Quản lý chất lượng nguồn nhân lực ở Công ty sứ Thanh trì - Thực trạng và giải pháp

Tài liệu Quản lý chất lượng nguồn nhân lực ở Công ty sứ Thanh trì - Thực trạng và giải pháp: ... Ebook Quản lý chất lượng nguồn nhân lực ở Công ty sứ Thanh trì - Thực trạng và giải pháp

doc68 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1565 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Quản lý chất lượng nguồn nhân lực ở Công ty sứ Thanh trì - Thực trạng và giải pháp, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
lêi nãi ®Çu Nguồn nhân lực luôn là một yếu tố quan trọng hàng đầu trong mọi lĩnh vực. Một quốc gia có cường thịnh hay không phụ thuộc vào chất con người nước đó. Đất nước ta đang trong quá trình phát triển công nghiệp hoá - hiện đại hoá, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, vì vậy yếu tố con người càng phải được đặt lên hàng đầu. Đảng ta luôn khẳng định nguồn lực quan trọng nhất CNH-HĐH đất nước là con người. Văn kiện đại hội VIII của Đảng đã nhấn mạnh rằng phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. Một doanh nghiệp, một tổ chức cũng vậy, nguồn nhân lực không những đóng vai trò là yếu tố đầu vào quan trọng mà còn yếu tố quyết định tới khả năng cạnh tranh của chính Công ty đó. Vấn đề nhân lực nói đến ở đây không chỉ hạn hẹp trong số lượng (luôn đủ về số lượng) mà là chất lượng, chất lượng phải cao đáp ứng tốt được các yêu cầu công việc nói chung và yêu cầu đạt ra trước vận định của xã hội riêng. Vì vậy, vấn đề đặt ra là việc thường xuyên phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng trong quản lý nguồn nhân lực. Là sinh viên chuyên ngành quản trị kinh doanh, hiểu rõ được vai trò to lớn của nguồn nhân lực trong việc cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, từ đó thúc đẩy doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế phát triển nói chung. Do đó cần luôn luôn chăm lo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Nhận thức rõ vấn đề nêu trên, trong thời gian thực tập tại Công ty sứ Thanh trì, kết hợp giữa lý thuyết được học tại nhà trường, và việc nghiên cứu tìm hiểu tình hình thực tế. Em đã chọn đề tài nghiên cứu chuyên đề thực tập là: “Quản lý chất lượng nguồn nhân lực ở Công ty sứ Thanh trì - Thực trạng và giải pháp”. Ngoài phần mục lục và tài liệu tham khảo, báo cáo được trình bầy theo kết cấu như sau: Phần I: Khái quát về sự hình thành và phát triển của Công ty Phần II: Thực trạng về nguồn nhân lực và Công tác Quản lý nguồn nhân lực tại Công ty. Phần III: Kiến nghị và giải pháp. Em xin chân thành gửi lời cảm ơn Ths. Vũ Anh Trọng cùng các cán bộ nhân viên phòng Tổ chức lao động công ty, đã tận tình giúp đỡ em trong thời gian thực tập vừa qua. Do thời gian nghiên cứu có hạn, báo cáo không thể tránh khỏi những thiếu xót, rất mọng sự đóng góp và bổ sung của thầy giáo và các bạn để đề tài hoàn thiện hơn. Sinh viên thực hiện Nguyễn Xuân Tuyến Giíi thiÖu chung Tên công ty: công ty sứ thanh trì Tên giao dịch quốc tế: thanh trì sanitary ware company Quyết định thành lập: số 076/ bxd- tclđ ngày 24/03/1994 Địa điểm, trụ sở: phường thanh trì - quận hoàng mai- thành phố hà nội Lĩnh vực sản xuất kinh doanh: chuyên sản xuất các loại sản phẩm – vật liệu xây dựng, sành sứ vệ sinh. Khai thác, sản xuất và kinh doanh nguyên vật liệu cho ngành gốm sứ Loại hình doanh nghiệp: Nhà nước Chức năng nhiệm vụ: Sứ Thanh Trì là một doanh nghiệp nhà nước có đầy đủ tư cách pháp nhân, là thành viên trực thuộc Tổng công ty Thuỷ tinh và gốm xây dựng (Bộ Xây Dựng). Chức năng cụ thể là: Sản xuất và kinh doanh các sản phẩm sứ vệ sinh cao cấp, có khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường trong và ngoài nước. Khai thác nguyên liệu cho ngành xây dựng Nhiệm vụ và quyền hạn của công ty Sứ Thanh Trì: Là một đợn vị hạch toán độc lập Công ty có những nhiệm vụ và quyền hạn cơ bản như sau: Xây dựng kế hoạch sản xuất, kinh daonh hàng năm trình Tổng Công ty duyệt và tổ chức thực hiện sản xuất theo kế hoạch được giao. Quản lý, sử dụng vốn kinh doanh theo đúng chế độ chính sách đạt hiệu quả kinh tế cao, đảm bảo phát triển vốn và trang trải về tài chính. Thực hiện chế độ báo cáo thống kê kế toán theo yêu cầu của Tổng công ty. Chấp hành đầy đủ những cam kết trong hợp đồng mua bá, liên doanh hợp tác với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Chủ động và điều phối hoạt động kinh doanh và quản lý các đơn vị trực thuộc theo phương án tối ưu, thực hiện mục tiêu đề ra. Quản lý đội ngũ cán bộ, công nhân viên trong Công ty theo chế độ, chính sách, pháp luật của nhà nước và phân cấp của Tổng Công ty và Bộ Xây Dựng. PhÇn I: kh¸i qu¸t vÒ qu¸ tr×nh h×nh thµnh vµ ph¸t triÓn c«ng ty. I. TỔNG QUAN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY. Công ty sứ Thanh trì bắt nguồn từ một cơ sở sản xuất bát tư nhân từ những năm 60. Trải qua hơn 40 năm hình thành và phát triển, cho đến ngày nay Sứ thanh trì đã trải qua rất nhiều những khó khăn và thử thách để đạt được những thành công như ngày nay. Có thể tóm tắt các giai đoạn hình thành và phát triển của Công ty qua các giai đoạn sau: 1. giai đoạn 1962-1987. Tháng 3 năm 1961 xưởng gạch Thanh trì trực thuộc liên hiệp xí nghiệp sành, sứ thuỷ tinh được thành lập. Nhiệm vụ chủ yếu của xí nghiệp là sản xuất các loại gạch lá nem, gạch chịu lửa cấp thấp, gạch lát vỉa hè, ống máng thoát nước… sản lượng sản xuất giai đoạn rất nhỏ. Năm 1980 xí nghiệp đổi tên thành nhà máy sành sứ xây dựng thanh trì và bắt đầu đi vào hoạt động sản xuất các sản phẩm gốm sứ có tráng men. Sản lượng những năm 1980: Gạch chịu axit : 100.000- 470.000 viên/ năm Gạch sứ men: 11.000- 111.000 viên/ năm Sứ vệ sinh: 200-500 chiếc /năm ống sành: 41.000- 42.000/ năm Tổng khối lượng hàng năm khoảng 80 tấn với số lượng công nhânviên khoảng 250 người. 2.giai đoạn 1988 - 1991 Đây là giai đoạn nhà nước chuyển đổi cơ cấu quản lý bao cấp sang cơ chế thị trường nhưng nhà máy vẫn quen với các làm ăn cũ. Sản lượng và chất lượng làm ra thấp, mẫu mã đơn điệu, chí phí lại quá cao nên không thể cạnh tranh được với các sản phẩm cùng loại đang sản xuất trong nước và ngoài nước. Nhà máy đứng bên bờ vực phá sản. 3. giai đoạn 1992 đến nay. Được sự giúp đỡ của Bộ Xây Dựng và liên hiệp các xí nghiệp thuỷ tinh và gốm xây dựng( nay là Tổng công ty Thuỷ Tinh và gốm xây dựng). Nhà máy đã vượt qua được thời kì khó khăn bằng việc tổ chức và cải tiến lại bộ máy nhân sự, ngừng sản xuất để tập trung nghiên cứu đổi mới công nghệ mới. đổi mới thiết bị, sắp xếp lại mặt bằng và công nghệ sản xuất. Sau 11 tháng ngừng sản xuất, tháng 11 năm 1992 nhà máy đã hoạt động trở lại và đến cuối năm đã sản xuất được 240.000 sản phẩm với chất lượng cao hơn hẳn trước. Từ đó đến nay sản lượng và doanh thu của nhà máy không ngừng tăng trưởng mỗi năm. Ngày 14/03/1994 theo quyết định số 076A- BXD- TCLĐ nhà máy trở thành doanh nghiệp nhà nước. Ngày 30/09/1994 nhà máy đổi tên thành Sứ Thanh Trì, trực thuộc Tổng công ty thuỷ tinh và gốm xây dựng. Theo quyết định 484-BXD-TCLĐ và duy trì từ đó đến nay. Năm 2005, theo Quyết định số 225/TCT- HĐQT của HĐQT Tổng công ty Thuỷ tinh và gốm Xây dung thuộc Bộ xây dựng sáp nhập nhà máy sứ Bình Dương vào Công ty sứ Thanh trì nâng tổng công suất đạt hơn 800.000 sản phẩm mỗi năm. Trải qua hơn 40 năm lịch sử hình thành và phát triển đến nay công ty ngày càng phát triển và lớn mạnh , sản phẩm với tính năng ưu việt và chất lượng cao, thị trường rộng lớn và thuận lợi. II. các đặc điểm kinh tế kỹ thuật của công ty sứ thanh trì. 1.