Quan điểm toàn diện với việc xây dựng & phát triển nền Kinh tế thị trường Xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

Mục lục A-Đặt vấn đề B-Nội dung Cơ sở lý luận về nền kinh tế thị trường đinh hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Kinh tế thị trường và sự cần thiết khách quan phải xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường đinh hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Khái niệm kinh tế thị trường, kinh tế thị trường đinh hướng xã hội chủ nghĩa Sự cần thiết khách quan phải xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Quan niệm của Đảng ta về mô hình kinh tế thị trường định

doc25 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1321 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Quan điểm toàn diện với việc xây dựng & phát triển nền Kinh tế thị trường Xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hướng xã hội chủ nghĩa Bản chất của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Những đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Thực trạng quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta thời gian qua Thực trạng hoạt động của các thành phần kinh tế nước ta hiện nay Thực trạng phát triển các loại thị trường cơ bản ở nước ta Tình hình quản lý vĩ mô của nhà nước đối với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Những giải pháp cơ bản tiếp tục xây dựng, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Nhóm giải pháp về quan hệ sản xuất Tiếp tục thực hiện nhất quán chính sách nền kinh tế nhiều thành phần và tăng cường vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà nước Hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường Nhóm giải pháp về phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất để nâng cao sức cạnh tranh của cơ chế thị trường Đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá, ứng dụng nhanh tiến bộ khoa học công nghệ trên cơ sở đó đẩy mạnh phân công lao động xã hội. Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho các loại thị trường theo hướng hội nhập Nhóm giải pháp về môi trường thể chế vĩ mô của nhà nước Giữ vững ổn định chính trị, hoàn thiện hệ thống pháp luật Triệt để xoá bỏ cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp; hoàn thiện cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại Về ngoại thương, cải cách ngoại thương được thực hiện theo hướng từng bước mở cửa và hội nhập Tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài C. Kết luận D. Danh mục tài liệu tham khảo A.Đặt vấn đề Trước đây, ở nước ta đã tồn tại mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp. Việc duy trì quá lâu mô hình kinh tế này đã kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, làm cho nền kinh tế nước ta ngày càng trì trệ, lạc hậu, rồi rơi vào khủng hoảng,đời sống nhân dân thấp. Trước tình hình đó, Đảng ta đã quyết tâm đổi mới chuyển dần việc quản lý nền kinh tế theo mô hình kinh tế tập trung quan liêu sang mô hình kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Trải qua những bước thăng trầm dò dẫm, đến nay Đảng ta khẳng định mô hình kinh tế thị trường(KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa(XHCN) là phù hợp với quy luật từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn, không qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở một nước kinh tế lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Qua gần 20 năm đổi mới đến nay, nền kinh tế nước ta đã có những bước chuyển biến rõ rệt, đạt được những kết quả đáng tự hào đó là: nền kinh tế đã thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, khoa học và công nghệ phát triển đạt được thành tựu to lớn, đời sống nhân dân được cải thiện. Song so với yêu cầu, những thắng lợi đó mới là bước đầu và hiện đang còn nhiều bất cập, cần được tiếp tục nghiên cứu và làm sáng tỏ hơn nữa trên cả hai mặt lý luận và thực tiễn ở nước ta. Việc