Phân tích biến động dân số, lao động và việc làm ở huyện Lập Thạch trong giai đoạn hiện nay

Lời nói đầu Xuất phát điểm của nền kinh tế Việt nam rất thấp, nước ta lại là một nước đông dân với tốc độ tăng dân số vào loại cao nhất trên thế giới. Vì vậy việc tận dụng khai thác hết các nguồn lực nội tại mà đặc biệt là nguồn lực con người được coi là hạt nhân của quá trình phát triển Kinh tế - Xã hội. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ: Điều kiện tiên quyết để thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước là ổn định dân số, lao động là yếu tố cơ bản nhằm hoàn thành cô

doc69 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1210 | Lượt tải: 1download
Tóm tắt tài liệu Phân tích biến động dân số, lao động và việc làm ở huyện Lập Thạch trong giai đoạn hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ng cuộc Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong những năm qua Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Lập Thạch đẩy mạnh phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân và đã đạt được những thành tựu đáng kể. Tuy nhiên vấn đề tồn tại lớn nhất hiện nay là dân số quá đông, quy mô lao động rất lớn, trình độ người lao động thấp, mất cân đối lớn cả về cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, sức chứa lao động trong lĩnh vực nông nghiệp đã quá tải, tỷ lệ thiếu việc làm của người lao động cao đã tạo ra một áp lực rất lớn tới vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động của huyện. Trong thời gian thực tập ở huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, tôi đã nhận thấy vấn đề biến động dân số, lao động và việc làm đang mang tính thời sự vừa cấp bách vừa lâu dài có ảnh hưởng sâu sắc tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Do đó cần thiết và sớm phải có một sự xem xét, đánh giá một cách trung thực đầy đủ và khoa học vấn đề nói trên từ đó đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm phát huy những thành tựu đã đạt được và từng bước giải quyết những vấn đề tồn đọng nói trên để tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội ở huyện. Vì vậy tôi đã chọn đề tài: "Phân tích biến động dân số, lao động và việc làm ở huyện Lập Thạch trong giai đoạn hiện nay" làm luận văn tốt nghiệp của mình. Nội dung của đề tài bao gồm: Phần I: Cơ sở lý luận về biến động dân số, lao động và việc làm. Phần II: Thực trạng của sự biến động dân số, lao động và việc làm ở huyện Lập Thạch trong giai đoạn hiện nay. Phần III: Giải pháp về điều chỉnh dân số, lao động và tạo việc làm cho người lao động ở huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Các phương pháp nghiên cứ đề tài: - Phương pháp thu thập tư liệu, các nghiên cứu của huyện có liên quan đến đề tài nghiên cứu. - Phương pháp điều tra thống kê: Được điều tra khảo sát ở một số xã đại diện để thu thập những thông tin cần thiết để mih hoạ cho các nhận xét, đánh giá thực trạng. - Phương pháp toán học - thống kê: Dựa trên cơ sở các dữ liệu đã thu thập được, sử dụng các công thức toán học, thống kê học cần thiết giúp cho việc phân tích đánh giá các hiện tượng nghiên cứu. - Phương pháp tổng hợp: Thông qua kết quả những phân tích các hiện tượng nghiên cứu để tổng hợp khái quát thành bản chất, xu hướng vận động của vấn đề nghiên cứu. Phần I Cơ sở lý luận về biến động dân số, lao động và việc làm I. Các khái niệm cơ bản về dân số và sự biến động của dân số 1.Quy mô và cơ cấu dân số. 1.1.Quy mô: Được hiểu là tổng số người sinh sống trong một lãnh thổ nhất định, trong một thời gian nhất định. 1.2. Cơ cấu dân số: Bên cạnh những đặc điểm chung của con người là cùng chung sống trong một lãnh thổ, họ lại có những đặc điểm riêng có về giới tính, độ tuổi.v.v...Do vậy, để hiểu biết chi tiết hơn về dân số, chúng ta cần phân chia dân số thành những vấn đề khác nhau theo một tiêu thức nào đó. Sự phân chia các nhóm gọi là cơ cấu dân số. - Cơ cấu dân số theo tuổi: Đây là việc phân chia tổng dân số của một lãnh thổ thành những nhóm dân số có tuổi hoặc khoảng tuổi khác nhau tại một thời điểm nào đó. - Cơ cấu dân số theo giới tính: Nếu chia toàn bộ dân số nam và dân số nữ thì ta có cơ cấu dân số theo giới tính. Các chỉ tiêu thường dùng là tỷ lệ hoặc tỷ số giới tính. Nếu ký hiệu và lần lượt là dân số nam và dân số nữ thì tỷ số giới tính (SR) được xác định như sau: SR= x 100 - Cơ cấu dân số theo thành thị và nông thôn: Là việc chia tổng dân số của một lãnh thổ thành dân số cư trú ở thành thị và dân số cư trú ở nông thôn thì ta được cơ cấu dân số theo thành thị và nông thôn. Có rất nhiều tiêu thức khác nhau để phân chia tổng dân số, mỗi tiêu thức phục vụ cho một lợi ích nghiên cứu khác nhau và có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc phân tích, đánh giá và điều chỉnh quá trình dân số theo hướng có lợi cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội lâu dài và ổn định. 2. Các quá trình dân số Sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người gắn liền với sự vận động tự nhiên và xã hội của con người. Sự vận động đó chính là quá trình sinh, chết và di dân. Nó vừa là kết quả vừa là nguyên nhân của sự phát triển. Do đó, việc nghiên cứu nhằm tác động một cách có khoa học vào sự vận động có ý nghĩa to lớn tới sự phát triển của xã hội loài người. 2.1. Mức sinh và các thước đo đánh giá mức sinh. - Mức sinh: Phản ánh mức độ sinh sản của dân số, nó biểu thị số trẻ em sinh sống mà một phụ nữ có được trong suốt cuộc đời sinh sản của mình. Mức sinh phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố sinh học, tự nhiên và xã hội (Sự sinh sống là sự kiện đứa trẻ tách khỏi cơ thể mẹ và có dấu hiệu của sự sống như hơi thở, tim đập, cuống rốn rung động hoặc những cử động tự nhiên của bắp thịt. - Các thước đo cơ bản: Để đánh giá mức sinh có rất nhiều thước đo khác nhau và mỗi thước đo đều chứa đựng những ưu điểm riêng biệt. Sau đây là một số thước đo cơ bản. +Tỷ suất sinh thô (CBR): Biểu thị số trẻ em sinh ra trong một năm so với 1000 dân số trung bình năm đó. CBR = x 1000 Trong đó: B: Số trẻ em sinh sống trong năm nghiên cứu. : Dân số trung bình của năm nghiên cứu. Đây chỉ là chỉ tiêu "thô" về mức sinh bởi lẽ mẫu số bao gồm toàn bộ dân số, cả những thành phần dân số không tham gia vào quá trình sinh sản như: đàn ông, trẻ em, người già hay phụ nữ vô sinh. ưu điểm: Đây là một chỉ tiêu qua trọng và được sử dụng khá rộng rãi, dễ tính toán, cần ít số liệu, dùng trực tiếp để tính tỷ lệ tăng dân số. Nhược điểm: Không nhạy cảm đối với những thay đổi nhỏ của mức sinh, chịu nhiều ảnh hưởng của cấu trúc theo giới tính, theo tuổi của dân số, phân bố mức độ sinh của các tuổi trong thời kỳ sinh sản của phụ nữ, tình trạng hôn nhân. + Tỷ suất sinh chung: Biểu thị số trẻ em sinh ra trong một năm so với một nghìn phụ nữ trong độ tuổi có khả năng sinh đẻ. GFR = x 1000 Trong đó: GFR: Tỷ suất sinh chung. B: Số trẻ em sinh ra trong năm. : Số lượng phụ nữ trung bình có khả năng sing đẻ trong năm. Tỷ suất sinh chung đã một phần nào loại bỏ được ảnh hưởng của cấu trúc tuổi và giới - nó không so với 1000 dân nói chung mà chỉ so với 1000 phụ nữ trong độ tuổi có khả năng sinh sản. Tuy nhiên cách tính này vẫn chịu ảnh hưởng của sự phân bố mức sinh trong thời kỳ sinh sản của phụ nữ, tình trạng hôn nhân. + Tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi: Đối với các độ tuổi khác nhau , mức sinh đẻ của phụ nữ cũng khác nhau. Do vậy cần xác định mức sinh theo từng độ tuổi của phụ nữ. Công thức: ASFR = x 1000 Trong đó: ASFR: Tỷ suất sinh đặc trưng của phụ nữ ở độ tuổi X B: Số trẻ em sinh ra trong một năm của những phụ nữ ở độ tuổi X W: Số phụ nữ ở độ tuổi X trong năm. Để xác định được ASFR cần có hệ thống số liệu chi tiết, hơn nữa mặc dù mức sinh ở các độ tuổi khác nhau là khác nhau, nhưng