Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Thương mại - Xây dựng Bạch Đằng

Lời mở đầu Bất kì một doanh nghiệp nào khi bước vào hoạt động kinh doanh đều phải có vốn . Vốn là tiền đề vật chất không thể thiếu nhất là trong nền kinh tế thị trường hiện nay đang có sự cạnh tranh gaygắt giữa các doanh nghiệp . Vốn là điều kiện để doanh nghiệp mở rộng quy mô cả về chiều sâu và chiều rộng nó quyết định thành công hay thất bại của doanh nghiệp . Nếu thiếu vốn doanh nghiệp sẽ không phát triển được hoạt động sản xuất kinh doanh dẫn đến thua lỗ và phá sản , ngược lại nếu vốn lớn s

doc93 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1246 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Thương mại - Xây dựng Bạch Đằng, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trước môi trường cạnh tranh có tính quyết liệt cao. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải đứng trước thực tế là “ hoặc phát triển hoặc là phá sản “ . Bởi vậy không còn con đường nào khác là một doanhnghiệp phải tự nỗ lực bản thân đạt được mức độ tối đa trong doanh thu để tiếp tục tái sản xuất mở rộng không ngừng tăng trưởng về mọi mặt.Nhằm đạt được mục tiêu đó vốn lưu động là một yếu tố vô cùng quan trọng của bất cứ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào. Vốn lưu động trong doanh nghiệp luôn chịu ảnh hưởng của nhân tố khách quan và chủ quan trong quá trình luân chuyển .Trong đó phải xét đến các nhân tố làm giảm vốn lưu động trong doanh nghiệp , sự giảm sút vốn lưu động dần gây ra những cản trở và khó khăn nhất định trong sản xuất kinh doanh từ đó làm thu hẹp quy mô sản xuất . Vì vậy bảo toàn và phát triển vốn lưu động có ý nghĩa rất quan trọng nó quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp trong cơ chế thị trường ở Việt Nam . Bảo toàn và phát triển vốn lưu động trở thành nguyên tắc phát triển đòi hỏi tất cả các doanh nghiệp phải tuân theo .Hơn nữa bảo toàn vốn còn là các yêu cầu của chế độ hạch toán kế toán và là chỉ tiêu pháp lệnh của nhà nước đối với các doanh nghiệp . Đây là lý do em chọn đề tài nghiên cứu : “ Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Thương mại - Xây dựng Bạch Đằng” . Ngoài phần mở đầu và kết luận khoá luận gồm 3 phần chính : Chương I : Lý luận chung về vốn lưu động và việc nâng cao sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp. Chương II : Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Thương mại - Xây dựng Bạch Đằng. Chương III : Các giải pháp nâng cao sử dụng vốn lưu động tại Công ty Thương mại - Xây dựng Bạch Đằng. Do thời gian thực tập và hiểu biết còn hạn chế nên khoá luận này không tránh khỏi những sai sót . Em kính mong và chân thành cảm ơn sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các anh chị trong phòng kế toán của công ty . Hà Nội ngày 15 tháng 5 năm 2004 Sinh viên thực hiện Thiều Thị Thu Hằng CHƯƠNG I Lý LUậN CHUNG Về VốN LƯU động và việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp 1.1 tổng quan về vốn lưu động 1.1.1 .Khái niệm, nội dung vật chất vốn lưu động Trong nền kinh tế quốc dân, các doanh nghiệp là một tổ chức được thành lập nhằm mục dích chủ yếu là thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh . Để tiến hành bất kỳ một quá trình kinh doanh nào cũng cần có một lượng vốn nhất định, trong đó vốn lưu động chiếm một vị trí khá quan trọng. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, vốn lưu động là điều kiện cần thiết có ý nghĩa rất quyết định đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp . Với vai trò và tầm quan trọng như vậy, việc nghiên cứu phải bắt đầu từ việc làm rõ khái niệm cơ bản của vốn lưu động. Hoạt động sản xuất kinh doanh ngoài các tư liệu lao động các doanh nghiệp cần có các đối tượng lao động. Khác với tư liệu lao động, các đối tượng lao động như : nguyên, nhiên vật liệu, bán thành phẩm …chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của có được chuyển dịch một lần vào giá trị sản phẩm. Những đối tượng lao động nói trên nếu xét về hình thái hiện vật được gọi là tài sản lưu động, còn nếu xét về hình thái giá trị được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp. Là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động nên đặc điểm của vốn lưu động luôn chịu sự chi phối bởi những dặc điểm của tài sản lưu động. Trong các doanh nghiệp người ta thường chia tài sản lưu động thành hai loại : tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông. Tài sản lưu động sản xuất bao gồm : các nguyên nhiên vật liệu, phụ tùng thay thế, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang…đang trong quá trình dự trữ sản xuất hoăc chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản chi phí chờ kết chuyển, chi phí trả trước…trong quá trình sản xuất kinh doanh các tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông vận động, thay thế và chuyển hoá lẫn nhau, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục. Trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa_ tiền tệ, để hình thành các tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông các doanh nghiệp phải bỏ ra một số vốn đầu tư nhất định. Vì vậy, cũng có thể nói vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn tiền tệ ứng trước để đầu tư, mua sắm tài sản lưu động của doanh nghiệp. Vốn lưu động thuần của doanh nghiệp được xác định bằng tổng giá trị tài sản lưu động của doanh nghiệp trừ đi các khoản nợ ngắn hạn. Phù hợp vối đặc điểm trên của tài sản lưu động, vốn lưu động của doanh nghiệp cũng không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh: dự trữ, sản xuất và lưu thông. Quá trình này được diễn ra liên tục và thường xuyên lặp lại theo chu kỳ và gọi là quá trình tuần hoàn, chu chuyển của vốn lưu động. Qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh, vốn lưu động lại thay đổi hình thái biểu hiện từ hình thái tiền tệ ban đầu chuyển sang hình thái vốn vật tư, hàng hoá dự trữ và vốn sản xuất, rồi tái sản xuất,vốn lưu động hoàn thành một vòng chu chuyển. Từ những tổng quan chung về vốn lưu động ta đi đến một khái niệm về vốn lưu động : Vốn lưu động là biểu hiện bằng giá trị của toàn bộ tài sản lưu động trong doanh nghiệp. Vốn lưu động của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn kinh donah đượcdùng để đầu tư mua sắm hàng hoá khác, nguyên vật liệu nhằm phục vụ cho mục dích kinh doanh kiếm lời của doanh nghiệp. Hàng hoá, nguyên vật liệu mang về được dự trữ tại doanh nghiệp để phục vụ cho sản xuất hoăc tiêu thụ ngay . Do vậy, tốc độ hay vòng quay của vốn lưu động gắn liền với tốc độ, sự vận động của đơn vị hàng hoá. Tóm lại, vốn lưu động là một bộ phận của vốn kinh doanh nhằm thực hiện các chức năng, mục đích của doanh nghiệp. 1.1.2. Đặc điểm của vốn lưu động. - Vốn lưu động tham gia vào một quá trình sản xuất kinh doanh.trong quá trình sản xuất đó vốn lưu động bị hao mòn hoàn toàn, giá trị hao mòn đó bị chuyển hết một lần vào giá trị sản phẩm để cấu thành nên giá trị sản phẩm. - Trong từng quá trình sản xuất vốn lưu động thường xuyên thay đổi hình thái vật chất cho phù hợp với đặc điểm của từng giai đoạn sản xuất. Mỗi hình thái vật chất của vốn đòi hỏi phải có một hình thức quản lý riêng phù hợp. Ta có quá trình sản xuất kinh doanh: T0…….DT2……SX……TP2……T1 ở đây T0,T1 là giống nhau (đều là tiền), nhưng khác nhau ở chỗ: ∆T < 0 ( Lỗ ) T1 = T0 + ∆T ∆T = 0 ( Hoà vốn ) ∆T > 0 ( lãi ) Trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp luôn tìm cách để đạt được ( TO < T1 ) 1.1.3. Phân loại vốn lưu động. Để quản lý, sử dụng vốn lưu động có hiệu quả cần phải tiến hành phân loại. Vốn lưu động của doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau. Thông thường có những tiêu thức sau đây: 1.1.3.1. Phân loại theo vai trò từng loại vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh. Theo cách phân loại này, vốn lưu động của doanh nghiệp có thể chia thành 3 loại: - Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất : bao gồm giá trị các khoản nguyên vật liệu chính,vật liệu phụ, nhiên liệu động lực phụ tùng thay thế, công cụ lao động nhỏ. - Vốn trong khâu sản xuất : bao gồm các khoản giá trị sản phẩm dở dang,bán thành phẩm các khoản chi phí chờ kết chuyển. - Vốn lưu động trong khâu lưu thông: bao gồm các khoản giá trị thành phẩm,vốn bằng tiền ( kể cả vàng bạc đá quý…) . Các khoản vốn đầu tư ngắn hạn ( đầu tư chứng khoán nhắn hạn, các khoản vốn trong thanh toán (các khoản phai thu,các khoản tạm ứng…). Cách phân loại này cho thấy vai trò và sự phân bổ của vốn lưu động trong từng khâu của quá trình kinh doanh, từ đó có biện pháp điều chỉnh cơ cấu vốn lưu động sao cho có hiệu quả sử dụng cao nhất. 1.1.3.2. Phân loại theo hình thái biểu hiện. Theo cách này vốn lưu động có thể chia thành 2 loại: - Vốn vật tư hàng hoá: là các khoản vốn lưu động có hình tháibiểu hiện bằng hiện vật cụ thể như nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm. - Vốn băng tiền : Bao gồm các khoản vốn tiền tệ như: tiền mặt tại quỹ,tiền gửi ngân hàng,các khoản vốn trong thanh toán,các khoản đâu tư ngắn hạn. 1.1.3.3. Phân loại theo quan hệ sở hữu về vốn. Theo cách này người ta chia vốn thành hai loại : - Vốn chủ sở hữu : là số vốn lưu động thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, chi phối và định đoạt.Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau mà vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng như :vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, vốn do chủ donh nghiẹp bỏ ra,vốn góp cổ phần … - Các khoản nợ : là các khoản vốn lưu độngđược hình thành từ vốn vay các ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính khác,vốn vay thông qua phát hành trái phiếu,các khoản nợkhách hàng chưa thanh toán. Cách phân loại này cho thấy kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp được hình thành bằng vốn của bản thân doanh nghiệp hay từ khoản nợ. từ đó các quyết định trong hoạt động và quản lý, sử dụng vốn lưu động hợp lý hơn. 1.1.3.4. Phân loại theo nguồn hình thành. Nếu xét theo nguồn hình thành, vốn lưu động có thể chia thành các nguồn như sau: - Nguồn vốn điều lệ: là số vốn lưu động được hình thành từ các nguồn vốn điều lệ ban đầu khi thành lập hoặc nguồn vốn điều lệ bổ sung trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này cũng có sự khác biệt giữa các loại hình doanh nghiệp. Nguồn vốn này cũng có sự khác biệt giữa các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. - Nguồn vốn tự bổ sung : là nguồn vốn doanh nghiệp tự bổ sung trong quá trình sản xuất kinh doanh từ lợi nhuận của doanh nghiệp được tái đầu tư. - Nguồn vốn liên doanh, liên kết : là số vốn lưu động được hình thành từ vốn góp liên doanh của các bên tham gia liên doanh.Vốn góp liên doanh có thể bằng tiên mặt hoặc bằng hiện vật là vật tư, hàng hoá… - Nguồn vốn đi vay : vốn vay của các ngân hàng thương mại,vốn vay bằng phát hành trái phiếu… Việc phân chia vốn lưu động theo nguồn hình thành giúp cho doanh nghiệp thấy được cơ cấu nguồn tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động trong kinh doanh của mình. Từ góc độ quản lý tài chính mọi nguồn tài trợ đều có chi phí sử dụng của nó . Do đó doanh nghiệp cần xem xét cơ cấu nguồn tài trợ tối ưu để giảm thấp chi phí sử dụng vốn của mình. 1.1.4. Nguồn hình thành vốn lưu động. Trong nền kinh tế thị trường, vốn lưu động của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh, chúng được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau tùy theo mỗi doanh nghiệp có những cách huy động vốn từ các nguồn, các đối tượng khác nhau. Để phát huy được hiệu quả của việc sử dụng vốn các doanh nghiệp cần