Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với việc điều hành chính sách tiền tệ hiện nay

Lời mở đầu Chính sách tiền tệ quốc gia là một bộ phận quan trọng của chính sách kinh tế tài chính của Nhà nước. Chính sách tiền tệ quốc gia có một vai trò rất quan trọng giúp phát triển đất nước nhưng đối với Việt nam, khi chuyển nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp nặng nề sang nền kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, chúng ta chưa có sẵn một chính sách tiền tệ và các công cụ của chính sách tiền tệ trong cơ chế thị trường. Do đó xây dự

doc42 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1363 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với việc điều hành chính sách tiền tệ hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ng và đổi mới chính sách tiền tệ được coi là một khâu đặc biệt quan trọng. Từ khi Nhà nước ban hành hai pháp lệnh ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước Việt nam đã xây dựng chính sách tiền tệ và coi đây là công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước về tiền tệ và do Ngân hàng trung ương chịu trách nhiệm soạn thảo và thực thi. Trong quá trình thực thi chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt nam đến nay đã thu được nhiều thành quả đáng ghi nhận, góp phần không nhỏ vào tăng trưởng kinh tế nhờ ổn định tiền tệ quốc gia, tuy nhiên cũng còn rất nhiều việc phải làm để hoàn thiện được chính sách tiền tệ ở Việt nam để phục vụ tốt nhất cho các mục tiêu của đất nước. Trong quá trình nghiên cứu môn học Lý thuyết tiền tệ và tìm hiểu các tài liệu có liên quan em thấy việc điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt nam còn nhiều vấn đề cần quan tâm bên cạnh những thành quả đạt được và cần thiết phải có những giải pháp hoàn thiện chính sách tiền tệ ở Việt nam để có thể phục vụ tốt nhất cho mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững của đất nước, đặc biệt trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay. Chính vì vậy em đã chọn đề tài: “Ngân hàng Nhà nước Việt nam với việc điều hành chính sách tiền tệ hiện nay” cho tiểu luận môn học Lý thuyết tiền tệ. Do việc tìm hiểu còn hạn chế nên bài tiểu luận khó trách khỏi những sai sót, em rất mong được sự góp ý của các thầy cô để đề tài được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn. Em xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô để em có thể hoàn thành bài tiểu luận này. Chương I. Tổng quan về ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ 1.1. Ngân hàng trung ương 1.1.1. Sự ra đời và phát triển của ngân hàng trung ương Ngân hàng trung ương xuất hiện xuất phát từ hai nguyên nhân: Thứ nhất, do sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại. Thứ hai, là do sự can thiệp của Nhà nước vào lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Từ khoảng đầu thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII, ngân hàng thương mại phát triển cả về số lượng và quy mô hoạt động, để thực hiện nghiệp vụ của mình ngân hàng thương mại phát hành kỳ phiếu ngân hàng. Lúc đầu, kỳ phiếu ngân hàng chỉ đơn giản là những giấy tờ chứng nhận số tiền đã gửi, được ngân hàng trao cho người gửi tiền làm bằng chứng pháp lý để rút tiền gửi. Giấy chứng nhận đó được phát triển ngày càng hoàn thiện và được sử dụng phổ biến làm phương tiện trong các quan hệ chi trả, hoán tiền, hàng hóa, công nợ, chuyển nhượng tài sản, … Thời kỳ này các ngân hàng đều cùng thực hiện các nghiệp vụ: nhận tiền gửi, cho vay và phát hành tiền nên làm cho trong lưu thông có rất nhiều loại tiền lưu hành. Từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX, do sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển, sự tồn tại quá nhiều loại giấy bạc ngân hàng trong lưu thông đã gây khó khăn cho lưu thông hàng hóa. Để khắc phục tình trạng trên cần phải thống nhất lưu thông giấy bạc ngân hàng nên đã quy định các ngân hàng có vốn lớn, phạm vi hoạt động rộng, có uy tín trong lưu thông mà phải được Nhà nuớc cho