Nâng cao hiệu quả Xuất khẩu than ở Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam

Tài liệu Nâng cao hiệu quả Xuất khẩu than ở Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam: MỤC LỤC TRANG PHẦN MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài Ngày nay, xuất khẩu đã trở thành xu hướng phát triển tất yếu và ngày càng đóng vai trò quan trọng và tích cực đối với nền kinh tế mỗi quốc gia trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, đặc biệt với những nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam. Là một mặt hàng quan trọng, than antraxit Việt Nam không chỉ thoả mãn, đáp ứng nhu cầu trong nước như sản xuất xi măng, điện, phân bón, giấy…và nhu cầu tiêu dụng của nhân dân, mà còn phục ... Ebook Nâng cao hiệu quả Xuất khẩu than ở Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam

doc101 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1351 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Nâng cao hiệu quả Xuất khẩu than ở Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
vụ cho nhu cầu nhập khẩu của các bạn hàng nước ngoài với quy mô ngày càng lớn. Với lịch sử khai thác hơn 100 năm, sản lượng sản xuất và tiêu thụ trên 40 triệu tấn/năm trong đó xuất khẩu đạt trên 20 triệu tấn, mặt hàng than hiện đang được xác định là một trong các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam, có đóng góp ngày càng to lớn trong sự tăng trưởng chung của nền kinh tế quốc dân. Để có được những thành tích trên, toàn thể lãnh đạo, cán bộ và công nhân viên của Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (trước kia là Tổng công ty Than Việt Nam) đã nỗ lực phấn đầu không ngừng để gia tăng sản lượng than khai thác và tiêu thụ, nâng cao chất lượng và giá trị của than, xây dựng thương hiệu cho Than Việt Nam trên thị trường quốc tế. Là một Tập đoàn kinh tế mạnh của đất nước, Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam luôn đặt vấn đề nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung, hiệu quả xuất khẩu than nói riêng làm mối quan tâm hàng đầu. Bởi, nâng cao hiệu quả kinh doanh là điều kiện tiên quyết để bất kỳ một doanh nghiệp nào tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường. Và trên hết, đối với riêng ngành than, xuất khẩu đã đưa ngành than ra khỏi tình trạng khủng hoảng và góp phần quan trọng vào việc bình ổn giá than trong nước. Nâng cao hiệu quả xuất khẩu than là mục tiêu sống còn của Than Việt Nam. Vì lẽ đó, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả xuất khẩu than ở Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam” làm nội dung nghiên cứu. 2. Mục tiêu nghiên cứu Dựa vào tình hình thị trường than trong nước và thế giới hiện nay, việc xuất khẩu than của Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam sang các nước đang gặp nhiều thuận lợi cũng như một số khó khăn nhất định đòi hỏi Tập đoàn phải tìm kiềm những giải pháp phù hợp và linh hoạt để duy trì và phát huy hiệu quả xuất khẩu than. Do đó đề tài được đề ra nhằm mục tiêu: - Phân tích tình hình và hiệu quả xuất khẩu than của Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam trong thời gian qua nhằm rút ra những kinh nghiệm cũng như tìm ra giải pháp cho kế hoạch kinh doanh sản xuất và tiêu thụ than nói chung, kế hoạch xuất khẩu than nói riêng trong những năm tiếp theo. -Tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn của Tập đoàn làm cơ sở cho việc hoạch định kế hoạch chiến lược mới. - Giúp nâng cao hiệu quả xuất khẩu than của Tập đoàn.. - Làm tài liệu tham khảo cho công ty. 3. Phương pháp nghiên cứu Với những mục tiêu được đề ra ở phần trên, để thực hiện và phát triển đề tài theo chiều sâu, rộng thì cần phải dựa vào các phương pháp nghiên cứu sau: - Phương pháp thống kê - tập hợp phân tích mô tả số liệu : dùng công cụ thống kê tập hợp tài liệu, số liệu của công ty, sau đó tiến hành phân tích, so sánh, đối chiếu rút ra kết luận về bản chất, nguyên nhân của sự thay đổi. - Phương pháp phân tích tài chính : dùng công cụ các tỷ số tài chính để tính toán, xác định kết quả từ đó rút ra nhận xét về hiệu quả hoạt động của công ty. 4. Phạm vi nghiên cứu - Đề tài nghiên cứu hoạt động xuất khẩu gạo trong phạm vi Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam để nắm bắt được thực trạng hoạt động xuất khẩu than của Tập đoàn trong những năm gần đây có chiều hướng phát triển như thế nào (tăng hay giảm), hiệu quả xuất khẩu ra sao, có những thuận lợi và khó khăn ra sao để từ đó tìm ra giải pháp hoạch định kế hoạch cho tương lai. - Dựa vào số liệu do Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam cung cấp trong thời gian 3 năm gần nhất đó là 2005, 2006, 2007 và những số liệu tham khảo từ các tài liệu có liên quan để có thể so sánh, tổng hợp đưa ra các nhận định, nhận xét. 5. Kết cầu của chuyên đề Ngoài phần mục lục, phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chuyên đề được kết cấu thành ba chương: Chương I: Những lý luận cơ bản về hiệu quả xuất khẩu hàng hoá của doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Chương II: Thực trạng hiệu quả xuất khẩu than ở Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam. Chương III: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả xuất khẩu than ở Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam. CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ CỦA DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU 1.1.Khái niệm, vai trò và các hình thức xuất khẩu hàng hóa ở doanh nghiệp 1.1.1.Khái niệm Xuất khẩu là một quá trình thu doanh lợi bằng cách đưa các sản phẩm hoặc dịch vụ ra khỏi thị trường trong nước và bán chúng ở các thị trường nước ngoài khác với thị trường trong nước. Hoạt động xuất khẩu đã ra đời từ rất lâu và nó chính là phương thức phổ biến nhất với mức độ rủi ro và chi phí thấp để thâm nhập thị trường quốc tế. Xuất khẩu thực chất là hoạt động bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ cho nước ngoài trên cơ sở sử dụng tiền tệ làm phương tiện thanh toán. 1.1.2.Vai trò của xuất khẩu ở doanh nghiệp Xu hướng hội nhập vào nền kinh tế cùng với sự phát triển của phân công lao động xã hội và phân công lao động hợp tác quốc tế đã làm cho hoạt động xuất khẩu ngày càng có ý nghĩa quan trọng. Ba động cơ chủ yếu để các công ty tham gia kinh doanh quốc tế là: - Tăng doanh số bán hàng: hầu hết các công ty lớn sử dụng xuất khẩu như là cách thức để tăng doanh số bán hàng khi thị trường trong nước bão hoà. - Đa dạng hoá thị trường đầu ra: thị trường đầu ra được đa dạng nó có thể ổn định luồng tiền của công ty để thanh toán cho các nhà cung cấp từ các khách hàng đa dạng hơn. Các công ty có nguồn thu từ nước ngoài đều có thể đa dạng thị trường bán hàng và luồng tiền của mình. - Thu được các kinh nghiệm quốc tế: các nhà kinh doanh và nhà quản lý sẽ thu được nhiều kiến thức qua việc tiến hành kinh doanh quốc tế. Trong những môi trường văn hoá kinh tế và chính trị khác nhau thì việc sử dụng xuất khẩu như là một cách thức để có được các kinh nghiệm quốc tế với chi phí và rủi ro thấp Xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu về một khoản ngoại tệ phục vụ cho công tác nhập khẩu. Ngoài ra xuất khẩu còn góp phần tăng tích luỹ vốn, mở rộng sản xuất tăng thu nhập cho doanh nghiệp nói riêng, nên kinh tế nói chung. Thông qua xuất khẩu, hàng hóa của các doanh nghiệp trong nước sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng, cuộc cạnh tranh này đòi hỏi các doanh nghiệp phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích nghi được với thị trường quốc tế Thông qua xuất khẩu, doanh nghiệp nói riêng, nền kinh tế nói chung mở rộng quan hệ đối ngoại với các nước trên thế giới; khai thác có hiệu quả lợi thế tương đối và tuyệt đối của đất nước từ đó kích thích các ngành kinh tế phát triển. 1.1.3.Các hình thức xuất khẩu hàng hoá ở doanh nghiệp 1.1.3.1.Xuất khẩu tại chỗ Là hình thức mà doanh nghiệp xuất khẩu ngay tại chính đất nước mình để thu ngoại tệ thông qua việc giao hàng bán cho các doanh nghiệp đang hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam theo sự chỉ định của thương nhân nước ngoài; hoặc bán hàng sang khu chế xuất hoặc các xí nghiệp chế xuất đang hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam. Ưu điểm của hình thức này là làm tăng kim ngạch xuất khẩu, giảm rủi ro trong kinh doanh xuất khẩu, giảm được các chi phí trong kinh doanh xuất khẩu như chi phí vận tải, chi phí bảo hiểm hàng hoá, đồng thời được hưởng ưu đãi về thuế . Bên cạnh đó, người kinh doanh xuất khẩu cũng không cần am hiểu kỹ các luật pháp quốc tế cũng như các tập quán thương mại của các nước khác. Tuy nhiên, hình thức xuất khẩu này cũng có những hạn chế nhất định: Thủ tục xuất khẩu khá phức tạp; thời gian xử lý hoàn thuế GTGT quá lâu. Với các nguyên nhiên vật liệu sản xuất tại chỗ phụ thuộc rất nhiều vào trình độ, năng lực của nền kinh tế; đây là cuộc cạnh tranh mà thông thường chúng ta bị thua do giá sản phẩm trong nước thường cao hơn giá nhập khẩu của sản phẩm đó từ nước ngoài vào; và như vậy không phát huy được thế mạnh của chúng ta là cung ứng sản phẩm tại chỗ cho các doanh nghiệp FDI. Do vậy, hình thức xuất khẩu tại chỗ thường được áp dụng tại những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thực hiện xuất khẩu tại chỗ hàng hoá do doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam; thương nhân Việt Nam có tiềm lực kinh tế mạnh hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khác có nhu cầu nhập khẩu tị chỗ khi mới tiếp cận thị trường. 1.1.3.2.Gia công xuất khẩu Là một phương thức sản xuất hàng xuất khẩu, trong đó người đặt gia công ở nước ngoài cung cấp máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu hoặc bán thành phẩm theo mẫu và định mức cho trước; người nhận gia công trong nước tổ chức quá trình sản xuất sản phẩm theo yêu cầu của khách. Toàn bộ sản phẩm làm ra người nhận gia công sẽ giao lại cho người đặt gia công để nhận tiền công. Đây là hình thức thích hợp với các doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện vốn đầu tư hạn chế, chưa am hiểu về pháp luật quốc tế, chưa có thương hiệu, kiểu dáng công nghiệp nổi tiếng; thông qua hoạt động này để tận dụng nguồn lao động dồi dào, tận dụng cơ sở nhà xưởng, máy móc, sử dụng nguyên phụ liệu, vật tư sẵn có trong nước hoặc nhập khẩu từ các nước khác nhau, sử dụng thương hiệu, kênh phân phối hàng hoá của bên đặt gia công ở nước ngoài. Bên cạnh đó, rủi ro trong hình thức xuất khẩu này cũng ít hơn vì đầu vào và đầu ra của quá trình kinh doanh đều do phía đối tác đặt gia công nước ngoài lo. Và có thể nói, đây là hình thức giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, thu ngoại tệ. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm của hình thức gia công hàng hoá xuất khẩu, có thể thấy rằng, đây là loại hoạt động rất khó kiểm soát đối với cơ quan nhà nước, bị phụ thuộc nhiều vào đối tác nước ngoài đặt gia công; ngoại tệ thu được chủ yếu là tiền gia công, mà đơn giá gia công ngày một giảm trong điều kiện cạnh tranh lớn giữa các đơn vị nhận gia công. 1.1.3.3.Xuất khẩu uỷ thác Đây là hình thức doanh nghiệp xuất khẩu kinh doanh dịch vụ thương mại thông qua nhận xuất khẩu hàng hóa cho một doanh nghiệp khác và được hưởng phí trên việc xuất khẩu đó. Ở khía cạnh nào đó, hình thức này làm tăng tiềm lực kinh doanh xuất khẩu cho công ty nhận uỷ thác như duy trì khách hàng, thị trường…đồng thời phát triển hoạt động thương mại dịch vụ, tăng thu nhập cho doanh nghiệp mà không cần đầu tư nhiều vốn. Nhưng mặt khác, doanh nghiệp nhận uỷ thác lại phụ thuộc hoàn toàn vào đối tác, nên tính chủ động trong tiếp cận thị trường kém (không nắm bắt được nhu cầu của thị trường, khiến sản phẩm làm ra không tiêu thụ được, giá xuất khẩu quá thấp so với giá bán thực tế)và có thể phải liên đới chịu trách nhiệm trong các tranh chấp thương mại. Vì vậy, nhiều doanh nghiệp nhận uỷ thác đã bị thiệt hại không ít khi quá phụ thuộc vào các đối tác trung gian. 1.1.3.4.Xuất khẩu qua đại lý ở nước ngoài Là hình thức doanh nghiệp có hàng xuất khẩu thuê doanh nghiệp nước ngoài làm đại lý bán hàng hoá của mình để thu ngoại tệ về. Ưu điểm của hình thức này là doanh nghiệp không cần đầu tư vào cơ sở vật chất kỹ thuật cho hoạt động thương mại ở nước ngoài mà vẫn có thể thâm nhập sâu và rộng vào thị trường khu vực và thế giới; phát triển thương hiệu và thị phần ở nước ngoài; chịu ít rủi ro khi thâm nhập vào thị trường nước ngoài. Tuy nhiên, nếu không am hiểu tận tường đối tác nhận đại lý hoặc không ký hợp đồng đại lý chặt chẽ, dễ bị chiếm dụng vốn (do đối tác không trả) và giải quyết có yếu tố nước ngoài phức tạp; tốn nhiều chi phí thuê người quản lý có năng lực ở nước ngoài. Do vậy, hình thức này chỉ nên áp dụng với các công ty có thương hiệu và kiểu dáng công nghiệp, thiết kế sản phẩm có uy tín nhưng chưa biết cách tiếp cận thị trường nước ngoài. 