Quan điểm lịch sử cụ thể với việc xây dựng & phát triển nền Kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

Đặt vấn đề Công cuộc đổi mới và phát triển đất nước ta được coi là chính thức bắt đầu một cách toàn diện từ năm 1986 tại Đại hội VI của Đảng đến nay đã được hơn 20 năm. Hơn 20 năm qua Đảng và nhà nước ta đã tiến hành xây dựng nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghía. Sau hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn nhưng bên cạnh đó cũng phải đối mặt với những thách thức, những khó khăn không nhỏ. Và

doc16 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1141 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Quan điểm lịch sử cụ thể với việc xây dựng & phát triển nền Kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
qua gần hai thập kỉ trăn trở tìm tòi, vừa thực nghịêm trong nước vừa quan sát thế giới, đến Đại hội IX năm 2001, Đảng và nhà nước ta đã xác định nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình tổng quát của nước ta trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, phát triển nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa là đường lối chiến lược lâu dài của Đảng ta và nhà nước ta. Ngày nay cả nhân loại đã bước vào thế kỉ XXI, thế kỉ của văn minh và sáng tạo. Những thành tựu và những phát minh khoa học tiến bộ đã làm thay đổi hẳn bộ mặt thế giới. Việt Nam chúng ta cũng tồn tại trong thế giới không ngừng vận động và biến đổi ấy. Tuy nhiên so với các nước khác, Việt Nam vẫn còn là nước nghèo nàn, lạc hậu, khoa học kĩ thuật chậm phát triển, hiệu quả sản xuất chưa cao nên đời sống nhân dân chưa được cải thiện là bao. Trước tình hình như vậy thì việc nghiên cứu về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một vấn đề tất yếu đặt ra cho mỗi sinh viên hiện nay, đặc biệt là sinh viên kinh tế chúng ta. Khi tìm hiểu nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải tìm hiểu nền kinh tế thị trường trong mối quan hệ tổng thể, trong sự vận động, phát triển không ngừng của nền kinh tế qua các giai đoạn lịch sử cụ thể. Do vậy cần phải vận dụng quan điểm lịch sử cụ thể rút ra từ hai nguyên lí cơ bản của phép biện chứng duy vật của triết học Mác- Lênin vào quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Quan điểm lịch sử- cụ thể đòi hỏi chúng ta khi nhận thức về sự vật và tác động vào sự vật phải chú ý điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể, môi trường cụ thể trong đó sự vật sinh ra, tồn tại và phát triển.Khi xác định đường lối, chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của từng giai đoạn, từng thời kì xây dựng đất nước, việc quán triệt quan điểm lịch sử cụ thể để phân tích tình hình cụ thể của đất nước ta cũng như bối cảnh lịch sử quốc tế diễn ra trong từng giai đoạn và từng thời kì đó giúp Đảng ta vạch ra những đường lối, chính sách đúng đắn đưa nền kinh tế nước ta đi đúng hướng, khắc phục những hạn chế, tiêu cực của nền kinh tế thị trường. Khi nghiên cứu đề tài này, em dựa trên quan điểm lịch sử cụ thể để tìm hiểu những vấn đề có liên quan đến nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Với khuôn khổ của bài tiểu luận, với tư cách là một sinh viên đang học phương pháp tiếp cận khoa học Mac- Lênin, em chưa thể đi sâu tìm hiểu hay khái quát được đầy đủ mọi vấn đề. Vì vậy,em chỉ xin đưa ra những lí luận, thực trạng, giải pháp ở mức độ tiếp cận một vấn đề khoa học để giúp các sinh viên mới như em có thêm một số thông tin về những thuận lợi, khó khăn và vai trò của nền kinh tế thị trường trong sự nghiệp xây dựng đất nước để từ đó có thể đóng góp một phần vào công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế nước nhà. B. Nội dung 1.Sự cần thiết khách quan xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 1.1.Khái niệm kinh tế thị trường, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và cơ sở khách quan của sự tồn tại, phát