Nghiên cứu thống kê chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của Xí nghiệp gạch Block thuộc Công ty TNHH nhà nước một thành viên cơ điện công trình giai đoạn 2001- 2008

Lời nói đầu Trong bối cảnh kinh tế nước ta hiện nay đặc biệt là từ khi Việt Nam gia nhập WTO thì sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường diễn ra ngày càng mạnh mẽ, kết quả của sự cạnh tranh ấy là doanh nghiệp nào mạnh thì tồn tại và phát triển, doanh nghiệp nào yếu thì phải ngừng hoặc thu hẹp hoạt động sản xuất. Có rất nhiều yếu tố được dùng làm chỉ tiêu đánh giá mức độ cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường như: yếu tố chất lượng sản phẩm, mẫu mã sản phẩm,…Nhưng trong thời đại công nghệ thôn

doc83 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1408 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Nghiên cứu thống kê chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của Xí nghiệp gạch Block thuộc Công ty TNHH nhà nước một thành viên cơ điện công trình giai đoạn 2001- 2008, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
g tin phát triển với tốc độ như hiện nay thì chất lượng và mẫu mã sản phẩm không phải là yếu tố hàng đầu mà khách hàng quân tâm, yếu tố quyết định đến tính cạnh tranh của sản phẩm chính là giá bán của sản phẩm, với những sản phẩm có tính chất tương tự nhau sản phẩm nào có giá bán thấp hơn sẽ được khách hàng lựa chọn. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh thì giá bán được quyết định bởi giá thành của sản phẩm. Doanh nghiệp nào sản xuất sản phẩm với giá thành càng thấp thì doanh nghiệp đó sẽ càng có lợi thế trong sự cạnh tranh này. Chính vì vậy mà công tác hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong mỗi doanh nghiệp là rất quan trọng và cần thiết. Đó chính là lý do vì sao em chọn đề tài “ Nghiên cứu thống kê chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của Xí nghiệp gạch Block thuộc Công ty TNHH nhà nước một thành viên cơ điện công trình giai đoạn 2001- 2008” để nghiên cứu. Nghiên cứu thống kê chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm sẽ giúp cho Xí nghiệp hiểu rõ chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh để có thể tìm cách loại bỏ những chi phí phát sinh không cần thiết và có thể thu được mức lợi nhuận cao nhất. Trên cơ sở phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm Xí nghiệp mới có thể đề ra các mức giá khác nhau nhằm làm tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Đồng thời, việc nghiên cứu thống kê chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm sẽ cung cấp thông tin, số liệu cho công tác quản lý của của Xí nghiệp, giúp ban lãnh đạo Công ty và Xí nghiệp đưa ra các quyết định đúng đắn, kịp thời trong chiến lược cạnh tranh, tối đa hoá lợi nhuận. Đề tài được chia làm 2 phần : Phần I: Tổng quan Xí nghiệp gạch Block thuộc Công ty TNHH nhà nước một thành viên cơ điện công trình. Phần II: Vận dụng một số phương pháp thống kê phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm gạch của Xí nghiệp gạch Block thuộc Công ty TNHH nhà nước một thành viên cơ điện công trình giai đoạn 2001 – 2008. Trong quá trình thực tập và hoàn thành chuyên đề này, do trình độ của em còn hạn chế nên có nhiều thiếu sót. Vì vậy em rất mong nhận được sự đóng góp của thầy cô và các bạn để em có thể hoàn thiện chuyên đề hơn nữa. Em xin chân thành cảm ơn! Phần I: Tổng quan Xí nghiệp gạch Block thuộc Công ty TNHH nhà nước một thành viên cơ điện công trình. I. Quá trình hình thành và phát triển của xí nghiệp gạch Block. Công ty cơ điện công trình thực hiện chế độ hạch toán kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân đầy đủ, có con dấu riêng, có tài khoản tại ngân hàng. Công ty TNHH nhà nước một thành viên cơ điện công trình được hình thành trên cơ sở là một Xưởng cơ khí được thành lập từ trước năm 1954 với số tài sản ban đầu còn hạn chế, chỉ với 6 chiếc máy cũ và một số công cụ thô sơ lạc hậu khác do Pháp để lại. Trải qua thời kỳ dài khó khăn vất vả nhưng với sự cố gắng, lỗ lực của ban lãnh đạo công ty và toàn thể cán bộ công nhân viên giúp cho công ty ngày càng phát triển lớn mạnh. Đến năm 1992 Công ty cơ điện công trình gồm có 6 đơn vị thành viên : -Xí nghiệp gạch Block Hà nội. -Xí nghiệp xây lắp. -Xí nghiệp khai thác công viên Yên Sở. -Ban quản lý khu đô thị mới Tứ Hiệp. -Ban quản lý dự án quản lý nhà máy rác. -Ban quản lý dự án công viên Yên Sở. Như vậy Xí nghiệp gạch Block chính thức được thành lập vào năm 1992 với nhiệm vụ chính là sản xuất các loại gạch chủ yếu là gạch Block. Quá trình hình thành và phát triển của Xí nghiệp từ khi thành lập đến nay được chia thành 3 giai đoạn như sau : *Giai đoạn 1 : Từ năm 1992 đến năm 1995. Đây là thời gian đầu tiên mà Xí nghiệp mới bắt đầu sản xuất gạch (chỉ sản xuất gạch Block) nên còn bỡ ngỡ, chưa có nhiều kinh nghiệm. Do vậy việc quản lý hoạt động sản xuất, cũng như việc hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm gặp phải rất nhiều khó khăn. Trong giai đoạn này do mới bước đầu thử nghiệm sản xuất gạch nên qui mô sản xuất của xí nghiệp khá nhỏ, số lượng công nhân trực tiếp tham gia sản xuất gạch cũng ít, do vậy việc quản lý về lao động và tiền lương là khá dễ dàng và thuận lợi vì cán bộ quản lý làm việc cho Công ty đã lâu nên rất có kinh nghiệm quản lý. Thêm vào đó dây chuyền công nghệ sản xuất gạch đầu tư trong giai đoạn này cũng còn hạn chế, năng suất lao động không cao. Nhìn chung giai đoạn này hoạt động sản xuất của Xí nghiệp không đạt hiệu quả cao, doanh thu chỉ đủ để bù đắp các khoản chi phí dùng cho hoạt động sản xuất như chi phí nguyên vật liệu, chi phí tiền lương,…thậm chí Công ty còn phải bù lỗ cho Xí nghiệp. Nhưng có trải qua khó khăn thì Xí nghiệp mới có thể trưởng thành và phát triển hơn trong những giai đoạn tiếp theo. *Giai đoạn 2 : Từ năm 1995 đến năm 2000. Trong giai đoạn này Xí nghiệp đã có được những kinh nghiệm quý báu trong việc quản lý hoạt động sản xuất gạch Block. Các cán bộ quản lý của Xí nghiệp đã thực sự hiểu rõ về quá trình sản xuất gạch, nắm bắt được giá cả, khối lượng và nguồn nguyên vật liệu đầu vào cần cho sản xuất gạch. Do vậy công tác hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm được thực hiện 1 cách đầy đủ, rõ ràng. Giúp cho ban lãnh đạo Xí nghiệp có thể xem xét và đánh giá được hiệu quả sản xuất của Xí nghiệp. Dây chuyền sản xuất gạch Block trong giai đoạn này được đầu tư hiện đại hơn, công nghệ sản xuất tiên tiến hơn,do vây năng suất lao động ngày càng tăng lên, quy mô sản xuất được mở rộng hơn cùng với sự tăng lên của số lượng công nhân sản xuất lành nghề. Giai đoạn này Xí nghiệp có tổng số 20 lao động, Xí nghiệp ngày càng chú trọng tới việc đào tạo nâng cao trình độ tay nghề của lao động nhằm làm tăng năng suất lao động và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất cho Xí nghiệp. *Giai đoạn 3 : Từ năm 2000 đến nay. Từ năm 2000 hoạt động sản xuất của Xí nghiệp ổn định và quy mô sản xuất ngày càng được mở rộng hơn. Sản phẩm gạch Block đã chiếm được ưu thế trên thị trường, có tính cạnh tranh cao với các loại sản phẩm gạch khác trên thị trường. Để giữ vững thị phần của mình Xí nghiệp gạch Block không ngừng phấn đấu đảm bảo chất lượng sản phẩm, giữ uy tín với khách hàng. Mặt khác Xí nghiệp luôn nghiên cứu, khai thác, tìm tòi để tìm ra những những mẫu mã, chủng loại gạch mới để đáp ứng nhu cầu trên thị trường, đồng thời Xí nghiệp đã không ngừng đầu tư thiết bị máy móc, mua những dây chuyền sản xuất với công nghệ hiện đại. Vì vậy trong giai đoạn này Xí nghiệp đã sản xuất thêm một số loại gạch mới, như vậy Xí nghiệp đã góp phần tạo công ăn việc làm cho người lao động, giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp cho xã hội, đồng thời nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng doanh thu và lợi nhuận cho Xí nghiệp và toàn Công ty. Như vậy đến nay Xí nghiệp gạch Block đã phát triển lớn mạnh, sản phẩm gạch của Xí nghiệp đã được nhiều khách hàng tin dùng, đặc biệt là dùng cho xây dựng các công trình lớn. Hoạt động sản xuất của Xí nghiệp gạch Block không chỉ mang lại lợi ích cho Xí nghiệp và Công ty, mà còn mang lại lợi ích cho xã hội vì đã góp phần tạo công ăn việc làm cho người lao động. II. Chức năng và nhiệm vụ của Xí nghiệp gạch Block. Xí nghiệp gạch Block là một đơn vị thành viên của công ty Cơ điện công trình có chức năng và nhiệm vụ như sau : 1. Chức năng của xí nghiệp: - Xí nghiệp sản xuất là đơn vị trực thuộc công ty, hạch toán nội bộ, được phép mở tài khoản chuyên chi, chuyên thu. - Có trách nhiệm quản lý, bảo toàn, sử dụng cơ sở vật chất, tiền vốn để tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả, thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước, đóng góp lợi nhuận cho công ty, đảm bảo quyền lợi cho người lao động và sự tăng trưởng của toàn xí nghiệp. - Được quyền tổ chức các phòng ban và đơn vị sản xuất trực thuộc phù hợp với nhu cầu sản xuất kinh doanh. Được quyền tuyển dụng nhân viên và lao động ngắn hạn phục vụ cho nhu cầu sản xuất và quản lý. - Có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ chính trị, nghiệp vụ, chuyên môn kỹ thuật cho cán bộ công nhân viên. Chấp hành pháp luật, thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên. 2. Nhiệm vụ của xí nghiệp : - Chuyên sản xuất và kinh doanh gạch Block các loại. - Trên cơ sở vốn công ty giao cho giám đốc xí nghiệp gồm tài sản cố định (máy móc thiết bị, mặt bằng nhà xưởng,…), công cụ dụng cụ (có quyết định và danh sách kèm theo) phục vụ sản xuất,, vốn lưu động (theo kế hoạch của xí nghiệp) và các chức năng ngành nghề của công ty. Giám đốc xí nghiệp chủ động nghiên cứu tổ chức bộ máy của xí nghiệp đủ điều kiện để kinh doanh điều hành sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm do xí nghiệp sản xuất nhằm bảo toàn và phát triển được nguồn vốn công ty giao, thu nhiều lợi nhuân cho công ty và xí nghiệp. Riêng đối với những tài sản cố định đã hết giá trị khấu hao nhưng vẫn tham gia vào sản xuất gạch, công ty giao cho xí nghiệp sử dụng và phải thực hiện việc quản lý như những tài sản cố định bình thường (có quyết định và danh sách kèm theo). - Chủ động lập kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch tài chính, kế hoạch sử dụng vật tư, nhiên liệu; kế hoạch đảm bảo chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn ISO 9001: 2000, kế hoạch bảo dưỡng sửa chữa máy móc thiết bị, kĩ thuật sản xuất, kế hoạch sử dụng lao động,…Báo cáo về phòng, ban chức năng theo qui định và hướng dẫn cụ thể của các phòng nghiệp vụ (Phòng KHKT, Phòng tài vụ, Phòng TCHChính). - Chủ động xây dựng các định mức kinh tế kỹ thuật nội bộ phù hợp với điều kiện thực tế và từng loại hình sản phẩm của các xí nghiệp theo từng giai đoạn để các phòng, ban chức năng xem xét trình giám đốc phê duyệt. - Chủ động tổ chức bộ máy hoạt động hạch toán kinh doanh theo quy định của luật kế toán ban hành ngày 1 tháng 11 năm 2004, luật thuế GTGT, thuế TNDN và các thông tư hướng dẫn khác ( nghị định số 100/2004/NĐ- CP ngày 15 tháng 2 năm 2004, thông tư số 41/2004/TT- BTC 18/5/2004, nghị định 185/2004/NĐ- CP ngày 4/11/2004, hệ thống văn bản pháp luật hướng dẫn sử dụng mua , bán hoá đơn chứng từ và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi mua, bán, sử dụng trái phép hoá đơn GTGT). - Chủ động quan hệ với Quacert và các cơ quan hữu quan để tổ chức đánh giá hoạt động xí nghiệp theo quy định của hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000. - Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với người lao động theo quy định của luật lao động (lương, BHXH,BHYT,…) III. Cơ cấu tổ chức bộ máy của Xí nghiệp gạch Block. 1. Sơ đồ tổ chức bộ máy hoạt động cuả xí nghiệp. Bộ máy hoạt động của xí nghiệp . PHÓ GIÁM ĐỐC KINH DOANH ĐỘI TIẾP THỊ THU HỒI CÔNG NỢ TỔ SẢN XUÁT 2 PHÓ GIÁM ĐỐC SẢN XUẤT BỘ PHẬN ISO CHẤT LƯỢNG SP ĐỘI XE Ph. BẢO VỆ TỔ SẢN XUẤT 1 GIÁM ĐỐC BỘ PHẬN KẾ TOÁN, THỦ KHO Ph. KỸ THUẬT - Ban giám đốc Xí nghiệp: Gồm có 1 giám đốc và 3 phó giám đốc, trong đó 2 phó giám đốc phụ trách sản xuất và 1 phó giám đốc phụ trách kinh doanh. Các thành viên trong ban giám đốc Xí nghiệp do Tổng giám đốc công ty bổ nhiệm. - Các bộ phận của Xí nghiệp: Trên cơ sở mô hình sản xuất kinh doanh, giám đốc Xí nghiệp tự xây dựng bộ máy của Xí nghiệp cho phù hợp để trình Tổng giám đốc công ty ra quyết định chuẩn y. - Các tổ đội sản xuất: Do giám đốc Xí nghiệp tự tổ chức và quản lý trên cơ sở phù hợp với điều kiện và mô hình sản xuất của Xí nghiệp bảo đảm tính hợp lý và có hiệu quả nhất. 2. Chức năng và nhiệm vụ của từng bộ phận. 2.1 Ban giám đốc Xí nghiệp. Ban giám đốc Xí nghiệp gồm 4 người : một giám đốc và 3 phó giám đốc. + Giám đốc : Là người có quyền điều hành lớn nhất trong Xí nghiệp, đồng thời cũng là người chịu trách nhiệm chung về các hoạt động sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp. Giám đốc Xí nghiệp chịu trách nhiệm cao nhất trước Tổng giám đốc, trước toàn thể ban lãnh đạo của Công ty cơ điện công trình và cơ quan cấp trên về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình sử dụng nguồn vốn cho hoạt động sản xuất. Giám đốc điều hành bộ máy thông qua phó giám đốc và các phòng ban. + Ba phó giám đốc có nhiệm vụ tham mưu cho giám đốc và giúp giám đốc điều hành hoạt động sản xuất, và quản lý Xí nghiệp trong từng lĩnh vực mà mình phụ trách. Cụ thể : Hai phó giám đốc Xí nghiệp phụ trách sản xuất : trong đó một phó giám đốc phụ trách về mảng kỹ thuật điện, tự động hoá và một phó giám đốc phụ trách mảng kỹ thuật cơ khí Xí nghiệp, công tác an toàn lao động. Cả 2 phó giám đốc đều chịu trách nhiệm về điều hành sản xuất trực tiếp tại Xí nghiệp, giao và kiểm tra công việc đối với các tổ sản xuất để đảm bảo phục vụ sản xuất trong ca trực của mình phụ trách; chịu trách nhiệm về năng suất, chất lượng sản phẩm và các hoạt động trong ca sản xuất. Đồng thời chịu trách nhiệm về công tác an toàn cho người lao động. Phó giám đốc Xí nghiệp phụ trách kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm : chịu trách nhiệm về mảng thị trường tiêu thụ và sản xuất. Cụ thể : phụ trách và điều hành trực tiếp bộ phận tiếp thị bán hàng; xây dựng kế hoạch bán hàng theo tháng, quí, năm và triển khai các công việc tới bộ phận tiếp thị bán hàng để thực hiện được doanh số bán hàng. Đồng thời, phó giám đốc cũng có trách nhiệm tìm kiếm các nguồn vật tư hợp lý, trình giám đốc Xí nghiệp mua nhằm tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. 2.2 Chức năng và nhiệm vụ của các bộ phận và phòng ban. Các phòng ban chức năng và các bộ phận được tổ chức theo yêu cầu quản lý sản xuất kinh doanh, chịu sự lãnh đạo của ban giám đốc và trợ giúp cho ban giám đốc điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, cụ thể như sau : * Bộ phận kế toán, thủ kho : giúp ban giám đốc Xí nghiệp trong việc hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm gạch hàng tháng. Báo cáo về sản lượng gạch hoàn thành nhập kho, xuất kho và lượng sản xuất dở dang hàng tháng. Căn cứ vào đó phòng kế hoạch đầu tư phát triển của Công ty sẽ tính toán và lập kế hoạch sản xuất cho Xí nghiệp trong thời gian tiếp theo. * Phòng kỹ thuật : thực hiện các công tác kỹ thuật trong Xí nghiệp như việc bảo dưỡng, bảo trì máy móc thiết bị nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm gạch, đồng thời bảo đảm an toàn cho người lao động. * Đội tiếp thị thu hồi công nợ : làm việc dưới sự chỉ đạo của phó giám đốc phụ trách kinh doanh, tiêu thụ sàn phẩm, có trách nhiệm quảng cáo giới thiệu sản phẩm với khách hàng, khi khách hàng mua sản phẩm của Xí nghiệp mà còn nợ thì đội sẽ có trách nhiệm đi thu hồi khoản nợ đod về cho Xí nghiệp. * Phòng bảo vệ : chịu trách nhiệm về việc bảo vệ tài sản và của Xí nghiệp và an ninh chung của toàn Công ty. * Đội xe : chịu trách nhiệm trong việc vận chuyển sản phẩm đến cho khách hàng, các công trình đang thi công theo hợp đồng mua bán với Xí nghiệp. * Bộ phận ISO chất lượng sản phẩm : chịu trách nhiệm về chất lượng của sản phẩm gạch, có trách nhiệm kiểm tra thường xuyên chất lượng của sản phẩm, nếu chất lượng của sản phẩm thấp hơn mức tiêu chuẩn thì phải báo cáo cho phó giám đốc phụ trách kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm cho các đơn đặt hàng. * Các tổ sản xuất : làm việc dưới sự chỉ đạo của phó giám đốc phụ trách sản xuất. Các tổ sản xuất phải chịu trách nhiệm về khối lượng và cả chất lượng của sản phẩm, nhằm tạo điều kiện cho Xí nghiệp giao hàng đúng thời hạn và bảo đảm chất lượng sản phẩm. IV. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp gạch Block. Đặc điểm về nguồn lực 1.1 Đặc điểm về vốn. Xí nghiệp gạch Block là một đơn vị trực thuộc công ty TNHH nhà nước một thành viên cơ điện công trình, do vậy nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp phần lớn là do nhà nước cấp vốn, ngoài ra còn có những nguồn vốn bổ sung hàng năm từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh (lợi nhuận) của xí nghiệp và công ty. Trong tổng nguồn vốn của Xí nghiệp thì vốn cố định chiếm tỷ trọng lớn, ta có số liệu về nguồn vốn của Xí nghiệp trong một số năm gần đây như sau: Đơn vị : triệu đồng. Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Tổng nguồn vốn 22690 22690 25582 30870 1. Vốn cố định 16736 16736 18708 21845 2. Vốn lưu động 5954 5954 6874 9025 Xí nghiệp gạch Block cũng như toàn thể công ty cơ điện công trình luôn cố gắng để sử dụng nguồn vốn một cách có hiệu quả nhất. Việc quản lý, sử dụng và bảo toàn vốn sản xuất kinh doanh của công ty được đảm bảo, hàng năm công ty cũng như xí nghiệp đều có lợi nhuận, điều đó cũng có nghĩa là việc đầu tư của nhà nước là có hiệu quả. 1.2 Đặc điểm về tài sản. Trong quá trình hoạt động và phát triển, hàng năm Công ty cơ điện công trình nói chung cũng như Xí nghiệp gạch Block nói riêng luôn quan tâm, chú trọng tới việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Như việc đầu tư xây dựng văn phòng công ty, xí nghiệp, trang thiết bị văn phòng, thông tin liên lạc, dây chuyền sản xuất gạch Block, xưởng sản xuất, sân bãi phục vụ sản xuất, bãi trông giữ xe,… Tài sản của xí nghiệp gạch Block chủ yếu là các máy móc thiết bị phục vụ cho việc sản xuất gồm: - Văn phòng xí nghiệp gạch, nhà điều hành sản xuất. - Sân, bãi, nhà xưởng sản xuất gạch tại Sài Đồng. - Dây chuyền sản xuất gạch Block Rometta. - Dây chuyền sản xuất gạch Block Omag. - Máy sản xuất gạch Block Hàn Quốc. - Thiết bị vui chơi sao chổi. - Khuôn ép gạch các loại. - Máy trộn bê tông, máy cắt bê tông, máy đầm, máy khoan, cắt, hàn, máy phát điện, kinh vĩ, thuỷ bình,… - Phương tiện vận tải: xe cẩu các loại; xe nâng, xe thang, xe xúc các loại; ôtô tải nhẹ các loại,… Những đầu tư này đã mang lại hiệu quả cao trong việc ổn định sản xuất, tăng năng suất lao động, chiếm lĩnh thị trường.Đồng thời, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và lợi nhuận cho Xí nghiệp và công ty, giúp cho xí nghiệp và công ty ngày một phát triển, đời sống cán bộ công nhân viên được ổn định. 2. Đặc điểm về lao động. Hiện nay Xí nghiệp có tổng số 32 cán bộ công nhân viên, trong đó có 7 nhân viên quản lý. Số lao động còn lại phần lớn là công nhân kỹ thuật có tay nghề cao được đào tạo ở các trường đại học và cao đẳng, một số công nhân thì mới tốt nghiệp phổ thông và trung học chuyên nghiệp. Mỗi công nhân đều được sắp xếp vào những vị trí phù hợp với năng lực của mình. Lao động của Xí nghiệp có độ tuổi trung bình, nhưng ban lãnh đạo của Xí nghiệp có độ tuổi khá cao, một số đã sắp đến tuổi về hưu; còn công nhân trưc tiếp tham gia hoạt động sản xuất còn khá trẻ. Đó chính là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của Xí nghiệp, vì ban lãnh đạo có kinh nghiệm sẽ xây dựng được kế hoạch phát triển cho Xí nghiệp đạt hiệu quả cao nhất, còn công nhân trẻ sẽ làm việc nhanh nhen và chính xác, đồng thời việc đào tạo nâng cao tay nghề cho công nhân cũng sẽ dễ dàng hơn. 3. Đặc điểm về sản phẩm. - Xí nghiệp sản xuất rất nhiều loại gạch, nhưng sản phẩm chính của xí nghiệp là các loại gạch Block : + Gạch Block P1; P2. + Gạch Block P3. + Gạch Block P4; P5; P6. + Gạch Block P7. + Gạch Block P10. + Gạch Block P11. Ngoài ra Xí nghiệp còn sản xuất các loại gạch khác như: + Gạch cỏ. + Gạch kè. + Gạch bó vỉa. + Gạch xây CB- 1B. + Gạch xây CB- 2B. + Gạch xây CB- 3B. Hiện nay công ty vẫn đang tiếp tục nghiên cứu, thiết kế những mẫu mã, chủng loại gạch mới nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường. Đồng thời tăng sản lượng gạch tiêu thụ trên thị trường và tăng doanh thu cho xí nghiệp và công ty. Đặc điểm về thị trường và khách hàng. Trong nhưng giai đoạn đầu mới thành lập thị trường tiêu thụ gạch Block còn hạn hẹp, gạch Block chưa được phổ biến rộng rãi, mới chỉ ở phạm vi nhỏ của Hà Nội. Nhưng trong những giai đoạn tiếp theo nhờ sự nỗ lực, cố gắng của toàn thể cán bộ công nhân viên Xí nghiệp, gạch Block đã chiếm được ưu thế trên thị trường, không những được tiêu thụ rộng rãi trên địa bàn Hà Nội mà còn vươn ra tới các tỉnh ngoại thành. Điều đó cho thấy sản phẩm gạch của Xí nghiệp gạch Block với chất lượng đảm bảo đã tạo được uy tín và niềm tin cho khách hàng, nhờ vậy mà xí nghiệp đã ký được những hợp đồng lớn với các khách hàng quen thuộc của xí nghiệp.Một số đơn vị khách hàng mua sản phẩm của xí nghiệp với số lượng lớn hàng năm như: Công ty cổ phần XD CT GT; Cty cổ phần XD TM Hoàng thành; Cty xây dựng số 1 HN; Cty cổ phần công nghiệp Enhất; Cty CT giao thông Việt Lào; Cty cổ phần xây dựng số 2; Tổng Cty Thăng Long, … Các cán bộ công nhân viên của Xí nghiệp gạch Block vẫn đang tiếp tục phấn đấu thực hiện tốt các qui định về chất lượng sản phẩm gạch của mình, giữ uy tín với các đối tác, nhằm ổn định và tăng dần sản lượng gạch tiêu thụ hàng năm. Bên cạnh đó cũng cần phải có kế hoạch khai thác mở rộng thị trường hơn nữa, tìm kiếm các đối tác tiềm năng để có thể liên tục tăng sản lượng gạch tiêu thụ hàng năm, góp phần làm tăng doanh thu và lợi nhuận cho Xí nghiệp và toàn Công ty. 5. Quy trình sản xuất gạch Block. * Sơ đồ về quy trình sản xuất gạch Block. Bãi chứa vật liệu Bun ke chứa nguyên vật liệu: đá, mạt Băng tải cân đá, mạt đá, cát vàng Gầu vận chuyển Thiết bị vệ sinh và đảo mặt palét Si lô chứa xi măng Si lô chứa xi măng Xe nâng Giá xếp gạch sau khi tạo hình Vít tải xi măng Phễu cân xi măng Máy trộn bê tông Thang nâng palét có sản phẩm sau khi tạo hình Băng tải v/c gạch sau khi tạo hình Máy rung ép tạo hình sản phẩm Xe nâng Thang hạ sản phẩm Băng tải vận chuyển gạch thô Thiết bị gắp gạch khô Bãi bảo dưỡng gạch khô Quy trình sản xuất thực tế gồm 3 bước sau: - Trộn phối vật liệu: Nguyên vật liệu dùng để sản xuất gạch Block là xi măng đen, xi măng trắng, cát vàng, đá 0.5 – 1, mạt đá, bột màu và nước (tuỳ từng yêu cầu có thể đưa thêm phụ gia bêtông). Nguyên liệu đá 0.5 – 1, mạt đá, cát vàng sau khi nhập vào được đổ vào bãi chứa, xi măng đen, xi măng trắng được bơm vào silô chứa bằng thép bởi các xe vận chuyển chuyên dùng. Bột màu vô cơ đựng trong bao PE nhập về để trong kho. Vật liệu đá, mạt đá, cát vàng từ bãi chứa được xe xúc lật xúc mỗi loại vào một bunke riêng biệt. Cấp phối bêtông theo tỉ lệ tính toán thiết kế và theo yêu cầu chất lượng sản phẩm thông qua máy vi tính. Hỗn hợp vật liệu sau khi được định lượng theo cấp phối