phát triển nền kinh tế theo mô hình KTTT định hướng XHCN có sự điều tiết của nhà nước là hoàn toàn đúng, phù hợp với quy luật khách quan, phù hợp với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Tuy nhiên mô hình KTTT định hướng XHCN ở nước ta hiền nay vẫn còn nhiều khuyết tật: các yếu tố thị trường vẫn đang trong quá trình hình thành, hệ thống thị trường còn nhiều khiếm khuyết và phát triển chưa đồng bộ… Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta cần những nhận xét đánh giá chính xác tình hình kinh tế đất nước để từ đó đưa ra những chính sách, biện pháp đúng đắn để khắc phục, hoàn thiện và xây dựng thành công mô hình KTTT định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước. Đặc biệt, hiện nay trong xu thế hội nhập và Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức Thương mại thế giới WTO thì việc đổi mới, phát triển bền vững nền kinh tế theo định hướng XHCN lại càng trở lên cấp bách và cần thiết. Trên cơ sở nhận thức thực tiễn và những phân tích, đánh giá trên, tôi đã quyết định chọn đề tài: “Quan điểm toàn diện với việc xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường XHCN ở nước ta hiện nay” dể nghiên cứu làm tiểu luận cho môn triết học. B.Nội dung I.Cơ sở lý luận về nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta 1.KTTT và sự cần thiết khách quan phải xây dựng và phát triển nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta 1.1-Khái niệm KTTT,KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa Kinh tế hàng hoá(KTHH): là hình thức tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm sản xuất ra nhằm mục đích trao đổi mua bán trên thị trường. Kinh tế thị trường(KTTT): là trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hoá trong đó toàn bộ các yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” của sản xuất đều thông qua thị trường. Kinh tế thị trường tự do cạnh tranh: là nền kinh tế chịu sự điều tiết tự phát của các quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá. Trong nền kinh tế này Nhà nước không trực tiếp tham gia vào phát triển kinh tế mà chỉ tạo môi trường thuận lợi cho sự tự do cạnh tranh lành mạnh, nhất là môi trường pháp lí. Kinh tế thị trường hỗn hợp: là nền kinh tế có sự kết hợp giữa KTTT tự do cạnh tranh với sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước. Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta: là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, định hướng XHCN. 1.2-Sự cần thiết khách quan phải xây dựng và phát triển nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta. Để xác lập cơ sở kinh tế của chế độ mới, Nhà nước ta xây dựng và phát triển các thành phần kinh tế mới. Đối với tư hữu lớn, kinh tế tư bản tư nhân chỉ có phương pháp duy nhất là quốc hữu hoá. Lý luận về quốc hữu hoá của chủ nghĩa Mac-Lênin khẳng định không nên quốc hữu hoá ngay một lúc mà phải tiến hành từ từ theo từng giai đoạn và bằng hình thức, phương pháp nào là tuỳ điều kiện cụ thể cho doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa còn tồn tại như là một tất yếu kinh tế đồng thời hướng chủ nghĩa tư bản vào con đường Nhà nước hình thành thành phần kinh tế tư bản Nhà nước. Đối với tư hữu nhỏ thì chỉ có thông qua con đường hợp tác theo các nguyên tắc mà LêNin đã vạch ra là tự nguyện dân chủ, cùng có lợi đồng thời tuân theo các quy luật khách quan. Do đó trong thời kỳ quá độ còn tồn tại thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ. Hơn nữa các thành phần kinh tế cũ còn có khả năng phát triển còn có vai trò đối với sản xuất và đời sống bởi vậy không thể bỗng chốc xoá bỏ ngay được. Trong xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế cần phải thu hút các nguồn lực từ bên ngoài. Nhà nước XHCN có thẻ liên doanh hợp tác với tư bản tư nhân trong nước và nước ngoài làm hình thành kinh tế tư bản Nhà nước. Mặt khác sự phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia do đặc điểm lịch sử, điều kiện khách quan, chủ quan nên tất yếu có sự phát triển không đồng đều về lực lượng sản xuất, các doanh nghiệp. Chính sự phát triển không đồng đều đó quyết định quan hệ sản xuất, trước hết hình thức, quy mô và quan hệ sở hữu phải phù hợp với nó, nghĩa là tồn tại những quan hệ sản xuất không giống nhau. Đó là cơ sở hình thành các cơ sở kinh tế khác nhau. Sự tồn tại các thành phần kinh tế ở nước ta có ý nghĩa lý luận và thực tế to lớn. Trên đây là nguyên nhân dẫn đến sự tồn tại và phát triển nền KTTT ở Việt Nam. Cơ sở khách quan của sự tồn tại và phát triển nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta là do: Sự phát triển của phân công lao động xã hội: phân công lao động xã hội với tính cách là cơ sở chung của sản xuất hàng hoá chẳng những không mất đi mà trái lại còn được phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu. Phân công lao động trong từng khu vực, từng địa phương cũng ngày càng phát triển. Nền KTTT nước ta tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất với nhiều hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh. Các doanh nghiệp tồn tại, hoạt động với tư cách là các chủ thể kinh tế độc lập. Trong điều kiện đó, sự trao đổi sản phẩm giữa các chủ thể kinh tế với nhau trên thị trường dưới hình thức hàng hoá-tiền tệ là một tất yếu. Thực tiễn lịch sử các nước XHCN trong đó có Việt Nam, cho thấy một thời đã áp dụng mô hình kinh tế chỉ huy tập trung, quan liêu, bao cấp dẫn đến khủng hoảng kinh tế kéo dài mà nguyên nhân là phủ nhận quan hệ hàng hoá-tiền tệ, phủ nhận KTTT. Lối ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội ở nước ta chỉ có thể thông qua đổi mới để chuyển sang phát triển KTTT. Kết quả gần 20 năm đổi mới, đất nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội và đưa lại những thắng lợi to lớn. Điều đó càng khẳng định sự tồn tại và phát triển KTTT là khách quan và cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước. 2.Quan điểm của Đảng ta về mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. 2.1 Bản chất của KTTT định hướng XHCN Kinh tế thị trường định hướng XHCN là kiểu tổ chức kinh tế-xã hội phản ánh sự kết hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất với kiến trúc thượng tầng XHCN; giữa KTTT với tư cách là cái chung(gắn với các đặc trưng của KTTT) và định hướng XHCN với tư cách là cái đặc thù(gắn với sự dẫn dắt, chi phối bởi mục tiêu và nguyên tắc của XHCN). Trong sự kết hợp này, quan hệ sản xuất, tính chất Nhà nước và định hướng XHCN là bản chất và giữ vai trò chủ đạo. 2.2 Những đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng XHCN. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN vừa mang tính chất chung vừa mang tính chất đặc thù, dựa trên nguyên tắc và bản chất của XHCN. Sắc thái đặc thù ấy thể hiện ở những điểm sau: Mục tiêu chiến lược của việc phát triển KTTT: Trong nhiều đặc tính có thể dùng làm tiêu thức để phân biệt nền KTTT này với nền KTTT khác, phải nói đến mục đích chính trị, mục tiêu kinh tế-xã hội mà Nhà nước và nhân dân đã lựa chọn làm định hướng chi phối sự vận động phát triển của nền kinh tế. Mục tiêu hàng đầu của phát triển KTTT ở nước ta là giải phóng sức sản xuất, động viên mọi nguồn lực trong nước và ngoài nước để thục hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của XHCN, nâng cao hiệu quả kinh tế-xã hội, cải thiện từng bước đời sống nhân dân. Có những nước đặt vấn đề tăng trưởng kinh tế trước công bằng xã hội sau. Có những nước muốn dựa vào viện trợ và vay vốn nước ngoài để cải thiện đời sống nhân dân rồi sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. ở nước ta thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh: “nước dâng thuyền lên”, sản xuất với đời sống nhân dân như nước với thuyền, thu nhập kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, khuyến khích làm giàu hợp pháp, gắn với xoá