Rủi ro tín dụng và các giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại Việt Nam

Lời nói đầu & Chức năng cơ bản của ngân hàng thương mại là trung gian tài chính làm cầu nối giữa người đi vay và người cho vay. Thông qua chức năng đó, ngân hàng thương mại thực hiện mục tiêu kinh doanh của mình. Để cạnh tranh được trong thị trường ngày càng phát triển, ngân hàng thương mại cần thiết phải mở rộng qui mô hoạt động, đa dạng hoá các dịch vụ sản phẩm cung cấp cho khách hàng, nhằm huy động vốn cho vay và thu lợi nhuận ngày càng nhiều. Mặt khác phải tìm mọi cách, mọi giải pháp để ph

doc30 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1535 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Rủi ro tín dụng và các giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
òng ngừa rủi ro, lập qũi dự phòng bù đắp rủi ro, tránh mạo hiểm trong kinh doanh, có thể dẫn tới thua lỗ, phá sản... ở Việt nam ngân hàng thương mại mới được hình thành, chuyển từ hoạt động theo cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Trong kinh doanh ngân hàng rủi ro tất yếu sẽ xẩy ra do những nguyên nhân chủ quan, khách quan. Mặc dù, rủi ro trong hoạt động ngân hàng là điều không thể tránh khỏi, song lúc nào, bao giờ, các nhà hoạt động ngân hàng cũng cần phải quan tâm và có nhiều giải pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro trong hoạt động của mình. Xuất phát từ yêu cầu đó qua thời gian học tập tại trường em xin được chọn đề tài :” Rủi ro tín dụng và các giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại Việt Nam” để nghiên cứu trong tiểu luận của mình. Đề tài gồm : *** Chương I: Rủi ro trong kinh doanh tín dụng và ảnh hưởng của rủi ro tín dụng tới hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại. Chương II: Tình hình rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thưong mại Việt nam. Chương III: Một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong kinh doanh tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại Việt nam. Chương I Rủi ro trong kinh doanh tín dụng và ảnh hưởng của rủi ro tín dụng tới hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương mại và hoạt động kinh doanh tín dụng của ngân hàng thương mại * Khái niệm : Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi với trách nhiệm phải hoàn trả và sử dụng số tiền huy động được để cho vay, thanh khoản, chiết khấu… * Khái quát các hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại. 1, Góp vốn, mua cổ phần, 2, Tham gia thị trường tiền tệ, 3, Kinh doanh ngoại hối và vàng bạc, 4, Nghiệp vụ uỷ thác và đại lý, 5, Kinh doanh và dịch vụ bảo hiểm, 6, Dịch vụ tư vấn 7, Các dịch vụ khác liên quan đến hoạt động ngân hàng, như dịch vụ bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê két sắt, cầm đồ và các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật. * Nội dung kinh doanh tín dụng Huy động vốn :Một ngân hàng ra đời hoạt động không thể không có vốn. Vốn càng lớn, hoạt động càng phát triển. Muốn có nhiều vốn phải tăng cường huy động, tăng cường đi vay. Nhưng vấn đề đặt ra là: Ngân hàng là tổ chức kinh tế đi vay để cho vay, có cho vay được thì mới cần vốn để cho vay tức là đi huy động vốn. Cho vay vốn :Hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại là tài trợ cho khách hàng trên cơ sở tín nhiệm. Hình thức tín dụng truyền thống của ngân hàng thương mại là cho vay ngắn hạn có đảm bảo bằng tài sản, giúp khách hàng mua hàng hoá, nguyên, nhiên vật liệu; sau đó mở rộng thành nhiều hình thức khác nhau như cho vay thế chấp bằng bất động sản, bằng các chứng khoán, bằng giấy tờ lưu kho bạc hoặc không cần thế chấp. Các ngân hàng thương mại lớn hiện nay thực hiện đa dạng các hình thức tín dụng từ cho vay ngắn, trung và dài hạn, bảo động vốn, mua hàng mà chưa cần tra tiền ngay… 1. 2 Rủi ro trong kinh doanh tín dụng của ngân hàng thương mạI việt nam. 1.2.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng ngân hàng: Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc không trả dầy đủ vốn và lãi. Khi thực hiện một hoạt động cho vay cụ thể, ngân hàng không dự kiến là khoản cho vay đó sẽ bị tổn thất. Tuy nhiên những khoản cho vay đó luôn hàm chứa rủi ro. Một số ý kiến cho rằng trên quan điểm quản lí toàn bộ ngân hàng, tỷ lệ tổn thất dự kiến đối với hoạt động tín dụng luôn được xác định trước trong chiến lược hoạt động chung. Do vậy, khi tổn thất dưới mức tỷ lệ tổn thất dự kiến, ngân hàng coi đó là một thành công trong quản lí. Bản chất rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng không trả, hoặc không trả đúng hạn, hoặc không đầy đủ gốc và lãi cho ngân hàng. Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động quan trọng nhất, có qui mô lớn nhất của ngân hàng thương mại – hoạt động tín dụng. Khi thực hiện một hoạt động tài trợ cụ thể, ngân hàng cố gắng phân tích các yếu tố của người vay sao cho độ an toàn la cao nhất. Và nhìn chung ngân hàng chỉ quyết định cho vay khi thấy rằng rủi ro tín dụng sẽ không xẩy ra. Tuy nhiên, không một nhà kinh doanh ngân hàng tài ba nào có thể dự đoán chính xác các vấn đề sẽ xẩy ra. Khả năng hoàn trả tiền vay của khách hàng co thể bị thay đổi do nhiều nguyên nhân. Hơn nữa, nhiều cán bộ ngân hàng không có khả năng thực hiện phân tích tín dụng thích đáng. Do vậy, trên quan điểm quản lí toàn bộ ngân hàng, rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi, là khách quan. Nhiều quan điểm nhất trí rằng, rủi ro tín dụng là bạn đường trong kinh doanh, có thể để phòng, hạn chế, chứ không thể loại trừ. Do vậy, rủi ro dự kiến luôn được xác định trước trong chiến lược hoạt động chung của ngân hàng. 1.2.2 Chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng. Tuy rủi ro tín dụng là khách quan, song ngân hàng phải quản lí rủi ro tín dụng nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các tổn thất có thể xẩy ra. Từ những nguyên nhân nảy sinh rủi ro tín dụng, ngân hàng cụ thể hoá thành nhưng dấu hiệu chính phát sinh trong hoạt động tín dụng, phản ánh rủi ro tín dụng : (1) Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ ; (2) Nợ khó đòi và tỷ lệ nợ khó đòi trên tổng dư nợ ; (3) Tính đa dạng hoá của tài sản ; (4) Tình hình tài chính và phương án của người vay; (5) Đảm bảo tiền vay; (6) Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng ; (7) Môi trường hoạt động của người vay ; Nợ qúa hạn và tỷ lệ nợ quá hanh trên tổn dư nợ. Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được trước khi đã đến hạn thoả thuận ghi trên hợp đồng tín dụng. Nợ khó đòi và tỷ lệ nợ khó đòi trên tổng dư nợ. Nợ khó đòi là khoản nợ quá hạn đã quá một kì gia hạn nợ. Các chỉ tiêu khác: bên cạnh nợ quá hạn và nợ khó đòi, nhà quản lí ngân hàng còn sử dụng các hình thức đo rủi ro tín dụng khác, gắn liền với chiến lược đa dạng hoá tài sản, lập hồ sơ khách hàng, trích lập quỹ dự phòng, đặt giá đối với các khoản cho vay … - Điểm của khách hàng: thông qua phân tích tình hình tài chính, năng lực sản xuất kinh doanh, hiệu qủa dự án, mối quan hệ và tính sòng phẳng… ngân hàng lập hồ sơ về khách hàng, xếp loại và cho điểm. Điểm của khách hàng cho thấy rủi ro “tiềm ẩn “. - Các khoản cho vay co vấn đề: Mặc dù chưa đến hạn và chưa được coi là nợ quá hạn, song trong quá trình theo dõi, nhân viên ngân hàng nhận thấy nhiều khoản nợ tài trợ đang có dấu hiệu kém lành mạnh, có nguy cơ trở thành nợ quá hạn. - Tính kém đa dạng của tín dụng: đa dạng hoá là biện pháp hạn chế rủi ro. Những thay đổi trong chu kì của người vay là khó tránh khỏi. Nếu ngân hàng tập trung tài trợ cho một nhóm khách hàng, của một ngành, hoặc một vùng hẹp thì rủi ro sẽ cao hơn so với đa dạng hoá. - Mất ổn định vĩ mô: chính sách thường xuyên thay đổi, lạm phát cao, tình hình chính trị mất ổn định, vùng hay bị thiên tai…đều tạo nên mất ổn định vĩ mô, tác động xấu đến người vay. Do vậy, mất ổn định vĩ mô được ngân hàng xem lâ một nội dung phản ánh rủi ro tín dụng. 1.2.3 Một số nguyên nhân chủ yếu gây ra rủi ro tín dụng ngân hàng. Rủi ro tín dụng cũng như các rủi ro khác có rất nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có hai nhóm nguyên nhân chính: Nguyên nhân do khách quan và nguyên nhân do chủ quan. 1.2.3.1 Nguyên nhân khách quan: Đó là những rủi ro do thiên tai, địch hoạ gây ra như bão lụt, hạn hán, động đất… Sự biến động trên thị trường kinh tế, biến động về chính trị, chiến tranh. 1.2.3.2 Nguyên nhân chủ quan: Do con người trong quá trình sản xuất kinh doanh hoặc do có quyết định sai lầm, do trình độ hiểu biết nghiệp vụ chuyên môn hoặc do con người cố tình vi phạm nguyên tắc chế độ gây lên rủi ro. 1.2.3.3 Đánh giá rủi ro Tín dụng Để dự đoán được chính xác rủi ro tín dụng, việc nghiên cứu thường xuất phát từ các nguyên nhân khác nhau có thể đưa đến rủi ro. ở đây chỉ xét theo các yếu tố của một khoản cho vay. Thứ nhất: Dự đoán môi trường hoạt động của khoản cho vay. Rủi ro môi trường luôn tồn tại cả bên trong và bên ngoài một tổ chức, vì vậy một khoản vay khi đưa vào sử dụng sẽ như một cuộc thám hiểm với bao điều bất ngờ phía trước. Việc dự đoán các yếu tố môi trường sẽ cho phép ngân hàng nhận định được khả năng rủi ro của một khoản vay ở mức độ chấp nhận hay không trước khi quyết định cho vay. Mặt khác, đánh giá mức độ rủi ro cho từng khoản nợ từ đó có biện pháp thu hồi, quản lý nợ đạt hiệu quả cao. Nhà quản trị ngân hàng phải nắm được có bao nhiêu khoản nợ mất 100% phải dùng vốn của mình bù đắp. Bao nhiêu khoản nợ quá hạn nhưng còn có thể thu được một phần hoặc có khả năng thu hồi toàn bộ, từ đó có biện pháp tác động. Thứ hai: Dự đoán rủi ro từ hướng khách hàng. Khả năng rủi ro tín dụng có thể xẩy ra do ý muốn trả nợ của khách hàng giảm đi. Rủi ro trong quản lý, điều hành kinh doanh của người vay. Khả năng thay đổi nhân thân của người vay hay người điều hành. Để có thể dự đoán chính xác về khách hàng, ngân hàng