được đổ vào gầu vận chuyển (skip) để đưa lên máy trộn cưỡng bức nằm ở phía trên máy tạo hình. Trộn hỗn hợp vật liệu: Xi măng đen được vít tải lấy từ silô chuyển vào phễu cân xi măng. Khi nào cân đủ số lượng xi măng theo yêu cầu thì vít tải ngừng hoạt động và xả vào máy trộn. Hỗn hợp vật liệu được trộn trong máy trộn từ 1 – 2 phút, sau đố nước được bơm vào máy trộn. Máy trộn sẽ trộn hỗn hợp từ 8 – 10 phút, khi trộn xong bê tông được xả xuống phễu chứa vật liệu của máy tạo hình nằm phía dưới máy trộn. Trộn hỗn hợp màu: Để phục vụ yêu cầu của sản phẩm trang trí cần trộn thêm các loại màu. Nguyên liệu sử dụng gồm có cát vàng rửa sạch(cát mịn), xi măng trắng và bột màu. Quá trình cân cát mịn, xi măng trắng tương tự như cân cấp phối bê tông. Bột màu được cân ở ngoài, khi trộn đều cát mịn và xi măng trắng thì đổ bột màu vào trộn đều trong 2 phút sau đó bơm nước, tất cả được trộn từ 4 – 5 phút và xả xuống phễu chứa vữa màu của máy tạo hình. - Tạo hình sản phẩm: Hỗn hợp trên sau khi trộn được chứa trong hai phễu của máy chính rung ép tạo hình sản phẩm. Tùy từng loại sản phẩm mà thay thế các loại khuôn và chế độ rung ép thích hợp. Hỗn hợp vật liệu từ phễu chứa của máy được xả vào hộp nạp liệu, hộp nạp liệu chứa hỗn hợp bêtông được đẩy lên trên khuôn dưới và kéo về vị trí cũ. Khi hỗn hợp bêtông đã đổ đầy vào khuôn, khuôn trên rơi xuống vừa rung vừa ép bằng xi lanh thuỷ lực kết hợp với rung khuôn dưới. Sau đó khuôn trên được nhấc lên, hộp nạp liệu chứa hỗn hợp vữa màu tiến lên phía trên khuôn dưới và kéo về vị trí cũ. Hỗn hợp vữa màu được phủ một lớp mỏng từ 1 – 1.5 cm bề mặt khuôn, khuôn trên rơi xuống rung ép lần hai tạo cho sản phẩm có độ bền màu cao. Kết thúc rung ép khuôn trên đứng im khuôn dưới đẩy lên, sản phẩm được đẩy xuống tấm palét phía dưới. Các sản phẩm sau khi đã nằm trên tấm palét sẽ được đẩy ra ngoài băng tải xích nhờ xi lanh thuỷ lực, đồng thời tấm palét khác được đưa vào thay thế để cho chu kỳ rung ép tạo hình sản phẩm tiếp theo.Khi sản phẩm ra đến băng tải xích khuôn dưới hạ xuống, khuôn trên đi lên và lặp lại chu kỳ này. Băng tải xích vận chuyển sản phẩm nằm trên palét đến thang nâng. Thang nâng có nhiệm vụ nâng các palét có sản phẩm lên cao dần theo từng lớp. Thang nâng nâng sản phẩm lên cao 6 lớp thì dừng lại, xe nâng có giá tương ứng với thang nâng sẽ nâng các palét có sản phẩm sau khi tạo hình xong xếp ở các giá từ 5 – 6 giờ thì được phun nước bảo dưỡng. - Tháo dỡ sản phẩm: Gạch lưu ở giá bảo dưỡng khoảng 24 giờ thì được xe nâng vận chuyển đến thang hạ palét. Thang hạ này có nguyên lý hoạt động ngược thang nâng. Các palét có sản phẩm từ từ được hạ xuống băng tải xích và được chuyển đến thiết bị gắp và xếp lên kệ thành từng khối. Những viên gạch bị hỏng trong quá trình tạo hình, vận chuyển được loại ra và thay bằng những viên đạt yêu cầu. Palét sau khi dỡ xong sản phẩm tiếp tục theo băng tải xích chạy đến thiết bị quét sạch mặt palét và đảo mặt palét nhằm tránh hiện tượng palét chỉ làm việc đẫn đến hiện tượng cong vênh làm giảm tuổi thọ sử dụng của palét. Sau khi qua thiết bị vệ sinh và đảo mặt, palét được đẩy vào hộp nạp palét để tiếp tục tạo hình. Sản phẩm sau khi đóng khối trên kệ sẽ được xe nâng vận chuyển ra khu vực bảo dưỡng ngoài trời, sản phẩm sẽ được tưới nước ướt cho đến 28 ngày và để khô tự nhiên. 6. Công nghệ sản xuất. Công ty có một số đơn vị thành viên tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh theo sự chỉ đạo của Công ty. Các đơn vị thành viên phân bố tại các địa điểm khác nhau, tham gia vào sản xuất kinh doanh trên nhiều lĩnh vực, từ sản xuất đến kinh doanh toà nhà chung cư , kinh doanh bất động sản, quản lý công viên, tham gia các dự án của Sở giao thông công chính Hà Nội. Xí nghiệp gạch Block là một đơn vị thành viên trực thuộc Công ty. Xí nghiệp chuyên sản xuất gạch Block các loại trên dây chuyền công nghệ hiện đại của Châu Âu. Hàng năm xí nghiệp có thể sản xuất được 200.000 m2 gạch lát hè tự chèn hoặc 30.000 m2 gạch Block bêtông xây, Xí nghiệp gạch Block đã được cấp giấy chứng nhận về hệ thống quản lý chất lượng đạt tiêu chuẩn TCVN ISO 9001 : 2000/ ISO 9001 : 2000, TCVN 6476 : 1999. Tại Xí nghiệp toàn bộ qui trình sản xuất được tự động hóa hoàn toàn từ khâu cấp nguyên vật liệu cho đến ra sản phẩm. Máy ép chính bằng thuỷ lực TYPE 2030 có bộ rung khuôn dưới và bộ rung khuôn trên làm tăng tối đa chất lượng sản phẩm, cường độ chịu nén đạt từ 10 – 600 kg/cm2, chiều cao sản phẩm đạt tới 400 mm. Thiết bị làm màu 2 lớp với máy chính để tạo lớp màu trên bề mặt sản phẩm, có chiều dày từ 7 – 8 mm với độ đồng nhất và liên kết vững chắc. Dây chuyền thiết bị vận hành và lưu trữ số liệu điều khiển bằng máy vi tính (P.L.C). Do đó các thông số cần thiết có thể điều chỉnh được, bởi vậy sản phẩm đạt chất lượng cao và ổn định. V. Một số kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp gạch Block thời gian qua. Xí nghiệp gạch Block thuộc Công ty cơ điện công trình chuyên sản xuất kinh doanh các loại gạch Block. Vì vậy kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp được thể hiện qua sản lượng gạch từng loại hàng năm Xí nghiệp sản xuất được. Sản lượng gạch của xí nghiệp sản xuất qua một số năm: Đơn vị : viên. Loại gạch Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 P1; P2 3540320 3873240 3952210 3134250 4027600 3916800 3974996 5846400 P3 1725000 1635200 1529630 1865300 2000400 2398400 2450000 2528000 P4 1832050 1910230 1982580 2102320 2125500 2235400 2575000 2546400 P5;P6 2350000 2530200 2450200 2016540 2950200 2086400 2800000 2059200 P7 1855000 1826400 1653200 1739210 1823100 1958400 2050000 2592000 P10 2025300 2135600 2456200 2526400 2732500 2831200 2000004 2616000 P11 1005600 985200 890100 983910 1050300 1152000 1549996 1624000 Kè 1350200 1450000 1505000 1617500 1431500 1592000 1630000 1760030 Cỏ,bóvỉa 1310550 1884600 1715500 1462320 1681200 1547136 1371996 1612480 Xây CB 1751400 1331640 1517465 1302306 1040230 1176992 1460096 1308800 Tổng 1.9E+07 2E+07 2E+07 1.9E+07 2.1E+07 2.1E+07 2.2E+07 2.4E+07 Ngoài ra kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp trong giai đoạn 2001 – 2008 còn được thể hiện qua một số chỉ tiêu trong bảng sau: Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 Dthu (trđ) 22578.4 24572.1 24865.4 25002.3 25846.5 27526.2 29092.2 34386.8 Lnhuận(trđ) 387.85 417.73 447.58 450.04 478.16 522.99 552.75 550.19 GO (trđ) 22505.4 25640.2 26150.1 26525.3 26825.6 27950.1 29254.3 29850.5 Nhìn chung trong giai đoạn 2001 – 2008 kết quả hoạt động sản xuất của Xí nghiệp gạch Block có xu hướng tăng lên. Phần II : Vận dụng một số phương pháp thống kê phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm gạch của Xí nghiệp gạch Block thuộc Công ty TNHH nhà nước một thành viên cơ điện công trình giai đoạn 2001 – 2008. Những vấn đề lý luận chung về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Nguồn tài liệu tham khảo “ giáo trình hạch toán kế toán trong doanh nghiệp và giáo trình thống kê công nghiệp”. 1.Những vấn đề chung về chi phí sản xuất. 1.1 Khái niệm và vai trò chi phí sản xuất của doanh nghiệp. 1.1.1 Khái niệm. Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm). Đó là những chi phí được bỏ ra để tạo ra giá trị của sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất. Vai trò của chi phí sản xuất. Chi phí sản xuất không chỉ là mối quan tâm của doanh nghiệp, của nhà sản xuất mà còn là mối quan tâm của người tiêu dung và của xã hội. Giảm chi phí sản xuất làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp, tăng tính cạnh tranh của hàng hoá, đồng thời cũng làm tăng lợi ích cho người tiêu dùng. Phân loại chi phí sản xuất. Chi phí sản xuất kinh doanh có rất nhiều loại, nhiều khoản, khác nhau cả về nội dung, tính chất, công dụng, vai trò, vị trí,…Để thuận lợi cho công tác quản lý và hạch toán, cần thiết phải tiến hành phân loại chi phí sản xuất. Phân loại chi phí sản xuất là việc sắp xếp chi phí sản xuất vào từng loại, từng nhóm khác nhau theo những đặc trưng nhất định. Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được phân loại theo các tiêu thức sau: 1.2.1 Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố (nội dung kinh tế của chi phí). Theo cách phân loại này toàn bộ chi phí sản xuất ._.được chia thành 5 yếu tố sau: - Chi phí nguyên vật liệu: Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ,…mà doanh nghiệp đã sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ. Loại này có thể chia thành 2 yếu tố là chi phí nguyên vật liệu và chi phí nhiên liệu động lực. - Chi phí nhân công: bao gồm toàn bộ số tiền lương, phụ cấp và các khoản trích trên tiền lương theo quy định của công nhân, viên chức trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Loại này có thể chia thành 2 yếu tố: Chi phí tiền lương và chi phí BHXH, BHYT, KPCĐ. - Chi phí khấu hao TSCĐ: Phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ phải trích trong kỳ tất cả TSCĐ sử dụng cho sản xuất - kinh doanh trong kỳ. - Chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh toàn bộ chi phí dịnh vụ mua ngoài dùng vào sản xuất – kinh doanh. - Chi phí khác bằng tiền: Phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa phản ánh ở các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất – kinh doanh trong kỳ. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố có tác dụng giúp ta biết được những chi phí đã dùng vào sản xuất và tỷ trọng của từng loại chi phí đó là bao nhiêu, là cơ sở để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện chi phí sản xuất, làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch cung ứng vật tư, tiền vốn, huy động sử dụng lao động, xây dựng kế hoạch khấu hao TSCĐ,… 1.2.2 Phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm. Phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục giá thành là sắp xếp những chi phí có những công dụng giống nhau vào cùng một khoản mục chi phí. Bao gồm: - Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp: Phản ánh toàn bộ chi phí về nguyên, vật liệu chính, phụ, nhiên liệu,… tham gia trực tiếp vào việc sản xuất, chế tạo sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ. - Chi phí nhân công trực tiếp: Gồm tiền lương, phụ cấp lương và các khoản trích cho các quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lệ với tiền lương phát sinh của công nhân trực tiếp sản xuất. - Chi phí sản xuất chung: Là những chi phí phát sinh trong phạm vi phân xưởng sản xuất (trừ chi phí vật liệu và nhân công trực tiếp). VÍ dụ như chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí NVL, công cụ dụng cụ, khấu hao TSCĐ, chi phí dịch vụ mua ngoài,… dùng cho phân xưởng. Cách phân loại này giúp ta tính và thể hiện được giá thành sản phẩm theo khoản mục chi phí và phân tích tình hình thực hiện mục tiêu giảm từng mục chi phí trong giá thành sản phẩm. Ngoài cách phân loại trên, chi phí sản xuất kinh doanh còn được phân loại theo nhiều cách khác nhau như phân theo quan hệ của chi phí với khối lượng công việc hoàn thành; phân theo quan hệ của chi phí với quá trình sản xuất,… Khi phân loại chi phí cần xuất phát từ nhu cầu cung cấp thông tin của các chủ thể quản lý để lựa chọn cách phân loại chi phí thích hợp nhằm phục vụ cho việc hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm. Những vấn đề chung về giá thành sản phẩm của doanh nghiệp. Khái niệm, ý nghĩa giá thành sản phẩm của doanh nghiệp. Khái niệm. Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lượng công tác, sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành. Giá thành sản phẩm bao gồm toàn bộ chi phí về lao động vật hoá và chi phí về lao động sống dùng cho sản xuất. Trong đó: Chi phí về lao động vật hóa bao gồm các khoản nguyên vật liệu, nhiên liệu, tư liệu lao động như nhà xưởng, máy móc, thiết bị,…và một số chi phí khác như chi phí dịch vụ mua ngoài, thuê ngoài, các khoản lệ phí trong quá trình sản xuất. Chi phí về lao động sống là tiền lương của lao động trực tiếp sản xuất, lao động quản lý tại các phân xưởng, các khoản phụ cấp có tính chất lương và các khoản trích theo lương như bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn. Ý nghĩa. Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả sử dụng vật tư, tài sản, nguồn vốn và lao động trong quá trình hoạt động sản xuất – kinh doanh. Đồng thời phản ánh kết quả các giải pháp tổ chức, kinh tế, kỹ thuật cũng như công nghệ mà doanh nghiệp đã sử dụng nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, hạ giá thành và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Do đó giá thành sản phẩm là căn cứ đánh giá chất lượng và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Phân loại giá thành sản phẩm. Xét theo tính chất hoàn thành của sản phẩm sản xuất. - Giá thành hoàn chỉnh: Là giá thành sản xuất 1 đơn vị thành phẩm. Giá thành hoàn chỉnh là cơ sở để doanh nghiệp quyết định giá bán cho các đơn vị đại lý hoặc giá bán buôn của doanh nghiệp. - Giá thành không hoàn chỉnh: Là giá thành của từng khâu hoặc một số khâu công việc sản xuất ra một đơn vị bán thành phẩm. Ví dụ: Chi phí để kéo được 1 tấn sợi, dệt được 1000 mét vải trong doanh nghiệp dệt được gọi là giá thành không hoàn chỉnh. Còn chi phí để làm ra thành phẩm (quần áo) là giá thành hoàn chỉnh. Giá thành không hoàn chỉnh được dùng để phân tích nguyên nhân ảnh hưởng đến giá thành hoàn chỉnh và là căn cứ để xây dựng định mức phấn đấu giảm giá thành sản xuất 1 đơn vị thành phẩm ở chu kỳ sản xuất sau. Xét theo giai đoạn của quá trình sản xuất. - Giá thành sản xuất 1 đơn vị sản phẩm : Là biểu hiện bằng tiền toàn bộ chi phí vật chất, dịch vụ, lao động và tiền tệ đã chi ra để sản xuất ra 1 đơn vị sản phẩm (vật chất và dịch vụ) của doanh nghiệp trong kỳ nghiên cứu. - Giá thành 1 đơn vị sản phẩm tiêu thụ: Là chi phí đã chi ra để sản xuất và tiêu thụ 1 đơn vị sản phẩm. Giá thành Giá thành sản Chi phí để tiêu 1 đơn vị sản = xuất 1 đơn vị + thụ 1 đơn vị phẩm tiêu thụ sản phẩm sản phẩm. Xét trên giác độ tính toán các yếu tố chi phí giá thành sản phẩm. - Giá thành tính theo hao phí lao động xã hội cần thiết: Tất cả các yếu tố chi phí được tính theo đơn giá của nhu cầu xã hội. Ví dụ như chi phí về tiền lương hạch toán theo mức xã hội cần thiết, tức là theo bậc lương mà hiện đang áp dụng. - Giá thành tính theo hao phí lao động thực tế: Tất cả các yếu tố chi phí được tính theo mức chi phí thực tế. Đây mới là số chi phí thực mà doanh nghiệp công nghiệp đã phải bỏ ra. So sánh nó với giá bán thực tế người ta mới biết được mức lỗ, lãi của doanh nghiệp. Ví dụ như chi phí về tiền lương, trong trường hợp này phải hạch toán theo số thực tế mà doanh nghiệp công nghiệp đã chi trả cho người lao động. 2.2.4 Xét theo thời điểm tính. - Giá thành kế hoạch: Là giá thành được xác định trước khi bắt đầu sản xuất của kỳ kế hoạch dựa trên cơ sở các định mức, các dự toán chi phí của kỳ kế hoạch và giá thành thực tế kỳ trước. Giá thành kế hoạch được coi là mục tiêu mà doanh nghiệp phải cố gắng hoàn thành để thực hiện các mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp. - Giá thành định mức: Là giá thành được xác định trên cơ sở các định mức chi phí hiện hành tại từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch. Giá thành định mức được xem là căn cứ để kiểm soát tình hình thực hiện các định mức tiêu hao các yếu tố khác nhau phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm. Giá thành định mức cũng được xác định trước khi bắt đầu quá trình sản xuất. - Giá thành thực tế: Là giá thành được xác định trên cơ sở các khoản chi phí thực tế trong kỳ để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm. Giá thành thực tế được xác định sau khi đã xác định được kết quả sản xuất trong kỳ. Giá thành thực tế là căn cứ để kiểm tra, đánh giá tình hình tiết kiệm chi phí, hạ thấp giá thành và xác định kết quả sản xuất kinh doanh. 