1.1.3.5.Tạm nhập tái xuất Hình thức kinh doanh tạm nhập tái xuất được hiểu là việc mua bán hàng hoá của một nước để bán cho một nước khác trên cơ sở hợp đồng mua bán hàng hoá ngoại thương, có làm thủ tục nhập khẩu hàng hoá vào Việt Nam, rồi làm thủ tục xuất khẩu mà không qua khâu chế biến. Mọi hình thức tạm nhập nhằm mục đích dự hội chợ, triển lãm hoặc sửa chữa máy móc, phương tiện theo quy định của hợp đồng hợp tác đầu tư, liên doanh sản xuất… để rồi tái xuất không được coi là kinh doanh theo hình thức tạm nhập để tái xuất. 1.1.3.6.Chuyển khẩu Được hiểu là việc mua hàng của một nước (nước xuất khẩu) để bán cho một nước khác (nước nhập khẩu) mà không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu từ Việt Nam. Đặc điểm của hình thức này là mặt hàng kinh doanh phụ thuộc vào chính sách mặt hàng của nước bên bán và của nước bên mua, theo thông lệ và tập quán quốc tế. Vì vậy nó đòi hỏi thương nhân phải am hiểu thị trường, luật lệ, giá cả, các phương thức thanh toán quốc tế của nhiều nước. Doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu theo hình thức này có thể kiếm lợi nhuận mà không cần bỏ vốn, đồng thời không phải nộp thuế xuất nhập khẩu, tuy nhiên cũng phải chịu nhiều rủi ro do phải vận chuyển nhiều. 1.1.3.7.Thương mại biên giới Đây là hình thức trong đó các hoạt động mua, bán trao đổi hàng hóa diễn ra ở khu vực biên giới các nước láng giềng, bao gồm: mua bán chính ngạch, tiểu ngạch, mua bán ở chợ biên giới, mua bán của cư dân biên giới. 1.2.Nội dung của hoạt động xuất khẩu hàng hoá ở Doanh nghiệp 1.2.1.Lập kế hoạch xuất khẩu. Khi bắt tay vào một chiến lược xuất khẩu một hay một nhóm loại hàng hóa nào đó, doanh nghiệp cần phải tiến hành lập kế hoạch xuất khẩu với trình tự và nội dung cơ bản như sau: Một là, đánh giá các điều kiện nội tại của Doanh nghiệp. Mục đích của bước này là tìm ra điểm mạnh và điểm yếu trong kinh doanh của doanh nghiệp để từ đó có thể đầu tư vào những điểm mạnh và khắc phục những điểm yếu của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần có đánh giá đúng đắn về những kết quả đã đạt được, những lợi thế cạnh tranh hoặc những điểm mạnh mà doanh nghiệp tin chắc có thể làm tốt hơn những đối thủ cạnh tranh khác; đồng thời cũng cần nhìn nhận và đánh giá đúng đắn những điểm yếu trong cạnh tranh của doanh nghiệp mình. Hai là, đánh giá các điều kiện và yếu tố bên ngoài. Sau khi tiến hành đánh giá, phân tích các điều kiện bên trong, cần nghiên cứu những yếu tố bên ngoài có ảnh hưởng đến việc xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp: tiềm năng của thị trường; yếu tố cạnh tranh; môi trường chính sách, pháp luật; môi trường kinh tế và kinh doanh; môi trường văn hoá xã hội; môi trường kỹ thuật; hệ thống phân phối… Ba là, nghiên cứu sản phẩm. Doanh nghiệp cần định ra những sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp có thể tìm được thị trường nước ngoài để tiêu thụ với những đặc điểm về bao gói, chất lượng, hình dạng vật lý, cách thức sử dụng, … Bốn là, phân tích SWOT. Sau khi thu thập các dữ liệu thông tin ở các bước trên, cần thực hiện tổng kết và phân tích để chỉ ra điểm mạnh - yếu, cơ hội - thách thức đối với doanh nghiệp. Điều này sẽ giúp doanh nghiệp tập trung và phát huy những điểm mạnh, giảm thiểu những điểm ýêu của mình, từ đó đầu tư vốn vào các cơ hội thị trường. Năm là, xác định các nhân tố quan trọng quyết định đến sự thành công của thương vụ xuất khẩu. Sáu là, đặt ra những mục tiêu, chiến lược và kế hoạch hành động. Bảy là, đánh giá mức độ sẵn sàng xuất khẩu của doanh nghiệp, như là: kỹ năng, kinh nghiệm có liên quan đến xuất khẩu; các mối liên hệ giữa doanh nghiệp và thị trường xuất khẩu mục tiêu; khả năng tài chính; nhân lực và thời gian… 1.2.2.Nghiên cứu thị trường xuất khẩu Cũng như trong các hoạt động kinh doanh khác, vai trò của nghiên cứu thị trường trong xuất nhập khẩu rất quan trọng. Nó giúp doanh nghiệp đánh giá chính xác về thị trường xuất nhập khẩu, có nguồn thông tin toàn diện, chuẩn xác làm nền tảng cho chiến lược marketing xuất nhập khẩu. Nếu không thực hiện nghiên cứu thị trường xuất nhập khẩu hoặc thực hiện sơ sài, doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với những rủi ro rất lớn. Trong việc nghiên cứu này, doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu cần nắm vững những nội dung sau: điều kiện chính trị - thương mại chung, luật pháp và chính sách buôn bán, điều kiện về tiền tệ và tín dụng, điều kiện vận tải và tình hình giá cước…Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần nắm vững những điều có liên quan đến mặt hàng kinh doanh của mình trên thị trường nước ngoài đó, như: dung lượng thị trường, tập quán và thị hiếu tiêu dung, những kênh tiêu thụ (các phương thức tiêu thụ), sự biến động giá cả… Khi nghiên cứu những nội dung trên, người ta áp dụng hai phương pháp chủ yếu là nghiên cứu tại văn phòng (điều tra qua tài liệu, sách báo…) và điều tra thực địa. Ngoài hai phương pháp này, người ta còn có thể sử dụng các phương pháp như: mua, bán thử; mua dịch vụ thông tin của các công ty điều tra tín dụng; thông qua người thứ ba để tìm hiểu khách hàng v.v... 1.2.3.Định giá xuất khẩu Giá cả là yếu tố quan trọng trong giao dịch ngoại thương. Do vậy, việc xác định giá xuất khẩu như thế nào hết sức có ý nghĩa đối với doanh nghiệp, nó là cơ sở để doanh nghiệp tiến hành các bước giao dịch hay đàm phán kí kết hợp đồng. Doanh nghiệp cần lưu ý rằng nếu giá xuất khẩu được đính giá quá thấp so với giá nên xuất thì sẽ bị giảm lợi nhuận; còn nếu định giá cao hơn giá nên bán thì ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của sản phẩm. Thông thường trong xuất khẩu việc xác định giá thường dựa trên phương pháp sai biệt phí tổn. 1. Giá thành chế tạo (manufacturing cost) + các chi phí xuất khẩu (special exporting cost) = giá thành sản xuất (factory cost) 2. Giá thành sản xuất – thuế được hoàn lại = giá thành sản xuất thuần 3. Giá thành xuất khẩu + lợi nhuận + chi phí bán hàng = giá xuất xưởng (Ex Works Price). 4. Giá xuất xưởng + chi phí vận tải nội địa + các chi phí lưu kho, lưu bãi cầu cảng, bốc xếp = giá FOB 5. Giá FOB + chi phí vận tải = giá CFR 6. Giá CFR + phí bảo hiểm = giá CIF Ngoài ra còn cần phải cộng thêm chi phí khác như : phí ngân hàng, phí ký quỹ (phí bảo đảm); ngoại hối kỳ hạn (cost of forward exchange cover); các phí EFIC v.v... 1.2.4.Giao dịch và đàm phán, tiến tới kí kết hợp đồng xuất khẩu Để tiến tới ký kết hợp đồng mua bán với nhau, người xuất khẩu và người nhập thường phải qua một quá trình giao dịch, thương thảo về các điều kiện giao dịch. Quá trình đó gồm các bước chính sau: - Hỏi hàng (hỏi giá): Là việc người mua gửi tới một hay một nhóm người cung cấp về những hàng hoá mình quan tâm hoặc có nhu cầu. - Chào hàng: Là việc người bán gửi tới một (chào hàng cố định) hoặc một nhóm (chào hàng tự do) người mua những thông tin về hàng hoá của mình nhằm giới thiệu và thu hút người mua quan tâm tới hàng hoá của doanh nghiệp mình. Đơn chào hàng cần rõ ràng và hấp dẫn, không chỉ thể hiện ở giá thấp hay sự giảm giá, mà có thể ở cả dịch vụ cung cấp cho người mua, phẩm chất hàng tốt, điều kiện thanh toán có lợi cho người mua. - Đặt hàng: là đề nghị chắc chắn về việc ký kết hợp đồng, xuất phát từ người mua. Khi đặt hàng, cần xác định chính xác tên hàng, phẩm chất, quy cách, số lượng hàng cần đặt mua… 1.2.5.Thực hiện hợp đồng xuất khẩu Sau khi hợp đồng mua bán hàng hóa ngoại thương đã được ký kết, các bên tham gia ký kết phải tổ chức thực hiện hợp đồng đó. Đây là công việc rất phức tạp vì nó đòi hỏi phải tuân thủ luật quốc gia và quốc tế, đồng thời bảo đảm được quyền lợi quốc gia và đảm bảo uy tín kinh doanh của doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Về mặt kinh doanh, trong quá trình thực hiện các khâu công việc để thực hiện hợp đồng, doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu phải cố gắng tiết kiệm chi phí lưu thông, nâng cao tính doanh lợi và hiệu quả của toàn bộ nghiệp vụ giao dịch. Để thực hiện một hợp đồng xuất khẩu, doanh nghiệp phải tiến hành các khâu công việc sau đây: Giục mở L/C và kiểm tra L/C (nếu hợp đồng quy định sử dụng phương thức tín dụng chứng từ), xin giấy phép xuất khẩu, chuẩn bị hàng hóa, thuê tàu hoặc lưu cước, kiểm nghiệm và kiểm dịch hàng hoá, làm thủ tục hải quan, gian hàng lên tàu, mua bảo hiểm, làm thủ tục thanh toàn và giải quyết khiếu nại (nếu có). 1.3.Hiệu quả hoạt động xuất khẩu hàng hoá ở Doanh nghiệp 1.3.1.Quan niệm về hiệu quả xuất khẩu hàng hoá ở DN 1.3.1.1.Phạm trù hiệu quả kinh tế trong doanh nghiệp. Ngày nay, người ta thường sử dụng rất nhiều đến thuật ngữ “hiệu quả” khi đánh giá khả năng làm việc của một hoặc một nhóm người, đánh giá tình hình thực hiện của một công việc hay đánh giá hoạt động của một ngành, một lĩnh vực…Vậy “hiệu quả” là gì? Căn cứ vào đâu để đánh giá một người, một doanh nghiệp, một ngành…hoạt động có hiệu quả hay không? Thực tế, phạm trù “hiệu quả” đã xuất hiện từ xã hội chiếm hữu nô lệ, nhưng cho đến nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả, xuất phát từ hình thái xã hội, hoàn cảnh lịch sử và góc độ nghiên cứu khác nhau. Theo quan điểm của nhà kinh tế học người Anh, Adam Smith thì “hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá”. Cách hiểu này đã đồng nhất hiệu quả với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, do đó sẽ không giải thích được sự gia tăng doanh thu của doanh nghiệp là do tăng chi phí, mở rộng các nguồn lực sản xuất hay do tăng năng suất lao động…Và như vậy, nếu hai hoạt động có cùng một mức kết quả nhưng có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này, chúng vẫn có cùng hiệu quả. Quan điểm thứ hai cho rằng “hiệu quả là quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí”. Quan điểm này mặc dù biểu hiện được mối quan hệ giữa kết quả bổ sung và chi phí bổ sung, nhưng trong thực tế, các sự vật và hiện tượng đều có mối quan hệ ràng buộc hữu cơ, tác động qua lại chứ không tồn tại một cách độc lập riêng rẽ. Vì vậy, trong kinh doanh, các yếu tố tăng thêm có quan hệ mật thiết với các yếu tố sẵn có, nên khi đánh giá hiệu quả không thể chỉ xem xét phần tăng thêm của kết quả và chi phí. Quan điểm thứ ba lại cho rằng hiệu quả là trình độ sử dụng các yếu tố cần thiết tham gia vào hoạt động nhằm đạt mục tiêu nhất định, “hiệu quả được đo bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó”. Quan điểm này đã phản ánh được mối quan hệ bản chất hiệu quả kinh tế , gắn kết quả với chi phí, coi hiệu quả kinh doanh là trình độ sử dụng các chi phí. Tuy nhiên, nó vẫn chưa biểu hiện một cách toàn diện mối tương quan về lượng và chất giữa kết quả với chi phí và chưa phản ánh mức độ chặt chẽ của mối liên hệ này. Vì để tạo ra kết quả của một hoạt động, một quá trình nào đó không chỉ có chi phí mà còn cả các nguồn được huy động hay được sử dụng. Trong khi đó, để phản ánh được tình hình sử dụng các nguồn lực, chúng ta phải cố định một trong hai yếu tố là kết quả đạt được hoặc chi phí bỏ ra. Nhưng theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, các yếu tố này không ở trạng thái tĩnh mà luôn vận động và biến đổi. Một quan điểm nữa cho rằng “hiệu quả là mối tương quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hoá và dịch vụ”. Như vậy, có thể thấy, mặc dù “hiệu quả” là một phạm trù quen thuộc trong bất kỳ hoạt động nào của con người, của một tổ chức, của toàn xã hội, nhưng ở mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi giác độ nghiên cứu lại có những quan điểm khác nhau về hiệu quả. Trong nền kinh tế Xã hội chủ nghĩa, để làm sáng tỏ bản chất của khái niệm hiệu quả, chúng ta cần phải xuất phát từ những luận điểm của triết học Mác - Lênin. Có nghĩa là, phải xem xét tới tính biện chứng của các yếu tố kết quả đạt được và các chi phí nguồn lực bỏ ra, sau đó là mức độ phản ánh mối liên hệ giữa các hiện tượng. Theo nghĩa tổng quát, hiệu quả của một hoạt động, một quá trình nào đó được hiểu là mối quan hệ so sánh giữa kết quả - gắn với mục đích - và chi phí - gắn với nguồn lực được sử dụng. Như vậy, phạm trù hiệu quả phán ánh mối liên hệ tương hỗ giữa mục đích, kết quả, chí phí và nguồn lực trong hoạt động hay quá trình được nghiên cứu. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường với mức độ cạnh tranh gay gắt như ngày nay, việc thực hiện tốt chế độ hạch toán kinh tế, bảo đảm lấy thu bù chi và có lãi trong hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá và dịch vụ là cơ sở để các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp tồn tại và phát triển khi tham gia các hoạt động kinh tế trong môi trường kinh tế quốc dân nói riêng, môi trường kinh tế quốc tế nói chung. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải hoạt động có hiệu quả và luôn đặt hiệu quả làm mối quan tâm hàng đầu. Đối với một doanh nghiệp, khi đánh giá hiệu quả, người ta thường xét đến hiệu quả xuất khẩu và hiệu quả kinh tế. Hiệu quả xã hội là những lợi ích mà doanh nghiệp tạo ra, đem lại cho xã hội trong hoạt động kinh doanh của mình. Những khía cạnh thường thấy khi đánh giá hiệu quả xã hội của doanh nghiệp là vấn đề giải quyết công ăn việc làm trong phạm vi toàn xã hội hoặc trong từng khu vực kinh tế, giảm số người thất nghiệp, nâng cao mức sống cho nhân dân, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân, vấn đề bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khoẻ người dân… Hiệu quả kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực xã hội trong lĩnh vực thương mại thông qua những chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật được xác định bằng tỷ lệ so sánh giữa các đại lượng phán ánh kết quả đạt được về kinh tế với các đại lượng phản ánh chi phí đã bỏ ra hoặc nguồn vật lực đã được huy động vào trong lĩnh vực kinh doanh. Hiệu quả kinh tế được xác định thông qua việc so sánh giữa các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Về giá trị tuyệt đối: Về giá trị tương đối: 1.3.1.2.Hiệu quả kinh tế ngoại thương Hiệu quả hoạt động ngoại thương của một đất nước là hiệu quả kinh tế - xã hội thông qua hoạt động xuất nhập khẩu, là quan hệ so sánh giữa kết quả (về hai mặt giá trị và giá trị sử dụng) theo mục đích với nguồn lực để thực hiện các hoạt động lưu thông đối ngoại về hàng hoá và dịch vụ. Như vậy, hiệu quả hoạt động ngoại thương là toàn bộ lợi ích mà ngoại thương mang lại cho đất nước, bao gồm lợi ích xã hội và lợi ích kinh tế. Lợi ích về xã hội của ngoại thương đối với nền kinh tế quốc dân được xác định thông qua sự đóng góp vào công cuộc xây dựng và cải tạo cơ cấu, cân đối nền kinh tế quốc dân, phát triển kinh tế, nâng cao năng suất lao động xã hội, giảm giá thành sản xuất kinh doanh, tăng tổng sẩn phẩm quốc nội. Lợi ích kinh tế của hoạt động ngoại thương là hiệu quả hoạt động ngoại thương xét về nội dung kinh tế, là phần lợi ích tài chính thu được trong hoạt động xuất nhập khẩu của mỗi nước thông qua việc đối sánh trực tiếp chí phí với kết quả. 1.3.1.3.Hiệu quả kinh doanh xuất khẩu Hiệu quả kinh doanh xuất khẩu được hiểu là phần hiệu quả kinh tế ngoại thương thông qua xuất khẩu, là phần lợi ích tài chính thu được trong xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ của mỗi nước (hoặc mỗi doanh nghiệp xuất nhập khẩu) thông qua việc so sánh trực tiếp kết quả với chi phí. Trong đó, kết quả kinh doanh xuất khẩu là tổng doanh thu hàng hoá, tổng lợi nhuận, tổng giá trị tài sản gia tăng sau một thương vụ xuất khẩu hoặc một khoảng thời gian nhất định như tháng, quý, năm; chi phí kinh doanh là toàn bộ chi phí để có được hàng hoá xuất khẩu, bao gồm giá mua vào sản phẩm, các chi phí cần thiết khác như chi phí phí hoàn thiện sản phẩm, chi phí hành chính khác…Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng, đặc điểm của đồng tiền thanh toán trong xuất nhập khẩu là ngoại tệ, chứ không phải là đồng tiền bản tệ, do đó để tính đúng được hiệu quả kinh tế ta cần phải quy đổi về cùng một đơn vị tiền tệ, lấy tỷ giá hối đoái tại thời điểm thực hiện hợp đồng và tỷ giá hối đoái khi tính hiệu quả, nếu có chênh lệch phải cộng (trừ) vào kết quả hoạt động kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp. Để đánh giá được hiệu quả kinh doanh xuất khẩu, cần phải xem xét một cách toàn diện cả về thời gian và không gian trong mối quan hệ với hiệu quả chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân., nhất là trong giai đoạn hiện này. Với đường lối chính sách mở cửa của nước ta, để tạo đà cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, hoạt động xuất khẩu có ý nghĩa hết sức quan trọng để thực hiện những nhiệm vụ, chủ trương mà Đảng đã để ra. Về mặt thời gian, hiệu quả mà doanh nghiệp đạt được trong từng giai đoạn, thời kỳ không được làm giảm sút hiệu quả của các giai đoạn, thời kỳ tiếp theo. Tức là doanh nghiệp phải quan tâm đến lợi ích lâu dài, không vì lợi ích trước mắt mà làm tổn hại đến lợi ích lâu dài. Không thể coi việc giảm chi phí tăng doanh thu là có hiệu quả được khi giảm một cách tuỳ tiện, thiếu cân nhắc như: giảm chi phí đào tạo nhân lực, sử dụng đầu vào chất lượng thấp làm gây hại đến môi trường, đến sức khoẻ người lao động và cộng đồng… Về mặt không gian, hiệu quả kinh doanh xuất khẩu được coi là có hiệu quả khi nó không làm ảnh hưởng đến các hoạt động kinh doanh khác trong nội bộ ngành và trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Hiệu quả củahd xuất khẩu phải phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Tóm lại, đứng trên góc độ nền kinh tế quốc dân, hiệu quả mà doanh nghiệp đạt được phải gắn chặt với hiệu quả của toàn xã hội. Đạt được hiệu quả cao là chưa đủ mà còn phải mang lại hiệu quả cho xã hội cả về hai mặt kinh tế và xã hội. Đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích nhận thức đúng đắn về trình độ, năng lượng và chất lượng kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó tìm ra những tồn tại, những nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh để đề ra phương hướng, biện pháp khắc phục và giúp doanh nghiệp đưa ra được những phương án kinh doanh hiệu quả nhất. 1.3.2.Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả xuất khẩu hàng hoá ở DN Khi xét đến hiệu quả xuất khẩu là xét đến mối tương quan giữa kết quả xuất khẩu và chi phí xuất khẩu, tỷ lệ này càng lớn thì hiệu quả xuất khẩu càng cao, tỷ lệ này nhỏ hơn 1, rõ ràng xuất khẩu không có hiệu quả vì kết quả không đủ bù đắp chi phí. Do đó, trong hoạt động xuất khẩu, vấn đề không phải chỉ là chũng ta xuất khẩu được bao nhiêu tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng là bao nhiêu, mà còn phải tính đến những chi phí đã bỏ ra để có được kết quả xuất khẩu như vậy. Để nâng cao hiệu quả xuất khẩu, một mặt chúng ta phải tìm cách nâng cao kết quả xuất khẩu, nhưng mặt khác quan trọng hơn là phải giảm được chi phí xuất khẩu một cách hợp lý. Kết quả xuất khẩu có thể không tăng nhưng việc làm giảm chi phí xuất khẩu sẽ làm tăng hiệu quả xuất khẩu. Vì vậy việc nâng cao hiệu xuất khẩu có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty mà còn có ý nghĩa đối với toàn xã hội. 1.3.2.1. Nâng cao hiệu quả xuất khẩu góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh nói chung và là cơ sở đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp . Xuất khẩu là một trong những hoạt động kinh doanh quan trọng của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, do đó việc nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh chung của doanh nghiệ._.p. Đồng thời, nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu sẽ giúp doanh nghiệp gia tăng lợi nhuận, có thể bù đắp cho các hoạt động khác làm ăn kém, nhờ đó doanh nghiệp có thể duy trì hoạt động kinh doanh của mình. Bên cạnh đó, nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ, phát triển cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm giá thành, phát triển thị trường… từ đó, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, củng cố thêm sức mạnh và uy tín cho doanh nghiệp trên thị trường. 1.3.2.2. Nâng cao hiệu quả xuất khẩu là nhân tố góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế cùng với cơ chế kinh tế thị trường đang diễn ra như hiện nay làm cho yếu tố cạnh tranh càng trở nên gay gắt. Cạnh tranh diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi, mọi lĩnh vực, mọi hoạt động. Nó có thể làm cho doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ hơn hoặc cũng có thể làm cho doanh nghiệp bị phá sản một cách nhanh chóng. Đối với hoạt động xuất khẩu, mức độ cạnh tranh khốc liệt hơn bất kỳ hoạt động kinh doanh nào khác. Doanh nghiệp xuất khẩu không phải chỉ cạnh tranh với các doanh nghiệp kinh doanh cùng ngành, cùng lĩnh vực, cùng mặt hàng trong cùng một quốc gia mà còn phải cạnh tranh với các doanh nghiệp ở các quốc gia xuất khẩu khác và các doanh nghiệp bản địa tại thị trường xuất khẩu. Do đó, để có thể tồn tại và chiến thắng trong cạnh tranh, doanh nghiệp phải thực hiện tốt tất cả các khâu trong quá trình xuất khẩu hàng hoá, như: thu thập và xử lý thông tin nhanh chóng, chính xác giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian và chi phí, từ đó đưa ra các quyết định kinh doanh đúng đắn; công tác hậu cần đầu vào phải đảm bảo chất lượng nguyên vật liệu với chi phí tiết kiệm, hạn chế tối đa những tổn thất trong quá trình thu gom, vận chuyển và lưu kho…; phải làm tốt công tác quản lý, phát huy tối đa năng lực của người lao động…Nhờ đó, hạ giá thành sản phẩm, gia tăng lợi nhuận và tăng cường khả năng cạnh tranh của mình. 1.3.2.3. Nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu hàng hoá ở doanh nghiệp góp phần phát triển nền kinh tế đất nước và gia tăng lợi ích xã hội. Hiệu quả kinh doanh xuất khẩu được cải thiện và nâng cao sẽ làm gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, nhờ đó làm tăng thu nhập cho người lao động. Người lao động có động lực và điều kiện để làm việc tốt hơn, được đào tạo để nâng cao chuyên môn nghiệp vụ và đời sống của họ nhờ đó cũng được cải thiện và nâng cao. Bên cạnh đó, phần lợi nhuận gia tăng từ việc nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu sẽ góp phần tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư tái sản xuất mở rộng, tăng quy mô hoạt động xuất khẩu. Nhờ vậy, tạo ra công ăn việc làm cho người lao động, góp phần nâng cao mức sống xã hội, giảm tỷ lệ thất nghiệp, đói nghèo và tệ nạn xã hội. Đối với nền kinh tế nói chung, việc nâng cao hiệu quả xuất khẩu không chỉ làm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, mang lại nguồn ngoại tệ lớn hơn để đầu tư phát triển, mà còn góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá. 1.3.3.Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xuất khẩu hàng hoá ở DN 1.3.3.1 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xuất khẩu tổng hợp a) Chỉ tiêu tuyệt đối Hiệu quả = Doanh thu xuất khẩu - Chi phí xuất khẩu Chỉ tiêu này thực tế phản ánh lợi nhuận từ hoạt động xuất khẩu mà công ty đạt được trong một thời kỳ nhất định. b) Chỉ tiêu tương đối * Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả theo doanh thu Doanh thu xuất khẩu Chi phí xuất khẩu HXK = Chỉ tiêu này phản ánh một đồng chi phí xuất khẩu mang lại bao nhiêu đồng doanh thu từ hoạt động xuất khẩu. Chỉ tiêu này càng lớn, nghĩa là trình độ sử dụng các nguồn lực tham gia vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh càng tốt và ngược lại, chỉ tiêu này càng nhỏ thì trình độ sử dụng các yếu tố chi phí càng kém hiệu quả. * Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu Lợi nhuận xuất khẩu Doanh thu xuất khẩu H1 = Chỉ tiêu này phản ánh một đồng doanh thu xuất khẩu mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận xuất khẩu. * Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận theo chi phí Lợi nhuận xuất khẩu Chi phí xuất khẩu H2 = Chỉ tiêu này cho phép doanh nghiệp xác định được một đồng chi phí mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận, cho phép đánh giá sâu hơn hiệu quả hoạt động xuất khẩu vì lợi nhuận mới là cái doanh nghiệp được giữ lại, là nguồn để trả lương cho nhân viên, đầu tư cải tiến máy móc thiết bị, cơ sở hạ tầng và lập nên các quỹ cho doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả kinh tế càng cao. * Tỷ suất ngoại tệ xuất khẩu Chi phí xuất khẩu ( nội tệ ) Doanh thu xuất khẩu( ngoại tệ ) H2 = Chỉ tiêu này cho biết phải chi ra bao nhiêu đồng nội tệ để có một đồng ngoại tệ. Nếu tỷ số này nhỏ hơn tỷ giá hối đoái thì xuất khẩu không có hiệu quả. 1.3.3.2 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xuất khẩu bộ phận a) Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn * Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động Doanh thu xuất khẩu Sức sản xuất của vốn lưu động Vốn lưu động = Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lưu động tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu xuất khẩu. Lợi nhuận xuất khẩu Vốn lưu động Sức sinh lời của vốn lưu động = Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lưu động đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận xuất khẩu. Vốn lưu động Giá trị sản xuất công nghiệp Suất hao phí vốn lưu động = = Chỉ tiêu này phản ánh bao nhiêu đồng vốn lưu động thì tạo ra một đơn vị hàng hoá xuất khẩu. * Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định Doanh thu xuất khẩu Sức sản xuất của vốn cố động Vốn cố định = Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn cố định tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu xuất khẩu. Lợi nhuận xuất khẩu Sức sinh lời của vốn cố định Vốn cố định = Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn cố định đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận xuất khẩu. Vốn cố định = Suất hao phí vốn cố định Giá trị sản xuất công nghiệp = Chỉ tiêu này phản ánh bao nhiêu đồng vốn cố định thì tạo ra một đơn vị hàng hoá xuất khẩu. b) Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng lao động trong hoạt động xuất khẩu. * Năng suất lao động Q = W T Trong đó: W: Là năng suất lao động Q: Là số lượng hoặc giá trị hàng hoá được sản xuất ra trong kỳ. T: Là số lượng lao động làm ra hàng hoá trong thời kỳ đó. Chỉ tiêu này phản ánh số lượng hoặc giá trị hàng hoá mà một người lao động làm ra trong một thời kỳ nhất định. T * Suất hao phí lao động W Q = Công thức tính suất hao phí lao động thực chất là nghịch đảo của công thức năng suất lao động. Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đơn vị sản phẩm (hoặc một đơn vị giá trị sản phẩm) cần bao nhiêu lao động. * Hiệu suất sử dụng tiền lương Lợi nhuận xuất khẩu Hiệu suất sử dụng tiền lưong Tiền lương = Chỉ tiêu này cho biết một đợn vị tiền lương của công nhân tương ứng với bao nhiêu đồng lợi nhuận xuất khẩu. 1.4.Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả xuất khẩu hàng hoá ở doanh nghiệp Kinh doanh là các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi của các chủ thể kinh doanh trên thị trường. Nghĩa là các doanh nghiệp luôn luôn phải phụ thuộc vào thị trường và hoạt động theo quy luật của thị trường. Do đó, sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố chủ quan cũng như khách quan bên ngoài doanh nghiệp. 1.4.1.Nhân tố bên ngoài doanh nghiệp 1.4.1.1.Nhân tố chính trị - luật pháp Các công ty, doanh nghiệp một khi đã mở rộng hoạt động ra khỏi phạm vi biên giới một quốc gia, thì không những phải tuân thủ luật pháp nước mình, mà còn phải thích nghi với những thể chế chính trị và hệ thống pháp luật mới. Môi trường chính trị mới có thể mở ra và đưa đến cho doanh nghiệp các cơ hội thương mại nếu doanh nghiệp am hiểu và có chính sách thích nghi hợp lý với nó và ngược lại, có thể tạo ra những rào cản, khó khăn khi doanh nghiệp không thích nghi được với sự thay đổi về thể chế chính trị đó. Ngoài ra, sự ổn định của môi trường chính trị cũng là một trong những điều kiện tiền đề quan trọng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là hoạt động xuất khẩu. Xuất khẩu hàng hoá sang một quốc gia có tình hình chính trị bất ổn thì doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro, như: rủi ro từ sự biến đổi đột ngột về nhu cầu khách hàng, rủi ro trong vận chuyển hàng hoá, hay các rủi ro về chính trị…Những rủi ro này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kế hoạch xuất khẩu, đến việc triển khai hoạt động xuất khẩu, đến lợi nhuận xuất khẩu của doanh nghiệp. Bên cạnh những tác động của môi trường chính trị, hệ thống luật pháp của quốc tế và của từng quốc gia cũng có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình và kết quả xuất khẩu của doanh nghiệp. Nói cách khác, luật sẽ quy định và cho phép doanh nghiệp được xuất khẩu những mặt hàng nào, trong những lĩnh vực nào, với những phương thức nào; đồng thời cũng quy định những mặt hàng, những lĩnh vực, những phương thức doanh nghiệp không được phép tiến hành khi xuất khẩu hoặc được phép nhưng phải có điều kiện nhát định. Vì vậy, chỉ trên cơ sở tìm hiểu rõ thể chế chính trị và nắm chắc hệ thống luật pháp của từng quốc gia cũng như khu vực, mới cho phép doanh nghiệp đưa ra được những phương án xuất khẩu đúng đắn, nhằm giảm thiểu thách thức, hạn chế rủi ro, tối đa hoá lợi nhuận và hiệu quả xuất khẩu. 1.4.1.2.Nhân tố văn hoá - xã hội Nhân tố văn hoá - xã hội có ảnh hưởng lớn đén hoạt động kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp. Nó góp phần hình thành nên thị trường tiêu thụ của doanh nghiệp với những đặc trưng riêng: Đặc trưng đầu tiên là nền văn hoá. Doanh nghiệp xuất khẩu luôn hướgn tới nhiều thị trường ở nhiều quốc gia khác nhau. Vì vậy, việc hiểu được môi trường văn hoá khác nhau giữa các quốc gia và ảnh hưởng của môi trường này đến hiệu quả xuất khẩu của doanh nghiệp là rất cần thiết. Văn hóa là một tổng thể phức tạp, bao gồm ngôn ngữ, tôn giáo, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục…quy định hành vi của mỗi con người, mối quan hệ giữa người với người trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Do đó, nó ảnh hưởng đến tất cả các quyết định của doanh nghiệp, đặc biệt là các quyết định về quản lý nguồn nhân lực và quyết định về marketing, dẫn đến ảnh hưởng tới hiệu quả xuất khẩu của doanh nghiệp. Đặc trưng thứ hai là đặc trưng về dân số. Nói tới dân số, người ta thường nhắc đến các yếu tố như quy mô dân số, xu hướng vận động của dân số, phân bố dân cư... Quy mô dân số sẽ quyết định quy mô và tính đa dạng của thị trường: dân số càng lớn thì quy mô thị trường càng lớn, nhu cầu và khối lượng tiêu thụ một nhóm sản phẩm cầng lớn, nhờ đó khả năng đảm bảo doanh số tiêu thụ, doanh thu xuất khẩu của doanh nghiệp càng cao. Mật độ phân bố dân cư phản ánh mức độ phân bố của nhu cầu thị trường về một hay một dòng sản phẩm. Xu hướng vận động của dân số lại ảnh hưởng tới sự vận động của dung lượng thị trường và tính đa dạng của thị trường trong tương lai, dẫn đến việc có thể hình thành những cơ hội mới cho doanh nghiệp xuất khẩu và suy tàn những cơ hội hiện tại của doanh nghiệp. Đặc trưng tiếp theo là đặc trưng về thu nhập và phân bố thu nhập của dân cư. Trong điều kiện nguồn lực có hạn, khách hàng sẽ phân bổ thu nhập để trang trải cho những nhu cầu của mình theo tỷ lệ và mức độ ưu tiên khác nhau. Điều này sẽ ảnh hưởng đến sự lựa chọn loại sản phẩm, hình thành nên khái niệm chất lượng theo cách đánh giá của từng nhóm khách hàng. Vì vậy, muốn hoạt động xuất khẩu đạt hiệu quả, doanh nghiệp phải quan tâm và nắm bắt được yếu tố này trong quyết định về sản phẩm, về chất lượng sản phẩm, về giá bán của doanh nghiệp mình trên những thị trường cụ thể. 1.4.1.3.Nhân tố cạnh tranh Quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới cùng với sự phát triển bùng nổ của khoa học và công nghệ, một mặt làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, mặt khác làm cho quá trình cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt và khốc liệt hơn. Trong điều kiện như vậy, đòi hỏi các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế nói chung, các doanh nghiệp xuất khẩu nói riêng phải nhanh nhạy trong việc nắm bắt thị trường, tìm kiếm những cơ hội kinh doanh ở nước ngoài và phải có những chính sách linh hoạt để thích nghi và vươn lên trong cạnh tranh. Theo mô hình cạnh tranh của M.Porter, môi trường cạnh tranh vi mô của doanh nghiệp gồm 5 yếu tố cơ bản chi phối hoạt động của doanh nghiệp, đó là: đối thủ cạnh tranh hiện tại, khách hàng, nhà cung cấp, các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng và sản phẩm thay thế. Việc phân tích các yếu tố này là hết sức cần thiết đối với sự sống còn và phát triển của doanh nghiệp, đặc biệt đối với doanh nghiệp xuất khẩu bởi phạm vi hoạt động của doanh nghiệp không còn bó hẹp trong thị trường nội địa, và thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp không chỉ có một thị trường duy nhất. 1.4.1.4.Chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái là giá của một đơn vị tiền tệ nước này thể hiện bằng số lượng đơn vị tiền tệ nước kia. Thực chất, đó là sự so sánh tương quan giá trị giữa hai đồng tiền của hai quốc gia. Tỷ giá có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá vì nó tác động đến giá cả tương đối của hàng hoá trong nước và háng nước ngoài. Qua đó, nó ảnh hưởng đến lợi nhuận xuất nhập khẩu hàng hoá và khả năng cạnh tranh của hàng hoá giữa các nước với nhau trên thị trường quốc tế. Một sự tăng giá của đồng tiền có thể làm cho các doanh nghiệp gặp khó khăn khi xuất khẩu hàng hoá ra nước ngoài. Ngược lại, sự giảm giá của đồng tiền có thể làm cho doanh nghiệp có ưu thế cạnh tranh trong việc xuất khẩu và bán hàng hoá của mình ở nước ngoài, đồng thời hạn chế nhập khẩu vào nước mình. 1.4.2.Nhân tố bên trong doanh nghiệp 1.4.2.1.Tiềm lực tài chính Tiềm lực tài chính là một yếu tố tổng hợp phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông qua khối lượng vốn mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh, khả năng phân phối và quản lý có hiệu quả các nguồn vốn. Tiềm lực tài chính có ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp, quyết định quy mô doanh nghiệp và quy mô cơ hội có thể khai thác, tham gia vào việc hình thành và khai thác cơ hội của doanh nghiệp. Có tiềm lực tài chính mạnh, doanh nghiệp mới có thể tạo ra niềm tin với đối tác, nhất là đối tác nước ngoài, có điều kiện để nghiên cứu thị trường nước ngoài và nắm bắt được cơ hội kinh doanh ở thị trường ngoài nước. Một số chỉ tiêu thường dùng để đánh giá tiềm lực tài chính của doanh nghiệp là vốn chủ sở hữu, vốn vay, khả năng thanh toán nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, khả năng quay vòng vốn… 1.4.2.1. Nhân tố con người Trong kinh doanh, con người là nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh và chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp bởi chính con người mới có thể kết hợp các yếu tố vốn, tài sản, kỹ thuật, công nghệ… trong quá trình sản xuất kinh doanh để tạo ra kết quả cuối cùng cho doanh nghiệp. Người cán bộ, công nhân kỹ thuật phải có trình độ khoa học kỹ thuật, nắm chắc chuyên môn, nghề nghiệp. Thực tế cho thấy, dù có vốn lớn, máy móc thiết bị hiện đại mà người lao động không có trình độ, tay nghề thì sẽ không phát huy được tác dụng của máy móc, công nghệ. Do đó, hoạt động sản xuất kinh doanh của chắc chắn sẽ không đạt hiệu quả cao. Ngược lại, người công nhân có trình độ kỹ thuật, nắm chắc chuyên môn, không những khai thác được tối đa tác dụng của máy móc, công nghệ, mà còn có thể đưa ra những sáng kiến nhằm đổi mới quá trình làm việc giúp cho hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được nâng lên đáng kể. Bên cạnh đó, người lãnh đạo cũng giữ vai trò hàng đầu trong một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nói chung, doanh nghiệp xuất nhập khẩu nói riêng. Một nhà lãnh đạo giỏi, có tầm nhìn chiến lược, đề ra những định hướng đúng đắn cho doanh nghiệp phát triển; có những mối quan hệ tốt trong và ngoài phạm vi doanh nghiệp cũng như phạm vi quốc gia; tạo ra cho nhân viên môi trường làm việc cởi mở, chuyên nghiệp; và biết phát huy khả năng của nhân viên là một trong những yếu tố quyết định tới chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp, qua đó trực tiếp ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu của doanh nghiệp. 