triển kinh tế thị trường ở nước ta 1.1.1. Khái niệm kinh tế thị trường và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Để hiểu rõ khái niệm kinh tế thị trường, chúng ta cần nắm được thế nào là kinh tế hàng hoá. Kinh tế hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế - xã hội, trong đó sản phẩm sản xuất ra để trao đổi, để bán trên thị trường. Mục đích của sản xuất trong kinh tế hàng hoá không phải để thoả mãn nhu cầu trực tiếp của người sản xuất ra sản phẩm mà nhằm để bán, tức là đáp ứng nhu cầu người mua, đáp ứng nhu cầu xã hội. Kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hoá, trong đó toàn bộ yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” của sản phẩm đều thông qua thị trường. Kinh tế hàng hoá và kinh tế thị trường không đồng nhất với nhau, chúng khác nhau về trình độ phát triển nên khái niệm kinh tế thị trường được hiểu như sau: Kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế - xã hội mà trong đó sản xuất và tái sản xuất xã hội gắn chặt với thị trường, tức là gắn chặt với quan hệ hàng hoá- tiền tệ, với quan hệ cung cầu. Trong nền kinh tế thị trường nét biểu hiện có tính chất bề mặt của đời sống xã hội là quan hệ hàng hoá. Mọi hoạt động xã hội đều phải tính đến quan hệ hàng hoá hay ít nhất cũng phải sử dụng nó như một khâu trung gian. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Về bản chất khác với nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một nền kinh tế vì nhân dân phục vụ nhân dân, lấy đời sống nhân dân, công bằng xã hội là mục tiêu để tăng trưởng và phát triển kinh tế. 1.1.2. Cơ sở khách quan của sự tồn tại và phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, kinh tế thị trường tồn tại và phát triển là khách quan và cần thiết. Nó bắt nguồn từ: - Sự phát triển của phân công lao động xã hội. Nền kinh tế nước ta hiện nay bao gồm nhiều ngành kinh tế khác nhau, do tác động của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế đang xuất hiện thêm nhiều ngành nghề mới với trình độ chuyên môn hoá cao hơn. Thêm vào đó, chuyên môn hoá và hợp tác hoá sản xuất trong một số lĩnh vực đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia và mang tính quốc tế. Điều này nghĩa là, mặc dù còn ở trình độ thấp hơn các nước phát triển, nhưng phân công lao động trong nền kinh tế nước ta hiện nay đã và đang tạo điều kiện khách quan cho phát triển kinh tế thị trường - Nền kinh tế nước ta đang tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất với nhiều hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh. Các doanh nghiệp tồn tại, hoạt động với tư cách là các chủ thể kinh tế độc lập. Trong điều kiện đó, sự trao đổi sản phẩm giữa các chủ thể kinh tế với nhau trên thị trường dưới hình thức hàng hoá - tiền tệ là một tất yếu. -Thực tiễn lịch sử các nước xã hội chủ nghĩa trong đó có Việt Nam, cho thấy đã một thời áp dụng mô hình kinh tế chỉ huy tập trung quan liêu, bao cấp, dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài mà nguyên nhân chủ yếu là do phủ nhận quan hệ hàng hoá - tiền tệ, phủ nhận kinh tế thị trường. Kết quả gần 20 năm đổi mới, nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và đưa lại những thắng lợi to lớn. Điều đó càng khẳng định sự tồn tại và phát triển kinh tế thị trường là khách quan và cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước. Như vậy, khi kinh tế thị trường ở nước ta là một tồn tại tất yếu, khách quan, thì không thể lấy ý chí chủ quan mà xoá bỏ nó được. 1.2. Tính đặc thù của quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay Nền kinh tế được xây dựng ở nước ta hiện nay là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Một mặt, nó vừa có tính chất chung của kinh tế thị trường: Một là, các chủ thể kinh tế có tính độc lập, có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh. Hai là, giá cả do thị trường quyết định, hệ thống thị trường được phát triển