Một số giải pháp thúc đẩy Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam thời kỳ 2001-2010 (85tr)

Lời nói đầu Ngày nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều nhận thấy rằng,đường lối phát triển kinh tế là yếu tố đầu tiên quyết định sự thành bại trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước.Thực tế cho thấy chính phủ các nước NICs,châu á,sau gần một thập kỷ thực hiện chiến lược thay thế nhập khẩu,đã nhận ra được những mặt hạn chế của nó,và ngay thập kỷ 60 đã có sự chuyển hướng chiến lược.Với khoảng thời gian 25-30 năm họ đã đưa đất nước trở thành” những con rồng châu á”. Đối với Việt Nam,

doc81 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1161 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Một số giải pháp thúc đẩy Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam thời kỳ 2001-2010 (85tr), để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
đứng trước tình hình nền kinh tế trong nước và xu hướng hội nhập nền kinh tế toàn cầu.Vấn đề đặt ra là cần có sự lựa chọn thích hợp cho mình một đường lối phát triển, nhằm đạt được một mục tiêu đề ra. Đảng và nhà nước ta đã có chính sách hướng ngoại nhằm thúc đẩy xuất khẩu những mặt hàng chủ lực, đưa đất nước tiến lên công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ cũng không nằm ngoài vấn đề đó. Mặt hàng này ngày càng được thị trường thế giới ưa chuộng. Xuất khẩu mặt hàng này tạo quan hệ giao lưu văn hoá giữa các dân tộc, quốc gia trên thế giới, đồng thời thu nguồn ngoại tệ đáng kể, thúc đẩy các làng nghề truyền thống phát triển, giải quyết việc làm cho người lao động, tăng thu nhập cho người dân, từ đó cải thiện từng bước nhu cầu cuộc sống hàng ngày của người lao động thúc đẩy sự phát triển kinh tế của xã hội Việt Nam. Chính vì những lý do trên mà em chọn đề tài “Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam thời kỳ 2001-2010” góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Trong quá trình hoàn thành bài viết, việc nghiên cứu, học hỏi và kiến thức thực tế còn hạn chế, mong sự giúp đỡ của các thầy cô trong khoa cũng như cán bộ hướng dẫn nơi cơ quan thực tập. Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn GS.TS Vũ Thị Ngọc Phùng và cán bộ hướng dẫn cơ quan thực tập Vụ kế hoạch thống kê Bộ Thương mại TS Hoàng Thịnh Lâm đã giúp em hoàn thành luân văn tốt nghiệp. Em xin chân thành cảm ơn! Chương I. Vai trò của hàng thủ công mỹ nghệ đối với sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam I. Đặc điểm của hàng thủ công mỹ nghệ 1. Khái niệm hàng thủ công mỹ nghệ Hàng thủ công mỹ nghệ có nhiều chủng loại là những mặt hàng thuộc các ngành nghề truyền thống được sản xuất bởi các nghệ nhân, thợ thủ công có tay nghề tinh xảo và độc đáo truyền từ đời này qua đời khác và được phát triển theo nhu cầu cuộc sống. Đời sống được cải thiện thì nhu cầu về các hàng hoá này sẽ tăng lên, cả cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Hàng thủ công mỹ nghệ là ngành hàng được sản xuất bằng lao động thủ công của con người. Sản phẩm sản xuất ra mang màu sắc văn hoá của dân tộc, của các nghệ nhân, văn hoá của những người sản xuất ra nó. Hàng thủ công mỹ nghệ xuất hiện luôn gắn liền với sự ra đời và phát triển của nhân loại. Hàng thủ công mỹ nghệ còn phản ánh trình độ đương thời. Nghiên cứu về lịch sử phát triển của các triều đại Vua Hùng, về nhà nước Văn Lang của nhà khảo cổ học Việt Nam đã tìm tòi, khai quật di tích lịch sử dưới lòng đất cũng khẳng định sự hình thành và phát triển của ông cha ta trước đây bằng hàng loạt mẫu vật bằng hàng thủ công mỹ nghệ như trống đồng, dao, rìu, đồ gốm, đồ sành sứ thể hiện văn minh của nhà nước Văn Lang trước đây. Đặc điểm sản xuất và tiêu thụ hàng thủ công mỹ nghệ. Hàng thủ công mỹ nghệ là hàng thuộc các ngành nghề truyền thống, dược sản xuất ra bởi các nghệ nhân, thợ thủ công có tay nghề tinh xảo và độc đáo, truyền từ đời này qua đời khác và được phát triền theo nhu cầu cuộc sống. Đới sống được cải thiện thì nhu cầu về hàng hóa này sẽ tăng lên, cả cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. a) Đăc điểm về sản xuất. Hàng thủ công mỹ nghệ bao gồm nhiều chủng loại. Mỗi loại hàng hoá đó có tính chất, đặc biệt khác nhau được sản xuất trong những điều kiện riêng biệt. Những yêu cầu và đòi hỏi về chất lượng, mẫu mã, kiểu dáng của từng loại hàng thủ công mỹ nghệ cùng với điều kiện sản xuất, trình độ tay nghề của từng nghệ nhân cũng khác nhau. Điều này làm xuất hiện nhiều làng nghề truyền thống và mỗi làng nghề lại hình thành nên các cơ sở sản xuất chuyên môn hoá việc sản xuất những sản phẩm mà mình có lợi thế. Các làng nghề phát triển mạnh sẽ lan sang các làng bên cạnh và trở thành xã nghề rộng lớn. Hàng thủ công mỹ nghệ là mặt hàng truyền thống của dân tộc. Nguồn này đã có ơ Việt Nam rất lâu, cùng với thời gian nó đá phát triển ra nhiều vùng trên khắp đất nước với đông đảo đội ngũ thợ có tay nghề cao được truyền từ đời này qua đời khác (cha truyền con nối). Nhứng sản phẩm thủ công mỹ nghệ được sản xuất ra đẹp về màu sắc, phong phú về chủng loại và bây giờ nó đang là những sản phẩm có giá trị cao. Đặc biệt là các mặt hàng: - Hàng cói mây - Hàng sơn mài mỹ nghệ - Hàng gốm sứ - Hàng thêu ren - Hàng gốm mỹ nghệ Sản phẩm của những người thợ chế tạo ra là kiệt tác nghệ thuật vì người sản xuất không chỉ thao tác các quá trình công nghệ mà còn sáng tạo nữa. Một số làng nghề nhờ năng động, sản xuất hiệu quả đã có tích luỹ, mạnh dạn đầu tư mua sắm các trang thiết bị máy móc. Các hình thức tổ chức sản xuất trong một số làng nghề đang phát triển đa dạng. Từ các hộ tư nhân, một số hộ đã tập hợp lại để hình thành các hợp tác xã, tổ hợp sản xuất nhằm tăng cường năng lực sản xuất, trang thiết bị máy móc. Một số hộ có vốn có kỹ năng sản xuất, có kinh nghiệm đã thành lập các xí nghiệp tư nhân, công ty TNHH,….làm cho các tổ chức trong các làng nghề phong phú. Giữa các hình thức tổ chức sản xuất trong các làng nghề đã có mối quan hệ hợp tác liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Tuỳ theo từng loại nghề và mức độ phát triển của từng loại nghề mà thu nhập giữa các loại thợ cũng có chênh lệch đáng kể, tuỳ thuộc trình độ tay nghề. Tính chung cả nước, các hoạt động ngành nghề đã thu hút khoảng 29.5% lực lượng lao động nông thôn, một tỷ lệ tuy chưa cao nhưng chiếm vị trí đáng kể về việc làm cho người lao động. Để có được những sản phẩm thủ công mỹ nghệ đáp ứng cho người tiêu dùng về mặt chất lượng cũng như thẩm mỹ, nghệ nhân và những cộng sự đã phải thực hiện nhiều công đoạn từ đơn giản đến phức tạp. Từ khâu chọn lựa nguyên liệu phục vụ cho sản xuất đến những khâu tiếp theo trong quá trình sản xuất luôn đòi hỏi sự tập trung cao độ. Nhưng có lẽ việc tạo ra những nét văn hoá trên sản phẩm là công việc khó khăn nhất. Nó đòi hỏi sự kết hợp hài hoà giữa trí óc và sự khéo léo của đôi tay nghệ nhân. b) Đặc điểm về tiêu thụ và xuất khẩu. Hàng thủ công mỹ nghệ có những nét đặc trưng riêng biệt ảnh hưởng lớn đến sản xuất và buôn bán. Tìm kiếm những đặc trưng của hàng thủ công mỹ nghệ là một cách để tăng cường tính cạnh tranh của sản phẩm và đảm bảo xuất khẩu thành công trên thị trường quốc tế. Giá cả cũng là đặc trưng đáng kể phải kể đến. Nếu sản phẩm thoả mãn nhu cầu đồng bộ của khách hàng thì họ sẵn sàng trả giá cao miễn được sản phẩm mình mong muốn. ở Việt Nam cũng như các nước phát triển khác, giá cả là yếu tố quyết định đến việc bán được hàng hay không. Khi mua bán hàng thủ công mỹ nghệ, yếu tố thời vụ không mang tính quyết định mà yếu tố tâm lý, niềm đam mê của người tiêu dùng sẽ chỉ cho họ có quyết định mua sản phẩm đó hay không? Khi nhìn một tác phẩm nghệ thuật gây sự chú ý thì chắc họ không bỏ qua cơ hội mua được món hàng mà mình ưa thích. Điều này cũng thể hiện thói quen người tiêu dùng của từng người ở từng thời điểm khác nhau. Tính chất của từng mặt hàng khác nhau, điều đó thể hiện trên từng sản phẩm, mỗi một sản phẩm mang dáng dấp một tác phẩm của trí tuệ về thẩm mỹ và dấu ấn của từng thời đại. Những nét văn hoa hay kỹ năng kỹ xảo tinh hoa được thiết kế trên hàng thủ công mỹ nghệ đã thể hiện nét đặc trưng tâm hồn của mỗi nghệ nhân. * Ưu điểm của sản xuất và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ. - S ản phẩm có tính truyền thống, mang đậm đà bản sắc dân tộc. - Chủ yếu sản xuất trong các làng nghề truyền thống. - Sản xuất bằng nguyên liệu sẵn có trong nước. - Nguyên liệu phụ cho sản xuất rất ít không đáng kể. - Thuận nợi cho huy động nguồn lao động dồi dào cho sản xuất - Đầu tư cho sản xuất thấp. - Tăng thu nhập cho người dân - Được nhiều khách hàng trên thế giới ưa chuộng nên có tiềm năng rất lớn về thị trường xuất khẩu góp phần vào thu ngoại tệ đáng kể, giải quyết tình trạng thiếu ngoại tệ mạnh phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước. Việc sản xuất không đòi hỏi lượng vốn ban đầu và cơ sở vật chất lớn chỉ cần vài hộ nông dân hợp lại là có thể đứng tên thành một tổ hợp sản xuất. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn hiện nay khi mà các đơn vị kinh doanh của nước ta hiện nay đang có nhiều khó khăn về vốn. Nước ta là nước nông nghiệp (80% dân số làm nghề trồng trọt) thì hàng thủ công mỹ nghệ sẽ giải quyết được thời gian nhàn rỗi của người nông dân. Tận dụng thời gian chờ vụ thu hoạch mới, có việc làm tại chỗ, vừa tận dụng nguyên nhiên liệu phong phú, rẻ, vừa huy động sức lao động tạo nên thu nhập đáng kể cho người dân. Đó là những thế mạnh tiềm năng rất lớn của ngành nghề này. Đảng và nhà nước đã nhận thức đúng đắn và có chính sách phù hợp để phát triển mặt hàng này. * Hạn chế: -Khó kiểm soát chất lượng hàng hoá. -Thu gom hàng hoá không được nhanh bởi vì sản xuất không tập trung do đó dễ ảnh hưởng đến thời gian thực hiện hợp đồng. -Để sản phẩm có chất lượng cao cần đáp ứng đầy đủ những phương tiện kĩ thuật. II. Vai trò của xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam. Đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ không chỉ mang lại những lợi ích kinh tế thiết thực mà còn có ý nghĩa chính trị rộng lớn. Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ có vai trò đăc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam nói riêng và của các quốc gia nói chung. Các lý thuyết về tăng trưởng và phát triển đều chỉ ra rằng, để tăng trưởng và phát triển kinh tế, mỗi quốc gia đều có bốn điều kiện. Nguồn nhân lực, tài nguyên, vốn và khoa học công nghệ. Song không phải quốc gia nào cúng có đầy đủ những điều kiện đó. Hiện nay các nước đang phát triển thiếu vốn và kĩ thuật công nghệ nhưng lao động và nguồn tài nguyên thiên nhiên rất dồi dào. Ngược lại các nước phát triển lại dồi dào về vốn và thiên nhiên. Để giải quyết tình trạng này họ buộc phải nhập từ bên ngoài những yếu tố nguồn lực sản xuất trong nước chưa hoặc khó khăn trong sản xuất, có nghĩa là cần một nguồn ngoại tệ chính là khoản ngoại tệ thu về từ xuất khẩu. Xuất khẩu là hoạt động chính tạo ra tiền đề cho nhập khẩu, tạo điều kiện cho quy mô và tốc độ tăng trưởng của nhập khẩu. 1) Vai trò của xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đối với nền kinh tế. Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đảm bảo khả năng phát triển nền kinh tế ở những nước đang phát triển, một trong những vật cản chính của quá trình tăng trưởng kinh tế là thiếu vốn. Nguồn vốn huy động từ nước ngoài đóng vai trò tương đối quan trọng. Mọi cơ hội tiếp cận đầu tư hay vay nợ nước ngoài chỉ tăng khi chủ đầu tư hay người cho vay nợ thấy khả năng xuất khẩu của nước đó vì đây là nguồn chính đảm bảo khả năng trả nợ. Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ cũng góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Thực tế cho thấy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ cũng góp phần làm chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế của Việt Nam nói riêng và của các quốc gia đang phát triển nói chung từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế được nhìn nhận từ hai khía cạnh sau: Chỉ xuất khẩu những mặt hàng thủ công mỹ nghệ mà được coi là vượt quá mức tiêu dùng nội địa. Điều này có nghĩa là nền kinh tế quy mô nhỏ và lạc hậu, sản xuất còn chưa đủ tiêu dùng thì xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ chỉ bó hẹp trong một phạm vi nhỏ và tăng trưởng chậm nếu không muốn nói là không thể tăng trưởng, không phát huy được lợi thế của quốc gia. Do đó, các ngành sản xuất kinh doanh không có cơ hội để phát triển và mở rộng. Coi thị trường thế giới là mục tiêu để tổ chức sản xuất, coi trọng xuất khẩu, quan điểm này tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển sản xuất. -Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tạo điều kiện mở rộng thị trường sản phẩm, tạo lợi thế nhờ quy mô và các lợi thế vốn có của quốc gia. -Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tạo điều kiện cho các ngành cùng có điều kiện và cơ hội phát triển. -Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ thúc đẩy quá trình chuyên môn hoá, tăng cường hiệu quả sản xuất của các quốc gia bởi khi khoa học công nghệ ngày càng phát triển thì phân công lao động ngày càng sâu sắc. -Thông qua xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ, các doanh nghiệp trong nước có cơ hội tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới và giá cả, chất lượng. Những yếu tố đó đòi hỏi doanh nghiệp phải hình thành cơ cấu sản xuất phù hợp với thị trường.Trên cơ sở đó doanh nghiệp phát triển tới một mức độ cao hơn. -Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tạo điều kiện để doanh nghiệp mở rộng thị trường, mở rộng quan hệ kinh doanh với các bạn hàng cả trong và ngoài nước trên cơ sở hai bên cùng có lợi, tăng doanh số và lợi nhuận, đồng thời chia sẻ rủi ro, mất mát trong hoạt động kinh doanh, tăng uy tín của doanh nghiệp. Ngoài ra doanh nghiệp còn nhận được thông tin phản hồi từ khách hàng bên ngoài để điều chỉnh chiến lược cho phù hợp xu thế thời đại. -Xuất khẩu khuyến khích phát triển các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như hoạt động đầu tư, nghiên cứu phát triển, Marketting… 2) Vai trò của xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đối với xã hội ở nước ta. -Là sản phẩm của ngành nghề truyền thống, mang đậm nét của truyền thống dân tộc, nên hàng thủ công mỹ nghệ không chỉ là những vật phẩm đáp ứng nhu cầu sử dụng trong cuộc sống hàng ngày mà còn là những văn hoá phẩm phục vụ đời sống tinh thần, đáp ứng nhu cầu thưởng thức tinh hoa văn hoá của các dân tộc. Vì vậy hàng thủ công mỹ nghệ có nhu cầu ngày càng cao trên thị trường nước ngoài theo sự phát triẻn giao lưu văn hoá giữa các nước, giữa các dân tộc trên thế giới. Quan tâm và có chính sách thoả đáng phát triển các nghành nghề này, mở rộng tiêu thụ các sản phẩm được làm ra trên thị trường trong và ngoài nước, đẩy mạnh xuất khẩu làm sống động những ngành nghề truyền thống là thiết thực bảo tồn và phát triển một trong những di sản văn hoá qúi giá của dân tộc Việt Nam. -Các ngành nghề thủ công truyền thống nếu được phát triển tốt đều có sức hút mạnh mẽ nguồn lao động dồi dào trong nước nhất là trong giai đoạn hiện nay và trong những năm trước mắt lao động dư thừa ở nước ta còn nhiều. Phát triển sản xuất và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ có tác dụng lớn trong việc tạo ra công ăn việc làm và tăng thu nhập chính đáng cho lao động trong nước, góp phần xoá đói giảm nghèo, giải quyết vấn đề nhàn cư, nhất là trong lớp trẻ có tác dụng tích cực đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực, các tệ nạn xã hội, góp phần đảm bảo trật tự an ninh xã hội, nhất là trong điều kiện hiện nay thất nghiệp còn nhiều thì ý nghĩa chính trị xã hội của vấn đề trên càng lớn. Trong quá trình phát triển và xuất khẩu các loại hàng hoá này không những thu hút hàng triệu lao đông không có việc làm ở thành thị và nông thôn mà còn tạo cơ hội sử dụng và đào tạo các nghệ nhân, thợ giỏi có tay nghề và kỹ xảo truyền thống góp phần bảo tồn phát triển và truyền lại cho đời sau vốn qúi nghề nghiệp này của dân tộc. -Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ra nước ngoài các doanh nghiệp xuất khẩu đã thực hiện tăng cường giao lưu văn hoá với các nước, giao lưu thành quả của các nghệ nhân, giao lưu văn hoá dân tộc và giao lưu truyền thông quí báu của dân tộc Việt Nam. -Xuất khẩu tạo ra nguồn ngoại tệ để nhập khẩu hàng tiêu dùng đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng và phong phú của nhân dân. -Ngân sách nhà nước cũng có thêm nguồn thu nhờ thuế xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ. -Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy phát triển các mỗi quan hệ kinh tế đối ngoại. -Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại khác có sự tác động qua lại, phụ thuộc lẫn nhau từ đó thúc đẩy các mối quan hệ khác, ngược lại sự phát triển các ngành này tạo điều kiện cho xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ càng phát triển hơn. III. nội dung của hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ 1. Sự cần thiết xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Kinh doanh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ là một khâu của quá trình kinh doanh hoạt động xuất nhập khẩu. Xét trên bình diện một quốc gia thì kinh doanh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ là một trong nhừng hoạt động cơ bản, là một trong những nguồn thu chủ yếu đối với hoạt động thu ngoại tệ của quốc gia tức là các doanh nghiệp đã tham gia vào một trong hai khâu của quá trình tái sản xuất mở rộng: Phân phối lưu thông hàng hoá và dịch vụ. Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ là chiếc cầu nối sản xuất và tiêu dùng trong nước với sản xuất và tiêu dùng trên thị trường nước ngoài. Hoạt động kinh doanh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ không chỉ mang lại nguồn lợi lớn cho doanh nghiệp mà còn góp phần đẩy mạnh sản xuất trong nước nhờ tích luỹ vốn từ khoản ngoại tệ thu về, phát huy tính năng động sáng tạo của các đơn vị kinh doanh thông qua cạnh tranh kinh tế. Kinh doanh xuất khẩu mặt hàng này còn là phương tiện để khai thác triệt để các lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, nguồn nhân lực... và thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa các nước và đẩy nhanh tiến trình hoà nhập vào nền kinh tế toàn cầu. Từ những năm 1990 trở về trước, ta bắt đầu xuất khẩu một số mặt hàng khác với khối lượng lớn lên tỷ trọng nhóm hàng thủ công mỹ nghệ giảm đáng kể trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Bình quân trong thời kỳ 1986 -1990 tỷ trọng cả hàng công nghiệp nhẹ và hàng thủ công mỹ nghệ chỉ còn 29,7% tổng kim ngạch xuất khẩu. Tuy kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong thời kỳ này có năm đạt khá cao ( gần 250 triệu R/ USD) nhưng chủ yếu tính giá bằng Rúp theo giá hình thành không thay đổi theo thời gian dài. Nên nếu xét về thực tế thì giá này cao hơn giá cùng loại xuất khẩu sang thị trường ngoại tệ tự do chuyển đổi từ 1,5 đến 2 lần. Do đó, trị giá thực của kim ngạch xuất khẩu tính bằng USD cũng chỉ khoảng 130 – 150 triệu USD/ năm. Từ năm 1991, khi thị trường liên xô cũ SNG và Đông Âu, thị trường chủ yếu của hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu trong thời kì trước của nước ta bị mất, các ngành hàng thủ công mỹ nghệ gặp rất nhiều khó khăn trong xuất khẩu dẫn đến sản xuất bị thu hẹp, lao động không có việc làm, việc chuyển đổi thị trường đòi hỏi thời gian tìm kiếm bạn hàng mới, thị trường mới. Sau vài năm lao đao trong cơ chế mới, dần dần một số ngành nghề tìm được lối thoát, khôi phục và phát triển phục vụ cho cả tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.Vừa qua năm 2000 kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đạt khoảng 120 triệu USD, vì vậy thấy được tầm quan trọng của việc xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ các doanh nghiệp cần tranh thủ và tận dụng mọi khả năng để mở rộng thị trường và tìm kiếm khách hàng đáp ứng người tiêu dùng cả trong nước và ngoài nước về mẫu mã, chất lượng. Chính phủ cần có chính sách phù hợp khuyến khích xuất khẩu mặt hàng này. Giải quyết được vấn đề này có ý nghĩa rất lớn đối với nền kinh tế xã hội nước ta, ngoài ra nhu cầu thế giới về mặt hàng này ngày càng cao vẻ đẹp của hàng thủ công mỹ nghệ mang đậm tính dân tộc văn hoá của đất nước. 2. Nội dung của hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ. Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ cũng là một hoạt động kinh doanh bao gồm nhiều công đoạn khác nhau, mỗi công đoạn lại mang những đặc trưng riêng. Vì vậy hoạt động xuất khẩu phức tạp hơn nhiều so với hoạt động thương mại trong nước. a) Nghiên cứu thị trường xuất khẩu mặt hàng này. Thị trường là yếu tố sống còn và là yếu tố vận động không ngừng, vì vậy bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải nỗ lực tìm hiểu, nghiên cứu để chỉ ra phương thức hoạt động của nó như thế nào cho phù hợp để từ đó doanh nghiệp có đối sách thích hợp trong quá trình xuất khẩu sang từng loại thị trường. Hoạt động nghiên cứu thị trường này bao gồm: - Nghiên cứu môi trường. Điều này thể hiện việc nghiên cứu môi trường kinh tế, môi trường văn hoá- xã hội, môi trường chính trị, hệ thống luật pháp, môi trường công nghệ. - Nghiên cứu giá cả hàng hoá. Xu hướng biến động của giá cả trên thị trường quốc tế rất phức tạp và chịu sự chi phối của những nhân tố lạm phát, chu kì kinh doanh, cạnh tranh lũng đoạn giá cả. - Nghiên cứu về cạnh tranh. + Ai có thể là đối thủ cạnh tranh. + Cạnh tranh như thế nào (cạnh tranh về độ tin cậy, đổi mới công nghệ hay khuyếch trương quảng cáo). - Nghiên cứu về nhu cầu. Nhu cầu là một yếu tố chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi những nhân tố khác nhau như văn hoá, sở thích, kinh tế, chính trị. b) Tạo nguồn hàng xuất khẩu. Nguồn hàng xuất khẩu là toàn bộ hàng hoá, dịch vụ của một công ty, một địa phương, một vùng hoặc toàn bộ đất nước có khả năng xuất khẩu được. Để tạo nguồn hàng xuất khẩu các doanh nghiệp có thể đầu tư trực tiếp hay gián tiếp cho xuất khẩu, thu gom hoặc ký kết hợp đồng thu mua với đơn vị sản xuất. c) Lập phương án giao dịch, đàm phán, kí kết và tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu. -Chuẩn bị giao dịch. Do hoạt động kinh doanh đối ngoại thường phức tạp hơn các hoạt động đối nội vì nhiều lẽ: Bạn hàng ở cách xa nhau, hoạt động kinh doanh chịu sự điều tiết của nhiều hệ thống luật pháp, hệ thống tài chính khác nhau…nên trước khi tiến hành hợp tác làm ăn, doanh nghiệp cần phải chuẩn bị chu đáo. Kết quả của việc giao dịch phụ thuộc vào sự chuẩn bị đó. - Giao dịch đàm phán trước khi kí kết hợp đồng xuất khẩu. Đây là giai đoạn quan trọng bởi nó quyết định đến lợi ích mà doanh nghiệp sẽ thu mua được trong quá trình làm ăn đối với đối tác nước ngoài. - Kí kết hợp đồng. - Thực hiện hợp đồng xuất khẩu. Sau khi hợp đồng được ký kết, doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu với tư cách là một bên của hợp đồng phải tổ chức thực hiện hợp đồng đó. Nó đòi hỏi phải tuân thủ luật quốc gia và quốc tế, đồng thời đảm bảo được quyền lợi quốc gia và uy tín kinh doanh của doanh nghiệp. 