phép thì được phép phát hành giấy bạc; còn các ngân hàng nhỏ vốn ít, phạm vi hoạt động hẹp thì chỉ thực hiện nghiệp vụ ngân hàng trung gian. Mục tiêu lợi nhuận đã khiến các ngân hàng bất chấp rủi ro, dẫn đến nguy cơ phá sản, gây thiệt hại đến người gửi tiền, đến nến kinh tế. Vì vậy, đã đến lúc cần phải có tổ chức đứng ra kiểm soát khống chế các ngân hàng thương mại để ngăn chặn phá sản, đó là ngân hàng thực hiện chức năng quản lý, giám sát và cho vay cuối cùng – ngân hàng trung ương. 1.1.2. Định nghĩa về ngân hàng trung ương Ngân hàng trung ương là một định chế pháp lý Nhà nước về tiền tệ, tín dụng và ngân hàng; giữ độc quyền phát hành tiền tệ, ngân hàng của các ngân hàng và tổ choc điều hòa lưu thông tiền tệ trong phạm vi cả nước nhằm ổn định giá trị của đồng tiền. 1.1.3. Chức năng của ngân hàng trung ương 1.1.3.1. Chức năng phát hành tiền Ngân hàng trung ương nắm độc quyền phát hành giấy bạc vào lưu thông: Ngân hàng phát hành xuất hiện, việc phát hành tiền được ấn định vào các ngân hàng phát hành, sau đó được ấn định vào một ngân hàng. Khi ngân hàng trung ương ra đời, ngân hàng trung ương đóng vai trò độc quyền phát hành tiền, có nhiệm vụ bảo đảm thống nhất an toàn cho hệ thống lưu thông tiền tệ. Ngân hàng trung ương là tổ chức duy nhất phát hành tiền theo các quy định trong luật hoặc được Chính phủ duyệt (về mệnh giá, loại tiền, mức phát hành). Giấy bạc ngân hàng và tiền kim loại là phương tiện thanh toán hợp pháp duy nhất trong cả nước và được thanh toán không hạn chế. Ngân hàng trung ương tham gia và kiểm soát việc tạo tiền chuyển khoản của các ngân hàng thương mại. Ngân hàng trung ương kiểm soát việc tạo tiền chuyển khoản bằng cách: ấn định tỷ lệ dự trữ bắt buộc (tỷ lệ dự trữ bắt buộc tỷ lệ nghịch với khối lượng tiền chuyển khoản được tạo ra); quy định cơ cấu hợp lý giữa tiền mặt và tiền chuyển khoản; quy định mức lãi suất tái chiết khấu. Khi ngân hàng trung ương tham gia giao dịch với các ngân hàng thương mại là ngân hàng trung ương đã tham gia vào việc phát hành tiền chuyển khoản. Chức năng này được ngân hàng trung ương thực hiện thông qua các kênh sau: Cho vay đối với các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng. Qua thị trường ngoại tệ, vàng. Cho ngân sách Nhà nước vay. Qua thị trường mở. 1.1.3.2. Chức năng ngân hàng của các ngân hàng Trên cơ sở độc quyền phát hành tiền, ngân hàng trung ương thực hiện việc cung ứng tiền tệ cho nền kinh tế thông qua việc cấp tín dụng cho các tổ chức tín dụng và kiểm soát quá trình tạo tiền của các tổ chức tín dụng. Ngân hàng trung ương quan hệ với các tổ chức tín dụng. Là ngân hàng trung ương: Ngân hàng trung ương mở tài khoản và nhận tiền gửi của các tổ chức tín dụng có mức dự trữ bắt buộc nhằm đảm bảo khả năng thanh toán, hạn chế khả năng rủi ro thanh toán cho cả hệ thống. Ngân hàng trung ương cấp tín dụng cho các tổ chức tín dụng: với tư cách là ngân hàng của các ngân hàng, ngân hàng trung ương luôn là chủ nợ và là người cho vay cuối cùng đối với các tổ chức tín dụng thông qua hoạt động tái chiết khấu các chứng từ có giá ngắn hạn dưới hình thức mua lại các chứng từ có giá ngắn hạn, đảm bảo bằng các chứng khoán đủ tiêu chuẩn hoặc cho vay có thế chấp các giấy tờ có giá. Ngân hàng trung ương là trung tâm thanh toán của các tổ chức tín dụng: các tổ chức tín dụng dều mở tài khoản tại ngân hàng trung ương nên có thể tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt tại ngân hàng trung ương. Thực hiện nghiệp vụ này, ngân hàng trung ương tổ chức thanh toán từng lần, thanh toán bù trừ từ đó góp phần thúc đẩy vốn luân chuyển nhanh, kiểm tra được sự biến động của vốn khả dụng để có biện pháp quản lý, đảm bảo hoạt động của các tổ chức tín dụng. Thực hiện quản lý Nhà nước đối với các ngân hàng: Ngân hàng trung ương ban hành các chính sách, chế độ, quy chế, thế lệ, và nghiệp vụ hướng dẫn, yêu cầu các tổ chức tín dụng thực thi. Ngân hàng trung ương thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, chấp hành các quy định trong giấy phép