đầy đủ và nó có tác dụng làm cơ sở cho việc phân phối các nguồn lực kinh tế vào trong các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế. Ba là, nền kinh tế vận động theo những quy luật vốn có của kinh tế thị trường như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh. Sự tác động của các quy luật đó hình thành cơ chế tự điều tiết của nền kinh tế. Bốn là, nếu là ki hiện đại thì còn có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước thông qua pháp luật kinh tế, kế hoạch hoá, các chính sách kinh tế. Mặt khác, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội. Đó là sự kết hợp giữa cái chung là kinh tế thị trường với cái riêng là chủ nghĩa xã hội, có các đặc trưng cơ bản sau: - Về mục tiêu phát triển: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Phương tiện để đạt được mục tiêu là giải phóng sức sản xuất, động viên tối đa mọi nguồn lực trong nước và nước ngoài để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng cơ sở vật chất - kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội. - Về quan hệ kinh tế: Nền kinh tế thị trường bao gồm nhiều thành phần, với nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất. Các thành phần kinh tế gồm: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Các thành phần kinh tế tồn tại khách quan và là những bộ phận cần thiết cuả nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên xã hội chủ nghĩa, chúng hoạt động trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất. Phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần là tất yếu đối với nước ta nhằm phát huy mọi nguồn lực kinh tế, nâng cao hiệu quả kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế. Trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Việc xác lập vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước là vấn đề có tính nguyên tắc và là sự khác biệt có tính bản chất giữa kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. - Về phân phối thu nhập: Nền kinh tế kết hợp nhiều hình thức phân phối thu nhập, trong đó phân phối theo lao động là chủ yếu. Nó bao gồm các hình thức phân phối : phân phối theo vốn (trong kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể), phân phối theo vốn, tài sản và các đóng góp, phân phối theo giá trị sức lao động (trong các doanh nghiệp tư bản tư nhân và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài), thông qua các quỹ phúc lợi tập thể và xã hội. Trong các hình thức phân phối đó, phân phối theo lao động là đặc trưng bản chất của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nó là hình thức thực hiện về mặt kinh tế của chế độ công hữu. Đây là sự khác biệt căn bản giữa kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Phân phối theo lao động là hình thức phân phối chủ yếu trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. - Về cơ chế vận hành nền kinh tế là cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Về hình thức, cơ chế vận hành nền kinh tế nước ta cũng như nhiều nước, đó là cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Nhưng có sự khác biệt về bản chất so với nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, đó là nhà nước quản lý nền kinh tế không phải là nhà nước tư bản, mà là nhà nước xã hội chủ nghĩa - nhà nước của dân, do dân và vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Đây là nhân tố bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển nền kinh tế thị trường. - Về chiến lược phát triển: Nền kinh tế thị trường lấy cơ cấu mở, hội nhập để tồn tại và phát triển. Thích ứng với cơ cấu kinh tế này là chiến lược thị trường hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những mặt hàng sản xuất trong nước có hiệu quả. Năm đặc trưng trên phản ánh bản chất của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà nhà nước ta đang xây dựng. 1.3. Vai trò của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Nền