1.4.2.2.Nhân tố công nghệ Trình độ tiên tiến của hệ thống máy móc, nhà xưởng, thiết bị, dây chuyền sản xuất trong doanh nghiệp tác động trực tiếp đến năng suất chất lượng sản phẩm cũng như các chỉ tiêu về giá thành, chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp. Đặc biệt trong thời đại ngày nay, theo xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, việc giảm giá thành và chi phí sản xuất để tối đa hoá lợi nhuận là mục tiêu sống còn của các doanh nghiệp trong môi trường kinh doanh quốc tế. Một doanh nghiệp được đầu tư đúng đắn về nhà xưởng, máy móc với công nghệ và dây chuyền tiên tiến chắc chắn sẽ thu được những sản phẩm đạt chất lượng cao. Vì thế, để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, lựa chọn được những cơ hội kinh doanh tốt trên thị trường, đặc biệt là thị trường quốc tế, doanh nghiệp nên quan tâm đến việc đầu tư đổi mới công nghệ, tiếp thu công nghệ tiên tiến và trình độ khoa học kỹ thuật cao của dây chuyền sản xuất trong Doanh nghiệp. 1.4.2.3.Trình độ quản trị doanh nghiệp. Đây là một trong những nhân tố có vai trò quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp. Quản trị doanh nghiệp chú trọng đến việc sác định cho doanh nghiệp một hướng đi đúng, một chiến lược hành động để phát triển doanh nghiệp. Quá trình quản trị hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp xuất nhập khẩu nói riêng gồm các khâu cơ bản như: định hướng chiến lược cơ bản phát triển doanh nghiệp, chiến lược kinh doanh, xây dựng kế hoạch - phương án kinh doanh, tổ chức thực hiện các hoạt động kinh doanh, đán giá kiểm tra và điều chỉnh các hoạt động kinh doanh. Nếu thực hiện tốt các khâu cơ bản của quá trình này sẽ tạo điều kiện làm tăng sản lương, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm, dịch vụ, giảm chi phí quản lý, chiếm được lợi thế trong cạnh tranh, tăng thị phần, ngăn ngừa thất bại trong kinh doanh và quan trọng là tăng lợi nhuận. Việc này càng có ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu khi tham gia thị trường quốc tế với mức độ cạnh tranh gay gắt. 1.4.2.4.Chất lượng hàng hoá Chất lượng hàng hóa là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả và hiệu quả hoạt động kinh doanh nói chung, hoạt động xuất khẩu nói riêng. Hàng hoá có chất lượng tốt không chỉ thu hút được khách hàng, tạo dựng uy tín cho doanh nghiệp, làm tăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ mà còn tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thêm ưu thế trong việc định giá sản phẩm ở mức cao hơn mà không làm ảnh hưởng đến doanh số bán của doanh nghiệp. Ngược lại, hàng hoá kém chất lượng hoặc không đáp ứng được yêu cầu của khách hàng sẽ làm cho hoạt động tiêu thụ bị chậm lại, uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng bị giảm sút, dẫn đến hoạt động kinh doanh không đạt hiệu quả mong muốn. Điều mà mỗi doanh nghiệp cần lưu ý là, chất lượng sản phẩm phải được đánh giá dựa trên quan điểm của khách hàng chứ không phải là chất lượng do doanh nghiệp tự đánh giá. Chất lượng đó thể hiện ở sự thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng. 1.4.3.Sản phẩm than và những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả xuất khẩu than Từ lâu, Than đã trở thành một nguồn nhiên liệu quan trọng trong quá trình sản xuất cũng như trong đời sống con người. Trong sản xuất, than là nguồn nhiêu liệu chính của nhiều ngành công nghiệp, như công nghiệp gang thép, công nghiệp luyện kim, công nghiệp hoá dầu, công nghiệp điện… làm nguyên liệu luyện cốc, sản xuất than nhiệt luyện, điện cực… Đó là một loại khoáng sản rắn, có nguồn gốc trầm tích, được hình thành trong quá trình than hoá (carbon hoá) các tàn dư thực vật, có thành phần là các chất hữu cơ, các chất khoáng và độ ẩm; thời gian phân hủy càng dài, than càng già và hàm lượng cacbon trong than càng cao. Than được phân chia làm nhiều loại và theo nhiều phương pháp, dựa trên các đặc điểm về thành phần thạch học, tính chất vật lý, đặc tính hoá học và công nghệ… Tuy nhiên, có những loại than dưới đây thường được đề cập và sử dụng phổ biến là: - Than nâu bao gồm lignit và á bitum, là than biến chất thấp có thành phần acid và màu nâu, được tạo thành chủ yếu từ vật chất mùn và bitum. - Than đá còn được gọi là than bitum là than biến chất trung bình, đặc trưng bởi sự carbon hoá đến mức trong chúng không còn vật chất acid, thường có khả năng thiêu kết. Than đá là nguồn nhiên liệu sản xuất điện năng lớn nhất thế giới. - Antraxit bao gồm siêu antraxit, antraxit và bán antraxit, là loại than biến chất cao, có màu đen, đen xám, ánh kim loại phớt vàng. - Than bùn loại than có độ tro cao, nhiệt lượng thấp, ở một số khu vực có thể khai thác làm nhiên liệu, còn lại chủ yếu sẽ được sử dụng làm phân bón phục vụ nông nghiệp Việt Nam là nước có tiềm năng về trữ lượng than rất lớn và công nghiệp than là một ngành kinh tế quan trọng, đặc thù, và chiếm tỷ trọng xấp xỉ 30% trong bảng cân bằng năng lượng quốc gia. Than được khai thác ở Việt Nam hiện nay hầu hết là Antraxit, đây là loại than hiếm, trên thế giới không có nhiều. Nó là nguyên liệu trực tiếp cho nhiều ngành kinh tế khác như Điện lực, Xi măng, Vật liệu xây dựng và phục vụ các nhu cầu dân sinh trong nước. Không những vậy, còn mang lại cho nền kinh tế một nguồn ngoại tệ lớn thông qua xuất khẩu. Xuất khẩu than có đạt hiệu quả hay không phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó có những yếu tố cơ bản sau: 1) Sản xuất và khai thác than 2) Điều kiện tài nguyên và môi trường tự nhiên Ngành công nghiệp than phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố thuộc về môi trường tự nhiên. Với hai phương pháp khai thác than, khai thác lộ thiên và khai thác hầm lò, bất kỳ một sự biến động nào về địa chất và thời tiết đều có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả và hiệu quả hoạt động khai thác. Do đó, nó ảnh trực tiếp đến chất lượng sản phẩm than. Trong khi đó, đối với xuất khẩu than, giá bán than lại phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng và phẩm cấp than. Chất lượng có tốt, than xuất khẩu mới được định giá cao, nhờ đó, doanh nghiệp sẽ đạt được doanh thu và lợi nhuận xuất khẩu cao hơn. Bên cạnh đó, khai thác than là một ngành sản xuất trong điều kiện tài nguyên là đối tượng khai thác chính dần cạn kiệt và không tái tạo được; trong khi điều kiện khai thác ngày càng khó khăn. Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới sản lượng than khai thác nói chung, sản lượng than xuất khẩu nói riêng. 3) Công tác dự trữ, bảo quản và vận chuyển than xuất khẩu Như trên đã đề cập, chất lượng than quyết định đến giá bán than. Nếu dự trữ than với cơ cấu không hợp lý, bảo quản không tốt trong cả quá trình dự trữ lẫn vận chuyển than, sẽ dẫn tới việc làm thay đổi một số thông số kỹ thuật của than. Than khi giao lên tàu để vận chuyển so với than khi giao cho khách hàng tại điểm đến có sự chênh lệch về phẩm cấp, sẽ không đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng. Bên cạnh đó, người cung cấp còn phải mất thêm chi phí để khắc phục. Do vậy, kết quả cũng như hiệu quả của việc xuất khẩu than không được đảm bảo. 4) Chính sách quản lý của Chính phủ Ở Việt Nam, với chính sách ưu tiên tiêu thụ than trong nước của Chính phủ, giá bán than nội địa thấp hơn giá thành sản xuất và càng thấp hơn nhiều so với giá bán xuất khẩu. Và theo quy luật thị trường, xuất khẩu than càng gia tăng khi chênh lệch giữa giá bán than nội địa và giá than xuất khẩu ngày càng lớn nhằm góp bù lỗ phần sản lượng than tiêu thụ trong nước. Tuy nhiên, 5 đến 10 năm nữa, khi nhu cầu nội địa về than sẽ tăng nhanh theo sự phát triển của các ngành công nghiệp, cùng với chiến lược an ninh năng lượng quốc gia, Chính phủ sẽ hạn chế mức than xuất khẩu. Vì thế, doanh thu cũng như lợi nhuận từ hoạt động xuất khẩu than sẽ giảm. CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ XUẤT KHẨU THAN Ở TẬP ĐOÀN THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM 2.1. Tổng quan chung về Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam. Tên doanh nghiệp: TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN – KHOÁNG SẢN VIỆT NAM Tên giao dịch: VIETNAM NATIONAL COAL, MINERAL INDUSTRIES GROUP. Tên viết tắt: VINACOMIN Quyết định thành lập doanh nghiệp nhà nước số: 653/TTg ngày 10/10/1994 của Thủ tướng Chính phủ và số 345/2005/QĐ-TTg ngày 26/12/2005 của Thủ tướng chính phủ về việc Thành lập Tập Đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam. Địa chỉ trụ sở chính: Số 226 Lê Duẩn, Phường Trung Phụng, Quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội. Điện thoại: (84)04.5180141 - (84)04.8510780 - Fax: (84)04.8510724 Email: vp.tkv@vinacomin.vn Website: www.vinacomin.vn , www.vinacomin.com.vn 2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển 2.1.1.1. Sơ lược về quá trình phát triển của ngành Than Việt Nam và bối cảnh ra đời Tổng Công ty Than Việt Nam Ngành công nghiệp Than của Việt Nam đã ra đời rất sớm, từ dưới triều nhà Nguyễn (1802). Nhưng nó thực sự trở thành một ngành công nghiệp khai thác khoáng sản kể từ khi thực dân Pháp tiến hành xâm lược nước ta (1885). Đến năm 1955, Nhà nước ta tiếp quản ngành công nghiệp khai khoáng này sau khi thực dân Pháp thất bại và rút về nước. Thời kỳ trước đổi mới (1955-1987), chúng ta đã khai thác được trên 100 triệu tấn, năm cao nhất đạt 6,4 triệu tấn. Tuy nhiên, kể từ sau đó đến trước khi thành lập Tổng công ty Than Việt Nam (1988-1994), kinh tế nước ta bị khủng hoảng, nhu cầu sử dụng than giảm sút nghiêm trọng. Sản lượng hàng năm không vượt khỏi con số 6,1 triệu tấn. Đến năm 1994, ngành than có 10 công ty trực thuộc Bộ Năng Lượng (sau này là Bộ Công nghiệp, rồi Bộ Công thương), trong đó có 6 công ty trực tiếp khai thác than; trên 10 đơn vị Quân đội tham gia khai thác than và 4 đơn vị sản xuất than trực tiếp thuộc tỉnh Quảng Ninh. Chính việc cho phép các tổ chức không chuyên khai thác than một cách ồ ạt tại các lộ vỉa, thiếu sự tổ chức và quản lý thống nhất, vi phạm kỹ thuật, thuê mướn lao động không có nghề với chi phí thấp… đã đẩy các công ty than, các mỏ than chính thống vào tình thế phải thu hẹp sản xuất, giảm hệ số bóc đất để khai thác than ở các mỏ lộ thiên, giảm đào lò ở các mỏ hầm lò; phải đưa một phần thiết bị máy móc vào niêm cất; tiền lương của người lao động bị suy giảm để đảm bảo cân đối tài chính trong điều kiện phải tự trang trải. Người lao động thiếu việc làm trầm trọng, thợ bậc cao, thợ lành nghề bỏ xí nghiệp ra ngoài kiếm sống. Có thể nói rằng, thời gian những năm 1991-1994, ngành than đã rơi vào khủng hoảng trầm trọng. 