Quy luật Quan hệ sản xuất phù hợp với Lực lượng sản xuất & việc vận dụng ở nước

Quy luật quan hệ sản suất phù hợp với lực lượng sản xuất và việc vận dụng ở nước LỜI NÓI ĐẦU Bài tiểu luận này được viết theo yêu cầu rèn luyện, củng cố, mở rộng kiến thức của môn học Triết học Mác – Lênin. Trong quá trình viết, em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ rất nhiều từ các bài giảng và sự hướng dẫn viết tiểu luận của TS Lê Ngọc Thông, sự giúp đỡ về tài liệu cũng như sự đóng góp ý kiến của anh Nguyễn Văn Mạnh _ cử nhân kinh tế. Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng chắc chắn bài viết này k

doc26 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1382 | Lượt tải: 4download
Tóm tắt tài liệu Quy luật Quan hệ sản xuất phù hợp với Lực lượng sản xuất & việc vận dụng ở nước, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hông tránh khỏi những sai sót. Vì vậy, rất mong được sự chỉ dạy của thầy Thông cùng các thầy cô trong khoa Triết học Mác - Lênin. Em xin chân thành cảm ơn! Mục lục Trang A - Giới thiệu đề tài 5 B - Nội dung 7 I. Quan điểm và lí luận của Các- Mác 7 1. Quan điểm về Quan hệ sản xuất và Lực lượng sản xuất 7 2. Quy luật sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất 9 II. Thực trạng quá trình phát triển kinh tế Việt Nam áp dụng quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất 14 Đường lối phát triển quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa 14 2. Thực trạng nguồn lực của lực lượng sản xuất nước ta hiện nay 15 3. Quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam 16 4. Những điều còn tồn tại trong việc vận dụng quy luật 18 III. Một số vấn đề của nền kinh tế việt nam hiện nay 19 1. Những khó khăn trên con đường phát triển đất nước 19 Bài học từ sự bất hợp lí trong mối quan hệ quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất 20 3. Mục tiêu phát triển kinh tế ở Việt Nam 21 IV. Một số giải pháp để vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất vào nền kinh tế nước ta hiện nay 21 Tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ hữu hiệu cho sản xuất kinh doanh của mọi tầng lớp nhân dân 21 2. Đổi mới nâng cao nội lực điều hành của chính phủ 22 C - Kết luận 24 A - Giới Thiệu Đề Tài Theo chủ nghĩa Mác – Lênin thì từ thưở sơ khai đến nay loài người đã không ngừng phát triển và đã trải qua 5 hình thái kinh tế xã hội. Các hình thái kinh tế xã hội đó là: thời kỳ Công xã Nguyên thuỷ, thời kỳ Chiếm hữu nô lệ, thời kỳ Phong kiến, thời kỳ Tư bản Chủ nghĩa và thời kỳ xã hội Xã hội Chủ nghĩa. Trong mỗi hình thái kinh tế đó xã hội được đặc trưng bởi một phương thức sản xuất nhất định. Sự thay thế kế tiếp nhau của các phương thức sản xuất trong lịch sử quyết định sự phát triển của xã hội loài người từ thấp đến cao. Trong mỗi phương thức sản xuất lại phải có sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất luôn tồn tại song song và tác động qua lại lẫn nhau để hình thành lên phương thức sản xuất. Đây là hai yếu tố quan trọng quyết định tính chất, kết cấu, sự vận động và phát triển của xã hội. Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng, tạo thành quy luật sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất – quy luật cơ bản nhất của sự vận động, phát triển xã hội. Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa - đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa này chịu sự tác động rất lớn của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Kinh tế thị trường là thành tựu chung của văn minh nhân loại, nó là kết quả của sự phát triển lực lượng sản xuất đến một trình độ nhất định, kết quả của quá trình phân công lao động xã hội, đa dạng hoá các hình thức sở hữu, đồng thời nó là động lực mạnh mẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay có 6 thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Quá trình phát triển của các thành phần kinh tế luôn luôn xảy ra mâu thuẫn, và một phần của việc giải quyết các mâu thuẫn đó chính là sự vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp trình độ phát triển của lực lượng sản xuất vào quá trình phát triển của nền kinh tế nước ta hiện nay. Mặt khác quy luật sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một quy luật xã hội, nó mang tính khách quan và luôn tác động ngoài nguyện vọng và ý chí của con người. Cho nên việc nhận thức và vận dụng quy luật này vào các hoạt động có mục đích của mình là một trong các nhân tố giúp con người làm chủ được tính tất yếu - nghĩa là con người đạt đến tự do. Tóm lại việc nhận thức và vận dụng quy luật sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất vào thực tiễn là rất quan trọng. Vì vậy, em chọn đề tài: “quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất và sự vận dụng quy luật ở Việt Nam” với mong muốn củng cố và mở rộng nhận thức của bản thân về vấn đề này. B - Nội Dung I. QUAN ĐIỂM VÀ LÍ LUẬN CỦA CÁC- MÁC 1. Quan điểm về Quan hệ sản xuất và Lực lượng sản xuất 1.1 Lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên trong quá trình sản xuất. Trình độ của lực lượng sản xuất, thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của loài người. Đó là kết quả của năng lực thực tiễn của con người trong quá trình tác động vào tự nhiên tạo ra của cải vật chất đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của loài người. Lực lượng sản xuất là sự kết giữa người lao động và tư liệu sản xuất, trong đó người lao động với tính cách là chủ thể của quá trình lao động, sản xuất đã sử dụng sức mạnh và kĩ năng lao động của mình, sử dụng tư liệu lao động mà trước hết là công cụ lao động, tác động vào đối tượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất. Cùng với quá trình lao động sản xuất, sức mạnh và kỹ năng lao động của con người ngày càng được nâng lên, đặc biệt là trí tuệ cuả con người không ngừng phát triển, hàm lượng trí tuệ của lao động ngày càng cao. Với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, ngày nay lao động trí tuệ ngày càng đóng vai trò chính yếu. Cùng với lực lượng lao động, tư liệu lao động cũng là một yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất đóng vai trò quyết định trong tư liệu sản xuất. Trình độ phát triển công cụ lao động vừa là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người, vừa là tiêu chuẩn phân biệt sự khác nhau giữa các thời đại kinh tế kĩ thuật. Các Mác viết: “Thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào với những tư liệu lao động nào”(1) C. Mác Tư bản toàn tập - NXB Sự thật, trang 188 . Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công cụ lao động không ngừng được cải tiến và hoàn thiện. Đối với mỗi thế hệ thì những tư công cụ lao động do thế hệ trước để lại trở thành xuất phát điểm cho thế hệ sau. Vì vậy, những tư liệu lao động đó là cơ sở sự kế tục của lịch sử. Chính sự kế thừa, cải tiến và hoàn thiện không ngừng công cụ lao động đã dẫn đến sự biến đổi toàn bộ tư liệu sản xuất. Và xét đến cùng thì đó chính là nguyên nhân sâu xa cua mọi biến đổi xã hội. Trong thời đại ngày nay khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Nó vừa là ngành sản xuất riêng vừa thâm nhập vào các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, đem lại sự thay đổi về chất của lực lượng sản xuất. Các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất tác động lẫn nhau một cách khách quan làm cho lực lượng sản xuất là yếu tố độc nhất. Nó là yếu tố khách quan là nền tảng vật chất của toàn bộ lịch sử nhân loại. lực lượng sản xuất được kế thừa liên tục từ thế hệ này sang thế hệ khác. Mỗi một thế hệ sinh ra đều thích ứng với trình độ lực lượng sản xuất của thế hệ trước để lại vì : “lực lượng sản xuất là kết quả của năng lực thực tiễn của con người. Nhưng bản thân năng lực này bị quyết định bởi điều kiện trong đó người ta sống bởi lực lượng sản xuất đã đạt được bởi hình thái trước họ không phải do họ mà do thế hệ trước tạo ra”(2) C. Mac - Angghen tuyển tập, trang 141 . 