc huy động tiền gửi có kỳ hạn, nhằm huy động tiền vốn nhàn rỗi của mọi tầng lớp dân cư. Song, đứng trên quan điểm của Ngân hàng (người huy động vốn) thì việc phát hành kỳ phiếu là loại chủ động thu gom (vốn chủ động vay). Huy động vốn qua phát hành kỳ phiếu thường là huy động với thời hạn ngắn: 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng và 18 tháng. Tuy hình thức này mới được áp dụng trong vài năm trở lại đây nhưng đã sớm trở thành một bộ phận quan trọng trong tổng nguồn vốn của các Ngân hàng. Hiện nay, ở các NHTM Việt Nam thường áp dụng hình thức phát hành kỳ phiếu theo mệnh giá ghi trên kỳ phiếu, lãi và gốc lĩnh một lần khi đáo hạn. Riêng hình thức kỳ phiếu có thể chiết khấu đang được xem xét đưa vào sử dụng trong thời hạn tới. Điểm tiện lợi nổi bật của hình thức huy động này là tùy theo tình hình cân đối nguồn vốn vay và cho vay tại từng thời kỳ với một tỷ lệ lãi suất đủ sức hấp dẫn, Ngân hàng có thể chủ động huy động được một lượng vốn như mong muốn trong một thời gian ngắn, vì thế giúp Ngân hàng chủ động hơn trong kinh doanh. - Phát hành trái phiếu. Trái phiếu Ngân hàng là một công cụ vay nợ dài hạn trên thị trường vốn dưới hình thứcgiấy nhận nợ do các tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn, trong đó cam kết trả lãi và gốc cho người mua (hoặc người sở hữu) sau một thời gian nhất định. Về phía người mua, trái phiếu Ngân hàng là giấy chứng nhận việc đầu tư vốn và quyền được hưởng thu nhập của người bán trên số tiền mua trái phiếu Ngân hàng. Việc phát hành trái phiếu cũng giống như phát hành kỳ phiếun gân hàng đều nhằm vào huy động những nguồn tiền để dành và tiết kiệm của mọi tầng lớp dân cư. Tuy nhiên khác với kỳ phiếu là huy động vốn ngắn hạn, trái phiếu là hình thức huy động vốn dài hạn, với các kỳ hạn: 3 năm, 5 năm, 10 năm…nhằm đáp ứng vốn cho các dự án đầu tư phát triển dài hạn. Đây là nguồn vốn có tính ổn định cao về thời gian sử dụng và lãi suất. Hình thức huy động vốn này cũng giúp cho các Ngân hàng chủ động trong việc huy động vốn, giúp các Ngân hàng tạo vốn một cách nhanh chóng. 1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình huy động vốn. 1.3.1. Nhân tố khách quan. Pháp luật, chính sách của Nhà nước. Là một loại hình doanh nghiệp hoạt động Ngân hàng trong lĩnh vực rất nhạy cảm và có ảnh hưởng, tác động đến sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế, nên hoạt động Ngân hàng càng chịu sự giám sát và quản lý chặt chẽ của các cơ quan Nhà nước. Bên cạnh luật ngân hàng, luật các TCTD trực tiếp điều chỉnh hoạt động Ngân hàng thì các luật, các quy định, chính sách của Nhà nước, của chính phủ cũng có ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động Ngân hàng như luật đầu tư, luật thương mại, các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển kinh tế…Ngoài ra, trong từng thời kỳ, mục tiêu chính cuả chính sách tiền tệ của NHTW là mở rộng hay thắt chặt cũng tác động trực tiếp đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng. Sự ổn định kinh tế chính trị xã hội. Một xã hội, một nền kinh tế được đánh giá là ổn định khi nền kinh tế phát triển với tốc độ ổn định lâu dài và duy trì qua các năm, tỷ lệ lạm phát ở mức cho phép, có chế độ chính trị ổn định, bền vững, đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Nền kinh tế tăng trưởng kém, lạm phát cao, thu nhập của người lao động giảm, xu hướng người dân giữ ngoại tệ mạnh hoặc là hàng hóa thay vì gửi tiền vào ngân hàng. Điều này gây ảnh hưởng đến nghiệp vụ huy đống vốn của NHTM. Tâm lý, thói quen sử dụng tiền mặt của dân cư. Hoạt động huy động vốn của NHTM chủ yếu được hình thành từ việc huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội, do đó công tác huy động vốn của Ngân hàng chịu ảnh hưởng rất lớn của nhân tố này. Việc người dân có gửi nguồn tiền nhàn rỗi của mình vào Ngân hàng hay không lại phụ thuộc vào tâm lý thói quen của họ. Nếu họ có thói quen tích trữ tiền mặt hay mua vàng, bất động sản do tâm lý không tin tưởng vào Ngân hàng, lo sợ giá tri của đồng tiền không ổn định thì việc huy động vốn của Ngân hàng sẽ gặp khó khăn. Mặt khác thói quen thanh toán tiền mặt từ lâu đời cũng ảnh hưởng đến lượng tiền gửi vào ngân hàng. 1.3.2. Nhân tố chủ quan. Chính sách lãi suất của NHTM. Lãi suất là mối quan tâm hàng đầu chủ yếu khi một cá nhân hay một tổ chức kinh tế nào đó muốn gửi tiền vào Ngân hàng. Chính vì vậy để tạo được nhiều vốn, đáp ứng được các nhu cầu sử dụng của mình, các Ngân hàng phải hoạch định chính sách lãi suất linh hoạt, phù hợp với tín hiệu thị trường, kích thích người gửi tiền. Mức lãi suất huy động phải thấp hơn lãi suất cho vay để đảm bảo quyền lợi của Ngân hàng nhưng mức lãi suất này không được thấp hơn tỷ lệ lạm phát để đảm bảo cho người gửi tiền mới vẫn có một mức thu nhập hợp lý. Chất lượng hoạt động tín dụng. Hoạt động tín dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc huy động vốn tiền gửi vào hệ thống ngân hàng, nếu nghiệp vụ huy động vốn làm nhiệm vụ thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, thì nghiệp vụ sử dụng vốn làm nhiệm vụ đưa các nguồn vốn đảm bảo sản xuất kinh doanh, dịch vụ…để đem lại khả năng sinh lời, thu lợi nhuận về cho ngân hàng. Do vậy, nếu hoạt động sử dụng vốn không hiệu quả, tất yếu dẫn đến việc huy động vốn bị thu hẹp. Ngược lại, hoạt động tín dụng có hiệu quả, thu nhập xã hội tăng, tỷ lệ thất nghiệp giảm, đời sống dân cư được cải thiện, tạo điều kiện cho Ngân hàng huy động được nguồn vốn nhàn rỗi của dân cư ngày càng nhiều để thực hiện đầu tư cho các chu kì tiếp theo. Hoạt động Marketing của Ngân hàng. Hoạt động Marketing rất quan trọng đối với Ngân hàng, giúp cho Ngân hàng nắm bắt được yêu cầu, nguyện vọng của khách hàng. Từ đó, đưa ra các hình thức vốn huy động, chính sách lãi suất, chính sách tín dụng… cho phù hợp. Đồng thời, các NHTM phải có thông tin đầy đủ, kịp thời giúp cho người có tiền nhàn rỗi hiểu rõ mình nên gửi tiền vào đâu và gửi như thế nào là có lợi, giúp cho khách hàng lựa chọn hình thức gửi tiền vào Ngân hàng phù hợp nhất và Ngân hàng có thể khai thác tối đa nguồn tiền nhàn rỗi của dân cư. Chất lượng công nghệ ngân hàng. Nếu tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt tăng lên, Ngân hàng sẽ thu hút được nhiều tiền trong nền kinh tế vào hệ thống. Để thực hiện vấn đề này, Ngân hàng phải trang bị những công nghệ hiện đại vào hoạt động huy động vốn, thanh toán cho khách hàng. Mặt khác, phải nghiên cứu đưa ra các hình thức huy động vốn thích hợp, chặt chẽ. Từ đó, tạo khâu thanh toán nhanh chóng và kiểm soát được thuận tiện. Trình độ nghiệp vụ, thái độ phục vụ của nhân viên Ngân hàng. Trình độ nghiệp vụ của cán bộ Ngân hàng càng cao thì trong quá trình hoạt động kinh doanh, mọi thao tác nghiệp vụ càng được thực hiện nhanh chóng, chính xác và hiệu quả, tạo điều kiện cho Ngân hàng mở rộng kinh doanh, giảm chi phí hoạt động và thu hút được khách hàng. Bên cạnh đó, thái độ phục vụ của cán bộ Ngân hàng cũng là yếu tố tác động đến quy mô tiền gửi. Nhân viên Ngân hàng cởi mở, nhiệt tình đối với khách hàng, tạo thuận lợi cho khách hàng sẽ tạo được lòng tin với khách hàng, ngày càng có nhiều khách hàng đến giao dịch gửi tiền. Uy tín Ngân hàng. Trong nền kinh tế thị trường, để tồn tại và phát triển, các NHTM phải có uy tín trên thị trường. Uy tín được thể hiện ở khả năng sẵn sàng chi trả, thanh toán cho khách hàng, ở chất lượng dịch vụ khách hàng. Chính vì vậy, các Ngân hàng không ngừng nâng cao, đảm bảo uy tín của mình trên thị trường, từ đó, có điều kiện mở rộng hoạt động kinh doanh, thu hút được nguồn tiền nhàn rỗi của các cá nhân và doanh nghiệp. TÓM TẮT CHƯƠNG I Như vậy, trong Chương 1 của chuyên đề đã làm rõ được những vấn đề cơ bản về huy động vốn nói chung và huy động vốn trong dân cư tại NHTM, bao gồm: - NHTM và hoạt động huy động vốn của NHTM trong nền kinh tế thị trường. - Hoạt động huy động vốn của NHTM. - Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình huy động vốn . Những lý luận này sẽ là cơ sở để đánh giá thực trạng huy động vốn trong dân cư tại Vietcombank Ba Đình trong Chương 2, từ đó nêu các giải pháp, kiến nghị trong Chương 3. CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TRONG DÂN CƯ CỦA NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG BA ĐÌNH 2.1. Khái quát về tình hình phát triển kinh tế- xã hội trên địa bàn và hoạt động kinh doanh Ngân hàng TMCP Ngoại thương Ba Đình. 2.1.1. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội quận Ba Đình. Cùng với sự phát triển chung của kinh tế đất nước, kinh tế Hà Nội đã có bước tăng trưởng đáng kể, mặc dù những năm gần đây do cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực, kinh tế Hà Nội cũng bị ảnh hưởng nhiều nhưng nhờ có sự chỉ đạo kịp thời của các cấp, các ngành cùng với sự sáng tạo của các nhà kinh tế, doanh nghiệp và nhân dân nên nền kinh tế vẫn chuyển biến tích cực và tương đối toàn diện. Trên địa bàn Hà nội tính đến nay có trên 30.000 doanh nghiệp, trong đó có gần 600 doanh nghiệp nhà nước, hầu hết là những doanh nghiệp tiềm lực tài chính và lĩnh vực hoạt động rộng với đủ các thành phần kinh tế và các ngành nghề. Các doanh nghiệp không ngừng đưa công nghệ hiện đại vào sản xuất thực hiện chủ trương “Công nghiệp hóa – Hiện đạo hóa” đất nước. Ngoài ra còn phải kể đến có khoảng 63.000 số hộ kinh doanh thương nghiệp và cá thể cùng tiến hành sản xuất kinh doanh. Đây là một nơi có tiềm năng về vốn lớn, đồng thời là nơi có hoạt động ngân hàng sôi nổi với 4 NHTM quốc doanh có gần 30 chi nhánh hoạt động, 12 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 3 Ngân hàng liên doanh, 15 Ngân hàng cổ phần. Ba đình là một quận lớn nằm ở trung tâm thủ đô Hà Nội có diện tích 9,244 km² với dân số khoảng 228.352 người, mật độ dân số 24.703 người/km². Đây là nơi tập trung đủ các thành phần kinh tế và cơ quan quản lý hành chính từ trung ương đến địa phương. Trên địa bàn không có sản xuất nông nghiệp, do đó Ba Đình cũng nằm trong quĩ đạo phát triển chung của thủ đô Hà Nội. Trên địa bàn quận có tới hàng chục chi nhánh ngân hàng cùng hoạt động, cũng có dịch vụ tín dụng cơ bản giống nhau, cùng cạnh tranh, tồn tại và cùng phát triển. VCB Ba đình là một ngân hàng trong số ấy được ra đời trước đòi hỏi bức xúc của cơ chế thị trường. Những thuận lợi và khó khăn. * Thuận lợi: Mục tiêu chủ yếu của quận Ba Đình là xây dựng thế trận an ninh quốc gia vững chắc, giữ ổn định chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội; tiếp tục nâng cao đời sống của nhân dân; duy trì và đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, phát triển lực lượng sản xuất, củng cố và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với tình hình mới…đã tạo nên một môi trường kinh doanh lành mạnh, phát triển cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh nói chung và chi nhánh VCB Ba Đình nói riêng. * Khó khăn: - Chịu rất nhiều sức ép cạnh tranh từ những ngân hàng khác cùng địa bàn. - Quận Ba Đình là trung tâm chính trị của Hà Nội, do vậy mật độ dân cư tham gia hoạt động kinh doanh thương mại không nhiều so với các quận khác. Ý thức được những thuận lợi và khó khăn trên, tập thể lãnh đạo và cán bộ công nhân viên chi nhánh VCB Ba Đình luôn nỗ lực phấn đấu hết mình, thực hiện hoàn thành vượt mức các mục tiêu kinh doanh đề ra, từ đó góp phần thúc đẩy kinh tế của quận phát triển. 2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển. 2.1.2.1. Quá trình hình thành. Tổng quan về Vietcombank: Thành lập ngày 01/04/1963, Vietcombank được nhà nước xếp hạng là một trong 23 doanh nghiệp đặc biệt, giữ vai trò chủ lực trong Hệ thống Ngân hàng tại Việt Nam. Sau 44 năm hoạt động Ngân hàng đã có vị thế vững chắc trong lĩnh vực ngân hàng, bán buôn với nhiều khách hàng truyền thống là các tổng công ty và doanh nghiệp lớn bên cạnh đó Ngân hàng còn xây dựng thành công nền tảng phân phối rộng lớn và đa dạng phục vụ hoạt động ngân hàng bán lẻ và phục vụ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (kinh doanh vốn, tài trợ thương mại….). Thông qua các công ty con, Ngân hàng còn đầu tư vào nhiều lĩnh vực khác như: kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bất động sản, phát triển cơ sở hạ tầng… Mạng lưới hoạt động của Vietcombank rộng khắp và đa dạng đáp ứng nhu cầu của từng nhóm đối tượng khách hàng cụ thể gồm có: 01 Sở giao dịch, 58 chi nhánh và 87 Phòng giao dịch trên toàn quốc; 4 Công ty con ở trong nước: - Công ty Cho thuê Tài chính Vietcombank (VCB Leasing) - Công ty TNHH Chứng khoán Vietcombank (VCBS) - Công ty Quản lý ._.Nợ và Khai thác Tài sản Vietcombank (VCB AMC) - Công ty TNHH Cao ốc Vietcombank 198 (VCB Tower) 1 Công ty con ở nước ngoài: Công ty Tài chính Việt Nam – Vinafico Hongkong 2 Văn phòng đại diện tại Singapore và Paris 3 Công ty liên doanh: - Công ty Quản lý Quỹ Vietcombank (VCBF) - Ngân hàng Liên doanh ShinhanVina - Công ty Liên doanh TNHH Vietcombank – Bonday - Bến Thành Hoạt động của Ngân hàng Ngoại thương còn được hỗ trợ bởi mạng lưới giao dịch quốc tế lớn nhất trong số các ngân hàng Việt Nam với trên 1300 ngân hàng đại lý tại hơn 90 quốc gia và vùng lãnh thổ. Bên cạnh các hoạt động kinh doanh, Vietcombank Việt Nam còn tích cực tham gia các hiệp hội ngành nghề như Hiệp hội Ngân hàng Châu Á, Asean Pacific Banker’s Club và là một trong những thành viên đầu tiên của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam. Năm 2007 đã mở ra một chương mới trong lịch sử hoạt động của Ngân hàng với việc cổ phần hoá Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Sự chuyển đổi này chính thức được quyết định theo Giấy phép số 138/GP-NHNN do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định cấp ngày 23/5/2007. Theo đó, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) chính thức chuyển sang hoạt động theo cơ chế và mô hình của một ngân hàng thương mại cổ phần. Ngân hàng “mới” được cấp giấy phép có tên đầy đủ bằng tiếng Việt là Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank); được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng theo quy định của pháp luật Việt Nam, với vốn điều lệ là 12.100.860.260.000 VND. Những thay đổi về quản trị ngân hàng hiện đại theo thông lệ quốc tế, mở rộng loại hình kinh doanh, phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại, đầu tư vào công nghệ sẽ góp phần trong việc VCB Việt Nam thực hiện mục tiêu trở thành một trong những tập đoàn tài chính đa năng hàng đầu trong khu vực trong giai đoạn năm 2015 – 2020. Quá trình hình thành và phát triển của VCB Ba Đình: Ngày 15/09/2004, NHTM CP Ngoại Thương Việt Nam đã khai trương chi nhánh cấp II Ba Đình (có địa chỉ tại 39 Đào Tấn - Ba Đình - Hà Nội), đây là Chi nhánh cấp II thứ 4 trên địa bàn Thủ đô trực thuộc Chi nhánh NHTM CP Ngoại Thương Hà Nội (Vietcombank Hà Nội). Và tới ngày 17/01/2007. chi nhánh cấp II Ba đình đã được điều chỉnh và nâng cấp thành các chi nhánh trực thuộc Vietcombank Việt Nam (tức là trở thành chi nhánh cấp I.) Chi nhánh Ngân hàng ngoại thương Ba Đình cung cấp tới khách hàng các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng hiện đại, đa năng, có chất lượng cao, bao gồm: huy động tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu, thanh toán trong nước trực tuyến và thanh toán quốc tế, cấp tín dụng và bảo lãnh, mua bán ngoại tệ, phát hành và thanh toán các loại thẻ tín dụng, thẻ rút tiền tự động, trả lương tự động…và đặc biệt giao dịch sẽ được thực hiện thuận tiện, nhanh chóng hơn khi được giải quyết chỉ tại một cửa. Mọi giao dịch của chi nhánh Ba Đình đều được xử lý trực tuyến bằng hệ thống công nghệ ngân hàng hiện đại, kết nối với hệ thống Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trên cả nước Ngày 7/8/2007, Ngân hàng Ngoại thương Chi nhánh Ba Đình (Vietcombank Ba Đình) đã khai trương Phòng giao dịch Trần Duy Hưng tại số 148 Trần Duy Hưng, quận Cầu Giấy, Hà Nội và ngày 18/12/2007, khai trương Phòng giao dịch Tây Hồ tại địa chỉ 98 - 100 Nghi Tàm, Phường Yên Phụ, Quận Tây Hồ, Hà Nội. Cả hai địa bàn này đều có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế, là khu vực đông dân cư với trình độ dân trí cao, sẽ tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi để huy động vốn và phát triển mở rộng các sản phẩm ngân hàng hiện đại. Những sự kiện này cho thấy một tầm nhìn chiến lược của Vietcombank Ba Đình trong việc mở rộng mạng lưới để phát triển đẩy mạnh các dịch vụ bán lẻ và đầu tư theo định hướng của Tập đoàn Vietcombank ngay sau khi thực hiện cổ phần hoá. Phòng Giao dịch Trần Duy Hưng và Tây Hồ đi vào hoạt động sẽ cung cấp cho khách hàng các dịch vụ chất lượng cao, bao gồm: huy động tiền gửi, tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu, thực hiện thanh toán trong nước trực tuyến, chuyển tiền trong và ngoài nước, cấp tín dụng cho các cá nhân và hộ gia đình, mua bán ngoại tệ, phát hành và thanh toán các loại thẻ tín dụng, thẻ rút tiền tự động, trả lương tự động với các giao dịch được thực hiện chỉ tại một cửa sẽ tạo ra sự thuận tiện và nhanh chóng cho khách hàng. Với 3 năm hoạt động và phát triển, Vietcombank Ba Đình đã tạo được uy tín rất lớn trong hoạt động kinh doanh, mở rộng nhiều lĩnh vực và quy mô hoạt động, liên kết với nhiều đối tác là khách hàng, ngân hàng và các tổ chức tài chính, kinh tế, tạo được nhiều kết quả trong kinh doanh: huy động vốn năm 2007 đạt hơn 1.164 tỷ VNĐ; dư nợ tín dụng đạt hơn 300 tỷ VNĐ; các mặt nghiệp vụ khác như thanh toán quốc tế, thanh toán điện tử ngân hàng và IBT online, kinh doanh ngoại tệ, thẻ…cũng không ngừng tăng trưởng, mức phát hành thẻ Visa ghi nợ đạt 250% kế hoạch được giao. 2.1.2.2. Bộ máy tổ chức Phòng Ngân quỹ Phòng kể toán thanh toán và dịch vụ Giám đốc chi nhánh Phó giám đốc Phòng quan hệ khách hàng Phòng hành chính nhân sự và tin học - Ban giám đốc gồm 2 người: + Bà Trịnh Huyền Minh – Giám đốc VCB Ba Đình là người điều hành chung mọi hoạt động của ngân hàng. + Bà Tạ Thị Thục Oanh – Phó Giám Đốc kiêm về kế toán ngân hàng có trách nhiệm điều hành mọi hoạt động của Ngân hàng khi Giám đốc đi vắng. - Phòng kế toán thanh toán và dịch vụ gồm 30 người thực hiên các chức năng sau: *Đối với kế toán tài chính + Bộ phận “ Xử lý nghiệp vụ chuyển tiền”: thực hiện các giao dịch chuyển tiền. + Bộ phận “Quản lý tài khoản”: Quản lý toàn bộ tài khoản khách hàng và các tài khoản nội và ngoại bảng tổng kết tài sản. + Bộ phận “Quản lý chi tiêu nội bộ”: Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến chi tiêu nội bộ và các nghiệp vụ khác. + Bộ phận “Thông tin khách hàng”: Phục vụ tài khoản khách hàng là tổ chức kinh tế. + Bộ phận “Kế toán giao dịch”: Xử lý các giao dịch liên quan đến tài khoản của các khách hàng là tổ chức kinh tế. *Đối với dịch vụ ngân hàng: + Huy động vốn tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi, phát hành séc cá nhân và các loại chứng từ có giá khác. + Thu hồi ngoại tệ tự do chuyển đổi, séc du lịch… + Chi trả kiều hồi, chuyển tiền nước ngoài cho các khách hàng cá nhân. + Thực hiện các dịch vụ bảo lãnh, chứng thư… - Phòng ngân quỹ gồm 6 người thực hiện các chức năng sau: + Thu chi các loại ngoại tệ, tiền VNĐ, giám định tiền thật, tiền giả. + Chuyển tiền mặt và séc du lịch đi tiêu thụ nước ngoài qua Vietcombank. + Quản lý kho tiền, quỹ nghiệp vụ, tài sản thế chấp, chứng từ có giá. + Điều chuyển và điều hòa tiền mặt VNĐ, ngoại tệ và các giấy tờ có giá trong nội bộ Vietcombank.. + Phân loại và thực hiện các giao dịch đối với tiền mặt trong lưu thông. + Thực hiện một số nhiệm vụ khác do Giám đốc giao. -Phòng quan hệ khách hàng gồm 13 người thực hiện các chức năng sau + Xác định nhóm khách hàng mục tiêu. + Lập kế hoạch khách hàng và thực hiện kế hoạch. + Đầu mối trong quan hệ với khách hàng. + Xác định giới hạn tín dụng đối với khách hàng và xây dựng chính sách khách hàng. + Phối hợp trong nội bộ ngân hàng để cung ứng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng. + Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc giao. -Phòng hành chính nhân sự và phòng tin học gồm 8 người thực hiện các chức năng về công tác tổ chức cán bộ, công tác hành chính, quản trị và thực hiện công tác nghiên cứu, phát triển công nghệ Ngân hàng, quản lý và bảo mật thông tin… 2.1.3.Đánh giá kết quả hoạt độngkinh doanh của VCB Ba Đình. 2.1.3.1. Tình hình huy động vốn của Ngân hàng Ngoại thương Ba Đình. Nguồn vốn đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của ngân hàng. Xuất phát từ tầm quan trọng của nguồn vốn, ngay từ đầu Chi nhánh luôn coi trọng công tác huy động vốn và xác định “ tăng trưởng nguồn vốn trên cơ sở đảm bảo an toàn vốn”. Tổng nguồn vốn huy động. Bảng 1: Tình hình nguồn vốn huy động của VCB Ba Đình. (Đơn vị: VND) Năm Chỉ tiêu 2005 2006 2007 Tổng vốn huy động 488.846.581.997 673.583.023.906 1.64.860.411.156 Tốc độ phát triển định gốc 100% 138% 238.3% Tốc độ phát triển liên hoàn 100% 138% 172.93% (Nguồn số liệu: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2005-2007) Trong giai đoạn 2005-2007, thị trường tiền tệ có nhiều biến động về lãi suất trong nước và trên thị trường quốc tế, tình hình lạm phát, cạnh tranh về huy động vốn giữa các TCTD trong nước gây ảnh hưởng tới công tác huy động vốn của các NHTM nói chung và hệ thống Vietcombank Việt Nam nói riêng, đặc biệt là giai đoạn cuối năm 2007 có sự biến động rất lớn về lãi suất tạo ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng. Trước các biến động về giá huy động vốn trên thị trường, Vietcombank Ba Đình đã chủ động áp dụng chính sách lãi suất linh hoạt trên cơ sở cung – cầu vốn thị trường, tích cực cải thiện chênh lệch lãi suất cho vay – huy động, cải thiện quản trị thanh khoản dựa trên hệ thống thông số an toàn và phát triển nhiều công cụ huy động vốn mới (chứng chỉ tiền gửi, lãi suất bậc thang, tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm bảo an...). Các biện pháp chủ động và linh hoạt trong điều chỉnh lãi suất đối với cá nhân, doanh nghiệp cả VND và ngoại tệ đã góp phần giảm thiểu tác động thị trường đối với việc huy động vốn, nâng cao hệ số sử dụng vốn, chất lượng quản trị vốn và sau cùng là hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Hiện nay, thị phần vốn huy động của VCB Ba Đình chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng vốn huy động của các ngân hàng trên địa bàn quận Ba Đình. Tổng nguồn huy động của VCB Ba Đình năm 2005 là 488.846.581.997 VND; năm 2006 là 673.583.023.906 VND và năm 2007 là 1.164.860.411.156 VND. Số liệu này cho ta thấy tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng tăng tương đối nhanh và đều đặn qua các năm, năm sau cao hơn năm trước. Nếu lấy năm 2005 làm gốc thì tổng nguồn vốn huy động năm 2006 tăng gấp 1,4 lần (tương đương với 138%), tăng tuyệt đối là 184.736.441.909 VND, năm 2007 tăng gấp hơn 2 lần (tương đương với 238,3%), tăng tuyệt đối là 676.013.829.159 VND. Nếu lấy năm sau so sánh năm trước ta thấy nguồn vốn huy động năm 2006 so với năm 2005 tăng lên 38%, năm 2007 so với năm 2006 tăng lên 72,93%. Tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn huy động qua các năm đã phản ánh đúng tình hình huy động vốn thực tế của VCB Ba Đình, ngay sau khi thành lập, VCB Ba Đình đã khẳng định vị thế và uy tín của một Ngân hàng lớn và có tiềm năng trong hoạt động, nguồn vốn huy động của Ngân hàng tăng trưởng mạnh qua các năm, và năm 2007 là năm tăng trưởng mạnh trong công tác huy động vốn, đạt trên 1.100 tỷ đồng thông qua các hình thức huy động tiền gửi (Không kỳ hạn, có kỳ hạn,..), tiền gửi thanh toán, tiết kiệm, phát hành giấy tờ có giá (kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu,..).. Đồ thị biểu diễn Tổng nguồn vốn huy động của VCB Ba Đình: Cơ cấu nguồn vốn huy động . Bảng 2: Cơ cấu nguồn vốn huy động theo kỳ hạn. (Đơn vị: VND) Năm Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Chỉ tiêu Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) Cơ cấu theo kỳ hạn 488,846,581,997 100.0% 673,583,023,906 100.0% 1,164,860,411,156 100.0% Huy động Không kỳ hạn 41,893,142,897 8.6% 95,943,675,862 14.2% 353,115,455,655 30.3% Vốn HĐ có kỳ hạn < 12 tháng 206,067,536,522 42.2% 299,416,130,567 44.5% 480,677,308,052 41.3% Vốn HĐ có kỳ hạn >= 12 tháng 240,885,902,577 49.3% 278,223,217,477 41.3% 331,067,647,449 28.4% Tổng vốn huy động có kỳ hạn 446,953,439,099 91.4% 577,639,348,044 85.8% 811,744,955,501 69.7% (Nguồn số liệu: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2005-2007) Bảng 2 cho thấy nguồn vốn huy động không kỳ hạn của VCB Ba Đình chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng nguồn vốn huy động nhưng là nguồn vốn huy động có sự tăng trưởng qua các năm, đặc biệt là năm 2007, nguồn vốn huy động không kỳ hạn chiếm 30,3% trong tổng nguồn vốn huy động. Năm 2005 nguồn vốn huy động không hỳ hạn là 41.893142.897 VND, chiếm tỷ trọng 8,6%. Năm 2006 nguồn vốn này là 95.943.675.862 VND, chiếm tỷ trọng 14,2%, tăng 129,02% so với năm 2005. Đến năm 2007 nguồn tiền này là 257.171.779.793 VND tăng 3,7 lần so với năm 2006. Nguồn vốn huy động không kỳ hạn có sự tăng trưởng nhanh cho thấy Ngân hàng VCB Ba Đình không những đã thực hiện tốt các dịch vụ thanh toán nhằm thu hút nguồn tiền gửi không kỳ hạn mà còn đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ thanh toán, thẻ thanh toán, thực hiện tiếp thị hiệu quả, phân phối và cung ứng dịch vụ tiện ích cho dân cư, tổ chức kinh tế. Tuy nhiên, đây là nguồn vốn có tính ổn định không cao vì khách hàng có thể rút ra để thực hiện thanh toán, do vậy Ngân hàng cần chủ động có các biện pháp đảm bảo nhu cầu thanh toán của người dân, tổ chức và đảm bảo hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nguồn vốn huy động không kỳ hạn có chi phí huy động vốn thấp hơn vốn huy động có kỳ hạn, nguồn vốn nằy tăng sẽ làm hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng tăng lên. Nguồn vốn huy động có kỳ hạn của ngân hàng cũng chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng nguồn vốn huy động, căn cứ vào số liệu về giá trị và tỷ trọng trong Bảng 2, ta thấy vốn huy động có kỳ hạn của VCB Ba Đình trong cả 3 năm đều chiếm lớn hơn 60%. Năm 2005, vốn huy động có kỳ hạn đạt 446,953,439,100 VND chiếm 91.4%; năm 2006: 577,639,348,044 VND chiếm 85.8% và năm 2007 đạt 811,744,955,501 VND chiếm 69.7% tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng. Tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn huy động có kỳ hạn đều chiếm một tỷ trọng lớn qua các năm thể hiện Ngân hàng đã thực hiện đã có chính sách lãi suất huy động phù hợp với điều kiện kinh tế, uy tín trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng ngày càng được nâng cao. Nguồn vốn này có tính chất ổn định, điều này giúp cho Ngân hàng chủ động hơn trong việc sử dụng nguồn vốn để cho vay, đầu tư các dự án phát triển tăng hiệu quả sử dụng nguồn vốn huy động. Năm 2007 tăng 40.53% ( số tuyệt đối 234.105.604.457 VND) so với năm 2006. Trong đó, nguồn vốn CKH 12T tăng gần 1,2 lần so với 2006. Nguồn vốn huy động có kỳ hạn 12 tháng tuy có sự tăng về giá trị nhưng tỷ trọng huy động vốn > 12 tháng có xu hướng giảm trong thời gian vừa qua, năm 2005: 240,885,902,577 VND chiếm 49.3% trong tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng, năm 2006: 278,223,217,477 VND, chiếm 41.3% ; năm 2007 đạt 331,067,647,449 VND chiếm 28.4%. Tỷ trọng vốn huy động giảm xuống có nguyên nhân do sự biến động về lãi suất huy động trong hệ thống ngân hàng (lãi suất cơ bản và lãi suất huy động chung trên thị trường) đặc biệt là khoảng thời gian 6 tháng cuối năm 2007, cuộc chạy đua giữa các ngân hàng về lãi suất nhằm tăng lượng vốn huy động dẫn đến tâm lý của người dân, khách hàng gửi tiền ở mức kỳ hạn ngắn để có thể thay đổi kỳ hạn dễ dàng. Nguồn vốn huy động có kỳ hạn > 12 tháng tuy có tính ổn định cao nhưng chí phí huy động vốn lớn nhất, nên việc giảm tỷ trọng nguồn vốn này trong tổng nguồn vốn cũng không làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng VCB Ba Đình. Nhìn vào bảng số liệu trên, ta cũng nhận thấy tỷ lệ huy động vốn theo