Đặc điểm về cơ cấu tổ chức quản lý. Do đặc trưng về ngành nghề sản xuất sứ vệ sinh nên đội ngũ cán bộ, công nhân đòi hỏi phải được tuyển dụng một cách kỹ càng nhằm tuyển chọn được những người có trình độ tay nghề cao, có ý thức chất chức kỷ luật tốt. Trước đây, do sản lượng sản xuất nhỏ, công nghệ kỹ thuật còn đơn giản, số lượng công nhân còn ít nên cơ cấu tổ chức của công ty được tổ chức theo kiểu trực tiếp. Cơ cấu này đảm bảo chế độ một thủ trưởng, giám đốc trực tiếp điều hành các phòng, phân xưởng. Tuy nhiên, mô hình này chỉ phù hợp với sản xuất kinh doanh có quy mô nhỏ. Đến nay qui mô sản xuất kinh doanh đã tăng lên nhiều lần so với dây chuyền công nghệ mới, hiện đại cùng với nó là đội ngũ cán bộ công nhân viên ngày càng tăng, cơ cấu trực tuyến không còn phù hợp nữa. Do đó, ban lãnh đạo công ty đã chuyển sang mô hình tổ chức theo kiểu trực tuyến- chức năng. Cơ cấu này vừa đảm bảo thực hiện được chế độ một thủ trưởng vừa phát huy được quyền dân chủ, sáng tạo, độc lập, tương đối của các phòng ban trong tổ chức. Cơ cấu tổ chức của Công ty Sứ Thanh trì được tổ chức theo mô hình trực tuyến – Chức năng. Theo cơ cấu này, giám đốc được sự giúp đỡ của các nhà quản trị chức năng để phân ra quyết định. Bên cạnh đó giám đốc vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của công ty. Mặc khác, việc ra quyết định vẫn theo tuyến quyết định. Các trưởng phòng vẫn phát huy được tài năng và đóng góp cho ban giám đốc của công ty dù họ không có quyền ra lệnh trực tiếp cho các nhân viên của công ty Theo như sơ đồ tổ chức của công ty Sứ Thanh Trì thì chức năng và nhiệm vụ của tong cá nhân, bộ phận trong công ty như sau: Giám đốc của công ty: là người đứng đầu doanh nghiệp, đứng đầu bộ máy quản lý, điều hành mọi hoạt động công việc, có quyền ra chỉ thị và chịu trách nhiệm chung về mọi mặt về hoạt động sản xuất và đời sống của cán bộ công nhân viên của công ty. Phòng tài chính kế toán: có chức năng tham mưu cho giám đốc công ty tổ chức triển khai toàn bộ công tác tài chính thống kê, thông tin kinh tế và hoạch định kinh tế theo chế độ tài chính. Bên cạnh đó, phòng kế hoạch còn kiểm soát hoạt động tài chính của công ty theo pháp luật. Phòng kinh doanh: có chức năng tham mưu cho giám đốc của cônng ty thực hiện triển khai các hoạt động kinh doanh về sản phẩm sứ vệ sinh. Trực tiếp điều hành các công việc liên quan đến kinh doanh bán hàng và tiến hành công tác xúc tiến tiêu thụ, phân phối… Phòng kế hoạch- đầu tư: theo dõi, đôn đốc thực hiện kế hoạch, chuẩn bị để giám đốc kí hợp đồng kinh tế, giúp đỡ giám đốc ra nhiệm vụ SXKD cho từng phòng ban. Theo dõi thực hiện các hợp đồng kinh tế sản xuất, quản lý kế hoạch vật tư, phương tiện vận tải của công ty. đảm nhận công tác quản lý và sử dụng vốn đầu tư nhằm mở rộng phát triển công ty. Phòng KT- KCS: giải quyết các vấn đề về kỹ thuật và công nghệ, ứng dụng các tiến bộ KHKT vào sản xuất nâng cao chất lường sản phẩm. Kiểm tra chất lượng sản phẩm trong sản xuất, trong phân phối và khi xuất xưởng. đây là bộ phận quyết định rất lớn đến chất lượng và khả năng tiêu thụ của sản phẩm Xí nghiệp sản xuất khuôn mẫu: có nhiệm vụ sản xuất khuôn mẫu bằng thạch cao để phục vụ cho công đoạn gia công tạo hình cho sản phẩm. đây là bộ phận quan trọng tạo dựng nên hình dáng . Nhà máy sứ Thành Trì (trung tâm sản xuất của công ty): là đơn cị kinh tế có qui mô lớn nhất và quan trọng nhất của công ty. Nhà máy bao gồm 4 phân xưởng: phân xưởng gia công tạo hình; phân xưởng kỹ thuật men; phân xưởng sấy nung và phân xưởng phân loại, đóng gói sản phẩm. Nhà máy sứ Bình Dương: là nhà máy bao gồm các phân xưởng, có cơ cấu gần giống với cơ cấu của nhà máy sứ Thanh Trì. Mỗi bộ phận trong Công ty là một mắt xích quan trọng trong chuỗi thống nhất. Sự cân đối, nhịp nhàng hoạt động của tất cả các phòng ban, bộ phận sẽ góp phần vào thắng lợi chung trong hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn Công ty. Sơ đồ 1: Tổ chức quản lý công ty sứ Thanh trì Văn phòng P. GĐCT Phòng XK Phòng TCLĐ Phòng TC - KT Phòng KH - ĐT PX phân loại P. GĐCT P. GĐCT Xí nghiệp kinh doanh Phòng kỹ thuật - KCS Nhà máy sứ Bình Dương Nhà máy sứ Thanh Trì Xí nghiệp sản xuất khuôn Phòng Marketing PX khuôn mẫu Phòng thiết kế Phòng Tổng hợp PX sấy nung PX Kỹ thuật men Phân xưởng GTH Bộ phận kiểm tra SP Phân xưởng khuôn Bộ phận gia công hồ Bộ phận men + HT PX cơ điện Phòng bán hàng Chi nhánh Đà Nẵng PX sản xuất Chí nhánh TP HCM GiáM Đốc công ty 2. Đặc điểm về sản phẩm và thị trường : a. Đặc điểm sản phẩm Hệ thống sản xuất sản phẩm sứ vệ sinh của mình theo hướng chuyên môn hoá. Các sản phẩm sản xuất được thực hiện qua nhiều công đoạn và các khâu khác nhau. Công ty không theo đuổi chiến lược đa dạng hoá sản phẩm, song các sản phẩm sứ của công ty khá phong phú về màu sắc và phải đạt chất lượng cao. Vì thế các sản phẩm hiện được tung ra thị trường cũng khá đa dạng về chủng loại. Khi sản phẩm được tung ra thị trường mà không còn phù hợp với đặc điểm của thị hiếu người tiêu dùng nữa, thì công ty ngừng sản xuất và tập trung vào nghiên cứu công nghệ và ý tưởng mới cho sản phẩm mới, chất lượng mới đáp ứng được các nhu cầu mới của người tiêu dùng. Về chủng loại sản phẩm: các loại chủ yếu của công ty đang tiêu thụ trên thị trường :  Bệt: VI1T; VI1TP; VI3P; VI32; VI5M; VI55; VI66; VI77; VI88; VI15; VI19(SELTA); VI299(SELTA); VI20; VI23; VI28 (MONACO); và bệt mới BIL. Ngoài ra còn một số các loại bệt được sử dụng trên các phương tiện giao thông thuỷ, bộ như: BT; BT. Chậu : VL2; VL3; VI1T; VTL3N; VI3N; VI2; VG1; VN9; VI5P; CR1; Chân chậu: VI1T; VI2; VI2N; VI3; VI3N; VI5; CR1. Bidet: vb1; vb3; vb99. Xổm : hiện nay công ty đang sản xuất các loại xí xổm: ST4; ST8. ngoài ra, công ty sản xuất hai mẫu sản phẩm :ST9 và ST10 theo tông đơn vị đặt hàng riêng của khách hàng độc quyền. Tiểu treo: TT1; TT3; TT5; TT7’; T1. Sản phẩm của công ty có mẫu mã, kiểu dáng rất đa dạng, thêm vào đó việc công ty đưa ra các gam màu mới đã và đang được thị trường đón nhận ngày càng nhiều. Về chất lượng sản phẩm sứ vệ sinh của công ty đạt chất lượng tiêu chuẩn Châu Âu với các tiêu chuẩn kỹ thuật sau. Bảng 1 : Chỉ tiêu chất lượng sản phẩm STT Chỉ tiêu Đơn vị Thông số 1 Độ hút nước % 0,1 – 0,5 2 Độ ẩm G/ cm 2,35 – 2,4 3 Cường độ chịu nén Kg/cm 4000 4 Khả năng chịu tải Kg/sf 5 Xí bệt > 300 7 Chậu rửa > 150 Nguồn: Phòng Kỹ thuật- KCS Về màu sắc của sản phẩm hiện nay, sản phẩm của công ty có rất nhiều màu sắc khác nhau và đẹp mắt như: Trắng, ngà, hồng, cốm, đen, mận, xanh nhạt, xanh đậm…với cơ cấu các loại màu căn cứ vào thị hiếu của khách hàng như sau: Trắng: 70 % Cốm, ngà, hồng : 20% Mận, xanh nhạt: 5% Đen, xanh đậm: 5% Công ty luôn giữ uy tín chất lượng sản phẩm của mình, sản phẩm sản xuất phải qua một quá trình kiểm tra nghiêm ngặt của phòng Kỹ thuật- KCS. Các sản phẩm loại I được đưa ra thị trường tiêu thụ. Đồng thời chất lượng sản phẩm của công ty đạt tiêu chuẩn “Vitreous China ” và tiêu chuẩn châu Âu. Đây là một lơị thế của công ty trên thị trường trong nước và quốc tế. Nhưng để nâng cao hơn nữa chất lượng, giảm tỷ lệ sản phẩm sai hỏng, phế phẩm, công ty cần phả áp dụng nhiều biện pháp như nâng cao tay nghề cho người lao động, giảm tỷ lệ phế phẩm và các biện pháp quản lý chất lượng để luôn duy trì và cải tiến chất lượng. Về hình thức bao gói sản phẩm của công ty cũng đựơc chú ý để đảm bảo sự bắt mắt bên ngoài và quan trọng hơn, nó đảm bảo an toàn hơn cho sản phẩm khi vận chuyển hàng hóa. Công ty cũng thực hiện đóng gói toàn bộ cá phụ kiện của sản phẩm một cách chọn gói, để tránh các hình thức đánh tráo các phụ kiện của sản phẩm công ty. điều đó là để đảm bảo uy tín và chất lượng cũng như là lòng tin của người tiêu dùng đối sản phẩm của công ty. b. Đặc điểm thị trường Ngày trước thị trường tiêu thụ của công ty chủ yếu là các tỉnh miền bắc, các tỉnh từ Hà Tĩnh trở ra. Cho đến nay, thị trường được mở rộng khắp cả nước, một thị trường khá rộng lớn nam trong phía nam. Đó là thành phố HCM và các tỉnh phí nam, nơi mà công ty đặt chi nhánh của mình là công ty sứ Bình Dương và các đại lý ở thành phô HCM. Mặt khác, thị trường xuất khẩu cũng mang lại nguồn thu lớn cho Sứ Thanh Trì. Đối tượng tiêu thị chủ yếu của Sứ Thanh Trì là các hộ gia đình và các công ty xây dựng. Đây là đối tượng khách hàng khá quan trọng, nếu như các công ty xây dựng là các khách hàng là thường xuyên và thường thường tiêu thụ với các số liệu lớn một lúc và đây là khách hàng rất đảm bảo trong tương lai. Khi mà tốc độ đô thị hoá tăng cao, nhiều các công trình nhà ở chung cư, công sở, trung tâm… sẽ đảm bảo một nhu cầu cao và lâu dài trong tương lai. Còn đối với các khách hàng là các hộ gia đình, thì thị trường ở các thành phố gần như đã bão hoà. Khách hàng ở các vùng nông thôn và miền núi sẽ là chủ yếu và tiềm năng. Tuy nhiên, ở các khu vực này thì các thông tin về sản phẩm còn hạn chế. Các quyết định tiêu thụ thường đến từ các sản phẩm đã tiêu thụ nhiều trước đó và giá cả là yếu tố quyết định. Vì vậy, công ty cần có chính sách hợp lý để thu hút các khách hàng tại khu vực này. Khi nói đến yếu tố thị trường hoạt động của công ty Sứ Thanh Trì không thể không nhắc đến, các đối thủ cạnh tranh đang tham gia chia sẻ thị trường hoạt động của công ty. Có thể kể ra các đối thủ chủ yếu với sản phẩm sứ vệ sinh của công ty: Công ty Địên Tử Hà Nội là công ty liên doanh với tập đoàn Inax của Nhật Bản. Công ty với công suất thiết kế vào khoảng 300.000 sản phẩm / năm. So với Sứ Thanh Trì là một lợi thế. Công ty Phú Mỹ là thành viên thuộc tông công ty Thuỷ tinh và Gốm Xây dựng với công suất thiết kế là 300.000 sản phẩm / năm. Công ty Long Hầu- Thá Bình. đây là công ty sản xuất sứ ở Thái Bình đã đưa ra nhiều mẫu mã tương tự với các sản phẩm của Sứ Thanh Trì, làm khách hàng khó phân biệt được hai loại sản phẩm của hai công ty nên việc tiêu thụ các sản phẩm như: Xổm ST8, chậu VTL2, VI3N, VI1T của Sứ Thanh Trì bị ảnh hưởng rất nhiều. Công suất thiết kế của công ty Long Hầu – Thái Bình là 250.000 sản phẩm / năm. Hãng Ceasar- Taiwan là một trong những công ty có tên tuổi và uy tín lớn trên thị trường Việt Nam hiên nay. Mặc dù công suất thiết kế chỉ đạt 100.000 sản phẩm / năm. Đây cũng là một trong những mối đe doạ lớn đến khả năng tiêu thụ của Sứ Thanh Trì, đặc biệt là ở khu vực các tỉnh phía nam. Nhà máy Sứ Việt Trì là một công ty trực thuộc Tổng công ty Thuỷ tinh và Gốm xây dựng. Đây là công ty sớm đi vào cổ phần hoá. Hiện nay các sản phẩm Sứ vệ sinh của Công ty sứ việt Trì được đánh giá là tương tương về chất lượng của Sứ Thanh Trì tuy nhiên giá thành rẻ hơn. Đó là lý do ảnh hưởng lớn đến khả năng cạnh tranh của công ty. Ngoài ra công ty Sứ Thanh Trì được đánh giá là chuyên sản xuất các sản phẩm sứ vệ sinh cao cấp nên các sản phẩm nhập ngoại trên thị trường hiện nay là một mối đe doạ lớn. Bởi quan điểm tiêu dùng trong nước có tư tưởng sính hàng ngoại. Để cạnh tranh được thì công ty Sứ Thanh Trì cần phải nỗ lực rất lớn. Về thị phần: Theo đánh giá của Viện vật liệu xây dựng thì hiện nay thị trường các sản phẩm nhập ngoại chiếm 40% thị trường Việt Nam. Cũng theo đánh gía của cơ quan trên thì thị phẩm của Công ty qua một số năm như sau: Năm 2001 chiếm: 24,45% Năm 2002 chiếm: 23,87% Năm 2003 chiếm: 23,59% Năm 2004 chiếm: 28,68% Hiện nay thị phần của công ty chiếm khoảng gần 30% thị trường sứ vệ sinh trong nước. đây là một tỷ lệ được đánh giá là cao và mạnh. Điều này càng khẳng định được chất lượng của sản phẩm của công ty trên thị trường và là kết quả những chính sách, chiến lược của ban lãnh đạo của công ty là rất đúng đắn, kịp thời và sáng suốt. Tại thị trường xuất khẩu,với doanh thu đạt được hàng năm khoảng 23%. Bao gồm các khối và nước như: SNG, Nga và một số nước Châu Phi…tuy nhiên thi trường nay hiện nay cũng bị cạnh tranh một cách gay gắt bởi các công ty nước ngoài khác như các sản phẩm sứ vệ sinh của Hàn Quốc, Đài Loan, Băng- la- đet… Qua trên có thể thấy môi trường canh tranh của Sứ Thanh Trì là rất lớn, không chỉ cạnh tranh trong ngành, trong tổng công ty mà còn các đối thủ từ ngoài nước. 3.Đặc điểm về tổ chức sản xuất, công nghệ vầ máy móc thiết bị Qui trình công nghệ sản xuất của công ty Sứ Thanh Trì. Ta thấy qui trình này được diễn giải thông qua các điển cà các nút xử lý như sau: Đơn đặt hàng: nó xuất phát từ phía các khách hàng, tư nhu cầu về sản phẩm sứ vệ sinh của công trên thị. Đây là căn cứ quan trọng để đưa kế hoạt sản xuất và tiêu thụ hàng hoá của một thời kì, của một năm, tháng hay một tuần. Là yếu tố quyết định công suất sản xuất của nhà máy sứ. Kế hoạch sản xuất: đây là một bản kế hoạch dựa trên các dạng văn bản. bao gồm cả các qui trình, đây là căn cứ đảm bảo cho các bộ phận có biết được các công việc, nhiệm vụ cũng như là kế hoạch mà mỗi phòng ban, bộ phận cũng như các cá nhân cần đặt ra. Hay mục tiêu mà cả công ty cần đạt được trong năm. Nhập nguyên vật liệu(NVL) các thủ tục lựa chọn và cung ứng nguyên vật liệu và tiến hành quá trình kiểm tra để đảm bảo chất lượng của các yếu tố đầu vào. Kiểm tra: đây la khâu hoặc có thể coi la nút để kiểm định lại các khâu lên kế hoạch và kiểm tra nguyên vật liệu trước khi đưa vao sản xuất. Nguyên vật liệu được phòng kỹ thuật và bộ phận KCS kiểm tra. Quá trình kiểm tra đựơc thực hiện nghiêm ngặt để đảm bảo chất lượng các yếu tố đầu vào. Chế tạo khuôn, chế tạo hồ và chế tạo men. là các khâu trong quá trình sản xuất. hình thành nên khuôn để đúc các kiều dáng sản phẩm ở dạng đất chưa nung, dạng phôi. cùng với men và hồ là các khâu quyết định quan trọng tới chất lượng và thương hiệu riêng của sản phẩm sứ. Tạo hình là khâu mà các dạng sản phẩm đã đựơc hình dáng cơ bản ở dạng khuôn (thực hiện trong phân xưởng khuôn mẫu) bán thành phẩm này sẽ được các công nhân có tay nghề hoàn thiện hoàn chỉnh. hình dáng sản phẩm đã đựơc định hình trứơc khi đem vào khâu sấy. Các sản phẩm vẫn ở dạng ẩm được đưa vào hệ thống sấy mộc làm khô đều và bảo quản môi trường khô dáo hoàn thiện là một khâu trong quy trình công nghệ sản xuất dự phòng. là khâu kiểm tra và hoàn thiện nốt các thiếu sót của sản phẩm ở dạng đất có thể thay đổi và sửa chữa Khi men được chế tạo thành công và được chuẩn bị sẵn sàng. quá trình phun men lên sản phẩm phôi bắt đầu. quá trình đòi hỏi sự khéo léo và đầy đủ của lượng men phun. nó quyết định tính kinh tế và chất lượng, cũng như độ bền của sản phẩm. Bộ phận dán chữ thực hiện chức năng của minh gắn các tên sản phẩm, nhãn hiệu và thương hiệu lên sứ. Lò nung là khâu quyết định tất cả. cũng giống như các sản phẩm sứ thông thườnh, sản phẩm sứ vệ sinh cần một lượng cần nhiệt cần thiết theo yêu cầu của sản phẩm. đồng thời cũng là quá trình tạo nên hình dáng cuối cùng của sản phẩm. hỏng hay đạt thông qua quá trình phân loại. Bước phân loại là bước quan trọng, quá trình này nhằm phân ra các sản phẩm cùng loại, cùng chất lượng vào các nhóm. đồng thời loạ bỏ các phế phẩm hoặc chế lại. đóng gói và giai đoạn cuối là nhập kho, sản phẩm hoàn toàn hoàn thiện và tung ra thị trường. Nhiễm vụ cuối cùng này thuộc về phòng kinh doanh. Hiện nay Công ty đã áp dụng hệ thống 5S của Nhật nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm ngày càng được nâng cao. Kế hoạch sản xuất Nhập nguyên vật liệu Chế tạo hồ Tạo hình Sấy mộc Phun men Dán chữ Chế tạo men Đóng gói Lò nung Chế tạo khuôn Phân loại Nhập kho kế hoạch hoàn thiện Loại bỏ Kiểm tra Đơn đặt hàng Sơ đồ 2: Quy trình công nghệ sản xuất sứ vệ sinh Hệ thống