Phát triển đồng bộ các loại thị trường trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam

LỜI MỞ ĐẦU Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX , Đảng ta đã chính thức tuyên bố:Mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kì quá độ nên chủ nghĩa xã hội là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong nền kinh tế thị trường,hầu hết các nguồn lực kinh tế đều được phân qua thị trường mà được phân bố vào các ngành,các lĩnh vực của nền kinh tế một cách tối ưu.Vì vậy, để xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,chúng ta phải tạo lập

doc24 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1207 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Phát triển đồng bộ các loại thị trường trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
cho sự hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường. Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay đã đạt được những thành tựu đáng kể trong quá trình thực hiện phát triển đồng bộ các loại thị trường.Song bên cạnh đó so với yêu cầu đặt ra thì chúng ta còn gặp nhiều khó khăn cần có những giải pháp để khắc phục tình trạng đó. Trên tinh thần đó,sau khi đã học tập môn kinh tế chính trị, để có nhận thức đúng đắn về mọi hoạt động phát triển đồng bộ các loại thị trường trong mô hình nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.Em đã lựa chọn đề tài:”Phát triển đồng bộ các loại thị trường trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”nghiên cứu làm đề án kinh tế chính trị. NỘI DUNG I. Một số vấn đề cơ bản về phát triển đồng bộ các loại thị trường trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. 1.1. Khái quát về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. 1.1.1. Khái niệm và đặc trưng cơ bản về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế thị trường ra đời và phát triển khi thị trường phát triển đồng bộ,hoàn chỉnh và các quan hệ thị trường phát triển tương đối hoàn thiện.Kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hoá,trong đó toàn bộ các yếu tố đầu vào và đầu ra của sản xuất đều được quyết định thông qua thị trường.Kinh tế thị trường không phải là một giai đoạn khác biệt, độc lậpđứng ngoài kinh tế hàng hoá mà là giai đoạn cao của kinh tế hang hoá. Kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa thực chất là kiểu tổ chức nền kinh tế vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật kinh tế thị trường vừa dựa trên những nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội.Do đó kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có hai nhóm nhân tố cơ bản tồn tại trong nhau,kết hợp với nhau và bổ xung cho nhau. Đó là nhóm nhân tố của kinh tế thị trường và nhóm nhân tố xã hội đang định hướng xã hội chủ nghĩa.Trong đó nhóm thứ nhất đóng vai trò như là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển nhanh, nhóm thứ hai đóng vai tròhướng dẫn,chỉ định sự vận động của nền kinh tế thị trường theo những mục tiêu đã được xác định.Vì vậy,có thể nói rằng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta vừa mang những đặc trưng chung của nền kinh tế thị trường,vừa là một kiểu tổ chức kinh tế thị trường,vừa là một kiểu tổ chức kinh tế-xã hội,trong đó quá trình sản xuất,phân phối,trao đổi và tiêu dùng đều được thực hiện thông qua thị trường. Như vậy,nền kinh tế thị trường không chỉ là công nghệ,là phương tiện để phát triển kinh tế-xã hội,mà còn là những quan hệ kinh tế-xã hội,nó không chỉ bao gồm các yếu tố lực lượng sản xuất mà còn cả một hệ thống quan hệ sản xuất.Do đó tính đặc thù của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta thể hiện ở những điểm sau đây: Một là,mục tiêu chiến lược của việc phát triển kinh tế thị trường ở nước ta là giải phóng sức sản xuất, động viên mọi nguồn lức trong nước và nước ngoài để thực hiện công nghiệp hoá,hiện đại hoá,xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội,nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội,cải