đối với các độ tuổi gần nhau, mức sinh không khác nhau nhiều. Do vậy, trong thực tế người ta thường xác định tỷ suất sinh đặc trưng cho từng nhóm tuổi. Thường toàn bộ phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ được chia thành 7 nhóm mỗi nhóm 5 tuổi. 2.2. Mức chết và các thước đo chủ yếu - Mức chết: Chết là một trong những yếu tố của quá trình tái sản xuất dân số, là hiện tượng tự nhiên, không thể tránh khỏi đối với mỗi con người. Nếu loại bỏ sự biến động cơ học, tăng tự nhiên dân số bằng hiệu số sinh và số chết. Vì vậy, việc tăng hay giảm số sinh hoặc số chết đều làm thay đổi quy mô, cơ cấu và tốc độ tăng tự nhiên của dân số. Đồng thời trong quá trình tái sản xuất dân số, các yếu tố sinh và chết có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Sinh đẻ nhiều hay ít, mau hay thưa, sớm hay muộn đều có thể làm tăng hoặc giảm mức chết. Ngược lại mức chết cao hay thấp sẽ làm tăng hoặc giảm mức sinh. Chính vì vậy việc giảm mức chết là nghĩa vụ và trách nhiệm thường xuyên của mọi nước, mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương. Giảm mức chết vừa có ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội và nhân văn sâu sắc. Chết là sự mất đi vĩnh viễn tất cả những biểu hiện của sự sống ở một thời điểm nào đó. Để đánh giá mức độ chết cần dùng các thước đo. Có nhiều thước đo khác nhau. Mỗi thước đo phản ánh một khía cạnh này hay khía cạnh khác của mục đích nghiên cứu và mỗi thước đo có những ưu điểm, nhược điểm riêng. - Các thước đo chủ yếu: + Tỷ suất chết thô (CDR): Biểu thị số người chết trong một năm trong một ngàn người dân trung bình năm đó ở một lãnh thổ nhất định. Công thức: CDR = x 1000 Trong đó: D: Số người chết trong năm của một lãnh thổ nào đó. : Dân số trung bình trong năm của lãnh thổ đó. ưu điểm: Đơn giản, dễ tính toán, xác định nó không cần lượng thông tin nhiều, và phức tạp do đó nó được sử dụng rộng rãi trong các án phẩm quốc gia và quốc tế nhằm đánh giá một cách tổng quát mức độ chết của dân cư giữa các nước, các thời kỳ. Trực tiếp tính toán tỷ suất gia tăng tự nhiên. Nhược điểm: Không đánh giá chính xác mức độ chết của dân cư, bởi vì trong chừng mực nhất định nó phụ thuộc khá lớn vào cơ cấu dân số. Do vây, khi so sánh tỷ suất chết thô giữa các vùng, hoặc các thời kỳ khác nhau không phản ánh chính xác mức độ chết của dân cư vì sự khác biệt giữa cơ cấu giới và cơ cấu tuổi. Để khắc phục người ta dụng biện pháp chuẩn hoá; đó là việc biến các tỷ suất chết thô có cấu trúc tuổi và giới khác nhau thành các tỷ suất chết tương ứng có cấu trúc tuổi và giới giống nhau để so sánh. Tỷ suất chết đặc trưng theo tuổi (ASDR): Biểu thị số người chết trong năm ở một độ tuổi nào đó so với 1000 nghìn người trung bình ở độ tuổi đó trong năm tại một nơi nào đó. Công thức: ASDR = Trong đó: ASDR: Tỷ suất chết đặc trưng ở tuổi X : Số người chết trong năm ở độ tuổi X : Dân số trung bình trong năm ở độ tuổi X ưu điểm: Phản ánh mức độ chết ở từng độ tuổi, so sánh giữa các vùng, các thời kỳ mà không chịu ảnh hưởng của cấu trúc tuổi. Nhược điểm: Chưa phản ánh mức chết bao chùm của cả dân số, cần nhiều số liệu chi tiết cho tính toán. Để khác phục cần kết hợp với việc xác định tỷ suất chết thô và chỉ tính tỷ suất đặc trưng cho từng nhóm tuổi. + Tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi: Đây là chỉ tiêu đặc biệt quan trọng trong phân tích về chết của dân số, bởi vì nó là chỉ tiêu rất nhạy cảm nhất đánh giá mức độ ảnh hưởng của y tế, bảo vệ sức khoẻ trong dân cư. Mức độ này có ảnh hưởng to lớn tới mức độ chết chung, đến tuổi thọ bình quân và có tác động qua lại với mức sinh. Công thức: IMR = x 1000 Trong đó: IMR: Tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi. : Số trẻ em chết dưới 1 tuổi trong năm. B: Số trẻ em sinh sống trong cùng năm. 2.3. Di dân - Khái niệm di dân: Biến động dân số nói chung được chia thành hai bộ phận chủ yếu tương đối riêng biệt: biến động tự nhiên và biến động cơ học. Biến động tự nhiên mô tả sự thay đổi dân số gắn liền với sự ra đời, tồn tại và mất đi của con người theo thời gian. Quá trình này trong dân số học chủ yếu thông qua các hiện tượng sinh và chết. Khác với biến động tự nhiên, biến động cơ học biểu thị sự thay đổi dân số về mặt không gian, lãnh thổ. Trong cuộc sống con người di dời bởi nhiều nguyên nhân, với nhiều mục đích khác nhau, với khoảng cách xa gần khác nhau và vào những thời điểm khác nhau. Quá trình này chịu tác động bởi nhiều những nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội do vậy nó mang bản chất kinh tế, chính trị, xã hội sâu sắc. Đây chính là đặc điểm mấu chốt phân biệt hai bộ phận biến đông dân số nêu trên. Vậy di dân là gì ? Có rất nhiều định nghĩa về di dân, mỗi định nghĩa xuất páht từ những mục đích nghiên cứu khác nhau, do đó rất khó tổng hợp thành một định nghĩa thống nhất bởi tính phức tạp và đa dạng của hiện tượng. Tuy nhiên hiện nay người ta tạm thống nhất với nhau khái niệm về di dân nhằm đảm bảo sự thống nhất về khảo sát, điều tra, can thiệp vào hiện tượng này như sau: "Di dân là hiện tượng di chuyển của người dân theo lãnh thổ với những chuẩn mực về thời gian và không gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú" Hiểu về di dân như vậy là dựa vào một số đặc điểm chủ yếu sau: Thứ nhất, con người di chuyển khỏi một địa dư nào đó. Nơi đi và nơi đến phải được xác định. Có thể là một vũng lãnh thổ hay là một đơn vị hành chính. Thứ hai, con người di chuyển bao giờ cũng có mục đích, tính chất cư trú là tiêu thức để xác định di dân. Thứ ba, khoảng thời gian ở lại bao lâu ở nơi mới để xác định sự di chuyển nào đó có phải là di dân hay không. - Phân loại di dân: + Theo độ thời gian nới cư trú cho phép phân biệt các kiểu di dân: lâu dài, tạm thời hay chuyển tiếp. Di dân lâu dài bao gồm các hình thức thay đổi nơi cư trú thường xuyên và nơi làm việc đến nơi mới với mục đích sinh sống lâu dài. Những thành phần này thường không trở về quê hương nơi cư trú. Di dân tạm thời ngụ ý sự thay đổi nơi ở gốc là không lâu dài và khả năng quay trở lại nơi ở cũ là chắc chắn. Kiểu di dân này bao gồm những hình thức di chuyển nơi làm việc theo mùa vụ, đi công tác, du lịch dài ngày... Di dân chuyển tiếp phân biệt các hình thức di dân mà không thay đổi nơi làm việc. Kiểu di dân này gợi ý các điều tiết thị trường lao động. + Theo khoảng cách người ta phân biệt di dân xa hay gần giữa nơi đi và nơi đến. Di dân giữa các nước gọi là di dân quốc tế; giữa các vùng, các đơn vị hành chính trong nước thì gọi là di dân nội địa. + Theo tính chất chuyên quyền người ta phân biệt di dân hợp pháp hay di dân bất hợp pháp, di dân tự do hay có tổ chức, di dân tình nguyện hay bất buộc. Tuỳ thuộc vào mức độ can thiệp của chính quyền trung ương hay địa phương mà người ta phân biệt di dân theo loại này hay loại khác. - Các phương pháp đo lường di dân: Các phương pháp đo lường có thể chia ra làm hai loại: di dân trực tiếp và di dân gián tiếp. + Phương pháp trực tiếp: Là phương pháp xác định quy mô di dân dựa vào các cuộc tổng điều tra dân số, thống kê thuyền xuyên và điều tra chọn mẫu về dân số. + Phương pháp gián tiếp: Nếu biết quy mô tăng dân số chung và tăng tự nhiên của dân số thì ta có thể tính được quy mô di dân thuần tuý theo công thức: NM = t Trong đó: NM: Di dân thuần tuý. và Tổng số di dân ở các thời điểm t và t+n B và D: Tổng số sinh và chết của khoảng t đến t+n. Nếu chỉ biết tỷ lệ tăng dân số chung (r) và tỷ lệ tăng tự nhiên của dân số (NIR). Ta có thể tính được tỷ lệ di dân thuần tuý (NMR): NMR = r - NIR Nếu chỉ biết hệ số sống (S), dân số ở độ tuổi x vào thời điểm t, dân số ở độ tuổi x+n vào thời điểm t+n. Ta sẽ xác định được di dân thuần tuý trong số người sống ở độ tuổi "x" từ thời đểm t đến t+n. 3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình dân số Quy mô dân số thường xuyên vận động theo thời gian. Nó có thể tăng hoặc giảm tuỳ theo các chuyền hướng biến động của các nhân tố sinh, chết và di dân. Tức là, nếu như ở một vùng nào đó trong một thời điểm xác định nào đó mà mức sinh và nhập cư cao hơn mức chết và xuất cư thì quy mô dân số ở vùng đó tăng trong thời gian đó và ngược lại, nó sẽ gảim nếu như mức sinh và nhập cư thấp hơn mức chết và xuất cư. Để hiểu sâu về tác động của các yếu tố nói trên, ta lần lượt nghiên cứu sự tác động của các yếu tố đến quá trình dân số. 3.1. ảnh hưởng của yếu tố sinh đến quá trình dân số. Việc nghiên cứu mức sinh chiếm vị trí trung tâm trong nghiên cứu dân số vì hàng loạt các lý do như: sinh đóng vai trò thay thế và duy trì về mặt sinh học của xã hội loài người, tăng dân số phụ thuộc chủ yếu vào mức sinh. Bất kỳ một xã hội nào cũng tồn tại dựa vào thay thế thế hệ này bằng thế hệ khác thông qua sinh đẻ. Nếu việc thay thế về số lượng không phù hợp sẽ ảnh hưởng to lớn đến sự tồn tại và phát triển của con người. Quá trình thay thế của một xã hội thông qua sinh đẻ là một quá trình rất phức tạp. Ngoài các giới hạn về mặt sinh học thì hàng loạt các yếu tố về kinh tế, xã hội tôn giáo, quan niệm, địa vị của phụ nữ đều có ảnh hưởng cà quyết định đến mức sinh. Trong những năm 1960, người ta nhận thấy rõ là nhân tố chịu trách nhiệm chính trong sự gia tăng dân số là tỷ lệ sinh. Do dân số tập trung chủ yếu vào các nước đang phát triển với một đặc điểm chính của thời kỳ này là mức độ chết giảm rất nhanh chóng trong khi tỷ lệ sinh lại không giảm một cách tương ứng đã dẫn đến quy mô dân số của toàn cầu tăng quá nhanh. Việc gia tăng dân số quá nhanh như vậy là mối đe doạ quá trình phát triển kinh tế và xã hội. 3.2. ảnh hưởng của yếu tố chết đến quá trình dân số Hiện tượng chết là một trong ba thành phần của biến động dân số. Vì vậy việc làm tăng hay giảm yếu tố này cũng làm thay đổi cả quy mô, cơ cấu và cả tới mức sinh. Tác động của mức chết có hai mặt: Vừa thay đổi sự phát triển của dân số vừa thay đổi mức sinh. Chết nhiều dù bất cứ nguyên nhân nào đều buộc con người sinh bù để thay thế sự mất mát hay giảm sự rủi ro. Lịc sử phát triển dân số cho hay cứ sau một cuộc chiến tranh lại có một cuộc bùng nổ dân số, dường như mức sinh tăng lên một cách chóng mặt để bù lại sự mất mát vè người sau chiến tranh và tạo ra một trào lưu sau đó. Mức chết của trẻ em nói chung và mức chết của trẻ em sơ sinh nói riêng cao sẽ gây ra một tâm lý "sinh bù", "sinh dự trữ" hay "sinh đề phòng" để đảm bảo ssó con mong muốn trong thực tế. 3.3 ảnh hưởng của di dân đến biến động dân số Người ta thấy ngay được rằng di dân tác động trực tiếp đến quy mô dân số. Sự xuất cư của một bộ phận dân số từ một vùng nào đó làm cho quy mô dân số của nó giảm đi, và ngược lại, số người nhập cư nhiều sẽ làm cho quy mô dân số tăng lên. Mặt khác số lượng di dân thuần tuý có thể không lớn, song nếu số xuất và nhập cư lớn, chắc chắn chất lượng của dân số có nhiều thay đổi, sự hiện diện của những người mới đến sinh sống mang theo những đặc điểm khác những người đã di dời đi nơi khác sinh sống. Các cơ cấu tuổi và giới tính của dân số cungtx chịu ảnh hưởng nhiều của di dân. Tỷ lệ giới tính giữa các độ tuổi khác nhau trong dân số có nhiều trường hợp có những chênh lệch đãng kể do cường độ và tính chất chọn lọc của di dân. Có thể khẳng định rằng, sự biến động quy mô dân số của bất kỳ quốc gia nào cũng chịu ảnh hưởng của ba yếu tố trên. Nhưng tuỳ thuộc vào các điều kiện kinh tế, xã hội mà sự tác động của các yếu tố đối với mỗi vùng, mỗi quốc gia khác nhau là khác nhau. II. Các khái niệm cơ bản về lao động và việc làm 1. Một số khái niệm và phạm trù có liên quan. Người lao động là lực lượng về con người và được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh. Trước hết với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, bao gồm toàn bộ dân số có thể phát triển bình thường cả về thể lực lẫn trí lực (không bị khiếm khuyết, dị tật bẩm sinh). Nguồn lao động với tư cách là nguồn lực cách mạng nhất, quan trọng nhất quyết định tới sự phát triển kinh tế, xã hội được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Nguồn lao động được xem xét trên hai góc độ số lượng và chất lượng. Số lượng nguồn lao động được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu như quy mô và tốc độ phát triển nguồn lao động Chất lượng nguồn lao động được xem xét trên các mặt: Sức khoẻ, trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất. 2. Phương pháp xác định nguồn lao động Việc xác điịnh quy mô, cơ cấu nguồn lao động được thực hiện thông qua các cuộc tổng điều tra dân số hoặc điều tra thực trạng lao động và việc làm hàng năm. Phương pháp xác định cũng được quy định cụ thể và áp dụng cho từng thời kỳ. 2.1. Dân số trong độ tuổi lao động. Để có thể sống và phát triển, con người phải tiêu dùng một lượng của cải nhất định dưới nhiều dạng như: lương thực, thực phẩm, vải vóc, nhà cửa, phương tiện thông tin liên lạc... những tư liệu sinh hoạt này không phải là quà tặng của tự nhiên mà ro con người sáng tạo ra thông qua quá trình lao động. Tuy vậy không phải toàn bộ dân số tham gia vào quá trình sản xuất mà chỉ một bộ phận có đủ sức khoẻ và trí tuệ mà thôi. Khả năng đó chỉ gắn với một giới hạn tuổi nhất định, gọi là "độ tuổi lao động". Một số nước quy định "độ tuổi lao động" đối với nam từ 15 đến 64 tuổi, một số nước khác lại từ 15 đến 59 tuổi, thậm chí từ 10 đến 59 tuổi tuỳ theo trình độ phát triển về thể lực cũng như trí lực của người dân mỗi nước và nhu cầu về lao động của nước họ. Đối với lao động nữ giới hạn trên về độ tuổi lao động thường ngắn hơn. Hiện nay bộ luật Lao động của nước Việt nam ban hành năm 1994 quy định về "độ tuổi lao động" nam từ đủ 15 đến 60 tuổi, nữ đủ từ 15 đến 55 tuổi. Tuy nhiên không phải mọi người trong độ tuổi lao động đều tham gia hoạt động kinh tế. Việc quy đổi người trên và dưới độ tuổi lao động thành người lao động như sau: cứ hai người trên tuổi lao động được tính bằng một người lao động, ba người dưới độ tuổi lao động được tính bằng một người trong độ tuổi lao động. 2.2. Dân số hoạt động kinh tế. Trong nghiên cứu nguồn lao động, các thuật ngữ sau đây được sử dụng theo nghĩa tương tự: Lực lượng lao động, dân số làm việc và "dân số hoạt động kinh tế" thông thường, người ta phải chia dân số thành hai khối lớn: Một khối là những người tích cực với các hoạt động kinh tế. Khuyến nghị của Liên hợp quốc đối với các cuộc điều tra dân số, hai bộ phận này được tách bạch như sau: Dân số hoạt động kinh tế bao gồm tất cả những người không phân biệt giới, có thể cung cấp sức lao động cho các hoạt động sản xuất ra các hàng hoá kinh tế hoặc các hoạt động trong lĩnh vực hoạt động dân sự hopặc những người hoạt động trong lĩnh vực vũ trang; khi phân tích số liệu, nhóm người làm việc trong lĩnh vực vũ trang có thể tách riêng không tính vào "lực lượng lao động". Như thế, lực lượng nhân sự bao gồm: - Những người đang có việc làm: Là những người làm việc trong khoảng thời gian xác định trong cuộc điều tra, kể cả làm việc cho gia đình được trả công hoặc tạm thời nghỉ việc do ốm đau, tai nạn, tranh chấp lao động hoặc nghỉ lễ hoặc ngừng việc tạm thời do thời tiết xấu, trục trặc dây truyền sản xuất... - Không có việc làm, thất nghiệp: Gồm những người trong khoảng thời gian xác định của cuộc điều tra không có việc làm. Nó cũng bao gồm cả những người trước đó không tìm được việc làm vì lý do ốm đau, tai nạn tạm thời mà họ không có thoả thuận sẽ bắt đầu công việc mới ngay sau khoảng thời gian xác định ở trên, hoặc họ tạm thời nghỉ hoặc nghỉ không có thời hạn mà không được trả công ở những nơi mà cơ hội kiếm việc làm rất hạn hẹp. Khối thất nghiệp cũng bao gồm những người không có việc