hoạt động của các tổ chức tín dụng nhằm đảm bảo an toàn cho hệ thống các tổ chức tín dụng và bảo vệ lợi ích của người gửi tiền, phục vụ chính sách tiền tệ quốc gia. 1.1.3.3. Chức năng ngân hàng của Nhà nước Ngân hàng trung ương thực hiện cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho Chính phủ: Nhận tiền gửi cho kho bạc Nhà nước, cho ngân sách Nhà nước vay và quản lý dự trữ ngân hối quốc gia. Xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ quốc gia, quản lý Nhà nước về các hoạt động tiền tệ, tín dụng, ngân hàng. Ngân hàng trung ương thay mặt Chính phủ để ký kết các hợp đồng về tiền tệ, tín dụng, thanh toán quốc tế. Ngân hàng trung ương thay mặt Chính phủ đại diện tại các tổ chức tín dụng quốc tế với tư cách là nước thành viên. Quá trình thực hiện các chức năng trên thể hiện vai trò của ngân hàng trung ương là: Điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông để tăng trưởng kinh tế; thiết lập và điều chỉnh cơ cấu kinh tế hợp lý; ổn định sức mua của đồng tiền quốc gia; chỉ huy hoạt động đối với toàn bộ hệ thống ngân hàng. Ngân hàng trung ương là một cơ quan quan trọng trong bộ máy quản lý vĩ mô của Nhà nước, nhiệm vụ cơ bản là ổn định giá trị đồng tiền và quản lý hệ thống tổ chức tín dụng đảm bảo hoạt động an toàn và có hiệu quả, nhằm đạt mục tiêu ổn định và tăng trưởng kinh tế. 1.1.4. Vai trò điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương Điều hành chính sách tiền tệ quốc gia là một vai trò rất quan trọng của Ngân hàng trung ương bởi chính sách tiền tệ quốc gia là chính sách kinh tế vĩ mô mà trong đó Ngân hàng trung ương sử dụng các công cụ của mình để điều tiết và kiểm soát khối lượng tiền cung ứng nhằm đảm bảo sự ổn định giá trị đồng tiền, đồng thời thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, đảm bảo công ăn việc làm. Vai trò này thể hiện ở việc Ngân hàng trung ương có trách nhiệm xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ quốc gia, tức là Ngân hàng trung ương sẽ quyết định về nội dung chủ yếu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ thông qua các chính sách: chính sách cung ứng và điều tiết khối lượng, chính sách tín dụng cho nền kinh tế, chính sách ngoại hối, chính sách tạm ứng cho ngân sách. Việc thực thi chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương sẽ được thực hiện thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ và việc quyết định sử dụng công cụ nào là tùy thuộc vào tình hình kinh tế và bối cảnh tài chính trong từng thời kỳ cụ thể. Từng động thái của Ngân hàng trung ương đều có ảnh hưởng đến các hoạt động của ngân hàng, của doanh nghiệp và tác động mạnh mẽ đến tiềm lực tài chính quốc gia, do đó Ngân hàng trung ương phải rất thận trọng trong từng quyết sách của mình, các quyết định phải dựa vào những định hướng có căn cứ khoa học, dựa vào các tín hiệu của thị trường vào diễn biến trong các lĩnh vực tín dụng, thanh toán, thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường ngoại hối, thị trường vàng, từ đó có các giải pháp hữu hiệu nhằm tạo ra một môi trường ổn định và lành mạnh phục vụ cho tăng trưởng và phát triển kinh tế. 1.2. Chính sách tiền tệ 1.2.1. Khái niệm về chính sách tiền tệ Chính sách tiền tệ nhìn nhận một cách tổng quát là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước do ngân hàng trung ương chịu trách nhiệm khởi thảo và thực thi, thông qua các công cụ của mình thực hiện việc kiểm soát và điều tiết lượng tiền cung ứng nhằm đạt được các mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền, tạo công ăn việc làm, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội. Trong một khoảng thời gian nào đó, chính sách tiền tệ của một quốc gia có thể được xác định theo một trong hai hướng: Chính sách tiền tệ mở rộng: là chính sách tăng tiền cung ứng vào lưu thông nhằm khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất và tạo công ăn việc làm. Chính sách tiền tệ thắt chặt: là chính sách thu hẹp lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế nhằm