1.2 Quan hệ sản xuất Quan hệ sản xuất là tổng thể các mối quan hệ giữa con người với nhau trong quá trình sản xuất (sản xuất và tái sản xuất xã hội), tổng thể những quan hệ đó tạo thành hình thức kinh tế mà nhờ đó các nhân tố lực lượng sản xuất được kết hợp với nhau để tạo ra sức sản xuất của xã hội. Quan hệ sản xuất gồm ba mặt: quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức và quản lý sản phẩm sản xuất, quan hệ trong phân phối sản phẩm sản xuất ra. Quan hệ sản xuất do con người tạo ra nhưng nó hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất, không phụ thuộc ý muốn chủ quan của con người. C.Mác viết: “ Trong sản xuất, người ta không chỉ quan hệ với giói tự nhiên. Người ta không thể sản xuất được nếu không kết hợp với nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và để trao đổi hoạt động với nhau. Muốn sản xuất được, người ta phải có những mối liên hệ và quan hệ nhất định với nhau, và quan hệ của họ với giới tự nhiên, tức là việc sản xuất ”.Quan hệ xã hội là hình thức xã hội của sản xuất. Ba mặt của quan hệ sản xuất thống nhất với nhau, tạo thành một hệ thống mang tính ổn định tương đối so với sự vận động, phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất. Trong ba mặt của quan hệ sản xuất, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ xuất phát, cơ bản và đặc trưng của hệ thống quan hệ sản xuất, nó giữ vai trò quyết định đối với quan hệ tổ chức quản lý sản xuất và quan hệ phân phối sản phẩm sản xuất ra. Quan hệ tổ chức và quản lý quá trình sản xuất thường được phân tích trên hai phạm vi: vi mô và vĩ mô. Vi mô ở tầm trang trại, công ty, cơ sỏ sản xuất… còn vĩ mô ở tầm điều tiết toàn bộ nền kinh tế. Quan hệ này tác động trực tiếp đến quá trình sản xuất, đến việc tổ chức, điều khiển quá trình sản xuất. Nó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trình sản xuất. Quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất do quan hệ sở hữu quyết định và nó phải thích ứng với quan hệ sở hữu, tuy nhiên có trường hợp nó không thích ứng với quan hệ sở hữu, làm biến dạng quan hệ sở hữu. Quan hệ về phân phối sản phẩm của quá trình sản xuất mà trong phân tích hiện đại thường có hai phương thức: phân phối trực tiếp (trực tiếp cho các xí nghiệp, doanh nghiệp…) và phân phối lại (đóng thuế…). Quan hệ này mặc dù do quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất và quan hệ tổ chức quản lý quá trình sản xuất chi phối, song nó kích thích trực tiếp đến lợi ích của con người, nên nó tác động đến thái độ của con người trong lao động sản xuất và do đó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sản xuất. 2. Quy luật sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất 2.1 Vị trí quy luật Tiền đề xuất phát của quan niệm duy vật về lịch sử (và đây là một tiền đề có tính chân lý đã được kiểm nghiệm) là: tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, và quy luật cơ bản của sự vận động lịch sử là quy luật về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất của xã hội hiện tồn. Trong tác phẩm “ Góp phần phê phán khoa Kinh tế chính trị - Lời tựa 1859” C. Mác viết: “ Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người ta có những quan hệ nhất định, tất yếu, không phụ thuộc ý muốn của họ, tức là những quan hệ sản xuất. Những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất của họ…”. Người ta thường coi tư tưởng này của Mác là tư tưởng về “ Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất”. Theo quan điểm