kinh tế nước ta khi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội còn mang nặng tính tự cấp tự túc, vì vậy sản xuất hàng hoá phát triển sẽ phá vỡ dần kinh tế tự nhiên và chuyển thành nền kinh tế hàng hoá, thúc đẩy sự xã hội hoá sản xuất. Kinh tế thị trường tạo ra động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, kích thích tính năng động, sáng tạo của chủ thể kinh tế, kích thích việc nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, cũng như tăng khối lượng hàng hoá và dịch vụ. Sự phát triển kinh tế thị trường sẽ thúc đẩy phân công lao động xã hội và chuyên môn hoá sản xuất. Vì thế phát huy được tiềm năng, lợi thế của từng vùng, cũng như lợi thế của đất nước có tác dụng mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài. Sự phát triển của kinh tế thị trường sẽ thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, do đó tạo điều kiện ra đời của sản xuất lớn có tính chất xã hội hoá cao; đồng thời chọn lọc được những người sản xuất kinh doanh giỏi, hình thành đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ, lao động lành nghề, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước. Như vậy, phát triển kinh tế thị trường là một tất yếu kinh tế đối với nước ta, một nhiệm vụ kinh tế cấp bách để chuyển nền kinh tế lạc hậu của nước ta thành nền kinh tế hiện đại, hội nhập vào sự phân công lao động quốc tế. Đó là con đường đúng đắn để phát triển lực lượng sản xuất, khai thác có hiệu quả tiềm năng của đất nước vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. 2. Thực trạng nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay 2.1. Những thành tựu đạt được sau hơn 20 năm phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam 2.1.1. Ưu thế của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam so với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa Mục tiêu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển kinh tế để đạt tới một xã hội giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Nếu như nền kinh tế thị trường tự do tư bản chủ nghĩa phục vụ lợi ích các nhà tư bản, xây dựng cơ sở kinh tế cho chủ nghĩa tư bản, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa tư bản thì kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa lấy lợi ích và phục vụ toàn dân làm mục tiêu. Phát triển kinh tế thị trường để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Kinh tế thị trường bản thân nó là nội lực tự thúc đẩy nền kinh tế xã hội. Đến lượt mình, chúng ta dùng cơ chế kinh tế đó để kích thích sản xuất, khuyến khích tinh thần năng động, sáng tạo của người lao động, giải phóng sức sản xuất, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hoá, xây dượng một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản săc dân tộc, từng bước thực hiện lí tưởng xã hội chủ nghĩa. Đặc trưng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một kiểu tổ chức, một kiểu vận hành kinh tế mà một mặt nó tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, mặt khác dựa trên cơ sở bản chất và nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội, nó được chi phối bởi bản chất của chủ nghĩa xã hội thể hiện trên ba mặt cơ bản của một nền kinh tế- xã hội: sở hữu, quản lí, phân phối. Theo bản chất kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sản phẩm kinh tế không chỉ mang giá trị kinh tế, chúng được biến thành các giá trị xã hội. Một mặt, các giá trị đó trở lại tái sản xuất và tái phát triển nền kinh tế, mặt khác, chúng hoà vào các chương trình phúc lợi y tế, văn hoá, giáo dục, khoa học, nâng cao chất lượng cuộc sống… Lí tưởng xã hội chủ nghĩa là lí tưởng nhân đạo nhất vì nó vươn tới một xã hội giàu có, văn minh, đồng thời con người được hạnh phúc. Mục tiêu kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là vươn tới điều đó. Vì vậy, trong chế độ xã hội của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các giá trị