kỳ hạn của Ngân hàng VCB Ba Đình khá hợp lý với nguồn vốn huy động < 12 tháng là chủ yếu, nguồn vốn không kỳ hạn có sự tăng trưởng và chiếm tỷ lệ ngày càng tăng trong tổng nguồn vốn huy động, nguồn vốn huy động có kỳ hạn trên 12 tháng giảm dần về tỷ trọng nhưng vẫn có sự tăng trưởng giá trị huy động cho thấy chính sách huy động vốn của ngân hàng linh hoạt, hoàn toàn phù hợp với nhu cầu thị trường trong từng thời kỳ qua đó thu hút một lượng vốn rất lớn trong nền kinh tế (đạt hơn 1.100 tỷ trong năm 2007). Biểu đồ biểu thị nguồn vốn huy động theo kỳ hạn của VCB Ba Đình. Biểu đồ tỷ trọng nguồn vốn huy động năm 2007 Cơ cấu nguồn vốn huy động theo thành phần kinh tế Bảng 3: Cơ cấu nguồn vốn huy động theo thành phần kinh tế. (Đơn vị: VND) Năm Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Chỉ tiêu Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) Cơ cấu theo thành phần kinh tế 488,846,581,997 100.0% 673,583,023,906 100.0% 1,164,860,411,156 100.0% Tiền gửi dân cư 460,164,261,459 94.1% 605,478,200,143 89.9% 807,002,847,405 69.3% TG TCKT, TCXH 27,407,646,693 5.6% 64,169,523,202 9.5% 328,796,938,474 28.2% TG, tiền vay các TCTD 0 0.0% - 0.0% 89,615,572 0.01% Huy động nguồn khác 1,274,673,845 0.3% 3,935,300,561 0.6% 28,971,009,705 2.5% (Nguồn số liệu: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2005-2007) Căn cứ vào số liệu tại Bảng 3, nguồn vốn huy động của VCB Ba Đình tập trung chủ yếu từ nguồn tiền huy động của dân cư, nguồn vốn huy động của dân cư luôn chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng (>70%). Năm 2005: 460.164.261.459 VND chiếm 94,1%; năm 2006 đạt 605.478.200.143 VND chiếm 89,9% và đến năm 2007 đạt 807.002.847.405 VND, chiếm 69,3% tổng nguồn vốn huy động. Tỷ trọng nguồn vốn huy động của dân cư có chiều hướng giảm qua các năm nhưng xét về giá trị huy động vốn lại có sự tăng trưởng cao. Tỷ trọng huy động vốn dân cư giảm là do có sự chuyển dịch và tăng trưởng của nguồn vốn huy động từ các tổ chức kinh tế và tổ chức xã hội, năm 2005 Ngân hàng VCB Ba Đình chỉ huy động được 27.407.646.693 VND từ các tổ chức, chiếm 5,6% tổng vốn huy động, năm 2006: 64.169.523.202 VND, chiếm 9,5% nhưng đến năm 2007 vốn huy động từ tổ chức đạt: 328.796.938.474 VND chiếm 28,2% tổng vốn huy động, đã có một sự tăng trưởng mạnh cả về tỷ trọng và giá trị, điều này cho thấy uy tín của Ngân hàng VCB Ba Đình tăng lên trong hoạt động kinh doanh. Các sản phẩm của ngân hàng: thanh toán, dịch vụ, ngân quỹ, thẻ,…. đang ngày càng phù hợp và đáp ứng được các nhu cầu hoạt động của các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội. Vốn huy động qua các nguồn khác của ngân hàng VCB Ba Đình: tiền vay từ các tổ chức tín dụng, tiền gửi ký quỹ, …. chiếm tỷ trọng thấp trong tổng nguồn vốn của ngân hàng. VCB Ba Đình đang xây dựng kế hoạch và chiến lược nhằm tăng trưởng nguồn vốn trên để phục vụ cho hoạt động tương ứng, cũng nhằm đa dạng các sản phẩm cung cấp cho khách hàng. Biểu đồ biểu diễn Vốn Huy Động theo thành phần kinh tế: Biểu đồ biểu diễn tỷ trọng vốn của các thành phần kinh tế năm 2007 2.1.3.2. Về công tác sử dụng vốn. Nếu nguồn vốn là điều kiện tiên quyết trong hoạt động của ngân hàng thì hoạt động tín dụng đóng vai trò không kém. Hoạt động tín dụng là hoạt động chủ yếu của NHTM, nó mang lại phần lớn thu nhập cho các ngân hàng. Chính vì lẽ đó, các NHTM luôn tìm cách đa dạng hóa các hình thức cho vay, một mặt để đáp ưng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế, mặt khác góp phần đem lại thu nhập cho Ngân hàng. Trong hoạt động tín dụng, Chi nhánh luôn thực hiện mục tiêu “tăng trưởng tín dụng gắn với nâng cao chất lượng tín dụng”. Bảng 4: Tổng dư nợ tín dụng của ngân hàng VCB Ba Đình. (Đơn vị: VND) Năm Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Chỉ tiêu Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) Tổng Dư nợ cho vay 163.492.587.302 210.880.463.298 28,98% 309.806.259.190 46,91% (Nguồn số liệu: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2005-2007) Số liệu ở bảng trên cho thấy tổng dư nợ cho vay từ năm 2005-2007 tăng lên. Năm 2005 dư nợ tín dụng: 163.492.587.302 VND, năm 2006 đạt 210.880.463.298 VND tăng 47.387.875.996 VND (tương đương 28,98%) so với năm 2005; đến năm 2007 tổng dư nợ là 309,806,259,190 VND, tăng 89% (tương đương 98,925,795,892 VND) so với năm 2006. Điều này cho thấy, sau 3 năm hoạt động mặc dù địa bàn hoạt động có tính canh tranh cao, các ngân hàng trên địa bàn liên tục hạ lãi suất cho vay để thu hút khách hàng nhưng với sự cố gắng chú trọng công tác tìm kiếm khách hàng, tạo lập quan hệ đối tác với nhiều công ty, tập đoàn, liên kết và mở rộng lĩnh vực cấp tín dụng, sản phẩm tín dụng đa dạng đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế, của tầng lớp dân cư nên kết quả hoạt động tín dụng của Ngân hàng VCB Ba Đình vẫn đạt mức tăng trưởng khá. Hiện tại Ngân hàng đã thu hút được một số khách hàng như Tập đoàn Vinashin, công ty FPT…. Biểu đồ thể hiện mức Tổng Dư Nợ cho vay qua các năm. Xét cơ cấu dư nợ cho vay theo thời gian. Bảng 5. Cơ cấu dư nợ cho vay theo thời gian. (Đơn vị: VND) Năm Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Chỉ tiêu Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) Cơ cấu theo kỳ hạn cho vay 163.492.587.302 100,00% 210.880.463.298 100,00% 309.806.259.190 100,00% Cho vay ngắn hạn 139.586.827.742 85,38% 174.902.295.161 82,94% 235.209.620.965 75,92% Cho vay trung hạn 23.905.759.559 14,62% 35.978.168.137 17,06% 57.023.638.225 18,41% Cho vay dài hạn - 0,00% - 0,00% 17.573.000.000 5,67% (Nguồn số liệu: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2005-2007) Qua Bảng 5 cho thấy cơ cấu dư nợ ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng dư nợ. Năm 2005 dư nợ ngắn hạn chiếm 85,38% trên tổng dư nợ; trong khi đó dư nợ đầu tư trung và dài hạn chỉ chiếm 14,62%; sang hai năm 2006, 2007 tỷ trọng đầu tư ngắn hạn có giảm nhẹ giao động trên 70% (năm 2006 chiếm 82,94% tổng dư nợ, năm 2007 chiếm 75,92% tổng dư nợ), tuy nhiên, dư nợ cho vay ngắn hạn của VCB Ba Đình luôn chiếm tỷ trọng cao do hoạt động kinh doanh trên địa bàn quận Ba Đình, một quận trung tâm thành phố với nhiều tổ chức hoạt động kinh doanh, hộ tiểu thương buôn bán nhỏ do vậy, hoạt động tín dụng của Ngân hàng chủ yếu trong ngắn hạn, không những phù hợp với mô hình hoạt động và nhu cầu của khách hàng mà còn hợp lý với nguồn vốn Ngân hàng huy động được. Dư nợ đầu tư trung và dài hạn lại chiếm tỷ lệ thấp trong tổng dư nợ của ngân hàng nhưng có xu hướng tăng lên, năm 2006 tăng 17,06% (tương ứng là 12.072.408.578 VND) so với năm 2005, năm 2007 dư nợ cho vay trung dài hạn đạt 74.596.638.225 VND, chiếm 24,08% (tương ứng là 38.618.470.088 VND) so với năm 2006. Ngân hàng VCB Ba Đình đã biết kết hợp giữa nguồn vốn ngắn hạn với huy động vốn trung dài hạn để bổ sung cho nhau, hoạt động đầu tư vào các dự án dài hạn của ngân hàng có xu hướng tăng trưởng cao. Biểu đồ thể hiện Cơ Cấu Dư Nợ cho vay theo kỳ hạn. Xét cơ cấu dư nợ cho vay theo ngành. Bảng 6. Cơ cấu dư nợ cho vay theo ngành. Năm Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Chỉ tiêu Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) Cơ cấu cho vay theo ngành 163.492.587.302 100,00% 210.880.463.298 100,00% 309.806.259.190 100,00% Cho vay sản xuất kinh doanh, DV 129.019.896.429 78,91% 163.037.244.217 77,31% 228.702.418.791 73,82% Cho vay tiêu dùng 13.955.891.300 8,54% 17.933.320.320 8,50% 27.682.336.000 8,94% Cho vay đầu tư Bất động sản - 0,00% - 0,00% 4.693.500.000 1,51% Cho vay xuất nhập khẩu 20.381.910.325 12,47% 29.686.252.388 14,08% 45.171.576.301 14,58% Cho vay khác (phát hành thẻ thanh toán) 134.889.248 0,08% 223.646.373 0,11% 469.287.309 0,15% (Nguồn số liệu: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2005-2007) Số liệu bảng trên cho thấy: hoạt động tín dụng của ngân hàng VCB Ba Đình tập trung chủ yếu cho vay các hoạt động sản xuất kinh doanh và cung cấp dịch vụ, đây là hoạt động phổ biến của các đơn vị, tổ chức, hộ kinh doanh trên địa bàn quận Ba Đình. Tỷ trọng cho vay trong ngành này khá ổn định (khoảng > 70% tổng dư nợ của ngân hàng). Năm 2005: 129.019.896.429 VND chiếm 78,91%; năm 2006: 163.037.244.217 VND chiếm 77,31%, đến năm 2007 dư nợ cho vay đạt 228.702.418.791 VND chiếm 73,82% tổng dư nợ cho vay của ngân hàng VCB Ba Đình. Cho vay tài trợ thanh toán hoạt động xuất nhập khẩu sản phẩm, dịch vụ của tổ chức kinh tế cũng là một thế mạnh của ngân hàng VCB Ba Đình, dư nợ cho vay đối với ngành này chiếm một tỷ lệ khá lớn và khá ốn định trong tổng dư nợ cho vay của ngân hàng. Năm 2005: 20.381.910.325 VND, chiếm 12,47%; năm 2006, đạt 29.686.252.388 VND chiếm 14,08% và đến năm 2007: 45.171.576.301 VND, chiếm 14,58% tổng dư nợ tín dụng của ngân hàng. Cùng với đầu tư sản xuất kinh doanh, dịch vụ, tài trợ thanh toán xuất nhập khẩu là lĩnh vực đầu tư lớn và đem lại nguồn lợi đáng kể cho hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng. Bên cạnh đó, hoạt động cho vay tiêu dùng và cung cấp tín dụng cho hoạt động đầu tư bất động sản, thực hiện thanh toán, cho vay thanh toán qua phát hành thẻ của Ngân hàng VCB Ba Đình cũng đạt được những kết quả nhất định, đa dạng sản phẩm tín dụng, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, dân cư trên địa bàn quận. Biểu đồ thể hiện Cơ Cấu Cho Vay theo