hạn chế đầu tư, kìm hãm sự tăng trưởng quá mức của nền kinh tế, kiếm soát được lạm phát. Chính sách tiền tệ là một hệ thống các quan điểm, giải pháp, cách thức mà ngân hàng trung ương thực hiện nhằm tác động đến lượng tiền cung ứng trong nền kinh tế, do đó chính sách tiền tệ có một vai trò rất quan trọng đối với mỗi quốc gia, nó quyết định đến sự phồn thịnh hay suy thoái. Việc áp dụng chính sách tiền tệ đúng đắn trong từng thời kỳ phát triển của đất nước sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định cho cả hệ thống kinh tế của một quốc gia. 1.2.2. Hệ thống các mục tiêu chính sách tiền tệ 1.2.2.1. Mục tiêu cuối cùng Chính sách tiền tệ là tổng hòa các phương thức mà ngân hàng trung ương thông qua các hoạt động của mình tác động vào khối lượng tiền trong lưu thông nhằm phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội của đất nước trong từng thời kỳ; trong đó mục tiêu cao nhất là ổn định tiền tệ, tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm. ổn định tiền tệ: ổn định tiền tệ bao gồm ổn định sức mua đối nội và sức mua đối ngoại của đồng tiền quốc gia, nó thể hiện qua việc kiểm soát lạm phát và ổn định tỷ giá hối đoái. Từ đó giúp ổn định giá cả - đây là mục tiêu hàng đầu và dài hạn của chính sách tiền tệ vì khi giá cả ổn định sẽ giúp cho Nhà nước hoạch định được phương hướng phát triển kinh tế một cách có hiệu quả hơn do loại trừ được sự biến động của giá cả, ngoài ra nó còn giúp cho môi trường đầu tư ổn định, góp phần thu hút vốn đầu tư, khai thác mọi nguồn lực xã hội, thúc đẩy các doanh nghiệp và cá nhân phát triển sản xuất dem lại nguồn lợi cho mình cũng như cho xã hội. Tăng trưởng kinh tế: Nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng ổn định là yêu cầu phát triển kinh tế của mỗi quốc gia và là một trong những yếu tố quan trọng để đảm bảo cho sự ổn định của tiền tệ. Ngược lại, tiền tệ ổn định thì tăng trưởng kinh tế mới bền vững, mới nâng cao được thu nhập của người lao động, đảm bảo các chính sách xã hội được thỏa mãn, trên cơ sở đó ổn định về chính trị và xã hội. Nền kinh tế tăng trưởng là khi tỷ lệ tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) lớn hơn nhịp độ tăng dân số. Chính sách tiền tệ phải đảm bảo sự tăng lên của GDP thực tế (tức là sau khi trừ đi tỷ lệ lạm phát cùng thời kỳ). Quá trình thực hiện tăng, giảm lượng tiền cung ứng có ảnh hưởng rất lớn đến thực trạng nền kinh tế. Vì thế một trong những mục tiêu của chính sách tiền tệ là tăng trưởng kinh tế. Công ăn việc làm: Cùng với mục tiêu tăng trưởng kinh tế, chính sách tiền tệ cũng hướng vào mục tiêu tạo công ăn việc làm cho mọi thành viên trong xã hội, nhất là đối với các quốc gia chưa phát triển, năng suất lao động thấp, dân số tăng với tốc độ cao thì tỷ lệ thất nghiệp cao là tất yếu. Vì vậy, chính sách tiền tệ phải tập trung vào việc tạo ra công ăn việc làm nhiều hơn nhằm giảm thất nghiệp bằng các biện pháp tác động để tăng cường vốn đầu tư mở rộng các hoạt động trong nền kinh tế. Tuy nhiên chống thất nghiệp, tạo công ăn việc làm chỉ có thể đảm bảo một tỷ lệ nhất định, khó có thể xóa được thất nghiệp hoàn toàn. Mỗi nước đều có một tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, việc giảm tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên cũng là một trong những mục tiêu của chính sách tiền tệ. Muốn đạt được mục tiêu về công ăn việc làm thì phải kết hợp với chống suy thoái, nhất là suy thoái định kỳ và phải đạt được mức tăng trưởng kinh tế ổn định. 1.2.2.2. Mối quan hệ giữa các mục tiêu cuối cùng Về mặt dài hạn không có mâu thuẫn giữa các mục tiêu của chính sách tiền tệ nhưng trong ngắn hạn các mục tiêu của chính sách tiền tệ có những mục tiêu phù hợp nhưng cũng có những mục tiêu mâu thuẫn thậm chí đối nghịch nhau: Sự mâu thuẫn giữa mục tiêu công ăn việc làm và mục tiêu ổn định tiền tệ: Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, giảm lạm phát để đảm bảo ổn định giá trị đồng tiền, điều đó dẫn đến lãi suát tăng lên, không khuyến khích đầu tư và thất nghiệp có xu hướng tăng lên. Nhưng khi muốn duy trì một tỷ lệ thất nghiệp thấp thì phải khuyến khích đầu tư dẫn đến thực thi chính sách tiền tệ mở rộng lại làm tăng giá. Mặt khác, để thỏa mãn mức cầu tiền thực tế thì phải tăng mức cung tiền tệ, lại làm cho giá cả hàng hóa tăng theo. Hay để giảm tỷ lệ thất nghiệp, ngân hàng trung ương áp dụng các biện pháp để khuyến khích phát triển sản xuất hàng hóa xuất khẩu bằng cách hạ giá đồng nội tệ, tăng giá ngoại tệ dẫn đến giá cả hàng hóa tăng theo. Mối quan hệ giữa ổn định tiền tệ và tăng trưởng kinh tế: Hai mục tiêu này chỉ mâu thuẫn với nhau trong ngắn hạn còn trong dài hạn thì chúng phù hợp với nhau. Tăng trưởng kinh tế là điều kiện để ổn định tiền tệ, ngược lại tiền tệ ổn định sẽ tạo điều kiện để kinh tế ổn định và tăng trưởng. Mối quan hệ giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế và công ăn việc làm: Mục tiêu tăng trưởng và giảm thất nghiệp luôn phù hợp với nhau, thúc đẩy nhau phát triển. Khi đầu tư tăng, khuyến khích tăng trưởng sẽ thu hút vịêc làm, giảm thất nghiệp. Nếu tăng trưởng quá mức, nền kinh tế quá nóng dễ chuyển qua lạm phát, rồi từ chỗ mức lạm phát cao dễ rơi vào tình trạng ngưng trệ và dẫn đến kinh tế suy thoái. Do đó vấn đề đặt ra là chính sách tiền tệ phải tìm được các giải pháp dung hoà được các mục tiêu trong từng giai đoạn cụ thể, để vừa khống chế được lạm phát, nền kinh tế tăng trưởng và đạt được tỷ lệ việc làm cao. Trong quá trình chỉ đạo chính sách tiền tệ, ngân hàng trung ương không thể tác động trực tiếp vào mục tiêu cuối cùng. Vì vậy, ngân hàng trung ương phải chọn các mục tiêu trung gian để từ mục tiêu trung gian tác động được tới mục tiêu cuối cùng. 1.2.2.3. Mục tiêu trung gian Các mục tiêu trung gian của chính sách tiền tệ bao gồm: mức cung tiền tệ (có thể là M1, M2, M3), lãi suất thị trường trung hạn và dài hạn (có thể là một mức lãi suất cụ thể), tỷ giá, khối lượng tín dụng. Hiện nay, các nước thường sử dụng mức cung tiền tệ hoặc lãi suất thị trường làm mục tiêu trung gian của chính sách tiền tệ. Thông qua mục tiêu trung gian, ngân hàng trung ương ảnh hưởng đến AD, từ đó tác động vào mục tiêu cuối cùng. Để được lựa chọn là mục tiêu trung gian thì mục tiêu đó phải đảm bảo tiêu chuẩn định lượng, có thể đưa ra dấu hiệu giúp ngân hàng trung ương biết được tác động của mình là đúng hay sai, ngân hàng trung ương phải kiểm soát và chi phối được mục tiêu này để đạt được mục tiêu cuối cùng, và điều quan trọng hơn là nó phải có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ. Với các mục tiêu trung gian trên, ngân hàng trung ương không thể chủ động tác động một cách hoàn toàn, vì vậy ngân hàng trung ương phải lựa chọn các mục tiêu hoạt động để chỉ đạo thường xuyên và trực tiếp. 1.2.2.4. Mục tiêu hoạt động Mục tiêu hoạt động là chỉ tiêu được ngân hàng trung ương lựa chọn để sao cho khi ngân hàng trung ương sử dụng các công cụ điều tiết thì nó ảnh hưởng đến mục tiêu trung gian. Để được lựa chọn là mục tiêu hoạt động thì các mục tiêu đó phải mang tính định lượng và có thể đo lường được, chỉ tiêu đó phải hết sức nhạy cảm với sự biến động của chính sách tiền tệ và phải tác động đến mục tiêu trung gian. Các mục tiêu hoạt động bao gồm: dự trữ của các ngân hàng thương mại (R) và lãi suất ngắn hạn trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng. Dự trữ của các ngân hàng thương mại ảnh hưởng trực tiếp đến lượng tiền cung ứng vì nó ảnh hưởng đến vốn khả dụng của ngân hàng thương mại do đó ảnh hưởng đến mức cung tiền. Lãi suất ngắn hạn trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng ảnh hưởng trực tiếp đến lãi suất thị trường, từ đó tác động đến lượng tiền cung ứng. 1.2.3. Công cụ của chính sách tiền tệ Công cụ của chính sách tiền tệ là một hệ thống các biện pháp mà ngân hàng trung ương có thể sử dụng để tác động vào mục tiêu của chính sách tiền tệ. Để thực thi chính sách tiền tệ, ngân hàng trung ương đã sử dụng hàng loạt các công cụ như: công cụ tái cấp vốn, lãi suất tín dụng, dự trữ bắt buộc, … Mỗi loại công cụ đều có cơ chế tác động riêng và đem lại những kết quả trên những khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, các công cụ này đều nhằm ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến lượng tiền cung ứng và lãi suất để từ đó đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ. 