máy móc thiết bị của công ty Sứ Thanh Trì được đánh giá là có một hệ thống hiện đại với qui trình tiến tiến áp dụng công nghệ ngoại nhập từ các nước như Italya, Mỹ…Là đơn vị đầu tiên trong nước sản xuất được sản phẩm sứ vệ sinh theo tiêu chuẩn “ Vitreous China”, song để nâng cao hơn sản phẩm và chất lượng sản phẩm và đáp ứng nhu cầu trong nước và thị trường nước ngoài. Năm 1993 công ty đã lập dự án đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất sứ vệ sinh với công nghệ hiện đại và tiên tiến. Được sứ nhất trí và ủng hộ tích cực của Bộ Xây Dựng, Tổng công ty Thuỷ tinh và gốm xây dựng và các ngành hữu quan khác, Công ty đã ký hợp đồng mua thiết bị của hãng Welko- Italy. Tháng 4 năm 1994 việc lắp đặt thiết bị bắt đầu được thực hiện. Ngày 02/09/1994 nhân dịp kỉ niệm quốc khánh nước ta, dây chuyền sản xuất mới với các thiết bị máy móc hiện đại, đồng bộ chính thức được đi vào hoạt động. Các sản phẩm sứ vệ sinh cao cấp đạt tiêu chuẩn Châu Âu đã ra đời. Ý tưởng ban đầu của công ty là nhập một dây chuyền sản xuất đồng bộ loại nhỏ nhưng để tranh thủ tiếp cận nhanh với trình độ sản xuất của Thế giới và tận dụng thiết bị, công nghệ hiện đại, tiên tiến các bí quyết như bài xương men, đường cong nung, mẫu mã sản phẩmvà các công cụ sản xuất nhỏ, các thao tác của công nhân sản xuất ở dây chuyền mới đã nhanh chóng được áp dụng cho cả dây chuyền sản xuất của công ty và bước đầu đem lại hiệu quả tốt. Không dừng ở đó, với công suất thiết kế 75.000 sản phẩm/ năm. nhưng với ý thức tiết kiệm, tận dụng tối đa năng lực của công đoạn và kêt hợpvới sự sáng tạo, khoa học của tập thể cán bộ và công nhân trong công ty đã mở ra khả năng đưa ra công xuất 75000 sản phẩm/ năm lên 100.000 sản phẩm/ năm. Dựa trên cơ sở sản xuất, các kết quả thu được qua việc đầu tư và sản xuất sứ vệ sinh dựa trên dây chuyền công nghệ sản xuất mới căn cứ vào dự tính của Bộ Xây Dựng về sự phát triển của công nghệ sản xuất vật liệu xây dựng. Tháng 7/ 1997 công ty đã thực hịên việc đầu tư lần hai cải tạo và mở rộng dây chuyền được xây dựng năm 1992 nâng công suất từ 100.000 lên 400.000 sản phẩm / năm, với số máy móc thiết bị nhập từ chủ yếu từ Italia, Anh và Mỹ…Tổng số vốn đầu tư trên 90 tỷ đồng Việt Nam. Dự án đã được bộ Xây Dựng phê duyệt và triển khai vào quí II năm 1996 đưa sản lượng của công ty lên 500.000 sản phẩm/ năm. Hiện nay, các dây chuyền sản xuất này hoạt động và tạo ra năng lực sản xuất lên 600.000- 800.000 sản phẩm/ năm, đứng đầu về sản lượng so với các nhà máy sứ sản xuất sứ vệ sinh trong nước. Ngoài ra, bằng một số mấy móc của dây chuyền sản xuất số 1 không sử dụng tốt sau đó cải tạo, mở rộng. Công ty đã liên kết với xí nghiệp vật liệu xây dựng Việt Trì xây dựng và đưa vào họat động sản xuất thành công một dây chuyền sản xuất sứ vệ sinh công suất 100.000 sản phẩm/ năm. Các thiết bị máy móc, dây chuyền sản xuất chủ yếu và công nghệ đang sử dụng tại Công ty Sứ Thanh Trì : Bảng 2: Danh mục máy móc, thiết bị công ty Sứ Thanh Trì STT Tên thiết bị Số lượng Nước sản xuất Năm sản xuất 1 Máy nghiền 8 Italy 1996 2 Máy sấy 18 Italy 1996 3 Máy bơm 24 Italy 1996 4 Tời nâng 3000 kg 1 Italy 1996 5 Xe nâng tay 1 Việt Nam 1993 6 Xe nâng 1 Nhật 1996 7 Tời nâng 2000 kg 1 Italy 1996 8 Băng áp lực trung bình 1 Italy 1996 9 Băng đổ rót LBR 76 EA 1 Italy 1996 10 Băng đổ rót LBR 110 EA 1 Italy 1996 11 Băng đổ rót MCO 28 EA 1 Italy 1996 12 Băng đổ rót BCL60 1 Italy 1993 13 Băng đổ rót BCL59 1 Italy 1993 14 Băng đổ rót BCL 40 1 Italy 1993 15 Xe chở sản phẩm 649 Việt Nam 1996 16 Cabin kiểm tra mộc 3 Việt Nam 1996 17 Hầm xấy khuôn 1 Italy 1996 18 Cabin phun men 4 Việt Nam 1996 19 Hệ thống sấy MT 2 Italy 1996 20 Hầm sấy mộc 2 Italy 1996 21 Lò nung Tulel 1 Mỹ 1996 22 Lò nung Shuttle 1 Italy 1993 23 Sàng nung 4 Italy 1996 24 Bơm dầu 2 Italy 1993 25 Máy thử nước 2 Việt Nam 1996 26 Máy mài 1 Anh 2000 27 Máy mài 3 Việt Nam 1993 28 Băng phân loại sản phẩm 1 Italy 1993 29 Máy phát điện 500 KVA 1 Đức 1993 30 Máy nén khí Đức 2 Đức 1996 31 Máy nén khí Mỹ 2 Mỹ 1993 32 Máy khoan đứng 1 SNG 1993 33 Máy bàn 1 Việt Nam 1993 34 Trạm bơm 1 Việt Nam 1993 35 Trạm biến thế 1 Việt Nam 1993 36 Quạt trần 360 Việt Nam 1996 Nhìn chung hệ thống máy móc và các thiết bị cho sản xuất của công ty khá cũ. Tuy nhiên được nhập ngoại và thường xuyên bảo dưỡng và sửa chữa, đảm bảo cho quá trình hoạt động kinh doanh của công ty vẫn hiệu quả cao. Hàng năm thường tổ chức bảo dưỡng thay mới và bổ sung các thiết bị máy móc tiên tiến cà hiện đại của Nhật Bản và Italia… 4. Đặc điểm về lao động Do đặc điểm đặ thù sản xuất của ngành, công việc trong công ty Sứ Thanh Trì nên lao động chủ yếu là nam. Lực lượng lao dộng tại công ty đang ngày càng được hoàn thiện cả về chất lượng, lẫn tay nghề. cuối năm 2004 tổng số cán bộ, nhân viên, công nhân của công ty là 522 người. Bảng 3: bảng số lao động chính thức và biên chế (2004 ) STT Đơn vị Tổng số Hợp đồng Biên chế 1 Ban lãnh đạo 4 - 4 2 Phòng Tổ chức lao động 4 4 3 Văn phòng 8 7 1 4 Phòng Tài chính- Kế toán 9 9 5 Phòng Kinh doanh 68 66 2 6 Phòng Xuất Khẩu 2 2 7 Phòng Kế hoạch- Đầu tư 10 10 8 Phòng Kỹ thuật- KCS 11 10 1 9 Nhà máy sứ Thanh trì 290 285 5 10 Xí nghiệp sản xuất khuôn mẫu 136 132 4 Tổng số 522 505 17 ( Nguồn: phòng Lao động tổ chức) Trong đó, số lao động nữ là 99 người chiếm 19 %, lao động nam là 423 người chiếm 81% tổng lao động toàn công ty. Là vốn nhà nước 100% Sứ Thanh Trì là loại hình sở hữu nhà nước. Do vậy lao động của trong công ty yếu là lao động hợp đồng lâu dài và ngắn hạn. chiếm 95 % tổng lao động. Số biên chế chính thức của công ty là các cán bộ, nhân viêc chủ chốt và gắn bó rất lâu năm với công ty, chiếm 5 %. Lực lượng này chủ yếu là các cán bộ trong bộ máy quản lý, đứng đầu các phòng ban, như giám đốc và các phó giám đốc. 5. Đặc điểm về nguyên vật liệu và nguồn cung ứng. Trong mỗi giai đoạn yêu cầu số lượng và chất lượng của nguyên vật liệu khác nhau.Trước khi đưa vào chế biến các nguyên vật liệu được kiểm tra bất kỳ của phòng Kỹ thuật - KCS theo nguyên tắc đủ về số lượng và đảm bảo về chất lượng. Nguyên vật liệu: Để sản xuất ra được sản phẩm sứ vệ sinh thì nguyên vật liệu chính thường là: Feldspar, cao lanh, đất sét, thạch anh, BaCO3, thuỷ tinh lỏng, men, các chất phụ gia khác như CMC, ZrSiO4, sô đa (Na2CO3), bột nhẹ... Ngoài ra còn có các nguyên liệu khác như bi nghiền, khuôn, thạch cao. Để đưa ra thị trường một sản phẩm vừa có chất lượng lại phải vừa rẻ là một thách thức không chỉ riêng đối với một công ty hoặc một nhà máy nào, muốn đạt được yêu cầu đó thì phải tìm cách giảm chi phí đến mức có thể được ở tất cả các bộ phận. Và một ưu điểm của Công ty sứ Thanh Trì là họ đã tận dụng khai thác nguồn nguyên vật liệu ở trong nước (80-90%) vừa rẻ do chi phí cho việc khai thác và vận chuyển không lớn lại vừa phù hợp với điều kiện ở Việt Nam hơn các loại nguyên vật liệu khác. Nguồn cung cấp:Một số loại nguyên vật liệu chính hàng năm công ty vãn đặt mua với khối lượng lớn từ các tỉnh Yên Bái, Phú Thọ, Tuyên Quang, Quảng Ninh... Feldspar : 2.94 tấn/năm Cao lanh : 1.920 tấn/năm Đất sét : 1.800 tấn/năm Thạch anh : 600 tấn/năm BaCO3 : 41 tấn/năm Bảng 4: Nguyên, nhiên liệu chính và định mức (tính cho 1 Kg sứ) STT Tên vậ tư ĐVT Nguồn cunng cấp Định mức Tiêu hao Ghi chú 1 Cao lanh Kg Phú Thọ 0,300 Nguyên vật liệu chính 2 Feldspar Kg Yên Bái 0,495 3 Thạch Anh Kg Yên Bái 0,135 4 Đất sét Kg Hải Dương 0,570 5 Sương sứ Kg Sản phẩm mộc bị lỗi 6 Men Kg Trong nước 0,1010 7 Thuỷ Tinh lỏng Kg Trong nước 0,0067 Nguyên vật liệu phụ 8 BaCO3 Kg Trong nước 0,0009 9 Bi nghiền Kg NT 0,0033 10 Thạch cao Kg NT 0,1300 11 Gas Kg NT 0,258 Nhiên liệu 12 Dầu hoả Kg NT 0,777 13 Điện năng KW /h NT 0,761 Nguồn: Phòng kỹ thuật - KCS Việc xuất nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất căn cứ vào định mức tiêu hao vật tư và kế hoạch sản xuất sản phẩm. Căn cứ vào đó phòng Kế hoạch và Đầu tư còn quản lý việc cấp phát nhiên liệu, năng lượng phục vụ cho sản xuất cũng theo định mức đã định. Mặc dù đã tận dụng triệt để các nguồn nguyên liệu nội địa song một số chất phụ gia khác công ty vẫn phải nhập ._.từ Đài Loan, Nhật, Anh như chất tạo keo CMC, chất tạo đục cho men ZrSiO4... 