đói giảm nghèo. Phát triển kinh tế nhiều thành phần với sự đa dạng của các hình thức sở hữu: Cần nhấn mạnh đến vai trò nền tảng với sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Kinh tế Nhà nước phải vươn lên giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Nhà nước quản lý nền KTTT ở nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Bởi vậy phải ra sức chỉnh đốn Đảng xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, cải cách bộ máy Nhà nước trong sạch, vững mạnh để điều tiết nền KTTT theo định hướng XHCN. Trong nền KTTT định hướng XHCN thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và trí tuệ vào sản xuất-kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội, tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước phát triển. II.Thực trạng quá trình xây dựng và phát triển nền inh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong thời gian qua. 1.Thực trạng hoạt động của các thành phần kinh tế nước ta hiện nay: Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ X của Đảng chỉ rõ, trên cơ sở ba chế độ sở hữu(toàn dân, tập thể, tư nhân) hình thành nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân(cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đàu tư nước ngoài. các thành phần kinh tế này có các quan hệ lợi ích riêng và tạo nên những hệ thống lợi ích khác nhau. Do đó, đương nhiên có những động lực riêng thúc đẩy và lôi kéo đời sống kinh tế-xã hội nước ta vận động và phát triển theo những xu hướng khác nhau, có khi hỗ trợ nhau nhưng cũng có khi đối lập, lấn át nhau. Trên thực tế các lực lượng xã hội nhất định. Như thế cùng với kinh tế, trong thời điểm hiện nay, xã hội ta cũng đang tiềm tàng khả năng vận động theo những xu hướng khác nhau. Để góp phần tích cực, chủ động điều chỉnh và định hướng cho sự phát triển chung của toàn xã hội, chúng ta cần xem xét các thành phần kinh tế đang hoạt động trong nền KTTT theo định hướng XHCN ở nước ta hiện nay trren cơ sở đó nhận biết những xu hướng vận động cũng như vị trí, vai trò và tác dụng của chúng đến sự phát triển chung của đời sống kinh tế-xã hội đất nước. Để góp phần tích cực, chủ động và định hướng cho sự phát triển chung của toàn xã hội, chúng ta cần xem xét các thành phần kinh tế đang hoạt động trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta hiện nay trên cơ sở đó, nhận biết những xu hướng vận động và vai trò và tác dụng của chúng đến sự phát triển chung của đời sống kinh tế xã hội đất nước. Kinh tế nhà nước: là thành phần kinh tế đẫ tồn tại và phát triển mấy chc năm qua, hiện tại chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế quốc dân. Thành phần kinh tế này đã đang phát huy trong nền kinh tế, la lực lượng vật chất quan trọng, là công cụ để nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô toàn bộ nền kinh tế. Mặc dù, hiện tại, nó còn gặp một số khó khăn trong bước chuyển đổi nhưng với quy mô lớn và lợi ích nhiều mặt chắc chắn sẽ sớm thiết lập được vai trò chủ đạo của mình. Đây là thành phần kinh tế đặt dưới sự điều hành trực tiếp của nhà nước vì thế sẽ phát triển theo xu hướng mà ta mong muốn nghĩa là theo đúng định hướng XHCN. Kinh tế tập thể : được xây dựng và hình thành trên cơ sở giải thể cấu trúc hợp tác xã kiểu cũ để “ phát triển mạnh hơn các loại hình kinh tế tập thể đa dạng về hình thức sở hữu và hình thức tổ chức kinh doanh trước hết là các hợp tác xã kiểu mới, các hợp tác xã mà thành viên tham gia gồm cả thể nhân và pháp nhân”. Hiện tại sự phát triển của nó vừa chịu tác động mạnh của các quy luật kinh tế thị trường vừa được sự hỗ trợ tích cực, hiệu quả của nhà nước. Vì thế, xu hướng vận động của nó rất đa dạng. Để chi phối và điều chỉnh xu hướng vận động của chúng nhà nước cần có chính sách vận động khuyến khích bảo trợ và tạo điều kiện cho thành phần kinh tế này phát triển tốt nhất. Từ đó, nhà nước sẽ tác động và điều tiết ở tầm vĩ mô để từng