vật chất được gắn kết với các giá trị tinh thần. Một xã hội phát triển hài hoà các mặt kinh tế, đạo đức, văn hoá là một xã hội đậm đà tình người. Bản chất kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang phấn đấu như vậy là phát triển kinh tế, tất cả cho con người. Vì vậy có thể nói khái niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng đồng nghĩa với khái niệm kinh tế thị trường nhân văn. 2.1.2. Những thành tựu đạt được Sau những năm đổi mới kinh tế, xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa điều đầu tiên mà chúng ta thấy là tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định. Nếu những năm 1976-1985, nền kinh tế rơi vào khủng hoảng trầm trọng thì giai đoạn 1986-1990, GDP tăng trung bình 3,9%, từ năm 1991 đến nay GDP tăng bình quân 8,2%, cơ cấu giữa các thành phần kinh tế và các ngành cũng hợp lí hơn. Hàng loạt các công ty tư nhân hoạt động trong mọi lĩnh vực đã ra đời, tạo mọi điều kiện cho việc sản xuất hàng hoá, làm cho số lượng hàng hoá phong phú hơn và chất lượng không ngừng được cải tiến, giao thông vận tải được chú trọng, cơ sở hạ tầng ngày càng được hoàn thiện. Trước xu thế chủ đạo của thế giới là hợp tác để phát triển, Việt Nam đã bước đầu hội nhập được nền kinh tế thế giới bằng việc gia nhập các tổ chức kinh tế ở trong khu vực cũng như của thế giới. Chính sự hợp tác và hội nhập này đã giúp cho hàng hoá Việt Nam có cơ hội xuất khẩu. Hiện nay hàng hoá Việt Nam đã có mặt trên 120 nước trên thế giới với số lượng và chất lượng ngày càng cao. Cán cân xuất nhập khẩu đã được điều chỉnh, kim ngạch xuất khẩu không ngừng tăng lên và quan trọng hơn là đã thu hút được khá lớn lượng vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, ra đời ngày càng nhiều các công ty liên doanh và các khu công nghiệp. Một thành tựu quan trọng nữa là trong điều kiện nền kinh tế thị trường trên thế giới với sự cạnh tranh khốc liệt gây ra sự phân cực giàu nghèo mạnh mẽ với nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, Đảng ta đã kịp thời rút kinh nghiệm và đã có những đường lối chính sách định hướng cho nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Chính vì thế nền kinh tế thị trường của ta chẳng những không xảy ra khủng hoảng tiêu cực từ những cuộc khủng hoảng kinh tế ở các nước trong khu vực và trên thế giới mà cụ thể là cuộc khủng hoảng tiền tệ năm 1997. Với những thành tựu đã đạt được, nền kinh tế thị trường đã góp phần tích cực trong việc nâng cao đời sống của nhân dân cả về vật chất cũng như tinh thần. 2.2. Những hạn chế còn tồn tại và các nguyên nhân Bên cạnh những mặt tích cực của nền kinh tế thị trường, còn có mặt tiêu cực của nó. Đó là nạn tham nhũng, buôn lậu và các tệ nạn xã hội khác đang phát triển tràn lan. Bên cạnh đó là sự ô nhiễm môi trường sinh thái, nạn phá rừng dẫn tới thiên tai lũ lụt, cạn kịêt tài nguyên thiên nhiên. Cũng cần phải hiểu rằng đây không phải là sự tác động một chiều mà chính những hậu quả này sẽ là những yếu tố tác động lại nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đến đời sống của con người. 2.2.1. Trình độ phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta còn ở giai đoạn sơ khai Cơ sở vật chất kĩ thuật còn thấp, bên cạnh một số lĩnh vực, một số cơ sở kinh tế đã được trang bị kĩ thuật và công nghệ hiện đại, trong nhiều ngành kinh tế, máy móc cũ kĩ, công nghệ lạc hậu. Theo UNDP, Việt Nam đang ở trình độ công nghệ lạc hậu 2/7 của thế giới, thiết bị máy móc lạc hậu 2/3 thế hệ. Lao động thủ công vẫn chiếm tỉ trọng lớn trong tổng số lao động xã hội. Do đó, năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả của sản xuất nước ta còn rất thấp so với khu vực và thế giới ( năng suất lao động của nước ta chỉ bằng 30% mức trung bình của thế giới ).Kết cấu hạ tầng như hệ thống đường giao thông, bến cảng, hệ thống thông tin liên lạc… còn lạc hậu, kém phát triển ( mật độ đường giao thông/km