3) Những yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ * Tình hình kinh tế trong nước và định hướng xuất khẩu của chính phủ. Hoạt động xuất khẩu đương nhiên phụ thuộc vào tiềm lực sản xuất trong nước và định hướng của chính phủ, coi trọng sản xuất tiêu dùng trong nước hay hướng về xuất khẩu. Nếu chính phủ coi trọng chính sách về xuất khẩu thì khi đó hoạt động xuất khẩu mới phát triển. * Các công cụ chính sách. Các công cụ chính sách bao gồm thuế quan xuất khẩu, các nhân tố phi thuế quan. - Thuế quan xuất khẩu. Thuế quan xuất khẩu làm tăng thu cho ngân sách nhưng nó lại làm cho giá cả quốc tế của hàng hoá bị đánh thuế quan cao hơn mức giá cả trong nước. Tác đông của thuế quan xuất khẩu nhiều khi mang đến bất lợi cho khả năng xuất khẩu do qui mô xuất khẩu của một nước là nhỏ so với dung lượng của thị trường thế giới, thuế xuất khẩu là hạ thấp tương đối mức giá cả trong nước của hàng thủ công mỹ nghệ có thể xuất khẩu xuống so với mức giá cả quốc tế và sẽ làm giảm sản lượng trong nước của mặt hàng có thể xuất khẩu, sản xuất trong nước sẽ thay đổi bất lợi đối với mặt hàng xuất khẩu. Mặt khác việc duy trì một mức thuế xuất khẩu cao trong một thời gian dài sẽ làm lợi cho những đối thủ cạnh tranh. Tóm lại thuế xuất khẩu cao sẽ làm hạn chế hoạt động xuất khẩu và ngược lại thuế xuất khẩu thấp sẽ tạo điều kiện cho hoạt động xuất khẩu. - Các nhân tố phi thuế quan. +Hạn ngạch: Là qui định của nhà nước về số lượng cao nhất của mặt hàng này được phép xuất khẩu hay nhập khẩu từ một thị trường trong một thời gian nhất định thông qua hình thức cấp giấy phép. Hạn ngạch nhập khẩu của một nước sẽ ảnh hưởng đến khối lượng hàng hoá xuất khẩu của nước khác. +Hạn chế xuất khẩu tự nguyện: Là hình thức quốc gia nhập khẩu đòi hỏi quốc gia xuất khẩu phải hạn chế bớt số lượng hàng xuất khẩu sang nước mình một cách tự nguyện, nếu không họ sẽ áp dụng biện pháp trả đũa kiên quyết. Khi một mặt hàng xuất khẩu của hàng thủ công mỹ nghệ gặp phải hạn chế xuất khẩu tự nguyện sẽ gặp khó khăn trong số lượng hàng được xuất khẩu tương tự như hạn ngạch. +Những qui định về tiêu chuẩn kỹ thuật: Bao gồm những qui định về vệ sinh, đo lường, an toàn lao động, bao bì đóng gói đặc biệt là các tiêu chuẩn về vệ sinh, bảo vệ nguồn tài nguyên, môi trường sinh thái khi mà xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ngày càng tăng thì sự huỷ hoại môi trường sinh thái và tài nguyên cũng không có nghiã là giảm. +Trợ cấp xuất khẩu: Chính phủ có thể áp dụng những biện pháp trợ cấp trực tiếp hoặc cho vay lãi xuất thấp đối với các nhà xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ hoặc có thực hiện một khoản vay ưu đãi cho các bạn hàng nước ngoài để họ có điều kiện mua cac sản phẩm do nước mình sản xuất. Khi đó hoạt động xuất khẩu mặt hàng này sẽ dễ dàng hơn. Kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng lên đáng kể. +Chính sách tỷ giá hối đoái:Trong trường hợp tỷ giá hối đoái tăng nên nghĩa là đồng nội tệ mất giá thì giá cả hàng hoá xuất khẩu sẽ rẻ tương đối so với các hàng hoá của những nước xuất khẩu cùng loại từ đó số lượng xuất khẩu hàng hoá sẽ tăng lên nhưng lúc đó giá cả nguyên vật liêu nhập khẩu để sản xuất hàng hoá xuất khẩu sẽ tăng lên không có lợi cho hoạt động xuất khẩu. Ngược lại khi tỷ giá hối đoái giảm xuống nghĩa là đồng nội tệ lên giá thì giá cả hàng hoá xuất khẩu trở lên đắt tương đối so với mức giá chung thế giới dẫn đến số lượng hàng thủ công mỹ nghệ sẽ giảm đi. Lúc này sẽ cần đến sự điều chỉnh của chính phủ. * Quan hệ kinh tế quốc tế. Rõ ràng là quan hệ kinh tế quốc tế ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu nói chung và hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ nói riêng. Ta có thể lấy ví dụ IRAQ khi bị cấm vận về kinh tế, không có một mối liên hệ kinh tế nào với thế giới bên ngoài do đó cũng không có hoạt động xuất khẩu gì, dẫn đến tình hình kinh tế trong nước vồ cùng khó khăn. Một nước có mối quan hệ tốt với thế giới bên ngoài thì hoạt động xuất khẩu sẽ phát trển. * Yều tố chính trị. Chế độ chính trị là khá quan trọng trong mối quan hệ hợp tác giữa các nước. Từ yếu tố chính trị mà chính phủ một nước sẽ có những định hướng khuyến khích hay ngăn cản giao lưu thương mại với một nước khác. Điều này ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ. * Thực trạng khoa học công nghệ. Khoa học công nghệ là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng sản phẩm. Khoa học công nghệ ngày càng hiện đại thì chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất càng được nâng cao tạo điều kiện cho hoạt động xuất khẩu CHƯƠNG II: Thực trạng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam trong thời gian qua I. quá trình sản xuất và tổ chức tiêu thụ hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam trong những năm qua 1. Qúa trình sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ. Hàng thủ công mỹ nghệ là mặt hàng truyền thống sản phẩm mang đầy nét văn hoá của dân tộc. Được phát triển cùng với sự phát triển của loài người. Ngày nay nhu cầu về mặt hàng này trên thế giới ngày càng được ưa chuộng. Đứng trước vấn đề này quá trình sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ cần được chú trọng và đổi mới phưong thức mẫu mã kiểu dáng cũng như khâu tiêu thụ phục vụ tốt nhu cầu ngày càng tăng ở trong nước cũng như ở nước ngoài. Tuỳ vào điều kiện nguồn tài nguyên thiên nhiên, điều kiện của từng vùng cũng như tuỳ vào từng đơn đặt hàng các đơn vị sản xuất kinh doanh cần chú trọng tạo ra nguồn hàng ổn định, lâu dài và tạo ra quan hệ tốt đẹp đôi bên cùng có lợi để thúc đẩy sản xuất mặt hàng này. Đứng trên góc độ của một nhà sản xuất kinh doanh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ. Qúa trình sản xuất gồm 4 khâu chủ yếu: Cung cấp nguyên liệu đầu vào- sản xuất chính – gia công- tiêu thụ sản phẩm (trong nước và xuất khẩu). Cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ thường được bố trí gần nguyên liệu, hàng thủ công mỹ nghệ cũng được sản xuất chủ yếu bằng nguyên vật liệu có sẵn trong nước nên giảm bớt nhu cầu nhập khẩu nguyên phụ liệu cho sản xuất. Hàng thủ công mỹ nghệ là sản phẩm trang trí bên ngoài nên bên cạnh những đòi hỏi về tính tiện dụng thị trường còn yêu cầu rất cao về tính độc đáo trong kiểu dáng và mẫu mã. Phần lớn hàng thủ công mỹ nghệ được làm tại nông thôn, sản phẩm thủ công của ta lại hết sức đơn điệu. Số lượng sản phẩm được sản xuất dựa theo đơn đặt hàng, sản xuất đại trà, phân tán cũng đã góp phần làm cho khâu hoàn thiện sản phẩm trở nên không đồng đều, lô tốt lô xấu lẫn lộn. Chính những điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam. Việc cung cấp nguyên liệu đầu vào là bước khởi đầu khá quan trọng. Ngày nay cần chú trọng quan tâm hơn với việc xử lý nguyên liệu đầu vào, nó tỷ lệ thuận với chất lượng đầu ra. Theo thông tin của thương vụ thì nguyên liệu đầu vào ngày nay cung cấp không ổn định thậm chí còn phải mua với giá đắt nếu như không muốn nói là còn mua những nguyên liệu cấm.Từ đó nâng cao chi phí sản xuất cũng như giá thành sản phẩm bất lợi cả cho người sản xuất và tiêu dùng.Vì vậy cần có những chính sách cung cấp nguyên liệu đầu vào đề ra cho những đơn vị sản xuất mặt hàng thủ công mỹ nghệ điều đó đáp ứng nhu cầu mặt hàng này đảm bảo về số lượng và chất lượng nâng cao thương hiệu kinh doanh từ đó thúc đẩy phát triển các làng nghề góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội đất nước. Quá trình sản xuất chính cần đòi hỏi cung cấp đầy đủ nguyên liệu đầu vào cũng như các nghệ nhân, thợ giỏi có tay nghề cộng với trí sáng tạo để làm ra những sản phẩm có giá trị tinh hoa văn hoá của dân tộc, tạo tiền đề giao lưu văn hoá giữa các dân tộc trên thế giới. Khâu phụ chế, gia công cũng là khâu rất quan trọng trong quá trình sản xuất. Để tạo ra sản phẩm phong phú đa dạng về màu sắc, kiểu dáng và có tính nghệ thuật cao cần đòi hỏi có tính sáng tạo gia công dày và tính kiên trì trong quá trình làm việc. Chẳng hạn như việc pha màu cho gia công hàng gốm sứ cần đòi hỏi đúng kỹ thuật, công thức. Cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ thường được bố trí gần nguồn nguyên liệu, hàng thủ công mỹ nghệ cũng được sản xuất chủ yếu bằng nguyên vật liệu sẵn có nên giảm bớt nhu cầu nhập khẩu nguyên phụ liệu cho sản xuất. Không phải như các ngành nghề khác, ngành hàng thủ công mỹ nghệ sử dụng lao động thủ công là chính. Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ thu hút được nhiều lao động trong đó có số lượng đáng kể là nông nhàn, tạo việc làm và tăng thu nhập góp phần xóa đói giảm nghèo cho dân cư. Do việc sản xuất còn theo tính chất “rập khuôn” nên không những sản phẩm tạo ra tuy đáp ứng Để tạo ra nguồn thu ngoại tệ và sản phẩm được giao lưu trên khắp thế giới thì khâu tiêu thụ hay gọi kênh lưu thông phân phối sản phẩm có vai trò rất quan trọng. Sản phẩm làm ra đẹp, phong phú đa dạng nhưng không tiêu thụ được thì cũng không phải là mục đích chính của các đơn vị sản xuất kinh doanh. Cần có những phương thức t._.iêu thụ nào đó để đẩy mạnh doanh thu từ đó tăng tỷ lệ lợi nhuận trong doanh thu. Ngày nay làm thế nào để đẩy mạnh tiêu thụ cũng như tiến hành một số phương thức như quảng cáo, xúc tiến thương mại, khách hàng là vấn đề rất khó khăn và tốn nhiều chi phí, công sức. Các đơn vị kinh doanh cần đặt ra cho mỗi đơn vị mình một hướng đi thích hợp phù hợp với điều kiện của mình và phù hợp với điều kiện CNH-HĐH đất nước cũng như sự phát triển của đất nước để thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng đang có nhiều lợi thế, tiềm năng trên thị trường trong nước và ngoài nước. 2. Cơ chế tổ chức thu mua hàng a) Cơ chế thu mua Một vấn đề chính phải nhắc đến trong công tác huy động nguồn hàng xuất khẩu là cơ chế thu mua. Quan hệ kinh tế giữa câc đơn vị và nguồn cung cấp hàng phải dựa trên nguyên tắc “đôi bên cùng có lợi". Lợi ích của các đơn vị là có hàng bán, thu được lãi, đồng thời đảm bảo các chỉ tiêu trả nợ của nhà nước giao cho. Đối với địa phương là tăng kim ngạch xuất khẩu, thu được ngoại tệ và đặc biệt là bảo đảm đời sống vật chất tinh thần cho người thợ sản xuất. Về chính sách giá cả: Bước vào nền kinh tế có nhiều biến động. Các đơn vị không còn sử dụng cơ chế giá như bao cấp, mọi việc định giá đều dựa vào yếu tố biến động chung là giá cả của mặt hàng thủ công mỹ nghệ. Đảm bảo người bán hàng và các đơn vị đều có lãi. Bên cạnh đó còn ảnh hưởng của chính sách tiền tệ tín dụng của nhà nước, chẳng hạn nhà nước có chính sách cho mặt hàng xuất khẩu nào đó từ đó tăng được nguồn hàng xuất khẩu, doanh thu tăng do vậy tăng nguồn thu cho hoạt động sản xuất. Gía cả hàng hoá luôn luôn biến động do vậy cần có thông tin thị trường kịp thời để đi đến ổn định chính sách giá cả kìm chế lạm phát và kích cầu người tiêu dùng đảm bảo phát triển và ổn định nền kinh tế đất nước. b) Tổ chức thu mua Công tác tổ chức thu mua là một công đoạn quan trọng trong nghiệp vụ hoạt động xuất khẩu. Hàng xuất khẩu là một mặt hàng đặc biệt phải được thị trường các nước ưa chuộng, để có hiệu quả trong việc sản xuất và xuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ này cần có cơ chế tổ chức thu mua đúng lúc, đúng chỗ, đầy đủ, kịp thời. Bên cạnh đó quan hệ với các đơn vị ngoại thương và các đơn vị sản xuất, thu mua, cung ứng hàng xuất khẩu còn áp dụng phương thức thu mua như liên doanh liên kết, phương thức thu mua đứt bán đoạn. * Phương thức liên doanh liên kết Phương thức liên doang liên kết mà các đơn vị ngoại thương thực hiện nhằm khai thác thế mạnh đồng thời tận dụng cơ hội mỗi bên tham gia như cơ sở sản xuất có nhà xưởng, kỹ thuật và đội ngũ công nhân có tay nghề cao còn các đơn vị ngoại thương có thị trường tiêu thụ ở nước ngoài, có kinh nghiệm giao dịch, “đấu tranh” bán được giá cao mà hai bên được hưởng, qua đó đẩy mạnh được kim ngạch xuất khẩu, tạo công ăn việc làm, mang lại lợi nhuận cho các bên tham gia cam kết. * Phương thức thu mua đứt bán đoạn Đây là phương thức thu mua được áp dụng phổ biến trong nhiều năm qua của các đơn vị ngoại thương thu mua hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu.Vấn đề cơ bản của phương thức thu mua này là trách