Phương hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu đầu tư theo hướng hợp lý ở Việt Nam

Tài liệu Phương hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu đầu tư theo hướng hợp lý ở Việt Nam: LỜI NÓI ĐẦU Xét theo nghĩa rộng của đầu tư là bỏ ra lợi ích của hiện tại để tìm kiếm một lợi nhuận trong tương lai. Xét theo nghĩa hẹp thì sự đầu tư ấy phải làm tăng thêm một khối lượng nào đó các nguồn lực ban đầu, hay đó chính là đầu tư phát triển. Điều đó có nghĩa là sẽ làm cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển. Như vậy đầu tư có một vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế. Đầu tư phát triển có tác động đến nhiều mặt như: tổng cung, tổng cầu; tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy sự phát tri... Ebook Phương hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu đầu tư theo hướng hợp lý ở Việt Nam

doc67 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1475 | Lượt tải: 1download
Tóm tắt tài liệu Phương hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu đầu tư theo hướng hợp lý ở Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ển của khoa học công nghệ, tác động hai mặt đến sự ổn định của nền kinh tế và tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kính tế. Là yếu tố tác động đến tăng trưởng vì thế để có một sự tăng trưởng bền vững thì cần phải có một cơ cấu đầu tư hợp lý. Một nền kinh tế phát triển bền vững là một nền kinh tế có cơ cấu kinh tế hợp lý, tăng tỉ trọng của ngành công nghiệp dịch vụ và giảm dần tỉ trọng của ngành nông nghiệp trong tổng thu nhập quốc dân. Điều này đòi hỏi cần có một cơ cấu đầu tư hợp lý, phù hợp với những mục tiêu chiến lược phát triển của đất nước trong từng giai đoạn cụ thể. Trong đề tài này chúng em muốn đi sâu nghiên cứu một nội dung của đầu tư là cơ cấu đầu tư và cơ cấu đầu tư hợp lý. Qua đó xem tác động của nó tới nền kinh tế Việt Nam trong những năm qua từ đó xác định những vấn đề tồn tại cũng như một số giải pháp khắc phục nhằm hoàn thiện cơ cấu đầu tư hướng đến cơ cấu kinh tế hợp lí theo hướng CNH-HĐH. PHẦN MỘT: MỘT SỐ LÍ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CẤU ĐẦU TƯ, CƠ CẤU ĐẦU TƯ HỢP LÍ. 1. Đầu tư và đầu tư phát triển: 1.1.Đầu tư: 1.1.1. Khái niệm. Theo nghĩa rộng, đầu tư là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực hiện tại. Nguồn lực phải hi sinh đó có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ. Những kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường sá, bệnh viện, trường học..), tài sản trí tuệ ( trình độ văn hóa,chuyên môn ,quản lí,khoa học kĩ thuật..) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất lao động cao hơn trong nền sản xuất xã hội. Điều này thể hiện rõ tính lan tỏa của đầu tư: không chỉ đem lại lợi nhuận cho nhà đầu tư mà còn mang lại lợi ích cho nền kinh tế. Theo nghĩa hẹp, đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại, nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực hiện tại. 1.1.2 Đầu tư phát triển. Nếu xét trong phạm vi quốc gia, chỉ có những hoạt động trực tiếp làm tăng tài sản của nhà đầu tư và cả nền kinh tế thuộc phạm trù đầu tư theo nghĩa hẹp là đầu tư phát triển. Nói cách khác, đầu tư phát triển là lọai đầu tư quyết định trực tiếp đến sự phát triển của nền sản xuất xã hội, là bộ phận cơ bản của đầu tư… 1.2. Vai trò của đầu tư phát triển. 1.2.1 Đầu tư phát triển tác động đến tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế. - Tác động đến tổng cầu: Theo số liệu của ngân hàng thế giới, đầu tư thường chiếm từ 24-28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới. Tác động của tổng cầu thể hiện rõ trong ngắn hạn.Xét theo mô hình kinh tế vĩ mô, đầu tư là bộ phận chiếm tỉ trọng lớn trong tổng cầu. Từ mô hình tổng cầu : AD= C + I+ G +X-M. Trong đó: C : Tiêu dùng. I : Đầu tư. G: Tiêu dùng của Chính phủ. X: Xuất khẩu. M: Nhập khẩu. Như vậy khi cung chưa kịp thay đổi gia tăng đầu tư (I) làm cho tổng cầu (AD) tăng (nếu các yếu tố khác không đổi). -Tác động đến cung : Tổng cung của nền kinh tế gồm hai nguồn chính là cung trong nước và ngoài nước.Hàm cung trong nước được biểu diễn qua hàm: Q =F( K, L, T, R…). K: vốn đầu tư. L:Lao động. T: Công nghệ. R: Nguồn tài nguyên. Tăng qui mô vốn đầu tư (K) là nguyên nhân trực tiếp là tăng tổng cung của nền kinh tế (nếu các yếu tố khác không đổi).Mặt khác tác động của vốn đầu tư còn được thực hiện thông qua hoạt động đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới công nghệ..Do đó đầu tư gián tiếp làm tăng tổng cung nền kinh tế. 1.2.2 Mối quan hệ giữa đầu tư phát triển và tăng trưởng kinh tế. Đầu tư vừa tác động đến tốc độ tăng trưởng vừa tác động đến chất lượng tăng trưởng. Tăng qui mô vốn đầu tư và sử dụng vốn đầu tư hợp lí là những nhân tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư ,tăng năng suất nhân tố tổng hợp, tác động đến việc dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế…do đó nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế. Biểu hiện tập trung của mối quan hệ giữa đầu tư phát triển với tăng trưởng kinh tế thể hiện ở công thức tính chỉ số ICOR = đầu tư trong kì/GDP tăng thêm. Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP phụ thuộc hoàn toàn vào vốn đầu tư. Theo một số nghiên cứu, muốn giữ tốc độ tăng trưởng cao và ổn định thì tỉ lệ đầu tư phải chiếm trên 25% so với GDP. 1.2.3 Đầu tư phát triển tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Con đường tất yếu để dẫn tới sự tăng trưởng trên thế giới là tăng cường đầu tư vào khu vực công nghiệp và dịch vụ, giảm đầu tư vào khu vực nông, lâm, ngư nghiệp. Đầu tư góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với qui luật và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia trong từng thời kì, tạo ra sự cân đối mới trên phạm vi nền kinh tế quốc dân và giữa các ngành, vùng, phát huy nội lực của nền kinh tế trong khi vẫn coi trọng yếu tố ngoại lực.Chẳng hạn đối với cơ cấu ngành: đầu tư vốn vào ngành nào, qui mô vốn bao nhiêu, hiệu quả sử dụng vốn cao hay thấp...đều ảnh hưởng đến tốc độ phát triển, đến khả năng tăng cường cơ sở vật chất của từng ngành, tạo tiền đề vật chất để phát triển các ngành mới. 1.2.4 Đầu tư phát triển tác động đến khoa học công nghệ. Đầu tư là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đổi mới và phát triển khoa học công nghệ của một doanh nghiệp cũng như của một quốc gia. Quá trình đổi mới công nghệ đòi hỏi một lượng vốn đầu tư rất lớn (mua thiết bị linh kiện, bằng sáng chế…). Mỗi doanh nghiệp hay quốc gia cần có bước đi phù hợp để lựa chọn công nghệ phù hợp. Trên cơ sở đó đầu tư hiệu quả để phát huy lợi thế so sánh từng đơn vị cũng như của toàn nền kinh tế quốc dân. 2. Cơ cấu đầu tư,cơ cấu đầu tư hợp lí. 2.1. Cơ cấu đầu tư. 2.1.1 Khái niệm và bản chất. Khái niệm: Cơ cấu đầu tư là cơ cấu các yếu tố cấu thành đầu tư như cơ cấu về vốn, nguồn vốn, cơ cấu huy động và sử dụng vốn.. quan hệ hữu cơ, tương tác qua lại giữa các bộ phận trong không gian và thời gian, vận động theo hướng hình thành một cơ cấu đầu tư hợp lý và tạo ra những tiềm lực lớn hơn về mọi mặt kinh tế xã hội. Bản chất: Về bản chất, cơ cấu đầu tư luôn thay đổi trong từng giai đoạn phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội. Cơ cấu đầu tư chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, có nhân tố thuộc nội tại nền kinh tế, có nhân tố tác động từ bên ngoài, có nhân tố tích cực tích cực thúc đẩy phát triển, song cũng có nhân tố kìm hãm, hạn chế sự phát triển. 