bằng 1% với mức trung bình của thế giới; tốc độ truyền thông trung bình cả nước chậm hơn thế giới 30 lần). Hệ thống giao thông kém phát triển làm cho các địa phương, các vùng bị chia cắt, tách biệt nhau, do đó làm cho tiềm năng của các địa phương không thể được khai thác, các địa phương không thể chuyên môn hoá sản xuất để phát huy thế mạnh. Do cơ sở vật chất - kĩ thuật còn ở trình độ thấp làm cho phân công lao động kém phát triển, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm. Nền kinh tế nước ta chưa thoát khỏi nền kinh tế nông nghiệp sản xuất nhỏ, nông nghiệp vẫn sử dụng khoảng 70% lực lượng lao động nhưng chỉ sản xuất khoảng 26% GDP, các ngành kinh tế công nghệ cao chiếm tỷ trọng thấp. Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường trong nước, cũng như thị trường nước ngoài còn rất yếu. Do cơ sở vật chất kĩ thuật và công nghệ lạc hậu, nên năng suất lao động thấp, do đó khối lượng hàng hoá nhỏ bé, chủng loại hàng hoá còn nghèo nàn, chất lượng hàng hoá thấp, giá cả cao vì thế khả năng cạnh tranh còn yếu. 2.2.2. Thị trường dân tộc thống nhất đang trong quá trình hình thành nhưng chưa đồng bộ Do giao thông vận tải kém phát triển nên chưa lôi cuốn được tất cả các vùng trong nước vào một mạng lưới lưu thông hàng hoá thống nhất. Thị trường hàng hoá, dịch vụ đã được hình thành nhưng còn hạn hẹp và còn nhiều hiện tượng tiêu cực ( hàng giả, hàng nhập lậu, hàng nhái vẫn làm rối loạn thị trường). Thị trường hàng hoá sức lao động mới manh nha, một số trung tâm giới thiệu việc làm và xuất khẩu lao động mới xuất hiện nhưng đã nảy sinh hiện tượng khủng hoảng. Nét nổi bật của thị trường này là sức cung về lao động lành nghề nhỏ hơn cầu rất nhiều, trong khi đó cung về lao động giản đơn lại vượt quá xa cầu, nhiều người có sức lao động không tìm được việc làm. Thị trường tiền tệ, thị trường vốn đã có nhiều tiến bộ nhưng vẫn còn nhiều trắc trở, như nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tư nhân thiếu vốn nhưng không vay được vì vướng mắc thủ tục, trong khi đó nhiều ngân hàng thương mại huy động được tiền gửi mà không thể cho vay để ứ đọng trong két dư nợ quá hạn trong nhiều ngân hàng đã đến mức báo động. Thị trường chứng khoán ra đời nhưng cũng chưa có nhiều hàng hoá để mua bán và mới có rất ít doanh nghiệp đủ điều kiện tham gia thị trường này. 2.2.3. Nhiều thành phần kinh tế tham gia thị trường, do vậy nền kinh tế nước ta có nhiều loại hình sản xuất hàng hoá cùng tồn tại, đan xen nhau, trong đó sản xuất hàng hoá nhỏ, phân tán còn khá phổ biến. 2.2.4. Sự hình thành thị trường trong nước gắn với mở rộng hiệu quả kinh tế đối ngoại, hội nhập vào thị trường khu vực và thế giới, trong hoàn cảnh trình độ phát triển kinh tế- kĩ thuật của nước ta thấp xa so với hầu hết các nước khác trên thế giới. Toàn cầu hoá và khu vực hoá về kinh tế đang đặt ra chung cho các nước cũng như nước ta nói riêng những thách thức hết sức to lớn. Nhưng đó là xu hướng tất yếu khách quan, nên phải tìm cách đối đầu với những thách thức đó như thế nào. Phải chủ động hội nhập, chuẩn bị tốt để tham gia vào khu vực hoá và toàn cầu hoá, tìm ra “ cái mạnh tương đối” của nước ta, thực hiện đa dạng hoá, đa phương hoá kinh tế đối ngoại, tận dụng ngoại lực để phát huy nội lực nhằm thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân, định hướng lên chủ nghĩa xã hội. 2.2.5. Quản lí nhà nước về kinh tế- xã hội còn yếu. Một số cơ chế chính sách còn thiếu, chưa nhất quán, chưa sát với cuộc sống, thiếu tính khả thi. Nhiều cấp, nhiều ngành chưa thay thế , sửa đổi những quy định về quản lí nhà nước không phù hợp, chưa bổ sung những cơ chế, chính sách mới có tác dụng giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất, khai thác nhiều hơn nữa các nguồn lực dồi dào trong các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp, các vùng và toàn xã hội. Kinh tế vĩ mô còn nhiều yếu tố thiếu vững chắc. Hệ thống tài chính, ngân hàng, kế hoạch đổi mới chậm, chất lượng hoạt động hạn chế, môi trường đầu tư kinh doanh còn nhiều vướng mắc, chưa tạo điều kiện và hỗ trợ tốt cho các thành phần kinh tế phát triển sản xuất kinh doanh. 