thiện từng bước đời sống nhân dân. Hai là,hình thành đồng bộ và vận hành thông suốt có hiệu quả hệ thống các thị trường trong quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Ba là,có một hệ thống bảo hiểm an minh xã hội theo hướng từng bước thực hiện chế độ bảo hiểm cho mọi người lao động,mọi tầng lớp nhân dân,quan tâm hỗ trợ những người nghèo,những đối tượng được hưởng chính sách xã hội. Bốn là,phát triển nền kinh tế hàng hoá dựa trên đa dạng các hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế trong đó công hữu giữ vai trò chủ đạo và cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế. Năm là,phân phối theo lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh là chính, đồng thời đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội trong phân phối lại. Sáu là, chính phủ diều hành kinh tế vĩ mô trên cơ sở tôn trọng sự tác động khách quan của thị trường và cơ chế thị trường tạo các điều kiện thuận lợi cho các chủ thể kinh tế hoạt động. 1.1.2. Cơ sở khách quan của sự tồn tại và phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam. Phân công lao động xã hội với tính cách là cơ sở chung của sản xuất hàng hoá chẳng những không mất đi,mà trái lại còn được phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu.Phân công lao động trong từng khu vực,từng địa phương cũng ngày càng phát triển.Sự phát triển của phân công lao động được thể hiện ở tinh thần phong phú đa dạng và chất lượng ngày càng cao của sản phẩm đưa ra trao đổi trên thị trường. Trong nền kinh tế nước ta,tồn tại nhiều hình thức sở hữu, đó là sở hữu toàn dân,sở hữu tập thể,sở hữu tư nhân,sở hữu hỗn hợp. Do đó tồn tại nhiều chủ thể kinh tế độc lập.lợi ích riêng,nên quan hệ kinh tế giữa họ chỉ có thể thực hiện bằng quan hệ hàng hoá-tiền tệ. Thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể,tuy cùng dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất,nhưng các đơn vị kinh tế vẫn còn có sự khác biệt nhất định,có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh,có lợi ích riêng.Mặt khác,các đơn vị kinh tế còn có sự khác nhau về trình độ kỹ thuật-công nghệ,về trình độ tổ trức quản ký,nên chi phí sản xuất và hiệu quả sản xuất cũng khác nhau. Quan hệ hang hoá-tiền tệ còn cần thiết trong quan hệ kinh tế đối ngoại, đặc biệt trong điều kiện phân công lao động quốc tế đang phát triển ngày càng sâu sắc,vì mỗi nứơc là một quốc gia riêng biệt,là người chủ sở hữu đối với các hàng hoá đưa ra trao đổi trên thị trường thế giới.Sự trao đổi ở đây phải theo nguyên tắc ngang giá. Như vậy,khi kinh tế thị trường ở nứơc ta là một tồn tại tất yếu,khách quan,thì không thể lấy ý chí chủ quan mà xoá bỏ nó được. 1.2. Lý luận về phát triển đồng bộ các loại thị trường. 1.2.1. Những khái niệm cơ bản. Đồng bộ là có sự ăn khớp giữa tất cả các bộ phận hoặc các khâu,tạo nên một sự hoạt động nhịp nhàng của chính thể. Để có thể ăn khớp với nhau,các khâu,các bộ phận của một chính thể phải được sắp xếp và hoạt động theo một tương quan tỷ lệ nhất định gọi là tỷ lệ đồng bộ. Vậy,sự phát triển đồng bộ các loại thị trường là sự ăn khớp giữa các thị trường về loại hình,trình độ phát triển và quy mô tạo nên một sự hoạt động nhịp nhàng của hệ thống thị trường và nền kinh tế quốc dân. Sự đồng bộ của thị trường trước hết là hệ thống thị trường với đầy đủ các loại hình:thị trường tiền tệ,thị trường công nghệ,thị trường lao động,thị trường đất đai,thị trường hàng hoá,dịch vụ…. Sự đồng bộ các loại thị trường là vấn đề ăn khớp về cấp độ hay mức độ phát triển thị trường.Về phương diện lịch sử thị trường,có ba cấp độ phát triển như sau: -Cấp độ phát triển thị trường cổ diển: Đây là dạng thức của thị trường mà ở cùng một không gian,thời gian , địa điểm ba yếu tố người mua,người bán và hàng hoá xuất hiện đồng thời với nhau.Với dạng thực thị trường này,người ta có thể nhận biết về quy mô, động thái mua bán trên thị trường. -Cấp độ thị trường phát triển: Ở dạng thức thị trường này hàng hoá không nhất thiết