6.Đặc điểm về tài chính của công ty. Bảng 5: Cơ cấu nguồn vốn của công ty Chỉ tiêu Số lượng(Tr. đồng) Tỷ trọng (%) Tổng tài sản 42.825,330 100 1. Vốn cố định 29.462,230 68,80 2. Vốn lưu động 13.363,100 31,20 Tổng số vốn 42.825,330 100 1.Vốn ngân sách cấp 27.578,250 64,39 2.Vốn tự có 6.215.355 14,53 3.Vốn vay 9.031,725 21,08 ( Nguồn: phòng tài chính kế toán -2005) Cơ cấu tài sản: Qua bảng số liệu ta thấy : công ty có số lượng vốn hoạt dộng là 42.825,330 (triệu đồng) là khá lớn đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, cơ cấu vốn vẫn chưa hợp lý điển hình là phần tài sản cố định hay số vốn cố định còn chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn (68,80) gây nên tình trạng ứ đọng vốn trong hoạt động kinh doanh. Một phần vốn cố định là giá trị tài sản cố định như máy móc thiết bị của công ty, nhưng hiện vay với cách tính khấu hao tài sản cố định sẽ gây khó khắc trong việc quản lý vốn cố định của công ty. Vốn lưu động của công ty chiếm tỷ trọng nhỏ (31,20 %) lầ một hạn chế của của công ty. Vì loại tài sản này có tốc độ luân chuyển nhanh, có thể tham gia vào nhiều hoạt động sản xuất cũng như có khả năng tham gia vào nhiều các hoạt động đầu tư khác. Do đó cần tăng cao hơn nữa tỷ trọng của vốn lưu động bằng cách huy động các nguồn vốn khác. Cơ cấu nguồn vốn: Vốn ngân sách nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng lớn (64,39 %). Đây là nguồn tài trợ của nhà nước giao cho doanh nghiệp sở hữu và hàng năm chỉ hoàn trả nhà nước với phần vốn với tỷ lệ thấp (thấp hơn so với lãi xuất ngân hàng), do đó chi phí sử dụng vốn là thấp hơn so với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Đây là một lợi thế của công ty. Mặc khác, vốn tự có của công ty sẽ bổ sung giúp cho công ty có lợi thế hơn nữa trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, đặc biệt trong trường hợp công ty chuyển sang cổ phần hoá, khi phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Tuy nhiên nguồn vốn ngân sách nhà nước lớn sẽ làm công ty khó bố trí và sắp xếp nhân lực, bộ máy quản lý trong mở rộng ngành nghề. Hơn nữa, đôi khi nhà nước thường hay áp đặt phải tham gia một số các lĩnh vực khác. Nguồn vốn vay chiếm tỷ lệ nhỏ, chứng tỏ công ty có khả năng thanh toán tốt, các hệ số thanh toán thấp và chủ động về tài chính. Ngược lại, với tiềm năng của công ty thì tỷ lệ 21,08 % là quá nhỏ, điều này cũng cho thấy khả năng quan hệ tín dụng của công ty chưa tốt. 7. Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Sứ Thanh Trì trong những năm gần đây. Bảng 6: kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong một vài năm. STT chỉ tiêu ĐVT Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 1 KQHĐSXKD Tr. đ Tổng gía trị sản xuất Tr. đ 112.565,975 117.258,035 120.724,520 160.346,250 2 Sản lượng sản xuất Sp 560.000 590.000 620.000 830.000 3 Tổng doanh thu Tr. đ 113.356,750 120.325,650 125.560,852 165.750,258 4 Thanh toán lãi vay Tr. đ 6.125,457 7.452,025 8.230,258 12.354,450 5 Lợi nhuận Tr. đ 10.345,546 12.456,520 14325,454 21.548,520 6 Nộp ngân sách Tr. đ 4.345,560 5.230,560 6.005,540 12.540,467 Thu nhập và lao động Tr. đ 2.460 2.765 2.879 2.950 Lao động Người 460 495 522 720 Quỹ tiền lương Tr. đ 11.250,525 12.256,820 13.870,250 20.805.500 Thu nhập bình quân Tr. đ 2,110 2,3185 2,450 2,754 (Nguồn: Phòng Tài chính kế toán) Tình hình hoạt động và kết quả kinh doanh Qua bảng số liệu ta thấy, kết quả kinh doanh của công ty qua các năm. Nhìn chung năm trước tăng so với năm sau. Tốc độ tăng trưởng trung bình của tổng gía trị sản lượng là 11.20% (của doanh thu là 10.89%) là khá cao. Tuy nhiên tốc độ này tăng không đều qua các năm, tăng nhanh nhất là năm 2005 với hơn 30 %. Đây là tỷ lệ tăng trưởng lý tưởng cho doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh như hiện nay. Nguyên nhân chủ yếu là do sự sáp nhập có hiệu quả của nhà máy sứ Bình Dương vào thành bộ phận sứ Thanh Trì, hơn nữa là do thị trường miền nam được mở rộng. Tuy nhiên tốc độ tăng này khó có thể duy trì được ở các năm tiếp theo. Bởi tuy khả năng tiêu thụ có tăng đáng kể song, tốc tăng của năm qua chủ yếu là do tăng về quy mô về sản lượng sản xuất. Tốc độ tăng lợi nhuận của công ty qua các năm trung bình là 22.35 %. Cho thấy tốc độ này sự phát triển này một lớn mạnh của công ty trên thi trường, với thương hiệu Vigracela. Tuy nhiên có thể thấy rằng tốc độ tăng của lợi nhuận cao là thế song nó không sứng với quy mô của doanh thu so với lợi nhuận thu về. điều này cho thấy công ty cần có các chính sách giảm giá thành sản phẩm, tiết kiệm chi phí trong sản xuất, giảm tỷ lệ sai hỏng và nâng cao chất lượng. Với thị phần hiện nay khoảng 30 % thị trương nội địa, cho thấy trong giai đoạn họat động sản xuất vừa qua công ty gặp nhiều thuận lợi: sản lượng tăng vượt mức kế hoạch, giá trị sản xuất tăng, doanh thu và lợi nhuận đều tăng, điều đó khẳng định vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường sứ vệ sinh. Đó các kết quả hoạt động kinh doanh của công ty qua con số, còn trên thực tế công tác tiêu thụ và quá trình tiến hành kinh doanh trong năm qua, công ty được lưu ý ở mấy điểm như sau: Công tác tiêu thụ: công ty có mạng lưới các cửa hàng đại lý tiêu thụ sản phẩm ở hầu hết các tỉnh, thành phố của đất nước, kéo dài từ bắc vào nam với hơn 1400 đơn vị. thị phần cảu công ty chiếm khoảng 30 % thị trường nội địa tiếp tục ra nước ngoài. Doanh thu xuất khẩu của công ty có sự thay đổi không lớn qua các năm, chiếm khoảng 25 % tổng doanh thu của doanh nghiệp. Công ty Sứ Thanh Trì trong những năm gần đây được biết đến với nhãn hiệu Viglacera, Monaco và đã dần đi vào tiềm thức của khách hàng. Có được kết quả đó kết quả đó công ty đã có những định hướng chung cho mình: không chỉ thuyết phục khách hàng bằng hệ thống giá phù hợp với mọi đoạn thị trường mà còn phải làm hài lòng họ bằng chất lượng, mẫu mã, màu sắc và kiểu dáng, đảm bảo bền đẹp. Tuy nhiên, giữa nhận thức và hành động đôi khi là một khoảng cách rất lớn. Công ty đã cố gắng xoá bỏ khoảng cách này thông qua việc đạt được tiêu chuẩn và công nhận hệ thống Quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9002 và đã duy trì, phát triển nó. Với phương châm hoạt động: sự hài lòng của quý khách là mục đích của công ty, Sứ Thanh Trì đã không ngừng tiếp thu và sáng tạo ra những sản phẩm mới với những tính năng ưu việt luôn đáp ứng được mọi các thị hiếu của khách hàng khó tính với thời gian nhanh nhất choc ho dù khách hàng là ai, ở đâu thị trường trong nước hay ngoài nước. Mặc dù nền kinh tế Việt Nam trong vài năm trở lại đây, vẫn đạt tốc độ tăng trưởng khá cao nhưng do việc thực thi một số hiệp định về kinh tế, tham gia vào khu vực thị trường mậu dịch tự do. đối với các doanh nghiệp, đây là một cơ hội lớn những cũng là một thử thách rất khó khăn. Đối với các doanh nghiệp sản xuất sứ vệ sinh khi mà các sản phẩm nhập khẩu vẫn chiếm tới 4/5 thị phần thì đây thực sự là một thách thức rất lớn. Ngay trước khi Việt Nam tham gia AFTA, sức mua của người tiêu dùng đã bắt đầu chững lại với lý do chờ đợi sự giảm giá. Hầu hết các doanh nghiệp sản xuất sứ vệ sinh trong thời