duy vật, mọi quá trình vận động phát triển của xã hội tuân theo các quy luật khách quan của xã hội chứ không phải ý muốn chủ quan, và trong số các quy luật xã hội đó, quy luật này là quy luật quan trọng nhất về cấu trúc phương thức sản xuất, quá trình phát triển của phương thức sản xuất. 2.2 Nội dung của quy luật Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau mà tác động biện chứng lẫn nhau hình thành quy luật phổ biến của toàn bộ lịch sử loài người, quy luật về sự phù hợp quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Quy luật này vạch rõ tính chất phụ thuộc khách quan của quan hệ sản xuất và phát triển của lực lượng sản xuất. Đến lượt mình, quan hệ sản xuất tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất. Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản của sự phát triển của xã hội loài người. Sự tác động của nó trong lịch sử làm cho xã hội chuyển từ hình thái kinh tế - xã hội thấp lên hình thái kinh tế - xã hội khác cao hơn. Trình độ lực lượng sản xuất trong từng giai đoạn lịch sử thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người trong giai đoạn lịch sử đó. Trình độ lực lượng sản xuất biểu hiện trình độ của công cụ lao động, trình độ, kinh nghiệm và kĩ năng lao động của con người, trình độ tổ chức và phân công lao động xã hội, trình độ ứng dụng khoa học vao sản xuất. Gắn liền với trình độ của lực lượng sản xuất là tính chất của lực lượng sản xuất. Tính chất của lực lượng sản xuất là tính chất của tư liệu sản xuất và lao động. Nó thể hiện tính chất của tư liệu sản xuất là sử dụng công cụ thủ công và tính chất của lao động là lao động riêng lẻ, những công cụ sản xuất như búa, rìu, cày. . . do một người sử dụng để sản xuất ra vật dùng không cần đến lao động tập thể, lực lượng sản xuất có tính chất cá nhân. Khi máy móc ra đời đòi hỏi phải có nhiều người mới sử dụng được, để làm ra một sản phẩm cần có sự hợp tác của nhiều người, mỗi người phải làm một bộ phận công việc mới hoàn thành được sản phẩm ấy thì lực lượng sản xuất mang tính chất xã hội hoá. 2.2.1 Những tác động của lực lượng sản xuất đến quan hệ sản xuất Quan hệ sản xuất hình thành,biến đổi và phát triển đều do lực lượng sản xuất quyết định. Trong quá trình sản xuất, để lao động bớt nặng nhọc và đạt hiệu quả cao hơn, con người luôn luôn tìm cách cải tiến, hoàn thiện công cụ lao động mới tinh xảo hơn. Cùng với sự biến đổi và phát triển của công cụ lao động thì kinh nghiệm sản xuất, thói quen lao động, kĩ năng sản xuất, kiến thức khoa học của con người cũng tiến bộ. Lực lượng sản xuất trở thành yếu tố cách mạng nhất. Còn quan hệ sản xuất là yếu tố tương đối ổn định, có khuynh hướng lạc hậu hơn là sự phát triển của lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất là nội dung của phương thức sản xuất, còn quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của nó. Trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức thì hình thức phụ thuộc vào nội dung, nội dung quyết định hình thức, nội dung thay đổi trước, sau đó hình thức mới biến đổi theo. Cùng với sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất cũng hình thành và biến đổi phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Khi một phương thức sản xuất mới ra đời, khi đó quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Sự phù hợp này là một trạng thái mà trong đó quan hệ sản xuất là “ hình thức phát triển ” của lực lượng sản xuất. Trong trạng thái đó tất cả các mặt của quan hệ sản xuất đều “ tạo địa bàn đầy đủ ” cho lực lượng sản xuất phát triển. Điều đó có nghĩa là nó tạo điều kiện sử dụng và kết hợp một cách tối ưu giữa người lao động với tư liệu sản xuất và do đó lực lượng sản xuất có cơ sở để phát triển hết khả năng của nó. Khi lực lượng sản xuất phát triển lên một trình độ mới, quan hệ sản xuất cũ không