phải xuất hiện đồng thời với người mua,người bán.Người ta có thể mua bán ngay cả trước khi hàng hoá được sản xuất ra. Đó là mua bán theo hợp đồng ký trước.Với dạng thức thị trường này,tính ”hiện hữu “ của thị trường không nhìn thấy được .Thị trường trải rộng cả không gian và thời gian. -Cấp độ thị trường hiện đại:Trên thị trường lúc này chỉ xuất hiện hoặc người mua,hoặc người bán.Khi đó,người trung gian xuất hiện làm công việc giao dịch chứng khoán,sở giao dịch và dịch vụ thương mại.Việc giao dịch thương mại…đáp ứng nhu cầu dịch vụ mua bán trên thị trường. Hiện nay,với các nước phát triển thì cấp độ thị trường hiện đại chiếm ưu thế phổ biến,thị trường phát triển còn chi phối ở phạm vi rất rộng,thị trường cổ diển là tàn dư. Ở nước ta hiện nay,có thể nói cấp độ thị trường cổ điển là phổ biến,chừng mực nào đó cấp độ thị trường phát triển đã có sức chi phối lớn trên thị trường,còn cấp độ thị trường hiện đại đang ở giai đoạn khởi phát. 1.2.2. Sự cần thiết để phát triển các loại thị trường trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mọi sự vật,hiện tượng chỉ có thể phát triển trong trạng thái cân đối;phá vỡ sự cân đối này phải hình thành sự cân đối mới tích cực hơn.Nền kinh tế quốc dân là một chỉnh thể thống nhất. Để nền kinh tế quốc dân phát triển ổn định ,bền vững các bộ phận cấu thành nên nó phải đồng bộ với nhau. Đó chính là điều kiện cần cho sự vận hành nền kinh tế.Trong nền kinh tế tự nhiên,tự cấp tự túc khi mà sản xuất và tiêu dùng trực tiếp , đồng nhất, ăn khớp với nhau thì sự đồng bộ của nền kinh tế quốc dân rất giản đơn và chung quy lại chỉ là tương quan giữa sản xuất-tiêu dùng-dự trữ. Ở đây,không xuất hiện thị trường kinh tế hàng hoá đối lập với kinh tế tự nhiên,sản phẩm trước khi đi vào tiêu dùng phải đi qua khâu phân phối lưu thông.Thị trường vừa là kết quả của sản xuất hàng hoá vừa là điều kiện của sản xuất hàng hoá.Sự tách biệt giữa sản xuất và tiêu dùng,giữa hàng và tiền đã dấn đến sự không khớp nhau về khối lượng,tiến độ ,thời gian sản xuất và tiêu dùng hàng hoá.Khi sản xuất xã hội càng phát triển thì đa số nhu cầu của con người được thoả mãn thông qua thị trường.Bản thân sự tiêu dùng(tiêu dùng cho cá nhân và tiêu dùng cho sản xuất) luôn đòi hỏi sự đồng bộ cao,nếu không tiêu dùng không thực hiện được. Trên thị trường có hai nhóm người hoạt động;Nhóm thứ nhất là những người mua hàng hoá,sử dụng dich vụ,nhóm thứ hai là những người bán hoặc cung cấp hàng hoá,dịch vụ cho tiêu dùng,sự phân nhóm này chỉ là tương đối và với mỗi người khi này thì thựôc nhóm người mua nhưng khi khác lại thuộc nhóm người bán.Thị trường là giao điểm gặp gỡ,tác động của hai nhóm người này.Cùng thông qua thị trường để giải quyết mâu thuẫn giữa người mua và người bán, đảm bảo thực hiện cân đối giữa cung và cầu.Mâu thuẫn trên thị trường phản ánh mâu thuẫn kinh tế,chính trị ,xã hội.Khi mâu thuẫn được giải quyết thì người mua ,người bán,người sản xuất điều thực hiện được mục tiêu của mình.Nhưng ách tắc trên thị trường có nguy cơ dần đến khủng hoảng kinh tế,mâu thuẫn gây mất ổn định xã hội.Như vậy,phát triển thị trường là điều kiện để phát triển sản xuất hàng hoá,suy rộng ra là điều kiện của sự phồn thịnh kinh tế xã hội. Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực thi hành chính sách mở cửa,hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Để phù hợp với môi trường quốc tế mới,chúng ta phải phát triển các thị trường để đáp ứng yêu cầu giao lưu kinh tế,hội nhập kinh tế quốc tế.Trong môi trường quốc tế hoá,sự phát triển đồng bộ các loại thị trường không chỉ đáp ứng yêu cầu trong nước mà còn nhằm vươn tới thị trường ngoài nước,tranh thủ cơ hội quốc tế để phát triển. Chính vậy,cả điều kiện chủ quan và khách quan, điều kiện trong nước và ngoài nước,trước mắt và dài lâu là đòi hỏi phải phát triển đồng bộ các loại thị trường. II. Thực trạng của quá trình hình thành và phát triển các loại thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. 