2.1.2 Các loại cơ cấu đầu tư. a) Cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn : Cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn hay cơ cấu nguốn vốn đầu tư thể hiện quan hệ tỉ lệ của từng loại nguồn vốn trong tổng vốn đầu tư xã hội hay nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp. Cùng với sự gia tăng vốn đầu tư xã hội, cơ cấu nguồn vốn ngày càng đa dạng hơn, phù hợp với cơ chế xoá bỏ bao cấp trong đầu tư, chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần và chính sách huy động mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển. Trên phạm vi quốc gia, một cơ cấu nguồn vốn hợp lí là cơ cấu phản ánh khả năng huy động mọi nguồn nguồn lực đầu tư cho đầu tư phát triển, phản ánh khả năng sử dụng hiệu quả cao mọi nguồn vốn đầu tư, là cơ cấu thay đổi theo hướng giảm dần tỉ trọng của nguồn vốn đầu tư từ ngân sách, tăng cường tỉ trọng nguồn vốn tín dụng ưu đãi và nguồn vốn của dân cư. Nước ta, thời kì 1986-1990 nguồn vốn tín dụng ưu đãi của nhà nước chiếm tỉ trọng không đáng kể, vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước đạt 1,35% tổng vốn đầu tư, đầu tư nước ngoài chỉ khoảng 6,5% và các nguồn viện trợ không nhiều thì nguồn vốn đầu tư xã hội chủ yếu vẫn là vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước. Nhưng đến thời kỳ từ 1991 cho đến nay, cơ cấu nguồn vốn đầu tư đã có sự thay đổi lớn. Nguồn vốn đầu tư cấp phát trực tiếp của ngân sách giảm dần, từ 23,59% (1991-1995) xuống còn 21,87% (1996-2000). Cơ cấu đầu tư theo nguốn vốn bao gồm các bộ phận: Vốn ngân sách nhà nước: Là nguồn vốn được trích ra từ ngân sách của nhà nước chi cho các hoạt động đầu tư. Đây là một nguồn quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Nó thường được sử dụng cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ các dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của nhà nước. Vốn tín dụng đầu tư phát triển nhà nước: nguồn này có vai trò quan trọng trong phục vụ cho công tác quản lý nhà và điều tiết kinh tế vĩ mô. Thông qua nguồn này, nhà nước khuyến khích phát triển kinh tế của các ngành, vùng, lĩnh vực theo định hướng chiến lược của mình. Nguồn này có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kể bao cấp vốn trực tiếp của nhà nước. Với cơ chế tín dụng, các đơn vị sử dụng vốn phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay. Vốn tín dụng đầu tư là một hình thức quá độ chuyển từ phương thức cấp phát vốn ngân sách sang phương thức tín dụng đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp. Nguồn vốn còn được phân bổ để thực hiện các mục tiêu phát triển xã hội. Vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước: được xác định là thành phần giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, các doanh nghiệp nhà nước nắm giữ một khối lượng vốn nhà nước khá lớn. Nguồn vốn này chủ yếu bao gồm từ khấu hao tài sản cố định và thu nhập giữ lại tại doanh nghiệp nhà nước. Vốn đầu tư tư nhân và dân cư: bao gồn phần tiết kiệm của dân cư, phần tích luỹ của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã. Vốn của dân cư phụ thuộc vào thu nhập của các hộ gia đình. Quy mô của nguồn tiết kiệm này phụ thuộc vào: trình độ phát triển của đất nước, tập quán tiêu dùng của dân cư, chính sách động viên của nhà nước thông qua thuế thu nhập và các khoản đóng góp đối với xã hội. Đối với các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, các hợp tác xã đã và đang hoạt động, thì phần tích luỹ của các doanh nghiệp này cũng sẽ đóng góp đáng kể vào tổng quy mô vốn đầu tư của toàn xã hội. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài: là loại hình đầu tư nước ngoài trong đó người sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn. Sự ra đời và phát triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài là kết quả tất yếu của quá trình phân công lao động quốc tế. Đây là nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển. Đầu tư trực tiếp nước ngoài mang theo toàn bộ tài nguyên kinh doanh vào nước tiếp nhận nên nó có thể thúc đẩy phát triển ngành nghề mới, đặc biệt những ngành đòi hỏi cao về kĩ thuật, công nghệ hay cần nhiều vốn. Nó có các hình thức chính như: Hợp đồng hợp tác kinh doanh, liên doanh,công ti 100% vốn nước ngoài, các hình thức khác như EPZ, BOT, BTO,BT. Nguồn vốn này có tác dụng cực kì to lớn đối với quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng trưởng nhanh ở nước nhận đầu tư. Không những là nguồn bổ sung vốn quan trọng, đầu tư trực tiếp nước ngoài còn đóng góp vào việc bù đắp thâm hụt tài khoản vãng lai và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế. Đặc biệt nguồn vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần tích cực vào việc hoàn chỉnh hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông vận tải ,bưu chính viễn thông ..bước đầu hình thành các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, đồng thời giải quyết công ăn việc làm cho hàng vạn lao động tại các địa phương….Bước đầu hình thành được các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá và đô thị hoá. b, Cơ cấu vốn đầu tư. Cơ cấu vốn đầu tư thể hiện quan hệ tỷ lệ giữa từng loại vốn trong tổng vốn đầu tư xã hội, vốn đầu tư của doanh nghiệp hay của một dự án. Trong thực tế, có một số cơ cấu vốn đầu tư quan trọng cần được chú ý: Cơ cấu vốn đầu tư XDCB; vốn đầu tư cho công tác nghiên cứu khoa học, công nghệ và môi trường, vốn đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực, những chi phí tạo ra tài sản lưu động và những chi phí khác…; Cơ cấu vốn đầu tư theo quá trình và thực hiện dự án như chi phí chuẩn bị đầu tư chi phí chuẩn bị thực hiện đầu tư, chi phí thực hiện đầu tư…. Trong doanh nghiệp thì cơ cấu vốn đầu tư có thể được phân chia theo lĩnh vực hoạt động của nó, chẳng hạn đối với một công ti S cơ câú vốn đầu tư chia thành: đầu tư trong lĩnh vực xuất khẩu lao động, đầu tư trong lĩnh vực xây dựng kinh doanh hạ tầng; đầu tư sản xuất kinh doanh sản phẩm; đầu tư khác. Cách khác, đầu tư của công ti có thể chia thành vốn đầu tư cho xây lắp, đầu tư thiết bị, chi phí khác. .. c, Cơ cấu đầu tư phát triển theo ngành. Cơ cấu đầu tư phát triển theo ngành là cơ cấu thực hiện đầu tư cho từng ngành kinh tế quốc dân cùng như trong từng tiểu ngành, thể hiện việc thực hiện chính sách ưu tiên phát triển, chính sách đầu tư đối với từng ngành trong một thời kì nhất định. - Xem xét cơ cấu đầu tư theo hai nhóm ngành: sản xuất sản phẩm xã hội và nhóm ngành kết cấu hạ tầng.Trong đó đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng phải đi trước một bước, nhưng cần có tỉ lệ hợp lí vì nếu quá tập trung cho đầu tư cho cơ sở hạ tầng, không chú ý đúng mức cho đầu tư sản xuất kinh doanh thì sẽ khó hoặc không có tăng trưởng. - Xem xét cơ cấu đầu tư theo ba nhóm ngành: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ. Theo đường lối công nghiệp hóa hiện đại hóa của Đảng, ưu tiên phát triển công nghiệp và dịch vụ, chú ý đầu tư phát triển nông nghiệp hợp lí xuất phát từ tình hình thực tiễn của nước ta. - Xem xét cơ cấu đầu tư theo hai khối ngành: khối ngành chủ đạo và khối ngành còn lại. Đầu tư phải đảm bảo tương quan hợp lí giữa hai khối ngành để nền kinh tế vừa có những sản phẩm chủ đạo, tạo thế và lực cho sự phát triển lâu dài, đồng thời đảm bảo sự phát triển tổng hợp đáp ứng yêu cầu tăng trưởng nhanh và bền vững. d, Cơ cấu đầu tư phát triển theo vùng, lãnh thổ. Cơ cấu đầu tư theo địa phương, vùng lãnh thổ là cơ cấu đầu tư vốn theo không gian, nó phản ánh tình hình sử dụng nguồn lực địa phương và việc phát huy lợi thế cạnh tranh của từng vùng. Một cơ cấu đầu tư theo địa phương hay vùng lãnh thổ được xem là hợp lý nếu nó phù hợp với yêu cầu, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, phát huy lợi thế có sẵn của vùng trong sự hài hoà cân đối phát triển với các vùng khác. - Xem xét cơ cấu đầu tư theo lãnh thổ: lãnh thổ phát triển và lãnh thổ kém phát triển.Ở Việt nam,vùng lãnh thổ có tính chất động lực( phát triển) là ba vùng kinh tế trọng điểm:Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, miền Trung và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. - Xem xét cơ cấu đầu tư theo lãnh thổ kinh tế, Việt nam có thể chia thành các vùng: -Trung du và miền núi phía Bắc. -Đồng bằng Bắc bộ -Bắc trung bộ và duyên hải miền Trung. -Tây nguyên. -Đông nam bộ. -Đồng bằng sông Cửu long. Trong thời gian qua, tổng vốn đầu tư xã hội được phân vào hai vùng kinh tế lớn là đồng bằng sông Hồng và vùng Đông nam bộ, hai vùng có tỉ trọng vốn đầu tư nhỏ nhất là vùng miền núi phía bắc và vùng núi Tây nguyên. 