nhiệm đối với chất lượng, số lượng, giá cả hàng hoá được xác định ngay tại thời điểm mua bán. Sau khi có phiếu nhập kho, địa phương hoàn toàn không chịu trách nhiệm về hàng hoá đó. Khi đó áp dụng phương thức thu mua này các đơn vị ngoại thương triển khai kiểm tra chất lượng và số lượng rất kĩ lưỡng song không vì thế mà việc thu mua thiếu phần đa dạng và phong phú. Dù thực hiện phương thức thu mua hàng xuất khẩu nào thi quy trình thu mua cũng phải xác định đầy đủ như: Cán bộ nghiệp vụ đến cơ sở chuẩn bị mẫu mã hàng để chào khách nước ngoài, sau khi khách chấp nhận mua hàng thì kí hợp đồng. Từ hợp đồng đó các phòng nghiệp vụ đến cơ sở sản xuất gia công thu mua, xác định khả năng nguồn hàng, xác định giá thành sản xuất, giá xuất xưởng, bao bì đóng gói, các chi phí và giá giao hàng trọn gói đến kho cảng của từng địa phương. Đây là cơ sở quyết định một mức giá mua và giá bán một cách tối ưu đạt mục tiêu tăng trưởng và mức lợi nhuận hợp lý. II. cơ cấu mặt hàng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam Trên thực tế xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam hướng vào những mặt hàng chủ yếu sau. 1. Nhóm sản phẩm gỗ Bao gồm các sản phẩm gỗ hoàn chỉnh, chủ yếu là đồ gỗ gia dụng và đồ gỗ mỹ nghệ. Đồ gỗ gia dụng có nhiều loại, chủ yếu là sản phẩm của những lao động thủ công có tay nghề cao, các khâu sản xuất công nghiệp có sử dụng máy móc thiết bị là khâu xử lý nguyên liệu đầu vào tương tự như khâu xử lý đất sét, cao lanh trong ngành đồ gốm. Mặt khác đồ gỗ gia dụng nếu được sản xuất chế biến thêm các khâu trạm khảm, sơn mài thì lại trở thành đồ gỗ mỹ nghệ. Đồ gỗ mỹ nghệ bao gồm tranh gỗ, tượng gỗ, hàng sơn mài…là nhóm hàng hiện nay đang có tỷ trọng xuất khẩu cao nhất trong xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ và cũng là mặt hàng có thế mạnh trong tương lai. Vì vậy cần xếp các sản phẩm này vào nhóm hàng thủ công mỹ nghệ để tận dụng các chính sách khuyến khích, ưu đãi của nhà nước. Nếu năm 1997 kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đạt 30 triệu USD thì năm 2000 đã đạt được gần 60 triệu USD. Dự tính trong 5 năm 2001-2005 với mức tăng trưởng trung bình 15-20% có thể đạt mục tiêu cho kim ngạch xuất khẩu năm 2005 vào khoảng 150 triệu USD. Trước đây, chủ yếu xuất khẩu hàng ra nước ngoài theo công thức hàng đổi hàng và tính cạnh tranh của mặt hàng này chưa cao nên sản phẩm còn quá đơn điệu về mẫu mã, kiểu dáng ít thay đổi và chất lượng chưa cao. Song từ năm 1989 trở lại đây, do thị trường chính là Liên Xô tan rã và mặt hàng gỗ mỹ nghệ( đặc biệt là sơn mài mỹ nghệ) chậm thay đổi, mặt khác yêu cầu của khách hàng ngày càng cao nên tỷ trọng tiêu thụ mặt hàng này chưa cao. Tuy nhiên một vài năm gần đây đã tăng lên nhưng không đáng kể. Biểu 1: Gía trị xuất khẩu sản phẩm gỗ một số năm gần đây Năm Trị giá xuất khẩu gỗ gia dụng (triệu USD) Trị giá xuất khẩu gỗ mỹ nghệ(triệu USD) Tổng tỉ trọng gỗ mỹ nghệ XK trong kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ (%) 1995 60 15 20.3 1996 63 22 19.3 1997 70 30 20.62 1998 75 33.75 20.2 1999 95 42.8 19.82 2000 120-130 70-80 21.75 Nguồn: Bộ Thương mại Dự tính với tốc độ tăng trung bình như hiện nay(khoảng 25%/năm) đến năm 2005 kim ngạch riêng của mặt hàng này có thể đạt khoảng 500-550 triệu USD. Năm 2010 trị giá 800-900 triệu USD. Như vậy đối với nhóm sản phẩm gỗ (bao gồm cả đồ gỗ gia dụng và đồ gỗ mỹ nghệ ) có thể tính kim ngạch khoảng 200 triệu USD trong năm 2000 và dự tính năm 2005 sẽ đạt khoảng500-550 triệu USD. Nhìn chung về giá trị xuất khẩu sản phẩm gỗ đã tăng qua các năm nhưng tính trong tỷ trọng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ thì tỷ trọng của sản phẩm gỗ tăng giảm rất nhiều. Tuy nhiên, hiện nay nhà nước đã hạn chế dần và đi đến cấm sản xuất chế biến hàng gỗ từ rừng nguyên sinh. Do đó phần nào làm giảm hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu từ sản phẩm gỗ. Mặc dù vậy nhiều đơn vị đã cố gắng cải tiến kỹ thuật đưa công nghệ cao vào sản xuất mật hàng mới xuất hiện làm từ gỗ rừng trồng, thành công trong xuất khẩu như gỗ ván, xuất khẩu từ cây tre, luồng. 2. Nhóm hàng gốm sứ mỹ nghệ Đây cũng là nhóm hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam hiện đang được thị trường nước ngoài ưa chuộng và có nhiều khả năng phát triển trong tương lai. Nghề sản xuất gốm sứ mỹ nghệ đã xuất hiện lâu đời ở Việt Nam, các làng nghề tương đối nhiều, song nổi tiếng vẫn là làng nghề Bát Tràng Gia Lâm Hà Nội. Vật liệu để sản xuất ra hàng gốm sứ không thật dồi dào nhưng cũng không phải là hiếm. Làng nghề Bát Tràng quanh năm làm nghề gốm sứ,để tạo ra sản phẩm nghệ nhân phải tốn nhiều thời gian đặc biệt trong công đoạn khắc và pha màu. Trong nhóm hàng có các mặt hàng như: Tượng phật Tam Đa, bình lọ hoa, chân nến, ấm chén, bình trà, con giống. Năm 1997 trong tổng kim ngạch xuất khẩu 121 triệu USD hàng thủ công mỹ nghệ (không kể đồ gỗ gia dụng ) thì trên 50% là hàng gốm sứ mỹ nghệ (62-63 triệu USD). Hàng gốm sứ cũng có nhiều loại: Không kể gốm sứ xây dựng và gốm sứ kỹ thuật, các loại gốm dân dụng và gốm mỹ nghệ cũng có nhu cầu ngày càng tăng cho thị trường trong nước và xuất khẩu.Trong sản xuất gốm sứ mỹ nghệ dù có ứng dụng một số quy trình công nghệ và sử dụng một số thiết bị máy móc hiện đại ở một số khâu nhất định, thì sản phẩm của ngành này vẫn chứa đựng đậm nét của sản phẩm thủ công truyền thống có tính văn hoá và mỹ thuật cao. Khách hàng nước ngoài thích sản phẩm này nhờ vào sự độc đáo lạ mắt mang đậm tính văn hoá của người phương đông nói chung và của người Việt Nam nói riêng. Những năm trước đây, sản phẩm gốm của ta rất khó cạnh tranh với hàng Trung Quốc - Đất nước khá nổi tiếng với thế giới về hàng gốm sứ. Song gần đây do người nghệ nhân có nhiều sáng tạo, làm ra nhiều sản phẩm lạ mắt mang tính truyền thống dân tộc và các doanh nghiệp cũng như các tổ chức có nhiều cố gắng để giới thiệu mật hàng này ra thị trường nước ngoài nên trị giá xuất khẩu của mặt hàng này tăng rất nhanh qua các năm và hiện nay trở thành mặt hàng chủ lực trong xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của nước ta. Vì vậy nhóm hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu cần được sự khuyến khích hỗ trợ, ưu đãi mạnh mẽ của nhà nước để biến triển vọng tốt đẹp của ngành nghề này trong những năm tới. Nếu năm 1999-2000 kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này tăng khoảng 100-120 triệu USD thì có thể đạt mục tiêu tăng trưởng trung bình 18-20% /năm trong thời kỳ 2001-2005 và đến năm 2005 đạt kim ngach 250-300 triệu USD. Năm 2010 đạt từ-500-550 triệu USD. 3. Nhóm hàng mây tre đan Trong nhóm hàng này có các mặt hàng như chiếu, làn đi chợ...với kiểu dáng đẹp, đa dạng.Nguyên liệu sản xuất ra nhóm hàng này khá dồi dào ở Đồng Bằng Sông Hồng, vì vậy giá đầu vào tương đối rẻ. Đây là mặt hàng dễ sản xuất, hầu như người thợ thủ công nào cũng có thể sản xuất mặt hàng này. Trong thời kỳ trước năm 1990, nhóm hàng này được phát triển và xuất khẩu với số lượng tương đối lớn. Năm 1989, riêng công ty xuất khẩu mây tre Việt Nam đã xuất khẩu đạt kim ngạch trên 50 triệu USD, trong đó là hàng mây tre đan, buông đan,mành tre, trúc, cọ…Những năm đầu thập kỷ 90, do thị trường Liên Xô cũ và Đông Âu bị thu hẹp đối với xuất khẩu của ta nên sản xuất xuất khẩu các loại hàng này bị trì trệ, giảm sút, kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng này trong những năm qua đã giảm đi đáng kể mặc dù quy trình sản xuất mặt hàng này tương đối đơn giản nên các yêu cầu khắt khe của khách hàng như màu sắc, kiểu dáng, hoa văn, trang trí trên sản phẩm đều dần được đáp ứng.Tuy nhiên vẫn chưa thu hút được nhiều khách hàng.Trong vài năm gần đây có dấu hiệu khôi phục lại, song sơ bộ đánh giá kim ngạch hiện nay chỉ đạt 20-25 triệu USD/năm. Xét thấy tình hình như trên, các doanh nghiệp cần đổi mới mẫu mã hàng và nhà nước cần hỗ trợ để các doanh nghiệp có thể trở lại với các thị trường cũ và mở rộng thêm thị trường mới. Theo báo cáo của các thương vụ của Việt Nam ở nước ngoài thì hiện nay Philipin xuất khẩu loại hàng này đạt khoảng 100-120 triệu USD/năm, Indonexia xuất khẩu khoảng 50 triệu USD/năm, Trung Quốc xuất khẩu nhóm hàng thảm ren và sản phẩm đan từ các loại cây đạt kim ngạch trên dưới 1 tỷ USD/năm. Nếu chúng ta làm tốt công tác tiếp thị, xúc tiến thương mại và thực hiện tốt chính sách hỗ trợ của nhà nước thì việc các doanh nghiệp có thể trở lại thị trường cũ và còn có cơ hội chinh phục các thị trường mới.Thực tế đã cho ta thấy mục tiêu phấn đấu năm 2000 trở lại mức 30-40 triệu USD kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng này đã đạt được và hiện nay chúng ta đang đặt ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2005 sẽ đạt được mức kim ngạch khoảng 60-80 triệu USD/năm.Đến năm 2010 kim ngạch đạt 120-130 triệu USD/năm. Biểu 2: Gía trị xuất khẩu hàng mây tre đan Năm Trị giá xuất khẩu hàng mây tre đan (triệu USD) Tỷ trọng xuất khẩu trong hàng thủ công mỹ nghệ (%) 1995 20 27 1996 24 21 1997 28 19.24 1998 30 18 1999 31 14.4 2000 40 12.3 4. Nhóm hàng thảm các loại(thảm len,thảm đay cói, thảm sơ dừa) Mặt hàng thảm trước năm 1990 Việt Nam xuất khẩu với khối lượng tương đối lớn( mỗi năm xuất khẩu khoảng 3 triệu m2 thảm đay, gần 2.5 triệu m2 thảm cói, gần nửa triệu m2 thảm len…). Sau năm 1990 ta gần như mất hẳn thị trường xuất khẩu các loại hàng hoá này, số lượng hàng năm giảm mạnh gây nhiều khó khăn cho sản xuất và lực lượng lao động trong ngành này. Vài năm gần đây ngành này đã có dấu hiệu hồi phục: Thái Bình đã có thị trường xuất khẩu mặt hàng đệm ghế cói(gần 500 nghìn chiếc với giá 0.7 USD/chiếc, dự kiến sẽ tăng lên 1 triệu chiếc/ năm, ngoài ra còn xuất khẩu được loại thảm cói đay với giá 1.5 USD/m2) ; Nam Định cũng xuất khẩu mỗi năm khoảng 1 triệu sản phẩm đay, 300 nghìn sản phẩm cói ; Hải Phòng, Nam Định, Hà Tây... vẫn có xuất khẩu sản phẩm len mỗi năm khoảng 15-25 nghìn m2/ năm. Ngoài ra còn có sản phẩm thảm sơ dừa của Bình Định cũng rất phát triển. Bình Định năm 1999 có thể sản xuất 100 nghìn m2 thảm sơ dừa. Nhìn chung kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này trong những nâm qua đã tăng lên nhưng chưa nhiều do nhu cầu thị trường đối với mặt hàng này chưa cao. Biểu 3: Gía trị xuất khẩu hàng thảm các loại Nguồn bộ Thương mại Năm Gía trị xuất khẩu hàng thảm các loại (triệu USD) Tỷ trọng xuất khẩu trong hàng thủ công mỹ nghệ (%) 1995 2 2.7 1996 3.3 2.9 1997 4 2.75 1998 5.5 3.3 1999 7 3.24 2000 9 3.12 Làm tốt công tác thị trườn,xúc tiến thương mại và có chính sách hỗ trợ của nhà nước thì trong những năm tới ngành này sẽ phát triển theo một bước mới. Dự kiến với tốc độ tăng như hiện nay được duy trì thì có thể năm 2005 xuất khẩu mặt hàng này sẽ đạt kim ngạch khoảng20-25 triệu USD/năm. Năm 2010 khoảng 40-45 triệu USD/ năm. 5. Nhóm hàng thêu ren thổ cẩm Các mặt hàng từ xưa đã có lịch sử phát triển lâu dài và trở thành những sản phẩm quen thuộc gắn bó với đời sống con người. Cùng với sự phát triển của xã hội, nghề thêu ren đã được ra đời và phát triển, trở thành ngành nghề truyền thống của các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Mỗi sản phẩm thêu ren ra đời đều phản ánh nét văn hoá nghệ thuật riêng của quốc gia, dân tộc sản xuất ra nó. Hàng thêu ren được sản xuất ra chủ yếu từ các loại vải cộng với bàn tay khéo léo, trí sáng tạo của người thợ thêu. Do tính chất đặc biệt của loại hàng này mà nghề thêu ren chỉ được phát triển ở một số quốc gia như: Trung Quốc, Thái Lan, Nhật, Campuchia, Hàn Quốc, Singapor, Việt Nam, Âns Độ. Những nước này có nghề thêu ren phát triển khá lâu đời.Trong số đó Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam là những nước có sản phẩm sản xuất lớn, đặc biệt là Trung Quốc, có thể nói là cường quốc về sản xuất và xuất khẩu hàng thêu ren. ở nước ta thêu ren là một trong những ngành nghề thủ công truyền thống của nhân dân. Qua quá trình phát triển và truyền tụng từ đời này qua đời khác, các sản phẩm thêu ren ngày nay của nước ta đa dạng về mẫu mã, chủng loại đã được mang đi giới thiệu và gây được sự quan tâm chú ý của nhiều thị trường trên thế giới. Chủ trương của Đảng và Nhà Nước ta là khuyến khích sản xuất và phát triển các mặt hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống trong đó có mặt hàng thêu ren. Việc sản xuất hàng thêu ren không cần vốn đầu tư ban đầu lớn, nó khắc phục khó khăn ban đầu của ta là thiếu vốn. Hàng thêu, ren, khăn trải bàn, ga trải giường, áo gối thêu, trước đây ta cũng xuất khẩu với số lượng lớn vào thị trường Liên Xô và Đông Âu. Sau năm 1990 xuất khẩu hàng hoá này giảm nhiều. Tuy nhiên nhu cầu thị trường thế giới đối với hàng thêu thủ công và hàng ren có nhưng không ổn định, tăng giảm thất thường. Hiện nay có xu hướng giảm đi rất nhiều do thị trường xuất khẩu bị thu hẹp. Đối với nhóm hàng này, nhiều tỉnh thành còn duy trì được ngành nghề xuất khẩu như Thái Bình, Nam Định, Hà Nội, TP Hồ Chí Minh,TP Hải Phòng. Đều có xuất khẩu trong những năm gần đây, hàng thổ cẩm là sản phẩm truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số, tại Lào Cai được tổ chức phi chính phủ Pháp – Mỹ giúp đỡ đã lập" tổ sản xuất hàng thổ cẩm”.