gian này đều gặp khó khăn trong quá trình tiêu thụ. Đứng trước tình trạng này, công ty Sứ Thanh Trì đã có những biện pháp củ động hội nhập bằng cách tập trung vào chất lượng sản phẩm, thay đổi mô hình cơ cấu trong tổ chức trong công ty từ trực tuyến sang trực tuyến- chức năng, để nâng cao tình thần trách nhiệm của cán bộ công nhân viên vừa giúp họ phát huy năng lực. Công ty còn tham gia chương trình hội chợ, trưng bầy sản phẩm cùng tổng công ty Thuỷ tinh và Gốm xây dựng chức PhÇn 2: Thùc tr¹ng vÒ nguån nh©n lùc vµ c«ngt¸c qu¶n lý nguån nh©n lùc t¹i c«ng ty. I. THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY. 1. Chức năng và nhiệm vụ của phòng Tổ chức lao động. Tại công ty bộ phận quản lý nhân lực được tổ chức thành Phòng Tổ chức lao động, có chức năng chuyên môn tham mưu cho Đảng uỷ và Giám đốc Công ty về công tác tổ chức sản xuất, quản lý và sử dụng lao động, thực hiện chế độ chính sách đối với người lao động, định mức lao động, trả lương, khen thưởng làm công tác thanh tra, kiểm tra, bảo vệ quan sự và thi đua khen thưởng. Thực hiện công tác tổ chức sản xuất: Phòng Tổ chức lao động có nhiệm vụ quản lý sắp sếp sử dụng người lao động để xây dựng mô hình tổ chứ phù hợp với nhiệm vụ sản xuất trong tong thời kỳ, giai đoạn của công ty. Xây dựng phương án tổ chức hoạt động các phòng ban cho phù hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh của Công ty theo điều lệ của Công ty. Xây dựng chức năng nhiệm vụ về mối quan hệ công tác các phòng ban cơ quan Công ty và các đơn vị trực thuộc làm cơ sở định biên bộ máy Công ty và các cán bộ trực thuộc. Thực hiện công tác đào tạo, quản lý và sử dụng cán bộ công nhân viên: Công tác cán bộ: Xây dựng phương án quy hoạch cán bộ hàng năm, phương án thuyên chuyển, đề bạt cán bộ cũng như tổ chức cho cán bộ học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ. Thực hiện xem xét, kiểm điểm công tác cán bộ và thực hiện nâng cao bậc lương, khen thưởng kỷ luật đối với đội ngũ cán bộ công nhân viên trong Công ty. Đào tạo quản lý và sử dụng lao động. Tổ chức ký hợp đồng với người lao động, tổ chức đào tạo nâng cao tay nghề cho lực lượng lao động lành nghề. Công tác tiền lương và định mức lao động Phối hợp với các đơn vị phòng ban xây dựng định mức đơn giá tiền lương, xây dựng quy chế, phương án phân phối tiền lương, quản lý việc sử dụng quỹ tiền lương của Công ty. Chịu trách nhiệm thực hiện chế độ chính sách đối với người lao động. Công tác thanh tra và giải quyết tố cáo và công tác khác. Thực hiện các công tác thanh tra và giải quyết các khiếu nại tố cáo, xây dựng cà thực hiện phương án bảo vệ Công ty. Kết hợp với Công đoàn Công ty làm công tác thi đua khen thưởng trong toàn Công ty. Mối quan hệ phòng tổ chức lao động và các phòng ban khác trong Công ty Phòng Tổ chức lao động có mối liên hệ chặt chẽ với tất cả phòng ban bộ phận khác trong Công ty. Phòng tổ chức lao động xây dựng các chính sách liên quan đến nguồn nhân lực trong toàn Công ty và các bộ phận phòng ban chức năng khác, đồng thời đảm bảo thực hiện đúng chính sách này. Ngoài ra phòng tổ chức lao động có vai trò cố vấn cho các bộ phận, phòng ban chức năng khác trong việc giúp các phòng ban này thực hiện quản lý nhân viên của mình. Một lĩnhvực khác quan trọng là sự phối hợp giữa phòng tổ chức lao động và các bộ phận khác trong lĩnh vực tuyển dụng và đào tạo lao động. Việc này chỉ có hiệu quả khi có sự kết hợp chặt chẽ giữa phòng tổ chức lao động và các phòng ban chức năng. Mối quan hệ phòng tổ chức lao động và các phòng ban khác là quan hệ tác động qua lại các phòng ban khác cần sự giúp đỡ của phòng tổ chức lao động trong các hoạt động có liên quan tới chức năng phòng tổ chức lao động. Ngược lại phòng tổ chức lao động chỉ hoạt động hiệu qủa trên cơ sốc sự phối hợp chặt chẽ của các phòng ban khác trong toàn Công ty. Tóm lại để thực tốt các chức năng nhiệm vụ của mình phòng tổ chức lao động cần phảI có sự phối hợp nhịp nhàng cùng các bộ phận khác tạo thành một guồng máy thúc đẩy sự phát triển của Công ty. 2. Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực công ty sứ Thanh trì 2.1.Trình độ văn hoá Cho đến cuối năm 2005 số Cán bộ, công nhân viên công ty Sứ Thanh Trì có số lượng tăng đột biến. Do Tổng công ty tiến hành sáp nhập Nhà máy sứ Bình Dương vào Công ty Sứ Thanh Trì. Số công nhân tù 522 lên tới 720 người. Đây là một bước tiến dài trong sự phát triển công ty và để đánh giá cụ thể và chi tiết về các đặc điểm của công ty Sứ Thanh Trì ta xét các bản số liệu sau: Bảng 7: cơ cấu lao động theo tính chất - Lạo lao động Số người lao động Tỷ lệ - Lao động nam - Lao động nữ 568 152 79% 21% - Lao động gián tiếp + đại học + cao đẳng + trung cấp 144 74 16 52 20% - Lao động trực tiếp + lao động sản xuất sứ vệ sinh + lao động cơ khí, cơ giới 441 384 57 61.25% - Lao động phục vụ 135 18.75% Nguồn: Phòng tổ chức lao động Qua số liệu bảng 7 cho thấy rằng lực lượng lao động của công ty có cơ cấu như sau: Lao động trực tiếp chiếm một tỷ trọng cao 61.25% tương ứng 441 người. Trong đó lao động sản xuất là 384 người và lao động cơ khí là 57. cho thấy máy móc đã thay thế một phần khá lớn cho lao động chân tay. Chỉ một số cán bộ kỹ thuật phục vụ điều hanh máy móc, còn lại là lao động thủ công. Đây là kết quả của hoạt động dây truyền bán tự động. Lao động gián tiếp có trình độ cao chiếm 20 %, tập trung chủ yếu vào khối làm việc văn phòng, quản lý. Tuy nhiên tỷ lệ này là cao số với lao động trực tiếp tạo ra sản phẩm. Hơn nữa tỷ lệ người có trình độ cao này lại phân bố không đều. điều này là một hạn chế. Lao động phục vụ cũng tập trung khá đông, chủ yếu là công tác vệ sinh, bảo vệ, nhà ăn… trong cả công ty Sứ Thanh Trì ở Hà Nội và các chi nhánh ở miền nam, trung và Bình Dương. Khối này chiếm tỷ lệ 18,75 % so với 20% của khối lao động gián tiếp. Do đặc điểm của ngành sản xuất nên số lượng lao động này khá đông. Tuy nhiên nó tạo nên khó khăn khi quỹ lương của công ty tăng thêm. Nhìn chung tỷ lệ lao động gián tiếp và phục vụ của công ty tương đối nhiều vì thế chi phí cho bộ phận này tương đối lớn. Do vậy tinh giản đội ngũ này là điều hết sức cần thiết mà công ty cần phải thực hiện. Nếu làm tốt công tác này sẽ có tác động tích cực đến cả hai phía công ty cũng như người lao động; về phía công ty có đội ngũ CB-CNV đủ khả năng, trình độ đảm đương nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh, tiết kiệm chi phí; về phía người lao động được hưởng thù lao xứng đáng. Chính điều này cũng đã là động lực khuyến khích người lao động tận tâm với công việc và không ngừng tự nâng cao tay nghề, trình độ của mình. Với đội ngũ lao động có trình độ, tay nghề như hiện nay công ty cần phải có chính sách thích hợp để khuyến khích họ toàn tâm, toàn ý với công việc hơn. Cũng theo thống kê của phòng Tổ chức lao động, trình độ văn hoá của lao động công ty Sứ Thanh Trì tương đối cao hầu như 100 % người lao động biết chữ. Tỷ lệ người tốt nghiệp PTTH của công ty là rất cao 82.6 % (544 người), tỷ lệ tốt nghiệp THCS là 16.2%. Điều này chứng tỏ mặt băng trình độ văn hoá của công ty là rất cao so với toàn quốc. Nếu so sánh với một số nước phát triển tỷ lệ này là không cao nhưng nếu xét về sự khác biệt về điều kiện kinh tế- xã hội thì tỷ lệ này là khá cao. Với mặt bằng văn hoá chung tương đối này chứng tỏ Công ty có nguồn nhân lực tốt. Trình độ văn hoá cao giúp người lao động tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ của khoa học và thực tiễn. Mặt khác, nó giúp cho người lao động nhận thức tốt hơn về chiến lược sản xuất kinh doanh của công ty và có thái độ tinh thần đúng đắn, có khả năng phát huy sự sáng tạo, cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, mang lại hiệu qủa cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. 