2.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới cơ cấu đầu tư. Cơ cấu đầu tư chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố. Các nhân tố đó có thể là các nhân tố trong nội tại nền kinh tế, cũng có thể là những nhân tố tác động từ bên ngoài. Các nhân tố đó có thể là nhân tố tích cực thúc đẩy sự chuyển dịch tới một cơ cấu đầu tư hợp lý, cũng có thể là những nhân tố tiêu cực kìm hãm sự chuyển dịch đó. Trong các nhân tố tác động đó có một số nhân tố đáng chú ý sau: Nhân tố thị trường và nhu cầu tiêu dùng của xã hội: đây là nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng đến cơ cấu đầu tư.Nó là nhân tố quyết định để trả lời cho câu hỏi cái gì? Cho ai? trong quá trình ra quyết định của chủ đầu tư: cái gì, cho ai và như thế nào?. Khi quyết định đầu tư vào ngành lĩnh vực nào thì chủ đầu tư trước hết phải nghiên cứu thị trường, xác định nhu cầu thị trường cũng như tình hình cung ứng sản phẩm đó trên thị trường. Có như vậy mới biết được liệu việc đầu tư vào lĩnh vực đó có mang lại lợi nhuận hay không? Có đáp ứng được nhu cầu của xã hội hay không? Như vậy quyết định đầu tư của chủ đầu tư chịu sự tác động lớn của yếu tố nhu cầu thị trường. Do đó, khối lượng vốn đầu tư cho các ngành các lĩnh vực khác nhau cũng khác nhau. Và như vậy cơ cấu đầu tư sẽ thay đổi khi cầu tiêu dùng xã hội thay đổi. Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất: lực lượng sản xuất càng phát triển thì trình độ chuyên môn hoá càng cao. Sự chuyên môn hoá trong sản xuất giữa các ngành, lĩnh vực, giữa các vùng làm cho mỗi ngành, lĩnh vực cũng như mỗi vùng kinh tế có những đặc thù riêng, có thế mạnh riêng. Những thế mạnh đó tạo ra sức hút đối với các nhà đầu tư. Điều đó có nghĩa là trình độ phát triển lực lượng sản xuất có ảnh hưởng không nhỏ đến cơ cấu đầu tư. Ngày nay khi lực lượng sản xuất phát triển đến trình độ quốc tế hoá, khoa học công nghệ phát triển đặc biệt là sự phát triển của công nghệ thông tin cho phép việc tiếp cận, tìm hiểu các thông tin thị trường của các nhà đầu tư dễ dàng hơn, chính xác hơn. Do đó các nhà đầu tư có thể xác định được chiến lược đầu tư hợp lý để nâng cao năng lực cạnh tranh, chủ động hội nhập. Quan điểm, chiến lược mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong từng giai đoạn nhất định: có thể nói đây là nhân tố có tác động quyết định tới cơ cấu đầu tư. Vai trò điều tiết nền kinh tế của nhà nước không những là đề ra những chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội mà còn là việc nhà nước thực hiện các biện pháp nhằm điều chỉnh, hướng nền kinh tế xã hội phát triển theo đúng mục tiêu, chiến lược đã đề ra. Nhà nước có thể đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước để xây dựng những chương trình, dự án phát triển trong quy hoạch, kế hoạch đồng thời cũng có thể đưa ra những chính sách ưu đãi, những biện pháp hỗ trợ.. nhằm thu hút các nguồn vốn đầu tư vào các ngành, các vùng…theo định hướng của mình. Những biện pháp này đã thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu đầu tư thực hiện sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế xây dựng nền kinh tế phát triển theo đúng mục tiêu chiến lược đã đề ra, nhằm xây dựng một nền kinh tế phát triển hơn, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá trong nước trên trường quốc tế. Cơ chế quản lí: môi trường đầu tư của một quốc gia và trong từng ngành bị ảnh hưởng rất lớn bởi cơ chế quản lí của quốc gia đó .Nếu môi trường pháp lí hoàn chỉnh, thông thoáng và ổn định sẽ là điệu kiện thuận lợi thu hút các nhà đầu tư tham gia. Ngược lại, nếu môi trường pháp lí còn nhiều kẽ hở,chưa đồng bộ,đồng thời gây cản trở cho quá trình đầu tư thì đó là một rào cản lớn ngăn các nhà đầu tư tham gia đầu tư.Trong cơ chế quản lí thì khuôn khổ pháp luật và bộ máy quản lí có ảnh hưởng quyết định. Nhóm nhân tố tác động từ bên ngoài gồm có: nhân tố xu thế chính trị, xã hội và kinh tế của các khu vực và thế giới là nhân tố có ảnh hưởng lớn tới cơ cấu đầu tư của nền kinh tế. Một ảnh hưởng về tài chính tiền tệ của một nước lớn cũng có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn cầu. Một cuộc khủng hoảng về tài chính sẽ kéo theo sự suy thoái của cả hệ thống tài chính các nước khác. Sự thay đổi về tỉ lệ giá cả của các đồng tiền làm thay đổi về sức cạnh tranh của các mặt hàng trong nước ra nước ngoài. Sự không ổn định về kinh tế chính trị ở một nước, một khu vực gây ra tâm lý e ngại cho đầu tư cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của nền kinh tế quốc gia, khu vực đó, gây tổn thất không ít tới nền kinh tế. Đặc biệt với giai đoạn hiện nay theo xu hướng hội nhập kinh tế thế giới, sự phát triển của một nền kinh tế chịu tác động rất lớn từ các nền kinh tế khác trong khu vực và thể giới. Mỗi quốc gia phải xây dựng cho mình đường lối, chiến lược phát triển phù hợp với xu thế của thời đại, nhằm bắt kịp sự phát triển của các nước trên thế giới, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, nâng cao vị thế kinh tế chính trị trên trường quốc tế. Từ việc tìm hiểu thông tin về tình hình kinh tế, chính trị, tìm hiểu thị trường của các nước trong khu vực và trên thế giới các nhà đầu tư sẽ điều chỉnh cơ cấu đầu tư cho hợp lý nhằm đạt được hiệu quả cao nhất. Đồng thời nhà nước cũng sẽ căn cứ vào xu hướng chính trị trên thế giới và khu vực để đề ra mục tiêu phát triển cho nước mình cho phù hợp với xu thế đó. 2.2. Cơ cấu đầu tư hợp lý: 2.2.1. Khái niệm: Cơ cấu đầu tư hợp lý là cơ cấu đầu tư phù hợp với các quy luật khách quan, với các điều kiện kinh tế - xã hội, lịch sử cụ thể trong từng giai đoạn, phù hợp và phục vụ chiến lược phát triển kinh tế xã hội của từng ngành, vùng, cơ sở và toàn bộ nền kinh tế, có tác động tích cực đến đổi mới cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng hợp lý hơn, khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn lực trong nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập, phù hợp với xu thế kinh tế, chính trị của thế giới và khu vực. 2.2.2. Đánh giá cơ cấu đầu tư hợp lý. Một cơ cấu đầu tư hợp lý, trước hết phải phù hợp với quy luật khách quan, nghĩa là nó phải phù hợp với các quy luật kinh tế xã hội, các quy luật tự nhiên. Nếu đi nguợc lại các quy luật đó lập tức nó sẽ bị đào thải và không thể tồn tại, phát triển được. Trong mỗi giai đoạn, với những điều kiện khác nhau về kinh tế xã hội, về chiến lược phát triển kinh tế xã hội khác nhau thì sẽ có một cơ cấu đầu tư hợp lí khác nhau. Và trong các ngành khác nhau cũng sẽ có cơ cấu đầu tư hợp lý khác nhau. Cơ cấu này là phù hợp với quốc gia này nhưng lại không phù hợp với quốc gia kia, và ngay trong nền kinh tế thì cơ cấu hợp lý cho mỗi ngành, mỗi lĩnh vực cũng khác nhau. Vấn đề cần đặt ra là các nước phải xây dựng cho mình cơ cấu đầu tư hợp lý trong toàn bộ nền kinh tế cũng như trong từng bộ phận của nền kinh tế để đạt đựoc sự phát triển bền vững. Với mỗi cách phân loại cơ cấu đầu tư thì sự hợp lý cũng khác nhau: - Cơ cấu đầu tư hợp lí theo nguồn vốn: Trên phạm vi quốc gia: Cơ cấu đầu tư hợp lý là cơ cấu phản ánh khả năng huy động tối đa mọi nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, phản ánh tối đa mọi nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, phản ánh khả năng sử dụng hiệu quả cao mọi nguồn vốn đầu tư. Xu hướng cơ cấu đầu tư hợp lý là cơ cấu thay đổi theo hướng giảm dần tỷ trọng của nguồn vốn đầu tư từ ngân sách, tăng tỷ trọng nguồn vốn tín dụng ưu đãi và nguồn vốn của dân cư. Xét trên góc độ doanh nghiệp thì cơ cấu nguồn vốn hợp lý là cơ cấu phản ánh tỷ lệ giữa các nguồn vốn trong doanh nghiệp, giữa vốn chủ sở hữu và vốn đi vay sao cho tận dụng tối đa mọi nguồn lực của doanh nghiệp. - Cơ cấu vốn đầu tư hợp lí. Vốn đầu tư hợp lý được đánh giá thông qua danh mục và hiệu quả cuả các bộ phận mà doanh nghiệp hoặc dự án đầu tư. Một cơ cấu vốn đầu tư hợp lý là cơ cấu mà vốn đầu tư được ưu tiên cho bộ phận quan trọng nhất, phù hợp với yêu cầu, mục tiêu đầu tư và nó thường chiếm một tỷ trọng khá cao. - Cơ cấu đầu tư phát triển theo ngành hợp lí: Cơ cấu đầu tư theo ngành hợp lý được đánh giá dựa trên chính sách phát triển kinh tế từng thời kỳ để xem: Cơ cấu ngành được chuyển biến như thế đã theo hướng tích cực chưa? Xem đã phù hợp với tốc độ phát triển kinh tế chưa? Cơ cấu đầu tư ngành hợp lý là cơ cấu chuyển dịch theo hướng đẩy mạnh công nghiệp, phát triển các ngành dịch vụ và ưu tiên nông nghiệp nông thôn, phát triển hạ tầng cơ sở cũng như các lĩnh vực xã hội nhằm hướng tới mục tiêu công nghiệp hoá hiện đại hóa đất nước. - Cơ cấu đầu tư phát triển theo địa phương, vùng lãnh thổ hợp lí: Một cơ cấu đầu tư theo địa phương hay vùng lãnh thổ được xem là hợp lý nếu nó phù hợp với yêu cầu, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, phát huy lợi thế sẵn có của vùng trong khi vẫn đảm bảo hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển chung của các vùng khác, đảm bảo sự phát triển thống nhất và những cân đối trong phạm vi quốc gia và giữa các ngành. 