ngành Xét về chất lượng tín dụng. Bảng 7: Chất lượng tín dụng tại VCB Ba Đình. (Đơn vị: VND) Năm Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Chỉ tiêu Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) Nợ quá hạn - 0,00% - 0,00% 3.087.140.789 1,00% (Nguồn số liệu: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2005-2007) Đầu năm 2007, Chi nhánh cấp II Ba đình được điều chỉnh và nâng cấp thành các chi nhánh trực thuộc Vietcombank Việt Nam (chi nhánh cấp I.) nên khoản nợ quá hạn của Chi Nhánh đều được kết chuyển hạch toán sang VCB Hà Nội, do vậy, khoản nợ quá hạn của năm 2005 và 2006 không được trình bày và nhận xét ở đây. Theo bảng trên, năm 2007 tổng dư nợ tín dụng của VCB Ba Đình là 309.806.259.190 VND nhưng nợ quá hạn của Ngân hàng là 3.087.140.789 VND, chỉ chiếm khoảng 1% tổng dư nợ cho vay, điều này cho thấy ngân hàng VCB Ba Đình đã đảm bảo được chất lượng lượng tín dụng tốt. Cụ thể, ngân hàng đã thực hiện các giải pháp đồng bộ: Nâng cao chất lượng thẩm định khách hàng, thẩm định dự án đầu tư, nhu cầu vay vốn. Đầu tư những dự án có hiệu quả. Tăng cường kiểm tra trước và sau khi cho vay. Thành lập tổ thu nợ do một thành viên ban giám đốc trực tiếp chỉ đạo. Giao, khoán chỉ tiêu thu nợ xấu đến từng cán bộ tín dụng. Giám sát và quản lý các khoản nợ xấu nhằm thu hồi tối đa các khoản nợ đã quá hạn. 2.1.3.3. Tình hình kết quả hoạt động kinh doanh tại ngân hàng VCB Ba Đình. Bảng 8. Kết quả tài chính của VCB Ba Đình. (Đơn vị: VND) Năm Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Chỉ tiêu Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) Thu nhập 23,935,701,994 40,334,963,712 68.51% 82,186,156,678 103.76% Thu từ lãi cho vay & các khoản có tính chất lãi 19,173,810,070 80.11% 34,143,260,144 84.65% 70,141,967,916 85.35% Thu ngoài lãi 4,761,891,924 19.89% 6,191,703,568 15.35% 12,044,188,761 14.65% Chi phí hoạt động kinh doanh 15,265,707,584 29,506,187,258 93.28% 51,026,507,797 72.93% Chi phí trả lãi 10,789,359,680 70.68% 23,354,617,607 79.15% 40,388,294,393 79.15% Chi phí ngoài lãi 4,476,347,904 29.32% 6,151,569,652 20.85% 10,638,213,404 20.85% Lợi nhuận kinh doanh 8,669,994,409 10,828,776,453 24.90% 31,159,648,880 187.75% (Nguồn số liệu: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2005-2007) Nhìn vào bảng số liệu tình hình kết quả kinh doanh của Ngân hàng VCB Ba Đình trong 3 năm từ 2005-2007 ta thấy: hoạt động kinh doanh của Ngân hàng có sự tăng trưởng rất lớn cả về giá trị và tỷ trọng tăng trưởng. Năm 2005, thu nhập của Ngân hàng đạt: 23,935,701,994 VND, đến năm 2006, thu nhập là: 40,334,963,712 VND tăng 68.51% so với năm 2005; năm 2007 thu nhập từ hoạt động kinh doanh: 82,186,156,678 VND tăng so với năm 2006 là 103.76%. VCB Ba Đình là một Ngân hàng hoạt động thuần tuý các nghiệp vụ Ngân hàng truyền thống do vậy, thu nhập từ các khoản thu từ lãi cho vay, các khoản có tính chất lãi chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng thu của Ngân hàng (trên 80%). Bên cạnh đó, khoản thu ngoài lãi (thu từ các khoản phí thanh toán, phí cung cấp dịch vụ, …..) cũng chiếm một tỷ trọng khá trong tổng thu nhập (khoảng 20%), giá trị thu nhập khá lớn, năm 2005: 4,7 tỷ đồng, năm 2006: 6,2 tỷ đồng và đến năm 2007: 12 tỷ đồng. Hoạt động của VCB Ba Đình khá đa dạng trong rất nhiều lĩnh vực ngành nghề kinh doanh. Tương tự thu nhập, chi phí của ngân hàng chủ yếu là chi phí trả lãi huy động và các khoản có tính chất thanh toán lãi. Giá trị có tăng lên trong 3 năm nhưng xét về tỷ trọng thì chi phí có sự giảm xuống, nguyên nhân do Ngân hàng đã có sự linh hoạt trong việc huy động vốn, phân bổ theo kỳ hạn hợp lý, đồng thời tạo ra nhiều kênh huy động vốn một cách hợp lý, giảm thiểu chi phí văn phòng, sắp xếp cán bộ nhân viên, phát huy năng lực làm việc của cán bộ giảm thiểu các chi phí. Nâng cao hiệu quả trong hoạt động kinh doanh. Lợi nhuận kinh doanh của Ngân hàng có sự tăng trưởng cao cả về giá trị và tỷ trọng tăng trưởng, năm 2005, lợi nhuận Ngân hàng đạt: 8,669,994,409 VND, năm 2006: 10,828,776,453 VND tăng 24.90% so với năm 2005 và đến năm 2007, lợi nhuận kinh doanh của Ngân hàng đạt 31,159,648,880 VND, tăng 187.75% so với năm 2006. 2.2. Thực trạng huy động vốn trong dân cư tại VCB Ba Đình. 2.2.1. Quy mô nguồn vốn huy động từ dân cư. Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng thể hiện nhiệm vụ cơ bản nhất của Ngân hàng đó là huy động vốn và cho vay vốn. NHTM là cầu nối giữa các cá nhân và tổ chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm vào nơi khan thiếu. Hoạt động của NHTM phục vụ cho mọi nhu cầu về vốn của mọi tầng lớp dân chúng, loại hình doanh nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội Huy động vốn là một trong những hoạt động hết sức đặc thù của NHTM, chính đặc thù này đã giúp cho Ngân hàng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế: là trung gian là cầu nối về vốn giữa các thành phần kinh tế về vốn, cung ứng vốn cho nền kinh tế,.. Thực tế cho thấy nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững khi nguồn tiền để đầu tư chủ yếu phải là từ tiết kiệm của dân chúng, tiết kiệm của nền kinh tế. Do vậy, muốn tăng trưởng phải đầu tư, muốn có vốn đầu tư phải có tiết kiệm, trong đó huy động vốn tiết kiệm trong dân là hết sức quan trọng, là nhiệm vụ của hệ thống NHTM nói chung và của Ngân hàng VCB Ba Đình nói riêng. Tăng trưởng nguồn vốn huy động từ dân cư luôn được Ban lãnh đạo cũng như tập thể cán bộ công nhân viên chi nhánh VCB Ba Đình coi là nhiệm vụ quan trọng và chủ chốt. Hơn nữa, đây không phải là nghiệp vụ độc lập mà nó còn có mối quan hệ mật thiết đối với các nghiệp vụ khác như sử dụng vốn, thanh toán chuyển tiền… Nguồn vốn phải luôn phù hợp với mục đích nhu cầu sử dụng vốn thì hoạt động kinh doanh của ngân hàng mới thực sự hiệu quả. Nhận thức được điều đó, Ngân hàng đã tích cực đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng nguồn vốn để thu hút được ngày càng nhiều hơn nguồn vốn nhàn rỗi từ khu vực dân cư. Bởi lẽ, chỉ tính riêng địa bàn quận Ba Đình, nguồn vốn nhàn rỗi trong dân là rất lớn, trong khi đó số lượng tiền gửi tiết kiệm của dân chúng vào Ngân hàng VCB Ba Đình còn rất khiêm tốn. Trong những._.tiện, nhanh chóng.. Nếu Ngân hàng bắt khách hàng phải làm thủ tục rườm rà, quá lâu thì sẽ gây cho khách hàng tâm lý ngại, phiền hà khi đến giao dịch với ngân hàng, mặt khác sẽ làm mất nhiều thời gian của khách hàng. Vì vậy để nâng cao hiệu quả của nghiệp vụ huy động vốn nói chung và huy động vốn dân cư nói riêng đòi hỏi Ngân hàng phải cải cách các thủ tục sao cho đơn giản, rõ ràng, thanh toán nhanh, hiệu quả nhưng vẫn đảm bảo tính an toàn, tíêt kiệm thời gian cho cả hai bên. .Ngoài ra, căn cứ vào thực tiễn xảy ra các giao dịch, Ngân hàng nên xây dựng quy định về thời gian tối đa giao dịch. Trong thời kỳ Ngân hàng tăng cường huy động vốn (phát hành kỳ phiếu) thì có thể tăng lượng nhân viên làm công tác giao dịch với khách nhằm đẩy nhanh tốc độ làm việc, tránh cho khách hàng phải chờ đợi quá lâu. 3.2.3.2. Mở rộng mạng lưới các phòng giao dịch. Một trong các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn dân cư là việc mở rộng mạng lưới các phòng giao dịch. Thực hiện biện pháp này, Ngân hàng nên mở thêm các điểm giao dịch nhận tiền gửi dân cư trên địa bàn có điều kiện giap dich thuận lợi, cơ sở vật chất khang trang, công nghệ tin học và phương tiện làm việc được trang bị đầy đủ phù hợp với quy trình nghiệp vụ. Tại các phòng giao dịch khu vực, nếu trên địa bàn hoạt động có dự án đầu triển khai nên thành lập các tổ công tác lưu động để vân động và nhân tiền gửi dân cư khi họ nhận tiền đền bù cho giải phóng mặt bằng. 3.2.3.3. Thời gian làm việc. Đối với những vùng đô thị mà đại bộ phận dân số là cán bộ công nhân viên thì việc xem xét lại giờ làm việc của Ngân hàng là rất quan trọng. Hầu như tất cả các ngân hàng đều làm việc theo giờ hành chính và nghỉ theo chế độ của các cơ quan nhà nước. Do đó một viên chức nếu có nhu cầu gửi hoặc rút tiền ở Ngân hàng sẽ phải ngừng công việc tại cơ quan một thời gian, điều đó sẽ gây ra không ít rắc rối và làm ẩnh hưởng tới công tác huy động vớn của Ngân hàng. Vì vậy để nâng cao hiệu quả huy động vốn, nên chăng Ngân hàng cần tăng thêm giờ làm việc, ngày làm việc để đáp ứng toàn bộ nhu cầu của bộ phần khách hàng này. Ví dụ như: tổ chức làm việc ngoài giờ theo ca, chẳng hạn vào lúc chiều tối từ 16h-18h (biện pháp này đang được ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển nông thôn triển khai), vào các ngày lễ, tết, chủ nhật… 3.2.4. Nâng cao vị thế và uy tín của Ngân hàng. Hiện nay lượng tiền mặt mà người dân giữ để phục vụ chi tiêu rất lớn, do nhiều nguyên nhân khác nhau người dân không muốn gửi các khoản tiền này vào Ngân hàng trong đó lý do lòng tin của người dân đối với Ngân hàng là một trong những vấn đề chính, ảnh hưởng đến sự sống còn của Ngân hàng. Ngân hàng có hoạt động được hay không là nhờ phần lớn vào lòng tin của dân chúng. Do vậy, để thu hút khách hàng đến với mình, các NHTM phải có các biện pháp để nâng cao uy tín của mình, từ đó sẽ tạo ra được các lòng tin nơi dân chúng. Sau đây là một số biện pháp để tạo lòng tin nơi dân chúng: 3.2.4.1. Tham gia bảo hiểm tiền gửi. Trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng, rủi ro xảy ra là điều không thể tránh khỏi. Vì vậy sự an toàn của các NHTM luôn là mối quan tâm hàng đầu của các cổ đông, các nhà điều hành và đặc biệt là đối với người gửi tiền, vì vậy phần lớn vốn kinh doanh của Ngân hàng là vốn huy động từ bên ngoài. Để lấy được niềm tin từ người gửi tiền đồng thời bảo vệ lợi ích cho người gửi tiền tránh được những tổn thất khi Ngân hàng phá sản. Các công ty bảo hiểm là người đứng ra chịu trách nhiệm chi trả toàn bộ tiền cho người gửi tiền trong giới hạn bảo hiểm. Vì vậy, lợi ích của việc Ngân hàng tham gia bảo hiểm tiền gửi là bảo vệ nguời gửi tiết kiệm khi họ gửi tiền vào Ngân hàng, làm cho người gửi tiền sẽ cảm thấy an toàn, tin tưởng vào Ngân hàng và như vậy sẽ khẳng định uy của Ngân hàng trên thương trường. 