phải phân loại vốn lưu động sao cho phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp chủ yếu được hình thành từ các nguồn sau: 1.1.4.1. Nguồn vốn chủ sở hữu. Nguồn vốn chủ sở hữu là vốn tự có của doanh nghiệp, là vốn tự bổ sung được hình thành từ lợi nhuận của doanh nghiệp sau mỗi chu kỳ kinh doanh. Nguồn vốn chủ sở hữu là vốn của chủ hữu doanh nghiệp không phải thanh toán, nó do chủ doanh nghiệp bỏ ra và hình thành từ kết quả sản xuất kinh doanh, nó không phải là một khoản nợ. Một doanh nghiệp có thể có một hay nhiều chủ sở hữu vốn, điều này phụ thuộc vào loại hình kinh doanh của mỗi doanh nghiệp như :doanh nghiệp nhà nước có vốn là do nhà nước cấp phát từ khi mới thành lập, doanh nghiệp liên doanh thì chủ sở hữu vốn là các tổ chức cá nhân tham gia hùn vốn, doanh nghiệp cổ phần thì chủ sở hữu là các cổ đông… Nguồn vốn chủ sở hữu bao gồm hai phần: Phần I : vốn góp của các chủ đầu tư để thành lập hay mở rộng doanh nghiệp. Chủ sở hữu của doanh nghiệp có thề là nhà nước, tổ chức cá nhân, tham gia góp vốn. Đó là số vốn tối thiểu mà doanh nghiệp phải có do luật pháp quy định trong mỗi lĩnh vực kinh doanh. Nó vừa là cơ sở vật chất cho việc kinh doanh của doanh nghiệp, vừa là cái để đảm bảo với bạn hàng, doanh nghiệp khác về khả năng thanh toán trong mỗi lĩnh vực kinh doanh khác nhau thì số vốn pháp định mà nhà nước đặt ra là khác nhau, doanh nghiệp phải có vốn điều lệ, đây là số vốn thực của doanh nghiệp, theo quy định của nhà nước thì số vốn điều lệ phải lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định của lĩnh vực mà doanh nghiệp tham gia kinh doanh. Phần II : Vốn bổ sung từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Sau mỗi kỳ kinh doanh ( thường là1 năm ), vốn được bổ sung từ kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Một phần lợi nhuận sau thuế được chia cho các đối tượng : ngân sách nhà nước, đối với Công ty cổ phần thì chia lợi tức cho các cổ đông, và một phần được tính vào nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. Tỷ trọng nguồn vốn chủ sở hữu trong cơ cấu nguồn vốn càng cao thì càng chứng tỏ mức độ an toàn về vốn, mức độ tự chủ về vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, không phải tỷ lệ này cao nhất là tốt nhất, là hiệu quả nhất mà điều này phụ thuộc vào từng mục đích, từng thời kỳ, từng xu hướng cụ thể của doanh nghiệp. 1.1.4.2. Nguồn vốn đi vay. Hiện nay, thiếu vốn là tình trạng thường gặp của các doanh nghiệp . Nguồn vốn chủ sở hữu thì có hạn, không thể đáp ứng được tất cả nhu cầu về vốn kinh doanh của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, khi đó doanh nghiệp phải đi vay thêm vốn, nguồn vốn vay ở đây rất đa dạng tức là doanh nghiệp có thể vay vốn từ nhiều đối tượng khác nhau như : Các ngân hàng, các cá nhân, các doanh nghiệp khác . các hình thức vay cũng rất khác nhau như : vay tín dụng,vay thế chấp, phát hành cổ phiếu… đối với các doanh nghiệp có quy mô tương đối lớn nhu cầu vay vốn của họ cao thì vay ngân hàng chính là hình thức vay chủ yếu, lãi suất ở đây được tính một cách hợp lý( dựa theo quan hệ cung – cầu về vốn ), nhưng thời gian hoàn trả yêu cầu cân phải rất chính xác. Đối với các khoản vay nhỏ và vừa phải, doanh nghiệp có thể vay các cá nhân thông qua các mối quan hệ quen biết, các thành viên trong doanh nghiệp … ngoài việc vay các nguồn kể trên, doanh nghiệp có thể vay ở các nguồn khác nhau như : vay của nhà nước, vay nước ngoài,vay của các doanh nghiệp khác, doanh nghiệp có thể vay bằng tiền hoặc có thể mua hàng theo hình thức trả chậm … nhưng dù vay của ai, vay dưới bất kỳ hình thức nào doanh nghiệp đều phải có nghĩa vụ trả cả gốc lẫn lãi. Vấn đề đặt ra ở đây là sẽ vay của ai? theo cách nào? để đáp ứng tối đa nhu cầu vốn của doanh nghiệp mà vay được thuận lợi nhất, chỉ phải chịu chi phí thấp nhất. 1.1.4.3. Nguồn vốn liên doanh, liên kết, phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay luôn có hiên tượng lượng vốn phân bổ trong các doanh nghiệp không phù hợp với nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp đó. Ví dụ như ở một doanh nghiệp nhà nước khi được cấp phát vốn mà vẫn không có phương án đầu tư, sử dụng vốn, sử dụng không hiệu quả … làm lãng phí vốn, trong khi đó cũng ở một doanh nghiệp khác, đang có nhu cầu về vốn để tái mở rộng sản xuất thì không có đủ vốn, bỏ lỡ cơ hội kinh doanh … Vì vậy ngoài việc đi vay vốn, doanh nghiệp còn có thể thu hút vốn bằng các hình thức : nhận vốn liên doanh, phát hành cổ phiếu… để từ đó có thể huy động được những nguồn vốn nhàn rỗi từ các đơn vị khác, trong dân cư hay các nguồn vốn từ nước ngoài qua hình thức góp vốn kinh doanh, phục vụ nhu cầu về vốn của doanh nghiệp. Từ khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường thì việc góp vốn liên doanh ở nước ta diễn ra rất nhiều đặc biệt là sự hình thành liên doanh với các Công ty nước ngoài. Việc hợp tác này khuyến khích các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thị trường, tiếp cận được các công nghệ mới của nước ngoài đặc biệt là bổ sung thêm một nguồn tài chính dồi dào vào nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp. Nhưng do trình độ quản lý của ta còn hạn chế nên thường bị bên nước ngoài nâng giá thiết bị gây thiệt thòi cho phía Việt Nam. Sau khi liên doanh doanh nghiệp lại làm ăn thua lỗ gây những khó khăn ảnh hưởng đến đời sống của người lao động … Để tránh tình trạng đó, trước khi liên doanh các doanh nghiệp trong nước cần phải thiết lập nghiên cứu kỹ về hợp đồng liên doanh, cần phải có các phương pháp để không bị lệ thuộc vào các đối tác nước ngoài. 1.1.4.4. Nguồn vốn khác. Trong hoạt động kinh doanh, việc chiếm dụng vốn lẫn nhau là việc xẩy ra thường xuyên. Doanh nghiệp có các khoản phải thu khó đòi thì tất nhiên cũng có những khoản phải trả phải nộp. Các khoản này có thể là những khoản mà doanh nghiệp nợ người bán, khoản phải trả người mua, thuế nộp cho nhà nước… Các khoản này có thể coi như là khoản vốn tự có của doanh nghiệp, mặc dù doanh nghiệp không có quyền sở hữu nhưng vẫn được sử dụng tạm thời số vốn này vào hoạt động sản xuất kinh doanh mà không phải trả bất kỳ một khoản lãi nào. 1.1.5. Vai trò của vốn lưu động trong sản xuất kinh doanh . Một doanh nghiệp bất kỳ nào khi tiến hành sản xuất kinh doanh cũng đều phải có vốn. Nhất là điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, với sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp thì vốn càng là điều kiện quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp có một số vốn nhất định, số vốn đó một phần quyết định vị thế của doanh nghiệp trên thị trường đồng thời là cơ sở để doanh nghiệp nâng cao cơ sở vật chất nhằm phuc vụ tốt cho hoạt động sản xuất kinh doanh và nhu cầu tiêu dùng xã hội, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận … Là một phần của vốn, vốn lưu động có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn, đến hiệu quả kinh doanh của toàn doanh nghiệp . Trong quá trình chu chuyển vốn lưu động mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, vốn lưu động chính là công cụ kiểm tra quá trình mua sắm, dự trữ và tiêu thụ vật tư trong từng thời điểm của doanh nghiệp. Việc sử dụng vốn lưu động hợp lý có ý nghĩa quan trọng đối với tất cả các doanh nghiệp, nó cho phép khai thác tối đa năng lực làm việc của tài sản lưu động góp phần tăng doanh thu, lợi nhuận… thực hiện tốt nghĩa vụ với nhà nước. Một trong những biện pháp giúp doanh nghiệp kinh doanh thành công là công tác vốn của doanh nghiệp phải có hiệu quả. Vốn lưu động chính là nhân tố để tạo nên hiệu quả, thành công, điều đó đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh sản xuất nhập khẩu ( vốn luôn gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp ). Có thể nói, vốn lưu động luôn là một yếu tố quan trọng đối với sự vận động và thành công của doanh nghiệp. 1.2. Xác định vốn lưu động. 1.2.1. Sự cần thiết của việc xác định nhu cầu vốn lưu động. Xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên, cần thiết chính là để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành liên tục, tiết kiệm và có hiệu quả kinh tế cao là nội dung quan trọng của hoạt động tài chính doanh nghiệp .Trong diều kiện các doanh nghiệp chuyển sang thực hiện hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường, mọi nhu cầu về vốn lưu động cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều phải tự trang trải thì điều này có ý nghĩa quan trọng và thiết thực vì : - Tránh được tình trạng ứ đọng vốn, sử dụng vốn hợp lý và tiết kiệm,nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động. - Không gây nên sự căng thẳng giả tạo về nhu cầu vốn kinh doanh của các doanh nghiệp. - Là căn cứ quan trọng cho việc xác định các nguồn tài trợ nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp xác định nhu cầu vốn lưu động quá cao thì sẽ không khuyến khích doanh nghiệp khai thác khả năng tiềm tàng, tìm mọi biện pháp cải tiến hoạt động sản xuất kinh doanh đề cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động, gây nên tình trạng ứ đọng vật tư hàng hoá, vốn chậm luân chuyển và phát sinh các chi phí không cần thiết làm tăng giá thành phẩm. Ngược lại nếu doanh nghiệp xác định nhu cầu vốn lưu động quá thấp sẽ gây nhiều khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp thiếu vốn sẽ không có khả năng thanh toán và thực hiện các hợp đồng đã ký kết với khách hàng. Cũng cần thấy rằng nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp là một đại lượng không cố định và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như : - Quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ. - Sự biến động của giá cả các loại vật tư, hàng hoá mà doanh nghiệp sử dụng trong sản xuất. - Chính sách, chế độ về lao động và tiền lương đối với người lao động trong doanh nghiệp. - Trình độ tổ chức, quản lý sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp trong quá trình dự trữ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Vì vậy để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động, giảm thấp tương đối nhu cầu vốn lưu động không cần thiết, doanh nghiệp cần tìm biện pháp phù hợp tác động đến các nhân tố ảnh hưởng trên sao có hiệu quả nhất. 1.2.2. Các phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động trong doanh nghiệp. Để xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết cho doanh nghiệp có thể sử dụng các phương pháp khác nhau. Tuỳ theo điều kiện cụ thể doanh nghiệp có thể lựa chọn phương pháp thích hợp. Sau đây là một số phương pháp chủ yếu: 1.2.2.1. Phương pháp trực tiếp. Nội dung chủ yếu của phương pháp này là căn cứ vào các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến viêc dự trữ vật tư, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm để xác định nhu cầu của từng khoản vốn lưu động trong từng khâu rồi tổng hợp lại toàn bộ nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp. Công thức tổng quát như sau: V = Trong đó: V : Nhu cầu vốn lưu động trong doanh nghiệp. M : Mức tiêu dùng bình quân 1 ngày của loại vốn được tính toán. N : Số ngày luân chuyển của loại vốn được tính toán. i : Số khâu kinh doanh ( i = 1. k ) j : Loại vốn sử dụng ( j =1. n ) Mức tiêu dùng bình quân 1 ngày của một loại vốn nao đó trong khâu tính toán được tính bằng tổng mức tiêu dùng trong kỳ ( theo dự án chi phí ) chia cho số ngày trong kỳ ( tính chẵn 360 ngày ). Số ngày luân chuyển của một loại vốn nào đó được xác định căn cứ vào các nhân tố liên quan về số ngày luân chuyển của loại vốn đó trong từng khâu tương ứng. Ưu điểm của phương pháp tính toán trực tiếp là xác định được nhu cầu cụ thể của từng loại vốn trong từng khâu kinh doanh, do đó tạo điều kiện tốt cho việc quản lý, sử dụng vốn theo từng loại trong từng khâu sử dụng. Tuy nhiên do vật tư sử dụng có nhiều loại, quá trình sản xuất kinh doanh qua nhiều khâu vì thế việc tính toán nhu cầu vốn theo phương pháp này tương đối phức tạp, mất nhiều thời gian. 1.2.2.1.1. Xác định nhu cầu vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất. Trong quá trình sản xuất kinh doanh thường phải sử dụng các loại vật tư khác nhau. Để đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục doanh nghiệp phải luôn có một số lượng vật tư dự trữ sản xuất. Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất bao gồm: giá trị các loại nguyên vật liệu chính,vật liệu phụ, phụ tùng thay thế,vật liêu đóng gói, công cụ dụng cụ nhỏ. Đối với nhu cầu vốn nguyên vật liệu chính, công thức tính toán như sau: Vnl = Mn . Nnl Trong đó : Vnl : Nhu cầu vốn vật liệu chính năm kế hoạch Mn : Mức tiêu dùng bình quân 1 ngày về chi phí nguyên vật liệu chính năm kế hoạch. Nnl : Số ngày dự trữ hợp lý. Mức tiêu dùng bình quân 1 ngày về nguyên vật liệu chính trong năm kế hoạch được xác định bằng cách lấy tổng chi phí sử dụng nguyên vật liệu chính năm kế hoạch chia cho số ngày trong năm ( quy ước 360 ngày). Trong đó tổng chi phí nguyên vật liệu sử dụng trong năm được xác định căn cứ vào số lượng sản phẩm dự kiến sản xuất, mức tiêu dùng nguyên vật liệu chính cho mỗi đơn vị sản phẩm và đơn giá kế hoạch của nguyên vật liệu. Số ngày dự trữ hợp lý về nguyên vật liệu chính là số ngày kể từ khi doanh nghiệp bỏ ra mua cho đến khi đưa nguyên vật liệu vào sản xuất nó bao gồm : số ngày hàng đi đường, số ngày nhập kho ( sau khi đã nhân với hệ số xen kẽ vốn ), số ngày kiểm nhận nhập kho, số ngày chuẩn bị sử dụng và số ngày bảo hiểm. Đối với các khoản vốn khác nhau trong khâu dự trữ sản xuất ( như nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế…) nếu sử dụng nhiều và thường xuyên có thể áp dụng phương pháp tính toán như đối với các khoản vốn nguyên vật liệu chính đã nêu ở trên. Ngược lại, đối với các khoản vốn được sử dụng không nhiều và không thường xuyên, mức tiêu dùng ít biến động thì có thể áp dụng phương pháp tính tỷ lệ (%) với tổng mức luân chuyển của loại vốn đó trong khâu dự trữ sản xuất. Công thức tính toán như sau : Vnk = Mlc . T% Trong đó : Vnk : Nhu cầu vốn trong khâu dự trữ sản xuất của loại vốn khác. Mlc : Tổng mức luân chuyển cảu loại vốn đó trong khâu dự trữ. T% : Tỷ lệ % của các loại vốn đó so với tổng mức luân chuyển. 1.2.2.1.2. Xác định nhu cầu vốn lưu động trong khâu sản xuất. Vốn lưu động trong khâu sản xuất gồm vốn sản phẩm đang chế tạo (sản phẩm dở dang hoặc bán thành phẩm ), vốn chi phí chờ kết chuyển. * Xác định nhu cầu vốn sản phẩm đang chế tạo. Sự tồn tại của các loại sản phẩm dở dang trong quá trình sản xuất là cần thiết để đảm bảo hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp được tiến hành liên tục.Tuy nhiên việc xác định nhu cầu vốn sản phẩm đang chế tạo trong khâu sản xuất là tương đối phức tạp do mức độ gia tăng chi phí không bao giờ cũng được phân bổ đồng đều theo thời gian hay giai đoạn chế biến sản phẩm. Để xác định nhu cầu vốn này nói chung phải căn cứ vào 3 yếu tố cơ bản là mức chi phí sản xuất bình quân 1 ngày kế hoạch, độ dài chu kỳ sản xuất sản phẩm và hệ số sản phẩm đang chế tạo. Công thức tính toán như sau: Vđc = Pn . Ck . Hs Trong đó: Vđc : Nhu cầu vốn sản phẩm đang chế tạo . Pn : mức chi bình quân một ngày. Ck : chu kỳ sản xuất sản phẩm. Hs : hệ số sản phẩm dang chế tạo . Tích số giữa chu kỳ sản xuất và hệ số sản phẩm đang chế tạo phản ánh số ngày luôn chuyển của vốn sản phẩm đang chế tạo. Mức chi phí sản xuất bình quân một ngày được tính bằng các lấy tổng chi phí ra trong kỳ kế hoạch chia cho số ngày trong kỳ (360 ngày ).Trong đó tổng mức chi phí trong kỳ kế hoạch lại được tính bằng cách nhân số lượng sản phẩm sản xuất kế hoạch với giá thành sản xuất đơn vị của từng loại sản phẩm. Chu kỳ sản xuất sản phẩm là khoảng thời gian kể từ khi đưa nguyên vật liệu và sản xuất kỳ kế hoạch với giá thành sản xuất đơn vị của từng loại sản phẩm. Chu kỳ sản xuất cho đến khi sản phẩm được chế tạo xong và kiểm tra nhập kho. Độ dài chu kỳ sản xuất phụ thuộc vào thời gian quá trình lao động và thời gian quá trình tự nhiên trong sản xuất.Việc xác định chu kỳ sản xuất tốt nhất căn cứ vào kết quả tính toán của các phòng kỹ thuật_công nghệ sản xuất. Hệ số sản phẩm dở dang đang chế tạo là tỷ lệ % giữa giá thành bình quân sản phẩm đang chế tạo và giá thành sản xuất sản phẩm.hệ số này cao hay thấp phụ thuộc vào tình hình bỏ chi phí vào quá trình sản xuất sản phẩm. Nếu phần lớn chi phí được bỏ ra ngay từ giai đoạn đầu của quá trình sản xuất thì hệ số này sẽ cao và ngược lại. * Xác định nhu cầu vốn chi phí chờ kết chuyển ( chi phí phân bổ dần ). Chi phí chờ kết chuyển là các khoản chi phí thực tế đã phát sinh nhưng chưa tính hết vào giá thành sản phẩm trong kỳ mà được phân bổ dần vào nhiều kỳ tiếp theo để phản ánh đúng đắn tác dụng của chi phí và không gây biến động lớn đến giá thành sản phẩm. Chi phí chờ kế chuyển có thể gồm : các chi phí sửa chữa lớn, chi phí nghiên cứu, thí nghiệm, chi phí công cụ lao động nhỏ xuất dùng một lần có giá trị lớn, chi phí các công trình tạm : ván khuôn, giàn giáo xây dựng cơ bản, chi phí trong thời gian ngừng việc có tính chất thời vụ… Để xác định vốn chi phí chờ kết chuyển phải căn cứ vào số dư chi phí chờ kết chuyển đầu kỳ, số chi phí chờ kết chuyển phát sinh trong kỳ và số chi phí chờ kết chuyển dự kiến phân bổ vào giá thành sản phẩm trong kỳ. Công thức tính toán như sau : Vpb = Vpđ +Vpt -Vpg Trong đó : Vpb : Vốn chi phí chờ kết chuyển trong kỳ kế hoạch. Vpđ : Vốn chi phí chờ kết chuyển đầu kỳ kế hoạch. Vpt : Vốn chi phí chờ kết chuyển tăng trong kỳ kế hoạch Vpg : Vốn chi phí chờ kết chuyển vào giá thành sản phẩm trong kỳ kế hoạch. 1.2.2.1.3. Xác định nhu cầu vốn lưu động khâu lưu thông. Là nhu cầu vốn lưu động để lưu giữ, bảo quản sản phẩm, thành phẩm ở kho thành phẩm với quy mô cần thiết trước khi xuất giao cho khách hàng. Công thức tính toán như sau: Vtb = Zsx . Ntp Trong đó : Vtb : Vốn thành phẩm trong kỳ kế hoạch. Zsx : Giá thành sản xuất sản phẩm hàng hoá bình quân mỗi ngày kỳ kế hoạch. Ntp : Số ngày luân chuyển của vốn thành phẩm. Giá thành sản xuất sản phẩm hàng hoá bình quân mỗi ngày kỳ kế hoạch được tính bằng cách lấy tổng giá thành sản xuất sản phẩm hàng hoá cả năm chia cho số ngày trong kỳ ( 360 ngày ) Số ngày luân chuyển vốn thành phẩm là khoảng thời gian từ khi sản xuất sản phẩm được nhập kho cho đến khi đưa đi tiêu thụ và thu được tiền về. Số ngày này bao gồm số ngày dự trữổơ kho thành phẩm, số ngày xuất kho vận chuyển, số ngày thanh toán. Số ngày dự trữ ở kho thành phẩm là số ngày kể từ lúc thành phẩm nhập kho cho đến khi được tiêu thụ . Để xác định số ngày này cần căn cứ vào hợp đồng tiêu thụ và khả năng sản xuất bình quân mỗi ngày của doanh nghiệp. Để tính số ngày dự trữ hợp lý cần nhân với hệ số xen kẽ vốn thành phẩm . Phương pháp xác định hệ số xen kẽ vốn thành phẩm cũng giống như khi tính hệ số xen kẽ vốn dự trữ nguyên vật liệu chính. Số ngày xuất kho và vận chuyển là số ngày cần thiết để đưa hàng từ kho của doanh nghiệp đến địa điểm giao hàng . Nếu doanh nghiệp giao hàng tại cửa kho thì không cần tính số ngày này. Số ngày thanh toán là số ngày từ khi lập chứng từ thanh toán cho đến khi thu được tiền về. Công thức trên có thể được áp dụng cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên trong từng trường hợp có thể áp dụng cho các doanh nghiệp. Trong từng trường hợp cụ thể cần có sự xem xét, vận dụng cho phù hợp với đặc điểm riêng của từng doanh nghiệp . Ví dụ sản phẩm điện không có khoản thời gian dự trữ và thời gian xuất kho, vận chuyển mà chỉ cần có thời gian thanh toán. Đối với sản phẩm xây lắp được thi công ngay tại địa điểm sử dụng chúng sau này nên không phải tính thời gian dự trữ thành phẩm. Sau khi xác định nhu cầu về vốn lưu động trong từng loại vốn trong từng khâu kinh doanh, tổng hợp lại sẽ có toàn bộ nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp trong kế hoạch. 1.2.2.2. Phương pháp gián tiếp. Đặc điểm của phương pháp gián tiếp là dựa vào kết quả thống kê kinh nghiệm về vốn lưu động bình quân trong năm báo cáo, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh năm kế hoạch và khả năng tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động năm kế hoạch để xác định nhu cầu vốn lưu ._.động của doanh nghiệp năm kế hoạch . Công Thức tính toán như sau : Vnc = VlĐo . . ( 1+t) Trong đó : Vnc : Nhu cầu vốn lưu động năm kế hoạch. VIĐo : Số dư bình quân vốn lưu động năm báo cáo. M1 : Tổng mức luân chuyển vốn lưu động năm kế hoạch M0 : Tổng mức luân chuyển vốn lưu động năm t : Tỷ lệ giảm (hoặc tăng ) số ngày luân chuyển vốn lưu động năm kế hoạch so với năm báo cáo. Cách xác định tổng mức luân chuyển và số vốn lưu động bình quân sẽ sẽ được xác định ở các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động . Tỷ lệ giảm (hoặc tăng) số ngày luân chuyển vốn lưu động năm kế hoạch so với năm báo cáo được xác định theo công thức : t = . 100% Trong đó : t% : Tỷ lệ giảm (hoặc tăng) số ngày luân chuyển vốn lưu động năm kế hoạch so với năm báo cáo. K1 : Kỳ luân chuyển vốn lưu động năm kế hoạch K0 : Kỳ luân chuyển vốn lưu động năm báo cáo. Trên thực tế để ước đoán nhanh nhu cầu vốn lưu động năm kế hoạch các doanh nghiệp thường sử dụng phương pháp tính toán căn cứ vào tổng mức luân chuyển vốn và vòng quay vốn lưu động dự tính năm kế hoạch. Công thức tính toán như sau: Vnc = Trong đó : M1 : Tổng mức luân chuyển vốn năm kế hoạch. L1 : Số vòng quay vốn lưu động kỳ kế hoạch. Việc dự tính tổng mức luân chuyển vốn năm kế họach có thể dựa vào tổng mức luân chuyển vốn của kỳ báo cáo có xét tới khả năng mở rộng quy mô kinh doanh trong năm kế hoạch. Tương tự số vòng quay vốn năm kế hoạch có thể được xác định căn cứ vào số vòng quay vốn lưu động bình quân của doanh nghiệp kỳ báo cáo có xét tới khả năng tốc độ luân chuyển vốn lưu động kỳ kế hoạch so với kỳ báo cáo. Phương pháp gián tiếp trong xác định nhu cầu vốn lưu động có ưu điểm là tương đối đơn giản, giúp các doanh nghiệp ước tính được nhanh chóng nhu cầu vốn lưu động năm kế hoạch để xác định nguồn tài trợ phù hợp. 1.3. Nội dung quản trị vốn lưu động. 1.3.1 Quản trị vốn bằng tiền. 1.3.1.1 Vốn bằng tiền. Vốn bằng tiền của doanh nghiệp được hiểu là bao gồm tiền mặt tại quỹ và vốn bằng chứng khoán có mức độ thanh khoản cao. Tiền mặt của doanh nghiệp tại bao gồm tiền trong két và tiền gửi tại các tài khoản giao dịch ở các ngân hàng thương mại. Nó được sử dụng tức thời để đáp ứng nhu cầu thanh khoản khi doanh nghiệp có dòng tiền ra, chảng hạn : trả lương cho cán bộ công nhân viên, mua nguyên vật liệu, đầu tư vào tài sản cố định và thực hiện nghĩ vụ đối với nhà nước ( nộp thuế ). Tiền mặt của doanh nghiệp thông thường là tài sản không sinh lời hoặc có tỷ lệ sinh lời rất thấp. Do đó, tiền mặt có chi phí cơ hội và buộc các nhà quản trị tài chính phải có chính sách và chiến lược quản trị hiệu quả để dung hoà giữa mục tiêu sinh lời và mục tiêu thanh khoản trên bước đường tối đa hoá giá trị doanh nghiệp. Trong hoạt động kinh doanh nghiệp, việc duy trì tiền mặt ở mức hợp lý là điều tối cần thiết bởi : Khi mua hàng hoá dịch vụ, nếu có đủ tiền mặt thì doanh nghiệp sẽ được hưởng những lợi thế chiết khấu. Giữ quy mô tiền mặt hợp lý sẽ giúp doanh nghiệp duy trì tốt các chỉ số thanh toán ( thanh toán ngắn hạn, thanh toán nhanh, thanh toán tức thời), là cơ sở để có lòng tin đối với nhà cung cấp cũng như các tổ chức tín dụng. Duy trì tiền mặt hợp lý giúp doanh nghiệp tận dụng được một cách nhanh nhất các cơ hội đầu tư và kinh doanh trên thị trường. Đáp ứng nhu cầu dự phòng nhằm hạn chế những tổn thất có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp . * Chứng khoán thanh khoản cao . Hầu như, tất cả các quản trị tài chính đều cho rằng quản trị tiền mặt không thể biệt lập với quản trị chứng khoán thanh khoản cao. khi số dư tiền mặt ở mức tối ưu, doanh nghiệp có thể đem bá chứng khoán thanh khoản cao để bù dắp cho sự thiếu hụt tiền mặt. Chứng khoán thanh khoản cao thông thường là chứng khoán ngắn hạn có chất lượng ( thời gian đáo hạn dưới 1 năm), có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt nhanh chóng với chi phí giao dịch thấp .Việc chuyển đổi chứng khoán thanh khoản cao thành tiền mặt giúp doanh nghiệp tăng cường khả năng thanh khoản trong việc đáp ứng các dòng tiền đi ra khỏi doanh nghiệp. Chứng khoán thanh khoản cao thường bao gồm : Trái phiếu kho bạc có thời gian đáo hạn là 3 tháng, 6 tháng, hay 1 năm. giấy nợ ngắn hạn. chứng chỉ tiền gửi có thể giao dịch. thương phiếu chấp nhân thanh toán của ngân hàng. chứng khoán được phát hành theo thoả thuận mua lại. Biểu 01: Sơ đồ luân chuyển tiền mặt Các chứng khoán thanh khoản cao Đầu tư tạm thời bằng cách mua chứng khoán có tính thanh khoản cao Bán những chứng khoán có tính thanh khoản cao để bổ sung cho tiền mặt Tiền mặt Dòng thu tiền mặt Dòng chi tiền mặt Nhiệm vụ của quản trị vốn bằng tiền do đó không phải chỉ là đảm bảo cho doanh nghiệp có đầy đủ lượng tiền mặt cần thiết để đáp ứng kịp thời các nhu cầu thanh toán mà quan trọng hơn là tối ưu hoá số ngân quỹ hiện có, giảm tối đa các rủi ro về lãi suất hoặc tỷ giá hối đoái và tối ưu hoá việc đi vay ngắn hạn hoặc đầu tư kiếm lời. 1.3.1.2. Các nguyên lý cơ bản nhằm quản trị vón bằng tiền mặt tại quỹ . Gia tăng tốc độ thu hồi tiền mặt. - áp dụng một cách linh hoạt chính sách chiết khấu khi bán hàng. - Lựa chọn có hiệu quả phương thức thanh toán, phương thức chuyển tiền khi bán hàng. Vì nếu thu hồi được sớm tiền mặt, doanh nghiệp có thể sử dụng để đầu tư kiếm lời trong ngắn hạn. Giảm tốc độ chi tiêu tiền mặt . Tận dụng thời gian chênh lệch thu – chi Sử dụng hối phiếu khi mua hàng Chậm chi trả lương trong khả năng có thể. 1.3.1.3. Dự báo tiền mặt. Dự báo tiền mặt là quá rình ước tính các dòng tiền vào và ra của doanh nghiệp để trên cơ sở đó xác định dòng tiền ròng trong một đơn vị thời gian và có những bước cư xử thích hợp nhằm duy trì ngân quỹ ở mức tối ưu. Các bước dự báo tiến hành như sau: Lập bảng thu dự tính Lập bảng chi dự tính Cân đối ngân quỹ dự tính Sử lý để đạt được trạng thái tối ưu về tiền mặt ( có thể mua hay bán các chứng khán thanh khoản cao). 1.3.1.4. Mức tồn quỹ tối thiểu. Mức tồn quỹ tối thiểu được xác định sao cho doanh nghiệp có thể tránh được: Rủi ro không có khả năng thanh toán ngay, phải gia hạn thanh toán nên phải trả lãi cao hơn. Mất khả năng mua chịu của nhà cung cấp Không có khả năng tận dụng các cơ hội kinh doanh tốt. Phương pháp này thường dùng để xác định mức tồn quỹ tối thiểu là lấy mức xuất quỹ trng bình hàng ngày nhân với số lượng ngày dự trữ tồn quỹ. 1.3.2. Quản trị vốn tồn kho dự trữ. 1.3.2.1. Hàng tồn kho. Tồn kho dự trữ của doanh nghiệp là những tài sản mà doanh nghiệp lưu giữ để sản xuất hoặc bán ra sau này. Trong quá trình luân chuyển vốn lưu động để phuc vụ cho hoạt động kinh doanh thì việc tồn tại vật ư hàng hoá dự trữ, tồn kho là bước đệm cần thiết cho quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp. Hàng tồn kho có 3 loại . Nguyên vật liệu thô dùng cho quá trình sản xuất kinh doanh Sản phẩm dở dang Thành phẩm Mỗi doanh nghiệp đều muốn duy trì một mức tồn kho tối ưu vì nếu dự trữ quá lớn sẽ gây tốn kém chi phí, ứ đọng vốn, còn nếu dự trữ quá ít sẽ làm cho quá trình sản xuất kinh doanh bị gián đoạn gây ra hàng loạt các hậu quả tiếp theo. Hàng tồn kho thường có 3 loại như trên, nhưng thông thường trong quản trị vần đề chủ yếu được đề cập là nguyên vật liệu dự trữ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Đối với các doanh nghiệp thương mại thì dự trữ nguyên vật liệu cũng có nghĩa là dự trữ hàng hoá để bán. 1.3.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến vốn tồn kho dự trữ Mức tồn kho dự trữ của doanh nghiệp nhiều hay ít chịu sự ảnh hưởng của những nhân tố . Tuỳ theo từng loại tồn kho dự trữ mà các nhân tố ảnh hưởng có đặc điểm riêng. Đối với mức tồn kho dự trữ nguyên vật liệu, nhiên liệu thường phụ thuộc vào : Quy mô sản xuất và nhu cầu dự trữ nguyên vật liệu cho sản xuất của doanh nghiệp . Nhu cầu dự trữ nguyên vật liệu của doanh nghiệp thường bao gồm 3 loại : dự trữ thường xuyên, dự trữ bảo hiểm, dự trữ thời vụ. Khả năng sẵn sàng cung ứng cho thị trường Chu kỳ giao hàng quy định trong hợp đồng giữa đơn vị cung ứng nguyên vật liệu với doanh nghiệp. Thời hạn vận chuyển nguyên vật liệu từ nơi cung ứng đến doanh nghiệp. Giá cả của các loại nghuyên vật liêu, nhiên liệu cung ứng Đối với các mức tồn kho dự trữ bán thành phẩm, sản phẩm dở dang các nhân tố ảnh hưởng bao gồm : Đặc điểm và các yêu cầu về kỹ thuất, công nghệ trong quá trình chế tạo sản phẩm. Độ dài thời gian chu kỳ sản xuất sản phẩm. Trình độ tổ chức quá trình sản xuất của doanh nghiệp Đối với tồn kho thành phẩm, thường chịu ảnh hưởng các nhân tố : Sự phối hợp giữa khấu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Hợp đồng tiêu thụ sản phẩm giữa doanh nghiệp và khách hàng Khả năng xâm nhập và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. 1.3.2.3. Các phương pháp quản trị vốn tồn kho dự trữ. Phương pháp tổng chi phí tối thiểu Mục tiêu của việc quản trị tồn kho dự trữ là nhằm tối thiểu hoá các chi phí dự trữ tài sản tồn kho trong điều kiện vẫn đảm bảo cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành bình thường . Nếu coi việc bán hàng của doanh nghiệp trước đó cũng phải diễn ra dều đặn. Giả dịnh số lượng nhu cầu mỗi lần cung cấp là Q thì mức dự trữ trung bình sẽ là Q/2. có thể biểu diễn điều đó trên đồ thị sau: Mức dự trữ Q Dự trữ trung bình Q/2 Thời gian Dự trữ tồn kho phát sinh ra 2 loại chi phí : chi phí lưu kho và chi phí trong quá trình thưc hiện đơn đặt hàng. + Xác định chi phí lưu kho. Nếu gọi C*1 : Tổng chi phí lưu kho C1 : Chi phí lưu kho đơn vị Q : Số lượng vật tư hàng hoá cung cấp mỗi lần C*1 = C1 . (1 (1) + Xác định chi phí quá trình thực hiện đơn hàng: C*2 : Là quá trình thực hiện đơn hàng C2 : Chi phí thực hiện đơn hàng một lần Qn : Khối lượng vật tư cung cấp hàng năm. C*2 = C2 x Gọi F là tổng chi phí lưu kho F = C*1 + C*2 = C1 . + C2 x 1.3.3. Quản trị các khoản phải thu, phải trả 1.3.3.1. Quản trị các khoản phải thu Các nhân tố ảnh hưởn tới quy mô các khoản phải thu thường là : Khối lượng sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ bán chịu cho khách hàng. Sự thay đổi theo thời vụ của doanh thu. Giới hạn của lượng vốn phải thu hồi . Thời gian bán chịu và chính sách tín dụng của mỗi doanh nghiệp. Nói chung đối với mỗi chính sách bán chịu doanh nghiệp cần phải đánh giá kỹ theo các thông số chủ yếu sau đây: Số lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ dự kiến tiêu thụ được. Giá bán sản phẩm, hàng hoá dịch vụ. Các chi phí phát sinh thêm do việc tăng các khoản nợ. Các khoản chiết khấu chấp nhận. Thời gian thu hồi nợ bình quân đối với các khoản nợ. Dự doán số nợ phải thu của khách hàng. Để giúp doanh nghiệp có thể nhanh chóng thu hồi các khoản phải thu, doanh nghiệp cần coi trọng các biện pháp chủ yếu sau : + Phải mở sổ theo dõi chi tiết các khoản nợ phải thu + Có các biện pháp phòng ngừa rủi ro không được thanh toán + Có chính sách bán chịu đúng đắn với từng khác hàng. + Có sự ràng buộc chăt chẽ trong hợp đồng bán hàng. + Phân loại các khoản nợ quá hạn. 1.3.3.2. Quản trị các khoản phải trả. Việc quản trị khoản phải trả không chỉ đòi hỏi doanh nghiệp phải thường xuyên duy trì một lượng vốn tiền mặt để đáp ứng yêu cầu thanh toán mà còn đòi hỏi việc duy trì một lượng vốn tiền mặt để đáp ứng yêu cầu thanh toán mà còn đòi hỏi việc thanh toán các khoản phải trả một cách chính xác, an toàn và nâng cao uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng. Để đáp ứng các nhu cầu trên doanh nghiệp cần chú trọng các biện pháp sau đây: -Thường xuyên kiểm tra đối chiếu các khoản phải thanh toán với khả năng thanh toán của doanh nghiệp để chủ động đáp ứng các yêu cầu thanh toán khi đến hạn. -Lựa chọn các hình thức thanh toán thích hợp, an toàn và hiệu quả nhất đối với doanh nghiệp. 1.4. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp. Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong các doanh nghiệp có thể sử dụng các chỉ tiêu chủ yếu sau: 4.1.1. Tốc độ luân chuyển vốn lưu động. Việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm vốn lưu động được biểu hiện trước hết ở tốc độ luân chuyển vốn lưu động của doanh nghiệp nhanh hay chậm. Vốn lưu động luân chuyển càng nhanh thì hiệu suất vốn lưu động của doanh nghiệp càng cao và ngược lại. Tốc độ luân chuyển vốn lưu động có thể đo bằng hai chỉ tiêu là số lần luân chuyển (số vòng quay của vốn) và kỳ luân chuyển vốn (số ngày của một vòng quay vốn). Số lần luân chuyển vốn lưu động phản ánh số vòng quay vốn được thực hiện trong thời kỳ nhất định, thường tính trong một năm. Công thức tính toán như sau: M VIĐ L = Trong đó: L: Số lần luân chuyển (số vòng quay) của vốn lưu động trong kỳ. M: Tổng mức luân chuyển vốn lưu động trong kỳ. VIĐ: Vốn lưu động bình quân trong kỳ. Kỳ luân chuyển vốn phản ánh số ngày để thực hiện một vòng quay vốn lưu động. Công thức tính toán như sau: K = hay K = Trong đó: K: kỳ luân chuyển vốn lưu động. Vòng quay vốn lưu động càng nhanh thì kỳ luân chuyển vốn càng được rút ngắn và chứng tỏ vốn lưu động càng được sử dụng có hiệu quả. Trong các công thức trên, tổng mức luân chuyển vốn phản ánh giá trị luân chuyển của doanh nghiệp thực hiện trong kỳ, nó được xác định bằng tổng doanh thu trừ đi các khoản thuế gián thu mà doanh nghiệp phải nộp cho ngân sách Nhà nước. Số vốn lưu động bình quân trong kỳ được tính theo phương pháp bình quân số vốn lưu động trong từng quý hoặc tháng. Công thức tính toán như sau: VIĐ = Hay VIĐ = Trong đó: VIĐ : Vốn lưu động bình quân trong kỳ. Vđq1 : Vốn lưu động đầu quý 1. Vq1, Vq2, Vq3, Vq4 : Vốn lưu động bình quân các quý 1, 2, 3, 4. Vcq1, Vcq2, Vcq2, Vcq4: Vốn lưu động cuối quý 1,2,3,4. 4.1.2. Mức tiết kiệm vốn lưu động do tăng tốc độ luân chuyển. Mức tiết kiệm vốn lưu động do tăng tốc độ luân chuyển vốn được biểu hiện bằng hai chỉ tiêu là mức tiết kiệm tuyệt đối và mức tiết kiệm tương đối. - Mức tiết kiệm tuyệt đối là do tăng tốc độ luân chuyển vốn nên doanh nghiệp có thể tiết kiệm được một số vốn lưu động để sử dụng vào công việc khác. Nói cách khác với mức luân chuyển vốn không thay đổi (hoặc lớn hơn báo cáo) so với tăng tốc độ luân chuyển nên doanh nghiệp cần số số vốn ít hơn. Công thức tính toán như sau: Vtktd = (K1) - VIĐO = VIĐ - VIĐO Trong đó: Vtktd : Vốn lưu động tiết kiệm tương đối. VIĐO, VIĐ1: Vốn lưu động bình quân kỳ báo cáo và kỳ kế hoạch. MO : Tổng mức luân chuyển vốn năm báo cáo. K1 : Kỳ luân chuyển vốn năm kế hoạch. - Mức tiết kiệm tương đối: Là do tốc độ luân chuyển vốn nên doanh nghiệp có thể tăng thêm tổng mức luân chuyển vốn song không cần tăng thêm hoặc tăng không đáng kể quy mô vốn lưu động. Công thức tính toán như sau: Vtktgđ = (K1 - K0). Trong đó: Vtktgđ : Vốn lưu động tiết kiệm tương đối. M1 : Tổng mức luân chuyển năm kế hoạch. K0, K1 : Kỳ luân chuyển vốn năm kế hoạch. 4.1.3. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Là chỉ tiêu phản ánh số doanh thu được tạo ra được trên vốn lưu động bình quân là cao hay thấp. Công thức tính toán như sau: Hiệu quả sử dụng VLĐ = Doanh thu Vốn lưu động bình quân 4.1.4. Hàm lượng vốn lưu động. - Là chỉ tiêu phản ánh mức đảm nhận về vốn lưu động để tạo ra doanh thu. Đó là chỉ tiêu nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn lưu động. - Chỉ tiêu này được đánh giá theo ngành. Ngành công nghiệp nặng chỉ tiêu này thấp vì vốn lưu động chiếm trong tổng vốn thấp. Ngược lại ngành công nghiệp nhẹ chỉ tiêu này cao vì vốn lưu động chiếm trong tổng số lớn (tối đa là 90%). Hàm lượng VLĐ = Vốn lưu động bình quân Doanh thu 4.1.5. Mức doanh lợi vốn lưu động. Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy tổng lợi nhuận trước thuế (hoặc lợi nhuận sau thuế thu nhập) chia cho số vốn lưu động bình quân trong kỳ. Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế (hoặc lợi nhuận sau thuế thu nhập). Mức doanh lợi vốn lưu động càng cao thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao. Tóm lại, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là vấn đề cần thiết đối với mọi doanh nghiệp, vì yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh nó quyết định đầu ra và giá bán của sản phẩm đó, mà giá bán là một trong những chiến lược cạnh tranh hàng đầu trong việc thu hút khách hàng nhằm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. CHƯƠNG II HIệU QUả Sử DụNG VốN LƯU động TạI CÔNG TY THƯƠNG MạI -XÂY DựNG BạCH đằNG 2.1.KHáI QUáT Về CÔNG TY THƯƠNG MạI - XÂY DƯNG BạCH ĐằNG. 2.1.1. Lịch sử và quá trình phát triển của Công ty . Công ty Thương Mại - Xây dựng Bạch Đằng là một doanh nghiệp Nhà nước thuộc tổng Công ty Xây Dựng Thương Mại, trực thuộc Bộ Giao Thông vận tải. Tiền thân của Công ty là một phân xưởng gốm sứ thuộc xí nghiệp sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu và xí nghiệp này thuộc Công ty xuất nhập khẩu thiết bị giao thông vần tải I thuộc Bộ Giao thông Vận tải. Phân xưởng này sản xuất với một quy mô nhỏ, chủ yếu làm nhiệm vụ tạo công ăn việc làm cho một số cán bộ công nhân dư thừa của Tổng Công ty và mặt hàng sản xuất lúc bấy giờ là những mặt hàng gốm sứ và những chi tiết trang trí bằng nguyên liệu thạch cao. Đến tháng 2 năm 1996 theo quyết định số 989 của Bộ Giao thông Vận tải thì phân xưởng được nâng cấp thành xí nghiệp gốm sứ mỹ nghệ xuất khẩu và trang trí nội thất. Thời điểm này xí nghiệp không còn sản xuất gốm nữa mà chuyển đổi sang công nghệ sản xuất mới, đó là từ chất liệu nhựa tổng hợp cộng với bột đá tự nhiên tạo ra những sản phẩm như : mặt hàng đồ chơi, quà tặng lưu niệm ( con giống, biểu tượng … ) . ngoài ra xí nghiệp còn sản suất thêm đồ mộc trang trí nội thất và sản xuất đồ mỹ nghệ . Sản phẩm của thị trường chủ yếu được tiêu thụ trong nước, xí nghiệp vẫn chưa tìm ra được thị trường để xuất khẩu. Tháng 10 năm 1999, nhìn thấy sự tiến triển và phát triển của xí nghiệp này lãnh đạo tổng Công ty Xây Dựng Thương Mại – Bộ Giao thông Vận tải đã quyết định theo số 2967/1999 QĐ Bộ Giao Thông Vận Tải ngày 28/10/1999, chuyển đổi xí nghiệp gốm sứ Mỹ nghệ xuất khẩu và trang trí nội thất thành Công ty Mỹ Nghệ xuất khẩu và trang trí nội thất thuộc Tổng Công ty Xây Dựng Thương Mại – Bộ Giao Thông Vận Tải. Công ty có trách nhiệm trước Tổng Công ty về những hoạt động kinh doanh của mình, lúc này Công ty có chức năng chủ yếu là sản xuất và kinh doanh các mặt hàng như đồ chơi, quà tăng lưu niệm, đồ gỗ trang trí nội thất, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ gốm sứ sơn mài … ngoài ra còn có gia công hàng xuất khẩu. Cho đến tháng 10 năm 2001 do ngành nghề sản xuất kinh doanh của Công ty không còn phù hợp với tên Công ty mỹ nghệ và trang trí nội thất nên theo quyết định số 3047/QĐ Bộ Giao Thông Vận Tải chuyển đổi thành tên Công ty Thương Mại - Xây dựng Bạch Đằng . Tên giao dịch: VIETRACIMEX. Trụ sở giao dịch chính : số 71 Bạch Đằng – Quận Hai Bà Trưng – Hà Nội. Chi nhánh : Văn phòng đại diện Thành Phố Hồ Chí Minh. Công ty Thương Mại - Xây dựng Bạch Đằng là doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Bộ Giao thông Vận tải, có tư cách pháp nhân, con dấu riêng theo quy định của nhà nước, thực hiện chế độ hạch toán độc lập và có tài khoản tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Các mặt hàng kinh doanh xuất nhập khẩu nằm trong danh mục hàng hoá đã được Bộ Thương Mại phê duyệt phù hợp với chính sách quy định của nhà nước về xuất nhập khẩu . 2.1.2. Chức năng và nhiệm vụ của Công ty 2.1.2.1. Chức năng Công ty Thương Mại - Xây dựng Bạch Đằng có các chức năng sau : Tổ chức xuất nhập khẩu và kinh doanh phương tiện vận tải, kinh doanh kho bãi theo giấy phép kinh doanh của Công ty và phù hợp với quy chế hiện hành của nhà nước, tổ chức tiêu thụ hàng hoá nhập khẩu ở trong nước . Sản xuất kinh doanh hàng may mặc, đồ da, hàng kim hoá chất, điện máy và lắp ráp điện tử , nhận xuất nhập khẩu uỷ thác cho các đơn vị kinh tế trong và ngoài nước. 2.1.2.2. Nhiệm vụ Xây dựng và tổ chức kế hoạch kinh doanh của Công ty theo quy chế hiện hành phù hợp . Tuân thủ các chính sách về chế độ quản lý xuất nhập khẩu , thuế phải nộp ngân sách nhà nước . Thực hiện các cam kết trong hợp đồng kinh tế theo đúng luật pháp. 2.1.3. Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của từng bộ phận . 2.1.3.1. Cơ cấu tổ chức Công ty Thương Mại - Xây dựng Bạch Đằng gồm có 220 nhân viên. Trong đó khối quản lý có 30 nhân viên ( chiếm 13,6 % trên tổng số nhân viên trong Công ty ) Ban giám đốc Công ty: Bao gồm một giám đốc và một phó giám đốc là những người điều hành và chịu trách nhiệm trước nhà nước về mọi hoạt động của Công ty. Đồng thời cũng là người đại diện cho quyền lợi của cán bộ công nhân viên theo đúng luật định. Biểu 02 : Sơ đồ tổ chức bộ máy Công ty . Giám đốc Phó giám đốc Phòng KD Phòng XNK Phòng TCHC Xưởng cơ khí Xưởng đồ chơi Văn phòng đại diện Thành phố Hồ Chí Minh Phòng TCKT Phòng KHSX 2.1.3.2.1. Phòng tổ chức hành chính. Quản lý công tác tổ chức cán bộ và chế độ lao động tiền lương. Quản lý hồ sơ cán bộ công nhân viên và công tác quản trị . 2.1.3.2.2. Phòng tài chính kế toán Tham mưu cho giám đốc công tác tài chính theo quy định của Pháp Luật Nhà Nước . Xây dựng kế hoạch và định hướng công tác tài chính ngắn hạn cho Công ty . Tổng hợp kế hoạch và định hướng công tác tài chính của Công ty quan hệ với các cơ quan hữu trách, tìm và sử dụng nguồn vốn. Quản lý tài sản của Công ty, thu hồi công nợ, tính lương, tính toán xác định giá thành sản phẩm . Kiểm tra hướng dẫn cán bộ vật tư làm đúng thủ tục chứng từ hợp lệ khi thanh toán . 2.1.3.2.3. Phòng kế hoạch sản xuất. Tham mưu và thay mặt giám đốc quản lý, điều hành toàn bộ công tác sản xuất của Công ty . Xây dựng kế hoạch sản xuất, vật tư, công tác kỹ thuật và các định mức tiền lương vật tư xây dựng giá thành kế hoạch sản xuất. Lập phương án cải tạo mở rộng đầu tư phát triển sản xuất, chuyển đổi công nghệ, quản lý sáng kiến, cải tiến kỹ thuật,chất lượng sản phẩm. Quản lý kho hàng, kho vật tư, chuyển đổi công nghệ, kiểm tra đôn đốc các đơn vị sản xuất và điều chỉnh nhân lực trong khối sản xuất của Công ty . 2.1.3.2.4. Phòng xuất nhập khẩu (XNK). Phòng có nhiệm vụ tham mưu chỉ đạo công tác kinh doanh xuất nhập khẩu của Công ty phù hợp với luật xuất nhập khẩu của nhà nước .Vận dụng luật xuất nhập khẩu và các văn bản dưới luật để áp dụng với loại hàng hoá với diều kiện của Công ty . Kết hợp với phòng tài chính kế toán và phòng kế hoạch sản xuất xây dựng giá bán thành phẩm và đảm bảo hàng hoá giữ được uy tín cho Công ty . Lập kế hoạch và xây dựng chương trình tham gia các hội thảo quảng cáo hội chợ quốc tế trong và ngoài nước trình giám đốc duyệt. 2.1.3.2.5. Các xưởng sản xuất. Là đơn vị trực tiếp sản xuất dưới sự điều hành của phòng kế hoạch sản xuất và các phòng chức năng khác của Công ty , kết hợp chức năng chuyên môn của xưởng. Xưởng tổ chức điều hành trực tiếp công tác sản xuất theo kế hoạch đặt ra, đảm bảo chất lượng, số lượng và đúng định mức vật tư. 2.1.4. Kết quả hoạt động kinh doanh tại Công ty Thương Mại - Xây dựng Bạch Đằng. ( Qua 3 năm 2001, 2002, 2003 ) Trải qua nhiều năm hoạt đông, Công ty Thương Mại - Xây dựng Bạch Đằng đã không ngừng phấn đấu vươn lên về mọi mặt. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường đang ngày càng phát triển, trong quá trình hoạt động của mình Công ty đã gặp phải rất nhiều khó khăn trở ngại. Nhưng giờ đây bằng những kinh nghiệm lao động sáng tạo và sự quyết tâm của toàn thể cán bộ công nhân viên, trong những năm gần đây Công ty đã giải quyết được khó khăn trong quá trình sản xuất kinh doanh của mình. Sản phẩm của Công ty ngày càng đa dạng phong phú, sản phẩm đó không những được nhiều người tiêu dùng biết dến mà nó còn được phát triển rộng rãi trên thị trường nước ngoài. Để biết được nguồn vốn lưu động của Công ty và đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu sử dụng vốn lưu động . Trước hết cần biết được kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty thông qua các chỉ tiêu 3 năm : 2001, 2002, 2003 để thấy được sự tăng giảm của lợi nhuận so với doanh thu qua viêc sử dụng và quản lý các chi phí. Điều này được thể hiện qua bảng sau: Biểu 03 : Kết quả hoạt động kinh doanh tại Công ty Thương Mại - Xây Dựng Bạch Đằng Đơn vị : Đồng Chỉ tiêu Năm 2001 Năm 2002 Tổng doanh thu 17.475.018.358 24.815.691.491 Trong đó : Doanh thu hàng xuất khẩu Các khoản giảm trừ 3.047.818 204.000 Giảm giá Hàng bán bị trả lại 3.047.818 204.000 Thuế tiêu thụ đặc biệt. thuế XK phải nộp Doanh thu thuần 17.471.970.540 24.815.487.491 Giá vốn hàng bán 14.779.262.834 21.062.943.498 Lợi nhuận gộp 2.692.707.706 3.752.543.993 Chi phí bán hàng 1.224.283.860 1.368.606.485 Chi phí quản lý doanh nghiệp 874.745.712 1.462.311.083 Lợi nhuận thuần từ hoạt động KD 593.678.134 921.626.425 Thu nhập hoạt động tài chính 118.718.617 188.115.209 Chi phí hoạt động tài chính 579.096.876 819.218.380 Lợi nhuận thuần từ hoạt động tài chính 460.378.259 631.103.171 Thu nhập hoạt động bất thường 100.000.000 1.654.035 Chi phí hoạt động bất thường 110.633.896 36.080.827 Lợi nhuận bất thường 10.633.898 34.426.792 Tổng lợi nhuận trước thuế 122.665.977 256.096.462 Thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp 39.253.113 81.950.868 Lợi nhuận sau thuế 83.412.864 174.145.594 Nguồn số liệu : Phòng tài chính kế toán. Biểu 04 : Kết quả sản xuất kinh doanh năm 2003 Đơn vị : Đồng Chỉ tiêu Quý IV Năm 2003 Doanh thu BH và cung cấp DV 21.969961.968 50.019.801.584 Các khoản giảm trừ 323.809.523 * Chiết khấu thương mại * Giảm giá hàng bán * Hàng bán bị trả lại 323.809.523 Thuế TTĐB. thuế XNK. thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp 1. Doanh thu thuần 21.969.961.968 49.695.992.061 2. Giá vốn hàng bán 19.897.040.239 43.797.897.219 3. Lợi nhuận gộp 2.072.921.729 5.898.094.842 4. Thu nhập hoạt động TC 467.462.470 1.277.972.392 5. Chi phí hoạt động tài chính 826.752.088 2.278.485.981 Trong đó Lãi vay phải trả 784.769.924 1.972.042.243 6. Chi phí bán hàng 724.677.722 1.971.307.277 7.chi phí quản lý DN 908.119.507 2.820.832.479 8. LN thuần từ hoạt động KD 62.834.882 105.441.497 9.Thu nhập khác 46.650.000 1.030.297.094 10. Chi phí hoạt động khác 8.178.914 977.275.069 11. Lợi nhuận khác 38.471.086 53.022.025 12.Tổng lợi nhuận trước thuế 101.305.968 158.463.522 13.Thuế TNDN phải nộp 32.417.910 50.708.327 14. Lợi nhuận sau thuế 68.888.058 107.755.195 Nguồn số liệu : Phòng tài chính kế toán. Biểu 05: Bảng cân đối kế toán năm 2002 và năm 2003 Đơn vị : Đồng TàI SảN NĂM 2002 NĂM 2003 Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn 19.537.113.529 36.415.190.606 I. Tiền 1.900.954.484 1.570.737.727 1.Tiền mặt tại quỹ ( gồm cả ngân phiếu) 1.386.911.559 1.478.501.297 2. Tiền gửi ngân hàng 514.042.925 92.236.430 3. Tiền đang chuyển II.Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn 1. Đầu tư chứng khoán ngắn hạn 2. Đầu tư ngắn hạn khác 3. Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn (*) III. Các khoản phải thu 8.491.667.700 14.587.004.388 1. Phải thu của khách hàng 2.107.817.676 2.862.886.645 2.Trả trước cho người bán 17.822.000 168.586.350 3.Thuế GTGT được khấu trừ 500.341.032 873.795.182 4. Phải thu nội bộ 5.859.590.541 10.294.970.216 _Vốn kinh doanh ở các đơn vị trực thuộc _ Phải thu nội bộ khác 5. Các khoản phải thu khác 6.096.451 386.765.995 6. Dự phòng các khoản phải thu khó đòi IV. Hàng tồn kho 8.455.962.891 18.358.449.044 1. Hàng mua đang đi trên đường 2. Nguyên liệu vật liệu tồn kho 469.472.568 644.330.253 3. Công cụ dụng cụ tồn kho 14.537.926 29.469.316 4. Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang 1.693.996.324 6.154.210.083 5. Thành phẩm tồn kho 69.327.115 6. Hàng tồn kho 6.277.956.073 11.461.112.277 7. Hàng gửi bán 8. Dự phòng giảm giá hàng tồn kho (*) V. Tài sản lưu động khác 688.528.454 1.898.999.447 1.Tạm ứng 320.049.919 888.180.739 2. Chi phí trả trước 364.679.235 1.010.818.708 3. Chi phí chờ kết chuyển 4. Tài sản thiếu chờ xử lý 5. Các khoản thế chấp ký cược ký quỹ NH 3.799.300 VI. Chi sự nghiệp 1. Chi sự nghiệp năm trước 2. Chi sự nghiệp năm nay B. TàI SảN Cố ĐịNH Và ĐầU TƯ dài hạn 8.134.364.333 12.487.941.297 I. Tài sản cố định hữu hình 8.070.337.358 11.033.383.274 _ Nguyên giá 5.067.012.835 6.198.073.017 _ Giá trị hao mòn lũy kế (*) -648.653.670 -1.636.183.412 2. Tài sản cố định thuê tài chính 3.651.978.193 6.471.493.669 _ Nguyên giá 3.978.362.526 7.366.522.935 _ Giá trị hao mòn lũy kế (*) -326.384.333 -895.029.266 3. Tài sản cố định vô hình _Nguyên giá _ Giá trị hao mòn lũy kế (*) II. Các khoản đầu tư tài chính dài hạn 1. Đầu tư chứng khoán dài hạn 2.Các khoản đầu tư dài hạn khác (*) 3. Dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn (*) III. Chi phí xây dựng cơ bản dở dang 64.026.975 1.223.402.034 IV. Các khoản ký cược ký quỹ dài hạn (*) V. chi phí trả trước dài hạn 231.155.989 TổNG CộNG TàI SảN 27.671.477.862 48.903.131.903 NGUồN VốN Năm 2002 Năm 2003 A. Nợ PHảI TRả 25.866.322.484 47.015.731.330 I. Nợ ngắn hạn 19.835.065.747 37.478.145.756 1.Vay ngắn hạn 11.720.322.111 18.859.417.446 2. Nợ dài hạn đến hạn trả 3. Phải trả cho người bán 1.518.786.216 3.292.383.476 4. Người mua trả tiền trước 280.343.523 949.097.482 5. Thuế và các khoản phải nộp nhà nước 388.964.066 251.034.801 6. Phải trả công nhân viên 321.549.527 218.920.909 7. Phải trả các đơn vị nội bộ 5.566.916.389 13.612.252.242 8. Các khoản phải trả phải nộp khác 38.183.915 295.039.400 II. Nợ dài hạn 6.031.256.737 9.537.585.574 1. Vay dài hạn 6.031.256.737 9.537.585.574 2. Nợ dài hạn khác III. Nợ khác 1. Chi phí phải trả 2. Tài sản thừa chờ sở lý 3. Nhận ký quỹ. ký cược dài hạn B. NGUồN VốN CHủ Sở HữU 1.805.155.378 1.887.400.573 I. Nguồn vốn _ quỹ 1.715.631.994 1.791.085.111 1. Nguồn vốn kinh doanh 1.500.000.000 1.527.000.000 2. Chênh lệch đánh giá lại tài sản 3. Chênh lệch tỷ giá 4. Qũy đầu tư phát triển 115.279.229 155.656.826 5. Qũy dự phòng tài chính 25.755.845 33.831.365 6. Lợi nhuận chưa phân phối 74.596.920 74.596.920 7. Nguồn vốn XDCB II. Nguồn kinh phí. quỹ khác 89.523.384 96.315.462 1. Qũy dự phòng về trợ cấp mất việc làm 12.877.923 16.915.683 2. Quỹ khen thưởng và phúc lợi 76.645.461 79.339.779 3. Quỹ quản lý của cấp trên 4. Nguồn kinh phí sự nghiệp _ Nguồn kinh phí sự nghiệp năm trước _ Nguồn kinh phí sự nghiệp năm nay 5. Nguồn kinh phí đã hình thành TSCĐ Tổng cộng nguồn vốn 27.671.477.862 48.903.131.903 Nguồn số liệu : Phòng tài chính kế._.ói chung và vốn lưu động nói riêng luôn là mục tiêu phấn đấu của mọi doanh nghiệp . Để thực hiện được mục tiêu này, mỗi doanh nghiệp không ngừng nghiên cứu, tìm ra giải pháp mới để sử dụng vốn lưu động một cách hiệu quả nhất, và Công ty Thương mại - Xây dựng Bạch Đằng cũng không phải là một ngoại lệ. Sau đây là một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Thương mại - Xây dựng Bạch Đằng. 3.2.1. Giải pháp về lao động. Con người đó là một trong ba yếu tố phải có để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh và con người cũng là yếu tố quyết định tới sự thành công hay thất bại trong hoạt động kinh doanh. Ngày nay với điều kiện kinh tế ngày càng cạnh tranh quyết liệt, một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì đòi hỏi con người kinh doanh phải có kiến thức, kinh nghiệm và có sự nhanh nhạy trước sự thay đổi từng ngày của môi trường kinh tế. Công ty Thương mại - Xây dựng Bạch Đằng là một Công ty có hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu với các mặt hàng thủ công mỹ nghệ được coi là lợi thế của đất nước không chỉ dừng lại ở phạm vi một quốc gia, một khu vực mà có xu hướng vươn ra thị trường quốc tế. Với môi trường kinh doanh rộng đòi hỏi công tác nghiên cứu thị trường và quản lý có trình độ cao. Mặt khác việc nâng cáo trình độ ngoại ngữ tin học cho nhân viên cũng là vấn đề hết sức quan trọng, nâng cao trình độ và phân công lao động phù hợp ở từng vị trí có vai trò quan trọng tạo điều kiện cho kinh doanh điều kiện thuận lợi và có hiệu quả, bởi vì khi nhân viên được phân công đúng vị trí thì họ sẽ phát huy hết khả năng vốn có của mình và với trình độ cao, họ cso thể áp dụng những tiến bộ khoa học, tin học vào hoạt động sản xuất và kinh doanh. Ngoài ra Công ty cũng cần phải nâng cao các nghiệp vụ xuất khẩu cho nhân viên để tạo cho hoạt động xuất nhập khẩu với các đối tác nước ngoài được diễn ra một cách thuận lợi và có hiệu quả. Công ty có thể tổ chức các lớp học tạo điều kiện để nhân viên mở rộng nâng cao trình độ chuyên môn và tuyển thêm nhân viên mới có trình độ cao để đáp ứng nhu cầu kinh doanh thị trường. Chính vì lý do trên mà Công ty phải chú trọng nhân tố con người để từ đó nâng cáo hiệu quả kinh doanh. 3.2.2. Giải pháp về việc xây dựng kế hoạch huy động vốn lưu động. Trong nền kinh tế thị trường, một trong những điều kiện tiền đề để Công ty có thể hoạt động tốt là phải có đủ vốn. Do vậy việc chủ động xây dựng kế hoạch huy động vốn kinh doanh nói chung và vốn lưu động nói riêng là một trong những biện pháp hữu hiệu nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Kế hoạch huy động là công việc đầu tư để chuẩn bị cho quá trình kinh doanh diễn ra liên tục thường xuyên, đó là tổ chức huy động các nguồn tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động của Công ty . Công ty có thể huy động vốn từ các nguồn sau: - Công ty có thể huy động vốn từ các khoản phải trả: Đối với khoản phải trả, qua phân tích ở trên ta thấy khoản phải trả của Công ty tăng dần lên theo từng năm cụ thể năm 2000 là 2.282 triệu đồng, năm 2001 là 4987 triệu đồng tăng 2.015 triệu đồng so với năm 2000. Năm 2002 là 5.546 triệu đồng tăng 649 triệu đồng so với năm 2001. Đây là khoản vốn mà Công ty đi chiếm dụng để bổ sung cho nhu cầu vốn lưu động mà Công ty không phải trả lãi. Vì vậy mà Công ty nên có kế hoạch sử dụng một cách linh hoạt trên quan điểm cả hai bên cùng có lợi, Công ty phải sử dụng một cách khéo léo và triệt để nguồn vốn này bằng cách tăng tỷ lệ nợ phải trả hoặc kéo dài thời hạn trả tiền cho người bán. Tuy nhiên Công ty không nên quá lạm dụng dẫn đến tình trạng mất uy tín mà nên đáo hạn các khoản phải trả một cách liên tục khi đến hạn, như vậy sẽ đem lại hiệu quả sử dụng vốn lưu động cao cho Công ty . - Huy động vốn từ cán bộ công nhân viên. Nếu huy động được nguồn vốn này tất nhiên Công ty cũng phải trả một khoản lãi tiền vay nhưng sẽ giảm được chi phí xuống thấp hơn. Để huy động được nguồn vốn này Công ty cần phải: Tuyên truyền đến mọi người cho họ thấy được việc cho Công ty vay là góp phần xây dựng Công ty phát triển hơn, khi Công ty có vốn để làm ăn thì sẽ nâng cao được hiệu quả kinh doanh, sẽ làm tăng thu nhập bình quân đầu người, sẽ giúp cho cán bộ công nhân viên có tổng mức thu nhập cao hơn sẽ làm cho đời sống cao hơn. Thực hiện xác định hợp lý lãi suất huy động từ cán bộ công nhân viên, để họ thực sự tin tưởng khi cho Công ty vay. Công ty cần phải thực hiện đúng cam kết và trả đủ tiền lãi cho người lao động kể cả khi Công ty làm ăn thua lỗ và thủ tục thật nhanh gọn để khi họ cần rút tiền là có ngay. - Vay ngắn hạn ngân hàng. Để đáp ứng được đầy đủ kịp tời nhu cầu vốn lưu động phát huy trong quá trình kinh doanh thì nguồn vốn mà Công ty huy động chủ yếu là vay ngắn hạn ngân hàng. Qua phân tích ở trên ta thấy khoản vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao nhất trong các khoản phải trả và cũng tăng dần qua các năm, cụ thể năm 2000 là 1695đ, năm 2001 là 2047,5 trđ tăng 352,5 trđ với tỷ lệ tăng 20,80%, năm 2002 là 2.235trđ tăng 187,5trđ so với năm 2001 với tỷ lệ tăng 9,16%. Vốn vay ngắn hạn lớn làm cho số lãi hàng năm của Công ty cao, làm giảm lợi nhuận của Công ty . Trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay thì tình trạng nguồn vốn vay ngắn hạn ngân hàng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn lưu động của doanh nghiệp. Trong thời gian tới Công ty nên cố gắng giảm tỷ trọng nguồn vốn này bằng cách Công ty cần lập kế hoạch vay trả thoei thời gian một cách cụ thể nhằm phát huy tính linh hoạt của nguồn vốn này và cũng nhằm để giảm khoản lãi tiền vay tăng lợi nhuận cho Công ty đồng thời làm tăng tính chủ động của Công ty trong kinh doanh. Ngoài ra Công ty có thể xin tăng vốn ngân sách để đáp ứng nhu cầu vốn cần thiết tối thiểu cho Công ty hoặc Công ty có thể tham gia liên kết liên doanh với các doanh nghiệp khác. Biện pháp này vừa có thể giúp Công ty tăng nguồn vốn vừa cải thiện cải thiện được tình hình kinh doanh của Công ty vì vậy cần phải xem xét một cách cẩn thận. Để sử dụng tốt các nguồn vốn đã huy động được Công ty cần phải thực hiện tốt các vấn đề sau: Quản lý chặt chẽ từng khâu dự trữ bảo quản hàng hoá, khâu tiêu thụ sản phẩm, khâu thanh toán với người bán và người mua. Đẩy nhanh tiêu thụ hàng hoá, nhanh chóng thu hồi nợ, giảm bớt lượng hàng tồn kho, giải phóng vốn bị ứ đọng để tăng nhanh vòng quay vốn đem lại hiệu quả trong kinh doanh. 3.2.3. Giải pháp quản lý các khoản phải thu: Khoản phải thu là một bộ phận của vốn lưu động và có ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Như phân tích ở trên ta thấy ở Công ty năm 2000 các khoản phải thu bình quân là 1991,2trđ, năm 2001 là 4.374trđ tăng 2.382,8 trđ so với năm 2000, năm 2002 là 4.315trđ giảm 59 trđ so với năm 2001. Trong đó khoản phải thu nội bộ và khoản phải thu khách hàng chiếm tỷ trọng cao nhất. Vì vậy Công ty cần có giải pháp để quản lý tốt hơn các khoản phải thu này nhằm làm tăng vòng quay của vốn tạo điều kiện mở rộng quy mô kinh doanh tăng doanh số và tỷ suất lợi nhuận. Chính việc quản lý các khoản phải thu tốt sẽ làm cho tốc độ luân chuyển của vốn lưu động nhanh cho thấy việc sử dụng vốn lưu động là tốt. Với các khoản phải thu hiện tại. Công ty cần tìm mọi cách thu hồi càng sớm càng tốt, tổ chức tốt quá trình thu hồi công nợ, tăng chi phí chi việc thu nợ, quản lý chặt chẽ các khoản nợ đã thu được. Nhắc nhở những khách hàng sắp đến hạn trả tiền và đôn đốc những khách hàng đã quá hạn thanh toán . - Các biện pháp nhằm hạn chế các khoản nợ trong tương lai: Để hạn chế những khoản nợ trong tương lai Công ty không những phải nắm vững khả năng tài chính của mình mà phải nắm vững khả năng tài chính của khách hàng. Trong nền kinh tế thị trường hiệnnay, các doanh nghiệp đều coi khách hàng là thượng đế, Công ty cần đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng. Tuy nhiên Công ty cũng cần phải nghiên cứu khả năng rủi ro đối với khoản nợ của khách hàng với Công ty . Nếu nắm vững khả năng tài chính của khách hàng sẽ đưa Công ty tới chỗ làm ăn với những bạn hàng tin cậy, loại dần khách hàng không đủ uy tín và không đáng tin cậy. Đối với khách hàng có khả năng tài chính lớn thì Công ty cần khai thác bằng cách thu hẹp thời hạn tín dụng nhằm thu hồi vốn nhanh tăng tốc độ quay vòng vốn. Ngược lại đối với khách hàng có khả năng tài chính hạn hẹp, khả năng huy động vốn thấp thì Công ty nên cẩn thận đánh giá đúng mức độ tin cậy của khách hàng nếu khách hàng đủ độ tin cậy thì Công ty có thể nới rộng điều kiện tín dụng và để kích thích họ mua hàng nhiều hơn. Bên cạnh dó Công ty cũng phải dựa vào khả năng tài chính của chính Công ty để theo dõi xem nhu cầu của thị trường đang ưa chuộng mặt hàng gì để từ đó Công ty có kế hoạch mua bán hàng hoá cho phù hợp với thời kỳ và thời vụ kinh doanh cũng nhu nhu cầu của thị trường. 