3. Các giải pháp cơ bản để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó có những giải pháp chủ yếu sau đây 3.1. Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần Trước đây khi xây dựng kinh tế kế hoạch, xóa bỏ kinh tế thị trường, chúng ta đã thiết lập một cơ cấu sở hữu đơn giản với hai hình thức là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Vì vậy khi chuyển sang nền kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trường, cần phải đổi mới cơ cấu sở hữu cũ bằng cách đa dạng hoá các hình thức sở hữu, điều đó sẽ đưa đến hình thành những chủ thể kinh tế độc lập, có lợi ích riêng, tức là khôi phục một trong những cơ sở của kinh tế hàng hoá. Trên cơ sở đa dạng hoá các hình thức sở hữu, thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, lấy việc phát triển sức sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế- xã hội, cải thiện đời sống nhân dân làm mục tiêu quan trọng để khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh. Theo tinh thần đó, tất cả các thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, đều được khuyến khích phát triển. Trong những năm tới cần phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Muốn vậy cần tập trung nguồn lực phát triền có hiệu quả kinh tế nhà nước trong các lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, thực hiện tốt chủ trương cổ phần hóa và đa dạng hoá sở hữu đối với những doanh nghiệp mà nhà nước không cần nắm 100% vốn. Xây dựng và củng cố một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế. Đẩy mạnh việc đổi mới kĩ thuật, công nghệ trong các doanh nghiệp nhà nước, thực hiện chế độ quản lí công ty đối với tất cả các doanh nghiệp kinh doanh có vốn của nhà nước, doanh nghiệp cạnh tranh thực sự bình đẳng trên thị trường, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất, kinh doanh. Phát triển kinh tế tập thể dưới nhiều hình thức đa dạng, trong đó hợp tác xã là nòng cốt. Nhà nước cần giúp đỡ hợp tác xã về đào tạo cán bộ, xây dựng phương án sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường, thực hiện tốt việc chuyển đổi hợp tác xã theo Luật hợp tác xã. Khuyến khích kinh tế cá thể, tiểu chủ phát triền ở cả thành thị và nông thôn. Nhà nước tạo điều kiện giúp đỡ kinh tế cá thể, tiểu chủ phát triển có hiệu quả. Khuyến khích kinh tế tư bản tư nhân phát triển trong những ngành nghề sản xuất kinh doanh mà luật pháp không cấm. Phát triển kinh tế tư bản nhà nước dưới các hình thức liên doanh, liên kết giữa kinh tế tư nhân trong và ngoài nước; tạo điều kiện để kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hướng vào mục tiêu phát triển các sản phẩm xuất khẩu, tăng khả năng cạnh tranh, gắn thu hút vốn với thu hút công nghệ hiện đại. 3.2. Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, ứng dụng nhanh tiến bộ khoa học công nghệ, trên cơ sở đó đẩy mạnh phân công lao động xã hội Phân công lao động xã hội là cơ sở chung của sản xuất và trao đổi hàng hoá. Vì vậy, để phát triển kinh tế hàng hoá, phải đẩy mạnh phân công lao động xã hội. Nhưng sự phát triển của phân công lao động xã hội do trình độ của lực lượng sản xuất quyết định nên muốn mở rộng phân công lao động xã hội cần đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước để xây dựng cơ sở vật chất- kĩ thuật của nền sản xuất lớn hiện đại. Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước, vừa có những bước đi tuần tự, vừa có bước nhảy vọt, gắn công nghiệp hoá với hiện đại hoá, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ tiên tiến, hiện đại về khoa học và công nghệ, ứng dụng nhanh và phổ biến cao hơn ở mức độ cao hơn những thành tựu công nghệ hiện đại và những tri thức mới, từng bước phát triển kinh tế tri thức. Cùng với trang bị kĩ thuật, công nghệ hiện đại cho các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tiến hành phân công lại lao động và phân bố dân cư trong phạm vi cả nước, cũng như ở từng vùng, từng địa phương. Hình thành cơ cấu kinh tế hợp lí cho phép khai thác tốt nhất các nguồn lực của đất nước, tạo nên sự tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững của toàn bộ nền kinh tế. 3.3. Hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường Trong nền kinh tế thị trường, hầu hết các nguồn lực kinh tế đều thông qua thị trường mà được phân bố vào các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế một cách tối ưu. Vì vậy để xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta cũng phải hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường. Trong những năm tới chúng ta cần phải: - Phát triển thị trường hàng hoá và dịch vụ thông qua việc đẩy mạnh xuất khẩu, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển hệ thống giao thông và phương tiện vận tải để mở rộng thị trường. Hình thành thị trường lao động có tổ chức để tạo điều kiện cho sự di chuyển sức lao động theo yêu cầu phát triển nền kinh tế và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực. - Xây dựng thị trường vốn, từng bước xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán để huy động các nguồn vốn vào phát triển sản xuất. - Quản lí chặt chẽ đất đai và thị trường nhà ở. Xây dựng và phát triển thị trường thông tin, thị trường khoa học công nghệ. Hoàn thiện các loại thị trường đi đôi với xây dựng khuôn khổ pháp lí và thể chế, tăng cường sự kiểm tra, giám sát của nhà nước để thị trường hoạt động năng động, có hiệu quả, có trật tự, kỉ cương trong môi trường cạnh tranh lành mạnh, công khai, minh bạch, hạn chế về kiểm soát độc quyền trong kinh doanh, có biện pháp hữu hiệu chống buôn lậu và gian lận thương mại. 3.4. Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại Trong điều kiện hiện nay, chỉ có mở cửa kinh tế, hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới mới thu hút được vốn, kĩ thuật và công nghệ hiện đại để khai thác tiềm năng và thế mạnh của đất nước nhằm phát triển kinh tế. Khi mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại phải quán triệt nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, không can thiệp vào nội bộ của nhau. Mở rộng kinh tế đối ngoại theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá các hình thức kinh tế đối ngoại. Hiện nay, cần đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu là trọng điểm của kinh tế đối ngoại. Giảm dần nhập siêu, ưu tiên nhập khẩu tư liệu sản xuất để phục vụ sản xuất. Tranh thủ mọi khả năng và bằnh nhiều hình thức thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài cần hướng vào những lĩnh vực, nhứng sản phẩm có công nghệ tiên tiến, có tỷ trọng xuất khẩu cao. Việc sử dụng vốn vay phaỉ có hiệu quả để trả được nợ, cải thiện được cán cân thanh toán. Chủ động tham gia các tổ chức thương mại quốc tế, các diễn đàn, các tổ chức, các định chế quốc tế một cách chọn lọc với bước đi thích hợp. 3.5. Giữ vững sự ổn định chính trị, hoàn thiện hệ thống luật pháp Sự ổn định về chính trị bao giờ cũng là nhân tố quan trọng đầu tiên để phát triển. Nó là điều kiện để các nhà sản xuất kinh doanh trong nước và nước ngoài yên tâm đầu tư. Muốn giữ vững sự ổn định chính trị ở nước ta hiện nay cần phải giữ và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nâng cao hiệu lực quản lí của nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Hệ thống pháp luật đồng bộ là công cụ quan trọng để nhà nước quản lí nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Nó tạo ra hành lang luật pháp cho hoạt động kinh tế, buộc các doanh nghiệp chấp nhận sự điều tiết của nhà nước. 3.6. Xoá bỏ cơ chế tập trung, q._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docT0523.doc