ở Sapa trong thời gian ngắn đã thu hút hơn 200 lao động, sản xuất và tiêu thụ trên 30 nghìn sản phẩm, chủ yếu là bán cho khách du lịch(coi như xuất khẩu tại chỗ). Tại làng Mỹ Nghiệp(Ninh Thuận) có hàng trăm người chuyên dệt thổ cẩm của người Chăm rất nổi tiếng. Khách hàng Nhật đã đến tận nơi đặt mua từng lô hàng nhỏ, sản phẩm của làng nghề này còn được đưa vào TP Hồ Chí Minh bán cho du khách du lịch.ở tỉnh phía Bắc dân tộc Thái, Mường đều có truyền thống dệt thổ cẩm cần được quan tâm phát triển. Hiện nay không có số liệu chính xác nhưng theo ước lượng kim ngạch xuất khẩu loại mặt hàng này đạt khoảng 20 triệu USD/năm. Nếu chúng ta thực hiện tốt công tác xúc tiến thương mại và khách hàng, dự kiến năm 2005 kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này sẽ đạt khoảng 20-25 triệu USD. Năm 2010 đạt khoảng 30-35 triệu USD. Biểu 4: Gía trị xuất khẩu hàng thêu,ren, thổ cẩm Năm Gía trị xuất khẩu hàng thêu, ren,thổ cẩm (triệu USD) Tỷ trọng xuất khẩu trong hàng thủ công mỹ nghệ (%) 1995 10 13.5 1996 12 10.5 1997 13 8.9 1998 14 8.4 1999 16 7.4 Nguồn: Bộ Thương mại 6. Nhóm hàng thuộc các ngành nghề thủ công khác(chạm bạc, khắc đá, đồ đồng, đúc, chạm) Những mặt hàng nàylà những mặt hàng truyền thống và đa dạng. Làm ra loại hàng này rất khó mất nhiều thời gian công sức và nghệ nhân phải là những người lành nghề không chỉ khéo tay mà còn sáng tạo, có đầu óc thẩm mỹ hàng hoá là những sản phẩm nghệ thuật, đồng thời giá trị nghệ thuật của các đơn vị sản phẩm thuộc loại này cao hơn cả. Khách hàng tiêu dùng loại này thường có mức thu nhập cao hơn. Trị giá xuất khẩu mặt hàng này không ổn định, có xu hướng giảm xuống qua các năm. Biểu5: Giá trị xuất khẩu các loại khác Năm Giá trị xuất khẩu (triệu USD) Tỉ trọng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ (%) 1995 7 9.5 1996 7.5 6.3 1997 8 5.49 1998 8.7 5.1 1999 9 4.13 Nguồn: Bộ Thương mại III. Thị trường xuất khẩu hàng thủ công mĩ nghệ của Việt Nam Như đã nêu, thị trường xuất khẩu loại hàng hoá này trong mấy chục năm qua cố những giai đoạn thăng trầm có nhiều chủng loại hàng hoá đa dạng hoá thị trường và quan hệ buôn bán với các nước trên thế giới. Trong xuất khẩu hàng thủ công mĩ nghệ, một mặt ta không bỏ qua nhửng nhu cầu, nhủng lô hàng nhỏ, miễn là bán được hàng, phát triển đươc sản suất có hiệu quả kinh tế xã hội, tạo được việc làm và thu nhập cho người lao động trong nước, mặt khác cần hết sức quan tâm, có định hướng chiến lược, chính sách và biện pháp khai thác thị thị trường, có dung lượng lớn, có nhu cầu thường xuyên và phong phú về chủng loại hàng thủ công mĩ nghệ mà ta có khả năng phát triển từng bước tạo sức cạnh tranh mới để thâm nhập các thị trường này với qui mô ngày càng lớn bảo đảm nối ra cho sản xuất ngày càng phát triển ổn định Hàng thủ công mĩ nghệ của việt nam đến nay đã có mặt trên 50 nước và lãnh thổ ở khắp các châu lục của thế giới. Thị trường xuất khẩu loại hàng hoá nầy trước năm 1990 chủ yếu là xuất khẩu sang các nước Liên Xô cũ và Đông âu. Nhưng nhìn chung chưa xuất khẩu được nhiều vào thị trường có nhu cầu và dung lượng lớn. Khả năng mở rộng thêm thị trường mới và tranh thủ cơ hội khai thác sâu vào các thị trường đã có, nhất là những thị trường có nhu cầu lớn và lâu dài. Khả năng hiện thực cần phấn đấu khai thác trong những năm tới. Dưới đây nêu chi tiết về một số thị trường, khu vực thị trường ta cấn quan tâm. 1. Thị trường Châu á thái bình dương Đây là khu vực thị trường dầy tiềm năng, các nước thuộc khu vực này có tốc độ phát triển kinh tế cao của thế giới. Hơn thế nữa về điều kiện địa lí khu vực này gồm các nước gần Việt Nam, giao thông vận tải giữa các nước này dễ dàng hơn có thể bằng đường biển, đường không. Hiện nay đây là khu vực có các bạn hàng Việt Nam.Trong tương lai đây vẫn là thị trường lớn nhất của nước ta. Hầu hết đều tiêu thụ ở thị trường này. Biểu 6: Trị giá xuất khẩu hàng thủ công mĩ nghệ sang Châu á thái bình dương Năm Kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ sang châu á - Thái Bình Dương (triệu USD) Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ (Triệu USD) Tỷ trọng (%) 1995 44,178 71 62,2 1996 68,28 113,8 60 1997 98,067 145,5 67,4 1998 115,529 166,95 69,2 1999 153,218 215,8 71 Nguồn: Bộ Thương mại Qua biêu trên ta có thể nhận thấy giá trị hàng năm xuất khẩu sang khu vực Châu á thái bình dương tăng lên qua các năm và ngày càng chiếm tỉ trọng lớn hơn trong kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mĩ nghệ. Nó chứng tỏ tầm quan trọng của thị trường nay đối với nhóm hàng thủ công mĩ nghệ truyền thống. a) Thị trường Nhật Bản. Nhật Bản là thị trường gần và có nhu cầu lớn về nhiều loại hàng xuất khẩu của ta, và nếu xét về thị trường theo từng nước (không theo khu vực của thị trường) thì Nhật Bẩn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của ta từ năm 1991 đến nay (năm 1991 chiếm tỉ trọng 34.5%, năm 1998 gần 16% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam). Nhật cũng là thị trường rộng lớn đối với nhiều chủng loại hàng thủ công mĩ nghệ của ta. Thị trường Nhật có nhu cầu lớn về hàng sứ, trong nhưng năm gần đây nhập khẩu mặt hàng này của Nhật tăng mạnh (riêng năm 1996 kim ngạch nhập khẩu đạt 1 tỉ USD ).Tuy nhiên, thị phần mặt hàng gốm sứ Việt Nam tiêu thụ trên thị trường Nhật chiếm rất nhỏ, theo đánh giá chung của cơ quan thương vụ, kim ngạch xuất khẩu hàng gốm sứ của Việt Nam vào Nhật trong những năm vừa qua chỉ đạt khoảng 5 triệu USD/Năm. Người Nhật cũng có nhu cầu lớn về đồ gỗ gia dụng và đồ gỗ mĩ nghệ của Việt Nam. theo thống kê của Nhật, hàng năm chúng ta đã xuất khẩu khoảng 60 triệu USD đồ gỗ gia dụng. Trên thực tế bạn hàng lớn nhất của Việt Nam về hàng thủ công mĩ nghệ chính là Nhật (15 triệu USD 8 tháng đầu năm 2000. Để đẩy mạnh xuất khẩu các loại hàng thủ công mĩ nghệ vào thị trường Nhật các doanh nghiệp cần được các cơ quan xúc tiến thương mại cung cấp thông tin về thị trường,và phải có phương thức và kênh bán hàng phù hợp (hầu hết các công ty trên thị trường Nhật đều bán hàng thông qua chi nhánh của mình tai Nhật ngay từ luc khởi đầu: hoặc làm việc thông qua các công ty thương mại có quan hệ với thị trường nhập khẩu của Nhật hoặc liên hệ đươc các cửa hàng lớn ở Nhật vì họ chủ động tiếp nhận trực tiếp nhận hàng từ nước ngoài. Biểu 7: Kinh ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ sang Châu á - Thái Bình Dương Năm Kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ sang châu á - Thái Bình Dương (triệu USD) Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Nhật(Triệu USD) Tỷ trọng (%) 1995 44,178 9,7196 22 1996 68,28 18,4356 27 1997 98,067 31,2 31,8 1998 115,529 38,7 32,7 1999 153,218 56 36,5 Nguồn: Bộ Thương mại b) Thị trường Đài Loan, Hồng Kông và Hàn Quốc Đài Loan: là thị trường nhập khẩu sản phẩm gỗ của công nghiệp, trong đó có đồ gỗ gia dụng và mĩ nghệ, kim ngạch hàng năm khoảng 50 – 60 triệu USD, chiếm 20% kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này của Đài Loan và đây là thị trường còn nhiều tiềm năng ta có thể khai thác để xuất khẩu, vì thuế nhập khẩu loại mặt hàng này của Dài Loan thấp, chỉ từ 0% - 2.5%.ngoài ra một số chủng loại hàng thủ công mĩ nghệ khác cũng được xuất khẩu sang thị trường này: Đá mĩ nghệ non nước (Đà nẵng) Đài Loan cũng là một thị trường hứa hẹn đối với sản phẩm thủ công mĩ nghệ.Trị giá xuất khẩu qua các năm đẵ tăng đáng kể. Các doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng truyền thống cần chú trọng vào thị trường tiềm năng này để phát triển Biểu 8: Giá trị xuất khẩu sang Đài Loan Năm Kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ sang châu á - Thái Bình Dương (triệu USD) Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ sang Đài Loan (Triệu USD) Tỷ trọng (%) 1995 44,178 7,86 17,8 1996 68,28 13 19,1 1997 98,067 19,6 20 1998 115,529 26,6 23 1999 153,218 39 25,6 Nguồn: Bộ Thương mại Hàn Quốc – Hồng Kông: Đây là thị trường lâu nay ta đã xuất khẩu được nhiều trủng loại hàng thủ công mỹ nghệ. Theo thống kê trong 8 tháng đầu năm 1999 kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của ta sang các thị trường này đạt 5,5 triệu USD. Ngoài ra thị trường Hồng Kông còn là thị trường chuyển khẩu lớn của các nước châu á, các mặt hàng của các nước sẽ được nhập khẩu vào Hồng Kông sau đó sẽ được tái xuất sang các thị trường khác như châu Âu, châu Mỹ 2. Thị trường Tây - Bắc Âu Thị trường EU là thị trường rộng lớn, xuất khẩu của ta sang khu vực thị trường này trong những năm gần đây tăng khá nhanh, hiện nay chiếm tỷ trọng 1/4 trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Đây cũng là một thị trường ta xuất được nhiều hàng thủ công mỹ nghệ và có nhiều triển vọng, mở rộng và đẩy mạnh tiêu thụ một số loại hàng ta có khả năng phát triển. Sản phẩm gỗ của ta hiện nay đang thâm nhập rất tốt vào thị trường EU, thị trường tiêu thụ đồ gỗ lớn nhất thế giới, đây cũng là một trong các thị trường trọng điểm cho đồ gỗ chế biến của ta. Biểu 9: Trị giá xuất khẩu thủ công mỹ nghệ vào thị trường EU. Năm Kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ (triệu USD) Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ sang thị trường Tây – Bắc Âu (Triệu USD) Tỷ trọng (%) 1995 71 9,62 13,55 1996 113,8 15.6 13,7 1997 145,5 21,8 15 1998 166,95 29,7 17,8 1999 215,8 43,16 20 Nguồn: Bộ Thương mại Hàng gốm sứ mỹ nghệ cũng là nhóm hàng đang tiêu thụ mạnh sang khu vực thị trường này. Thông qua hội chợ FranKfurt hàng năm tại Đức, một số công ty của ta đã thành đạt trong việc nắm bắt được nhu cầu của khách hàng ký được nhiều hợp đồng xuất khẩu hàng gốm sứ mỹ nghệ. Đặc biệt hàng gốm sứ Việt Nam đã được nhiều khách hàng ưa chuộng, có thương nhân đã chuyển toàn bộ đơn đặt hàng từ các nước xung quanh để tập hợp đặt hàng vào Việt Nam và hứa hẹn giúp đỡ đầu tư mở rộng sản xuất tăng lượng hàng cung ứng cho thị trường này lên 2 - 3 lần so với hiện nay. Các mặt hàng như: mây, tre, lá đan, các sản phẩm bàn ghế trang trí nội thất bằng nguyên liệu song mây hàng thêu ren. Cũng được thị trường này ưa chuộng và chúng ta đã thực hiện được xuất khẩu khối lượng đáng kể như hàng mây tre xuất sang Tây Âu, thảm cói, đệm cói sang Hà Lan, Tây Ban Nha, ý Hàng thêu ren, thảm dệt sang thị trường Pháp, ý, Thuỵ Sỹ, áo, Đức… Trong khu vực thị trường này, hầu hết các nước đều nhập hàng thủ công mỹ nghệ của ta, trong đó có một số thị trường nhập khẩu với kim ngạch tương đối lớn. Riêng 