3.2.4.2. Nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật. Mặc dù trước đây, một số Ngân hàng đã lợi dụng tâm lý người dân là chú trọng vào bề ngoài, mặt bằng của Ngân hàng để hoạt động phi pháp và trong điều kiện hiện nay cơ sở vật chất vẫn còn là một trong những cơ sở khá vững để tạo niềm tin của khách hàng. Vì vậy, từng bước nâng cấp VCB Ba Đình trở thành Ngân hàng có cơ sở vật chất vững mạnh, trụ sở làm việc khàng trang, sạch đẹp, phương tiện làm việc hiện đại sẽ gây cho người gửi tiền cảm giác an tâm hơn, từ đó giúp cho Ngân hàng huy động được nhiều vốn hơn. 3.2.4.3. Công khai báo cáo tài chính của Ngân hàng. Nếu Ngân hàng chỉ chú trọng về mặt cơ sở vật chất thôi chỉ chưa đủ mà một vấn đề cũng không kém phần quan trọng để nâng cao uy tín của Ngân hàng là phải báo cáo công khai hiệu quả hoạt động của mình thông qua các báo cáo tài chính, kế toán… đã qua kiểm toán trên các phương tiện đại chúng cơ sở để mọi người đều biết. Như vây, thì mới có cơ sở vững chắc để người dân tin chứ chỉ nói là hoạt động hiệu quả thì người dân sẽ không biết được hiệu quả như thế nào, gây nên tâm lý nghi ngờ trong dân chúng, tạo nên ảnh hưởng không tốt đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. 3.2.5. Đổi mới phong cách giao dịch. Như chúng ta biết, quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ Ngân hàng diễn ra đồng thời với quá trình tiêu thụ. Sản phẩm huy động vốn dân cư cũng có đặc tính chung như bất kỳ sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng. Điều đó có nghĩa là quá trình tạo ra sản phẩm huy động vốn dân cư phải có sự tham gia đồng thời của ba yếu tố: Cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ; đội ngũ cán bộ nhân viên Ngân hàng và khách hàng của Ngân hàng. Nếu coi các yếu tố về cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ của các Ngân hàng là ngang nhau thì vấn đề còn lại là thông qua phong cách và thái độ phục vụ của các cán bộ Ngân hàng đối với khách hàng sẽ quyết định tới sự thành công hay thất bại của việc tạo ra sản phẩm huy động vốn dân cư. Nói cách khác đội ngũ cán bộ làm công tác huy động dân cư là những người trực tiếp cung ứng sản phẩm, dịch vụ của Ngân hàng ra thị trường, là người trực tiếp quyết định tới chất lượng của sản phẩm đó, đồng thời là người trực tiếp giải quyết các mối quan hệ giữa Ngân hàng và khách hàng. Do đó, dưới con mắt của khách hàng, đội ngũ cán bộ nhân viên Ngân hàng là người đại diện cho Ngân hàng. Từ những lý do trên cho thấy việc đổi mới phong cách giao dịch trong huy động vốn dân cư là việc làm cần thiết, đòi hỏi các cán bộ phải quán triệt và thực hiện tốt nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn cho Ngân hàng. Các nội dung đổi mới phong cách giao dịch bao gồm: Cán bộ giao dịch phải có cung cách phục vụ nhanh chóng, chính xác, tận tình, chu đáo. Trong giải quyết công việc đòi hỏi nhiều tính chủ động, sang tạo, khả năng nắm bắt thông tin nhanh, nhạy, am hiểu khách hàng, có năng lực tiếp thị… Cán bộ làm công tác huy động vốn dân cư phải luôn giữ đúng thời gian giao dịch với khách hàng. Điều này thể hiện sự tôn trọng khách hàng. Thực hiện phương châm: “ Phục vụ đến người khách cuối cùng”, sẵn sàng làm việc thêm giờ kể cả ngày nghỉ khi công việc yêu cầu. Nắm vững nhiệm vụ và thao tác nghiệp vụ của bản thân, của bộ phận mình làm việc, cùng hỗ trợ nhau để giải quyết công việc nhanh chóng, an toàn, hiệu quả, tạo niềm tin đối với khách hàng. Trong giao dich với khách hàng phải tạo ra sự đồng cảm và lòng tin với khách hàng. Để gây thiện cảm với khách hàng, cán bộ giao dịch cần quan tâm tới các vấn đề cụ thể sau: Trang phục đến nơi làm việc phải gọn gàng, lịch sự, kín đáo; khi xưng hô với khách hàng với đúng mực, tôn trọng, nói năng ý nhị, khiêm tốn, nhẹ nhàng. Biết lắng nghe những ý kiến đóng góp của khách hàng. Hướng dẫn khách hàng đầy đủ các thủ tục cần thiết, không được tự động đặt thêm những yêu cầu mới gây phiền hà cho khách hàng. Giữ bí mật những thông tin trong mọi giao dịch cũng như số dư tiền gửi của khách hàng. Cán bộ là công tác huy động vốn dân cư phải là những cán bộ Marketing tốt nhất. Với thế mạnh là thường xuyên được tiếp xúc với nhiều đối tượng khách hàng, cán bộ làm công tác huy động vốn dân cư phải luôn biết tận dụng mọi cơ hội quảng cáo, giới thiệu về Ngân hàng mình, để hình ảnh Ngân hàng trở nên gắn bó, không thể thiếu trong tâm trí khách hàng. Để làm tốt những việc trên, một mặt Ngân hàng cần quan tâm hơn nữa tới việc đào tạo nâng cao kiến thức nnghiệp vị chuyên môn cho các cán bộ huy động vốn như: kiến thức Marketing ngân hàng, chương trình tâm lý khách hàng, trình độ sử dụng máy vi tính…Mặt khác cần đẩy mạnh công tác tự đào tạo trong nội bộ phòng, để các thành viên học tập thêm kiến thức của những bộ phận công việc liên quan ngoài nghiệp vụ chính đã được phân công để có thể hỗ trợ nhau trong công việc. Ngoài ra, Ngân hàng nên có chế độ quan tâm khuyến khích thích đáng bằng lợi ích vật chất đối với cán bộ thực sự có thành tích trong công tác huy động vốn. 3.2.6. Hoàn thiện chính sách khác hàng. Ngân hàng là một doanh nghiệp đặc biệt hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, để có thể tồn tại và giữ vị thế của mình trong cạnh tranh khắc nghiệt của nền kinh tế thị trường thì bất cứ NHTM nào cũng mong muốn đạt được các mục tiêu: Lợi nhuận, đảm bảo an toàn vốn trong kinh doanh, tạo lập thế lực trên thị trường. Sự cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh của NHTM ngày càng thể hiện phong phú, đa dạng, đó là cạnh tranh về thị trường vốn, về lãi suất và dịch vụ ngân hàng, về đổi mới công nghệ và một sự cạnh tranh không thể thiếu được đó là cạnh tranh về khách hàng. Vì khách hàng là một trong những yếu tố cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển của một NHTM trong hoạt động kinh doanh, do đó mỗi ngân hàng phải có chiến lược riêng biệt để thu hút khách hàng về mình. Để thu hút ngày càng nhiều nguồn tiền gửi dân cư thì cần phải tiến hành nhiều biện pháp nhưng ở đây chỉ đề cập đến một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách khách hàng tiền gửi dân cư tại chi nhánh VCB Ba Đình Hà Nội. 3.2.6.1 Hoàn thiện chính sách quyền lợi khách hàng: - Khách hàng đến giao dịch phải được các giao dịch viên của bàn tiết kiệm đón tiếp nhiệt tình, lịch sự và tư vấn các vấn đề có liên quan đến việc gửi, rút tiền trước hạn và khi đến hạn cũng như loại hình vốn huy động hiện có (tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu), thời hạn, lãi suất huy động của từng loại tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu…phù hợp với nhu cầu của khách hàng. - Trong thời gian gửi tiền tiết kiệm, trái phiếu, kỳ phiếu tại Ngân hàng nếu có nhu cầu sử dụng tiền đột xuất thì khách hàng được dung sổ tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu để cầm cố vay tiền với lãi suất ưu đãi. - Đối với khách hàng có món tiền cần gửi vào tài khoản, trái phiếu, kỳ phiếu trên 1 tỷ VND nếu có nhu cầu vận chuyển tiền đến các phòng giao dịch hay chi nhánh ngân hàng thì Ngân hàng sẽ bố trí phương tiện vận chuyển miễn phí kịp thời. - Nếu khách hàng có nhu cầu rút tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu bị ốm nặng đột xuất nên không trực tiếp đến các phòng giao dịch hay chi nhánh ngân hàng để rút được, Ngân hàng có thể cử cán bộ đủ thẩm quyền ( trưởng phòng hay kiểm soát viên) đến thăm hỏi và mang chứng từ hoặc các giấy tờ có liên quan trực tiếp gặp chủ sở hữu sổ tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu để giải quyết kịp thời. - Chủ sở hữu tiết kiệm, trái phiếu, kỳ phiếu chết: khi thân chủ họ đến các bàn tiết kiệm khai báo phải được các giao dịch viên hướng dẫn thủ tục đầy đủ, cẩn thận, đúng quy định và tiến hành thụ lý với thời gian ngắn nhất (5 ngày kể từ khi nhận đủ thủ tục giấy tờ theo quy định hiện hành). - Khi mất sổ tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu khách hàng làm thủ tục báo mất phải được các giao dịch viên hướng dẫn chu đáo và xử lý các nghiệp vụ cần thiết nhanh chóng đúng quy trình. - Số dư tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu của khách hàng phải được Ngân hàng đảm bảo giữ bí mật và an toàn. 3.2.6.2. Cần có một chính sách khuyến mại tốt. Khuyến mại là một hình thức khuyến khích lợi ích vật chất và tinh thần đối với người gửi tiền vào Ngân hàng. Hiện nay, Ngân hàng VCB Ba Đình đã sử dụng phương thức khuyến mại để khuyến khích người dân gửi tiền vào Ngân hàng như tặng quà cho các khách hàng có số dư tiền gửi lớn (không loại trừ các hình thức gửi) vào các dịp Tết…những hình thức này cần tiếp tục duy trì. Ngoài ra để khuyến khích khách hàng đến với Ngân hàng và tạo mối quan hệ khăng khít giữa Ngân hàng và khách hàng, Ngân hàng VCB Ba Đình có thể thực hiện thêm một số hình thức khuyến mãi sau: Tổ chức các đợt sổ xố có giải thưởng cao như nhà ở, xe máy, du lịch… Ngoài ra điều quan trọng là các tặng phẩm còn mang ý nghĩa tinh thần gắn bó người gửi tiền với Ngân hàng. Đối với các điểm giao dịch mới khai trương và các đợt phát hành kỳ phiếu, trái phiếu mới: Có nhiều lọai quà khuyến mãi bằng hiện vật có giá trị từ 20.000VND – 50.000VND cho một số lượng khách hàng nhất định. Quà khuyến mãi thường xuyên: Khi có nhu cầu về vốn tuỳ từng thời kỳ, Ngân hàng nên có quà khuyến mãi đối với khách hàng gửi tiền tiết kiệm, kỳ phiếu. Ví dụ: các mức quà từ 50.000- 100.000 VND ( bằng hiện vật) đối với mức gửi từ 50 triệu VND và 5000 USD trở lên, thời hạn từ 6 tháng trở lên. Có quà kỷ niệm đối với khách hàng truyền thống, khách hàng có số dư tiền gửi lớn từ 2 năm trở lên. Ví dụ: Khách hàng có số dư tiết kiệm, kì phiếu lớn hơn 200 triệu VND hoặc 20.000 USD. Hàng năm Ngân hàng VCB Ba Đình nên có lịch năm mới tặng khách hàng có món tiền gửi lớn, khách hàng truyền thống đến giao dịch gửi, rút tiền tại các điểm nhận tiền gửi tiết kiệm vào những ngày cuối năm. 3.2.7. Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, quảng cáo. Ngày nay, việc mở rộng hoạt động của Hệ thống Ngân hàng thông qua việc khuyếch trương, quảng cáo, tuyên truyền là việc làm rất cần thiết. Với phương châm “Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam luôn mang đến cho bạn sự thành đạt”, Ngân hàng phải làm sao cho mọi người biết đến sự hoạt động của mình, thấy được lợi ích khi giao dịch với Ngân hàng. Phải thừa nhận rằng công tác tuyên truyền hoạt động ngân hàng ở Việt Nam trong thời gian qua đã được triển khai trên bề rộng, sử dụng số kinh phí không nhỏ nhưng hiệu quả tuyên truyền chưa cao. Vì vậy, trong công tác tuyên truyền, các Ngân hàng thương mại cần chú ý những điểm dưới đây: - Không nên thực hiện quảng cáo tràn lan mà nên tập trung vào quảng cáo một số dịch vụ nhất định như lãi suất tiền gửi, hình thức gửi, sử dụng séc, thẻ thanh toán, tiện ích của việc mở tài khoản cá nhân... - Đa dạng hoá các hình thức quảng cáo như quảng cáo trên truyền hình, đài phát thanh, báo, tạp chí, qua điện thoại, áp phích nơi công cộng... - Nội dung và hình ảnh quảng cáo phải tác động thẳng đến tâm lý và lợi ích của người dân. - Thực hiện khuyến mại theo đợt dưới nhiều hình thức như quay sổ số theo số tài khoản, lãi suất ưu đãi đối với khách hàng giao dịch thường xuyên, khách hàng đặc biệt. Tuy nhiên hoạt động tuyên truyền của Ngân hàng phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế của đất nước và khả năng nhận biết của dân chúng. 3.2.8. Khuyến khích mở tài khoản cá nhân. Hiện nay, theo thống kê lượng tiền mặt người dân nắm giữ để phục vụ chi tiêu rất lớn. Do vậy, một trong các biện pháp để thu hút được lượng tiền mặt này vào Ngân hàng là các Ngân hàng nên khuyến khích dân cư mở tài khoản cá nhân, trên cơ sở đó có thể sử dụng séc một cách rộng rãi. Tại Ngân hàng VCB Ba Đình, việc mở tài khoản cá nhân đã được thực hiện và đạt được kết quả, tuy nhiên đây là hình thức mới, vì vậy để khuyến khích hơn nữa việc mở tài khoản cá nhân, Ngân hàng VCB Ba Đình nên thực hiên: Tuyên truyền mạnh mẽ trên các phương tiện nthông tin đại chúng về lợi ích của việc mở tài khoản cá nhân tại Ngân hàng. Họ được hưởng lãi suất như thế nào, được rút tiền tiền mặt trên tại khoản dễ dàng, có thể phát hành séc cá nhân để thanh toán tiền điện, tiền nước…từ đo giảm nhu cầu chi tiêu bằng tiền mặt, hạn chế được rủi ro khi mất mát tiền. Bên cạnh đó cần tuyên tryền, giải thích rõ nội dung thủ tục mở tài khoản tiền gửi và sử dụng séc cá nhân để nhân dân hiểu và tự nguyện mở tài khoản. Nếu thực hiện được những điều trên thì sẽ thu hút được người dân mở tài khoản tại Ngân hàng. Do đó Ngân hàng sẽ huy động được thêm nguồn vốn tiềm tang to lớn trong các tầng lớp dân cư với chi phí rẻ hơn. 3.2.9. Hiện đại hoá công nghệ huy động vốn. Một biện pháp quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác huy động đặc biệt là trong thời điểm hiện tại khi mà khoa học công nghệ đang phát triển như vũ bão và sự cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt thì các ngân hàng cần hiện đại hoá công nghệ theo tiêu chuẩn quốc tế với trang thiết bị hiện đại và có trình độ tự động hoá cao. Áp dụng công nghệ ngân hàng mới và đổi mới cơ sở vật chất kỹ thuật, trang bị máy vi tính, nghiên cứu đưa ra những sản phẩm phần mềm phù hợp với công tác huy động vốn dân cư. Cung cấp nhiều dịch vụ tiện ích cho khách hàng như rút tiền tự động tại máy ATM, giao dịch tại nhà… Toàn bộ hệ thống Ngân hàng nên nhanh chóng thiết lập hệ thống thanh toán tự động liên kết quốc gia giữa các Ngân hàng với nhau để áp dụng hình thức gửi tiền một nơi có thể rút ra ở nhiều nơi, tạo thuận lợi cho khách hàng. 3.3. Một số kiến nghị nhằm đảm bảo tính khả thi của giải pháp. 3.3.1. Kiến nghị với Chính phủ - Nhà nước với cơ quan chức năng của mình đảm bảo điều tiết một nền kinh tế thị trường phát triển ổn định, tránh các đột biến làm giảm bất thường giá trị của các khoản tiền gửi tại Ngân hàng, tạo nên sự mất ổn định về tâm lý, mục đích gửi tiền, khiến cho người dân hướng tới những giao dịch tiền tệ ngoài Ngân hàng. - Nhà nước với cơ quan chức năng, quyền lực của mình phải xác định được môi trường pháp lý đảm bảo tính đồng bộ và ổn định nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, đáp ứng được nguyện vọng chung của người bỏ vốn, nhất là mong đợi có hệ thống pháp lý rõ ràng, đầy đủ và bình đẳng. - Có chính sách khuyến khích đối với hệ thống Ngân hàng trong nước để về lâu dài có đủ sức mạnh cạnh tranh với hệ thống ngân hàng nước ngoài và tăng cường vai trò chủ đạo của hệ thống ngân hàng trong nước đối với nền kinh tế. Việc đổi mới, hiện đại hóa công nghệ ngân hàng phải được thực hiện đồng bộ giữa các ngân hàng mới phát huy được hiệu quả hoạt động. Mặt khác, việc này đòi hỏi nhiều tiền vốn, do đó, Nhà nước cần hỗ trợ giải pháp và vốn cho ngân hàng trong việc nâng cấp, đổi mới trang thiết bị phục vụ công tác thanh toán không dùng tiền mặt cũng như công nghệ trong những lĩnh vực khác của ngân hàng. - Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh giữa các chủ thể cung cấp dịch vụ ngân hàng. Hiện nay, cơ chế quản lý, đặc biệt về tài chính, còn mang tính chất phân biệt đối xử giữa các chủ thể tham gia cung cấp dịch vụ. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng cạnh tranh trên thị trường dịch vụ ngân hàng chưa thực sự bình đẳng và làm cho thị trường dịch vụ ngân hàng tại Việt Nam kém sôi động. Luật sở hữu trí tuệ nên minh bạch hơn nữa trong việc bảo vệ quyền lợi của các ngân hàng tiên phong đi đầu phát triển sản phẩm mới. 3.3.2. Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước. Ngân hàng Nhà nước với chức năng hoạch định, tổ chức thực hiện và kiểm soát, điều tiết việc thực hiện các chính sách tiền tệ quốc gia phải đảm bảo tạo điều kiện thuận lợi để phát triển hệ thống ngân hàng phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Muốn vậy, Ngân hàng Nhà nước phải thực hiện các biện pháp sau: - Tiếp tục có biện pháp chủ động kiềm chế và đẩy lùi nguy cơ lạm phát nhằm ổn định giá trị là mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ, bởi nếu lạm phát cao đồng tiền bị mất giá sẽ khiến người dân chuyển qua giữ tài sản dưới dạng tích lũy vàng, ngoại tệ…vì thế ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc thu hút vốn. - NHNN cần điều hành chính sách lãi suất một cách linh hoạt hơn nữa, đẩy mạnh các công tác tuyên truyền để nâng cao nhận thức của mọi người dân về tính an toàn và sinh lời của việc gửi tiền vào ngân hàng. - NHNN cần quy định cụ thể các thông tin, số liệu về hoạt động mà các Ngân hàng bắt buộc phải công khai cho công chúng biết theo hướng phù hợp với thông lệ quốc tế. Đây là cách tốt nhất bảo vệ quyền lợi của công chúng, tăng cường sự tin tưởng khi quyết định gửi tiền hay giao dịch với Ngân hàng. - NHNN điều hành chính sách tiền tệ theo hướng nâng cao năng lực, vai trò hiệu quả và linh hoạt theo sát thị trường; phối hợp chặt chẽ với các chính sách vĩ mô khác, tạo điều kiện và thúc đẩy phát triển các thị trường tiền tệ như thị trường tiền tệ liên Ngân hàng nhằm đạt được mục tiêu ổn định tiền tệ, kiểm soát được mức lạm phát thấp tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh trong quá trình hội nhập, tránh tình trạng chạy theo lãi suất của các NHTM như thời gian vừa qua. 3.3.3. Kiến nghị Vietcombank Việt Nam. Chi nhánh VCB Ba Đình chịu sự chỉ đạo và quản lý trực tiếp của Vietcombank VN, do đó để phát huy hết tiềm năng và hiệu quả hoạt động kinh doanh của Chi nhánh nói chung và hoạt động huy động vốn tiền gửi nói riêng Vietcombank.VN nên có một số điều cần quan tâm như: Vietcombank.VN nên thường xuyên tuyên truyền giới thiệu những Chi nhánh có kết quả hoạt động kinh doanh an toàn và hiệu quả để phổ biến kinh nghiệm cho các Chi nhánh khác, đặc biệt là công tác huy động vốn của Ngân hàng. Thường xuyên tạo điều kiện để Chi nhánh mở rộng quan hệ hợp tác với các đơn vị Ngân hàng khác nhằm phát triển nghiệp vụ thanh toán liên ngân hàng, thanh toán thẻ. Hay tham gia hỗ trợ trong công tác quảng cáo