2.2. Trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động Đây là một chỉ tiêu hết sức quan trọng trong việc đanh giá chất lượng nguồn nhân lực, trình độ lao động của công ty Sứ Thanh Trì. xét theo chỉ tiêu này được thể hiện trong bảng sau: Lao động theo trình độ đào tạo: Bảng 8: cơ cấu lao động theo trình độ đào tạo: TT Đơn vị Khối lãnh đạo Đại học Cao đẳng Trung cấp Sơ cấp Chưa đào tạo 1 4 2 Văn phòng 1 5 20 3 Phòng Kế toán 7 5 4 Phòng Kinh doanh 15 2 7 41 10 5 Phòng KT- KCS 8 6 Phòng Kế hoạch - Đầu tư 7 2 7 Nhà máy sứ Thanh Trì 12 10 17 216 51 8 Xí nghiệp sản xuất khuôn 5 3 3 22 5 9 Chí nhánh Đà Nẵng 6 6 11 1 10 Phòng Tổ chức lao động 6 11 Nhà máy sứ Bình Dương 11 5 15 143 35 Tổng 82 25 58 453 102 (Nguồn: phòng Tổ chức lao động) Theo bảng trên ta thấy công ty hiện có một đội ngũ lao động có trình độ tương đối cao. Tỷ lệ có trình độ đại học và cao đẳng của công ty chiếm tới 14.85 %. Đây là một tỷ lệ rất cao so với tỷ lệ trung bình cho các công ty liên doanh; các doanh nghiệp quốc doanh và doanh nghhiệp ngoài quốc doanh. Hơn nữa, lực lượng lao động này lại tập trung chủ yếu vào khối lao động gián tiếp, điều này là chưa hợp lý. Tỷ lệ người có trình độ Trung cấp của công ty là 8,05 %, sơ cấp là 62.91% và lao động chưa qua đào tạo là hơn 9 %. Xét về cơ cấu lao động của công ty nhìn chung vẫn chưa hợp lý, tỷ lệ đại học quá cao, trong khi tỷ lệ cao đẳng, trung cấp, sơ cấp là thấp. Theo kinh nghiệm của các nước đã phát triển thì tỷ lệ hợp lý phải là: 1/4/10, tức là một đại học cần 4 kỹ thuật viên và 10 công nhân kỹ thuật. Mặt khác tỷ lệ số người chưa qua đào tạo của công ty chiếm tỷ lệ khá cao (14.16%). Điều này cho thấy trong thời gian tới Công ty cần chú trọng đào tạo đội ngũ lao động có trình độ sơ cấp và trung cấp, đặc biệt là nhấn mạnh vào đào tạo các kỹ thuật viên trung cấp. Về trình độ tay nghề bậc thợ của công ty theo thống kê tới thời điểm 31/12/2005 như sau: Bảng 9: trình độ tay nghề công nhân của công ty. TT Ngành nghề Tổng số Trình độ tay nghề Bậc1 Bậc2 Bậc3 Bậc4 Bậc5 Bậc6 Bậc7 I Công nhân kỹ thuật 1. CN SX sứ vệ sinh 2.CN cơ khí 3.CN cơ giới 347 320 15 12 116 104 5 7 118 110 6 2 68 65 2 1 45 41 2 2 II Công nhân khác 1. Bốc xếp 2.Tiêu thụ sản phẩm 68 28 40 35 15 20 21 9 12 8 3 5 3 1 2 1 1 III Lao động phổ thông Tổng 415 151 139 76 48 1 (Nguồn: Phòng tổ chức lao động) Theo bảng trên ta thấy tỷ lệ công nhân bậc 3 và bậc 4 của Công ty là 69,87 % tỷ lệ công nhân bậc 6 là 11,56 %, chỉ có 1 công nhân bậc 7, nhưng không phải là công nhân sản xuất sứ vệ sinh. Như vậy, tỷ lệ công nhân có trình độ cao của công ty là không nhiều chủ yếu là bậc 3 và bậc 4 không có bậc 1 và bậc 2 trước mắt có thể đội ngũ này đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh của công ty, nhưng về lâu dài Công ty cần phải tăng cường đào tạo nâng cao tay nghề cho công nhân sản xuất sứ vệ sinh, nhằm nâng cao tỷ lệ công nhân bậc cao, để nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh của công ty trên thị trường. Để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, công ty tổ chức việc đào tạo mới, đào tạo lại và thi sát hạch nâng bậc công nhân viên. thêm vào đó, đời sống tinh thần của cán bộ, công nhân viên cũng được lãnh đạo công ty, công đoàn quan tâm thông qua các tổ chức sinh nhật cho tất cả các cán bộ, công nhân ciên trong tháng, tổ chức nghỉ mát toàn công ty, các hoạt động thể dục thể thao, văn hoá, văn nghệ…. 2.3. Về tình trạng sức khỏe và độ tuổi. Bảng 10: cơ câu lao động theo độ tuổi TT Đơn vị Tổng số Giới tính Độ tuổi Tuổi trung bình Nam Nữ <30 30-40 40-50 >50 1 Khối lãnh đạo 4 3 1 0 0 1 3 0 2 Văn phòng 31 13 18 8 11 9 3 37.01 3 Phòng KT- KT 18 2 16 8 4 4 2 32.26 4 Phòng K D 51 38 13 15 19 15 2 36.86 5 Phòng KT- KCS 11 8 3 5 4 1 1 31.82 6 Phòng KH- ĐT 9 7 2 3 2 3 1 35.67 7 Nhà máy sứ TT 290 249 41 134 119 35 2 26.98 8 XN SX khuôn 38 35 3 14 15 8 1 26.16 9 Chi nhánh ĐN 18 14 4 10 5 3 0 31.23 10 Nhà máy sứ BD 244 195 49 120 95 23 6 25.68 11 Phòng TC-LĐ 6 4 2 2 2 1 1 34.27 Tổng số 720 568 152 319 276 103 22 35.28 (Nguồn: phòng Tổ chức lao động). Nhìn chung hiện nay, Công ty có một đội ngũ lao động có tình trạng sức khoẻ tốt cả về thể chất lẫn tính thần và luôn đáp ứng được các yêu cầu sản xuất kinh doanh. Điều thể hiện qua kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp liên tục tăng qua các năm, thu nhập của người lao động cũng tăng lên. về mặt thể chất công ty có một đội ngũ lao động trẻ. Đây là một yếu tố quan trọng thể hiện qua độ tuổi trung bình. Qua bảng ta thấy số lao động nữ của công ty chiếm khoảng 21 %, tỷ lệ này là thấp. Tuy nhiên do đặc thù công việc, bù lại đây là đội ngũ lao động trẻ. Số lao động dưới 30 ( 50 tuổi. Đặc biết có thể thấy ở tại 3 đơn vị sản xuất là Nhà máy sứ Thanh Trì, Xí nghiệp sản xuất khuôn và Nhà máy sứ Bình Dương người lao động có độ tuổi rất trẻ thường là 25 đến 26 tuổi. Đây là một yếu đặc điểm quan trọng trong lao động làm việc. Ở độ tuổi sức khoẻ sung mãn cả về thể chất lãnh tinh thần. Công ty cần có biện pháp khuyến kích để người lao động phát huy năng lực của mình cống hiến cho công ty, tăng năng suất lao động, giảm gía thành và hiệu quả kinh doanh tăng nhanh. Về năng lực và phẩm chất của người lao động, theo số liệu của Phòng tổ chức lao động hiện nay công ty có khoảng 65 Đảng viên trong đó có 17 nữ và 48 nam. Đảng bộ Công ty luôn luôn được công nhận là Đảng bộ trong sạch trong 10 liền kể từ năm 1996 đến nay. Công ty đã có 145 ngưòi có trình độ chính trị sơ cấp. Banh lãnh đạo công ty đều có trình độ quản lý kinh tế. Nhìn chung đội ngũ lao động của công ty có năng lực phẩm chất tốt, có khả năng đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đề ra. Trong năm 2001 Công ty đã được Chủ tịch Nước trao tặng Huân chương lao động hạng 3, Thủ tướng chính phủ đã trao tăngc bằng khen của TLĐLĐ Việt Nam cho tập thể và cá nhân…và rất nhiều cờ thưởng và phần khen của Bộ Xây Dựng cho cán bộ và tập thể của công ty. Mặc dù đã đạt được nhiều thành tích nhưng để đáp ứng được mục tiêu phát triển lâu dài trong tương lai, Công ty cần củng cố hơn nữa năng lực phẩm chất của người lao động để có khả năng thích ứng với môi trường mới. 3.Các hoạt động đảm bảo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 3.1.Công tác lập kế hoạch nguồn nhân lực Hoạch định kế hoạch nguồn nhân lực là một công tác rất quan trọng mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải thực hiện. Việc lập kế hoạch nguồn nhân lực phải dựa trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, chiến lược kinh doanh ngắn hạn hay dài hạn. Tuy nhiên, giống như các doanh nghiệp khác ở Việt Nam, có thể nói việc hoạch định chiến lược kinh doanh trung và dài hạn đối với Công ty sứ Thanh Trì vẫn còn là một lĩnh vực khá mới mẻ. Cho đến nay hầu như Công ty chỉ xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh trong một năm, và theo đó kế hoạch nguồn nhân lực cũng được xây dựng cho một năm. Hàng năm, vào cuối năm khi tổng kết công tác cho năm vừa qua Công ty tiến hành lập kế hoạch nguồn nhân lực cho năm tới dựa trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh của năm mới. Dựa vào kế hoạch sản xuất kinh doanh Công ty định được nhu cầu lao động cần có trong năm tới, trên cơ sở phân tích khả năng hiện có nhân lực của Công ty, Công ty sẽ đưa ra dự báo về số lựơng nhân lực cần bổ xung hay thuyên giảm. Ví dụ, căn cứ vào nhu cầu sản xuất kinh doanh của năm 2006 với tổng sản lượng sản xuất là 890.000 sản phẩm. Bằng vác biện pháp nghiệp vụ Công ty tính ra nhu cầu lao động