1.2.3.1. Công cụ trực tiếp Công cụ trực tiếp là công cụ có tác động về lượng và ngân hàng trung ương kiểm soát công cụ bằng biện pháp hành chính. Khi ngân hàng trung ương sử dụng công cụ trực tiếp, nó tác động trực tiếp vào mục tiêu trung gian, từ đó tác động vào AD. Công cụ trực tiếp của chính sách tiền tệ bao gồm: Lãi suất ấn định: Ngân hàng trung ương sử dụng công cụ lãi suất ấn định dưới các hình thức như: ấn định mức lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay; ấn định khung lãi suất, trong đó quy định lãi suất trần tiền gửi, lãi suất sàn cho vay, ấn định lãi suất cân bằng, … Ngân hàng trung ương ấn định trực tiếp lãi suất cho vay để khống chế mức lãi suất mà ngân hàng thương mại áp dụng cho vay với nền kinh tế. Khi ngân hàng trung ương tăng hay giảm trần lãi suất cho vay, ngân hàng thương mại cũng phải tăng, giảm lãi suất cho vay đối với nền kinh tế từ đó gây ảnh hưởng đến nhu cầu vốn của các tổ chức kinh tế. Công cụ này không phù hợp với kinh tế thị trường, hạn chế sự cạnh tranh của các ngân hàng thương mại. Đặc biệt, khi ngân hàng trung ương ấn định mức lãi suất quá thấp sẽ làm cho cầu tiền tăng nhanh hơn dự đoán, các ngân hàng sẽ gặp khó khăn về nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu này nhưng nếu mức lãi suất quá cao sẽ làm cầu tiền giảm, đầu tư giảm, hệ thống ngân hàng thương mại sẽ không kịp điều chỉnh theo, bỏ lỡ cơ hội đầu tư. Việc ấn định lãi suất của ngân hàng trung ương buộc các ngân hàng thương mại phải chấp hành làm hạn chế tính linh hoạt của thị trường tiền tệ, làm giảm tính chủ động kinh doanh của các ngân hàng thương mại. Hạn mức tín dụng Đây là công cụ trực tiếp cúa chính sách tiền tệ. Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà ngân hàng trung ương buộc các tổ chức tín dụng phải tôn trọng khi cấp tín dụng cho nền kinh tế. Khi sử dụng hạn mức tín dụng là khống chế dư nợ tín dụng của các ngân hàng thương mại, từ đó nó quyết định đến lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế vì mỗi khoản cho vay cấu thành dư nợ tín dụng của các ngân hàng thương mại thì tương đương với nó là một lượng nguồn vốn tiền gửi huy động, từ đó ảnh hưởng đến tỷ trọng vốn tín dụng so với lượng tiền cung ứng. Hạn mức tín dụng tác động vào hệ số MR tiền tệ nên tác động vào lượng tiền cung ứng. Hạn mức tín dụng là công cụ hành chính nên ngân hàng trung ương có thể chủ động thay đổi, quy định hạn mức theo mong muốn để đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ. Khi các công cụ khác không có điều kiện áp dụng thì công cụ này có ý nghĩa quan trọng với ngân hàng trung ương và công cụ này có thể phát huy hiệu quả trong trường hợp lạm phát cao. Tuy nhiên, đây là công cụ mang tính hành chính và do con người xác định nên không thể chính xác và nó sẽ không có hiệu quả khi hạn mức tín dụng mà ngân hàng trung ương quy định không phù hợp với nhu cầu tín dụng của nền kinh tế. Đây là công cụ kém linh hoạt, không thể thay đổi thường xuyên. Phát hành trái phiếu ngân hàng trung ương: là một loại giấy nhận nợ do ngân hàng trung ương phát hành ra để huy động vốn trên thị trường. 