tiếp thị. Vietcombank.VN chú trọng hơn nữa trong việc đầu tư vốn để mua sắm thiết bị, máy móc công nghệ… cho Chi nhánh. Thường xuyên mở các khóa tập huấn và bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ cho các nhân viên trực tiếp giao dịch với khách hàng. Vietcombank.VN cần kết hợp chặt chẽ phương thức đào tạo ngắn hạn và dài hạn trong và ngoài nước để đòi hỏi kinh nghiệm và đưa ra các giải pháp cho các hoạt động huy động vốn tiền gửi ngày càng nâng cao. Với một số giải pháp và kiến nghị đã đưa ra trong Chương 3 này em hy vọng có thể góp một phần nhỏ để tăng cường hoạt động huy động vốn nói chung và huy động vốn trong dân cư nói riêng tại Chi nhánh VCB Ba Đình. TÓM TẮT CHƯƠNG III Kết hợp những tồn tại trong công tác huy động vốn trong dân cư và những nguyên nhân gây ra tồn tại đó đã được trình bày tại Chương 2, cùng với những định hướng, mục tiêu của Ngân hàng về hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động huy động vốn trong dân cư nói riêng, Chương 3 đã hoàn thành mục đích của chuyên đề là đề ra một số giải pháp hữu ích, kiến nghị hợp lý với các ngành các cấp liên quan để có thể nghiên cứu, áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn trong dân cư tại VCB Ba Đình. KẾT LUẬN Thành lập và đi vào hoạt động được hơn 5 năm qua, với sự cố gắng nỗ lực không ngừng của BGĐ và toàn thể đội ngũ nhân viên. Chi nhánh VCB Ba Đình đã vượt qua chặng đường đầy khó khăn, thử thách để đạt được những kết quả như ngày hôm nay. Để tiếp tục phát triển, Chi nhánh VCB Ba Đình đặc biệt quan tâm đến công tác huy động vốn để đáp ứng nhu cầu kinh doanh, mở rộng thị phần của mình. Phân tích thực trạng huy động vốn thông qua việc mở rộng nguồn vốn huy động trong dân cư tại Chi nhánh, chuyên đề “ Một số giải pháp nhằm tăng cường hoạt động huy động vốn trong dân cư tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Ba Đình” đã tập trung nghiên cứu và hoàn chỉnh các nội dung sau: Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về nghiệp vụ huy động vốn, huy động vốn trong dân cư, vai trò của hoạt động huy động vốn đối với hoạt động kinh doanh của NHTM. Phân tích thực trạng huy động vốn nói chung và huy động vốn trong dân cư nói riêng. Trên cơ sở phân tích thực trạng, đánh giá các kết quả đạt được và những tồn tại, chuyên đề đã đề xuất một số giải pháp kiến nghị với mục đích mở rộng nguồn vốn của Chi nhánh thông qua việc tăng cường huy động vốn trong dân cư. Mặc dù đã cố gắng, song với khoảng thời gian và khả năng phân tích còn hạn chế, đặc biệt là nguồn số liệu bị hạn chế nên chuyên đề không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô để chuyên đề được hoàn thiện hơn. Cuối cùng, em xin trân trọng cảm ơn sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của Ban lãnh đạo, các cô chú và anh chị làm việc tại Chi nhánh VCB Ba Đình đã tạo điều kiện để em hoàn thành chuyên đề này. Sinh viên. Nguyễn Ngọc Phương. MỤC LỤC Lời mở đầu……………………………………………………………………… .1 Chương 1: Nghiệp Vụ Huy Động Vốn Với Hoạt Động Kinh Doanh Của NHTM Trong Nền Kinh Tế Thị Trường………………………………………..3 Ngân hàng Thương Mại Và Hoạt Động Của Ngân Hàng Thương Mại Trong Nền Kinh Tế Thị Trường………………………………………………...3 Khái niệm NHTM…………………………………………………………..3 Chức năng của NHTM..…………………………………………………….3 1.1.3. Vai trò của NHTM..………………………………………………………...4 1.2. Hoạt Động Huy Động Vốn Của NHTM…………………………………6 1.2.1. Khái niệm về vốn của NHTM.………………………………………………6 1.2.2. Phân loại nguồn vốn của NHTM……………………………………………6 1.2.3. Một số nội dung về huy động vốn trong dân cư…………………………… 8 1.3. Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Quá Trình Huy Động Vốn…………..11 1.3.1. Nhân tố khách quan………………………………………………………..12 1.3.2. Nhân tố chủ quan…………………………………………………………..12 Chương 2: Thực Trạng Huy Động Vốn Trong Dân Cư Của Ngân Hàng Ngoại Thương Ba Đình…………………………………………………………………15 2.1. Khái Quát Về Tình Hình Phát Triển Kinh Tế- Xã Hội Trên Địa Bàn Và Hoạt Động Kinh Doanh Ngân Hàng TMCP Ngoại Thương Ba Đình……15 2.1.1. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội quận Ba Đình…………..15 2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển…………………………………………16 2.1.3. Đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của VCB Ba Đình……………….20 2.2. Thực Trạng Huy Động Vốn Trong Dân Cư Tại VCB Ba Đình……35 2.2.1. Quy mô nguồn vốn huy động từ dân cư…………………………………...35 2.2.2. Cơ cấu tiền gửi dân cư theo thời hạn………………………………………38 2.2.3. Cơ cấu tiền gửi dân cư theo nội tệ………………………………………….39 2.2.4. Tình hình thực hiện kế toán huy động vốn trong dân cư…………………..40 2.3. Đánh Giá Hiệu Quả Huy động Vốn Trong Dân Cư Tại Chi Nhánh VCB Ba Đình……………………………………………………………………43 2.3.1. Kết quả đạt được…………………………………………………………...43 2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân……………………………………………45 Chương 3: Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Qủa Huy Động Vốn Tại Chi Nhánh NHTM CP Ngoại Thương Ba Đình…………………………………………….51 3.1. Định Hướng Huy Động Vốn Của Chi Nhánh NHTM CP Ngoại Thương Ba Đình..………………………………………………………………..51 3.2. Một Số Giải Pháp Nhằm Tăng Cường Hoạt Động Huy Động Vốn Trong Dân Cư Tại VCB Ba Đình………………………………………………52 3.2.1. Đa dạng hoá sản phẩm……………………………………………………..52 3.2.2. Hoàn thiện chính sách lãi suất…………………………………………......55 3.2.3. Cải tiến công tác thanh toán………………………………………………..57 3.2.4. Nâng cao vị thế và uy tín của Ngân hàng………………………………….58 3.2.5. Đổi mới phong cách giao dịch……………………………………………..59 3.2.6. Hoàn thiện chính sách khác hàng………………………………………….61 3.2.7. Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, quảng cáo……………………...63 3.2.8. Khuyến khích mở tài khoản cá nhân……………………………………….64 3.2.9. Hiện đại hoá công nghệ huy động vốn…………………………………….65 3.3. Một Số Kiến Nghị Nhằm Đảm Bảo Tính Khả Thi Của Giải Pháp…....................................................................................................................65 3.3.1. Kiến nghị với Chính phủ…………………………………………………...65 3.3.2. Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước……………………………………….66 3.3.3. Kiến nghị Vietcombank Việt Nam………………………………………...67 Kết Luận…………………………………………………………………………65 DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1: Tình hình nguồn vốn huy động của VCB Ba Đình………………….21 Bảng 2: Cơ cấu nguồn vốn huy động theo kỳ hạn……………………………23 Bảng 3: Cơ cấu nguồn vốn huy động theo thành phần kinh tế……………….26 Bảng 4: Tổng dư nợ tín dụng của ngân hàng VCB Ba Đình…………………28 Bảng 5: Cơ cấu dư nợ cho vay theo thời gian………………………………...29 Bảng 6: Cơ cấu dư nợ cho vay theo ngành…………………………………...30 Bảng 7: Chất lượng tín dụng tại VCB Ba Đình………………………………32 Bảng 8: Kết quả tài chính của VCB Ba Đình…………………………………33 Bảng 9: Tình hình huy động vốn tiền gửi từ dân cư………………………….36 Bảng 10: Cơ cấu tiền gửi dân cư theo thời hạn……………………………….38 Bảng 11: Cơ cấu tiền gửi dân cư theo nội tệ………………………………….39 Bảng 12: Chỉ tiêu tăng trưởng nguồn vốn huy động của năm 2008 …………52 DANH MỤC ĐỒ THỊ Biểu đồ 1: Biểu đồ biểu diễn Tổng nguồn vốn huy động của VCB Ba Đình...22 Biểu đồ 2: Biểu đồ biểu thị nguồn vốn huy động theo kỳ hạn của VCB Ba Đình…………………………………………………………………………...25 Biểu đồ 3: Biểu đồ tỷ trọng nguồn vốn huy động năm 2007…………………25 Biểu đồ 4: Biểu đồ biểu diễn Vốn Huy Động theo thành phần kinh tế……….27 Biểu đồ 5: Biểu đồ biểu diễn tỷ trọng vốn của các thành phần kinh tế năm 2007…………………………………………………………………………...27 Biểu đồ 6: Biểu đồ thể hiện mức Tổng Dư Nợ cho vay qua các năm………...29 Biểu đồ 7: Biểu đồ thể hiện Cơ Cấu Dư Nợ cho vay theo kỳ hạn……………30 Biểu đồ 8: Biểu đồ thể hiện Cơ Cấu Cho Vay theo ngành……………………32 Biểu đồ 9: Biểu đồ Biểu Diễn Tổng Thu Nhập các năm 2005-2007………....34 Biểu Đồ 10: Biểu đồ Biểu Diễn Tổng Chi Phí Hoạt Động Kinh Doanh các năm 2005-2007……………………………………………………………………..34 Biểu Đồ 11: Biểu Đồ Biểu Diễn Lợi Nhuận Kinh Doanh các năm 2005- 2007…………………………………………………………………………...35 Biểu đồ 12: Biểu Đồ biểu thị vốn huy động dân cư của VCB Ba Đình………38 BẢNG KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT Nguyên nghĩa Chữ viết tắt Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Ngoại Thương Việt Nam Vietcombank. VN Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Ngoại Thương Ba Đình VCB Ba Đình Ngân hàng Trung Ương NHTW Ngân hàng Thương Mại NHTM Tổ chức Kinh tế TCKT Thành phần kinh tế TPKT Tiền gửi dân cư TCDC Tài khoản tiền gửi TKTG Không kỳ hạn KKH Có kỳ hạn CKH Việt Nam Đồng VND Dollar Mỹ USD LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu trong chuyên đề hoàn toàn có thật, được thu thập một cách trung thực tại đơn vị thực tập. Hà Nội, tháng 8 năm 2008 Sinh viên Nguyễn Ngọc Phương Danh mục tài liệu tham khảo 1. Tiền tệ, Ngân hàng và thị trường tài chính - Fredic S. Mishkin - NXB Khoa học Kỹ thuật - 2001. 2. Giáo trình Lý Thuyết Tiền Tệ - Ngân hàng – Học viện Ngân hàng – NXB Thống Kê 2005 3. Quản trị Ngân hàng Thương mại - Peter S.Rose - NXB Tài Chính - 2001 4. Giáo trình Quản trị và Kinh doanh Ngân hàng - PGS.TS. Ngô Hướng & TS. Phan Đình Thế - NXB Thống Kê - 2002 5. Tạp chí Ngân hàng, tạp chí Thị trường Tài chính – Tiền tệ, Thời báo Ngân hàng các số năm 2005, 2006, 2007. 6. Báo cáo kết quả kinh doanh của Vietcombank Ba Đình các năm 2005, 2006,2007. 7. Các trang web khác ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc37278.doc
Tài liệu liên quan