cho năm 2006 là 830 người. Theo số liệu tổng kết vào thời điểm cuối năm 2005 tổng số lao động của Công ty là 720 người. Như vậy trong năm 2006 nhu cầu cần tuyển lao dộng cảu Công ty sẽ là 110 người. Trên thực tế nhu cầu dụng lao động tăng lên trong năm 2006 là do Công ty đưa thêm vào họat động một dây chuyền sản xuất mới tại Nhà máy sứ Bình dương với công xuất 70.000 sản phẩm/năm do Công ty đầu tư xây dựng. Kế hoạch cụ thể của một bộ phận phòng ban trong Công ty được xây dựng cụ thể dựa trên cơ sở định biên nhân lực cho các đơn vị phòng ban trong Công ty. Ví dụ, tại thời điểm tháng 11-2005 bộ phận công nhân sản xuất chính của Công ty sứ Thanh Trì được định biên như sau: Bảng 11: Kết quả định biên lao động (2005) STT Đơnvị Số lượng Tổngcộng Ghi chú 1 Nguyên liệu 13 13 2 Nghiền men 7 7 3 Đổ rót 91 91 4 Phục vụ đổ rtót 6 6 5 Vận chuyển phế thải 6 6 6 Đổ rót băng 14 14 7 Sấy mộc 6 6 8 Kiểm tra mộc 22 22 9 Phun men 27 27 10 Dán chữ 4 4 11 Lò nung 16 16 12 KCS 30 30 13 Kho thành phẩm 15 15 14 Kho vật tư 10 10 15 Khuôn sản xuất 22 22 16 Khuôn mẫu 4 4 293 293 (Nguồn: phòng tổ lao động) Thông thường số lượng nhân viên làm việc ở các phòng ban Công ty có sự thay đổi rất ít, do vậy căn cứ để Công ty lập kế hoạch nhân lực cho các phòng ban này là khi có sự thay đổi về cơ cấu tổ chức của phòng ban hay khi có sự thay đổi về cơ cấu tổ chức của phòng ban hay khi có một số cán bộ đến tuổi nghỉ hưu. Những năm trước đây Công ty chưa xây dựng được chiến lược nguồn nhân lực dài hạn, có các kế hoạch nhân lực được xây dựng trong vòng 1 năm. Hiện nay, nhằm mục đích đáp ứng tốt hơn việc thoả mãn các nhu cầu lao động. Công ty đã tiến hành phân tích và dự báo nhu cầu lao động trong năm 2005- 2010. Bảng 12: Kết quả dự báo như sau: Stt chỉ tiêu Đ.v.t Giai đoạn 2005 - 2010 Định hướng đến 2010 2006 2007 2008 2009 2010 I P.hướngSXKD Tổng sản lượng 1000sp 890 905 922 950 1.000 1.500 Tổng doanh thu Tỷ đ 170 200 222 258 301 450 II Nhu cầu sd lao động Người T. độ th.sỹ, tiến sỹ 1 Hoá Silicat 1 1 3 4 8 Vật liệu xây dựng 1 1 2 Điện tử, tin học 1 1 1 1 2 Quản lý kinh tế 1 1 2 2 4 Luật kinh doanh 1 1 1 1 2 2 Trình độ đại học Hoá Silicat 18 26 30 32 35 50 Vật liệu xây dựng 1 2 3 4 4 7 Điện tử, tin học 1 2 3 4 5 10 Cơ khí 1 2 3 3 3 5 Điện, tự động hoá 1 2 4 3 4 10 Chuyên ngành khác 36 4 42 38 70 3 Công nhân kỹ thuật Sản xuất sứ vệ sinh 227 290 600 600 600 CN cơ khí 8 14 16 16 16 22 CN cơ giới 7 12 13 13 13 19 CN khác 42 46 50 55 60 80 Nguồn : phòng tổ chức lao động Mặc dù chưa có chiến lược tổng thể về xây dựng và phát triển nguồn nhân lực trong việc đưa ra được một dự báo về nhu cầu sử dụng lao động trong giai đoạn 2005-2010 cũng phần nào phản ánh được những nỗ lực trong công tác lập kế hooạch nguồn nhân lực của Công ty. 3.2Công tác tuyển dụng Tuyển dụng nhân viên có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Vì vậy, Công ty sứ Thanh trì đã thật sự rất quan tâm tới vấn đề này. Nhìn chung khi có nhu cầu tuyển dụng nhân viên trước tiên Công ty sẽ tiến hành soát lại đội ngũ lao động của mình (căn cứ vào hồ sơ lưu trữ) để tìm ra ứng viên phù hợp cho vị trí cần tuyển. Thông thường những ứng viên này sẽ được giao những công việc với trọng trách cao hơn. Đối với đội ngũ công nhân kỹ thuật, nếu có năng lực và có thành tích tốt cũng được cất nhắc thuyên chuyển tới những vị trí quan trọng hơn. Chẳng hạn, trong năm 2004 Công ty đã giao cho một số công nhân có năng lực đảm trách chức vụ đốc công như : công nhân Phạm Văn Ngũ, Nguyễn Văn Liệu, Nguyễn Thành Quang . Hình thức tuyển dụng này của Công ty có nhiều ưu điểm nhưng không tốn kém khinh phí tuyển dụng, ứng viên Công ty là người Công ty nên am hiểu phong cách làm việc, nếp sống văn hóa của Công ty nên có khả năng thích ứng nhanh chóng với công việc mới. Mặt khác, hình thức tuyển dụng này của Công ty sẽ là một động lực thúc đẩy người lao động phát huy hếtt khả năng của mình bởi vì họ cảm thấy được tôn trọng, thấy có cơ hội để thăng tiến, thành đạt. Tuy nhiên, hình thức này cũng có nhược điểm bởi vì: ứng viên là người trong Công ty đã quen với lề thói làm việc của công ty, quen với nếp tư duy của Công ty nên có thể sẽ không tạo ra được sự sáng tạo, không mang lại những nét mới cho Công ty. Trong trường hợp sự sắp xếp thuyên chuyển trong nội bộ Công ty không đáp ứng đủ nhu cầu về nhân lực theo kế hoạch đã đề ra, hay do một lý do bất thường nào đó Công ty sẽ tiến hành tuyển dụng nhân viên từ bên ngoài. Quá trình tuyển dụng trải qua hai giai đọan là tuyển mộ và tuyển chọn. Về công tác tuyển mộ: Về nguyên tắc: Công ty tiến hành tuyển mộ từ tất cả các nguồn như: Bạn bè của nhân viên, ứng viên tự nộp đơn xin việc, nhân viên của hãng khác, các trường Đại học và Cao đẳng... Nhưng thông thường đối với nhân viên thuộc khối nghiệp vụ phòng ban Công ty, do ít có sự biến động và nhu cầu tuyển dụng thường không nhiều (có thể 1, 2 hoặc 3 vị trí). Công ty thường tuyển mộ qua bạn bè của nhân viên là chủ yếu (đây cũng là nét chung của các danh nghiệp Việt Nam). Khi có nhu cầu tuyển lao động lớn Công ty tổ chức tuyển mộ từ tất cả các nguồn để tìm kiếm các ứng viên có đủ năng lực đáp ứng yêu cầu công việc của Công ty. Về phương pháp tuyển mộ: Công ty sử dụng phương pháp quảng cáo để thu hút các ứng viên. Ví dụ năm 2004, năm 2005 Công ty đã tiến hành đăng quảng cáo tuyển mộ công nhân kỹ thuật cho Nhà máy sứ Bình Dương trên Báo lao động, Đài truyền hình Việt Nam, Đài truyền hình Hà nội. Ngoài ra Công ty còn sử dụng một số phương pháp khác như nhờ nhân viên giới thiệu và tuyển mộ từ các sinh viên thực tập. Đặc biệt đối với chuyên viên chuyên ngành hoá Silicat. Các phương pháp khác như cử chuyên viên tuyển mộ đến các trường hoặc thông qua các cơ quan tuyển dụng ít được Công ty sử dụng hoặc không sử dụng. Vì vậy rất có thể bỏ qua cơ hội tuyển mộ được các ứng viên giàu tiềm năng. Về công tác tuyển chọn: Kết thúc quá trình tuyển mộ, Công ty đã thu thập được một số lượng các đơn xin việc của các ứng viên từ nhiều nguồn khác nhau và quá trình tuyển chọn bắt đầu. Để phục vụ cho việc tuyển chọn nhân viên được thuận lợi trên cơ sở đề nghị của Phòng Tổ chức lao động, Giám đốc. Công ty đã ban hành văn bản quy địn về công tác tuyển dụng lao động. Bao gồm các quy định về hồ sơ tuyển dụng lao động, về kí hợp đồng lao động, giao kết quan hệ lao động và các hoạt động có liên quan. Sơ tuyển: Bước đầu tiên của quá trình tuyển chọn là sơ tuyển. Căn cứ vào quy định về hồ sơ tuyển dụng của Công ty, phòng tổ chức lao động sẽ loại bỏ bớt hồ sơ không hợp lệ và những hồ sơ mà ứng viên không đáp ửng đủ các yêu cầu mà Công ty đòi hỏi, thông thường các tiêu chuẩn mà Công ty đặt ra chỉ là những tiêu chuẩn hết sức cơ bản như tốt nghiệp đại học cao đẳng, trình độ ngoại ngữ và trình độ vi tính.... Phỏng vấn: Sau khi loại bỏ bớt hồ sơ và tìm được các ứng viên giàu tiềm năng nhất Công ty tiến hành phỏng vấn. Việc phỏng vấn này do phòng tổ chức lao động thực hiện có sự tham gia của trưởng bộ phận nơi có nhu cầu tuyển dụng lao động. ứng viên sẽ phải trả lời các câu hỏi có tính chất kiểm tra về khả năng chuyên môn và hiểu biết xã hội. Quyết định tuyển dụng: Kết thúc phỏng vấn ứng viên được chấm điểm theo tiêu chuẩn đã xác định và hội đồng tuyển chọn sẽ thảo luận cùng nhau và sẽ đưa ra quyết định tuyển chọn. Quyết định này chưa phải là quyết định chính thức vì người được chọn sẽ được ký một hợp đồng lao động tạm thời trong ba tháng. Hết thời hạn 3 tháng Công ty sẽ căn cứ vào kết quả thử việc của ứng viên mà ra quyết định tuyển dụng cuối cùng. Sau khi có quyết địn._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc32517.doc
Tài liệu liên quan