8 tháng đầu năm 2000 ta đã xuất khẩu sang Đức 7,6 triệu USD; Bỉ 6,2 triệu USD, Hà Lan 5,9 triệu USD, Anh 4,2 triệu USD. Nhưng thực tế cho ta thấy nhu cầu của thị trường này về hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam là rất lớn nhưng do các cơ sở sản xuất hiện nay mới hồi phục nên chưa đáp ứng đủ cho khách hàng. Thực tế trên chứng minh nếu phát hiện, nắm bắt được nhu cầu thị hiếu của từng thị trường và có giải pháp thích hợp để đáp ứng thì mở rộng được thị trường tiêu thụ, phát triển được sản xuất, tạo được việc làm và thu nhập cho dân. 3. Thị trường Nga, các nước Liên Xô cũ (SNG) và Đông Âu. - Đây là khu vực thị trường rộng lớn đã từng một thời trên 30 năm (từ 1955 - 1990) là thị trường chủ yếu (nếu không muốn nói gần như là thị trường độc nhất) tiêu thụ các sản phẩm thủ công mỹ nghệ xuất khẩu của Việt Nam. Kim ngạch cao nhất là năm 1985 đã đạt tới con số gần 20 triệu Rúp. - Từ sau năm 1990, tại khu vực thị trường này có những biến đổi lớn có tính đảo lộn về chính trị và kinh tế gây khó khăn cho việc xuất khẩu những loại hàng hoá này của ta. - Trong mấy năm gần đây do cố gắng chung của các cơ quan nhà nước và các doanh nghiệp, hàng xuất khẩu của ta trong đó có thủ công mỹ nghệ đã từng bước khôi phục thị trường xuất khẩu vào thị trường Nga và một số nước trong khu vực. Năm 1998 một đơn vị ở Gia Lai đã đăng kí một hợp đồng trị giá 200.000 USD xuất khẩu sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ bằng song mây với công nghệ kỹ thuật cao sang thị trường Nga và các sản phẩm như bàn ghế, tủ giường, làn sách tay, giỏ hoa của đơn vị mang sang chào hàng ở đây đã được đánh giá cao. Điều đó chứng tỏ doanh nghiệp ta đã trở lại thị trường này với phương thức, cung cách làm ăn mới thì thành đạt Biểu 10: Giá trị xuất khẩu thủ công mĩ nghệ vào thị trường Nga, các nước SNG và đông âu Năm Kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ (triệu USD) Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ sang thị trường Nga, các nước SNG (Triệu USD) Tỷ trọng (%) 1995 71 8,3 12,5 1996 113,8 12,2 10,5 1997 145,5 13,1 9 1998 166,95 13,52 8,1 1999 215,8 14,24 6,6 Nguồn: Bộ Thương mại Dù sao đây cũng là khu vực thị trường có nhu cầu lớn về nhiều chủng loại hàng hoá mà ta có thể đáp ứng, trong đó có hàng thủ công mĩ nghệ, trong kí ức người tiêu dùng ở đây chắc ít nhiều vẫn còn dấu ấn về những mặt hàng thủ công mĩ nghệ của ta trong một thời gian dài ở qúa khứ và có lẻ những điều nêu trên vẫn còn quen đây là khu vực thị trường truyền thống. Vì vậy cần quan tâm trở lại khu vực thị trường này, nhưng không thể với những phương thức và cách làm ăn trước đây mà phải khai thác khu vực thị trường lớn này bằng mẫu mã mới, sản phẩm mới với chất lượng giá cả, phương thức bán hàng phù hợp và có sức cạnh tranh nếu so với các khu vực thị trường này chiếm một tỷ trọng rất nhỏ. 4. Một số thị trường tiềm năng khác. Thị trường Mỹ: Khi thị trường Mỹ được mở rộng theo quy chế bình thường (Khi hiệp định thương mại Việt Mỹ được kí kết ) trong quan hệ buôn bán với ta thì đây cũng là thị trường lớn đối với hàng thủ công mĩ nghệ Việt Nam.Tuy nhiên, ngay trong điều kiện hiện nay một số doanh nghiệp của ta đã xuất khẩu các sản phẩm mây tre đan mỹ nghệ và các sản phẩm mỹ nghệ cao cấp như tranh ghép, tranh sơn mài nhu cầu thủ công mĩ nghệ ở khu vực thị trường này mấy năm gần đây có chiều hướng giảm mặc dù Mỹ có nhu cầu rất lớn về hàng gốm sứ và hầu hết không sản xuất loại hàng này. Năm 1997 nhập khẩu 3,1 tỷ USD và năm 2000 là 4,8 tỷ USD về hàng gốm sứ và theo dự báo hàng năm còn tăng từ 7% - 15%. Trong những năm tới chúng ta phải tích cực nghiên cứu khu vực thị trường mới mẻ này để xuất khẩu vừa để tăng kim ngạch xuất khẩu vừa để hưởng chế độ đãi ngộ (MFN) đặc biệt của mỹ. Ngoài ra còn một số các thị trường đang nhập khẩu hàng thủ công mĩ nghệ cuả Việt Nam: Thị trường Trung Đông mà hiện còn nhiều tiềm năng Ta chưa khai thác được để đẩy mạnh xuất khẩu. Trong những năm gần đây hàng thủ công mĩ nghệ của ta bắt đầu xâm nhập vào thị trường nay như các tiểu Vương Quốc Arap thống nhất, Israel, Iran, Arap xế ut. Sự phục hồi trở lại của thị trường SNG và các nước Đông Âu cũng là một dấu hiệu đáng ._. độ cao là mấu chốt đảm bảo cho đàm phán thành công. 6. Quản lý chặt chẽ trong khâu thanh toán: Quản lý khâu thanh toán là vấn đề quan trọng trong kinh doanh thương mại quốc tế. Các đơn vị cũng như nhiều nhà xuất khẩu Việt Nam đều nhận thấy sự phức tạp trong khâu này và trong thực tế đây cũng là khâu thường xuyên xảy ra tranh chấp. Hậu quả là các cuộc thưa kiện kéo dài tốn kém và các nhà xuất khẩu thường phải chịu thiệt thòi. Hiện nay, chúng ta hầu như áp dụng phương thức thanh toán L/C cho hoạt động xuất khẩu, đây là phương thức thanh toán có nhiều ưu điểm. Tuy nhiên để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh xuất khẩu cho khâu này, các đơn vị phải tổ chức tốt cho khâu này từ khi kí kết hợp đồng, qúa trình thực hiện hợp đồng đến cả sau khi thực hiện hợp đồng. Các rủi ro thanh toán thường gặp mà các đơn vị cần phải tránh, đặc biệt cho thực hiện hợp đồng với khách hàng có quan hệ làm ăn lâu dài, đó là: - Rủi ro biến động tỷ giá bất lợi, đồng tiền thanh toán bị mất giá. - Rủi ro từ phía ngân hàng phát hành L/C không có uy tín trong thanh toán, dẫn đến không giữ đúng cam kết thanh toán của ngân hàng đã ghi trong L/C đối với các đơn vị - Rủi ro xuất phát từ nguồn gốc là do không thực hiện đúng các điều kiện ghi trong L/C có các nội dung cơ bản như sau: thời hạn giao hàng chậm so với qui định trong L/C, chuyên chở hàng hoá không đúng qui định của L/C, cơ cấu mặt hàng không phù hợp nội dung L/C. - Rủi ro thanh toán hình thức hoặc nội dung chứng từ không phù hợp với L/C. - Một số rủi ro khác. Để tránh các rủi ro trên, nâng cao hiệu quả công tác thanh toán quốc tế, các đơn vị nên thực hiện quản lý khâu thanh toán theo cách thức sau: - Trước khi kí kết hợp đồng vẫn tìm hiểu bạn hàng là ai? Nắm bắt thiện chí, nhu cầu nhập khẩu của họ tránh sự lừa đảo đáng tiếc xảy ra. - Tránh sự biến động tỷ giá về đồng tiền thanh toán bị mất giá do từ khi kí đến thời điểm thanh toán thường rất dài, đảm bảo giá trị hợp đồng thu về bằng cách thêm vào các điều khoản bảo đảm tỷ giá ngay khi kí kết hợp đồng, có thể bằng cách bảo đảm sau: + Bảo đảm bằng vàng. + Bảo đảm bằng đồng tiền có giá trị ổn định. + Bảo đảm theo rổ tiền tệ. - Yêu cầu ngay trong hợp đồng chi tiết quan trọng trong nội dung L/C như chỉ định ngân hàng thanh toán, ngân hàng thông báo sao cho đơn vị nắm chắc được quyền hưởng lợi L/C và những nghĩa vụ ràng buộc. - Luôn cẩn thận với L/C do ngân hàng phát hành gửi đến, phân tích kỹ từng nội dung nhỏ của L/C nhận được, không nên chỉ quan tâm đến nội dung chủ yếu mà bỏ qua chi tiết nhỏ thực tế lại rất quan trọng trong thanh toán. Việc xem xét các chi tiết ấy phải được tiến hành chủ động tích cực, Sự phù hợp giữa L/C và hợp đồng, khả năng thực hiện và ý đồ của người nhập khẩu. - Nếu gặp khó khăn trong thời hạn giao hàng, thời hạn xuất trình chứng từ và các chứng từ thanh toán các đơn vị cần phải kiên quyết yêu cầu điều chỉnh L/C cho phù hợp. - Phải hết sức cố gắng để có bộ chứng từ hoàn hảo theo đúng yêu cầu của L/C từng chi tiết nhỏ nhặt nhất phải phù hợp với luật lệ điều tiết của L/C trong thời hạn hiệu lực của L/C. - Nếu cần thiết thì sử dụng cố vấn của ngân hàng để đạt được chứng từ hoàn hảo, nên tôn trọng những lời khuyên của ngân hàng. 7. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong hoạt động xuất khẩu. Nếu các đơn vị huy động vốn được nhiều hơn như hiện nay, điều chắc chắn rằng kinh doanh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ thu lại được nhiều lợi nhuận, sức cạnh tranh lớn. Do vậy các đơn vị phải huy động từ mọi nguồn có thể được và phải sử dụng có hiệu quả. Nguồn vốn mà các đơn vị có thể huy động là từ các ngân hàng, các đơn vị các tổ chức khác và vốn của cán bộ công nhân viên trong công ty. Muốn sử dụng có hiệu quả các đơn vị cần giải quyết tốt các công việc như thu hồi công nợ, giải phóng hàng tồn kho, chống phát sinh công nợ mới và hàng tồn kho mới. Đầu tư có trọng điểm vào những hoạt động có khả năng mang lại hiệu quả và thu hồi vốn nhanh. Cùng với việc sử dụng vốn có hiệu quả là tiết kiệm chi tiêu, giảm chi phí hành chính, phí kinh doanh, tập trung vốn cho kinh doanh. B. Về phía Nhà nước 1. Tăng mức ưu đãi đầu tư sản xuất kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ Với hệ thống chính sách khuyến khích, ưu đãi hiện hành, thì trong sản xuất kinh doanh nội địa các dự án đầu tư sản xuất - kinh doanh các mặt hàng thủ công mỹ nghệ thuộc các ngành nghề truyền thống được ưu đãi ở mức cao hơn các mặt hàng thủ công mỹ nghệ khác không thuộc các ngành nghề truyền thống. Nhưng trong trường hợp xuất khẩu (nếu xuất khẩu đạt giá trị trên 30% giá trị hàng hoá sản xuất kinh doanh của Các doanh nghiệp) thì mức ưu đãi không có gì khác biệt giữa hàng thủ công mỹ nghệ thuộc ngành nghề truyền thống và các hàng hoá xuất khẩu khác. Vì vậy đề nghị: hàng thủ công mỹ nghệ thuộc các ngành nghề truyền thống theo quy định (thuộc diện khuyến khích, ưu đãi trong danh mục A). Trong trường hợp có xuất khẩu trên 30% giá trị hàng của đơn vị sản xuất - kinh doanh (đây cũng là một nội dung được ưu đãi trong danh mục A) tức là đạt hai nội dung được ưu đãi quy định trong danh mục A, thì cho hưởng mức ưu đãi cao hơn, cụ thể là cho hưởng mức ưu đãi cao hơn liền kề, thí dụ: + Dự án sản xuất kinh doanh mặt hàng thủ công mỹ nghệ thuộc ngành nghề truyền thống (thuộc danh mục A), có sử dụng nhiều lao động, được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 2 năm và giảm 50% cho 4 năm tiếp theo. + Nếu dự án thực hiện xuất khẩu trên 30%(tức là đạt một nội dung khác của danh mục A), thì được hưởng mức ưu đãi cao hơn liền kề, tức là miễn ba năm thuế thu nhập doanh nghiệp và giảm 50 % cho 5 năm tiếp theo. 2. Sửa đổi bổ xung các quy định cho vay vốn, nhất là vốn ưu đãi: a. Theo nghị định 43/1999/NĐ-CP ngày 29 /6/1999 của chính phủ về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước: Thì chỉ những dự án đầu tư tại các vùng khó khăn (trong đó có các dự án sản xuất hàng xuất khẩu đặc biệt là các dự án sử dụng nhiều lao động) mới được vay vốn từ quỹ hỗ trợ phát triển của Nhà nước. Vì vậy, đề nghị chính phủ mở rộng thêm việc cho vay vốn từ quỹ này đối với các dự án đầu tư sản xuất kinh doanh thuộc các ngành nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống đã được quy định trong danh mục A không kể là các dự án đầu tư tại vùng nào, đồng thời các dự án này được áp dụng chính sách “ Hỗ trợ lãi xuất sau đầu tư theo quy định tại nghị định 43 nêu trên, hoặc được quỹ này bảo lãnh tín dụng đầu tư. Trường hợp dự án đầu tư sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu thì còn có thể được quỹ hỗ trợ xuất khẩu quốc gia cấp tín dụng xuất khẩu ưu đãi và bảo lãnh tín dụng xuất khẩu. b. Chính sách khuyến khích, ưu đãi hiện có đói với các làng nghề truyền thống ( theo luật khuyến khích đầu tư trong nước): Là áp dụng cho các dự án đầu tư thành lập mới hoặc mở rộng các cơ sở sản xuất kinh doanh các mặt hàng thủ công mỹ nghệ. Thực trạng hiện nay là các đơn vị sản xuất - kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ đều thiếu vốn, không vay được vốn hoặc không đủ sức vay vốn với lãi suất cao để tổ chức sản xuất kinh doanh (mua nguyên vật liệu để sản xuất hoặc mua sản phẩm để tiêu thụ trong nước và xuất khẩu). Vì vậy, để khuyến khích khai thác các cơ sở sản xuất kinh doanh hiện có tăng nguồn hàng cho xuất khẩu, đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh có hợp đồng xuất khẩu đạt mức 50.000 USD trở nên đề nghị chính phủ cho hưởng các ưu đãi về vốn kinh doanh như sau: - Được ngân hàng ưu tiên cho vay đủ vốn sản xuất kinh doanh theo hợp đồng đã ký. - Sau khi thực hiện hợp đồng, được quỹ hỗ trợ phát triển của Nhà nước hoặc quỹ hỗ trợ xuất khẩu hỗ trợ lãi suất theo qui định tại nghị định 43/1999/NĐ-CP ngày 29/6/1999, tức là hỗ trợ 50% lãi suắt trên số vốn thực tế đã vay của ngân hàng. - Đồng thời, các nhà sản xuất - kinh doanh hàng xuất khẩu cũng được hưởng các ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp qui định tại điều 27 nghị định 51/1999/NĐ - CP ngày 08/7/1999 của chính phủ qui định chi tiết thi hành luật khuyến khích đầu tư trong nước ( sửa đổi), tức là các ưu đãi bổ sung về thuế đối với các nhà đầu tư sản xuất - kinh doanh hàng xuất khẩu. 3. Chính sách đối với các làng nghề: Nghề thủ công truyền thống của Việt Nam được duy trì và phát triển chủ yếu là nhờ ở các làng nghề. Trong cả nước có đến hàng nghìn làng nghề. Riêng các tỉnh đông bằng Sông Hồng mỗi nơi có hàng trăm làng nghề: Hải Dương, Hưng Yên,... Nam Định, Hà Nam có trên 200 làng nghề Hà Tây,Thái Bình mỗi nơi có gần 100. Bắc Ninh gần 60 làng nghề. Có những làng nghề tồn tại và phát triển hàng trăm năm, thậm chí hàng nghìn năm nay (nghề gốm Bát Tràng có từ 500năm, nghề kim hoàn: 1400 năm, nghề tơ lụa Hà Đông: 1700 năm). Theo một số tài liệu nghiên cứu thì ở Việt Nam có đến 52 nhóm nghề thủ công truyền thống.Trong qúa trình phát triển, nhất là trong những năm gần đây hoạt động theo cơ chế thị trường, các làng nghề đã phân hoá rõ rệt: một số làng nghề phát triển mạnh và có sự lan toả sang các vùng xung quanh (như nghề gốm, chạm khảm, chế biến gỗ, mây tre), một số làng nghề phát triển cầm chừng, không ổn định( nghề đồ sành, đúc đồng,...), có những làng nghề gặp nhiều khó khăn ít có cơ hội phát triển (nghề giấy dó, gò đồng, đệt thổ cẩm,...), đồng thời có những làng nghề đang trong quá trình suy vong và có khả năng mất đi( như nghề giấy sắc, tranh dân gian, dệt quai thao,...). Trong quá trình phát triển, những làng nghề có điều kiện và cơ hội phát triển nhanh đều gặp một số khó khăn như thiếu vốn hoạt động, cơ sở hạ tầng yếu kém, ô nhiễm môi trường và hiện nay có nơi vấn đề cơ sở hạ tầng và môi trường đặt ra rất gay gắt, bức xúc, như ở làng gốm Bát Tràng, làng giấy, làng sắt ở Bắc Ninh,... Để các ngành nghề thủ công truyền thống, các làng nghề duy trì và phát triển hoạt động sản xuất - kinh doanh. Nhà nước cần có các chính sách khuyến khích, hỗ trợ, chủ yếu tập trung trên các mặt sau: a. Đối tượng được hưởng các chính sách khuyến khích, ưu đãi của Nhà nước: Các doanh nghiệp, các đơn vị sản xuất kinh doanh được thành lập theo pháp luật. Vì vậy, các làng nghề phải thông qua các đơn vị sản xuất kinh doanh của mình để tranh thủ khai thác các chính sách khuyến khích ưu đãi hiện hành của Nhà nước cũng như các chính sách sẽ được ban hành trong tương lai. Hiện nay tại các làng nghề các đơn vị sản xuất kinh doanh đăng ký hoạt động dưới nhiều hình thức tổ chức: doanh nghiệp Nhà nước, công ty - doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã hoặc cá nhân - nhóm kinh doanh theo nghị định 66/HĐBT) ngày 02/3/1992( tại làng gốm Bát Tràng có 15 doanh nghiệp, công ty, hợp tác xã và khoảng 1000 hộ sản xuất kinh doanh). Như vậy, trước hết cần phổ biến, hướng dẫn cho các nhà sản xuất kinh doanh trng làng nghề đăng ký hoạt động theo đúng pháp luật, hiểu biết các chính sách khuyến khích, ưu đãi hiện có hoặc sẽ được Nhà nước ban hành. Chính sách hỗ trợ ưu đãi của Nhà nước đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh các mặt hàng thủ công truyền thống mà chủ yếu trong chính sách của Nhà nước đối với các làng nghề. b. Mặt khác, làng nghề với tư cách là một đơn vị hành chính, một đơn vị tổ chức làm ăn có tính phường hội: Cần được sự hỗ trợ của Nhà nước để xử lý một số vấn đề như cơ sở hạ tầng, môi trường... đối với toàn bộ làng nghề. Để xử lý các vấn đề nêu trên, vừa phải tổ chức, động viên” nội lực” của các đơn vị sản xuất kinh doanh trong làng nghề, vừa cần có chính sách hỗ trợ của Nhà nước, tương tự như việc Nhà nước hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào của các khu công nghiệp (ở các khu công nghiệp, Nhà nước đảm bảo đầu tư 100%). Từ đó đề nghị chính phủ cho thực hiện chính sách hỗ trợ tài chính thực hiện các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng (đường giao thông, bến bãi, đường dây tải điện...), dự án xử lý các vấn đề về môi trường... Tại khu vực làng nghề, cụ thể là Nhà nước đầu tư riêng qua ngân sách của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để thực hiện các dự án đầu tư cho làng nghề được duyệt hàng năm với mức không thấp hơn 50% tổng số thu vào ngân sách từ làng nghề trong năm trước. Các làng nghề có xuất khẩu trên 30% giá trị sản lượng hàng hoá của làng nghề thì được uỷ bang nhân dân tỉnh thành phố xem xét xét duyệt các dự án đầu tư thuộc lĩnh vực nêu trên thao quy định của chính phủ và đưa vào dự án ngân sách của tỉnh, thành phố để được cấp vốn theo quy định hiện hành. 4. Chính sách đối với các nghệ nhân. Nghệ nhân, thợ cả có vai trò rất lớn đối với nghề và làng nghề thủ công truyền thống. Có thể nói không có nghệ nhân thì không có làng nghề hoặc ít nhất cũng không thể có làng nghề phát triển, làng nghề lừng danh. Từ đó thấy rằng nghệ nhân, thợ giỏi có vai trò rất tích cực bảo tồn và phát triển ngành nghề cũng như làng nghề. Vì vậy muốn duy trì và phát triển ngành nghề truyền thống Nhà nước cần có chính sách đối với nghệ nhân, giúp đỡ hỗ trợ, khuyến khích họ phát huy tài năng phát triển ngành nghề, phát triển sản xuất phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu, truyền dạy nghề cho con cháu, đào tạo nghề cho lao động sản xuất... Ngay trong thời kỳ phong kiến ở nước ta, những nghệ nhân, thợ giỏi có công sáng tạo các sản phẩm tinh xảo, những công trình nghệ thuật, kiến trúc nổi tiếng thường được nhà vua phong các danh hiệu “kỳ tài hầu “, ‘hàn lâm đại chiếu ‘, “cửa phẩm bá hộ “... được thưởng và hậu đãi. Trước đây có thời gian, bộ văn hoá và sau đó là liên hợp xã thủ công nghiệp trung ương có hướng dẫn việc tổ chức xét phong tặng danh hiệu “ nghệ nhân” và thưởng huy chương “ Bàn tay vàng” cho những nghệ nhân, thợ giỏi. Hiện nay tại Hà Nội có “ Câu lạc bộ nghệ nhân” do các nghệ nhân tự nguyện thành lập để sinh hoạt trao đổi kinh nghiệm nghề nghiệp, thăm viếng động viên nhau hoạt động, có khoảng 100 nghệ nhân tham gia, nhưng không được ai hỗ trợ, đỡ đầu nên nội dung sinh hoạt còn nghèo, hiệu quả chưa cao. Từ tình hình trên, đề nghị chính phủ có chính sách và bán hành quy chế chính thức của Nhà nước về phonh tặng danh hiệu “nghệ nhân” và giải thưởng “Bàn tay vàng” hoặc huy chương “Đôi bàn tay vàng” kèm theo giải thưởng cho các nghệ nhân, thợ giỏi đạt tiêu chuẩn quy định. Tiêu chuẩn để được phong tặng danh hiệu “nghệ nhân” cụ thể là: + Trước hết phải là thợ giỏi, có tay nghề cao, điêu luyện với thủ pháp nghệ thuật, kỹ xảo riêng tạo ra những sản phẩm tinh xảo độc đáo, được đồng nghiệp thừa nhận và suy tôn về trình độ tay nghề. + Có nhiều thành tích trong sản xuất sáng tạo với các sản phẩm có giá trị nghệ thuật được xã hội công nhận” được giải thưởng trong các cuộc thi, triển lãm, sản phẩm được đặt trong các bảo tàng, công trình văn hoá” hoặc sản phẩm mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao “ sản xuất với khối lược lớn cho tiêu dùng và xuất khẩu, tạo nhiều việc làm.. Có sáng kiến cải tiến kĩ thuật sản xuất trong nghề, như sử dụng nguyên liệu mới, cải tiến công cụ làm nghề, cải tiến thao tác kĩ thuật, có hiệu quả trong lao động - sản xuất. + Có thành tích truyền nghề, dạy nghề “ Kể cả việc truyền nghề cho con cháu trong gia đình, họ tộc”, tích cực tham gia sửa chữa, phục chế các sản phẩm, công trình văn hoá, xây dựng công trình văn hoá theo yêu cầu của Nhà nước. Việc xét thưởng và phong tặng dánh hiệu nghệ nhân theo quy chế do một hội đồng ở trung ương thực hiện, có đại diện lãnh đạo một số bộ, ngành thm gia, hoặc chính phủ uỷ quyền cho uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập hội đồng xét duyệt theo quy chế chung. Chính sách đối xử với nghệ nhân, thợ giỏi được thực hiện tốt là một đảm bảo duy trì và phát triển đội ngũ thợ lành nghề trong các ngành nghề thủ công truyền thống, góp phần bảo tồn và phát triển một trong những di sản văn hoá quý giá của dân tộc. 5. Chính sách đào tạo thợ thủ công truyền thống: Thợ thủ công trong các ngành nghề truyền thống thường không học nghề trong các trường lớp như các ngành nghề khác mà chủ yếu được các nghệ nhân, thợ gỏi truyền dạy nghề theo phương pháp “Cầm tay chỉ việc”, “Vừa làm vừa học” tại các làng nghề, trong đó có những thủ pháp kỹ thuật, nghệ thuật, bí quyết nhà nghề thường các nghệ nhân, thợ cả chỉ truyền dạy cho con cháu từ đời này đến đời sau, không dễ gì lộ ra ngoài, họ giữ gìn các bí quyết đó với ý thức đầy đủ và cẩn trọng. Trong các lĩnh vực khác thường được Nhà nước đầu tư xây dựng các trương dạy nghề, vậy Nhà nước cũng có chính sách hỗ trợ đào tạo thợ thủ công trong các ngành nghề truyền thống phù hợp với đặc điểm như trên. Để thực hiện yêu cầu này có thể áp dụng các chính sách - biện pháp sau: - Mở một số trường mỹ thuật thực hành ở một số nơi có nhu cầu hoặc mở thêm khoa mỹ thuật thực hành trong các trường cao đẳng mỹ thuật hiện có để đào tạo thợ phổ thông theo phương thức vừa học vừa liên doanh sản xuất tại các làng nghề, cơ sở sản xuất nhất là những cơ sở có nhiều hàng xuất khẩu. Nhà nước hỗ trợ một phần chi phí và những cơ sở sản xuất có lao động vừa học vừa làm đóng góp một phần. Chi phí Nhà nước hỗ trợ chủ yếu sử dụng để trang trải các chi phí về giảng dạy như mời giảng viên và nghệ nhân giảng bài hướng dẫn thực hành, các chi phí thí nghiệm (nếu có).. Trước đây, thời pháp thuộc ở một số nơi cũng có trường mỹ thuật thực hành như trưòng mỹ thuật thực hành Biên hoà. Khi đó các hoạ sĩ và thợ kỹ thuật được đào tạo khá bài bản đã góp phần quan trọng phát triển nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật trang trí, mỹ thuật ứng dụng ở nước ta, kế thừa và cách tân nghệ thuật thủ công truyền thống của dân tộc Nếu không mở trường, khoa, lớp như nêu trên thì Nhà nước hỗ trợ một phần chi phí từ quỹ hỗ trợ và việc làm để các cơ sở sản xuất, nhất là các cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu tự tổ chức việc đào tạo nghề. Kinh phí hỗ trợ được thực hiện theo dự án đào tạo hoặc theo kết quả đào tạo nghề do ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố xét duyệt. - Việc đào tạo nghệ nhân, thợ giỏi cần được Nhà nước hỗ trợ theo cách khác, cụ thể là: + Những người đã được phong danh hiệu nghệ nhân hoặc những thợ giỏi đạt trình độ xấp xỉ nghệ nhân do địa phương đề nghị, được Nhà nước hỗ trợ cho học các lớp bồi dưỡng kiến thức về hội hoạ, mỹ thuật tại các trường cao đẳng theo chế độ miễn phí. + Nghệ nhân nào có thành tích đào tạo thành công một nghệ nhân khác nối nghiệp mình hoặc đào tạo thành công một thợ cả thì được Nhà nước cấp bằng khen hoặc trao huy chương” vì sự nghiệp phát triển ngành nghề truyền thống” kèm theo một khoản tiền hỗ trợ chi phí đào tạo dưới dạng một khoản tiền thưởng xứng đáng. + Nhà nước cử nghệ nhân, thợ giỏi ra nước ngoài tham quan khảo sáthọc hỏi nghề nghiệp theo chế độ miễn phí vừa là quyền lợi của nghệ nhân như đã nêu ở phần trên, vừa là một phương thức đào tạo nâng cao trình độ sáng tạo cho nghệ nhân, tạo điều kiện cho nghệ nhân tiếp cận với thị trường ngoài nước. 6. Chính sách hỗ trợ xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu. Do đặc điểm và khó khăn trong sản xuất kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ như đã trình bày ở trên (cơ sở sản xuất kinh doanh các loại hàng này chủ yếu là các đơn vị nhỏ, ít vốn, hàng hoá thường là loại cồng kềnh, giá trị thấp, không dễ bán vàvận chuyển, giao hàng...) nên đề nghị Nhà nước có chính sách hỗ trợ một phần chi phí xúc tiến thương mại, tiếp thị mở rộng thị trường xuất khẩu. Mặt khác, trong trong mại quốc tế, không có hoặc ít thấy nước nào không dành một phần kinh phí nhất định của ngân sách Nhà nước hỗ trợ cho công tác xúc tiến thương mại nhất là cho việc khuyếch trương xuất khẩu. Trong lĩnh vực xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ, đề nghị Nhà nước hỗ trợ dưới các hình thức sau: * Hỗ trợ 50% chi phí thuê gian hàng cho cơ sở sản xuất kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ tham gia hội chợ triển lãm nước ngoài. 