bước thiết lập sự định hướng của mình đối vời thành phần kinh tế này. Như vậy kinh tế tập thể cùng với kinh tế nhà nước ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế tư nhân : ( cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân) là thành phần kinh tế không thuần nhất, khác nhau về bản chất hình thức quy mô và trình độ. Mặc dù mới xuất hiện cùng với quá trình đổi mới nhưng với tính năng nhạy bén và dễ thích ứng trong điều kiện KTTT kinh tế tư nhân đã trở thành một lực lượng đông đảo, mạnh mẽ và góp phần quan trọng tạo nên sức sống sôi động của nền kinh tế nước ta trong thời gian qua. Do đặc trưng riêng, kinh tế tư nhân một khi không có sự điều tiết của nhà nước thì xu hướng phát triển tự nhiên, tất yếu của nó sẽ vươn tới phát triển tư bản chủ nghĩa. V.I.Lênin đã từng chỉ rõ nền tiểu sản xuất, tiểu tư hữu chính là thế lực tự phát triển tư bản chủ nghĩa. Rõ ràng kinh tế tư nhân về xu hướng tự nhiên thì CNTB là tương lai của nó. Kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài : là những thành phần kinh tế mới xuất hiện cùng công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế. Nhà nước chủ trương khuyến khích ưu tiên tạo điều kiện và môi trường thuận lợi để chúng phát triển mạnh mẽ ở nước ta. Các thành phần kinh tế này vận hành theo quy luật KTTT và bản thân chúng là những nhân tố TBCN trong lòng nền kinh tế của chúng ta. Xu hướng vận động tự nhiêu của chúng ta là phát triển TBCN, dù cho nhà nước có điều tiết và kiểm soát như thế nào, tuy nhiên, do hoạt động trong môi trường KTTT định hướng XHCN. Hơn nữa sự phát triển mạnh mẽ và thành công của các thành phần kinh tế này còn đem lại cho chúng ta những kinh nghiệm, những bài học quan trọng để quản lý và lãnh đạo quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Chính vì vậy, nhà nước vừa khuyến khích, ưu đãi, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế này phát triển mạnh mẽ, vừa điều chỉnh, tạo cơ hội để chúng được thực sự góp phần xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần của chúng ta phát triển bền vững. Như vậy, cùng với sự tồn tại và phát triển của nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế khác nhau, đời sống kinh tế-xã hội nước ta cũng đang phát triển theo những xu hướng khác nhau. Vì thế,có thể nói, các thành phần kinh tế đang tồn tại và phát triển trong nền kinh tế của nước ta đều có vị trí và vai trò quan trọng nhất định. Về xu hướng phát triển, các thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể sẽ từng bước hợp lực tạo nên xu thế phát triển đúng theo định hướng xã hội chủ nghĩa; còn kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài về xu hướng tự nhiên, là phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa . Như vậy để thực hiện thành công định hướng xã hội chủ nghĩa đối với nền KTTT của chúng ta hiện nay, không còn con đường nào khác là phải chủ động và tích cực phát triển mạnh kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể. Đặc biệt, chúng ta phải sớm có chiến lược phát triển về các giải pháp triệt để, những bước đi thích hợp nhằm xây dựng kinh tế nhà nước trở thành động lực cơ bản và thực sự đóng vai trò chủ đạo, chi phối nền kinh tế quốc dân. 2. Thực trạng phát triển các loại thị trường cơ bản ở nước ta Xây dựng nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là xây dựng nền KTTT hiện đại phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta tất yếu phải hội tụ đầy đủ các yếu tố của nền KTTT hiện đại, trong đó hệ thống thị trường chính là cốt lõi, là “phần mềm” để vận hành nền KTTT. Hình thành và phát triển các loại thị trường cũng như các yếu tố trong từng loại thị trường ở nước ta hiện nay là một yêu cầu cấp bách. Đây là một trong những nội dung và là điều kiện cơ bản để xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa, giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất và tạo động lực mới cho sự