1.2.3.2. Công cụ gián tiếp Công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ là công cụ mà ngân hàng trung ương có thể sử dụng để tác động trước hết vào mục tiêu hoạt động, sau đó lan truyền đến mục tiêu trung gian và đến mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ. Các loại công cụ gián tiếp: Dự trữ bắt buộc Dự trữ bắt buộc là số tiền mà tổ chức tín dụng phải gửi tại ngân hàng trung ương để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, nó được xác định bằng một tỷ lệ % nhất định trên tổng số dư tiền gửi tùy theo tính chất và thời hạn mà các tổ chức tín dụng huy động được. Tỷ lệ này được gọi là tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Khi ngân hàng trung ương thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc tức là thay đổi dự trữ bắt buộc của các ngân hàng thương mại sẽ tác động vào hệ số MR tiền tệ và do đó tác động vào khả năng tạo tiền của hệ thống ngân hàng nhằm mục đích nâng cao khả năng thanh toán cho các ngân hàng thương mại. Dự trữ bắt buộc là công cụ chủ động của ngân hàng trung ương, ngân hàng trung ương có quyền quy định mà các ngân hàng thương mại không có quyền phản đối, sự thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc là tùy thuộc vào ý muốn của ngân hàng trung ương. Tuy nhiên, việc tăng hay giảm dự trữ bắt buộc không thể thay đổi thường xuyên vì sẽ gây xáo trộn hoạt động của các tổ chức tín dụng dẫn đến việc quản lý vốn khả dụng của các ngân hàng thương mại trở nên khó khăn. Vì vậy, sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc là giải pháp tình thế khi cần thiết phải thắt chặt tiền tệ. Chính sách tái chiết khấu Chính sách tái chiết khấu thể hiện qua việc ngân hàng trung ương cung ứng vốn tín dụng cho các ngân hàng thương mại. Chính sách tái chiết khấu được thể hiện thông qua các cửa sổ chiết khấu. Ngân hàng trung ương áp dụng lãi suất tái chiết khấu và quy định các điều kiện để tái chiết khấu cho các tổ chức tín dụng. Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất ngân hàng trung ương áp dụng để chiết khấu lại các chứng từ có giá của các ngân hàng thương mại. Đây là loại cho vay có bảo đảm. Lãi suất tái chiết khấu tác động vào giá tín dụng nên khi lãi suất tái chiết khấu tăng sẽ tác động vào mặt bằng giá vốn đầu vào của ngân hàng thương mại, gây áp lực và lãi suất nền kinh tế tăng theo, dẫn đến thu hẹp khả năng cho vay của các ngân hàng thương mại, dẫn đến hệ số tạo tiền giảm và ngược lại. Chính sách tái chiết khấu là công cụ có khả năng tác động vào các mục tiêu trung gian của chính sách tiền tệ. Ngân hàng trung ương chủ động sử dụng công cụ này thể hiện qua việc chủ động quy định lãi suất tái chiết khấu, hạn mức tái chiết khấu và các điều kiện chiết khấu cho từng đối tượng cụ thể. Ngân hàng trung ương có thể thay đổi các chỉ tiêu trên nhằm điều tiết tiền cung ứng để đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ. Chính sách tái chiết khấu là công cụ linh hoạt. Ngân hàng trung ương có thể sử dụng công cụ này để thực hiện vai trò người cho vay cuối cùng. Tuy nhiên, công cụ này có nhiều hạn chế: nó không phát huy hiệu quả khi các điều kiện tái chiết khấu không đảm bảo. Nhiều khi ngân hàng trung ương không thể chủ động chi phối được số tiền tái chiết khấu vì nó còn phụ thuộc vào nhu cầu vốn của tổ chức tín dụng. Nghiệp vụ thị trường mở Nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động mua, bán các chúng từ có giá ngắn hạn của ngân hàng trung ương trên thị trường mở (thị trường mở là thị trường tiền tệ mà ở đó người tài sản thực hiện việc mua, bán các công cụ tài chính ngắn hạn). Khi ngân hàng trung ương thực hiện nghiệp vụ thị trường mở sẽ tác động vào các mục tiêu của chính sách tiền tệ cả về mặt giá và mặt lượng. Về mặt lượng là ảnh hưởng của nghiệp vụ thị trường mở vào dự trữ của ngân hàng thương mại, làm ảnh hưởng đến khối lượng tín dụng, từ đó ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng vì khi ngân hàng trung ương thực hiện việc mua chứng từ có giá trên thị trường mở kết quả làm dự trữ của ngân hàng thương mại tăng lên và khi ngân hàng trung ương bán chứng từ có giá trên thị trường mở làm dự trữ của ngân hàng thương mại giảm đi; về mặt giá: khi ngân hàng trung ương mua chứng từ có giá sẽ làm tăng dự trữ của ngân hàng thương mại, cung vốn tín dụng cũng vì thế sẽ tăng lên, dẫn tới ảnh hưởng đến lãi suất ngắn hạn có xu hướng giảm xuống và tác động vào lãi suất có kỳ hạn giảm. Hơn nữa, khi ngân hàng trung ương mua chứng từ có giá trên thị trường mở sẽ ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của các chứng từ có giá dẫn đến có