2.1.Thực trạng phát triển của các loại thị trường hiện nay của nước ta. 2.1.1.Thị trường hàng hoá-dịch vụ Thị trường hàng hoá-dich vụ là thị trường mua bán và trao đổi những sản phẩm và dịch vụ của nền kinh tế.Nó được hình thành và ra đời sớm nhất cùng với sự hình thành và ra đời của sản xuất hàng hoá. Ở Việt Nam,thị trường hàng hoá-dịch vụ được phát triển nhanh từ khi thực hiện chủ trương đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo,nó đã góp phần làm sống động nền kinh tế đáp ứng nhu vầu ngày càng cao và đa dạng của sản xuất và đời sống nhân dân. Cùng với quá trình đổi mới nền kinh tế,thị trường hàng hoá,dịch vụ trong nước những năm qua đã có nhưng chuyển biến theo hướng tích cực.Thương mại hàng hoá ,dịch vụ trong nước liên tục tăng với tốc độ cao,từ đó đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú, đa dạng của sản xuất, đời sống,góp phần quan trọng vào sự phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã hội.Có thể khái quát tình hình thị trường hàng hoá,dich vụ trong nước như sau: Hiện nay,thị trường hàng hoá,dịch vụ được mở rộng và có tốc độ tăng trưởng cao ở cả ba vùng thành thị ,nông thôn và miền núi.Như trong năm 2004,tổng mức bán lẻ hàng hoá,dịch vụ cả nước đạt 372.477 tỷ đồng,tăng 18,5% so với năm 2003,nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì tổng mức bán lẻ hàng hoá,dịch vụ vẫn tăng khoảng 10%….Các mặt hàng quan trọng ,thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống được đáp ứng đủ,giá cả được kiểm soát.Thị trường nội địa đã vượt qua thời điểm”căng thăng” của quan hệ cung cầu và ảnh hưởng do giá cả của thị trường thế giới,thiên tai dịch bệnh trong nước,góp phần tăng trưởng kinh tế và đảm bảo đời sống xã hội.Các thành phần kinh tế tham gia vào thị trường ngày càng đa dạng và phong phú.Tham gia kinh doanh trên thị trường trong nước,không chỉ có nhưng doanh nghiệp thương mại Việt Nam thuộc các thành phần kinh tế mà còn xuất hiện các nhà phân phối nước ngoài . Điều đó phần khẳng định các doanh nghiệp thương mại trong nước đã dần thích nghi với cạnh tranh và cố gắng vươn nên trong công cuộc cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt. Cơ sở hạ tầng vật chất phục vụ thương mại trên thị trường trong nước được đầu tư đổi mới. Tính đên hết năm 2004 cả nước có 8.751 chợ,trong đó có 154 chợ đầu mối bán buôn nông sản,160 siêu thị và 32 trung tâm thương mại.Phần lớn các siêu thị ,trung tâm thương mại lớn ở Hà Nội và thành phố Hồ chí Minh đã đáp ứng được các điều kiện và tiêu chuẩn theo quy định và hoạt động có hiệu quả.Hệ thống kho tang bến bãi được quy hoạch lại .Nhiều doanh nghiệp đã ý thức được tầm quan trọng của thị trường trong nước,từng bước xây dựng,tổ chức mạng lưới kinh doanh,thiết lập mạng lưới đại lý mua bán hàng hoá,tổ chức hoạt động quảng bá thương hiệu,giới thiệu sản phẩm,xúc tiến bán hàng. Phương thức đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên thị trường trong nước ngày càng đa dạng.Bên cạnh hệ thống siêu thị,cửa hàng tự chọn,trung tâm thương mại…đã phát triển các chợ đầu mối nông sản,tạo thuận lợi cho nông dân tiêu thụ hàng hoá, đảm bảo nguồn hàng cho các nhà xuất khẩu,cho hệ thống bán lẻ,các hộ tiêu dùng lớn và phát luồng cho các địa phương.Năm 2004,doanh thu của các siêu thị chiếm 10% tổng mức bán lẻ hàng hoá,dịch vụ của cả nước,tăng 20% so với năm 2003. Điều này cho thấy trình độ tiêu dùng của xã hội ngày càng pháy triển theo hướng căn minh hiên đại hơn. Tuy vậy,thị trường hàng hoá và dịch vụ của nước ta vẫn còn nhiều hạn chế: Một là,tuy đã có sự liên kết giữa các nhà phân phối,giữa nhà phân phối với sản xuất trên thị trường trong nước,nhưng sự liên kết này còn lỏng lẻo,rời rạc.Chưa thiết lập được một hệ thống phân phối ổn định và vững chắc, đảm bảo sự liên kết chặt chẽ giữa sản xuất với thương mại và người tiêu dùng.Vai trò tổ chức và định hướng phát triển thị trường của doanh nghiệp thương mại nhà nước chưa rõ nét,chưa tạo được chỗ dựa để từ đó phát triển thị trường