2.1.1.2. Thành lập Tổng Công ty Than Việt Nam Trong bối cảnh như trên, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành hai Quyết định số 381/TTg và 382/TTg ngày 28/7/1994 yêu cầu tăng cường quản lý, lập lại trật tự trong khai thác than và kinh doanh than. Theo đó, ngành than được tổ chức lại - Tổng Công ty Than Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 563/TTg ngày 10/10/1994 trên cơ sở sắp xếp lại các doanh nghiệp trực thuộc Bộ Năng lượng, các công ty trực thuộc tỉnh Quảng Ninh, và công ty Đông Bắc trực thuộc Bộ Quốc Phòng. Và từ ngày 01/01/1995, Tổng Công ty Than Việt Nam chính thức đi vào hoạt động, trở thành một trong hai tổng công ty 91 đầu tiên. Nhiệm vụ chính mà Đảng và Chính phủ giao cho Tổng công ty Than là: Lập lại trật tự trong khai thác, kinh doanh than. Thoả mãn các nhu cầu về than của nền kinh tế, Phát triển các ngành nghề khác trên nền công nghiệp than một cách có hiệu quả để giải quyết việc làm cho người lao động. Do đó, ngay từ khi mới được thành lập, Tổng Công ty Than Việt Nam đã xác định cho mình chiến lược phát triển lâu dài theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá là: “Xây dựng Tổng Công ty Than Việt Nam thành tập đoàn kinh doanh đa ngành trên nền sản xuất than”; sử dụng và phát huy hiệu quả các nguồn lực (vốn, tài nguyên, lao động) được Chính phủ giao quản lý; Khẳng định và hoàn thiện cơ chế hoạt động với mô hình tổ chức Than Việt Nam phù hợp với chính sách phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà Nước; Đáp ứng nhu cầu về than cho các ngành kinh tế trong nước, đặc biệt là nhu cầu than cho phát triển điện và các ngành công nghiệp khác; dành một khối lượng than phù hợp để xuất khẩu tạo nguồn vốn cho đầu tư phát triển; Phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước; củng cố xây dựng đội ngũ giai cấp công nhân vững mạnh, cải thiện điều kiện làm việc và nâng cao thu nhập người lao động. 2.1.1.3. Các mốc quan trọng trong 10 năm phát triển của TVN (1994-2004) - 01/01/1995: Tổng Công ty Than Việt Nam chính thức đi vào hoạt động - 11/1996: Ngành than đón nhận Huân chương Sao Vàng do có nhiều công lao trong 50 năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. - 12/1997: Đạt 10,7 triệu tấn than thương phẩm, hoàn thành vượt mức chỉ tiêu sản lượng của năm 2000 do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đề ra cho ngành than (10 triệu tấn). - 5/1999: Điều chỉnh giảm sản xuất than do chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế khu vực. - 5/2001: Tiếp nhận Tổng Công ty Cơ khi Năng lượng và Mỏ sáp nhập vào TVN. - 4/2002: Khởi công xây dựng nhà máy điện Na Dương. - 8/2003: xuất xưởng lô xe tải KRAZ đầu tiên được lắp ráp tại Việt Nam. - 12/2003: Đạt 18,8 triệu tấn than thương phẩm, vượt mức chỉ tiêu sản lượng của năm 2005 do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đề ra cho ngành than (15-16 triệu tấn). - 12/2004: Đạt 24,7 triệu tấn than thương phẩm (trong đó xuất khẩu 10,5 triệu tấn) đạt mục tiêu quy hoạch của năm 2010 (23-24 triệu tân). - 6/01/2005: Chủ tịch nước kí quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới. 2.1.2. Bộ máy tổ chức và chức năng nhiệm vụ. 2.1.1.1. Sơ đồ tổ chức 2.1.1.2. Bộ máy tổ chức a) Ban lãnh đạo Ban lãnh đạo điều hành Tập đoàn gồm có Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng Giám đốc, các Phó Tổng giám đốc (12 người), Kế toán trưởng. - Hội đồng quản trị Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam là đại diện trực tiếp chủ sở hữu Nhà nước tại Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam, gồm 7 thành viên, là cơ quan quản lý cao nhất trong Tập đoàn, có quyền quyết định mọi hoạt động trong Tập đoàn. - Tổng Giám đốc: Thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của Tập đoàn công nghiệp than - khoáng sản Việt Nam, là tổng điều hành các hoạt động kinh doanh của Tập đoàn và kế hoạch phối hợp kinh doanh của Tập đoàn các công ty; Trực tiếp chỉ đạo công tác tổ chức, cán bộ; chiến lược phát triển và quan hệ quốc tế; Là Chủ tịch Hội đồng thi đua Tập đoàn; Thực hiện các nhiệm vụ khác được phân công. - Các phó tổng giám đốc: trong đó có 1 phó tổng giám đốc thườ._.ình thức đàm phán. 3.2. Chiến lược phát triển ngành than giai đoạn 2006-2015, định hướng đến năm 2025 Cùng với sự hội nhập ngày càng sâu rộng với kinh tế quốc tế và khu vực, tốc độ phát triển các ngành công nghiệp, các đơn vị sử dụng than trong và ngoài nước tăng mạnh đã và đang đặt ngành than Việt Nam trước những cơ hội và thách thức mới. Do vậy, việc Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành than giai đoạn 2006-2015, định hướng đến năm 2025 là hết sức cần thiết và đúng đắn. 3.2.1. Những thách thức chính đối với ngành than Việt Nam trong thời gian tới - Nhu cầu than trong nước tăng cao, trong khi khả năng tăng sản lượng bị hạn chế do các mỏ than lớn hiện có ngày càng xuống sâu, đi xa với điều kiện khai thác khó khăn phức tạp hơn. Trên lý thuyết, trữ lượng than của Việt Nam khá lớn. Theo số liệu của tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam công bố, tổng trữ lượng than của Việt Nam trên 220 tỉ tấn, trong đó khu mỏ than Quảng Ninh 10,5 tỉ tấn và mỏ than ở vùng đồng bằng sông Hồng 210 tỉ tấn nằm trải rộng trên diện tích 3.500 ki lô mét vuông. Tuy nhiên, phần trữ lượng than đã được thăm dò xác minh và có điều kiện khai thác thuận lợi đang giảm dần, phải đưa vào khai thác tài nguyên trữ lượng than năm ở dưới sâu (dưới mức -150m ở Quảng Ninh). Bên cạnh đó, nguồn tài nguyên than tiềm năng ở đồng bằng Sông Hồng có điều kiện địa chất công trình, thuỷ chất địa văn phức tạp, hơn nữa lại nằm trong vùng đất nông nghiệp và dân cư nên việc khôn dễ dàng và sẽ rất tốn kém. - Việc đảm bảo an toàn lao động và bảo vệ môi trường trong quá trình khai thác đòi hỏi ngày càng nghiêm ngặt hơn, nhất là việc bảo vệ Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long. - Để tăng sản lượng đòi hỏi nhu cầu vốn đầu tư cao, trong khi nguồn vốn tự có trong ngành hạn hẹp và giá bán than trong nước đang còn thấp hơn giá thành, từ năm 2007 được điều chỉnh theo cơ chế thị trường. - Việc sử dụng than vẫn chủ yếu theo cách truyển thống gây nhiều ô nhiễm, hiệu quả thấp, trong khi công nghệ chế biến than hầu như chưa phát triển. - Sẽ gặp những khó khăn của một nước lâu nay xuất khẩu than, sắp tới phải chuyển sang nhập khẩu than. Đặc biệt là các doanh nghiệp sử dụng than phải đối mặt với việc sử dụng than theo giá thị trường thay cho thói quen dùng than giá thấp trong nhiều năm qua. 3.2.2. Quan điểm phát triển Chiến lược phát triển ngành do Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công thương) xây dựng dựa trên sáu quan điểm phát triển Thứ nhất là khai thác, chế biến, sử dụng có hiệu quả và tiết kiệm nguồn tài nguyên than trong nước, kết hợp với xuất nhập khẩu hợp lý trên cơ sở giảm dần và tiến đến không xuất khẩu than, đáp ứng tối đa nhu cầu than trong nước phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Thứ hai, phát triển ngành than bền vững, hiệu quả theo hướng đồng bộ, cân đối với phát triển chung của các ngành kinh tế khác. Thứ ba, áp dụng khoa học công nghệ tiến tiến trong thăm dò, khai thác, sàng tuyển, chế biến và sử dụng than. Thứ tư là, tích cực đầu tư thăm dò ra nước ngoài, khai thác nhanh nguồn tài nguyên than nước ngoài để bổ sung cho sự thiếu hụt từ khai thác trong nước. Thứ năm, từng bước hình thành thị trường than cạnh tranh, hội nhập với khu vực và thế giới, đa dạng hó phương thức đầu tư và kinh doanh trong ngành than. Thứ sáu, phát triển đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái, gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội, du lịch, an ninh quốc phòng vùng than, đặc biệt là vùng than Quảng Ninh. 3.2.3. Mục tiêu cụ thể - Về lĩnh vực thăm dò than, Chiến lược xác định mục tiêu phấn đấu đến năm 2010 thăm dò đánh giá xong phần tài nguyên than nằm dưới mức -300 m đến đáy tầng than ở bể than Quảng Ninh, đồng thời thăm dò tỉ mỉ một phần bể than Đồng bằng sông Hồng, đến năm 2015 thăm dò đánh giá xong phần tài nguyên bể than Đồng bằng sông Hồng. Đến năm 2010 gia tăng trữ lượng than xác minh để có thể huy động vào khai thác khoảng 46- 51 triệu tấn than nguyên khai, đến năm 2015: khoảng 50 - 55 triệu tấn than nguyên khai, đến 2020: khoảng 57- 62 triệu tấn than nguyên khai, và đến năm 2025: khoảng 63- 68 triệu tấn. Các biện pháp tổng hợp sẽ được áp dụng để quản trị hiệu quả tài nguyên than, phấn đấu đến năm 2015 giảm tổn thất chung của toàn ngành xuống dưới 30% và đến năm 2025 xuống dưới 25%. - Về khai thác than, sẽ khai thác và sử dụng hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm nguồn tài nguyên than trong nước để sử dụng lâu dài, phấn đấu sản lượng than sạch đạt 40-43 triệu tấn vào năm 2010, 48-51 triệu tấn vào năm 2015, 55-58 triệu tấn vào năm 2020, 58- 61 triệu tấn vào năm 2025, nâng sản lượng than sạch lên khoảng 200 triệu tấn vào năm 2050; Duy trì và giảm dần các mỏ lộ thiên, đầu tư mới thêm một số mỏ hầm lò có công suất cao, dôdng bộ và hiện đại ở khu vực Quảng Ninh và bể than đồng bằng sông Hồng trên cơ sở đẩy mạnh cơ giới hoá, hiện đại hoá công nghệ khai thác hầm lò. - Về sàng tuyển và chế biến than: Đầu tư đồng bộ để phát triển các cơ sở sàng tuyển, chế biến than phù hợp với sản lượng khai thác, đáp ứng tối đa nhu cầu than trong nước về số lượng và chủng loại; - Về xuất khẩu than: xuất nhập khẩu hợp lý trên cơ sở giảm dần và tiến đến không xuất khẩu than để đáp ứng tối đa nhu cầu sử dụng trong nước: đến năm 2010 giảm xuất khẩu xuống còn 12 triệu tấn, đến năm 2015 giảm còn 5 triệu tấn, sau 2015 giảm dần và tiến tới không xuất khẩu; chỉ xem xét xuất khẩu một lượng hợp lý than cục, than cám chất lượng và giá trị cao mà trong nước chưa sử dụng hết để nhập khẩu chủng loại phù hợp cho công nghiệp luyện thép, bổ sung phần than thiếu hụt trong nước theo nguyên tắc đảm bảo hiệu quả kinh tế. - Về thị trường than: phấn đấu đến năm 2010 thiết lập được hệ thống cơ chế, chính sách hình thành thị trường than cạnh tranh, hội nhập với khu vực và thế giới, tạo sự công bằng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh than, không phân biệt thành phần kinh tế. - Về bảo vệ môi trường: phấn đấu đến năm 2010 chặn đứng đà suy thoái ở vùng mở; đến năm 2025, các công trình khai thác, sàng tuyển, chế biến và sử dụng than phải đáp ứng tiêu chuẩn môi trường của ngành. 3.3. Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xuất khẩu than ở Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam. 3.3.1. Giải pháp về sản phẩm và công nghệ Chất lượng và phẩm cấp than sẽ quyết định trực tiếp đến hiệu quả xuất khẩu than. Đặc biệt, trong những năm sắp tới, khi sản lượng than cho xuất khẩu khó có khả năng tăng lên thì việc nâng cao chất lượng của than để gia tăng giá trị của than xuất khẩu là vấn đề then chốt nhằm nâng cao hiệu quả xuất khẩu than đối với Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam. - Phải tăng cường đổi mới, hiện đại hóa công nghệ, thiết bị trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất, chế biến than. Khi tỷ lệ khai thác lộ thiên giảm dần do diện tích các vỉa than lộ thiên ngày càng bị thu hẹp, thì TKV sẽ phải nâng cao tỷ lệ khai thác hầm lò. Điều này đòi hỏi các đơn vị sản xuất trong Tập đoàn phải đẩy mạnh cơ giới hoá ở tất cả nơi nào có điều kiện cơ giới hoá được để hoạt động khai thác có năng suất cao hơn. Làm được như vậy, không những sản lượng than khai thác được đảm bảo mà chất lượng than cũng được nâng dần lên (vì than càng khai thác xuống sâu thì chất lượng than càng tốt). - Đẩy mạnh nghiên cứu công nghệ chế biến than, bao gồm: chế biến than cám thành than cục, chế biến than antraxít dùng cho luyện kim, chế biến hoá lỏng than và khí hoá than nhằm đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao giá trị và giá trị sử dụng của than và đảm bảo thân thiện với môi trường. Bêtông hoá toàn bộ nền các kho than, tiến tới xây dựng các kho than kín để chống giảm phẩm cấp than thành phẩm. 3.3.2. Giải pháp về thị trường Trong hoạt động xuất khẩu than, Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam gặp phải một số hạn chế và khó khăn nhất định như : số lượng thị trường xuất khẩu còn ít, chỉ hạn chế ở một số thị trường quen thuộc, gần như khó mở rộng thị trường do đặc thù của sản phẩm. Những khó khăn này sẽ phần nào được khắc phục khi TKV giải quyết và tìm ra được hướng đi đối với vấn đề sản phẩm và công nghệ. Bên cạnh đó, tôi cũng có một số giải pháp đề xuất nhằm khắc phục những hạn chế trong công tác thị trường của TKV: - Khuyến khích xuất khẩu vào các thị trường lớn như Nhật Bản, Trung quốc và những quốc gia không có hoặc có ít tiềm năng phát triển ngành công nghiệp than nhằm ổn định lượng than tiêu thụ, hạn chế rủi ro hay biến động mạnh về nhu cầu. - Ưu tiên xuất khẩu than cho những quốc gia có chương trình, dự án hợp tác liên quan đến việc phát triển khai thác than của Việt Nam. - Tiếp tục duy trì và củng cố mối quan hệ với những bạn hàng truyền thống như Nhật, Trung Quốc, Tây Âu. Dành nhiều ưu đãi về giá cả, đảm bảo tối đa số lượng hàng giao, cùng các dịch vụ đi kèm cho các thị trường này. Trên cơ sở quán triệt 3 nguyên tắc: + Việc thận trọng trong quan hệ là tất yếu nhưng cần thiết phải có sự tin tưởng trong kinh doanh. Sự tin tưởng sẽ đảm bảo rằng: quan hệ có thể phát triển rất tốt nếu chúng ta biết cách xử sự hợp lý trong quan hệ lợi ích kinh tế. + Quan hệ bạn hàng trong kinh doanh dựa trên cơ sở quan trọng nhất là sự hòa đồng về lợi ích kinh tế, cả hai bên đều được thỏa mãn lợi ích trong mối quan hệ kinh doanh với nhau. + Trong mối quan hệ này cần phải giữ chữ “Tín”, không vì lợi ích trước mắt mà bỏ đi chữ “Tín” của doanh nghiệp trên thương trường. - Song song vói các họat động trên, Tập đoàn cần tích cực, chủ động tìm kiếm đối tác và những thị trường mới trong tương lai. Duy trì sự cân bằng giữa các thị trường để giảm thiểu rủi ro là một việc nên làm trong thời gian tới. Hiện nay, hình thức xuất khẩu chủ yếu của Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam là xuất khẩu gián tiếp qua các công ty thương mại. Vì vậy, để phát huy hơn nữa hiệu quả của kênh phân phối này, Tập đoàn cần tăng cường phối hợp hoạt động với thương vụ Việt Nam tại nước ngoài, cơ quan của chính phủ, phòng thương mại, cục xúc tiến thương mại để tìm hiểu thông tin về hoạt động trung gian tại các khu vực thị trường tiềm năng, qua đó lựa chọn được trung gian phân phối thực sự uy tín, hoạt động có hiệu quả. 3.3.3. Giải pháp về xúc tiến thương mại Hoạt động xuất khẩu than là hoạt động tạo lợi thế cạnh tranh cho Tập đoàn công nghiệp than – khoáng sản Việt Nam. Hoạt động này không chỉ nhằm lôi cuốn sự chú ý quan tâm của người mua đối với sản phẩm mà quan trọng hơn, còn nhằm nâng cao uy tín, hình ảnh cũng như danh tiếng của TKV. Họat động xúc tiến thương mại của TKV hiện nay chưa phát triển mạnh và chưa được quan tâm sâu sát. Trong tương lai, khi kinh doanh trong môi trường quốc tế, TKV cần chú trọng hơn nữa trong việc phát triển hoạt động này, cụ thể như: - Dành một khoản vốn thích hợp trong doanh thu hàng năm để đầu tư cho hoạt động xúc tiến thương mại và hỗ trợ kinh doanh. Một sự đầu tư thích đáng sẽ đem lại rất nhiều lợi ích cho hoạt động xuất khẩu nói riêng, hoạt động kinh doanh của TKV nói chung trong tương lai. - Tăng cường quảng cáo trên Internet. Với tính ưu việt của hệ thống quảng cáo điện tử trên Internet hiện nay, sản phẩm than sẽ dễ dàng được giới thiệu tới các khách hàng trên toàn cầu, mà hoàn toàn không bị giới hạn bởi vị trí địa lý, hơn nữa có thể tiết kiệm một cách đáng kể chi phí quảng cáo. - Việc tham gia đều đặn các hội chợ triển lãm cũng là một hoạt động nên làm của TKV bởi đây là cơ hội tốt cho việc quảng bá sản phẩm, tìm kiếm và đây mạnh giao dịch, ký kết hợp đồng. Đồng thời qua hoạt động này, TKV cũng có cơ hội thu thập thông tin, học hỏi kinh nghiệm xúc tiến thương mại từ các đối thủ cạnh tranh. 3.3.4. Giải pháp về công tác chuẩn bị chân hàng và giao than xuất khẩu. a) Đối với Tập đoàn - Phối kết hợp chặt chẽ giữa các ban liên quan trong bộ máy điều hành Tập đoàn để đôn đốc các đơn vị thực hiện kế hoạch chung. - Thông báo nhanh và đầy đủ những thông tin về tình trạng tàu đến lấy hàng để các đơn vị có cơ sở thực hiện, tránh tình trạng tầu đến bốc hàng phải chờ quá lâu. - Tăng cường kiểm tra giám sát việc điều hành, bốc xếp, chuyển tải và giao than ở các đơn vị thành viên và khu vực chuyển tải, giảm thiểu tình trạng thiếu hụt hoặc mất than, là cơ sở của hành vi xuất khẩu than lậu làm ảnh hưởng đến uy tín của Tập đoàn và hiệu quả xuất khẩu than. b) Đối với các đơn vị giao than - Để làm tốt công tác chuẩn bị chân hàng và giao than xuất khẩu, góp phần nâng cao hiệu quả xuất khẩu, trước hết các đơn vị thành viên trong Tập đoàn phải thực hiện việc giao than cho Tập đoàn đúng về thời hạn, đủ về số lượng và chất lượng theo đúng chỉ tiêu mà Tập đoàn đã giao. - Các đơn vị khai thác cần cải thiện hơn nữa điều kiện kho bãi của đơn vị mình (trước mắt là tăng cường mái che cho kho) nhằm hạn chế việc phải xử lý độ ẩm của than tăng cao do trời mưa dẫn đến làm chậm tiến độ giao hàng. - Đầu tư mua sắm thêm các phương tiện vận chuyển, phương tiện chuyển tải; bổ sung lực lượng và nâng cao trình độ của cán bộ điều hành để quá trình làm hàng diễn ra thông suốt và nhanh chóng, tàu không phải chờ đợi lâu. c) Đối với đơn vị giám định và đơn vị bốc xếp - Đầu tư nâng cấp và đổi mới máy móc, trang thiết bị phục vụ công tác giám định, nâng cao trình độ nghiệp vụ của cán bộ giám định để đảm bảo giao than đúng chất lượng, đủ số lượng góp phần duy trì và nâng cao uy tín của TVN. - Trong hoạt động bốc xếp, cần nâng cao ý thức đối với công nhân làm hàng để tránh vứt bừa bãi tạp chất lên than, ảnh hưởng đến chất lượng than giao. Dứt khoát phải chấm dứt tình trạng dung túng cho nạn trộm cắp trong khi làm hàng chuyển tải. Bố trí phương tiện hợp lý để đảm bảo tiến độ bốc xếp theo quy định. 3.4. Một số kiến nghị với Nhà nước Những nỗ lực cố gắng trong bản thân Tập đoàn là yếu tố thiết yếu làm nên thành công của Tập đoàn trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu than. Song, những thành công này sẽ đạt được một cách nhanh chóng và thuận lợi hơn rất nhiều nếu có sự hậu thuẫn từ phí Nhà nước. Trên cơ sở nghiên cứu hoạt động của Tập đoàn TKV, tôi có một số kiến nghị với Nhà nước trong việc kinh doanh xuất khẩu mặt hàng này như sau: 3.4.1. Về giá bán than: Chính phủ nên sớm thực hiện việc xác định giá bán than nội địa theo cơ chế thị trường, đặc biệt khi mà nước ta đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới WTO. Hiện nay, chỉ có giá than xuất khẩu là được thực hiện theo cơ chế thị trường, chịu sự điều tiết của cung- cầu than thế giới, còn giá bán than trong nước vẫn theo quy định của chính phủ. Giá than trong nước thấp hơn rất nhiểu so với giá than xuất khẩu. Đây là một bất cập, vì thực tế đã chứng minh, sự chênh lệch giữa giá than trong nước và thê giới càng nhiều thì lượng than xuất khẩu cảng nhiều. Trong khi Chính phủ đang thực hiện chính sách dảm bảo an ninh năng lượng, xuất khẩu than ở mức tối ưu thì việc để tình trạng chênh lệch giá quá nhiều này sẽ càng tạo điều kiện cho việc xuất khẩu lậu than. Hành động này không chỉ làm thất thóat tài nguyên quốc gia mà còn làm ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh xuất khẩu của Tập đoàn. Với việc thị trường hóa giá than nội địa, Chính phủ sẽ ngăn chặn được việc lợi dụng than nội địa giá rẻ để trục lợi, vừa khiến cho việc sử dụng than trong nước tiết kiệm và hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, như đã phân tích ở chương 2, một trong những lý do TKV đẩy mạnh xuất khẩu than là để bù lỗ cho hoạt động bán than trong nước. Nếu điều chỉnh giá than nội địa, Chính phủ còn tạo điều kiện thuận lợi cho TKV kinh doanh than theo hướng bền vững, đạt được mục tiêu tăng kim ngạch xuất khẩu nhờ đa dạng chủng loại và chất lượng than, chứ không phải nhờ tăng số lượng. Từ đó, tài nguyên than được sử dụng hợp lý và tiết kiệm hơn. 3.4.2. Về xuất khẩu than: Không nên giới hạn xuất khẩu mà chỉ yêu cầu TKV đảm bảo mức xuất khẩu hợp lý trên cơ sở cân đối cung - cầu và hiệu quả sản xuất kinh doanh, ưu tiên cung ứng đủ than cho nhu cầu sinh hoạt của nhân dân và nhu cầu nguyên liệu đầu vào cho các ngành công nghiệp quan trọng của nước nhà. Kinh nghiệm của các nước cho thấy, không nên cấm hoặc hạn chế xuất khẩu than bằng biện pháp hành chính mà bằng cơ chế chính sách, nhất là cơ chế giá than. Chẳng hạn, ở Trung Quốc mấy năm gần đây, nhờ áp dụng chính sách giá than trong nước cao phù hợp với giá nhập khẩu than nên họ không những đã hạn chế việc xuất khẩu than mà còn làm cho việc sử dụng than trong nước tiết kiệm, hợp lý hơn; đồng thời đẩy mạnh được phát triển sản lượng than từ trên 1,0 tỉ tấn năm 2000 lên trên 2,0 tỉ tấn năm 2005 (tăng 2 lần trong vòng 5 năm). Chỉ nên hạn chế xuất khẩu những chủng loại than mà trong nước có nhu cầu cao chẳng hạn than dùng cho các hộ điện và xi măng. Còn đối với những loại than mà trong nước chưa có nhu cầu sử dụng (như than cục 5, than cám 6, cám 7 dùng trong công nghiệp thép) hoặc không sử dụng do chất lượng quá xấu (than cám 10, 11, 12, than bùn) thì Nhà nước nên khuyến khích xuất khẩu để thu về ngoại tệ, phục vụ cho hoạt động tái đầu tư phát triển sản xuất. Bên cạnh đó, hiện nay đã có một số nhà đầu tư nước ngoài quan tâm đến việc khai thác than ở vùng đồng bằng Bắc bộ với mục đích được mua một phần than khai thác đưa về nước họ. Nếu không cho xuất khẩu, việc thu hút được đối tác đầu tư khai thác than vùng này sẽ gặp khó khăn, nhất là trong giai đoạn đầu tiến hành khai thác. 3.4.3. Về xây dựng cơ sở hạ tầng. Cơ sở hạ tầng là nền tảng cơ bản để doanh nghiệp phát trỉển kinh doanh. Cơ sở hạ tầng tốt, trang thiết bị được đầu tư hiện đại sẽ tạo điều kiện cho các hoạt động kinh doanh thuận lợi. Điều nầy lại càng quan trong đối với một kinh doanh –sản xuất than như TKV. Trong đó, việc nâng cấp hệ thống cầu cảng là vô cùng thiết thực và cần thiết. Hệ thống cầu cảng ngành than còn nhiều bất cập, trong khi lưu lượng tàu ra vào cảng thường xuyên là rất lớn. Điều này gây khó khăn cho các tàu vào bốc rót hàng hóa vì vừa mất thời gian chờ cầu, vừa bị phạt dôi nhật tàu. Vì vậy, Chính phủ cẩn quan tâm và đầu tư thích đáng đến hệ thống cầu cảng hiện nay,có kế hoạch phát triển, mở rộng hệ thống cảng biển của nước ta, cả về quy mô và độ sâu cũng như trang bị các thiết bị bốc dỡ hiện đại để hoạt động giao thương buôn bán nói chung và hoạt động kinh doanh xuất khẩu than nói riêng có nhiều thuận lợi. Bên cạnh đó, đề nghị Chính phủ cho phép đầu tư một số nhà máy điện tại vùng mỏ, có thể đốt than xấu (3.500 – 4.500 Kcal/kg) bằng công nghệ lò hơi tầng sôi hoàn toàn (như Nhà máy nhiệt điện Na Dương đã thành công). Khi đó, lượng than xấu xuất khẩu sẽ giảm mạnh trong các năm tới, sau khi các nhà máy nhiệt điện vào vận hành và thay vào đó, sẽ xuất khẩu những loại than có phẩm cấp tốt, giá trị cao mà trong nước không có nhu cầu sử dụng. Ngoài ra, thực tế hiện nay, việc khai thác lộ thiên đang dần dần trở nên khó khăn hơn vì diện tích những vỉa than lộ thiên ngày càng thu hẹp. Thay vào đó, trong thời gian tới, TKV sẽ phải chuyển sang khai thác hầm lò. Với công nghệ hiện có của ngành Than việc khai thác này là hết sức