làm, có khả năng lao động mặc dù họ không tích cực kiếm việc làm vì họ tin rằng không có cơ hội làm việc nào mở ra đối với họ. 2.3. Dân số không hoạt động kinh tế. Khối này bao gồm các nhóm sau: Người làm việc nhà: Bao gồm những người không phân biệt giới tính, không thuộc dân số hoạt động kinh tế, tham gia vào các hoạt động trong phạm vi gia đình của chính họ. Ví dụ người làm việc nội trợ hoặc trông nom nhà cửa con cái (những người được thuê giúp việc nhà có trả công thì lại được coi là có hoạt động kinh tế). - Học sinh, sinh viên: Bao gồm tất cả mọi người không phân biệt giới tính đang tham gia học tập thường xuyên, không kể trường công trường tư hay các khoá huấn luyện ở bất kỳ cấp giáo dục nào. - Người hưởng lợi tức, hưởng thu nhập mà không làm việc. Bao gồm tất cả những người không phân biệt giới tính, không thuộc khối dân số hoạt động kinh tế, nhưng thu nhập do đầu tư, do có tài sản cho thuê, do tiền bản quyền hay phát minh sáng chế, tiền tác giả, tiền lương hưu do các năm làm việc trước đó. - Các người khác: Bao gồm tất cả những người khác không phân biệt giới tính, không thuộc khối dân số hoạt động kinh tế nhưng được trợ cấp hoặc được nhận các khoản hỗ trợ có tính tư nhân khác và những người không thuộc bất kỳ một diện nào trong các diện kể trên, chẳng hạn như trẻ em không hoặc chưa đi học. 2.4. Người thất nghiệp. Là người có tuổi nằm trong tuổi lao động, có khả năng lao động và có nhu cầu lao động nhưng không có việc làm trong thời điểm xác định của cuộc điều tra. 3. Việc làm. 3.1. Việc làm, phân loại việc làm. Nói đến việc làm là nói đến vai trò của con người trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội. Để đảm bảo nâng cao chất lượng cuộc sống, người lao động phải thông qua hoạt động sản xuất, chính là người lao động có việc làm. Tuy vậy khái niệm về việc làm lại có sự khác nhau, tuỳ vào từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội. Trước đây trong chế độ quan liêu bao cấp, ở nước ta thì việc làm được xem là những hoạt động lao động trong các xí nghiệp quốc doanh, các hợp tác xã và các đơn vị kinh tế tập thể. Tức là người lao động phải nằm trong biên chế nhà nước thì mới được xem là người có việc làm. Tuy nhiên khi nước ta chuyển đổi cơ chế từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự điều tiết và định hướng của Nhà nước thì quan niệm việc làm có thay đổi cho phù hợp hơn với cơ chế mới. Ngày nay Nhà nước ta quy định rất rõ về việc làm trong bộ luật Lao động là: "Việc làm là những hoạt động có ích không bị pháp luật ngăn cấm và đem lại thu nhập cho người lao động". Vậy, theo quan niệm mới này thì tất cả các hoạt động lao động trong mọi thành phần kinh tế, không bị pháp luật cấm và tạo ra thu nhập từ hoạt động đó được coi là việc làm. Việc làm là hoạt động tạo ra giá trị, của cải vật chất chỉ thông qua hoạt động sản xuất con người mới có điều kiện đảm bảo và nâng cao chất lượng cuộc sống. "Lao động là nguồn gốc của mọi của cải... lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người." Ta có thể thấy việc làm được thể hiện dưới các dạng sau: - Việc làm chính: Là công việc mà người thực hiện dành nhiều thời gian nhất hoặc có thu nhập cao hơn các công việc khác. - Việc làm phụ: Là công việc mà người lao động dành nhiều thời gian nhất sau công việc chính. - Việc làm hợp lý: Là công việc mà người thực hiện nhận thấy phù hợp với điều kiện và năng lực của bản thân. - Việc làm hiệu quả: Là công việc mà đem lại hiệu quả cao nhất đối với người lao động. Cũng từ cách phân chia như vậy, người ta phân chia: - Việc làm đầy đủ: Là những người có việc làm ổn định và sử dụng hết thời gian làm việc theo mức chuẩn quy định có thu nhậo cao từ việc làm đó. - Thiếu việc làm: Bao gồm những người có việc làm bấp bênh (không ổn định) hoặc đang có việc làm (40 giờ trong 5 ngày trở lên) trong tuần lễ tham gia không đầy đủ thời gian làm trong ngày, trong năm và hưởng thu nhập rất thấp không đủ sống từ việc làm đó nhưng không thể kiếm được việc làm khác. - Thất nghiệp: Bộ Lao động thương binh và xã hội quy định: người thất nghiệp là người đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm hoạt động kinh tế mà trong tuần lễ trước điều tra không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc. 3.2. Tạo việc làm. Lao động là nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước. Giải quyết việc làm cho người lao động vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển. Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm đến vấn đề việc làm cho người lao động. Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định việc giải quyết việc làm cho người lao động "Giải quyết việc làm và đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, các doanh nghiệp và toàn xã hội". Nhà nước hàng năm đang nỗ lực tạo những điều kiện cần thiết, hỗ trợ tài chính, cho vay vốn hoặc miễn, giảm thuế và áp dụng các biện pháp khuyến khích để người lao động có khả năng tự giải quyết việc làm, để các tổ chức, đơn vị và các cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu nhằm tạo việc làm cho ngày càng nhiều người lao động có việc làm. Như vậy, để có việc làm trước hết cần hai yếu tố là sức lao động và điều kiện cần thết để sử dụng sức lao động, trong đó bao gồm cả yếu tố xã hội. Như vậy, việc làm là phạm trù dùng để chỉ trạng thái phù hợp với sức lao động và những điều kiện sử dụng sức lao động đó. Trạng thái phù hợp thể hiện thông qua tỷ lệ chi phí ban đầu với chi phí lao động. Quan hệ tỷ lệ này phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Khi trình độ đó thay đổi thì tỷ lệ đó cũng thay đổi theo. Chính vì vậy, quá trình tạo việc làm là quá trình tạo ra của cải vật chất. Có thể mô phỏng quy mô tạo việc làm theo phương trình sau: Y = f (C,V,X...) Trong đó: Y: Số lượng việc làm được tạo ra. C: Vốn đầu tư. V: Sức lao động. X: Thị trường tiêu thụ sản phẩm.... Chẳng hạn muốn tạo việc làm cho lao động trong lĩnh vực công nghiệp thì cần thiết phải bỏ vốn đầu tư xây dựng nhà xưởng, mua máy móc thiết bị, công cụ, nguyên vật liệu, thuê công nhân và thị trường cho sản phẩm đầu ra và sản phẩm đầu vào của quá trình sản xuất. Hoặc tạo việc làm trong nông nghiệp cần tổ chức sản xuất thâm canh tăng vụ, sản xuất thâm canh trồng màu và làm các ngành nghề truyền thống khi nông nhàn, tất nhiên các hoạt động này cũng rất cần đến vốn, thị trường tiêu thụ. III. Sự cần thiết phải điều chỉnh sự phát triển của dân số, lao động từng bước giải quyết công ăn việc làm cho người lao động . 1. Sự cần thiết phải điều chỉnh sự phát triển dân số, lao động. 1.1. Dân số Ngay từ những năm 60 Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến vấn đề dân số. Song nó chưa thực sự được coi trọng, bởi vì mức độ gia tăng dân số ở nước ta vẫn còn khá cao cho tới ngày nay, tỷ lệ này hiện nay hàng năm khoảng 1,8%/năm. Quy mô dân số lớn, tốc độ gia tăng dân số lại cao trong điều kiện kinh tế - xã hội còn chậm và thấp kém đang đặt ra cho chúng ta những vấn đề kinh tế - xã hội hết sức gay gắt cần giải quyết trước mắt cũng như lâu dài dân số và phát triển là hai mặt của vấn đề và có ảnh hưởng qua lại sâu sắc với nhau. Do vậy chúng ta cần phải điều chỉnh sự phát triển dân số sao cho phù hợp với yêu cầu của sự phát triển ở hiện tại và lâu dài. 1.2. Nguồn lao động. Tăng dân số nhanh một mặt làm dồi dào thêm nguồn nhân lực, nguồn vốn vô cùng to lớn và quý giá nhất của đất nước. Song mặt khác nó lại đặt ra hàng loạt các vấn đề phát triển nguồn nhân lực từ bảo đảm y tế, giáo dục, đào tạo nghề, và giải quyết công ăn việc làm, nâng cao mức sống vật chất và tinh thần. Dân số gia tăng nhanh sẽ ảnh hưởng đến sự biến thiên của quy mô nguồn lao động, chất lượng và cơ cấu nguồn lao động. Khi dân số tăng nhanh nguồn lao động, nguồn lao động bổ xung ngày càng lớn trong khi nguồn lao động hiện thời vẫn chưa giải quyết hết việc làm. Về mặt chất lượng thì sự gia tăng dân số nói chung và lực lượng lao động nói riêng làm chất lượng giảm sút. Mặc dù chúng ta đã thành công trong việc xoá mù chữ. Song tỷ lệ lao động có tay nghề, qua đào tạo còn rất thấp và bất hợp lý so với yêu cầ._.u của công cuộc Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước. 2. Sự cần thiết nghiên cứu vấn đề tạo việc làm cho người lao động. Vấn đề tạo việc làm, thu hút con người tham gia vào quá trình lao động, phát triển kinh tế có tầm quan trọng lớn, đặc biệt là ở nứoc ta với đặc trưng của nền kinh tế chậm phát triển. Tuy nhiên muốn tạo việc làm thu hút con người vào quá trình lao động phải xét đến hàng loạt các vấn đề có liên quan. Đối tượng của tạo việc làm là những người thiếu việc làm, những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu làm việc. Hiện tượng tồn tại một lực lượng lao động tihếu việc làm và thất nghiệp với tỷ lệ cao biểu hiện sự lãng phí nguồn lực quan trọng nhất trong quá trình phát triển kinh tế. Hơn nữa thiếu việc làm và thất nghiệp còn gây ra một áp lực lớn đối với sự ổn định chính trị và tiến bộ xã hội. Trong những năm gần đây, khi nước ta đang tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước thì việc khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên trong được xem là mục tiêu hàng đầu. Đặc biệt là nguồn lực con người cần tạo việc làm, thu hút lao động, nâng cao chất lượng cuộc sống, giảm tới mức thấp nhất lực lượng thất nghiệp. Xét về mặt kinh tế, thất nghiệp gắn chặt với đói nghèo. Tỷ lệ thất nghiệp cao không những gây tổn thất lớn cho nền kinh tế mà còn gây ra nhiều khó khăn cho cuộc sống cá nhân người lao động. Những người thất nghiệp, họ không sản xuất ra sản phẩm nhưng họ vẫn phải tiêu dùng một nguồn lực nhất định của xã hội đặc biệt ở tuổi trưởng thành, mức tiêu dùng thường lớn hơn các độ tuổi khác. Đối với nước ta, những người thất nghiệp là những người không có thu nhập và sống nhờ vào nguồn thu nhập của người khác trong gia đình. Hơn nữa thường những người thất nghiệp là những người chủ gia đình, nguồn thu nhập của họ có ảnh hưởng rất lớn tới đời sống của các thành viên trong gia đình, khi đời sống kinh tế của gia đình khó khăn thì nó lại ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống gia đình. Đây chính là những nguyên nhân sâu xa, phức tạp của những rối ren cho xã hội. Trên góc độ quản lý Nhà nước, hiện tượng tồn tại thất nghiệp lớn chính là chúng ta không phát huy hết nội lực những tiềm năng vô cùng to lớn, quý giá, sáng tạo ra giá trị và sự phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội. ở nước ta hiện nay tỷ lệ thất nghiệp vào khoảng 6% đến 7% lực lượng lao động và chủ yếu là thất nghiệp theo cơ cấu (có ngành cần lao động thì không có, ngành cần ít lao động thì lại thừa nhiều). Đó là hiện tượmg hệ thống đào tạo không gắn với cầu về lao động trên thị trường lao động cả về số lượng và chất lượng lao động, phần lớn sinh viên ra trường đều vấp phải một khó khăn đó là việc làm. Họ là những người được đào tạo và có trình độ chuyên môn những mong khi ra trường đem hết hiểu biết, tài năng của mình để phục vụ đất nước, phục vụ quê hương và ổn định cuộc sống cá nhân, vậy mà phần lớn trong số họ phải ra nhập đội quân thất nghiệp. Như thế, việc đầu tư cho giáo dục có nên không? Làm thế nào để sử dụng họ có hiệu quả nhất cả về số lượng lẫn chất lượng? Câu hỏi này không phải ngày một ngày hai mà có thể trả lời được. Đó là một vấn đề khó khăn mang tính phức tạp và thời sự đối với tất cả các ngành và các cấp lãnh đạo. Do tầm quan trọng cũng như sự ảnh hưởng lớn lao của vấn đề việc làm và thất nghiệp những năm gần đây Đảng và Nhà nước ta đã phối hợp giữa các ngành các cấp để đưa ra phương án khả dĩ nhằm giảm đến mức thấp nhất số người thất nghiệp nhưng do tính phức tạp của vấn đề nên kết quả đạt được còn rất nhiều hạn chế. Chương trình trong những năm tới là phải đưa vấn đề tạo việc làm cho người lao động mang tính quốc sách hàng đầu không chỉ đối với lao động công nghiệp đo thị mà cả lao động nông nghiệp nông thôn vì lao động nước ta trong nông nghiệp chiếm tỷ trọng sấp xỉ 80%. Về mặt xã hội, thất nghiệp gây nên những hậu quả nặng nề, khi xét đến nguyên nhân của các tệ nạn xã hội, người ta nhận thấy rằng, những người thất nghiệp tham gia vào các tệ nạn này chiếm tỷ trọng đáng kể. Những người thất nghiệp tham gia vào các tệ nạn xã hội như nghiện ma tuý, trộm cắp, mại dâm, đâm thuê, chém mướn trong xã hội đen... đều đem lại thu nhập ít nhiều cho người tham gia. Trong lúc các con đường khác tạo việc làm một cách chân chính bị khép lại, thì con đường đến với các tệ nạn xã hội lại thường mở ra và khó kiểm soát. Phần II Thực trạng của sự biến động dân số, lao động và việc làm ở huyện Lập Thạch - tỉnh Vĩnh Phúc I. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Lập Thạch - tỉnh Vĩnh Phúc. 1. Vị trí địa lý. Huyện Lập Thạch là một huyện trung du, miền núi nằm ở phía Bắc tỉnh Vĩnh Phúc. Toàn huyện có 39 xã và một thị trấn, trong đó có 28 xã miền núi, đặc điểm địa hình đa dạng, toà huyện được chia thành ba vùng kinh tế rõ rệt là vùng ven sông, vùng đất giữa và vùng đồi núi. Về vị trí địa lý: Toạ độ: 105030' - 105045' độ kinh đông; 21020 - 21030 độ vĩ bắc. - Phía bắc giáp tỉnh Tuyê Quang. - Phía nam giáp thành phố Việt Trì. - Phía tây giáp tỉnh Phú Thọ. - Phía đông giáp huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc. Toàn huyện có tổng diện tích tự nhiên là 41.474 ha, đất nông nghiệp là 15.448,9 ha. Là một huyện gần kề với đỉnh của đồng bằng châu thổ sông Hồng có địa hình đa dạng - ba mặt gắp sông, Lập Thạch thực sự biệt lập, giao thông không thuận tiện, sự giao lưu kinh tế hàng hoá ít. Khí hậu Lập Thạch thuộc vùng khí hậu nhiệt đời gió mùa tuy vậy khí hậu rất khác biệt giữa các mùa, mùa hè nắng nóng có ngày lên tới 400C, mùa đông giá rét có khi tụt xuống 60C. Lượng mưa trung bình khoảng 1.730 mm/năm. Có hai mùa gió chính là gió bắc và gió nam, mùa hè có gió tây. 2. Đặc điểm kinh tế - xã hội. Huyện Lập Thạch có dân số tương đối đông. Theo kết quả của cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 1/4/1999 dân số của toàn huyện là 223.153 người. Trong đó dân số nam là 104.087 người chiến 46,64%, dân số nữ là 119.066 người chiến 53,56%. Dân số tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn với 216.641 người chiến 97,08% dân số của huyện. Nguồn lao động của huyện là 123.647 người. Trong đó hoạt động lao động trong các lĩnh vực kinh tế là 109.222 người bao gồm nông nghiệp là 86.285 người chiếm 79%, lao động thương nghiệp, dịch vụ là 6.902 người, doanh nghiệp tư nhân là 94 người chiếm 0,086%, lao động trong khu vực hành chính sự nghiệp là 2.615 người chiến 2,39% còn lại là 13.612 lao động thiếu và không có việc làm. Huyện Lập Thạch với đặc điểm sản xuất thuần nông, tiểu thủ công nghiệp nhỏ bé, chưa phát huy được thế mạnh của các làng nghề truyền thống của các địa phương, công nghiệp chưa có gì. Tình hình đời sống nhân dân trong huyện còn gặp nhiều khó khăn có trên 8.000 hộ nông dân thuộc diện đói nghèo chiếm 17,2%. Sản lượng lương thực năm đạt cao nhất là **** nghìn tấn, bình quân đầu người là 300kg/người/năm. Thu nhập bình quân đầu người mới chỉ đạt 1.624.000 đồng/người/năm. Trong đó dân số tăng nhanh, mức gia tăng bình quân mỗi năm là 3.500 người do vậy nguồn lao động cũng tăng theo hàng năm khoảng 2.000 người. Nhìn chung Lập Thạch là một huyện nghèo của tỉnh Vĩnh Phúc, cơ sở hạ tầng còn rất kém. Hệ thống điện, trường, trạm còn thiếu và yếu, chưa đủ tiêu chuẩn để phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp hoá nông thôn. II. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của huyện Lập Thạch. Năm 2000 là năm cuối thực hiện kế hoạch 5 năm (1996 - 2000). Với tinh thần phấn đấu để hoàn thành toàn diện các mục tiêu do Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 16 ddề ra, bằng nhiều biện pháp, chủ trương chính sách cụ thể trong việc tập trung phát triển kinh tế - xã hội. Do sự cố gắng vượt bậc của các cấp uỷ Đảng, chính quyền đã khắc phục được mọi khó khăn để hoàn thành các mục tiêu tạo điều kiện tiền đề cho công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. 1. Về kinh tế. 1.1. Sản xuất nông nghiệp. - Tổng diện tích gieo trồng là 24.808 ha, tăng 658,35 ha bằng 101,26% kế hoạch và 102,7% so với cùng kỳ năm 1999. Năng suất lúa đạt 37,47 tạ/ha tăng so với năm 1999 là 35,4 tạ/ha. Tổng sản lượng lương thực quy thóc cả năm là 60.218.000 tấn bằng 103,8% kế hoạch và 125,5% so với năm 1999. Diện tích ngô, khoai, sắn là 7.512 ha đạt kế hoạch về sản lượng. - Chăn nuôi: Đầu trâu có 13.344 con tăng 287 con so với năm 1999, đàn bò có 31.624 con tăng 498 con so với năm 1999 và đạt 98% kế hoạch, tổng đàn lợn có 96.594 con tăng 6.234 con so với năm 1999, tổng đàn gia cầm là 1.274.400 con tăng 46.800 con so với năm 1999, so với kế hoạch đạt 100%. Kết quả phát triển trong lĩnh vực chăn nuôi có tăng nhưng chưa tương xứng với tiềm năng của địa phương. Nguyên nhân chủ yếu là do tác động giá sản phẩm chăn nuôi thấp. Tuy vậy vẫn có nhiều hộ chăn nuôi đạt hiệu quả cao. - Thuỷ sản: Diện tích nuôi cá khoán cho hộ, nhóm hộ nông dân vẫn duy trì ổn định 1.054,7 ha. Sản lượng đánh bắt là 430 tấn, sản lượng tăng không đáng kể do hậu quả của đợt hạn hán năm 1999. 1.2. Sản xuất lâm nghiệp, kinh tế trang trại về dự án trồng cây ăn quả. a. Về lâm nghiệp. Diện tích trồng rừng tập trung 500 ha đạt 100% kế hoạch trong đó rừng sản xuất là 250 ha, rừng phòng hộ là 250. Công tác bảo vệ rừng đã được tăng cường thôg qua sự phối hợp chặt chẽ giữa địa phương với lực lượng kiểm lâm. Tuy nhiên, tình trạng phá rừng, vận chuyển buôn bán lâm sản trái phép còn diễn biến phức tạp nhất là ở khu vườnn Quốc gia Tam Đảo. b. Phong trào cải tạo vườn tạp trồng cây ăn quả. Tiếp tục được thực hiện dự ánhà nước trồng cây ăn quả đã tranh thủ nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển 6 tỷ đồng, vốn từ dự án 120 giải quyết việc làm tạo điều kiện cho nông hộ có vốn mua cây giống, phân bón ... tổ chức tập huấn kỹ thuật trồng cây ăn quả, hỗ trợ cây giống cho hộ đói nghèo... Kết quả trong năm trồng mới 180 ha chăm sóc diện tích trồng các năm trước. Kết quả trên còn rất hạn chế, chỉ tiêu trồng mới đạt 60% kế hoạch. Nó cho thấy một số hộ vay vốn còn sử dụng chưa đúng mục đích, sự chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng và chính quyền cơ sở chưa tích cực đối với dự án này. 1.3. Công tác giao thông, thuỷ lợi, xây dựng cơ bản và tiểu thủ công nghiệp. a. Giao thông. Tổng vốn đầu tư cho giao thông ước 9.063 triệu đồng bằng 135,17% so với năm 1999, vốn nâng cấp đường 305 ước thực hiện 3000/kế hoạch 5000 triệu đồng. - Đường 307: Tại thị trấn 500 triệu đồng. - Vốn giao thông nông thôn của Ngân hàng thế giới WB cho 7 tuyến 4.263 triệu đồng. - Vốn từ ngân sách huyện và các xã đầu tư: 1.300 triệu đồng. b. Thuỷ lợi. Vốn đầu tư cho thuỷ lợi: Ước thực hiện đạt: 6.300 triệu đồng. Cứng hoá kênh mương: 2.950 triệu. Trong đó vốn tỉnh hỗ trợ 2.890 triệu, vốn huyện đầu tư từ 4 nguồn 500 triệu đồng, vốn huy động 1.060 triệu, vốn tỉnh đầu tư cho các công trình thuỷ lợi trong huyện, nâng cấp đê: 1.850 triệu. c. Xây dựng thuỷ điện. Trong năng được hỗ trợ xây dựng điện cho các xã Bồ Lý 3 trạm biến áp, đường dây cao hạ thế bằng nguồn vốn DECF kinh phí 1.000 triệu đồng, tỉnh hỗ trợ kinh phí xây dựng điện cho các xã Tam Sơnhà nước, Quang Yên mỗi xã 200 triệu, trạm điện Vĩnh Thành xã Đạo Trù 120 triệu đồng. Tổng kinh phí xây dựng điện ước tính 1.602 triệu trong đó vốn ngân sách đầu tư 1.520 triệu. d. Xây dựng trường học. Trong năm triển khai xây dựng các trường tầng: PTTH Sáng Sơn, Trần Nguyên Hán, các trường PTTH cơ sở Vân Trục, Phương Khoan, Yên Dương, Ngọc Mỹ. Tỉnh hỗ trợ các công trình chuyển tiếp Đồng Thịnh, Liễn Sơn, Thái Hoà, Bồ Lý, Vĩnh Thành - Đạo Trù. Tổng kinh phíq đầu tư 6.206 triệu trong đó tỉnh 5.455 triệu, huyện 225 triệu, các xã tự huy động 526 triệu đồng. Nguồn vốn hỗ trợ của các tổ chức thế giới cho hai trường thị trấn Lập Thạch và xã Xuân Lôi làm trường học là 2.500 triệu đồng. e. Các công trình xây dựng khác. Đầu tư xây dựng nhà Huyện uỷ, trụ sở làm việc của HĐND và UBND, bệnh viện, trụ ssở làm việc của UBND một xã, tổng kinh phí 2.584 triệu. Trong đó ngân sách tỉnh 1.300 triệu, tự huy động 1.284 triệu đồng. Tổng kinh phí đầu tư xây dựng cơ bản các lĩnh vực là 25.755 triệu, trong đó: - Ngân sách tỉnh đầu tư: 18.838 triệu. - Huyện đầu tư: 1.640 triệu. - Ngân sách xã và dân đóng góp: 3.176 triệu. - Các nguồn khác: 2.101 triệu. Công tác quản lý xây dựng cơ bản đã có chuyển biến chấp hành quy chế quản lý đầu tư xây dựng theo Nghị định 52, Nghị định 12, Nghị định 88 và 14 của Chính phủ. Tuy nhiên còn bộc lộ một số tồn tại về trình độ chuyên môn nghiệp vụ của một số công trình do chủ thầu đầu tư không đủ khả nanưgn giám sát kỹ thuật, chất lượng công trình không đảm bảo yêu cầu thiết kế dẫn đến sai sót, hư hỏng, công trình làm xong chậm được quyết toán. Tình trạng nợ xây dựng cơ bản ở một số xã sau khi xây dựng không có vốn thanh toánhà nước tiếp tục phát sinh. f. Sản xuất tiểu thủ công nghiệp. Tổng giá trị sản phẩm ước đạt 27 tỷ đồgn tăng 105,4% so với năm 1999. Một số sản phẩm chủ yếu vẫn duy trì sản xuất, sản phẩm vẫn tiêu thụ được do nhu cầu địa phương. - Gạch nung 38.330 nghìn viên tăng 12,23 triệu viên. - Ngói 2,04 triệu viên tăng 0,29 triệu viên. - Cát sỏi 85 nghìn m3 tăng 6 nghìn m3. Sản xuất tiểu thủ công nghiệp vẫn còn ở quy mô nhỏ bé, sản phẩm truyền thống được đổi mới, chưa có nhân tố để phát huy phát triển giá trị của các sản phẩm. g. Thông tin bưu điện đảm bảo thông suốt, chất lượng được nâng lên, đến nay đã lắp đặt điện thoạt đến 100% số xã. Công tác phát hành báo chí, thư tín kịp thời trong ngày. h. Dịch vụ thương mại phát triển theo hướng tích cực, hàng hoá phong phó, đa dạng, giá cả bình ổn. i. Tài chính tín dụng. + Tổng thu ngân sách đạt: 13.300 triệu đồng. + Tổng chi ngân sách nhà nước là: 10.900 triệu đồng. Tuy vậy, bên cạnh những kết quả đạt được, các lĩnh vực kinh tế còn bộc lộ nhiều khó khăn yếu kém. Tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm sản xuất nông nghiệp còn bấp bênh và năng suất thấp, lệ thuộc vào tự nhiên. 2. Về văn hoá - xã hội. 2.1. Giáo dục đào tạo. Kết thúc năm học 1999 - 2000, học sinh tốt nghiệp tiểu học đạt 98%, trunng học cơ sở đạt 95%, phổ thông trung học đạt 98%, chất lượng giáo dục về đạo đức cũng có những chuyển biến rất tích cực. Tuy vậy việc chuyể biến vẫn chưa đồng đều do các yếu tố kinh tế xã hội, cở sở vật chất và công tác quản lý. 2.2. Công tác y tế - dân số và kế hoạch hoá gia đình. Các chương trình quốc gia về y tế được thực hiện đầy đủ, các chỉ tiêu đạt ở mức cao. Tiêm chủng mở rộng, phòng chống biếu cổ, phòng chống sốt rét, phòng chống lao, thanh toán bệnh phong đều được triển khai tích cực và có hiệu quả. Công tác dân số kế hoạch hoá gia đình đã có chuyển biến rõ rệt, đã làm thay đổi nhận thức đại bộ phân nhân dân, tỷ lệ phát triển dân số trong huyện tiếp tục giảm xuống còn 1,19%, tỷ lệ người sinh con thứ 3 giảm đáng kể. 2.3. Hoạt động văn hoá thông tin, thể dục thể thao. Công tác thông tin tuyên truyền có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các tổ chức chính trị xã hội phục vụ tốt các ngày lễ, các ngày kỷ niệm trọng đại và bám sát phục vụ các nhiệm vụ chính trị của huyện. Phong trào văn hoá văn nghệ, TDTT được phát động rộng rãi, thu hút đôg đảo quần chúng nhân dân tham gia. 2.4. Công tác lao động và thực hiện các chính sách xã hội. - Phong trào đền ơn đáp nghĩa, đoàn kết tươg trợ được đẩy mạnh. Chi trả kịp thời chính sách cho đối tượng. - Chỉ đạo có kết quả chương trình lồng ghép khai thác và sử dụng đúng mục đích các nguồn quỹ quốc gia giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo. Tóm lại, trong công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông thôn, Lập Thạch đã đạt được nhiều thành công bước đầu đáng kích lệ tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế xã hội của huyện trong những năm tiếp theo. III. Biến động dân số và các yếu tố ảnh hưởng. 