nội địa,góp phần tăng trưởng kinh tế thúc đẩy xuất khẩu,chủ động hội nhập và mở cửa nền kinh tế.Việc tổ trức lưu thông một số mặt hàng quan trọng như :phân bón,sắt thép,dược phẩm…chưa tốt,tính tự phát trên thị trường còn lớn,hệ thống phân phối còn nhiều tầng nấc,tăng chi phí lưu thông,gây thiệt hại cho người tiêu dùng. Hai là,mặc dù quy mô thị trường lớn nhưng các hình thức thương mại truyền thông nhỏ lẻ,tự phát vẫn là chủ yếu .Các hình thức kinh doanh hiện đại đã xuất hiện xong chiếm tỷ trọng nhỏ.Cơ sở hạ tầng vật chất cho thương mại của nước ta còn yếu kém,phân tán chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển thương mại theo hướng văn minh,hiện đại. Ba là,công tác quản lý thị trường còn yếu kém.Tình trạng buôn lậu,gian lận thương mai,hàng giả,hàng nhái,hàng kém chất lượng lưu thông trên thị trường còn phổ biến gây ảnh hưởng xấu đến tình hình cạnh tranh trên thị trường và làm nản lòng các doanh nhân chân chính.Thị trường nông thôn,miền núi,vùng sâu,vùng xa chậm phát triển và không đáp ứng được yêu cầu của nhân dân.Như vậy, thị trường hàng hoá,dịch vụ trong nước tuy đã có chuyển biến mạnh mẽ,xong vẫn chứa đựng nhiều yếu tố tự phát và bất ổn. 2.1.2.Thị trường tại chính. Thị trường tài chính là loại thị trường chủ yếu để mua bán trao đổi,cung cấp và thoả mãn những nhu cầu về vốn hoặc tài chính của các chủ thể trong nền kinh tế.Thị trường tài chính có rất nhiều loại hình khác nhau như thị trường vốn,thị trường tiền tệ,thị trường chứng khoán(cổ phiếu và trái phiếu)…. Có thể nói sau hơn 10 năm cải cách,thị trường tài chính nước ta đã hình thành tương đối đầy đủ,các thị trường cấu thành cơ bản mặc dù còn ở mức phát triển khác nhau.Theo báo cáo của ngân hàng nhà nước Việt Nam,tính đến tháng 8 năm 2005,hệ thống các tổ chức tín dụng đã được xây dựng không chỉ trên các thành phố lớn,mà còn được xây dựng ở các địa phương,các vùng nông thôn.Hệ thống tổ chức tín dụng gồm 5 ngân hàng thương mại nhà nước,ngân hàng chính sách xã hội,37 ngân hàng thương mại cổ phần,5 ngân hàng liên doanh,28 chi nhánh ngân hàng nước ngoài,40 văn phòng đại diện các ngân hàng nước ngoài,14 công ty tài chính và cho thuê tài chính….Sự xuất hiện của các tổ chức tín dụng này đã làm giảm được mất mát trong việc lưu thông,cất giữ tiền tệ. Đặc biệt là các ngân hàng chính sách khuyến khích các hộ nghèo,vay vốn đầu tư xây dựng trang trai, đồn điền góp phần phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn.Một trong những thành tựu mà thị trường tài chính đạt được,không thể không nhắc tới đó là thị trường chứng khoán đã hình thành và có những bước phát triển nhất định.Số lượng các nhà đầu tư tham gia vào thị trường liên tục tăng qua các năm,nếu như vào cuối năm 2000 mới có hơn 3000 nghìn tài khoản giao dịch thì đến nay đã có hơn 24.300 tài khoản ,trong đó có 246 nhà đầu tư có tổ chức và 251 nhà đầu tư nước ngoài.Cũng tính từ năm 2000,toàn thị trường có 4 công ty chứng khoán thành viên,1 tổ chức lưu ký chứng khoán nước ngoài,thì đên nay thị trường đã có một hệ thống lưu ký chứng khoán hoạt động ổn định với 13 công ty chứng khoán thành viên 2 tổ chức lưu ký trong nước và 3 tổ chức lưu ký chứng khoán nước ngoài.Thực hiên chủ trương của chính phủ,việc thúc đẩy cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước được tiến hành thông qua việc đấu giá công khai trên sàn giao dịch,tuy mới bắt đầu thực hiện từ đầu năm 2005 nhưng cũng đã góp phần huy động được một khối lượng vốn nhất định cho ngân sách nhà nước.Việc đấu thầu,huy động vốn thông qua việc phát hành trái phiếu(trái phiếu chính phủ,trái phiếu công ty,trái phiếu công trình,…)cũng được tiến hành thường xuyên hơn với 125 đợt đấu thầu,và huy động hơn 7.000 tỷ đồng trái phiếu chính phủ,trái phiếu đô thị,trái phiéu quỹ hỗ trợ phát triển.Các mô hình đầu tư mới như quỹ đầu tư chứng khoán,hợp đồng mua lại trái phiếu,cổ phiếu có kỳ hạn cũng đã bắt đầu xuất hiện trên thị trường, đã làm phong phú hơn cho hàng hoá giao dịch trên thị