2.3 Ý nghĩa của chỉ tiêu giá thành đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp công nghiệp. Giá thành sản phẩm với các chức năng vốn có đã trở thành chỉ tiêu kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng trong quản lý hiệu quả và chất lượng sản xuất kinh doanh. Giá thành sản phẩm của doanh nghiệp sẽ phản ánh toàn bộ các biện pháp kinh tế, tổ chức, quản lý và kỹ thuật mà doanh nghiệp đã và đang thực hiện trong quá trình sản xuất kinh doanh. Nó cho chúng ta biết được hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thực sự đạt hiệu quả hay không, sản phẩm của doanh nghiệp có đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường hàng hoá hay không, giá thành sản phẩm của doanh nghiệp nào càng thấp thì khả năng cạnh tranh của nó trên thị trường càng cao. Căn cứ vào giá thành của sản phẩm doanh nghiệp sẽ đề ra mức giá bán phù hợp sao cho doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp được ổn định và đần tăng lên. Vì vậy giá thành sản phẩm chính là yếu tố quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp công nghiệp. II. Hướng phân tích chi phí sản xuất và giá thành gạch của Xí nghiệp gạch Block. 1.Phân tích chi phí sản xuất. 1.1 Phân tích qui mô và biến động qui mô CPSX. 1.2Phân tích cơ cấu và biến động cơ cấu CPSX. - Nghiên cứu tổng CPSX theo các khoản chi. 1.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến biến động CPSX. - Mô hình 1 : giá thành sản xuất tính trên 1 đơn vị sản phẩm của từng loại gạch và sản lượng sản phẩm của từng loại gạch. ICz = - Mô hình 2 : Biến động của tổng CPSX do ảnh hưởng của giá thành bình quân sản phẩm gạch và tổng sản lượng gạch. - Mô hình 3 : Biến động tổng chi phí sản xuất do ảnh hưởng của 3 nhân tố: giá thành đơn vị, kết cấu giá thành đơn vị và tổng sản lượng các loại gạch. 1.4 Phân tích xu thế biến động CPSX của Xí nghiệp gạch Block và dự đoán đến năm 2010. (Sử dụng phần mềm SPSS). 2.Phân tích giá thành sản phẩm. Phân tích biến động giá thành sản xuất từng loại gạch. 2.2 Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành. 2.3 Phân tích xu hướng biến động giá thành bình quân của sản phẩm gạch. 2.4 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến biến động giá thành bình quân sản phẩm gạch. 2.5 Phân tích xu thế biến động của giá thành bình quân. III. Các phương pháp thống kê và đặc điểm vận dụng từng phương pháp để nghiên cứu CPSX và giá thành gạch của Xí nghiệp gạch Block. 1.Phương pháp phân tổ. 1.1 Khái niệm phân tổ thống kê. Phân tổ thống kê là căn cứ vào một (hay một số) tiêu thức nào đó để tiến hành phân chia các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu thành các tổ (và các tiểu tổ) có tính chất khác nhau. 1.2 Tác dụng của phương pháp phân tổ. - Khi tiến hành phân tổ thống kê tức là ta đã thực hiện được việc nghiên cứu cái chung và cái riêng một cách kết hợp. Vì sau khi phân tổ các đơn vị tổng thể ban đầu sẽ được chia thành những tổ (hay tiểu tổ) có tính chất khác nhau,những đơn vị trong mỗi tổ (tiểu tổ) lại có tính chất giống hay gần giống với tiêu thức được dùng làm căn cứ phân tổ. Khi chúng ta tiến hành phân tích trong từng tổ hoặc phân tích tất cả các tổ có nghĩa là chúng ta đã phân tích kết hợp cái chung với cái riêng. - Phân tổ thống kê là phương pháp cơ bản để tiến hành tổng hợp thống kê. Vì hiện tượng nghiên cứu có tính chất rất đa dạng và phức tạp, nếu chúng ta tiến hành tổng hợp thống kê đối với tất cả các đơn vị riêng biệt thì rất khó có thể tổng hợp được đầy đủ và cũng rất khó phân tích. Cần phải sắp xếp các đơn vị vào từng tổ, từng bộ phận thì việc tính toán phân tích sẽ đơn giản hơn rất nhiều, bản chất của hiện tượng cũng được phân tích đầy đủ, rõ ràng hơn. - Phân tổ thống kê là một trong các phương pháp quan trọng của phân tích thống kê, đồng thời là cơ sở để vận dụng các phương pháp phân tích thống kê khác, như phương pháp phân tích DSTG, hồi qui tương quan,… 1.3 Điều kiện vận dụng phương pháp phân tổ. Nghiên cứu thống kê về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của Xí nghiệp gạch Block ta có thể thu được con số chung nhất về chi phí như tổng chi phí sản xuất, hoặc là 1 bảng liệt kê rất nhiều các khoản chi phí khác nhau như: chi phí nguyên vật liệu (chính, phụ), chi phí tiền lương, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí sửa chữa lớn và thường xuyên,…Mỗi khoản chi phí chiếm 1 tỷ trọng nhất định trong tổng chi phí sản xuất của Xí nghiệp, nhưng để tiến hành nghiên cứu phân tích CPSX của Xí nghiệp thì việc sử dụng những số liệu đó là rất khó khăn và phức tạp. Để đơn giản hơn cho việc phân tích ta nên phân chia những chi phí đó thành các nhóm chi phí, Ví dụ chia thành 3 nhóm như sau: + Nhóm chi phí nguyên, nhiên, vật liệu: bao gồm tất cả những chi phí có liên quan đến nguyên liệu đầu vào dùng để sản xuất gạch như ximăng, cát vàng, đá,… + Nhóm chi phí nhân công: bao gồm tất cả các khoản chi phí tiền lương và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công. + Nhóm chi phí sản xuất chung: Là những chi phí còn lại có liên quan đến hoạt động sản xuất của sản phẩm gạch của phân xưởng như : chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí sửa chữa TSCĐ, chi phí điện nước,… Vì vậy để nghiên cứu đề tài về CPSX cần phải áp dụng phương pháp phân tổ thống kê phân chia những khoản chi phí có tính chất tương tự nhau vào cùng 1 nhóm. Nhờ vậy ta sẽ đơn giản hoá được bảng số liệu ban đầu, giúp cho việc nghiên cứu, phân tích đề tài dễ dàng hơn. 2.Phương pháp phân tích dãy số thời gian. 2.1 Khái niệm dãy số thời gian. Dãy số thời gian là dãy các số liệu thống kê của hiện tượng nghiên cứu được sắp xếp theo thứ tự thời gian. Việc phân tích dãy số thời gian cho phép nhận thức các đặc điểm biến động của hiện tượng qua thời gian, tính quy luật của sự biến động, từ đó tiến hành dự đoán về mức độ của hiện tượng trong thời gian tới. Ý nghĩa của phương pháp phân tích DSTG. Phương pháp phân tích DSTG cho ta thấy được xu hướng biến động của hiện tượng nghiên cứu theo thời gian, qua đó có thể suy đoán được biến động của hiện tượng trong những thời gian tiếp theo để có thể đưa ra định hướng phát triển 1 cách phù hợp và đạt được hiệu quả cao nhất. Điều kiện vận dụng phương pháp phân tích DSTG. Nghiên cứu thống kê chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm gạch của Xí nghiệp gạch Block thì chúng ta cần phải nắm rõ xem qua từng năm chi phí hay giá thành biến động với lượng tuyệt đối là bao nhiêu, tương đối là bao nhiêu. Như vậy chúng ta sẽ có cái nhìn toàn diện hơn về sự biến động đó. Vì số tuyệt đối chỉ phản ánh qui mô của hiện tượng, còn số tương đối chỉ phản ánh tốc độ phát triển của hiện tượng năm nay so với năm trước nhưng không biết được qui mô của hiện tượng lớn hay nhỏ. Nếu chỉ dùng số tuyệt đối hay số tương đối để đánh giá sự biến động đó sẽ dễ dẫn đến sự nhận xét phiến diện, lệch lạc. Do vậy cần phải kết hợp cả số tuyệt đối và số tương đối để đưa ra được nhận xét chính xác cho hiện tượng nghiên cứu. Vì vậy phương pháp phân tich DSTG là phương pháp quan trọng được áp dụng trong phân tích biến động chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của Xí nghiệp gạch Block. Phương pháp phân tích DSTG tính đến cả biến động tuyệt đối, biến động tương đối sẽ giúp ta đánh giá chính xác về sự biến động của chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. 