sự chuyển dịch vốn đầu tư, làm ảnh hưởng đến lãi suất thị trường, tác động vào cung – cầu vốn trong nền kinh tế, ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng. Khi ngân hàng trung ương thực hiện việc mua, bán các chứng từ có giá trên thị trường mở sẽ tác động vào giá cả của các chứng từ có giá và khi ngân hàng trung ương thực hiện can thiệp vào giá cả của các chứng từ với khối lượng chiếm tỷ trọng lớn thì vai trò can thiệp của ngân hàng trung ương càng có ý nghĩa quan trọng tác động vào khối lượng tiền cung ứng. ưu điểm của công cụ nghiệp vụ thị trường mở: ngân hàng trung ương có thể chủ động can thiệp về khối lượng nhiều hay ít tuỳ ý, thời gian tuỳ thuộc vào thời gian mà ngân hàng trung ương muốn điều chỉnh lượng tiền cung ứng. Công cụ này có tính linh hoạt cao và là công cụ đầy quyền lực. Tuy nhiên, nghiệp vụ thị trường mở cũng có những hạn chế mà hạn chế lớn nhất là để công cụ này phát huy hiệu quả thì quốc gia đó phải có thị trường tài chính phát triển, hàng hóa của thị trường là các giấy tờ có giá ngắn hạn, phải phong phú, đa dạng, ngân hàng trung ương phải có khả năng dự báo được vốn khả dụng của toàn hệ thống để can thiệp mua, bán như vậy mới có ý nghĩa trong việc tác động vào lượng tiền cung ứng. 1.2.3.3. ưu điểm và hạn chế của hai loại công cụ của chính sách tiền tệ Các công cụ trực tiếp được thừa nhận là đáng tin cậy trong việc kiểm soát khối lượng tín dụng, nhìn chung để áp dụng và đồng thời chi phí thực hiện tương đối thấp. Tuy nhiên, công cụ này lại kém linh hoạt, thiếu chủ động trong việc điều tiết lượng tiền cung ứng, do đó làm giảm hiệu lực của chính sách tiền tệ. Hơn nữa, công cụ này không phù hợp với cơ chế thị trường làm hạn chế sự cạnh tranh của các ngân hàng thương mại và ngân hàng trung ương không điều chỉnh linh hoạt được lượng vốn khả dụng, từ đó có thể dẫn đến những thiệt hại do phân bổ lãng phí các nguồn lực. Việc sử dụng các công cụ trực tiếp chỉ cho phép chính sách tiền tệ tác động đến các mục tiêu vĩ mô thông qua các kênh truyền dẫn trực tiếp, không thực hiện được các kênh dẫn truyền đa dạng qua lãi suất, qua kênh tín dụng và thị trường tài chính với những ảnh hưởng thông qua giá trái phiếu, cổ phiếu và giá ngoại tệ. Trong khi với các công cụ gián tiếp (đặc biệt là công cụ nghiệp vụ thị trường mở) ngân hàng trung ương có thể đa phương tác động để đạt được các mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ qua cả kênh truyền trực tiếp lẫn gián tiếp. Sử dụng công cụ gián tiếp có nhiều ưu điểm và đem lại hiệu quả sâu rộng nhưng chúng cũng có những hạn chế nhất định, chẳng hạn công cụ nghiệp vụ thị trường mở cần phải có một thị trường tài chính phát triển, cần hàng hóa đa dạng, phong phú, … Mỗi loại công cụ đều có những ưu thế và hạn chế riêng do đó ngân hàng trung ương cần xác định thích hợp các loại công cụ được sử dụng kết hợp để có hiệu quả nhằm đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ: tăng trưởng kinh tế bền vững, ổn định tiền tệ và công ăn việc làm cao. 1.2.4. Quy trình và cơ chế tác động của chính sách tiền tệ 1.2.4.1. Quy trình tác động của chính sách tiền tệ Chính sách tiền tệ tác động đến mục tiêu chính sách thông qua những ảnh hưởng dây truyền bắt đầu từ công cụ chính sách tiền tệ đến mục tiêu hoạt động, mục tiêu trung gian. Lãi suất trung và dài hạn Dự trữ bắt buộc Dự trữ ngân hàng Khối lượng tín dụng Lãi suất O/N Khối lượng tiền cung ứng Chính sách tái cấp vốn Nghiệp vụ thị trường mở Tỷ lệ lạm phát Tỷ lệ tăng trưởng Cân bằng cán cân thanh toán Tỷ lệ thất nghiệp - Quy trỡnh tỏc động của chớnh sỏch tiền tệ - Hiệu lực tác động của chính sách tiền tệ: - Đặc điểm cơ chế tác động của chính sách tiền tệ: Thứ nhất, cơ chế tác động của chính sách tiền tệ mang tính lỏng. Đặc điểm này thể hiện ở chỗ quy trình tác động của chính sách tiền tệ trải qua nhiều khâu trung gian và sự phản ứng của nền kinh tế đối với những tác động của chính sách tiền tệ thườ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc35642.doc
Tài liệu liên quan