trường. Nhìn chung,hệ thống thị trường tài chính nước ta vẫn còn nhiều bất cập. Đặc biệt tình trạng độc quyền trong kinh doanh của các ngân hàng vẫn khá phổ biến; quyết định cho vay vẫn còn chịu ảnh hưởng lớn của các quyết định hnàh chính nhà nước;chưa mở rộng và thay đổi phương thức kinh doanh;năng lực thẩm định dự án thấp;trình độ cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu,chưa chủ động mở rộng thị trường,tìm kiếm khách hàng và dự án để cấp vốn,tỷ lệ nợ quá hạn và khó đòi cao,khả năng giám sát của Ngân hàng nhà nước đối với toàn hệ thống còn yếu kém….Hệ thống ngân hàng ,với những yếu kém cố hữu này đã phần nào gây nên thất thoát,lãng phí không nhỏ về tài sản của Nhà nước và nhân dân.Ngoài ra,số lượng người đầu tư chứng khoán cũng còn hạn chế,chủ yếu là các nhà đầu tư cá nhân, ít vốn và chịu ảnh hưởng nhiều bởi yếu tố tâm lý,và các nhà đầu tư có tổ chức,nhà đầu tư nước ngoài còn quá ít.Nếu tính bình quân hiện nay trên thị trường chỉ có khoảng 5% số tài khoản được giao dịch thường xuyên.Hệ thống văn bản pháp quy liên quan đến thị trường có tính pháp lý chưa cao,thiếu đồng bộ như chính sách ưu đãi về thuế trong công ty niêm yết,các vấn đề liên quan đến việc niêm yết cổ phiếu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,các chính sách ngoại hối đối với các nhà nước đầu tư nước ngoài….Quá trình tiến hành cổ phần hoá nhằm thúc đẩy quá trình tạo hàng cho thị trường còn rất mơ hồ.Chính vì vậy hoạt động huy động vốn của các doanh nghiệp thông qua thị trường chứng khoán vẫn chưa phát huy được hiệu quả và chưa trở thành động lực để thúc đẩy các doanh nghiệp nên niêm yết.Công tác tuyên truyền và phổ cập kiến thức về thị trường chứng khoán vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của thị trường.Do vậy,nguồn lực tham gia vào thị trường còn rất hạn chế.Chất lượng hoạt động và cung cấp dịch vụ trên thị trường chứng khoán cũng chưa cao,tính minh bạch và hiệu quả còn hạn chế,thể hiện ở chất lượng công tác công bố thông tin,chất lượng hoạt động của trung tâm giao dịch chứng khoán cũng như các thành viên thị trường.Các biểu hiện vi phạm trên thị trường ở một số công ty chứng khoán cũng như công ty niêm yết đã ảnh hưởng đến lòng tin của công chúng đầu tư.Như vậy cần có những giải pháp để khuýên khích công chúng tham gia nhiều vào thị trường tài chính. 2.1.3. Thị trường lao động. Thị trường lao động về mặt lý luận được hiểu là không gian trao đổi hàng hoá sức lao động.Bất kỳ ở đâu có giao dịch mua và bán loại hàng hoá” đắc biệt” này thì ở đó có thị trường lao động.Như vậy,thị trường lao động là một loại thị trường đặc biệt với tính chất, đặc điểm và các hình thức biểu hiện riêng vì nó liên quan đến con người với tư cách,một mặt là một thực thể kinh tế trong vai trò vừa là người sản xuất vừa là người tiêu dùng những hàng hoá ,dịch vụ do mình sản xuất ra,mặt khác,là thực thể xã hội trong vai trò một công dân có quyền lợi và nghĩa vụ và trước xã hội và cộng đồng. Với nhiều cải cách lớn về thể chế và chính sách kinh tế-xã hội nói chung,trong đó co thể chế và chính sách về lĩnh vực lao động-việc làm;Trong giai đoạn này thị trường lao động(trong nước cũng như ngoài nước) đã có nhưng bước chuyển đáng kể trên nhiều mặt:Tính đến 1/7/2005,cả nước có 11.106.583 người từ đủ 15 tuổi trở nên đang làm công ăn lương trong các ngành kinh tế quốc dân thuộc các loại hình kinh tế,chiếm 25,56% trong tổng số lao động có việc làm.Nói chung,tỷ lệ lao động làm công ăn lương chiếm trong tổng số lao động có việc làm cũng đã tăng đáng kể so với nhưng năm trước.Cũng với việc tăng tỷ lẹ lao động,thì thu nhập của người lao động tham gia thị trường này ngày càng được cải thiện và tương quan giữa thu nhập với chất lượng lao động ngày càng chặt chẽ theo hướng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao-thì thu nhập từ việc làm cũng cao.Theo kết quả điều tra lao động-việc làm 1/7/2005,thu nhập bình quân tháng của một lao động làm công ăn lương nói chung của