3.Phương pháp chỉ số. 3.1Khái niệm phương pháp chỉ số. Chỉ số trong thống kê là số tương đối biểu hiện quan hệ so sánh giữa hai mức độ của một hiện tượng nghiên cứu. Chỉ số thống kê được xác định bằng cách thiết lập quan hệ so sánh giữa hai mức độ của hiện tượng ở hai thời gian hoặc không gian khác nhau nhằm nêu lên sự biến động qua thời gian hoặc sự khác biệt về không gian đối với hiện tượng nghiên cứu. Tác dụng của phương pháp chỉ số. Biểu hiện biến động của hiện tượng nghiên cứu qua thời gian là ý nghĩa của chỉ số phát triển. Các chỉ số không gian biểu hiện biến động của hiện tượng qua những điều kiện không gian khác nhau. Chỉ số kế hoạch biểu hiện nhiệm vụ kế hoạch và phân tích tình hình thực hiện kế hoạch đối với các chỉ tiêu nghiên cứu. Phân tích vai trò và ảnh hưởng biến động của từng nhân tố đối với sự biến động của hiện tượng kinh tế phức tạp được cấu thành từ nhiều nhân tố. Thực chất đây cũng là phương pháp phân tích mối liên hệ, nhằm nêu lên các nguyên nhân quyết định sự biến động của hiện tượng phức tạp và tính toán cụ thể mức độ ảnh hưởng của mỗi nguyên nhân này. Điều kiện vận dụng phương pháp chỉ số. Để nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động của chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của Xí nghiệp gạch Block, nghiên cứu xem nhân tố nào có ảnh hưởng chủ yếu đến sự biến động đó chúng ta cần phải biết mỗi nhân tố tác động làm cho chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm biến động lượng tuyệt đối là bao nhiêu, chiếm bao nhiêu % trong tổng số biến động của chi phí và giá thành. Vận dụng phương pháp chỉ số trong nghiên cứu thống kê chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của Xí nghiệp gạch Block sẽ giúp chúng ta làm được việc đó. 4.Phương pháp hồi quy tương quan. 4.1Khái niệm. Mọi hiện tượng kinh tế - xã hội đều có mối liên hệ với 1 hay nhiều hiện tượng khác. Để biết được mối liên hệ giữa các hiện tượng có chặt chẽ với nhau hay không ta cần tính toán các chỉ tiêu như hệ số tương quan, tỷ số tương quan, từ đó có những cách nhìn nhận chính xác về mối lien hệ đó. Đó cũng chính là nhiệm vụ của phương pháp phân tích hồi quy tương quan. Ý nghĩa phân tích hồi quy và tương quan. Phương pháp phân tích hồi quy và tương quan là phương pháp thường được sử dụng trong thống kê để nghiên cứu mối liên hệ giữa các hiện tượng. Ví dụ như mối liên hệ giữa độ tuổi và tỷ lệ sinh đặc trưng theo tuổi; mối liên hệ giữa bậc thợ với năng suất lao động,… Phương pháp phân tích hồi quy và tương quan còn được vận dụng trong một số phương pháp nghiên cứu thống kê khác như phân tích dãy số thời gian, dự đoán thống kê,… Điều kiện vận dụng phương pháp hồi quy tương quan. Khi tiến hành hồi quy xu thế chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của Xí nghiệp gạch Block theo thời gian ta vận dụng hàm xu thế trong phương pháp phân tích DSTG để xây dựng mô hình phù hợp thể hiện mối quan hệ của chúng theo thời gian. Việc đánh giá mức độ chặt chẽ của mối liên hệ đó được thực hiện thông qua hệ số tương quan. Như vậy hồi quy tương quan cũng được áp dụng để nghiên cứu thống kê chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của Xí nghiệp gạch Block. Số tương đối trong thống kê. Khái niệm. Số tương đối trong thống kê biểu hiện quan hệ so sánh giữa hai mức độ nào đó của hiện tượng, đó có thể là kết quả của việc so sánh giữa hai mức độ cùng loại nhưng khác nhau về điều kiện thời gian hoặc không gian; hoặc giữa hai mức độ khác loại nhưng có liên quan với nhau. Trong hai mức độ này, một được chọn làm gốc để so sánh. Ý nghĩa số tương đối. Trong phân tích thống kê, các số tương đối được sử dụng rộng rãi để nêu lên kết cấu, quan hệ so sánh, trình độ phát triển, … của hiện tượng nghiên cứu trong điều kiện lịch sử nhất định. Số tương đối trong thống kê nói lên mặt lượng trong quan hệ mật thiết với mặt chất của hiện tượng nghiên cứu. Trong công tác lập kế hoạch và kiểm tra thực hiện kế hoạch, số tương đối cũng giữ vai trò quan trọng. Nhiều chỉ tiêu kế hoạch được đề ra bằng số tương đối, còn khi kiểm tra thực hiện kế hoạch thì ngoài việc tính toán chính xác các số tuyệt đối, bao giờ cũng phải đánh giá trình độ hoàn thành kế hoạch bằng các số tương đối. Điều kiện vận dụng số tương đối. Bằng cách lập quan hệ so sánh giữa các mức độ chi phí và giá thành giữa những thời gian khác nhau như tháng, quí hoặc năm cho phép ta đánh giá được tình hình thực hiện kế hoạch chi phí và giá thành có đạt được hay không, từ đó đặt ra phương hướng và nhiệm vụ sản xuất – kinh doanh cho thời gian tiếp theo. Do vậy, số tương đối trong thống kê cũng là một phương pháp quan trọng được dùng trong phân tích giá thành sản phẩm. IV. Nguồn thông tin dùng để phân tích đề tài. Để phân tích đề tài cần phải thu thập được nguồn thông tin và số liệu có liên quan đến nội dung cần phân tích. Cụ thể đó là thông tin và số liệu về chi phí sản xuất và giá thành của Xí nghiệp gạch Block thuộc Công ty TNHH nhà nước một thành viên cơ điện công trình. Những thông tin và số liệu về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của Xí nghiệp được lưu trữ ở phòng kế toán tài chính và phòng kế hoạch đầu tư của Công ty. Để thu thập được những số liệu đó thì hàng tháng Xí nghiệp phải nộp lên cho phòng kế toán và phòng kế hoạch đầu tư các báo cáo như sau: TT Nội dung Bảng kê Tiền hàng Thuế Tổng cộng I Chi phí phát sinh 1 Cphí nhiên liệu, vật liệu, phụ tùng thay thế Bảng kê số 1 2 Cphí mua công cụ, dụng cụ Bảng kê số 2 3 Chi phí chung Bảng kê số 3 II Tiền lương của Xí nghiệp 1 Bộ phận sản xuất và gián tiếp Bảng lương 2 Lương bộ phận tiếp thị Bảng lương III Nguyên vật liệu chính nhập trong kỳ IV Tổng cộng Cụ thể bao gồm các bảng báo cáo như sau: Bảng tổng hợp chi phí sản xuất tháng …. năm…. TT Tên sản phẩm SL (viên) NVL Lương văn phòng Lương bảo vệ Chi phí Qlý Sửa chữa txuyên Xăng dầu xe nâng, xe xúc Lương chế độ Đổ xi măng Thuê kiểm định Điện nước Điện thoại Phụ cấp tiếng ồn VPP Sửa chữa giá đỡ Tổng cộng Đ G Tiền Đ G Tiền Đ G Tiền Đ G Tiền Đ G Tiền Đ G Tiền Đ G Tiền Đ G Tiền Đ G Tiền Đ G Tiền Đ G Tiền Đ G Tiền Đ G Tiền Đ G Tiền Cộng Bảng báo cáo nhập - xuất thành phẩm tháng … năm …. Loại SP Mẫu Đơn vị Tồn kho Nhập trong kỳ Xuất trong kỳ Tồn cuối kỳ Ghi chú C.phẩm m2 C.phẩm m2 C.phẩm m2 C.phẩm m2 Cộng Bảng báo cáo tổng hợp sử dụng NVL tháng … năm… STT Tên vật tư Tồn đầu kỳ Nhập trong kỳ Xuất trong kỳ Tổng số Tồn cuối kỳ Trong đó chia ra (số lượng): Sản xuất trực tiếp Các việc khác Sản lượng Giá trị Sản lượng Giá trị Rometa H/Quốc SP phụ vận chuyển xuất bán Tổng xuất Giá trị Sản lượng Giá trị A NVL chính B Nhiên liệu Tổng cộng(A+B) Bảng báo cáo chi phí sửa chữa và dự trù kinh phí sửa chữa máy móc, thiết bị tháng …. năm… TT Tên thiết bị Đơn vị tính Số lượng Giá (chưa VAT) Thành tiền Kế hoạch Mua thiết bị Sửa chữa Bảng báo cáo kế hoạch sản xuất và sử dụng NVL tháng … năm … TT Loại SP Đv tính Sản lượng tồn kho KH sản xuất Nguyên vật liệu Đá (m3) Mạt (m3) Cát vàng (m3) XM trắng (kg) XM đen (kg) Bột màu (kg) Bảng báo cáo chi phí tiền lương của từng bộ phận tháng … năm … TT Họ và tên Chức danh Hệ số Lương CB PCTN Cộng Ăn trưa Cộng BHXH 19% Cộng 1 2 3 Cộng Căn cứ vào các bảng báo cáo đó phòng kế toán sẽ lập bảng tổng hợp chi phí sản xuất của từng tháng và tính được giá thành sản xuất của 1 viên gạch từng loại như sau : Bảng tính chi phi sản xuất và giá thành sản phẩm gạch tháng … năm… TT Khoản mục CP tháng Giá thành từng loại gạch Chi phí sản xuất P1;P2 P3 P4 P5;P6 P7 P10 P11 Cỏ Kè XâyCB 1 NVL 2 Lương văn phòng + sản xuất 3 Lương bảo vệ 4 Sửa chữa lớn thường xuyên phục vụ SX 5 Sửa chữa lớn phục vụ SX 6 Dầu xe nâng, xe xúc 7 Bảo trì máy Rometa 8 Lương chế độ 9 Đổ xi măng trắng vào xilô 10 Điện, nước 11 Điệnthoại(cố định và di động) 12 Phụ cấp tiếng ồn 13 Thuê đất 