còn phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Khi đó quan hệ sản xuất sẽ kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển. Yêu cầu khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất tất yếu sẽ dẫn đến thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển mới của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển. Thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới cũng có nghĩa là phương thức sản xuất cũ mất đi, phương thức sản xuất mới ra đời thay thế. C. Mác đã viết : “ Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có...trong đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển. Từ chỗ là những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng xã hội ” . Nhưng rồi quan hệ sản xuất mới này sẽ lại trở nên không còn phù hợp với lực lượng sản xuất đã phát triển hơn nữa _ sự thay thế phương thức sản xuất lại diễn ra. 2.2.2 Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất Sự hình thành, biến đổi, phát triển của quan hệ sản xuất phụ thuộc vào tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Nhưng quan hệ sản xuất là hình thức xã hội mà lực lượng sản xuất dựa vào đó để phát triển, quan hệ sản xuất cũng có tính độc lập tương đối và nó tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất : có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất thì nó trở thành động lực cơ bản thúc đẩy mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Ngược lại, quan hệ sản xuất lỗi thời không còn phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, bộc lộ mâu thuẫn gay gắt với lực lượng sản xuất thì trở thành chướng ngại kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Song sự tác dụng kìm hãm đó chỉ là tạm thời, theo tính tất yếu khách quan thì nó sẽ bị thay thế bằng kiểu quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Tuy nhiên, việc giải quyết mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất không phải giản đơn. Nó phải thông qua nhận thức và hoạt động cải tạo xã hội của con người . Trong xã hội có giai cấp phải thông qua đấu tranh giai cấp, thông qua cách mạng xã hội. Sở dĩ quan hệ sản xuất có tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lượng sản xuất ( thúc đẩy hoặc kìm hãm ), vì nó quy định mục đích của sản xuất, quy định hệ thống của tổ chức, quản lý sản xuất và quản lý xã hội, quy định phương thức phân phối của cải ít hay nhiếu mà người lao động được hưởng. Do đó nó ảnh hưởng đến thái độ của lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội ( con người ), nó tạo ra những điều kiện hoặc kích thích hoặc hạn chế việc cải tiến công cụ lao động, áp dụng những thành tựu khoa học và kỹ thuật vào sản xuất, hợp tác và phân công lao động. Mỗi kiểu quan hệ sản xuất là một hệ thống, một chỉnh thể hữu cơ gồm ba mặt : quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phận phối. Chỉ trong chỉnh thể đó quan hệ sản xuất mới trở thành động lực thúc đẩy hành động nhằm phát triển sản xuất. 2.2.3 Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất qua sự tác động qua lại lẫn nhau Sự thồng nhất và tác động qua lại giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất xã hội hợp thành phương thức sản xuất. Trong sự thống nhất biện chứng này, sự phát triển của lực lượng sản xuất đóng vai trò quyết định đối với quan hệ sản xuất. Quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất thường xuyên vận động, phát triển, nên quan hệ sản xuất cũng luôn luôn thay đỏi nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất. Từ mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất làm hình thành quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Đây là quy luật kinh tế chung của mọi phương thức sản xuất. II. THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM ÁP DỤNG QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHẢI PHÙ HỢP VỚI TÍNH CHẤT VÀ TRÌNH ĐỘ CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT 1. Đường lối phát triển quan hệ sản xuất và lượng sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa Quá trình lãnh đạo đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội Đảng ta đã rút ra những kinh nghiệm bổ ích và xác định rằng một trong những nguyên nhân làm cho sản xuất chậm phát triển đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn là: “ Không nắm vững quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất”. Từ đó Đảng ta đã rút ra được cốt lõi để đẩy mạnh việc vận dụng quy luật bằng cách nêu vấn đề gắn liền với cách mạng quan hệ sản xuất với cách mạng khoa học kỹ thuật, chú trọng việc tổ chức lại nền sản xuất xã hội để xác định những hình thức và bước đi thích hợp. Đảng nhận thức rằng: Sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất không bao giờ phù hợp tuyệt đối không có mâu thuẫn, không thay đổi. Sự phù hợp quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất không bao giờ là sự phù hợp chung mà bao giờ cũng tồn tại dưới những hình thức cụ thể thích ứng với những đặc điểm nhất định với trình độ nào đó trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nền kinh tế không còn là nền kinh tế tư bản nhưng cũng chưa hoàn toàn là nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Bởi vậy công cuộc cải tạo chủ nghĩa phải chú ý đến đặc điểm của sự tồn tại khách quan của nền kinh tế nhiều thành phần trong cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới. Trong công cuộc đổi mới đất nước phải tuân thủ quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất hiện có để xác định bước đi và những hình thức thích hợp. Quy luật đó luôn được coi là tư tưởng chỉ đạo công cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới trên những điều kiện phát triển lực lượng sản xuất. Đại hội VI chỉ rõ: “ Đảm bảo sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất luôn luôn kết hợp chặt chẽ tạo quan hệ sản xuất với tổ chức và phát triển sản xuất ”. Không nên nóng vội duy ý chí trong việc xác định trật tự bước đi cũng như trong việc lựa chọn các hình thức kinh tế cần phải cải tạo nền sản xuất nhỏ, để đưa nền sản xuất từng bước lên sản xuất với quy mô rộng. Trên cơ sở sản xuất nhỏ xây dựng những hình thức quan hệ sản xuất phù hợp, từng bước tiến đến đồng bộ rà soát lại quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa. Thời gian qua Đảng ta đã đưa ra kết luận: “ Theo quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa phải có bước đi và hình thức thích hợp, phải coi trọng những hình thức kinh tế trung gian quá độ từ thấp lên cao, từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn, trong mỗi bước đi của quá trình cải tạo xã hội xã hội chủ nghĩa phải đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cao tạo ra lực lượng sản xuất. Trên cơ sở đó tiếp tục đưa quan hệ sản xuất lên hình thức và quy mô thích hợp để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển ”. 2. Thực trạng nguồn lực của lực lượng sản xuất nước ta hiện nay Tài nguyên thiên nhiên, tiền vốn, nhân lực là những nguồn lực vật chất nội tại, cơ bản cho sự phát triển mỗi quốc gia. Ngày nay, lợi thế so sánh của sự phát triển nhanh đang chuyển dần từ yếu tố giàu tài nguyên tiền vốn, giá nhân công càng rẻ sang lợi thế về trình độ trí tuệ tri thức cao của con người. Chất xám trở thành nguồn vốn lớn và quý giá là nhân tố quyết định sự tăng trưởng và phát triển của mọi quốc gia, sự giàu có về tri thức là thước đo trình độ phát triển giữa các nước. Việt Nam là một trong những nước đông dân, dân số trẻ, số người trong độ tuổi từ 16 - 34 chiếm 60% trong tổng số 35.9 triệu người lao động, nguồn bổ sung hàng năm là 3% tức khoảng 1.24 triệu người. Tỉ lệ người lớn biết chữ khá cao 88%, số năm đi học trung bình của một người dân là 5 năm, trình độ dân trí được xếp vào loại trung bình khá cao trong khu vực. Người Việt Nam có truyền thống cần cù, ham học hỏỉ cầu tiến bộ, có ý trí và tinh thần tự lực tự cường dân tộc phát triển khá về thế lực, trí lực có tính cơ động cao có thể tiếp thu nhanh kiến thức khoa học công nghệ hiện đại. Có thể nói dây là một lợi thế so sánh của ta trong quá trình hội nhập. Việt Nam có nguồn lực dồi dào, nhưng chưa sử dụng hết mới chỉ sử dụng hết 50% tổng nguồn lực. Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị năm 1997 là 6.01% ở một số thành phố lớn tỷ l;ệ còn cao hơn là 7 - 8%và có khoảng 27.65% lao động ở nông thôn thiếu việc làm. Trong đội ngũ thất nghiệp 80% lại là thanh niên mà phần đông là chưa đào tạo nghề. Tỷ lệ lao động được đào tạo chưa cao, số người lao động làm trong lĩnh vực kĩ thuật và chân tay cao, số lao động trí thức chủ yếu tập trung ở thành phố nhiều. Hiện nay rất dồi dào về số lượng nhưng do cơ cấu nhân lực còn nhiều bất hợp lí và mâu thuẫn trong nội tại nên chất lượng lao động còn nhiều hạn chế. Trong khi đó xu hướng đào tạo công nhân kĩ thuật đang giảm cả về giá trị tyệt đối và giá trị tương đối so với đào tạo đại học. 3. Quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam Tại Đại hội lần VI của Đảng tư tưởng giải phóng và phát triển trong đường lối mới kinh tế phải thực hiện thông qua 5 chính sách lớn. Đó là: Chính sách bố trí lại cơ cấu sản xuất và điều chỉnh lại về cơ cấu đầu tư, Chính sách xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần chính sách phát huy mạnh mẽ khoa học kĩ thuật, Chính sách mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại. Những chính sách biện pháp mang tính cách mạng đó suốt trong những năm 1986 - 1991đã đem lại cho đất nước ta nhiều thay đổi lớn. Đến Đại hội VII Đảng ta lại nhấn mạnh định hướng trong phát triển kinh tế đó là: “ Đặt con người vào vị trí trung tâm thống nhất tăng trưởng kinh tế với công bằng và tiến bộ xã hội ” . Trên lĩnh vực sản xuất kinh doanh Đại hội VII khẳng định: “ Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa” . Nghĩa là mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp; Các doanh nghiệp đều tự chủ kinh doanh hợp tác và cạnh tranh với nhau bình đẳng trước pháp luật; Nhà nước quản lí nền kinh tế bằng pháp luật, kế hoạch chính sách và các công cụ khác. Một thời kì phát triển của đất nước được mở ra _ thời kì tăng cường sự kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển các quan hệ xã hội lành mạnh. Sự kết hợp đó dựa trên một hệ quan điểm. Một là, thúc đẩy sự kết hợp ấy ngay trong từng bước đi ngay ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển. Mỗi chính sách kinh tế đều phải nhằm mục đích phát triển xã họi hoàn thiện mối quan hệ giữa nguời với người. Mỗi chính sách xã hội đều phải có ý nghĩa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội. Hai là, bảo đảm cho mọi người dân đều được làm chủ TLSX, được hưởng nền giáo dục cơ bản, được bồi dưỡng về nhân cách được chăm sóc y tế, được hướng dẫn và đào tạo nghề nghiệp. Đặt mỗi cá nhân vào "bệ phóng" bình đẳng trong những điều kiện ban đầu để vươn lên tự khẳng định mình. Ba là, xã hội hoá mọi hoạt động nhằm huy động tối đa nguồn lực tạo sức mạnh vật chất và tinh thần thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội. Quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống QHSX mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa cũng có nhiều chuyển biến: “. . . Chế độ sở hữu cơ chế quản lí và chế độ phân phối gắn kết với nhau giải phóng sức sản xuất, tạo ra động lực phát triển mạnh mẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thực hiện công bằng xã hội ”(3) Văn kiện Đại hội, Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII 3). Cả trong nhận thức và hành động thực tế chúng ta đã dứt khoát chuyển hẳn nền kinh tế hiện vật thuần nhất công hữu sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trong đó kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo. Chức năng trực tiếp quản lí kinh doanh được chuyển giao cho các doanh nghiệp thuộc tất cả các thành phần kinh tế theo kế hoạch định hướng vĩ mô, phù hợp với cơ chế thị trường. Ap dụng chế độ phân phối theo lao động hết hợp với phân phối theo vốn, tài sản đóng góp vào kết quả quá trình kinh doanh phân phối phúc lợi đã khuyến khích hướng làm giàu hợp pháp đồng thời bảo đảm lợi ích chính đáng của người lao động. Những kết quả đạt được mới chỉ là bước đầu còn rất khiêm tốn, song mấy năm qua Nhà nước và nhân dân ta sớm xây dựng được ý thức tư duy mới và có nhiều hành động thực tế kết hợp tăng trưởng kinh tế với phát triển mối quan hệ giữa con người với con người hướng tới sự tiến bộ bình đẳng và công bằng xã hội. 4. Những điều còn tồn tại trong việc vận dụng quy luật Trong nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, Đảng và Nhà nước đã đưa ra các đưòng lối chính sách vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp trình độ phát triển lực lượng sản xuất trong phát triển kinh tế và đã đạt được những thành tựu bước đầu quan trọng. Tuy nhiên, là một mô hình kinh tế hoàn toàn mới, thời gian đưa vào thực hiện chưa được bao lâu nên còn nhiều tồn tại trong việc vận dụng quy luật để phát triển kinh tế. Tốc độ và chất lượng phát triển kinh tế chưa xứng với tiềm năng. Các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có mức tăng trưởng cao và hoạt động có hiệu quả nhất nhưng vẫn chưa khai thác hết tiềm năng. Doanh nghiệp nhà nước có nguồn vốn lớn, đội ngũ cán bộ lao động có trình độ tay nghề cao nhưng hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, tốc độ tăng trưỏng chưa cao, chưa tương xứng với nguồn vốn và lao động mà nhà nứoc đầu tư. Kinh tế tập thể mặc dù đã đựoc cải tổ và có những khởi sắc sau Nghị quyết TW III - khoá IX nhưng lực lượng sản xuất vẫn còn yếu, số Hợp tác xã làm ăn khá còn ít, số làm ăn trung bình và yếu chiếm tỉ lệ lớn. Hầu hết các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều đang phải đối mặt với sự yếu kém, cũ kỹ lạc hậu của thiết bị công nghệ. Phần lớn công nghệ mà các doanh nghiệp đang sử dụng có nguồn gốc từ những năm 60 – 70 của thế kỷ XX, thậm chí còn có cả công nghệ của những năm đầu thế kỷ XX vẫn còn đựoc sử dụng. Vì lực lượng sản xuất là biểu hiện mối quan hệ tác động giữa con người với tự nhiên, biểu hiện trình độ sản xuất của con ngưòi, năng lực hoạt động thực tiễn của con ngưòi trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất, nên trong thời đại ngày nay, khoa học công nghệ là lực lượng sản xuất chủ yếu. ở nước ta hiện nay, khoa học công nghệ còn kém phát triển, máy móc lạc hậu, mạng lưói thông tin còn chưa được phát triển và chi phí cao so vói mức thu nhập bình quân đầu ngưòi ở Việt Nam. Các chỉ số tiêu thụ điện, công cụ lao động cơ khí, phương tiện thông tin tính theo đầu người còn thấp. Đối tưọng lao động chủ yếu vẫn là đồng ruộng với những tài nguyên sẵn có trong thiên nhiên nước ta. Người lao động, yếu tố quyết định nhất của lực lượng sản xuất thì điều kiện tái sản xuất sức lao động còn nhiều hạn chế, lao động theo kỹ thuật và công nghệ tiên tiến còn cách xa nhiều nước trên thế giới. Trình độ lực lượng sản xuất kém phát triển, năng suất lao động thấp lại hạn chế tận dụng sức lao động dồi dào, chưa tạo được sự thay đổi nhảy vọt căn bản đời sống nhân dân, do đó cũng chưa tạo được thuận lợi cho việc củng cố quan hệ sản xuất mới đã đựoc xây dựng trên phạm vi cả nước trong 20 năm ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docT0433.doc
Tài liệu liên quan