cả nước là 973 nghìn VNĐ,tu nhập bình quân tháng của một lao động làm công, ăn lương tốt nghiệp cao đẳng, đại học gấp hai lần lao động chưa qua đào tạo; trong số lao động đã đào tạo ,lao động có trình độ càng cao thì tiền lương tiền công cũng càng cao,mức chênh lệnh giữa nhóm cao nhất và thấp nhất khoảng 1,5 lần.Tuy nhiên,thu nhập của lao dộng làm công ăn lương vẫn mang nặng tính bình quân hoá, đặc biệt là khu vực kinh tế nhà nước.Tiền lương,tiền công vẫn chưa thực sự đóng vai trò là công cụ tích cực trong điều chỉnh cung cầu trên thị trường lao động. Bên cạnh sự tăng cung cầu thị trường lao động trong nước,cầu thị trường lao động ngoài nước,cũng ngày càng ra tăng.Năm 2005,tình trạng lao động Việt Nam bỏ trốn,hoặc bỏ việc làm theo hợp đồng thành lao động bất hợp pháp giảm đáng kể,quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước trong khu vực đã được cải thiện,khả năng mở rộng thị trường sang Trung Đông có nhiều triển vọng.Chỉ trong năm năm(2001-2005) cả nước xuất khẩu được trên 295 nghìn lao động,thị trường xuất khẩu lao động từng bước được mở rộng và phát triển. Tuy nhiên, với những thành tựu đạt được thì thị trường lao động vẫn còn nhiều bất cập.Nguyên nhân chủ yếu là: Thứ nhất, đòi hỏi về việc làm vẫn đang là vấn đề bức xuc của xã hội do tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn còn cao.Cơ cấu và chất lượng lao động chuyển dịch còn chậm,năng suất lao động thấp. Thứ hai, lực lượng lao động đã qua đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động(cả trong nước và ngoài nước),khả năng cạnh tranh yếu, đặc biệt là thị trường lao động chất lượng cao. Thứ ba, thị trường lao động mới ở trong giai đoạn hình thành,lại chịu áp lực lớn về tăng dân số,tăng cung lao động và tình trạng đói nghèo.Trong khi đó việc điều tiết có hiệu quả đối với loại thị trường này lại đối mặt với những hạn chế lớn do thiếu căn cứ lý luận và những kinh nghiệm thực tiễn cần thiết. Thứ tư,hệ thống giao dịch trên thị trường lao dộng còn nhiều bất cập cả về mặt tổ chức,quản lý cũng như nội dung,hình thức hoạt động và hiệu quả kinh tế-xã hội. Thứ năm,hệ thống thông tin thị trường lao động còn nhiều yếu kém,cả về tổ chức hệ thống ,năng lực hoạt động cũng như khả năng đáp ứng nhu cầu của các đối tượng dùng tin. Thứ sáu, hệ thống các chính sách về thị trường lao động,mặc dù đã được đổi mới nhiều nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển (cả trong nước và nước ngoài) trong tình hình mới.Còn thiếu những chính sách cần thiết để phát triển và thu hút đội ngũ lao động có hàm lượng chất xám cao,nâng cao sức cạnh tranh của thị trường lao động. Thứ bảy,còn thiếu khung khổ pháp lý cần thiết(chưa có luật bảo hiểm,chưa có luật xuất khẩu lao động…) nên cả người lao động cũng như chủ sử dụng lao động đều bị thua thiệt khi tham gia thị trường lao động. Mặt khác,quy mô trình độ cao , đặc biệt là thị trường lao động chất xám vẫn còn nhỏ bé.Số lao động đã tốt nghiệp các cơ sở đào tạo như các trường dạy nghề,cao đẳng, đại học vẫn còn không ít số người đang trong tình trạng thất nghiệp.Do số lao động chưa đáp ứng được yêu cầu về kỹ năng ,kỹ thuật của các nhà doanh nghiệp và số tiền lương của một doanh nghiệp có thể trả quá thấp không đảm bảo được nhu cầu sinh hoạt tối thiểu cho người lao động, đặc biệt là lao động từ các địa phương khác đến xin việc. Nhìn chung,các kết quả đã đạt được trong lĩnh vực phát triển thị trường lao động ở Việt Nam còn khiêm tốn.Cần được chú trọng,có những giải pháp cần thiết để phát triển hoàn thiện hơn. 2.1.4.Thị trường bất động sản. Thị trường bất động sản là thị trường mua bán các loại hàng hoá chỉ tiêu hao dần giá trị nhưng vẫn giữ nguyên hình dáng tự nhiên của giá trị sử dụng trong quá trình tiêu dùng sản xuất hoặc tiêu dùng cá nhân,như nhà cửa,xưởng máy,…. Đất đai,nguồn tài nguyên quý giá và yếu tố đầu vào cần thiết cho sản xuất kinh doanh thuộc bất động sản,nhưng ở nước ta Hiến pháp quy định đất đai thựôc sở hũu toàn dân giữa các