50% chi phí còn lại được hỗ trợ nếu trong quá trình hội chở triển lãm đơn vị ký hợp đồng xuất khẩu với gía trị trên 20.000 USD. Việc hỗ trợ này có thể thực hiện trực tiếp đối với các doanh nghiệp từ một trung tâm xúc tiến thương mại hoặc thông qua các công ty quốc doanh được giao nhiệm vụ tổ chức tham gia hội chợ triển lãm quốc tế. * Đề nghị cho thành lập thêm một số trung tâm xúc tiến thương mại (chủ yếu là khuyếch trương xuất khẩu) tại một số nơi ở nước ngoài tương tự như “Việt Nam square” tại Osaka, Nhật (có thể thêm ở vùng Trung Đông, Pháp, Đức, Nga, Mỹ hoặc Canada, mỗi nơi một trung tâm). Các trung tâm này có các gian hàng cho các doanh nghiệp trong nước thuê để trưng bày chào bán hàng xuất khẩu với giá khuyến khích. Riêng hàng thủ công mỹ nghệ được miễn phí (vừa qua một số doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đã thấy được tác dụng của trung tâm Osaka trong việc thúc đẩy bán hàng và đề nghị được hỗ trợ chi phí). * Phục vụ lễ hội của các nước trên thế giới là một hướng quan trọng thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ. Trên thế giới hàng năm có rất nhiều lễ hội của các dân tộc, nếu nắm bắt nhu cầu, thiết kế mẫu mã hàng phù hợp nhu cầu của từng lễ hội về ăn mặc, trò chơi giải trí, vật lưu niệm,... thì có thể có nhiều loại hàng để bán, nhất là các loại hàng thủ công mỹ nghệ, kể cả hàng thổ cẩm của các đồng bào dân tộc ở nước ta. Vừa qua, một công ty của Hà Nội khi qua Tây Ban Nha đã nắm bắt được nhu cầu và ký hợp đồng xuất 40 container 40 feet mũ lá theo yêu cầu phục vụ lễ hội của họ, vì thời gian còn ngắn nên cả làng nghề “nón chuông“ làm không hết việc, phải thêm 4 làng xung quanh hỗ trợ mà cũng rất vất vả mới hoàn thành lịp thời gian giao hàng. Để có thể triển khai việc xuất khẩu phục vụ các nhu cầu lễ hội và Nôen của các nước trên thế giới như là một trong các mũi nhọn khuyếch trương xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong những năm tới, đề nghị: - ở những nơi Việt Nam có đại diện thương mại thì giao nhiệm vụ cho họ tìm hiểu khảo sát nhu cầu phục vụ lễ hội và Nôen tại địa bàn, khi phát hiện nhu cầu và đối tác thì cử ngay nhóm công tác đến tận nơi khảo sát, thiết kế mẫu mã hàng chào bán và ký hợp đồng cho các cơ sở sản xuất trong nước xuất khẩu và giao hàng. Chi phí cho nhóm công tác trong một vài năm đầu do Nhà nước hàng hỗ trợ 100%. Nếu ký được hợp đồng có giá trị thì được xét thưởng. - ở những nơi ta chưa có cán bộ thương mại thường trú thì giao cho ban xúc tiến thương mại cùng công ty hội chợ, triển lãm của bộ nghiên cứu có kế hoạch cử nhóm công tác (gồm hoạ sĩ, nghệ nhân, cán bộ kinh doanh ngành hàng thủ công mỹ nghệ) đến tìm hiểu, khảo sát, thiết kế mẫu mã bán hàng theo cơ chế chính sách đã nêu. * Cho phép các tổ chức, cá nhân được nhận tiền thù lao hoặc tiền hoa hồng môi giới và cho phép các công ty xuất khẩu được trả các khoản tiền này theo mức thoả thuận khi ký và thực hiện được hợp đồng xuất khẩu. * Ngoài ra, theo viện nghiên cứu thuộc liên minh các hợp tác xã Việt Nam cho biết, hội đồng hàng thủ công mỹ nghệ quốc tế thường có mời nghệ nhân ngành nghề thủ công của các nước tham gia hội thảo, biểu diễn thao tác nghề nghiệp. Hội bảo trợ thợ thủ công ở Mỹ có chương trình hỗ trợ 10.000 làng nghề của thế giới và thường có mời nghệ nhân của các nước sang Mỹ biểu diễn thao tác nghề nghiệp. Tại Arhentina vào tháng tư hàng năm có tổ chức hội chợ hàng thủ công mỹ nghệ, có năm mời đến 700 nghệ nhân của các nước tham gia biểu diễn thao tác nghề, có gian trưng bày miễn phí cho nghệ nhân,... Ta nên có chính sách khai thác các hoạt động quốc tế này mở rộng phát triển ngành nghề truyền thống của ta phục vụ đẩy mạnh xuất khẩu. Tuỳ theo trường hợp cần thiết Nhà nước hỗ trợ chi phí cho các nghệ nhân của ta tham gia các hoạt động này, kết hợp với việc giới thiệu mẫu mã hàng của ta, nghệ nhân có thể chào bán ký hợp đồng xuất khẩu theo uỷ nhiệm của các công ty sản xuất kinh doanh ở trong nước và nghệ nhân được hưởng thù lao hoặc hoa hồng theo kết quả chào bán và thực hiện các hợp đồng xuất khẩu ký được thông qua các hoạt động này. 7. Mở rộng phương thức bán hàng xuất khẩu: Hàng thủ công mỹ nghệ thường chỉ bán được theo từng lô nhỏ, hợp đồng nhỏ, nhiều khách hàng nước ngoài muốn mua những lô hàng nhỏ để bán thử nghiệm mở rộng thị trường, không muốn mua theo phương thức trả tiền ngay... Để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, góp phần đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ, đề nghị cho phép các doanh nghiệp xuất khẩu các loại hàng này theo phương thức bán hàng trả chậm, phương thức gửi bán hoậc đại lý bán hàng ở nước ngoài, có sự bảo lãnh tín dụng xuất khẩu của ngân hàng hoặc quỹ hỗ trợ xuất khẩu. Đề nghị chính phủ giao cho ngân hàng Nhà nước hướng dẫn các ngân hàng thương mại thực hiện việc ưu đãi về lãi suất và kéo dài thời gian cho vay vốn đáp ứng nhu cầu kinh doanh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ theo các phương thức đã nêu. Trong trường hợp cần thiết, đề nghị các ngân hàng hoặc quỹ hỗ trợ xuất khẩu bảo lãnh tín dụng xuất khẩu theo các phương thức nêu trên nhằm hỗ trợ cho doanh nghiệp yên tâm mở rộng thị trường xuất khẩu. Trong thời kỳ trước năm 1990, có thời gian các doanh nghiệp của ta đã thực hiện phương thức gửi bán hàng tại thị trường Nhật Bản. Kết luận Chủ trương của Đảng và nhà nước ta coi xuất khẩu là mũi nhọn để phát triển nền kinh tế một cách cơ bản. Đẩy mạnh xuất khẩu nghĩa là tạo động lực cho công nghiệp hoá đất nước, cho sự phát triển và tăng trưởng kinh tế mở. Đẩy mạnh xuất khẩu là nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển, thu hút lực lượng lao động tạo nguồn vốn để nhập khẩu, tranh thủ công nghệ, chủ động hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới trên cơ sở giữ vững độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế. Hoạt động kinh doanh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam trong những năm qua phát triển khá mạnh mẽ đã khẳng định vị trí của ngành hàng ngày trong nền kinh tế quốc dân. Hiện nay thị trường hàng thủ công mỹ nghệ trên thế giới cũng như trong nước luôn biến động và tình hình cung cầu không ổn định. Tuy vậy, với xu thế như hiện nay thì trong những năm tới Việt Nam có nhiều cơ hội để phát triển ngành nghề này. Xong để đạt được những mục tiêu đề ra cho ngành thủ công mỹ nghệ từ nay đến năm 2010, ngành hàng này sẽ còn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, từ những vấn đề tồn tại trong sản xuất, xuất khẩu đến những khó khăn từ phía thị trường nhập khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam. Đề tài “Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam thời kỳ 2001-2010” với một số chính sách, giải pháp chủ yếu hy vọng phần nào tháo gỡ được vướng mắc hiện nay đang còn tồn tại trong khâu tổ chức, quản lý sản xuất, xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ. Từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, khuyến khích hộ đẩy mạnh sản xuất, xuất khẩu gắn liền với nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đặc biệt là hiệu quả xuất khẩu, đưa hàng thủ công mỹ nghệ lên vị trí cao hơn nữa, xứng đáng với tiềm năng vốn có của nó. Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa, đặc biệt là GS.TS Vũ Thị Ngọc Phùng và các cô bác, anh chị ở Vụ kế hoạch thống kê Bộ Thương mại, đặc biệt là TS Hoàng Thịnh Lâm đã tạo điều kiện giúp đỡ em đã hoàn thiện xuất sắc chuyên đề thực tập tốt nghiệp này. Em xin chân thành cảm ơn! Tài liệu tham khảo 1. Giáo trình Kinh tế học quốc tế : ĐH KTQT 2. Giáo trình Kinh tế học quốc tế : ĐH TM 3. Giáo trình chính sách kinh tế đối ngoại : ĐH KTQT 4. Dự thảo lần thứ tư “Đề án: Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam” tháng 2 năm 2000 5. Tạp chí TM : Số 16 năm 2000 Số 23 năm 2000 6. Nghị định 51/1999/NĐ-CP ngày 08/7/1999 - qui định chi tiết thi hành luật khuyến khích đầu tư 7. Nghị định 43/1999/NĐ-CP ngày 29/6/1999 – của Chính phủ về tín dụng đầu tư phát triển 8. Niên giám thống kê 1999 (Nhà xuất bản Thống kê) mục lục Lời nói đầu 1 Chương I. Vai trò của hàng thủ công mỹ nghệ đối với sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam 2 I. Đặc điểm của hàng thủ công mỹ nghệ 2 1. Khái niệm hàng thủ công mỹ nghệ 2 2. Đặc điểm sản xuất và tiêu thụ hàng thủ công mỹ nghệ 2 II. Vai trò của xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam 6 1. Vai trò của xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đối với kinh tế 6 2. Vai trò của xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đối với xã hội ở nước ta 8 III. Nội dung của hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ 9 1. Sự cần thiết xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ 9 2. Nội dung của hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ 11 3. Những yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ 13 Chương II. Thực trạng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam trong thời gian qua 16 I. Quá trình sản xuất và tổ chức tiêu thụ hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam trong những năm qua 16 1. Quá trình sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ 16 2. Cơ cấu tổ chức thu mua hàng 18 II. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam 20 1. Nhóm sản phẩm gỗ 20 2. Nhóm hàng gốm sứ mỹ nghệ 22 3. Nhóm hàng mây tre đan 23 4. Nhóm hàng thảm các loại (thảm len, thảm đay cói, thảm sơ dừa) 25 5. Nhóm hàng thêu ren thổ cẩm 26 6. Nhóm hàng thuộc các ngành nghề thủ công khác (chạm bạc, khắc đá, đồ đồng, đúc, chạm) 28 III. Thị trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam 28 1. Thị trường Châu á thái bình dương 29 2. Thị trường Tây - Bắc Âu 32 3. Thị trường Nga, các nước Liên Xô cũ (SNG) và Đông Âu 34 4. Một số thị trường tiềm năng khác 35 IV. Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam trong những năm vừa qua 36 1. Kết quả 36 2. Những tồn tại 41 3. Nguyên nhân 42 Chương III. Phương hướng và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ 44 I. Phương hướng đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ 44 II. Các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam 48 A. Về phía các doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ 48 1. Hoàn thiện công tác nghiên cứu thị trường 48 2. Kế hợp sản xuất với xuất khẩu 56 3. Tạo nguồn hàng kịp thời và có chất lượng 58 4. Duy trì, củng cố quan hệ làm ăn với bạn hàng cũ và tìm kiếm bạn hàng mới 60 5. Ký kết hợp đồng chặt chẽ 61 6. Quản lý chặt chẽ trong khâu thanh toán 63 7. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong hoạt động xuất khẩu 64 B. Về phía Nhà nước 65 1. Tăng mức ưu đãi đầu tư sản xuất kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ 65 2. Sửa đổi bổi xung các quy định cho vay vốn, nhất là vốn ưu đãi 66 3. Chính sách đối với các làng nghề 67 4. Chính sách đối với các nghệ nhân 69 5. Chính sách đào tạo thợ thủ công truyền thống 71 6. Chính sách hỗ trợ xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu 73 7. Mở rộng phương thức bán hàng xuất khẩu 75 Kết luận 77 Tài liệu tham khảo 78 ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docNKT182.doc
Tài liệu liên quan