khó khăn. Vi vậy, Nhà nước nên có chính sách đầu tư hợp lý, hỗ trợ một phần vốn cho TKV trong công tác khai thác than đòi hỏi công nghệ cao này. 3.4.4. Về chính sách thuế đồi với than xuất khẩu. Theo Quy hoạch phát triển ngành Than và kế hoạch trong 5 năm tới, sản lượng than xuất khẩu sẽ có chiều hướng giảm vì phải tập trung cung cấp cho nhu cầu trong nước, đặc biệt là cho các nhà máy điện, xi măng. Dự báo đến năm 2010, sản lượng than cung cấp cho các nhà máy điện sẽ tăng gấp 3 lần so với năm 2005 và với cơ chế giá như hiện nay thì TKV sẽ hoà hoặc lỗ. Theo tính toán, nếu áp dụng mức thuế xuất khẩu đối với than là 3% thì hàng năm Tập đoàn phải nộp thuế xuất khẩu từ 300 - 350 tỷ đồng, như vậy chênh lệch xuất khẩu dần dần sẽ không đủ để bù cho than tiêu thụ trong nước. Do mức bù lỗ từ than xuất khẩu cho than trong nước ngày càng tăng nên lợi nhuận của ngành than sẽ giảm đáng kể so với những năm trước, trong khi nhiều khoản chi phí cho môi trường, an toàn vệ sinh lao động, giá xăng dầu, tiền lương và các chế độ khác mới chỉ đạt 80% mức Nhà nước cho phép. Ngoài ra, hàng năm TKV phải đầu tư mở rộng và bổ sung bình quân 4.000 tỷ đồng cho sản xuất than, chưa kể phải có vốn đối ứng để đầu tư phát triển các nhà máy điện, khu công nghiệp và cơ sở hạ tầng. Để được vay vốn đầu tư, Tập đoàn cần vốn tự có ít nhất là 800 tỷ đồng, tương ứng phải đạt mức lợi nhuận trên 2.500 tỷ đồng. Bên cạnh đó, trong 1 đến 2 năm tới là giai đoạn Tập đoàn phải trả các khoản nợ, trong khi giá bán than xuất khẩu đang giảm, việc cân đối tài chính của Tập đoàn sẽ càng gặp khó khăn nếu không có cơ chế và chính sách tạo điều kiện cho ngành than tích tụ vốn. Từ những phân tích trên, đề nghị Bộ Tài chính chưa nên thu thuế xuất khẩu than trong điều kiện chưa điều chỉnh giá bán than trong nước theo cơ chế thị trường. Khi giá than trong nước đã được thị trường hoá thì thuế xuất khẩu cần được xem xét một cách hợp lý sao cho bảo đảm quyền lợi của Nhà nước, khách hàng và doanh nghiệp. Đồng thời đề nghị Bộ Tài chính, trước hết cần điều chỉnh giá bán than trong nước cho 4 ngành: Điện, Xi măng, Phân bón và Giấy sao cho đủ bù đắp chi phí hợp lý và có lãi nhất định để Tập đoàn đầu tư, đồng thời dần tiến tới thị trường hoá giá bán than trong nước. Tóm lại, chương 3 đã tập trung giải quyết được những vấn đề sau: Dự báo nhu cầu than thế giới, những cơ hội và thách thức đồi với TKV, những định hướng, mục tiêu phát triển công nghiệp than của TKV, để từ đó đưa ra những giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả xuất khẩu than, vừa đảm bảo mục tiêu riêng của Tập đoàn, vừa phù hợp với đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước đã đề ra cho ngành than nói chung và TKV nói riêng. KẾT LUẬN Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chuyên đề “Giải pháp nâng cao hiệu quả xuất khẩu than ở Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam” đã đạt được những kết quả sau: Hệ thống hoá các vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả kinh doanh và hiệu quả xuất khẩu hàng hoá ở doanh nghiệp, các chỉ tiêu đánh giá, các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả xuất khẩu hàng hoá . Khái quát sơ qua về sản phẩm than và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả xuất khẩu sản phẩm này. Phân tích thực trạng hiệu quả xuất khẩu than của Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam, từ đó đánh giá kết quả đạt được, đồng thời chỉ ra những vấn đề còn tồn tại làm cho hiệu quả xuất khẩu than chưa cao. Đề xuất những giải pháp đối với Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam để nâng cao hiệu quả xuất khẩu than, đồng thời đưa ra các kiến nghị với Nhà nước giúp cho Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam nâng cao hiệu quả xuất khẩu than trong những năm sắp tới. Qua nội dung nghiên cứu của đề tài, chúng ta đã có được cái nhìn tổng quan hơn về tình hình xuất khẩu than của Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam và vai trò to lớn của hoạt động này đối với Tập đoàn nói riêng, nền kinh tế nói chung. Từ đó, thấy được sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả xuất khẩu than trong những năm tới. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Trường ĐH Ngoại thương,Vũ Hữu Tửu (2002), Giáo trình “Kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương”, Nxb Giáo dục, Hà Nội. Trường ĐH Quản lý và kinh doanh Hà Nội-Khoa Thương mại, Giáo trình “Kinh doanh thương mại quốc tế”(2003), Hà Nội. Lê Thanh Cường (1994), Luận án PTS Khoa học kinh tế “Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xuất khẩu của doanh nghiệp”, Hà Nội. Tạp chí Khoa học và Công nghệ mỏ, 2006-2007. Tạp chí Công nghiệp mỏ, 2006-2007. Tạp chí Than - Khoáng sản, 2006-2007. Các báo cáo sơ kết, tổng kết than tiêu thụ của ngành than. Báo cáo kinh doanh các năm 2005,2006,2007 của TKV. Các website điện tử DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU BẢNG BIỂU Bảng 2.1. Cơ cấu nguồn nhân lực của TKV 43 Bảng 2.2.Tổng hợp về tuổi thọ và năng suất của thiết bị ngành than 45 Bảng 2.3. Tổng hợp về bậc thợ công nhân ngành than 45 Bảng 2.4. Tuổi nghề của công nhân, cán bộ 45 Bảng 2.5. Bảng cân đối Tài sản - Nguồn vốn của TKV đến 31/12/2006 46 Bảng 2.6. Kết quả sản xuất kinh doanh theo ngành nghề của TKV (2005 - 2006) 47 Bảng 2.7. Kết quả hoạt động kinh doanh của TKV giai đoạn 2005 - 2007 48 Bảng 2.8. Các chủng loại Than của TKV 56 Bảng 2.9. Thống kê XK than theo chủng loại của TKV 57 Bảng 2.10. Thống kê than XK theo thị trường (2001 - 20007) 59 Bảng 2.11. Kim ngạch và sản lượng than XK thời kỳ 2003 - 2007 64 Bảng 2.12 : Kết quả xuất khẩu than của Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam qua các năm………………………………………………………….. 67 Bảng 2.13: Tỷ trọng lợi nhuận xuất khẩu trong tổng lợi nhuận của TKV… 68 Bảng 2.14. Hiệu quả sử dụng vốn tại Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam……………………………………………………………………70 Bảng 2.15: Tình hình hiệu quả sử dụng lao động tại Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam………………………………………………………………. 72 Bảng 2.16: Tỷ suất ngoại tệ của Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam… 74 BIỂU ĐỒ Biểu đồ số 2.1. Chủng loại than XK của TKV 58 Biểu đồ số 2.2. Thị trường than XK năm 2001 61 Biểu đồ số 2.3. Cơ cấu thị trường XK than năm 2007 62 Biểu đồ số 2.4. Sản lượng than xuất khẩu của Việt Nam từ 2001 - 2007 63 Biểu đồ 2.5 : Tỷ suất lợi nhuận của Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam………………………………………………………………….. 69 BAN KIỂM SOÁT HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc, Kế toán trưởng KHỐI CÔNG NGHIỆP THAN 1- Phòng than hầm lò (THL) 2- Phòng than lộ thiên (TLT) 3- Phòng thông gió mỏ hầm lò (TGM) 4- Phòng cơ điện - vận tải mỏ (CĐM) 5- Phòng sàng tuyển than (STT) 6- Phòng điều độ SX và chuẩn bị chân hàng than (SXT) 7- Phòng địa chất - trắc địa mỏ than (ĐTM) 8- Phòng lao động tiền lơng mỏ than (TLM) 9- Phòng Kế hoạch và kiểm sóat chi phí mỏ than (KHM) BAN ĐIỀU HÀNH DỰ ÁN PHÁT TRIỂN BỂ THAN ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ Ban phát triển vùng than đồng bằng bắc bộ (TĐB) KHỐI CN CƠ KHÍ 1- Phòng chế tạo, sửa chữa và lắp máy (CSL) 2- Phòng sản xuất, lắp ráp ôtô, đóng tàu thủy (XT) KHỐI CÔNG NGHIỆP KHOÁNG SẢN VÀ HÓA CHẤT 1- Phòng mỏ - tuyển- vật liệu xây dựng (MTV) 2- Phòng luyện kim - hóa chất (LKH) 3- Phòng luyện thép (LT) KHỐI CÔNG NGHIỆP ĐIỆN 1- Phòng phát triển dự án (PDA) 2- Phòng quản lý xây dựng, thi công xây lắp (QXL) 3- Phòng quản lý sản xuất kinh doanh (SKD) KHỐI CÔNG NGHIỆP NHÔM 1- Phòng hạ tầng và mỏ - tuyển (HMT) 2- Phòng các nhà máy (NMA) KHỐI THƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ 1- Ban thị trờng than nội địa (TTN) 2- Ban xuất nhập khẩu (XNK) 3- Phòng điều độ tiêu thụ than (ĐTT) 4- Phòng phát triển du lịch (DL) 5- Phòng thơng mại và dịch vụ (TDV) 6- Các trạm giao nhận than (8 trạm) KHỐI KINH DOANH HẠ TẦNG VÀ BẤT ĐỘNG SẢN 1- Phòng Quy hoạch, kiến trúc, bất động sản (QKB) 2- Phòng xây dựng, kết cấu hạ tầng (XKH) CÁC BAN THAM MU, QUẢN LÝ TỔNG HỢP 1- Văn phòng (VP) 2- Ban Tổ chức cán bộ (TCCB) 3- Ban KHCN và chiến lợc phát triển (KCL) 4- Ban Đầu t 5- Ban Kế hoạch và kiểm soát chi phí (KHZ) 6- Nhân lực, tiền công và CTXH (NTX) 7- Kế toán - thống kê- tài chính (KTT) 8- Phát triển kinh doanh quốc tế (QT) 9- Thi đua, văn hoá, thể thao (TVT) 10- An toàn và bảo hộ lao động (AT) 11- Quản trị rủi ro - pháp chế (QRP) 12- Kiểm toán nội bộ (KTNB) 13- Thanh tra- Bảo vệ - Quân Sự (TBQ)  14- Tài nguyên - Môi trờng (TM) Ghi chú: Tổng số có 9 khối kinh doanh, ngoài 8 khối kinh doanh kể trên còn có Khối dịch vụ tài chính Tổng số: 41 phòng ban + 8 trạm Tổng giám đốc Các Phó TGĐ- Giám đốc điều hành khối KD Các ban chức năng Ban kiểm soát Các đơn vị trong cơ cấu tổ chức Công ty mẹ 1. Cty cảng và kinh doanh than- TKV 2. Công ty tuyển than Hòn Gai- TKV 3. Công ty tuyển than Cửa Ông- TKV 4. Công ty địa chất mỏ- TKV 5. Công ty tư vấn quản lý dự án đầu tư xây dựng TKV 6. Công ty nhiệt điện Sơn Động- TKV 7. Ban quản lý dự án Tổ hợp bauxit - nhôm Lâm Đồng 8. Trung tâm cấp cứu mỏ- TKV 9. Trung tâm phát triển nguồn 10. Trung tâm y tế lao động TKV 11. Tạp chí Than- Khoáng sản Việt Nam. nhân lực quản lý- TKV Các trường đào tạo nghề 1. Trường cao đẳng nghề mỏ Hồng Cẩm- TKV 2. Trường cao đẳng nghề mỏ Hữu Nghị- TKV 3. Trường cao đẳng nghề CN Việt Bắc- TKV Các công ty con do Tập đoàn nắm giữ 100% vốn điều lệ, hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con 1. Tổng công ty khoáng sản - TKV. 2. Tổng công ty Đông Bắc. 3. Công ty công nghiệp mỏ Việt Bắc - TKV 4. Công ty than Uông Bí - TKV 5. Công ty công nghiệp hoá chất mỏ - TKV 6. Viện khoa học công nghệ mỏ 7. Công ty tài chính TKV. 8. Công ty bauxit Lâm Đồng TKV Các công ty con cổ phần 1. Công ty CP nhiệt điện Cẩm Phả. 2. Công ty CP vận tải và đưa đón thợ mỏ. 3. Công ty CP đại lý hàng hải - TKV. 4. Công ty CP xuất nhập khẩu than - TKV. 5. Công ty CP du lịch & thương mại - TKV. 6. CTCP đầu tư, thương mại và dịch vụ - TKV. 7. CTCP kinh doanh than Cẩm Phả - TKV. 8. Công ty CP than Miền Trung - TKV. 9. Công ty CP than Miền Nam - TKV. 10. Công ty CP than Tây Nam Đá Mài - TKV. 11. Công ty CP than Núi Béo - TKV. 12. Công ty CP thiết bị điện - TKV. 13. CTCP tin học, c.nghệ, m.trường TKV 14. CTCP tư vấn ĐT mỏ và công nghiệp - TKV 15. Công ty CP giám định - TKV. 16. CTCP kinh doanh than Miền Bắc - TKV. 17. Công ty cổ phần than Đèo Nai - TKV. 18. Công ty cổ phần than Cọc Sáu - TKV. 19. Công ty cổ phần than Cao Sơn - TKV. 20. Công ty cổ phần than Hà Tu - TKV. 21. Công ty than Hòn Gai - TKV. 22. Công ty than Hạ Long - TKV. 23. Công ty than Dương Huy - TKV. 24. Công ty than Hà Lầm - TKV. 25. Công ty than Thống Nhất - TKV. 26. Công ty than Mông Dương - TKV. 27. Công ty than Khe Chàm - TKV. 28.Công ty TNHH MTV than Mạo Khê - TKV. 29. Công ty than Vàng Danh - TKV. 30. Công ty than Quang Hanh - TKV. 31. Công ty xây dựng mỏ - TKV. 32. Công ty CP hoa tiêu hàng hải - TKV Các công ty con cổ phần 33. Công ty TNHH 1 TV chế tạo máy - TKV 34. Công ty công nghiệp ô tô - TKV 35. Công ty cơ khí đóng tàu - TKV 36. Công ty nhiệt điện Na Dương - TKV. 37. Công ty nhiệt điện Cao Ngạn - TKV. 38. Công ty vật tư, vận tải và xếp dỡ - TKV. 39. C.ty khách sạn Heritage Hạ Long - TKV. 40. Viện cơ khí năng lượng và mỏ - TKV. 41. Công ty CP Alumin Nhân Cơ- TKV 42. Công ty CP Vận tải thủy- TKV Các công ty liên kết 1. Công ty CP nhiệt điện Quảng Ninh 2. Công ty CP nhiệt điện Hải Phòng 3. Công ty CP cơ khí Mạo Khê 4. Công ty CP cơ điện Uông Bí 5.Công ty CP kính nổi Chu Lai SƠ ĐỒ TỔ CHỨC TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM Tổng số: - 64 Công ty con và ĐV trực thuộc - 5 Công ty liên kết CÔNG TY MẸ - TẬP ĐOÀN TKV Hội đồng quản trị ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc11064.doc
Tài liệu liên quan