2.2.3 .Hiệu quả từ cơ cấu đầu tư hợp lí. -Cơ cấu đầu tư hợp lý là nhằm hướng tới một cơ cấu kinh tế hợp lý. Cơ cấu đầu tư và cơ cấu kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ, thể hiện ở chỗ: nếu cơ cấu kinh tế hướng vào việc thực hiện mục tiêu của nền kinh tế thì cơ cấu đầu tư chính là phương tiện để đảm bảo cơ cấu kinh tế được hình thành hợp lý theo mục đích hướng tới của nó. Cơ cấu kinh tế và cơ cấu đầu tư là điều kiện cần và đủ để thực hiện mục tiêu kinh tế trong từng giai đoạn cụ thể. Sự thay đổi cuả cơ cấu đầu tư và sự tác động của nó đến cơ cấu kinh tế diễn ra một cách thường xuyên, lặp đi lặp lại theo hướng tiệm cận đến những cơ cấu kinh tế tối ưu. Qúa trình thay đổi đó mang tính chất khái quát dưới tác động của các quy luật kinh tế. Thông qua việc nhận thức ngày càng đầy đủ và sâu sắc cơ chế tác động của các quy luât kinh tế, mà nhà nước có thể định hướng, điều tiết quá trình thay đổi cơ cấu đầu tư hướng vào mục tiêu kinh tế xã hội đã trù định. Xét về mặt hiệu quả thì cơ cấu đầu tư và cơ cấu kinh tế đều hướng vào mục đích chung là nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội trên cơ sở phát huy hết các nguồn lực của nền kinh tế. Xuất phát từ mối quan hệ giữa hai loại cơ cấu trên, từ yêu cầu của chuyển dich cơ cấu kinh tế, của thực trạng cơ cấu đầu tư cho thấy việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư, xây dựng cơ cấu đầu tư hợp lý là tất yếu khách quan và hết sức cần thiết, cấp bách và cần phải định hướng một cách khoa học. -Khai thác và sử dụng.hợp lí các nguồn lực trong nước, đáp ứng nhu cầu hội nhập, phù hợp với xu thế kinh tế - chính trị của thế giới và khu vực. Một khi xác định được cơ cấu đầu tư hợp lí thì quốc gia đó sẽ có định hướng đúng đắn cho sự tăng trưởng kinh tế đảm bảo nhanh và bền vững, đồng thời có kế hoạch sử dụng các nguồn lực một cách có hiệu quả và hợp lí, tạo ra lợi thế so sánh với các nước trong điều kiện hội nhập, cạnh tranh khốc liệt như hiện nay. 3. Sự chuyển dịch cơ cấu đầu tư. 3.1. Mối quan hệ giữa cơ cấu đầu tư &cơ cấu kinh tế, sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu đầu tư. 3.1.1.Cơ cấu kinh tế & sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành. Cơ cấu kinh tế. Cơ cấu kinh tế là tổng thể các bộ phận cấu thành nền kinh tế cùng các mối quan hệ tương quan chủ yếu về định tính và định lượng, ổn định và phát triển giữa các yếu tố cấu thành của nền kinh tế đối với nhau hay toàn bộ hệ thống kinh tế.Các mối quan hệ này được hình thành trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định, trong khoảng thời gian nhất định, luôn vận động và hướng vào những mục tiêu cụ thể. Nếu các thước đo tăng trưởng phản ánh sự thay đổi về lượng thì xu thế cơ cấu kinh tế thể hiện mặt chất trong quá trình phát triển. Cơ cấu kinh tế có thể chia thành các loại : cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu khu vực thể chế, cơ cấu tái sản xuất, cơ cấu thương mại quốc tế… Trên khía cạnh tăng trưởng và phát triển kinh tế thì cơ cấu ngành kinh tế được xem là quan trọng nhất vì nó phản ánh được sự phát triển của khoa học công nghệ, lực lượng sản xuất ,phân công lao động chuyên môn hóa và hợp tác sản xuất. Trạng thái cơ cấu ngành là dấu hiệu phản ánh trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Một trong những cách phân loại cơ cấu ngành là: nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Để đánh giá hiệu quả của cơ cấu kinh tế cần phải đưa ra các chỉ tiêu đánh giá toàn diện cả về mặt định tính và định lượng - Mặt định tính: Sự phù hợp, đáp ứng được các mục tiêu nhiệm vụ kinh tế chính trị, xã hội đề ra trong từng thời kì cụ thể. - Mặt định lượng: Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực chất là sự chuyển dịch cơ cấu sản lượng đầu ra do sự thay đổi các yếu tố đầu vào như: vốn, lao động, tài nguyên, khoa học và công nghệ… b) Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Cơ cấu ngành kinh tế là một phạm trù động, nó luôn luôn thay đổi theo từng thời kì phát triển bởi các yếu tố hợp thành cơ cấu không cố định.Quá trình thay đổi của cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp với môi trường và điều kiện phát triển gọi là sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.Chuyển dịch cơ cấu ngành không chỉ là thay đổi về số lượng các ngành, tỉ trọng của mỗi ngành mà còn bao gồm sự thay đổi về vị trí, tính chất mối quan hệ trong nội bộ cơ cấu ngành. Việc chuyển dịch cơ cấu ngành phải dựa trên cơ sở một cơ cấu hiện có và nội dung của sự chuyển dịch là cải tạo cơ cấu cũ,lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu mới tiên tiến, hoàn thiện và bổ sung cơ cấu cũ nhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp hơn. ….. 3.1.2 Tác động của cơ cấu đầu tư tới cơ cấu kinh tế. -Trên giác độ kinh tế vĩ mô, đầu tư với chức năng quan trọng tác động trực tiếp vào quá trình tái sản xuất xã hội và làm biến đổi cơ cấu kinh tế. Do đó, cơ cấu đầu tư có mối quan hệ mật thiết tới sự hình thành và biến đổi cơ cấu kinh tế. Một sự thay đổi tuyệt đối hoặc tỉ trọng vốn đầu tư trong mỗi ngành sẽ làm thay đổi năng lực sản xuất và đo dó làm thay đổi sản lượng của ngành đó dẫn đến làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Mức tác động của thay đổi cơ cấu đầu tư đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế tùy thuộc vào động thái tăng trưởng sản lượng và mức độ phát triển hợp lí của mỗi ngành . - Đầu tư có tác động dây chuyền. Khi tăng cường đầu tư, phân bổ vào một ngành, một lĩnh vực nào cho ngành, lĩnh vực đó gia tăng sản lượng và từ đó làm thay đổi mối tương quan giữa các ngành. Những ngành, những lĩnh vực phát triển nhanh sẽ thu hút nhiều lao động vào ngành, lĩnh vực đó, tạo ra sự chuyển dịch giữa các ngành, các lĩnh vực. Đầu tư có tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế thông qua những chính sách tác động đến cơ cấu đầu tư. Trong điều hành chính sách đầu tư, nhà nước có thể can thiệp trực tiếp như thực hiện chính sách phân bổ vốn, kế hoạch hóa, xây dưng cơ chế quản lý đầu tư hoặc điều tiết gián tiếp qua các công cụ chính sách như thuế, tín dụng, lãi suất để xác lập và định hướng một cơ cấu đầu tư dẫn dắt sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế ngày càng hợp lý hơn. Thực tiễn phát triển nhiều nước cho thấy nếu có chính sách đầu tư hợp lý sẽ tạo đà cho tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. -Tốc độ tăng trưởng kinh tế của mỗi ngành không chỉ phụ thuộc vào khối lượng gia tăng vốn đầu tư mà còn phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng nguồn vốn đó. Nghĩa là đầu tư được sử dụng phải phù hợp với các nguồn đầu vào khác như lao động, tài nguyên và công nghệ, phải cho phép phát huy được các lợi thế của ngành. Tức là mức độ ảnh hưởng của cơ cấu đầu tư đến cơ cấu kinh tế còn phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trong nội bộ ngành. - Do đầu tư là một quá trình có độ trễ về thời gian và độ dài của thời gian trễ thường khác nhau giữa các ngành, hiệu quả tác động của cơ cấu đầu tư đến cơ cấu kinh tế chỉ có thể diễn ra khi vốn đầu tư được phát huy trong sản xuất xã hội. Sự tác động của cơ cấu đầu tư dến tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế là không cùng thời điểm. Như vậy khi bố trí cơ cấu đầu tư không chỉ xem xét tác động trực tiếp,._. trước mắt mà phải có cái nhìn chiến lược lâu dài, có như vậy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo mục tiêu định hướng mới được thực hiện một cách có hiệu quả. -Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy con đường tất yếu để tăng trưởng kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao là tăng cường đầu tư nhằm tạo ra sự phát triển nhanh ở khu vực công nghiệp và dịch vụ .