1. Biến động dân số. Dân số thường xuyên vận động và phát triển, sự vận động đó do biến động tự nhiên và hiện tượng di dân tạo lên. Trong giai đoạn hiện nay ở huyện Lập Thạch, nhìn chung biến động về mức chết không nhiều, tăng giảm dân số chủ yếu quyết định bởi mức sinh và di dân. Để thấy được sự biến động dân số của huyện Lập Thạch, chúng ta tiến hành khảo sát và phân tích bảng số liệu 1. Số liệu của bảng 1 cho thấy tỷ suất biến động cơ học của huyện Lập Thạch có biến động qua các năm. Trong hai năm đầu của giai đoạn này (1992 - 1993). Số người nhập cư vào huyện lớn hơ số người xuất cư khỏi huyện khoảng 3,5 lần. Chính điều này kết hợp với mức sinh cao đã khiến cho quy mô dân số của huyện biến động đáng kể. Giai đoạn 7 năm kế tiếp có tới 4 năm là số người xuất cư lớn hơn số người nhập cư. Sỡ dĩ như vậy là vì Lập Thạch là một huyện nghèo, khả năng tạo việc làm thấp và sự hiện diện của một nền kinh tế thị trường nên một mặt kém hấp dẫn thu hút người lao động đến đây, những người nhập cư chủ yếu là bộ đội xuất ngũ và sinh viên trở về, mặt khác cùng với những khó khăn của kinh tế và xã hội của huyện đã khiến người dân nơi đây di dời quê hương đi đến những nơi khác có cơ hội tìm được một cuộc sống qua các năm gần đây tuy không cao song nó cũng phần nào làm cho quy mô dân số của huyện giảm xuống. Qua biểu 1 ta nhận thấy các ba yếu tố mức sinh, mức chết và hiện tượng di dân đều có tác dụng đáng kể đến sự thay đổi quy mô dân số. Vì vậy để thấy rõ hơn biến động dân số ta đi vào nghiên cứu các yếu tố chính sau đây: 1.1. Biến động quy mô dân số. Là chỉ tiêu quan trọng nhất được xem xét sự biến động của dân số. Nó cho phép nhìn nhận, đánh giá một cách khái quát tổng dân số của huyện qua các năm. - Cũng theo bảng 1, ta dễ dàng nhận thấy biến động mức chết của Lập Thạch. Giai đoạn trước năm 1994, tỷ suất chết thô tương đối cao (>8‰) sau đó mức chết giảm xuống tương đối thấp và giữ ở mức tương đổi ổn định (khoảng 7,5‰). Bởi vậy, mức sinh và di dân là hai yếu tố chính đến sự biến đổi quy mô dân số. Trước sức ép của sự gia tăng dân số, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành các chính sách về dân số nhằm giảm tỷ lệ gia tăng dân số quá nhanh. Đến năm 1993 công tác dân số thực sự được triển khai mạnh mẽ trên tất cả các vùng. Lập Thạch cũng bắt đầu thực hiện công tác dân số kế hoạch hoá gia đình song phạm vi áp dụng còn hạn hẹp, mới chỉ mạnh ở các cơ quan, xí nghiệp còn ở khu vực nông thôn, mặc dù ban dân số xã đã được thành lập song chưa toàn bộ và hoạt động chưa hiệu quả, mức sinh có giảm nhưng giảm chậm. Đến năm 1996 công tác dân số đã thực sự triển khai rộng khắp trên địa bàn toàn huyện, 100% các xã đã có ban dân số xã, mỗi cộng tác viên quản lý từ 100 đến 120 hộ. Việc triển khai thực hiện một cách nghiêm túc đã giúp cho mức sinh mới đây giảm xuống một cách đáng kể, chỉ trong vòng 5 năm 1992 đến 1996 tỷ suất sinh thô đã giảm 12%. Đây là một kết quả đáng mừng đánh dấu một sự thành công của công tác DS - KHHGĐ. Mặc dù kết quả đạt được là rất lớn song chúng ta cũng nhận thấy rằng sự giảm mức sinh cũng hết sức bấp bênh. Đây cũng là một điều đáng lưu ý bởi lẽ mức sinh còn còn chịu tác dụng nhiều yếu tố như. Phong tục tập quán, sắc tộc, tôn giáo, điều kiện kinh tế xã hội . Nếu công tác dân số không được quan tâm và phối hợp uyển chuyển với các công tác khác, nhận thức của người dân về DS - KHHGĐ không được thay đổi, người dân không tự giác nhận thức cần thiết phải chấp nhận quy mô gia đình ít con thì mới sinh có thể lại tăng lên với tốc độ cao chỉ trong ngày một ngày hai cùng với việc điều chỉnh mức sinh là những nỗ lực của Đảng, nhà nước và chính quyền địa phương điều chỉnh và kiểm soát các luồng di dân. 1.2. Cơ cấu dân số. Cơ cấu dân số là sự phân chia tổng dân số của một quốc gia hay một vùng một đơn vị hành chính nào đó thành các nhóm các bộ phận theo một hay nhiều tiêu thức khác nhau. Cơ cấu dân số tác động thực tiếp đến quá trình biến động dân số kể cả biến động tự nhiên và biến động cơ học của dân số. Trong các loại cơ cấu dân số thì cơ cấu tuổi và giới tính là một trong những đặc tính cơ bản của bất kỳ một nhóm dân số nào khi nghiên cứu biến động mức sinh, mức chết cũng như biến động cơ học bởi nó không chỉ đơn thuần mang tính sinh học mà còn liên quan đến tình trạng hôn nhân, lực lượng lao động, thu nhập quốc dân, cấu trúc kinh tế, xã hội. Biểu số liệu 2 (trang sau) sẽ là bức tranh miêu tả biến động cơ cấu dân số theo tuổi và giới tính của huyện Lập Thạch. Từ biểu cơ cấu tuổi và giới tính (biểu 2), ta dể nhận thấy rằng một hiện tượng mang tính phổ biến là tỷ trọng dận số nam cao hơn tỷ trọng dân số nữ ở độ tuổi dươí 15, tỷ trọng dân số nữ dần dần được tăng lên theo tuổi như ở tuổi 15 trở lên cơ cấu vể giới tính có sự thay đổi so với tuổi 0-15, tức là tỷ trọng của phụ nữ dần dần được tăng lên với những nhóm tuổi cao hơn. Có nhiều nguyên nhân khiến tỷ trọng dân số nam ngày càng giảm trong tổng dân số, nhưng một nguyên nhân hết sức quan trọng góp phần làmg giảm tỷ lệ nam giới là do sự khác nhau bề yếu tố sinh học, thêm vào đó nam giới thường phải đương đầu với những công việc nặng nhọc, tỷ lệ và mức độ sử dụng những kích thích có hại cho sức khoẻ chiếm đa số ở nam giới. Điều này đã tạo ra một sự mất cân đối giữa nam và nữ trong cơ cấu dân số khi xét đến tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động, ta thấy tỷ trọng trong độ tuổi lao động là 48,61% và phần còn lại là tỷ trọng dân số phụ thuộc, tỷ trọng dân số phụ thuộc khá lớn như vậy sẽ ảnh hưởng to lớn đến các mối quan hệ giữa sản xuất tiêu dùng và hàng loạt các vấn đề xã hội khác. Mặc dù lao động ở nông thôn là lao động thủ công mà trẻ em và người già đều có thể tham gia sản xuất song do diện tích đất đai trên đầu người thấp, năng suất lao động của những người này lại không đáng kể trong khi tình trạng thiếu việc làm ở những lao động chính lại là phổ biến. Bởi vậy, việc nghiên cứu biến động dân số để có giải pháp thích hợp để làm giảm thiểu và ổn định mức sinh nhằm giảm bớt tỷ lệ phụ thuộc, thay đổi cơ cấu theo hướng già hoá và chất lượng hoá dân số là mục tiêu đặt ra những cơ hội phát triển dựa trên tiềm năng của con người, tăng khả năng tích luỹ cho nền kinh tế, tăng thu nhập bình quân đầu người. 