cá nhân với cá nhân không được mua bán mà chỉ được chuyển nhượng quyền sử dụng đất.Trong thực tiễn,người ta mua bán quyền sử dụng đất,nói cách khác là việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất được thực hiện về mặt kinh tế trong điều kiện kinh tế hàng hoá phát triển. Thị trường bất động sản tại Việt Nam hình thành chưa lâu,mang tính thời vụ.Nhưng cũng góp phần làm thay đổi bộ mặt đô thị và nông thôn. với đa dạng hoá các loại hình nhà ở,các khu đô thị,….Tuy nhiên,thị trường bất động sản đang rơi vào trạng thái “tĩnh”bộc lộ nhiều hạn chế từ những yếu tố chủ quan và khách quan làm ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng hoạt động của thị trường tiềm năng này.Tâm lý chờ chính sách nhà nước của cả người mua và người bán đang làm cho thị trường nhà đất thêm phức tạp,xuất hiện nhiều yếu tố khó lường.Theo những chuyên gia nhà đất,giao dịch nhà đất khó thực hiện thành công bởi thị trường đang chờ quy định của nhà nước về mức thuế chuyển nhượng và khung giá đất mới.Từ trước đến nay,phía mua và phía bán vẫn thực hiện giao dịch nhà đất là 5% ,trong đó 4% là thuế chuyển nhượng ,1% phí trước bạ.Thị trường trầm lắng còn chịu ảnh hưởng bởi nguyên nhân ,sau khi thực hiện luật đất đai,nhà nước khuyến khích đưa các giao dịch có sổ đỏ nên sàn ,nhưng do tỷ lệ nhà đất có sổ đỏ thấp,nên các giao dịch không có đủ thủ tục không thể thực hiện được.Ngay cả những giao dịch ngầm,phương thức giao dịch chính trên thị trường nhà đất lâu nay cũng chừng lại. Đất thổ cư rao bán nhiều,song phần lớn không giao dịch được do còn chờ cấp sổ đỏ nhà đất từ phía cơ quan nhà nước.Mặt khác, đất đai ở Việt Nam thựôc sở hữu nhà nước.Các cá nhân ,doanh nghiệp tổ chức,theo quy định của pháp luật không được tự do mua bán đất.Trong thực tế, người ta vẫn mua bán đất nhưng dưới hình thức khác.Như vậy,thị trường “ngầm” mua bán đất đang tồn tại.Do đó,giá trị thật và giá trị danh nghĩa của đất đai có khoảng cách rất lớn.Giá trị của đất chuyển vào giá trị sản phẩm hàng hoá dịch vụ không phản ánh đúng giá trị thực tế và mang tính áp đặt hành chính.Nó không bảo đảm tương đồng về giá trị với các yếu tố chi phí khác của hàng hoá tiêu dùng trên thị trường. Từ sự thay đổi cơ cấu ngành kinh tế liên quan đến dự chuyển đổi cơ cấu kinh tế xuất phát từ sự quá tải lao động trong một số ngành công nghiệp nặng, tình trạng thay đổi liên tục những nhu cầu về không gian, diên tích để phát triển các ngành sản xuất,kinh doanh,cũng như các nhu cầu về khách sạn và nhà nghỉ….Sự phân bố về mặt địa lý của những hiện tượng trên sẽ diễn ra không đồng đều trong cả nước, dẫn đến sự tập chung về một dạng bất động sản nào đó trong một vùng,làm sâu sắc thêm sự mất cân đối của thị trường bất động sản. Đồng thời,do sự tăng dân số tự nhiên, tỉ lệ kết hôn cao và do thu nhập khá cao của một số người.Cơ cấu phân bố dân số cũng bị thay đổi theo vùng do sự dịch chuyển dân số từ nông thôn vào thành thị,…quá trình này cũng làm cho thị trường bất động sản bị biến động thường xuyên. 2.1.5. Thị trường khoa học-công nghệ. Thị trường khoa học-công nghệ là thị trường mua bán chuyển giao các dây chuyền công nghệ,các phát minh sáng chế,các sản phẩm phần mềm….Về thực chất , khi thị trường khoa học và công nghệ được hình thành có nghĩa là quyền sở hữu trí tuệ được thực hiện về mặt kinh tế trong điều kiện hàng hoá phát triển.Dĩ nhiên thị trường khoa học-công nghệ ở nước ta phát triển theo hướng xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ,chủ động hội nhập kinh tế quốc dân, bảo vệ bí mật quốc gia.Cũng như các thị trường khác,thị trường khoa hoc-công nghệ bao gồm các thành phần cơ bản là các sản phẩm,dịch vụ khoa học-công nghệ ;các chủ thể tham gia thị trường như bên cung(người bán), bên cầu(người mua);giá cả;thể chế,luật lệ,quy tắc vận hành thị trường. Trong thực tế,khoa học-công nghệ ở nước ta vẫn chưa phát triển đủ mạnh,nhưng cũn._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc35765.doc
Tài liệu liên quan