phát triển, đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá hiện đại hoá. Thị trường hàng hoá và dịch vụ : thị trường hàng hoá và dịch vụ đã hình thành, phát triển và đang mở rộng từ khi đổi mới. Nhiều loại hàng hoá và dịch vụ đã có khả năng cạnh tranh trên thị trường khu vực và thế giới. Thị trường hàng hoá và dịch vụ đang từng bước đáp ứng yêu cầu tiêu dùng và dịch vụ trong nước. Tuy nhiên thị trường này mới hình thành, khả năng cạnh tranh còn thấp. Tổ chức thị trường còn thiếu chặt chẽ. Nhiều loại hình dịch vụ công trong cơ chế thị trường chưa được xác lập. Tính cạnh tranh và hội nhập khu vực và quốc tế trong lĩnh vực dịch vụ còn thấp. Thị trường lao động : ở nước ta mới hình thành và mang nặng tính tự phát. Thị trường phát triển không đồng đều và bị chia cắt giữa các vùng, các khu vực kinh tế. Quan hệ cung cầu về thị trường lao động còn bị chia cắt khép kín, thiếu thông tin và đang bị các hàng rào thuế quan, lực cản khác chi phối. Quy mô thị trường nhỏ hẹp và chưa vận hành theo nguyên tắc thị trường. Điều đáng quan tâm đối với thị trường lao động ở nước ta là số lượng lao động lớn, nhưng cơ cấu lao động và chất lượng lao động còn nhiều bất cập so với yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất. Ngành nghề ít, chất lượng tay nghề thấp là rào cản về sự cạnh tranh với thị trường lao động khu vực và quốc tế. Thị trường bất động sản : thị trường bất động sản tuy mới hình thành nhưng đang phát triển đa dạng. Đây là một thị trường nhạy cảm, liên quan đến quyền sở hữu tư nhân về các tư liệu sản xuất chủ yếu. Thị trường bất động sản đang bị méo mó và hoạt động không lành mạnh thiếu minh bạch. Thị trường bất động sản đang rất thiếu một môi trường pháp lý nhất quán, rõ ràng minh bạch nhất là đất đai, nhà ở. Để thúc đẩy thị trường bất động sản còn đang sơ khai ở nước ta cần phải thiết lập quyền sở hữu tư nhân đối với bất động sản. Thị trường tài chính : thị trường tài chính đang trong giai đoạn bước đầu hình thành, mang nặng tính quá độ từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang KTTT. Thị trường tài chính đang tiềm ẩn nhiều khiếm khuyết, chưa đồng bộ, thiếu minh bạch. Sàn giao dịch thị trường tài chính chưa đáng kể, vốn ứ đọng trong dân còn lớn, đồng tiền hoạt động chưa hiệu quả. Sự phát triển chậm chạp, thiếu đồng bộ của các yếu tố thị trường tài chính là một trong những nhân tố chủ yếu làm chậm tiến trình đổi mới, gây nhiều cản trở đối với sự phát triển nhanh và bền vững của nền kinh tế nước ta Thị trường khoa học và công nghệ : mặc dù đã xuất hiện một số hình thức giao dịch và thương mại hoá hoạt động khoa học và công nghệ nhưng cho đến nay ở nước ta vẫn chưa có thị trường khoa học và công nghệ. Khoa học công nghệ chưa thực sự trở thành hàng hoá. Thị trường khoa học và công nghệ là loại thị trường trình độ cao gắn liền với KTTT hiện đại có công nghiệp phát triển. Nền kinh tế nước ta mới chuyển sang hoạt động theo nền kinh tế thị trường, muốn đi nhanh tiến kịp các nước công nghiệp hiện đại rất cần phát triển nhanh thị trường khoa học công nghệ để tiếp cận với nền kinh tế tri thức và công nghệ cao. Trong điều kiện ở nước ta hiện nay và trong những năm tới thị trường hàng hoá và dịch vụ, thị trường tài chính và thị trường lao động là nội dung cơ bản nhất chi phối toàn bộ hệ thống thị trường ở nước ta. Vì vậy trước hết cần tạo điều kiện để thúc đẩy sự phát triển lành mạnh có hiệu quả thị trường hàng hoá và dịch vụ, thị trường tài chính và thị trường lao động gắn với thị trường bất động sản và thị trường khoa học công nghệ. 3. Tình hình quản lý vĩ mô của nhà nước đối với KTTT định hướng XHCN. Nhà nước ta là nhà nước xã hội chủ nghĩa, quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, sử dụng cơ chế thị trường, áp dụng các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý KTTT để kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế và khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động , của toàn thể nhân dân. Tuy nhiên, việc quản lý nhà nước về nền kinh tế- xã hội còn yếu. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng ta nhận định về vấn đề này như sau : “hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách chưa đồng bộ và nhất quán, thực hiện chưa nghiêm công tác tài chính, ngân hàng, giá cả, kế hoạch hoá, quy hoạch xây dựng, quản lý đất đai còn nhiều yếu kém : thủ tục… chậm đổi mới. Thương nghiệp nhà nước bỏ trống một số trận địa quan trọng, chưa phát huy tốt vai trò chủ đạo trên thị trường. Quản lý xuất nhập khẩu có nhiều sơ hở, tiêu cực, một số trường hợp gây tác động xấu đối với sản xuất. Chế độ phân phối thu nhập còn nhiều bất hợp lý. Bội chi ngân sách và nhập siêu còn lớn. Lạm phát tuy được hạn chế nhưng chưa vững chắc” (2-tr66) Những giải pháp cơ bản tiếp tục xây dựng, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhóm giải pháp về quan hệ sản xuất Tiếp tục thực hiện nhất quán chính sách nền kinh tế nhiều thành phần và tăng cường vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà nước Thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Tại văn kiện đại hội VIII của Đảng vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà nước được xác định như sau : “tiếp tục đổi mới và phát triển có hiệu quả kinh tế nhà nước để làm tốt vai trò chủ đạo : làm đòn bẩy đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội; mở đường hướng dẫn hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển; làm lực lượng vật chất của nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô, tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới” (2-tr.93) Có thể nói rằng đây là những khẳng định rõ ràng nhất về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước.Chủ đạo có nghĩa là làm đòn bẩy tăng trưởng, thực hiện vai trò mở đường, dẫn dắt, hỗ trợ, công cụ điều tiết vĩ mô và giải quyết các vấn đề xã hội. Đại hội VIII, đã đưa ra các chủ trương, chính sách phát triển thành phần kinh tế nhà nước như sau : “tập trung nguồn lực để phát triển kinh tế nhà nước trong những ngành, những lĩnh vực trọng yếu như kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, hệ thống tài chính tiền tệ, ngân hàng, bảo hiểm, những cơ sở sản xuất và thương mại, dịch vụ quan trọng, một số doanh nghiệp thực hiện những nhiệm vụ có liên quan đến quốc phòng an ninh- doanh nghiệp nhà nước nói chung có quy mô vừa và lớn, công nghệ tiến bộ, kinh doanh có hiệu quả, tạo nguồn thu lớn cho ngân sách” (1-tr93,94). Các chủ trương, chính sách này nhằm phát triển khu vực doanh nghiệp nhà nước, bộ phận quan trọng của nền kinh tế nhà nước. Kinh tế tập thể phát triển với nhiều hình thức đa dạng, trong đó hợp tác xã là nòng cốt. Phát triển hợp tác xã kinh doanh tổng hợp đa ngành hoặc chuyên ngành. Nhà nước hợp tác xã đào tạo cán bộ, ứng dụng khoa học công nghệ nắm bắt thông tin, mở rộng thị trường, xây dựng các quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã giải quyết nợ tồn đọng. Khuyến khích việc tích luỹ phát triển có hiệu quả vốn tập thể trong hợp tác xã. Tổng kết việc chuyển đổi và phát triển hợp tác xã theo luật hợp tác xã. Kinh tế cá thể, tiểu chủ cả ở nông thôn và thành thị có vị trí quan trọng lâu dài. nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ phát triển, khuyến khích các hình thức tổ chức hợp tác xã tự nguyện, làm vệ tinh cho doanh nghiệp hoặc phát triển lớn hơn. Khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm. Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách và pháp lý để kinh tế tư bản tư nhân phát triển trên những định hướng ưu tiên của nhà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài. Xây dựng quan hệ tốt giữa doanh nghiệp và người lao động. Phát triển đa dạng kinh tế tư bản nhà nước dưới các hình thức liên doanh, liên kết giữa kinh tế tư bản nhà nước với kinh tế tư bản tư nhân trong và ngoài nước. Tạo điều kiện để kinh tế đầu tư có vốn đầu tư nước ngoài phát triển thuận lợi. Cải thiện môi trường kinh tế và pháp lý để thu hút mạnh vốn đầu tư nước ngoài. Hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường Thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Phát triển thị trường hàng hoá và dịch vụ theo hướng tự do hoá thương mại và đầu tư phù hợp với cam kết song phương, đa phương của nước ta theo thông lệ quốc tế; tạo bước phát triển mới, nhanh và toàn diện thị trường dịch vụ. Thực hiện quản lý nhà nước về giá đối với một số hàng hoá, dịch vụ độc quyền phù hợp với cơ chế thị trường và nguyên tắc của hội nhập kinh tế quốc tế. Phát triển thị trường tài chính đồng bộ và có cơ cấu hoàn chỉnh, tăng nhanh quy mô và mở rộng phạm vi hoạt động, vận hành an toàn, được quản lý, giám sát có hiệu quả. Khuyến khích mở rộng các dịch vụ hỗ trợ phát triển thị trường tài chính. Phát triển mạnh thị trường vốn theo hướng phát triển vững mạnh hệ thống ngân hàng thương mại, phát huy vai trò của các ngân hàng trong việc huy động và cho vay vốn đầu tư; đồng thời thực hiện các biện pháp đồng bộ phát triển nhanh thị trường chứng khoán thành một kênh huy động vốn dài hạn trong nền kinh tế. Phát triển thị trường tiền tệ, hiện đại hoá và đa dạng hoá các hình thức hoạt động, hoàn thiện hệ thống pháp luật tăng cường liên kết giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Phát triển thị trường bất động sản trên cơ sở thực hiện luật đất đai, luật xây dựng, luật nhà ở và luật về kinh doanh bất động sản… Hoàn chỉnh hệ thống pháp luật tạo môi trường thông suốt để phát triển thị trường lao động, gắn kết cung – cầu lao động , thực hiện rộng rãi chế độ hợp đồng lao động bảo đảm quyền lợi hợp pháp của cả người lao động và người sử dụng lao động, thực hiện chế độ bảo hiểm và trợ cấp thất nghiệp. Phát triển thị trường khoa học, công nghệ, thực hiện tốt luật sở hữu trí tuệ và luật chuyển giao công nghệ. Đổi mới quản lý nhà nước đối với thị trường khoa học, công nghệ, khuyến khích hỗ trợ các hoạt động khoa học và công nghệ theo cơ chế thị trường quyền sở hữu trí tuệ đối với các công trình khoa học và hoạt động sáng tạo. Tạo môi trường mua bán thuận lợi cho các sản phẩm khoa học và công nghệ. Có chính sách nhập khẩu lao động có chất lượng cao trong lĩnh vực công nghệ và quản lý. Nhóm giải pháp về phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất đ nâng cao sức cạnh tranh của cơ chế thị trường. Đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá, ứng dụng nhanh tiến bộ khoa học công nghệ, trên cơ sở đó đẩy mạnh phân công lao động xã hội Phân công lao động xã hội là cơ sở chung của sản xuất và trao đổi hàng hoá. Vì vậy, để phát triển kinh tế hàng hoá, phải đẩy mạnh phân công lao động xã hội. Nhưng sự phát triển của phân công lao động xã hội do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất quyết định, cho nên muốn mở rộng phân công lao động xã hội cần đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước kỹ thuật của nền sản xuất lớn hiện đại. Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có những bước nhảy vọt. Phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học. Tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu về khoa học, công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức. Phát huy nguồn lực trí tụê và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam; coi phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học công nghệ là nền tảng và động lực của sự công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho các loại thị trường theo hướng hội nhập. Một là, tăng cường xây dựng và phát triển hệ thống thông tin thị trường. Các loại thị trường ở nước ta hiện nay đang hoạt động trong điều kiện thiếu hụt hệ thống cung cấp và lưu giữ thông tin._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docT0456.doc
Tài liệu liên quan