2. Các yếu tố ảnh hưởng đến biến động dân số . Quy mô dân số thường xuyên biến động theo thời gian. Nó có thể tăng hoặc giảm theo các thành phần biến động dân số như, chết và di dân. Như mục trước đã đề cập, việc biến động quy mô dân số huyện chịu nhiều ảnh hưởng của di dân của biểu 1 cho ta thấy tỷ suất chết thô tương đối ổn định ở mức thấp. Do đó biến động dân số ở huyện Lập Thạch chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi biến động của mức sinh và di dân. Tuy vậy để thấy rõ được sự biến động dân số nhất thiết chúng ta cần xem xét, phân tích và đánh giá thực trạng của cả 3 yếu tố cấu thành; như sinh, mức chết và di dân. 2.1. Thực trạng mức sinh của huyện Lập Thạch. Quá trình vận động dân số nói chung và mức sinh nói riêng ở huyện Lập Thạch không những chịu tác động của các yếu tố tự nhiên, sinh vật mà còn phụ thuộc vào các yếu tố kinh tế và xã hội, trong các thời kỳ khác nhau thì biến động về mức sinh cũng rất khác nhau. Tuy vậy chúng ta chỉ nghiên cứu 8 năm gần đây do giới hạn của bài viết. Biểu 3: Biến động về mức sinh trong thời gian qua. Chỉ tiêu Đ/vị 1992 1993 1994 1995 11996 1997 1998 1999 2000 1. Dân số Người 205226 207996 2139 21539 21803 20063 22199 22336 226031 2.W15-49 Người 46617 49724 49848 49997 21597 52957 53658 53992 54216 3. Số trẻ em sinh ra Người 6157 6198 5727 5946 3924 3839 3841 3727 3684 4. Trẻ em sinh CBR % 30 29,8 27,18 27,60 18,00 17,40 13,31 16,71 16,29 5. Tỷ suất tăqng TN % 19,75 19,64 19,06 18,65 10,59 10,58 9,89 9,42 9,25 Nguồn: UBDS - KHHGĐ huyện Lập thạch. Qua biểu 3 ta thấy, tỷ suất sinh tố (CBR) có sự thay đổi qua các năm. Tuy nhiên sự thay đổi giữa các năm không giống nhau. Trong những năm đầu 1992, 1993,1994 tỷ lệ này có xu hướng giảm xuống song đến năm 1995 mức sinh lại đột ngột tăng 0,42% so với năm 1994 sau đó mức sinh lại có xu hướng giảm xuống. Nhìn tổng thể 9 năm nghiên cứu, tỷ suất sinh thô giảm được 13,71%. Như vậy có thể nói năm 1996 với việc kiện toàn bộ máy tổ chức làm công tác dân số KHHGĐ từ tuyến huyện đến tuyến xã và chính thức đưa nghị quyết 04 của Hội nghi lần thứ 4 của Ban chấp hành trung ương đảng khoá VII vào thực tế ở huyện đã phát huy tác dụng một cách đáng kể. Khi xét đến tỷ lệ tăng tự nhiên dân số, ta thấy thời kỳ 1992 - 1995 tỷ lệ này đã giảm đều song vẫn ở mức cao so với mức giảm rất thấp (giảm 1,1% cho cả giai đoạn ), tỷ lệ này đặc biệt giảm váo năm 1996 (tỷ suất tăng tự nhiên giảm 9,6% của 1996 so với 1995). Nếu xét cả khoảng thời gian 9 năm nghiên cứu chỉ số này đã giảm được là 10,5%. Đây là một con số biểu hiện một sự thành công lớn trong công tác DS - KHHGĐ ở huyện Lập Thạch. Bên cạnh những yếu tố ảnh hưởng đến sự biến động dân số nói trên, biến động số sinh và tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi và tổng tỷ suất sinh cũng là những chỉ tiêu hết sức quan trọng phản ánh sự biến động dân số nơi này. Vào năm 1993, tổng tỷ suất sinh của huyện Lập Thạch là 3,44 con cho một phụ nữ, nhưng đến năm 1999 tỷ suất đã giảm xuống còn 2,12 con một phụ nữ. Như vậy qua 7 năm đã làm cho TFR giảm xuống 1,32 con cho một phụ nữ. Để có được những thành tích to lớn này trước hết phải nói đến sự hoạt động có hiệu quả của UBDS - KHHGĐ của huyện Lập Thạch với sự cộng tác nhiệt tình, có trách nhiệm của đội ngũ cán bộ cộng tác viên và báo cáo viên cư trú trên các xã huyện. Để thấy rõ hơn về các biến động mức sinh của huyện ta phải xét đến chỉ tiêu đặc trưng sinh theo tuổi. Việc nghiên cứu tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi theo nhóm rất có ý nghĩa cho việc đề ra các chính sách, biện pháp tác động vào các nhóm tuổi, độ tuổi để đạt được hiệu quả cao nhất trong công tác DS - KHHGĐ của huyện. Để minh chứng cho sự tác động này ta nghiên cứu bảng 4 và phân tích đánh giá nó. Qua biểu 4 cho chúng ta thấy: số phụ nữ ở các nhóm tuổi khác nhau là khác nhau, tương ứng với nó là số trẻ em được sinh ra ở các nhóm cũng là khác nhau. Do đó ở mỗi nhóm tuổi, số phụ nữ chiếm một tỷ suất sinh đặc trưng riêng. ở nhóm tuổi 15 - 19 chiếm tỷ lệ rất cao 20,39% tương ứng với 10753 người năm 1993; 20% với 9947 người năm 1995 và 20,75% với 11136 phụ nữ năm 1998. Số trẻ em sinh ra tương ứng với các năm là 134,86 và 88 trẻ em. ở nhóm tuổi này, về sinh học, người phụ nữ chưa được phát triển hoàn thiện về mặt thể lực cũng như mặt trí tuệ nên việc sinh con sẽ rất ảnh hưởng đến sức khoẻ của cả mẹ và con. Với sức mạnh của giáo dục và ý thức dân số và kế hoạch hoá gia đình mà tỷ suất sinh con ở nhóm tuổi này giảm đáng kể từ 12,61% năm 1993 xuống 8,64% năm 1995 và chỉ còn 7,9‰ năm 1998. Cụ thể là sau 6 năm tỷ suất sinh giảm đi 4,71‰ Chuyển sang hai nhóm tuổi 20 - 24 và 25 - 29 ta thấy hai nhóm này có mức sinh cao nhất và có và có những biến đổi theo xu hướng giảm theo các năm. + Đối với nhóm tuổi 20-24, tỷ suất sinh giảm rất nhanh từ 20‰ xuống 144,92‰, tuy vậy vẫn ở mức độ khá cao, điều này chứng tỏ tình trạng kết hôn ở huyện Lập Thạch thuộc diện khá sớm, đây chính là kết quả của tâm lý xã hội, tỷ lệ học cao ít, hoạt động xã hội của người dân còn rất hạn chế. + Đối với nhóm tuổi 25 - 29, là độ tuổi mà người phụ nữ đạt đến độ hoàn thiện về mặt sinh học ít nhất, tỷ suất sinh ở nhóm tuổi này cũng giảm đáng kể từ 210,6‰ xuống còn 144,92‰ sau 6 năm là một kết quả hết sức đáng mừng song nếu so với độ tuổi 20 - 24 thì nên có một tỷ suất cao hơn. Nhưng đây là vấn đề phức tạp có liên quan đến nhiều yếu tố kinh tế xã hội , phong tục tập quán và trình độ học vấn của người dân nói chung và lớp trẻ nói riêng. + Các nhóm 30 - 34, 34 - 39, 40 - 44 thì tỷ suất sinh đặc trưng cũng có xu hướng giảm xuống sau 6 năm. - ASFR30-34 giảm được 60,14‰. - ASFR35-39 giảm được 30,.46‰ - ASFR40-44 giảm được 27,98‰. + Nhóm tuổi 45 - 49 thì ASFR lại có sự biến động bất thường. Nếu tỷ suất này là 5,13 vào năm 1993 thì vào năm 1995 lại là 17,64 và lại giảm xuống còn 2,5‰ vào năm 1998. Sự biến động bất thường này cũng có thể là do sự sai lậch trong quá trình điều tra số trẻ em, số người trong độ tuổi sinh đẻ hoặc tuổi của những người sinh con không được xác định rõ ràng và cũng có thể còn do các nghuyên nhân khác. Tuy nhiên, dù ít hay nhiều thì sinh con ở nhóm tuổi này sẽ rất ảnh hưởng đến sức khoẻ của cả mẹ và con. Do vậy, nên có những biện pháp làm giảm đến mức thấp nhất tỷ suất sinh ở nhóm tuổi này. Như vậy, có thể khẳng định rằng huyện đã chú trong công tác tuyên truyền dân số đặc biệt đối với các đối tưượng ở các nhóm tuổi 20 - 24, 25 - 29 và 30 - 34 khiến mức sinh ở các nhóm tuổi này giảm rất mạnh nhưng công tác DS - KHHGĐ ở huyện cần phải có những biện pháp thiết thực để giảm tối thiểu mức sinh ở hai nhóm tuổi 15 - 19 và 45 - 49 nhằm bảo vệ cho sức khoẻ cho phụ nữ và trẻ em. Qua biểu 4 cho chúng ta thấy rằng phụ nữ ở huyện Lập Thạch tham gia vào quá trình để sớm, thời gian sinh đẻ kéo dài, đây có thể là nguyên nhân gây ra những biến động bất thường về mức sinh nếu như nhận thức về hành vi sinh đẻ của những người dân không rõ ràng về công tác DS - KHHGĐ của huyện không bền và không liên tục. Tỷ lệ sinh con thứ 3 cũng là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh rõ nét biến động mức sinh của huyện Lập Thạch. Để thấy rõ sự ảnh hưởng này, ta tiến hành nghiên cứu bảng số liệu 5. Qua biểu số liệu này, trong giai đoạn từ 1993 - 1996 tỷ lệ sinh con thứ 3+ có sự thay đổi bất thường. Năm 1993 tỷ lệ sinh con thứ 3+ là 34,44%, năm 1994 tỷ lệ này lại tăng lên. Biểu 5: Biến động số sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3+ Chỉ tiêu Đ/vị 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1998 2000 Tổng số sinh Người 6198 5727 5946 3924 3839 3841 3727 3684 Số sinh lần 3+ Người 2132 2315 2210 1413 1120 1055 683 667 Tỷ lệ sinh con thứ 3+ % 34,4 40,42 37,02 36,00 29,17 18,33 18,10 Nguồn: UBDS - KHHGĐ huyện Lập Thạch Hơn so với 1993 là 6,02%; năm 1995 tỷ lệ giảm xuống chỉ còn 37,02% (Giảm 3,4% so với năm 1994) và đến năm 1996 giảm đi 1,02% so với năm 1995. Tỷ lệ sinh con thứ 3 đặc biệt giảm mạnh trong thời kỳ 1998 - 1999 so với mức giảm là 9,14%. Sự biến động bất thường về tỷ lệ sinh con thứ 3+ trong giai đoạn 1993 - 1996 là do sự hoạt động kém hiệu quả và không liên tục công tác UBDS - KHHGĐ huyện kết hợp cùng với các ban ngành trong huyện và với sự cộng tác nhiệt tình và trách nhiệm của 40 công tác viên, 411 báo cáo viên đẩy mạnh công tác truyền thông dân số, gặp trực tiếp các đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ và đã có 2+ con, tư vấn cho họ ý thức được sâu hơn về ý thức DS - KHHGĐ đồng thời hướng._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc29789.doc
Tài liệu liên quan