14 Sơn chống gỉ, làm lại giá đỡ 15 ISO 16 Văn phòng phẩm Tổng cộng Với những số liệu từ bảng báo cáo cán bộ công nhân viên của phòng kế toán và kế hoạch đầu tư sẽ tính được lượng nguyên vật liệu hao phí dùng để sản xuất 1 viên gạch từng loại, đem khối lượng nguyên vật liệu nhân với giá của chúng thì sẽ thu được chi phí nguyên vật liệu cho sản xuất 1 viên gạch từng loại, còn các khoản mục chi phí khác được liệt kê ở bảng trên được phân bổ đều cho mỗi loại gạch bằng cách lấy từng khoản mục chi phí chia cho tổng số viên gạch sản xuất trong 1 tháng sẽ được chi phí sản xuất 1 viên từng loại gạch theo các khoản mục chi phí. Sau đó tổng hợp tất cả các khoản chi phí sản xuất 1 viên gạch từng loại theo khoản mục chi phí ở bảng trên sẽ biết được giá thành sản xuất 1 viên gạch của từng loại. Như vậy muốn thu thập được số liệu dùng để phân tích đề tài này đòi hỏi phải có một quá trình tìm hiểu thật kỹ về phương pháp tính chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của Xí nghiệp, nhằm mục đích thu được số liệu chính xác và nhờ vậy thì kết quả phân tích mới phản ánh đúng tình hình hoạt động sản xuất của Xí nghiệp, trở thành nguồn thông tin có ích cho Xí nghiệp gạch Block. V . Nội dung phân tích cụ thể. 1. Phân tích chi phí sản xuất của Xí nghiệp gạch Block. 1.1 Phân tích quy mô và biến động quy mô chi phí sản xuất. Bảng 1: Biến động tổng chi phí sản xuất của Xí nghiệp gạch Block thời kì 2001-2008. Chỉ tiêu Tổng chi phí sản xuất (Triệu đồng) Biến động Lượng tăng tuyệt đối (Triệu đồng) Tốc độ phát triển (lần) Tốc độ tăng (lần) Giá trị tuyệt đối của 1% tăng (gi) Liên hoàn ( δ ) Định gốc ( Δi ) Liên hoàn ( ti ) Định gốc ( Ti ) Liên hoàn ( ai ) Định gốc ( Ai ) Năm 2001 16869.940  _  _ _   _  _  _ _  2002 17045.310 175.370 175.370 1.010 1.010 0.010 0.010 168.699 2003 17278.090 232.780 408.150 1.014 1.024 0.014 0.024 170.453 2004 17475.940 197.850 606.000 1.011 1.036 0.011 0.036 172.781 2005 17761.360 285.420 891.420 1.016 1.053 0.016 0.053 174.759 2006 17904.530 143.170 1034.590 1.008 1.061 0.008 0.061 177.614 2007 18549.940 645.410 1680.000 1.036 1.100 0.036 0.100 179.045 2008 28133.900 9583.960 11263.960 1.517 1.668 0.517 0.668 185.499 Trung bình 18877.376 160.914 1.076 0.076 Qua kết quả tính toán ở trên ta thấy tổng chi phí sản xuất của Xí nghiệp gạch Block từ năm 2001 – 2008 có xu hướng tăng đều đến năm 2007, và tăng mạnh vào năm 2008. Năm 2008 tổng chi phí sản xuất của Xí nghiệp tăng 51.67% so với năm 2007, nguyên nhân là do mức lạm phát của năm 2008 cao làm cho giá của nguyên nhiên vật liệu tăng mạnh so với những năm trước. Tốc độ phát triển trung bình là 1.076 lần, con số cho thấy rằng trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2008 tổng chi phí sản xuất liên tục tăng lên với mức trung bình là 1.076 lần hay 107.6%. Tốc độ phát triển định gốc của năm 2008 là 1.668 lần cho biết tổng chi phí sản xuất năm 2008 tăng lên mạnh mẽ so với năm 2001. Điều đó có thể được lý giải như sau: thứ nhất là do Xí nghiệp đã tăng sản lượng gạch sản xuất từ 21862.088 nghìn viên năm 2007 lên 24493.310 nghìn viên năm 2008. Thứ hai là do nguyên nhân khách quan và cũng là nguyên nhân quan trọng, đó là do năm 2008 có mức lạm phát rất cao làm cho giá của nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất tăng mạnh trong năm 2008. Thực tế là từ năm 2003 đến nay giá của nguyên liệu đầu vào liên tục tăng và không ổn định, và tăng mạnh nhất vào năm 2008. Điều đó làm ảnh hưởng không nhỏ tới việc thực hiện kế hoạch giá thành của Công ty cũng như của Xí nghiệp, nhiều công ty phải rất cố gắng để vượt qua khó khăn trong giai đoạn này, tuy nhiên cũng có nhiều công ty không đứng vững được và đã bị phá sản. Vấn đề đặt ra đối với các công ty, xí nghiệp hiện nay là làm sao để giảm thiểu chi phí sản xuất mà không phải thu hẹp qui mô sản xuất. Đây là một bài toán khó đòi hỏi các công ty, doanh nghiệp phải sáng suốt lựa chọn cho mình hướng đi phù hợp và hiệu quả nhất. Trước tiên cần phải chủ động trong nguồn nguyên liệu, tích cực tìm kiếm nguồn nguyên liệu mới với giá rẻ, chất lượng cao và ổn định, thuận tiện trong vận chuyển để có thể tiết kiệm được chi phí vận chuyển. Phân tích cơ cấu và biến động cơ cấu chi phí sản xuất. * Phân tích cơ cấu tổng chi phí sản xuất theo khoản mục chi phí. Bảng 2: Cơ cấu tổng chi phí sản xuất theo khoản mục của Xí nghiệp gạch Block giai đoạn 2001 – 2008. Chỉ tiêu Tổng chi phí sản xuất (Triệu đồng) Trong đó Chi phí nguyên vật liệu Chi phí tiền lương Chi phí sản xuất chung Năm Giá trị % Giá trị % Giá trị % 2001 16869.94 9070.3 53.77 2967.9 17.59 4831.8 28.64 2002 17045.31 9182.6 53.87 3010.2 17.66 4852.5 28.47 2003 17278.09 9217.2 53.35 3093.8 17.91 4967.1 28.75 2004 17475.94 9321.1 53.34 3162.7 18.1 4992.1 28.57 2005 17761.36 9468.3 53.31 3209.9 18.07 5083.2 28.62 2006 17904.53 9545.3 53.31 3342.7 18.67 5016.5 28.02 2007 18549.94 10025 54.04 3482.5 18.77 5042.7 27.18 2008 28133.9 199421 70.88 3097.6 11.01 5094.2 18.11 Bình quân 18877.376 33156 3170.9 4985 Qua số liệu của bảng 2 cho ta thấy: Chi phí nguyên vật liệu chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng chi phí (trên 50%). Do vậy, vai trò của nguyên vật liệu đóng vai trò quyết định tới giá thành sản phẩm gạch và có ảnh hưởng lớn tới hiệu quả sản xuất của Xí nghiệp gạch Block. Trong giai đoạn 2001 – 2008, chi phí nguyên vật liệu tăng lên 1 lượng đáng kể từ 907.028 triệu đồng năm 2001 đến 1994.208 vào năm 2008, tương ứng với mức tăng về tỷ trọng chi phí nguyên vật liệu trong tổng chi phí sản xuất từ 53.77% lên 70.88%. Như đã nói ở trên, trong những năm gần đây giá của nguyên nhiên vật liệu tăng mạnh mẽ đặc biệt là vào năm 2008, vì vậy tỷ trọng chi phí nguyên vật liệu trong tổng chi phí tăng mạnh vào năm 2008 (chiếm 70.88%) là hợp lý. Điều này đặt ra thách thức và nhiệm vụ đối với các cán bộ của phòng kinh doanh, kế hoạch đầu tư là phải nhanh chóng tìm ra nguồn nguyên vật liệu trong nước ổn định, có giá thấp nhưng vẫn đảm bảo chất lượng cho sản phẩm, góp phần giảm chi phí sản xuất, duy trì và phấn đấu tăng doanh thu và lợi nhuận cho Xí nghiệp và toàn công ty. Trong khi đó chi phí tiền lương tăng nhẹ và khá ổn định trong giai đoạn 2001 – 2007(tăng từ 296.785 triệu đồng lên 309.761 triệu đồng), nhưng năm 2008 giảm 11.05% so với năm 2007.Tỷ trọng chi phí tiền lương trong tổng chi phí cũng tăng nhẹ và ổn định từ năm 2001 đến năm 2007 (từ 17.59% đến 18.77%), nhưng năm 2008 giảm mạnh so với năm 2007( từ 18.77% xuống 11.01%). Chi phí tiền lương năm 2008 giảm xuống như vậy là do chi phí nguyên vật liệu đầu vào tăng lên quá nhanh (chiếm 70.88%) trong khi Xí nghiệp chưa có biện pháp để tiết kiệm chi phí đó vì không thể tìm ngay được nguồn nguyên liệu khác rẻ hơn để thay thế. Vì vậy để bù đắp phần chi phí nguyên liệu đầu vào tăng lên mà vẫn đảm bảo bình ổn giá bán, giữ vững thị phần thì Xí nghiệp buộc phải cắt giảm khoản mục chi phí tiền lương bằng cách giảm số lượng công nhân sản xuất. Vì trong những năm gần đây Xí nghiệp đã liên tục mua những máy móc thiết bị và công nghệ sản xuất hiện đại, nên có thể giảm số công nhân tham gia sản xuất. Nhưng đó chỉ là biện pháp tạm thời không thể áp dụng lâu dài được, vì Xí nghiệp có định hướng phát triển mở rộng qui mô sản xuất trong những năm tới nên cần phải đảm bảo đủ số lượng công nhân cho việc sản xuất. Bởi vậy trong những năm tới tỷ trọng tiền lương trong tổng chi phí sản xuất sẽ có xu hướng tăng lên, trong giai đoạn hiện nay và sau này Xí nghiệp không thể cắt giảm tiền lương của người công nhân được, vì giảm tiền lương cũng chính là làm giảm lợi ích của người lao động. Nếu Công ty và Xí nghiệp không sớm có hướng điều chỉnh chi phí ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc2231.doc