3.2.4. Tổ chức tốt quá trình thu mua dự trữ. Bán ra đó là mục tiêu kế hoạch của Công ty nhưng để đảm bảo tốt cho hoạt động thì Công ty cần phải xác định được dự trữ hàng hoá ỏ mức độ nào đòi hỏi công tác lập kế hoạch phải căn cứ vào tình hình thực tế, phải dự báo chính xác nhu cầu thị trường để từ đó có được kế hoạch dự trữ hàng hoá cho phù hợp với cả về chất lượng và số lượng, tránh hiện tượng dự trữ hàng hoá ở mức quá cao sẽ làm giảm vòng quay tốc độ vòng quay của vốn, đồng thời chi phí việc bảo quản, dự trữ sẽ tăng dần đến lợi nhuận thu được ít và hiệu quả sử dụng vốn lưu động giảm sút. Để hạn chế và quản lý tốt hơn hàng hoá tồn kho của Công ty , Công ty cần phải thực hiện . - Việc ký kết hợp đồng mua bán cần tiến hành nhanh gọn đảm bảo triệt để phương châm “Mua nhanh bán nhanh” để hạn chế tối đa ứ đọng hàng hoá dẫn đến gây ứ đọng vố. - Tăng cường công tác xuất hàng và vận chuyển, có chính sách ưu đãi đối với khách hàng quen thuộc và mua với khối lượng lớn như chịu một phần chi phí vận chuyển… Đối với hàng tồn kho lâu ngày. Hạ giá bán để thúc đẩy tiêu thụ nhanh hàng hoá điều này sẽ gây giảm lợi nhuận cho Công ty nhưng đôi khi Công ty cần phải chấp nhận để giải phóng được nguồn vốn ứ đọng và mở rộng tiêu thụ được nhiều hàng hoá. Đối với hàng nhập khẩu: Đây là lĩnh vực kinh doanh khá đặc biệt nên nó đòi hỏi một số điều cần quan tâm khi tiến hành nhập khẩu hàng hoá. Phải tổ chức triển khai nghiên cứu thị trường trong nước về tất cà các lĩnh vực như nhu cầu thị hiếu và xu hướng người tiêu dùng dựa trên cơ sở tiềm lực tài chính của khách hàng, nhu cầu có khả năng thanh toán … từ đó để xác định mặt hàng cần nhập về tính chất đặc điểm và giá cả. Trong quá trình nhập hàng thì hàng hoá đã được coi là dự trữ do vậy cần phải rút ngắn thời gian vận chuyển, bốc dỡ, tránh hàng hoá phải lưu cảng quá lâu gây ứ đọng vốn và có thể làm giá trị hàng hoá và mất đi cơ hội trong tiêu thụ vì lý do chậm trễ. Ngoài xu hướng biến động của tỷ giá trong thời gian tới cũng cần phải quan tâm vì nó là cầu nối trung gian giữa giá mua và giá bán, đồng thời để hạn chế ảnh hưởng của rủi ro Công ty phải lập quỹ dự phòng tài chính, mua bảo hiểm cho hàng hoá nhập khẩu. Khi vốn bị hao hụt thì có ngay nguồn vốn bù đắp, khi rủi ro xảy ra sẽ được bồi thường vì có mua bảo hiểm và quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường không bị gián đoạn. Sau khi đã nhập hàng về kho Công ty trực tiếp quản lý chúng. Lúc này biện pháp duy nhất có thể làm là cách đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ như tham gia hội chợ triển lãm, quảng cáo để mở rộng quan hệ với khách hàng và duy trì tốt các mối quan hệ cũ. 3.2.5 Thực hiện tốt công tác xây dựng kế hoạch sử dụng vốn lưu động: Công ty cần phải coi trọng hơn công tác kế hoạch hoá vốn lưu động để từ đó có kế hoạch huy động các nguồn vốn nhằm đáp ứng nhu cầu kế hoạch và thực hiện tốt công tác kế hoạch hoá vốn lưu động để từ đó có kế hoạch huy động các nguồn vốn nhằm đáp ứng đủ nhu cầu kế hoạch trên cơ sở khai thác điều kiện tiềm năng về vốn. Để thực hiện được tốt công tác này, Công ty cần phải xác định đúng nhu cầu vốn lưu động cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh. Nếu xác định đúng nhu cầu về vốn kinh doanh Công ty sẽ thực hiện tốt hoạt động kinh doanh, còn nếu xác định không đúng Công ty nhu cầu về vốn lưu động sẽ dẫn đến tình trạng thiếu vốn, Công ty sẽ gặp khó khăn về khả năng thanh toán, hoạt động kinh doanh sẽ bị ngưng trệ hoặc huy động thừa vốn sẽ dẫn đến lãng phí và làm chậm tốc độ chu chuyển vốn. Vì vậy mà việc xác định nhu cầu là hết sức quan trọng, phải phân bố và sử dụng vốn sao cho hợp lý. Hoạt động nào nên huy động nhiều vốn và hoạt động nào nên huy độngnf vốn với sản lượng là bao nhiêu và trong khoảng thời gian nào để từ đó có biện pháp khai thác vốn kịp thời nhằm giảm mức thấp nhất chi phí tiền vay. Thực hiện tố công tác kế hoạch hoá vốn lưu động sẽ đảm bảo khả năng chủ động về vốn trên cơ sở khai thác mọi tiềm năng tránh tình trạng huy động thừa vốn để đảm bảo quá trình kinh doanh của đơn vị được thường xuyên liên tục và có hiệu quả. Vì vậy việc xác định nhu cầu là một vấn đề rất thận trọng, phải phân bố vốn sao cho hợp lý. Với số liệu của ba năm cho thấy Công ty phải hợpi lý giữa nguồn vốn vay, vốn chiếm dụng với nguồn vốn chủ sở hữu tránh tình trạng phải trả quá nhiều khoản lãi vay làm giảm lợi nhuận. Tuy nhiên trên thực tế việc xác định đúng nhu cầu vốn lưu động có thể gặp nhiều khó khăn. Đó là sự ảnh hưởng của sự biến động về giá cả, về thị trường … Do vậy Công ty cần phải dựa vào phân tích cụ thể về tình hình vốn lưu động năm trước cộng với những dự đoán về tình hình biến động và kế hoạch kinh doanh hàng năm để thấy được nhu cầu cụ thể về vốn lưu động của mình trong từng thời kỳ kinh doanh. 3.2.6. Tiết kiệm chi phí nhằm tăng hiệu quả sử dụng vốn: Chi phí là một bộ phận ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận, là yếu tố xác định nên lợi nhuận của Công ty. Tiết kiệm được chi phí là yếu tố quan trọng để nâng cao lợi nhuận và tăng hiệu quả sử dụng vốn lưu động cho Công ty . Do vậy việc sử dụng hợp lý các khoản chi phí, đồng thời tránh lãng phí là mục tiêu mà bất cứ một doanh nghiệp nào cũng mong muốn đạt được. Chi phí trong kinh doanh bao gồm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp, như đã phân tích ở trên chi phí bán hàng tăng lên qua các năm, cụ thể năm 2003 là 420,5 trđ tăng 351 trđ so với năm 2002. Qua số liệu ba năm ta thấy chi phí bán hàng tăng lên với tỷ lệ rất cao, vì vậy mà Công ty cần phải tính toán giữa lợi nhuận thu được với chi phí bỏ ra. Để tìm được thêm bạn hàng và mở rộng quy mô kinh doanh ngoài việc tham gia các hội trợ triển lãm trong nước và quốc tế, để giảm bớt chi phí Công ty có thể đăng ký quảng cáo trên trang web hoặc thông qua các khách hàng uy tín lâu năm. Mặt khác phải bám sát tranh thủ sự chỉ đạo giúp đỡ của Bộ Thương mại với Công ty khác trong ngành để mở rộng thị trường kinh doanh, thiết lập mối quan hệ vững chắc với các bạn hàng. Chi phí từ hoạt động tài chính cũng tăng lên qua các năm. Chi phí này sẽ làm giảm rất nhiều lợi nhuận của Công ty , vì vậy mà Công ty phải có giải pháp như đối với việc vay ngân hàng để mở L/C, Công ty cần phải thực hiện thủ tục một cách nhanh chóng để khi hàng về có tiền trả ngay nếu không hàng sẽ bị giữ lại tại cảng phải chịu thêm chi phí lưu kho lưu bãi. Ngoài ra Công ty nên sử dụng triệt để nguồn vốn chủ sở hữu để hạn chế khoản vốn vay ngân hàng, tránh hiện tượng vay không sử dụng ngay để giảm bớt khoản lãi tiền vay, Công ty cần phải thực hiện các thủ tục vay một cách nhanh chóng để khi hàng về có tiền thanh toán ngay nếu không hàng sẽ bị giữ lại cảng phải chịu chi phí lưu kho lưu bãi. 3.2.7. Nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật . Sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường ngày nay đã đòi hỏi các doanh nghiệp muốn tồn tại thì phải chiến thắng trong cạnh tranh. Một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của doanh nghiệp là cơ sở vật chất kỹ thuật. Nó gắn liền với việc mở rộng quy mô kinh doanh, tăng mức luân chuyển hàng hoá. Do đó trong thời gian tới Công ty cần tăng cường cho việc đầu tư cải tạo, nâng cấp lại hệ thống máy móc trang thiết bị để nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường cả về mẫu mã lẫn chất lượng . Thực tế cơ sở vật chất Công ty đã xuống cấp qua nhiều năm sử dụng, do đó vấn đề đặt ra đối với Công ty là phải tận dụng tốt các nguồn lực hiện có để đầu tư cấp. Việc làm này sẽ tạo ra sự khang tranh, lịch sự có sức hấp dẫn đối với khách hàng và cũng là để bảo quản và để phục vụ khách hàng một cách tốt nhất. Cùng với sự nâng cấp về máy móc thiết bị, Công ty cần chú ý tới việc nâng cao chất lượng sản phẩm . Để làm được điều đó trước hết Công ty cần quan tâm đến việc nâng cao tay nghề cho đội ngũ thiết kế mẫu mã, tạo điều kiện cho họ học tập để họ có thể áp dụng được cả lĩnh vực tin học vào trong thiết kế, bên cạnh đó là việc nâng cao tay nghề cho công nhân để họ có thể làm ra những sản phẩm đẹp hơn, không những đáp ựng được nhu cầu trong nước mà còn đáp ứng được cả nhu cầu quốc tế mở rộng thị trường xuất khẩu, tăng doanh thu xuất khẩu cho Công ty . Ngoài ra Công ty cũng cần phải quan tâm đến chất lượng đầu vào của sản phẩm và có một đội ngũ nhân viên Marketing vừa giới thiệu sản phẩm, lại vừa theo dõi nhu cầu thị trường cả trong nước và quốc tế, để từ đó có thể đáp ứng kịp thời nhu cầu của thị trường. Nếu thực hiện tốt được những điều trên Công ty mới có thể tận dụng được hết thế mạnh vốn có của mặt hàng kinh doanh và không bị cạnh tranh về chất lượng và giá cả. Điều này sẽ làm tăng hiệu quả kinh doanh cho Công ty . 3.3. Một số kiến nghị. nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động ở Công ty Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động, Công ty không những dựa vào bản thân sự cố gắng nỗ lực của mình bên bạnh đó cũng cần phải có sự giúp đỡ của các cơ quan các ngành các cấp có thểm quyền. 