Đầu tư còn là điều kiện tiên quyết của sự phát triển và tăng cường khả năng công nghệ của nền kinh tế. Đầu tư còn giải quyết tình trạng mất cân đối về tình trạng phát triển giữa các vùng, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên,địa thế ..của những vùng có khả năng phát triển, làm bàn đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển.. 3.1.3 Sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu đầu tư ( ở Việt nam). Thực chất, chuyển dịch cơ cấu đầu tư là sự điều chỉnh cơ cấu vốn, nguồn vốn đầu tư, điều chỉnh cơ cấu vốn huy động và sử dụng các loại vốn và nguồn vốn.. phù hợp với mục tiêu xác định của toàn bộ nền kinh tế,ngành,địa phương và các cơ sở trong từng thời kì phát triển. Hơn 20 năm đổi mới kinh tế Việt nam đã có những bước tiến vượt bậc đã và đang tạo thế và lực mới cho nước ta bước vào thời kì phát triển cao hơn.Trong xu thế hội nhập toàn cầu hiện nay tạo ra rất nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức to lớn đặt ra cho nền kinh tế của nước nhà. Đặc biệt là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực do xuất phát điểm của ta quá thấp lại phải đi lên trong môi trường cạnh tranh khốc liệt.Để thoát khỏi tình trạnh yếu kém của nền kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân, giải quyết các vấn đề xã hội phải đảm bảo tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững đi liền với chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH. Chính vì vậy, công cuộc chuyển dịch cơ cấu đầu tư hượp lí theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế là nội dung cơ bản mang tính chất quyết định. 3.2. Bài học kinh nghiệm từ một số nước trên thế giới về chuyển dịch cơ cấu đầu tư. Hiệu quả của việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế được minh chứng rõ nét qua thực tiễn của một số nước như Hàn quốc,Thái lan, Singapore..Tuy nhiên mỗi quốc gia có đặc điểm khác nhau về điểm xuất phát, đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội..có con đường và bước đi chuyển dịch khác nhau. Vì vậy nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm thành công và cả thất bại của các nước nhất là những nước có điều kiện tương đồng với Việt nam là vấn đề có ý nghĩa với nước ta trong quá trình chuyển dịch cơ cấu đầu tư. Từ đó rút ra một số lưu ý như sau: - Nhận thức tầm quan trọng của vốn đầu tư đối với tăng trưởng và phát triển; cần tăng vốn đầu tư, mở rộng tích luỹ trong nứơc thu hút vốn từ nước ngoài trong đó nguồn vốn trong nước đóng vai trò quyết định. - Cần tạo được một qui trình hợp lý về đầu tư và xuất khẩu để sử dụng vốn một cách hiệu quả nhất. - Kiên định đường lối công nghiệp hoá hướng ngoại, mở cửa nền kinh tế, tăng cường cạnh tranh, gắn thị trường trong nước với thị trường quốc tế. - Phát triển sản xuất hàng xuất khẩu, không được lãng quên thay thế nhập khẩu để khỏi phụ thuộc nước ngoài đảm bảo tính đồng bộ trong cơ cấu ngành cũng như trong nội bộ ngành nhất là trong công nghiệp. Bố trí cơ cấu đầu tư theo ngành phải chú ý giải quyết mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiêp. - Khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, kết hợp quy mô lớn với quy mô vừa và nhỏ. Lựa chọn tiến bộ công nghệ tiên tiến, tăng cường đầu tư theo chiều sâu. - Bố trí đầu tư phải theo hướng tận dụng cao nhất lợi thế so sánh của từng ngành vùng về lao động , tài nguyên… và phải đảm bảo tính linh hoạt trong cơ cấu kinh tế khi lợi thế so sánh bị thay đổi. PHẦN HAI: THỰC TRẠNG CƠ CẤU ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA 1. Tình hình cơ cấu đầu tư ở Việt nam. Trong những năm gần đây nước ta đã đạt nhiều thành tựu đáng khích lệ về phát triển kinh tế xã hội, trong đó đầu tư phát triển đóng góp vai trò hết sức quan trọng.Việc huy động tương đối đầy đủ các nguồn lực cho đầu tư, cơ cấu lại các nguồn vốn đầu tư, coi trọng nguồn vốn của dân cư và tư nhân,chuyển dịch cơ cấu đầu tư theo hướng hợp lí…đã và đang tạo ra thế và lực cho nền kinh tế trong quá trình hộp nhập khu vực và quốc tế. Trong 5 năm 1991-1995 vốn đầu tư phát triển thực hiện được 232,5 nghìn tỷ đồng (mặt bằng giá 1995), tương đương khoảng 20,9 tỷ đô la, bằng 3,5 lần vốn đầu tư phát triển thực hiện trong thời kỳ 1986-1990 (vốn đầu tư 5 năm 1986-1990 khoảng 65 nghìn tỷ đồng theo mặt bằng giá 1995, tương đương 5,9 tỷ đô la), tốc độ tăng vốn đầu tư bình quân hàng năm là 30,4%/năm. Trong giai đoạn 5 năm 1996- 2000, tổng vốn đầu tư phát triển ước thực hiện khoảng 397 nghìn tỷ đồng (tuơng đương 36.100 triệu USD) gấp 1,74 lần thực hiện thời kỳ 1991-1995, tốc độ tăng bình quân hàng năm là 6,4% năm là 30,4%. Tính chung 10 năm 1991-2000 vốn đầu tư toàn bộ nền kinh tế đã được thực hiện khoảng 640 nghìn tỷ đồng vốn đầu tư xã hội (tương đương khoảng 58 tỷ đô la), tăng bình quân hàng năm là 17,9%. Từ năm 2000 trở đi tổng vốn đầu tư xã hội liên tục tăng. Năm 2001 là 170,496 tỉ đồng, năm 2002 là 199.104 tỉ đồng,năm 2003 là 231,616 tỉ đồng, năm 2004 là 275 tỉ đồng, năm 2005 là 335 tỉ đồng… 1.1 Cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn. Tình hình Trong giai đoạn 1991- 2000, tốc độ phát triển của các nguồn vốn là theo chiều hướng tích cực. Trong số các nguồn vốn cấu thành nên tổng vốn đầu tư toàn xã hội thì nguồn vốn Nhà nước năm 2000 gấp 6,4 lần năm 1990, vốn tín dụng của Nhà nước gấp 8,2 lần, vốn của doanh nghiệp nhà nước gấp 4,9 lần; vốn của khu vực ngoài quốc doanh gấp 1,4 lần; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài gấp 5,9 lấn. Về cơ cấu nguồn vốn thì vốn của khu vực nhà nước và vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong khi vốn của khu vực ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng nhỏ dần .Vốn nhà nước năm 1991 chiếm 38% tổng vốn đầu tư toãn xã hội thì đến năm 2000 chiếm 61,9%. Hai tỷ lệ tương ứng của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lần lượt là 14,3% và 18,6%; của vốn ngoài quốc doanh lần lượt là 47,7% và 19,5%. Tình hình cụ thể về cơ cấu các nguồn vốn như sau: (Đơn vị: %). Cơ cấu đầu tư toàn xã hội 1991-2000  Chỉ tiêu 1991-1995 1996-2000 1991-2000 Tổng số 100 100 100 - Vốn ngân sách nhà nước 23,59 21,87 22,5 - Vốn tín dụng đầu tư 6,14 15,57 12,1 - Vốn của các DNNN 10,89 16,15 14,22 - Vốn của dân cư và tư nhân 34,94 22,49 27,07 - Vốn đầu tư trực tiếp NN 24,44 23,92 24,11 Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Trong những năm trở lại đây tổng vốn đầu tư phát triển xã hội cho toàn xã hội ngày càng tăng, tỷ lệ vốn đầu tư so với tổng sản phẩm trong nước không ngừng tăng. Năm 2001 vốn đầu tư chiếm 35,42% tổng sản phẩm trong nước thì đến 2005 đã chiếm khoảng 38,67% tổng sản phẩm trong nước. Trong tổng vốn đầu tư trong 5 năm 1991-2000 thì nguồn vốn trong nước thường chiếm tới 84%. Bảng cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn thực hiện (từ 2001-2005). Năm Tổng số Nhà nước Ngoài quốc doanh Đầu tư nước ngoài 2001 170,496 101,973 38,512 30,011 2002 199,104 112,237 52,111 34,755 2003 231,616 125,127 68,688 37,800 2004 275,000 147,500 84,900 42,600 2005 335,000 175,000 107,500 52,500 Đơn vị: Nghìn tỷ đồng. Bảng cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn(%) từ 2001-2005: tổng 100% Năm Tổng % Nhà nước Ngoài quốc doanh Đầu tư nước ngoài 2001 100 59,8 22,6 17,6 2002 100 56,3 26,2 17,5 2003 100 54,0 29,7 16,3 2004 100 53,6 52,2 15,5 2005 100 52,0 32,1 15,7 Nguồn: Niên giám thống kê 2006 Tuy vẫn là nguồn vốn quan trọng nhất của nền kinh tế, nhưng tỉ trọng vốn đầu tư nhà nước có xu hướng giảm dần từ 59,8% năm 2001 xuống 52% năm 2005. Đây là tín hiệu tích cực đối với nền kinh tế thị trường đang hình thành, phần nào phản ánh môi trường đầu tư đã và đang được cải thiện. Trong khi đó vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước có mức tăng cao hơn cả mức tăng trưởng vốn cuả khu vực ngoài quốc doanh chiếm vị trí thứ hai trong các nguồn vốn nhà nước. Tốc độ tăng bình quân năm (%) qua các giai đoạn. Giai đoạn Nhà nước Ngoài quốc doanh Đầu tư nước ngoài 1991-1995 21,1 11,5 46,7 1996-2000 20,2 8,1 1 2001-2005 10,2 20,9 9,9 Ta có biểu đồ thể hiện tốc độ tăng trưởng từng nguồn vốn như sau; Nguồn vốn Nhà nước. Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, ước thực hiện trong 5 năm (1996-2000) trên 100 nghìn tỷ đồng (theo giá 1995), đã tập trung hơn cho lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; trong đó đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp khoảng 23,5%; cho công nghiệp 9,4%; cho giao thông vận tải và bưu chính viễn thông 30,7%; cho khoa học và công nghệ 1,8%, giáo dục và đào tạo 7,1%; y tế, xã hội 6,4%; văn hoá, thể dục thể thao 3,6%; cho các ngành khác 17,5%. Tính chung cho giai đoạn 2001-2005 tổng vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước chiếm khoảng 22,3% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.Trong đó nguồn vốn ngân sách Nhà nước chi cho đầu tư phát triển năm 2005 là gần 79,199 nghìn tỷ đồng chiếm khoảng 22% tổng nguồn đầu tư xã hội. Nếu tính cả nguồn trái phiếu Chính phủ và công trái giáo dục khoảng từ 8-10 nghìn tỷ đồng thì tổng đầu tư chiếm 32% so với tổng chi ngân sách nhà nước. Trong những năm tiếp theo, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước có xu hướng tăng về giá trị tuyệt đối nhưng giảm về tỉ trọng trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển nhà nước: Nếu như trước 1990, nguồn vốn này được xem là công cụ quản lí và điều tiết nền kinh tế thì trong giai đoạn 1991-2000, nguồn vốn này đã có mức tăng trưởng đáng kể và bắt đầu có vị trí quan trọng trong chính sách đầu tư của nhà nước.Giai đoạn 1991-1995 nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển nhà nước chiếm 5,6% tổng vốn đầu tư toàn xã hội thì giai đoạn 2001-2005 đã chiếm 14% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.Trong những năm tới ,xu hướng của nguồn vốn này là cải thiện về mặt chất lượng và phương thức tài trợ nhưng tỉ trọng không có sự gia tăng đáng kể. Nguồn vốn tín dụng nhà nước, nguồn vốn của doanh nghiệp nhà nước tự đầu tư thông qua việc huy động khấu hao tài sản cố định, đất đai, nhà xưởng chưa sử dụng, thì Nhà nước điều hành có mức độ; hai nguồn vốn này chiếm khoảng 17% thời kỳ 1991-1995 và 31,72% thời kỳ 1996-2000. Như vậy chung cho cả 3 nguồn vốn mà Nhà nước có thể điều hành với những mức độ khác nhau chiếm khoảng 49% so với tổng nguồn, còn tất cả các nguồn vốn khác điều hành gián tiếp thông qua cơ chế, chính sách. Nguồn vốn đầu tư huy động để đưa vào cho vay các chương trình, dự án đầu tư trong năm 2005 là 30.000 tỷ đồng chiếm 10% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, trong đó nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước 25.000 tỷ đồng (bao gồm 18.000 tỷ đồng nguồn vốn trong nước; 7.000 tỷ đồng vốn ODA cho vay lại) và Ngân hàng chính sách xã hội cho vay 5.000 tỷ đồng. Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp nhà nước: năm 2005 khoảng 59.000 tỷ đồng (chưa kể nguồn vốn vốn tín dụng nhà nước mà các DNNN vay từ Quỹ hỗ trợ phát triển), trong đó vốn của một số Tổng công ty lớn như sau: Tổng công ty Điện lực Việt Nam đạt 17.000 tỷ đồng, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đạt 25.000 tỷ đồng, Tổng công Thép Việt Nam là 2.200 tỷ đồng, Tổng công ty Than Việt Nam là 600 tỷ đồng, … Nguồn vốn đầu tư tư nhân và dân cư: Theo ước tính của Bộ kế hoạch và đầu tư, tiết kiệm trong dân cư và các doanh nghiệp dân doanh chiếm bình quân khỏng 15% GDP, trong đó phần tiết kiệm của dân cư tham gia đầu tư gián tiếp và khoảng 3,7%GDP, chiếm khoảng 25% tổng tiết kiệm của dân cư, phần tiết kiệm của dân cư tham gia trực tiếp đầu tư khoảng 5% GDP và bằng 33% tổng tiết kiệm. Trong giai đoạn 2001-2005 nguồn vốn này chiếm khoảng 26% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Năm 2005 đầu tư ngoài quốc doanh là khoảng 105 nghìn tỷ đồng, gần gấp đôi vốn đầu tư của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Có được thành tựu trên là nhờ 38 nghìn doanh nghiệp mới đăng ký kinh doanh với tổng số vốn đăng ký là 103,5 nghìn tỷ đồng cùng với sự ra đời của Luật doanh nghiệp và luật đầu tư khuyến khích đầu tư phát triển của Nhà nước. Nguồn vốn từ nước ngoài. Tính đến năm 207, cả nước có hơn 9500 dự án dầu tư nước ngoài được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng kí khoảng 98 tỉ USD (kể cả vốn tăng thêm).Trừ các dự án đã hết thời hạn hoạt động và giải thể trước thời hạn, hiện có 8590 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng kí 83,1,tỉ USD.Cùng với việc thu hút các dự án đầu tư mới,nhiều dự án sau khi hoạt động đã mở rộng qui mô sản xuất tăng vốn đầu tư, nhất là từ năm 2001 đến nay.Tính đến hết 2007 có trên 4000 lượt dự án tăng vốn đầu tư với tổng vốn tăng thêm hơn 18,9 tỉ USD,bằng 19,2% tổng vốn đăng kí cấp mới. Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có tỉ trọng lớn nhất,chiếm 66,8% về số dự án, 60,2% tổng vốn đăng kí và 68,5% vốn thực hiện.Lĩnh vực dịch vụ chiếm 22,2% về số dự án 34,4% vốn đăng kí và 24,5% vốn thực hiện.Nông lâm ngư nghiệp chiếm 10,8% số dự án,5,37% vốn đầu tư và 6,7% vốn thực hiện. Từ 1988 đến hết năm 2007 các tỉnh phía bắc thu hút 2220 dự án với tổng vón đầu tư 24 tỉ USD chiếm 26% số dự án,29% tổng vốn đăng kí,24% vốn thực hiện.Các tỉnh phía Nam thu hút được 5452 dự án tổng vốn 46,8 tỉ USD chiếm 63%dự án, 56% vốn dăng kí và 51% vốn thực hiện.Trong đó nổi lên một số địa phương thu hút và sử dụng vốn tốt như Bình dương, Đồng nai, tp Hồ chí Minh..Tuy vậy tại các vùng miền núi phía Bắc và tây nguyên việc thu hút FDI vẫn còn quá ít. Trong thời gian qua đã có 82 nước và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt nam trong tổng vốn đang kí trên 80 tỉ USD các nước Châu Á chiếm 69,1% mà đứng đầu là Đài loan, Singapore,Nhật bản,Châu Mĩ chiếm chiếm11,8%,riêng Mĩ chiếm 4%.Số vốn còn lại thuộc các nước khu vực khác Đánh giá những mặt đạt được: - Quy mô vốn đầu tư huy động từ các nguồn luôn tăng liên tục qua các năm. Vốn đầu tư từ khu vực nhà nước chỉ tính riêng 3 năm 2001-2003 đã đạt được khoảng 2440423,2 tỷ đồng bằng 95,04% 5 năm 1996-2000, nếu tính thực hiện bình quân hàng năm vốn đầu tư phát triển thì khu vực kinh tế nhà nước giai đoạn 1996-2000 thì chỉ 3 năm 2001-2003 bằng 158,4%. Năm 2005 so với 2004 thì : nguồn vốn từ ngân sách nhà nước tăng 8%, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước tăng khoảng 3,5%, nguồn vốn của khu vực doanh ngiệp nhà nước tăng khoảng 25%. Năm 2006 đạt khoảng 185100 tỉ đồng . Vốn đầu tư từ khu vực dân cư và tư nhân, trong 3 năm 2001-2003 đạt khoảng 107038,3 tỷ đồng bằng 96,68% trong 5 năm 1996-2000. Năm 2005 nguồn vốn này tăng vọt lên tới gần 105 nghìn tỷ đồng. Vốn đầu tư từ khu vực nước ngoài không ngừng tăng trưởng, tính chung trong giai đoạn 2001-2005, tổng vốn FDI đăng ký cấp mới đạt 19,9 tỷ USD vượt mục tiêu đề ra, vốn FDI thực hiện vượt 37% so với dự kiến và tămg 4,5% so với giai đoạn 1996-2000. Về nguồn vốn ODA, số vốn cam kết không ngừng tăng, từ 1993 đến 2005 vốn cam kết đạt trên 32 tỷ USD và được cụ thể hóa bằng nhiều hiệp định cụ thể với tổng trị giá 24 tỷ USD và thực tế đã giải ngân được 16 tỷ USD. năm 2006 ước đạt 63300 tỉ đồng - Cùng với sự gia tăng của tổng vốn đầu tư xã hội thì cơ cấu nguồn vốn cũng ngày càng đa dạng, phù hợp với chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng và nhà nước ta. Trước đây nguồn vốn cho đầu tư phát triển là từ nhà nước thì bây giờ có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế. - Cơ cấu nguồn vốn đầu tư ngày càng hợp lý, huy động được ngày càng nhiều nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội. Trong đó khu vực kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo, định hướng cho các khu vực kinh tế khác. Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước đã góp phần tích cực trong việc định hướng các nguồn vốn khác dần tạo nên một cơ cấu đầu tư hợp lý. Những hạn chế còn tồn tại : Tuy đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng bên cạnh đó thì cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế : - Nhu cầu vốn đầu tư phát triển là rất lớn, nhưng khả năng đáp ứng của các nguồn vốn là còn hạn chế, không đủ để tạo ra sự chuyển dịch nhanh chóng cơ cấu đầu tư, tăng thêm sức cạnh tranh. Cơ cấu đầu tư còn nhiều điểm chưa hợp lý như đầu tư ngân sách nhà nước cho một số ngành và sản phẩm được bảo hộ; đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn còn thấp... trong khi đó đầu tư vào các công trình thủy lợi chiếm hơn 70% vốn đầu tư của ngành nông nghiệp, nhưng việc xây dựng các công trình thủy lợi tưới cho các loại cây công nghiệp còn ít, còn coi nhẹ đầu tư thủy lợi cấp nước cho công nghiệp và dân sinh, cho nuôi trồng thủy sản. - Cơ chế phân bổ vốn đầu tư từ Ngân sách nhà nước chưa thực sự hiệu quả. Nguồn vốn ngân sách dành cho đầu tư đã hạn hẹp, mà một nửa trong số đó lại là nguồn vốn từ bên ngoài nên có nhiều hạn chế trong việc bố trí cơ cấu đầu tư, bị co kéo bởi nhiều nhu cầu bức bách. Ở chừng mực nhất định còn bị nhiều “nhóm lợi ích” chi phối, tìm cách để dành phần “chiếc bánh” ngân sách này. Trong khi đó, các Bộ, ngành, địa phương chưa quan tâm đến việc thu hút thêm các nguồn vốn khác để cải thiện cơ cấu đầu tư, còn trông chờ, ỷ lại vào nguồn vốn ngân sách Nhà nước. Các chính sách khuyến khích và các hình thức huy động vốn chưa được thực hiện đến nơi, đến chốn, làm cho các thành phần kinh tế còn dè dặt trong việc bổ vốn đầu tư. - Nguồn vốn từ khu vực dân cư và tư nhân tuy có tăng về số lượng, nhưng còn rất nhỏ bé so với khả năng và tiềm lực. Nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư còn rất nhiều, hàng năm mới huy động được khoảng 60% vào đầu tư phát triển, không đạt được kế hoạch do nhiều nguyên nhân như chưa đủ hấp dẫn, người dân còn khá thờ ơ với hình thức huy động vốn này chưa coi là một loại huy động mang tính thương mại. - Nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài còn nhỏ thấp chưa tương xứng với tiềm năng. Việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn còn những hạn chế, chưa phục hồi được tốc độ huy động cao như những năm trước đây. Hầu hết các dự án được cấp giấy phép gần đây đều có quy mô nhỏ; môi trường đầu tư tuy được cải thiện nhiều, nhưng mức độ cạnh tranh so với các nước trong khu vực chưa cao và còn nhiều bất cập như: một số chính sách hay thay đổi và khó dự báo trước; có tình trạng cạnh tranh chưa hợp lý trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài giữa các địa phương. - Nguồn vốn FDI tuy tăng hàng năm nhưng cơ cấu lại không hợp lý, chủ yếu tập trung vào những vùng phát triển, những ngành trọng điểm, khoảng cách giữa vốn đăng ký và vốn thực hiện có xu hướng ngày càng cao. Việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn còn những hạn chế, chưa phục hồi được tốc độ huy động cao như những năm trước đây. Hầu hết các dự án được cấp giấy phép gần đây đều có quy mô nhỏ; môi trường đầu tư tuy được cải thiện nhiều, nhưng mức độ cạnh tranh so với các nước trong khu vực chưa cao và còn nhiều bất cập như: một số chính sách hay thay đổi và khó dự báo trước; có tình trạng cạnh tranh chưa hợp lý trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài giữa các địa phương. 1.2. Cơ cấu vốn đầu tư. Tình hình Cơ cấu vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng và xây dựng cơ bản. Đầu tư xây dựng cơ bản là yếu tố cơ bản phát triển kinh tế xây dựng, đặc biệt là trong một nước đang phát triển có hệ thống cơ sở hạ tầng còn kém như chúng ta. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc vốn ngân sách Nhà nước năm 2005 ước thực hiện 62,93 nghìn tỷ đồng, bằng 121,2% kế hoạch cả năm, trong đó các đơn vị Trung ương 24,57 nghìn tỷ đồng bằng 123,5% kế hoạch năm; các đơn vị địa phương 38,36 nghìn tỷ đồng bằng 119,8%. Vốn đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước năm 2006 ước tính thực hiện 64,1 nghìn tỷ đồng, bằng 114,1% kế hoạch cả năm, trong đó vốn đầu tư do trung ương quản lý xấp xỉ 18 nghìn tỷ đồng, bằng 103,3%; vốn do địa phương quản lý 46,1 nghìn tỷ đồng, bằng 119%. Tính bình quân năm, vốn đầu tư xây dựng cơ bản (ĐTXDCB) của nước ta lên đến hơn 15000 tỷ đồng, chiếm khoảng 70% tổng đầu tư toàn xã hội, trong đó vốn đầu tư ngân sách chiếm hơn 50%. Kết cấu hạ tầng phát triển khá; hệ thống đường giao thông được cải thiện, bảo đảm giao thông thông suốt trong cả nước; hệ thống đường sắt được nâng cấp bảo đảm an toàn chạy tàu; một số cảng biển quan trong được mở rộng và hiện đại hoá; sân bay quốc tế và một số sân bay nội địa được mở rộng và nâng cấp đáp ứng nhu cầu vận tải hành khác quốc tế . Hệ thống thuỷ lợi được nâng cấp và phát triển ở tất cả các vùng, đăc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng, diện tích được tưới nước và tiêu úng tăng đáng kể, góp phần tăng diện tích canh tác và gieo trồng, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp. Kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội ở cả thành phố, đô thị và nông thôn được nâng cấp: tất cả các huyện và 85% xã, phường có điện; cung cấp nước sạch cho nông thôn đạt 40%. Cơ sở vật chất của ngành giáo dục và đào tạo, khoa học công nghệ, y tế, văn hoá, xã hội, du lịch, thể dục thể thao được tăng cường. Tuy nhiên chất lượng ở một số công trình còn thấp, gây lãng phí và kém hiệu quả trong đầu tư. Theo kết quả kiểm tra năm 2002 của 995 dự án, với tổng số vốn đầu tư 20.736 tỷ đồng, đã phát hiện sai phạm về tài chính và sử dụng vốn đầu tư là 1.151 tỷ đồng, bằng khoảng 5,5% tổng vốn đầu tư các công trình được kiểm tra. Riêng 17 công trình do Thanh tra Nhà nước thực hiện kiểm tra, phát hiện sai phạm về tài chính chiếm khoảng 13%. Đó là chưa kể tới các lãng phí lớn do chậm triển khai công trình và nhất là do sai sót trong chủ trương đầu tư mà hiện chưa có cách đánh giá thống nhất. Năm 2003, Thanh tra Nhà nước đã phối hợp với các Bộ, ngành tiến hành nhiều hoạt động trong việc chấp hành các quy định về đầu tư, đơn giá, khối lượng, chủng loại, vật tư, thiết bị... Năm 2003, số lượng các đoàn thanh tra và số dự án, công trình được thanh tra nhiều hơn năm 2002. Thanh tra Nhà nước tiếp tục thanh tra một số dự án, công trình đầu tư xây dựng cơ bản với số vốn là 8.235 tỷ đồng. Qua kiểm tra đã phát hiện tổng số sai phạm về tài chính là 1.235 tỷ đồng, chiếm trên 14% tổng số vốn. Cơ cấu vốn đầu tư cho khoa học công nghệ. Trong quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế hiện nay, khoa học công nghệ đang trở thành yếu tố then chốt cho sự phát triển của nền kinh tế cũng như của từng doanh nghiệp. Tại nước ta, theo một cuộc điều tra các doanh nghiệp công nghiệp về khả năng và tiềm lực khoa học công nghệ, cho thấy các doanh nghiệp đã quan tâm nhiều hơn cho công tác nghiên cứu và đổi mói công nghệ. Chi cho đầu tư phát triển khoa học công nghệ có xu hướng tăng. Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước cho khoa học công nghệ năm 2005 khoảng 1900 tỷ đồng, năm 2006 vào khoảng 2404 tỷ đồng. Tuy vậy,từ phía các doanh nghiệp,trong cuộc điều tra năm 2005 tại 7580 doanh nghiệp công nghiệp thì chỉ có 293 doanh nghiệp có đầu tư cho công tác nghiên cứu khoa học. Số doanh nghiệp có đầu tư cho nghiên cứu khoa học chỉ chiếm tỷ lệ 2,44% doanh nghiệp cả nước, và tỷ lệ này có xu hướng giảm qua các năm: 2000 tỷ lệ này là 7,53% đên 2002 còn 6,14% và đến năm 2004 là 3,86%. Số lượng doanh nghiệp đầu tư KHCN qua các kỳ điều tra. 2000 2002 2004 Số DN Tỷ trọng (%) Số DN Tỷ trọng (%) Số DN Tỷ trọng (%) Chung 372 7.53 444 6.14 293 3.86 DNNN 250 16.74 224 16.36 181 14.75 NQD 85 3.31 156 3.43 80 1.79 ĐTNN 37 4.21 64 4.87 32 1.69 Cơ cấu vốn đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực. Đào tạo nguồn nhân lực có vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển của doanh nghiệp nói riêng và của toàn xã hội nói chung. Nguồn nhân lực là nhân tố không thể thiếu là lực lượng sản xuất trực tiếp của xã hội. Vì vậy công tác đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực được quan tâm chú trọng. Năm 2006 chi ngân sách cho đào tạo nguồn nhân lực là 10056 tỷ đồng, năm 2005 là 5615 tỷ đồng. Đánh giá những mặt đạt được. - Vốn đầu tư đã tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng cho những vùng,lĩnh vực trọng điểm, những vùng khó khăn, như: Tiếp tục tập trung đầu tư những tuyến đường giao thông huyết mạch, các công trình thủy lợi, các hồ chứa nước tại khu vực miền Trung, Tây Nguyên, hệ thống thủy lợi đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long. Tăng cường đầu tư cho hệ thống các trường đại học, cao đẳng và dạy nghề; các công trình thuộc ngành khoa học công nghệ, văn hóa thông tin, y tế xã hội, các chương trình mục tiêu quốc gia và xóa đói giảm nghèo. - Trong công tác xây dựng cơ bản nguồn vốn đầu tư không ngừng tăng thể hiện sự chú trọng đầu tư của nhà nước tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho nền kinh tế ,đồng thời tăng tính hấp dẫn đầu tư nước ngoài. - Từng bước xoá bỏ bao cấp trong đầu tư, chuyển từ hình thức cấp phát vốn sang cho vay tín dụng đầu tư đối với các dự án có khả năng thu hối vốn; Nhà nước hỗ trợ về lãi suất cho các dự án và các doanh nghiệp tự vay tự trả, tự chịu trách nhiệm về việc sử dụng vốn đầu tư. - Đầu tư cho khoa học công nghệ đã được chú trọng và quan tâm nhiều hơn, trong năm 2007 quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia chính thức được đưa vào sử dụng là một đòn bẩy cho công tác nghiên cứu khoa học. - Đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực, được đặc biệt chú trọng. Thực tế trong những năm qua công tác đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực ở nước ta đã có những chuyển biến phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế. Vốn đầu tư cho công tác đào tạo nguồn nhân lực không ngừng tăng, đồng thời cơ cấu vốn đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao có tỷ trọng tăng dần. Hạn chế. - Vốn đầu tư còn dàn trải, chưa thực sự tập trung trọng điểm, hiệu quả đầu tư chưa cao. Đầu tư cho vùng khó khăn vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển vùng. Quy hoạch, kế hoạch theo ngành chưa gắn với chưa gắn chặt chẽ với vùng, địa phương; tình trạng đầu tư dàn trải diễn ra phổ biến. - Vốn đầu tư cho công tác xây dựng cơ bản còn rất nhiều bất cập. Tình trạng phân bổ vốn vượt kế hoạch vẫn diễn ra ở nhiều địa phương, tình trạng dàn trải trong đầu tư xây dựng cơ bản chưa dược khác phục triệt để. Với các công trình sử dụng vốn nhà nước thì tiến độ giải ngân còn chậm. - Lãng phí, thất thoát trong đầu tư và xây dựng vẫn còn là vấn đề nổi cộm hiện nay. Còn có những biểu hiện tiêu cực trong quản lý đầu tư và thi công công trình. - Số nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn nhà nước ở mức cao, kéo dài, vẫn tiếp diễn và có xu hướng tăng, dẫn đến tình trạng chiếm dụng vốn lẫn nhau, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh và công ăn việc làm, đời sống của người lao động. Báo cáo của các bộ, ngành và địa phương chưa phản ánh đầy đủ số nợ tồn đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản. Tình hình này sẽ rất khó khăn cho việc tổng hợp, phân loại và xử lý các khoản nợ, nhất là các khoản nợ giữa các cấp ngân sách ở địa phương. - Hiệu quả đầu tư xây dựng cơ bản thấp thể hiện cả ở tầm vĩ mô của nền kinh tế và ở tầm vi mô của từng dự án, công trình, hạng mục công trình thuộc các bộ, ngành, địa phương. - Vốn đầu tư chi công tác nghiên cứu khoa học tuy có tăng về số lượng nhưng còn rất khiêm tốn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. - Vốn đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực tuy có tăng, nhưng chiếm tỷ trọng vẫn còn nhỏ trong cơ cấu đầu tư của đất nước,mặc dù giáo dục và đào tạo được coi là lĩnh vực ưu tiên hàng đầu. Do đó vốn đầu tư cho ngành giáo dục chưa đáp ứng được yếu cầu phát triển. 1.3 Cơ cấu đầu tư phát triển theo ngành. Tình hình: Cơ cấu vốn đầu tư phát triển theo ngành kinh tế thời gian qua đã dịch chuyển theo hướng ưu tiên cho nông nghiệp, nông thôn, phát triển hạ tầng cơ sở và lĩnh vực xã hội, thể hiện ở các mặt: Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội cho nông nghiệp và nông thôn giai đoạn 1991-2000 ước đạt 65,2 nghìn tỷ đồng (mặt bằng giá 1995), tương đương 5,9 tỷ đô la, chiếm tỷ trọng là 10,37%. Và giai đoạn 5 năm 1996-2000 đã có sự tập trung cao hơn cho nông nghiệp và phát triển nông thôn.Nguồn vốn Ngân sách đã có tăng đáng kể cho khu vực nông nghiệp và nông thôn, các nguồn vốn khác như vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn các chương trình Quốc gia (chương trình 327, 773..),..Ngoài ra, các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng đã xuất hiện trong lĩnh vực nông lâm nghiệp. Cơ cấu đầu tư phân bổ cho các ngành giai đoạn 1991-2000(%) 1991-1995 1996-2000 1991-2000 Tổng số 100 100 100    Trong đó: - Nông nghiệp, Thuỷ lợi, Lâm nghiệp, Thuỷ sản 8,5 11,41 - Công nghiệp 38,42 43,76 41,85 - Giao thông, Bưu điện, 14,03 15,76 15,14 - Khoa học Công nghệ 0,24 0,39 0,34 - Giáo dục đào tạo 1,71 2,10 1,96 - Y tế xã hội 0,87 1,52 1,29 - Văn hoá thể thao 1,09 1,22 1,17 Nguồn:www.mpi.gov.vn/strategy.aspx?Lang=4&mabai=105 Tốc độ tăng vốn đầu tư cho nông nghiệp bình quân giai đoạn này là 21,15%, trong đó 5 năm 1991-1995 tăng bình quân là 21%, 5 năm 1996-2000 tăng bình quân là 22%. Vốn đầu tư phát triển cho các ngành công nghiệp cả thời kỳ 1991-2000 khoảng 264 nghìn tỷ đồng (mặt bằng giá 1995) tương đương 23,8 tỷ đô la, chiếm 41,85% vốn đầu tư 10 năm. Tỷ trọng vốn ngành công nghiệp tăng đáng kể, thời kỳ 1991-1995 chỉ chiểm 38,4%, nhưng thời kỳ 1996-2000 không có năm nào dưới 40%, do đó cả thời kỳ tỷ trọng này đã tăng lên 43,76%. Tốc độ tăng bình quân hàng năm là 25,8%; trong đó 5 năm 1991-1995 tăng bình quân 42,5%, 5 năm 1996-2000 tăng bình quân 11,1%. Tuy thời kỳ 1996-2000 tốc độ tăng không cao hơn thời kỳ trước, nhưng lại giữ được tỷ trọng cao hơn 5 năm trước, nên vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng cao nhất so với tất cả các ngành. Trong tổng vốn đầu tư ngành công nghiệp, cho các ngành công nghiệp chế biến khoảng 30%. Vốn đầu tư phát triển cho hạ tầng giao thông vận tải và thông tin liên lạc cả thời kỳ 1991-2000 là 95,5 nghìn tỷ đồng (mặt bằng giá 1995) tương đương khoảng 8,6 tỷ đô la, chiếm 15,14% tổng vốn đầu tư phát triển 10 năm, tốc độ tăng bình quân hàng năm là 23,7%, trong đó 5 năm 1991-1995 tăng bình quân 42,9%, thời kỳ 1996-2000 tăng bình quân 7,1%. Vốn đầu tư phát triển cho lĩnh vực khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá trong 10 năm 1991-2000 gần 30 nghìn tỷ đồng (mặt bằng giá 1995), tương đương 2,7 tỷ đô la, chiếm tỷ trọng 4,76% tổng vốn đầu tư phát triển (5 năm 1991-1995 tỷ trọng là 3,91%, 5 năm 1996-2000 tỷ trọng là 5,23%); tốc độ tăng vốn đầu tư bình quân trong 10 năm là 19,8%, trong đó 5 năm 1991-1995 là 25,6% và 5 năm 1996-2000 là 14,2%. Bảng số liệu chi tiết cơ cấu đầu tư theo ngành 2000-2005 Đơn vị: Tỷ đồng STT Tên ngành 2000 2002 2003 2004 2005 1 TỔNG SỐ 151183 199105 231616 275000 335000 2 Nông nghiệp và lâm nghiệp 17218 14529 16533 19700 24000 3 Thuỷ sản 3715 2919 3043 3600 4400 4 Công nghiệp khai thác mỏ 9588 7923 10981 13100 16000 5 Công nghiệp chế biến 29172 45102 49431._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc12369.doc
Tài liệu liên quan