3.3.1. Kiến nghị đối với Công ty. * Đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường Trong nền kinh tế thị trường hiện nay hoạt động Marketing đang trở nên rất quan trọng đối với bất kỳ doanh nghiệp nào. Lúc nào Marketing không còn được hiểu đơn giản là hoạt động quảng cáo bán hàng mà nó là tập hợp các hoạt động có kế hoạch từ việc nghiên cứu thị trường, ra quyết định sản xuất kinh doanh đến khâu phân phối và đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Nghiên cứu thị trường là công việc bắt buộc đối với các chủ thể kinh tế, là điều kiện tiên quyết trong việc chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp. Muốn thành công trong hoạt động sản xuất và kinh doanh của mình thì việc trước hết doanh nghiệp phải hiểu đầy đủ và chính xác những yếu tố liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến nhu cầu, thị hiếu và sức mua của thị trường mới có thể giúp doanh nghiệp tìm được thị trường trọng điểm và xác định được những tiềm năng của thị trường, của doanh nghiệp chưa được khai thác triệt để. Việc nghiên cứu thị trường quan trọng như vậy nên Công ty cần phải quan tâm đến việc tiến hành nghiên cứu thị trường vì thông qua nó Công ty có thể phát hiện ra lợi thế của mình cũng như nguy cơ đang đe doạ sự tồn tại và phát triển của Công ty. Nhờ có các biện pháp nhằm phát huy thế mạnh và phòng ngừa nguy cơ tác động xấu đến tình hình kinh doanh. Việc tiến hành nghiên cứu thị trường giúp Công ty có thể nắm bắt, xử lý tốt thông tin kinh tế, dự đoán chuẩn xác nhu càu và diễn biến thị trường. Có như vậy Công ty mới sản xuất ra được những sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường, hàng hoá mới đảm bảo nguyên tắc mua nhanh, bán nhanh tránh tồn đọng làm giảm chất lượng sản phẩm, thiệt hại cho sản xuất kinh doanh. *Chính sách phân phối sản phẩm Trong những năm qua các hình thức bán hàng mà Công ty áp dụng về cơ bản phù hợp với hoạt động kinh doanh song cơ cấu còn có chỗ chưa hợp lý. Trong thời gian tới, Công ty cần thay đổi cơ cấu cho phù hợp với hoạt động kinh doanh. Tiếp tục đẩy mạnh hình thức bán buôn để đẩy nhanh tổng doanh số bán ra và tạo mối quan hệ chặt chẽ với khách hàng của mình. Trong bán buôn cần tăng cường hình thức bán giao thẳng không qua kho vì hình thức này đảm bảo tiết kiệm nhiều chi phí, thu được lợi nhuận cao và đẩy mạnh vòng quay vốn kinh doanh. Muốn tăng cường hình thức này không phải dễ vì các nhu cầu bất thường khá lớn và khách hàng có thể thoả mãn bằng nhiều cách khác nhau. Thực hiện đa dạng hoá các hình thức bán hàng để phục vụ tốt nhu cầu của mọi khách hàng, áp dụng và phát triển các hình thức bán hàng để thích nghi với điều kiện kinh doanh mới. Sử dụng công cụ Marketing nhằm thúc đẩy hoạt động bán hàng. Công ty cần mở thêm các cửa hàng giới thiệu sản phẩm ở các tỉnh trong cả nước, không ngừng huấn luyện đội ngũ bán hàng có năng lực và kinh nghiệm. Công ty cần duy trì và phát triển quan hệ bán hàng với các đơn vị mua thường xuyên với khối lượng lớn. Công ty ký kết các hợp đồng tiêu thụ với bộ phận khách hàng này để đảm bảo hàng hoá tiêu thụ được ổn định đồng thời tạo dựng và nâng cao uy tín đối với khách hàng. Các hợp đồng kinh tế là cách thức nhằm đạt được mục tiêu an toàn trong kinh doanh do đó cần đẩy mạnh việc giao dịch và ký kết hợp đồng tiêu thụ sản phẩm. Đối với thị trường mới Công ty phải có những chiến lược thâm nhập thích hợp bởi đây chính là những nơi có thể mở rộng các quan hệ của Công ty với bạn hàng mói. Do vậy Công ty phải nỗ lực trong việc tìm tòi và phân tích những thông tin về các biến cố trên thị trường, nhằm tìm ra các cơ hội kinh doanh phù hợp với tiềm năng của Công ty để từ đó tiến hành đầu tư kinh doanh các mặt hàng mà thị trường đòi hỏi, tăng số lượng các đối tác ký kế hợp đồng mua hàng mà từ đó thúc đẩy kinh doanh phát triển. Công ty sẽ làm tốt công tác nghiên cứu thị trường và chính sách phân phối sản phẩm sẽ là giải pháp tốt để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động. * Giải pháp về chiến lược con người Việc Công ty chuyển sang hình thức cổ phần sẽ không tránh khỏi những điều mới mẻ trong quản lý vì vậy Công ty cần phải chăm lo việc đào tạo bồi dưỡng để nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ công nhân viên như cử cán bộ và công nhân có khả năng đi học, mời các chuyên gia về giảng dạy và hướng dẫn sử dụng các loại máy mới. Thông qua đó có thể tận dụng triệt để những tính năng của những thiết bị máy mới từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động. Lãnh đạo Công ty cần mạnh dạn hơn nữa trong việc bố trí sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, cương quyết thay thế những cán bộ yếu đồng thời đề bạt một số cán bộ có năng lực đáp ứng được yêu cầu mới. Đào tạo thu nhận thêm cán bộ có năng lực chuyên môn về kỹ thuật cũng như kinh tế. Qua đó mà tìm ra những chính sách về sản phẩm về thị trường cũng như các chính sách khuyến mại, tiếp thu phù hợp với môi trường kinh doanh của Công ty. Thực hiện chính sách khuyến khích vật chất và tinh thần cho cán bộ công nhân viên của Công ty nhằm phát huy tinh thần trách nhiệm của họ, đẩy mạnh phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng suất lao động và sử dụng tiết kiệm vật tư từ đó có thể làm giảm giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả sử dụng vốn. Lãnh đạo Công ty phải thường xuyên quan tâm hơn nữa việc chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ công nhân viên. Coi trọng công tác an toàn lao động và vệ sinh công nghiệp, phải có biện pháp cải thiện tốt môi trường làm việc cho người lao động phấn đấu đạt mục tiêu "Xanh - Sạch - Đẹp" tạo điều kiện cho cán bộ công nhân viên hăng say lao động sản xuất. Đối với công nhân trong Công ty cần cố gắng nâng cao tay nghề đáp ứng yêu cầu sản xuất, thao tác tay nghề phải đúng quy trình công nghệ, phải mặc quần áo bảo hộ lao động đầy đủ trước khi làm việc để tránh gây tai nạn lao động, nâng cao tinh thần trách nhiệm trong việc bảo quản tài sản của Công ty. 3.3.2. - Kiến nghị đối với ngân hàng Thứ nhất : Ngân hàng nên quan tâm hơn nữa đến vấn đề điều hành theo lãi xuất cơ bản, lãi xuất cho vay linh hoạt theo diễn biến cung cấp vốn, theo yêu cầu của thị trường, của khách hàng…. Thứ hai : Sửa đổi cơ chế, chính sách về cho vay, bảo lãnh theo hướng nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các ngân hàng. Thứ ba : Sớm ban hành nghị định và thông tư hướng dẫn thực hiện pháp lệnh thương phiếu, thúc đẩy hoạt động tín dụng thương mại phát triển. Thứ tư : Thực hiện đúng lộ trình mở cửa hoạt động ngân hàng với nước ngoài, bãi bỏ các quy định hạn chế hoạt động của ngân hàng Việt Nam, theo cam kết với hiệp định thương mại Việt -Mỹ, AFTA. Cho phép thêm một số ngân hàng của Nhật, Mỹ, khối EU mở chi nhánh hoạt động ở Việt Nam, tạo môi trường cạnh tranh thông thoáng cho hoạt động ngân hàng, thúc đẩy thị trường vốn phát triển. 3.3.3- Kiến nghị đối với Nhà nước Thứ nhất : Nhà nước cần ban hành khung tỷ lệ khấu hao linh hoạt, hợp lý để các doanh nghiệp có thể linh động hơn trong việc trích khấu hao tài sản cố định. Đối với các doanh nghiệp có dự án đầu tư có hiệu quả, trong điều kiện sản xuất kinh doanh có lãi được chủ động trích khấu hao tài sản cao. Thứ hai : Nhà nước cần có chính sách tác động, hỗ trợ các doanh nghiệp thuận lợi hơn trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình vì thực tế để huy động được vốn phụ thuộc rất nhiều vào Nhà nước như : Lãi suất ngân hàng, thuế, nguồn vốn ngân sách cấp… Thứ ba : Nhà nước cần có chính sách tài chính thích hợp để khai thông các nguồn vốn, giúp doanh nghiệp có thể huy động vốn một cách thuận lợi. Nhà nước cần sớm hoàn thiện các cơ chế chính sách pháp luật cần thiết đảm bảo các Công ty khai thác triệt để mọi nguồn vốn hiện có. Hiện nay quá trình cổ phần hoá ở các doanh nghiệp chưa được đẩy mạnh điều đó đòi hỏi trong thời gian tới Nhà nước cần đơn giản hoá và hạ thấp một số tiêu chuẩn để sớm có nhiều Công ty cổ phần đạt tiêu chuẩn Công ty cổ phần đại chúng. Thứ tư : Nhà nước cần có những chính sách tác động mạnh mẽ tới quá trình cổ phần hoá không chỉ đối với doanh nghiệp Nhà nước mà đối với cả những Công ty tư nhân, thậm chí cả các Công ty nước ngoài làm ăn có hiệu quả. Thứ năm : Nhà nước phải tạo điều kiện để hướng dẫn giúp đỡ các doanh nghiệp trong quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp. Luật Công ty cổ phần cần chế định việc phát hành các chứng khoán ra công chúng phải là những chứng khoán nặc danh và dứt khoát phải có mệnh giá thấp, hợp với các loại giấy bạc lưu thông phổ biến trên thị trường để mọi tầng lớp nhân dân ngay cả những người nghèo cũng có thể mua chứng khoán nhằm tạo cho mỗi người dân đều có những cơ may làm giàu, thăng tiến. Đẩy mạnh sự hoạt động của thị trường chứng khoán để tạo điều kiện cho các Công ty có điều kiện mở rộng hoạt động kinh doanh. Thứ sáu : Nhà nước nên tăng cường những biện pháp chống buôn lậu, sản xuất hàng giả, trốn thuế, tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng giữa các doanh nghiệp. Đối với cơ quan quản lý cấp trên trong những năm gần đây các doanh nghiệp được quyền tự chủ trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, làm tròn nghĩa vụ với Nhà nước, phải bảo toàn và phát triển được số vốn Nhà nước giao. Tuy nhiên cần có sự kiểm tra chặt chẽ hơn của các cơ quan tài chính đối với các khâu quản lý tài chính của doanh nghiệp. Thứ bảy : Các cơ quan Nhà nước tăng cường kiểm tra hoạt động của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, đảm bảo các doanh nghiệp hoạt động đúng pháp luật, thực hiện đúng pháp lệnh kế toán thống kê. Song tránh tình trạng thanh tra, kiểm tra quá nhiều, chồng chéo gây khó khăn cho doanh nghiệp. Thứ tám : Xây dựng dự án, đàm phán thu hút tài trợ của nước ngoài, các tổ chức quốc tế về : Đào tạo nâng cao trình độ quản lý kinh doanh của các chủ doanh nghiệp Việt Nam . xây dựng và cung cấp thông tin thị trường thế giới cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, giúp đỡ về công nghệ hợp tác kinh doanh… Kết luận Vốn lưu động và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là một đề tài mang tính thời sự cấp bách, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay. Vấn đề bảo toàn vốn và phát triển vốn lưu động của doanh nghiệp là điều kiện cơ bản để doanh nghiệp có thể cạnh tranh trên thị trường. Việc sử dụng vốn lưu động có hiệu quả chính là cơ sở để doanh nghiệp tiến hành bảo toàn và phát triển vốn lưu động. Do vậy nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp là một yêu cầu hết sức cấp thiết mang tính chất tổng hợp cao. Nghiên cứu đề tài này đã giúp em hiểu biết thêm về quản trị tài chính trong doanh nghiệp. Trong khuôn khổ khoá luận tốt nghiệp chúng ta thấy được những vấn đề cơ bản về hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty Thương mại - Xây dựng Bạch Đằng trong thời gian từ 2001 đến 2004, cùng với những thành tựu, tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại này. Mặt khác từ cơ sở lý luận chung và thực tế khoá luận có đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Thương mại - Xây dựng Bạch Đằng . Do trình độ lý luận còn hạn chế, thời gian thực tập ngắn nên khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Em rất mong được sự đóng góp của các thầy cô giáo, các cán bộ trong Công ty để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn. Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn PGS. TS Lê Hoàng Nga và các anh chị trong phòng kế toán của Công ty đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành tốt khoá luận này. Hà Nội, tháng 5 năm 2004 Sinh viên thực hiện Thiều Thị Thu Hằng Danh mục tài liệu tham khảo 1. Quản trị tài chính doanh nghiệp - trường Đại học tài chính kế toán HN Nhà xuất bản tài chính - năm 1999 2. Lý thuyết tài chính - trường Đại học tài chính Hà Nội Nhà xuất bản tài chính Hà Nội - 2000 3. Phân tích hoạt động kinh tế của doanh nghiệp - Trường Đại học tài chính Hà Nội Nhà xuất bản tài chính - năm 2000 4. Đọc, lập và phân tích báo cáo tài chính trong Công ty cổ phần Tác giả : TS Ngô Thế Chi Nhà xuất bản tài chính - năm 1999 5. Tìm hiểu luật doanh nghiệp và văn bản hướng dẫn thi hành. Tác giả : Th.s Phan Đình Khánh Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh - 2000 6. Báo cáo tổng kết năm 2001 và công khai tài chính tại Đại hội công nhân viên chức của Công ty cổ phần dụng cụ cơ khí xuất khẩu. 7. Báo cáo tổng kết năm 2002 và công khai tài chính tại Đại hội công nhân viên chức của Công ty cổ phần dụng cụ cơ khí xuất khẩu. 8. Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2001, 2002 của Công ty cổ phần dụng cụ cơ khí xuất khẩu. 9. Phương hướng hoạt động kinh doanh năm 2003 của Công ty cổ phần dụng cụ cơ khí xuất khẩu. 10. Bảo toàn và phát triển vốn Tác giả : Nguyễn Công Nghiệp Nhà xuất bản thống kê 1992 11. Thời báo kinh tế năm 2002, 2003,2004 12. Tạp chí tài chính năm 2001, 2002, 2003 ,2004 mục lục ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc2307.doc
Tài liệu liên quan