phải có được đầy đủ thông tin kịp thời để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng cũng như ý muốn trả nợ của họ. Trong điều kiện kinh doanh do rất nhiều lý do mà ý muốn trả nợ thật sự được dấu kín và chuyên môn gọi đây là "rủi ro đạo đức". Rủi ro đạo đức xảy ra khi một bên tham gia vào cuộc giao dịch có ý muốn thực hiện các hoạt động bất lợi cho bên kia. Rủi ro đạo đức từ phía khách hàng trong rủi ro tín dụng thường do môi trường pháp lý còn lỏng lẻo, không ràng buộc khách hàng vào trả nợ, cũng như các quy định về cho vay của ngân hàng chưa được hoàn thiện. Thứ ba: Rủi ro tín dụng có thể xảy ra từ phía ngân hàng. Ngân hàng sẽ đưa ra các quy trình quản lý rủi ro chặt chẽ khi cấp một khoản tín dụng. Trong quy trình này được coi là rủi ro kỹ thuật như: các kỹ thuật tính toán các khoản tiền, thời hạn phương pháp thu nợ.v.v... Tuy nhiên rủi ro kỹ thuật cũng có các yếu tố từ nhân viên ngân hàng (chủ quan) như giới hạn về trình độ, về phẩm chất con người. Từ phía ngân hàng cũng có thể xảy ra rủi ro đạo đức. Do sự lỏng lẻo trong quản lý, những lợi thế của ngân hàng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ đã làm không ít nhân viên tham ô, cửa quyền, tư lợi sa ngã. Các ngân hàng luôn cố gắng loại trừ độ rủi ro từ hướng này nhưng trên thực tế mà nói vẫn tiềm ẩn một độ nhất định. Thực tế cũng như những kết quả nghiên cứu của các nhà chuyên môn đều cho thấy các khoản cho vay có rủi ro đều có những biểu hiện từ trước ở những mức độ khác nhau như: - Sử dụng vốn sai mục đích. - Các tài liệu báo cáo tình hình sử dụng vốn vay không được gửi đến đúng kỳ hạn. - Tài khoản vãng lai luôn có số dự nợ, hay các khoản vay ứng trước có 1 - 2 lần trả không đúng kế hoạch. - Nhiều lần séc bị từ chối thanh toán. - Các đảm bảo tín dụng bị xuống, giảm giá nghiêm trọng.v.v... 1.2.3.4 Hậu quả của rủi ro tín dụng * Rủi ro Tín dụng làm giảm uy tín của ngân hàng. Một ngân hàng có rủi ro lớn dân chúng sẽ thiếu lòng tin, như vậy việc huy động nguồn vốn gặp khó khăn, các đơn vị ngân hàng khác sẽ đắn đo trong việc mở quan hệ, mất uy tín trên thị trường Quốc tế. Điều này được lý giải là khi gải quyết một món nợ bị rủi ro các ngân hàng thường mong muốn sử dụng cách thức tránh gây ồn ào. * Rủi ro tín dụng làm lợi nhuận suy giảm. Điều này thấy rất rõ khi một khoản nợ khó đòi phát sinh, việc thu lãi cũng không thực hiện được. Tổn thất tín dụng phải trừ vào thu nhập làm cho lợi nhuận giảm. Đây là nguy cơ gây lỗ vốn chủ yếu cho các ngân hàng thương mại. Ngoài ra chi phí cho việc thu nợ tăng, thêm vào đó là quá trình hoạt động cũng khó khăn từ đó lợi nhuận ngân hàng càng suy giảm. Việc chậm trả khoản lãi vay sẽ làm giảm thu nhập của ngân hàng so với dự kiến và nói chung chậm trả cả vốn và lãi đã làm chi phí quản lý một khoản vay của ngân hàng nâng lên. Các khoản nợ gặp rủi ro tín dụng sẽ gây khó khăn trong chừng mực nhất định cho ngân hàng khi phải thỏa mãn các nhu cầu rút tiền của khách hàng đến gửi, dẫn tới lòng tin của khách hàng giảm thấp, có thể đồng loạt rút vốn làm ngân hàng giảm khả năng thanh khoản nhanh chóng mà các khoản cho vay kém chất lượng không giúp ngân hàng cải thiện được tình hình. * Rủi ro tín dụng làm cho khả năng thanh toán của ngân hàng giảm sút. Nợ chậm trả theo thời hạn cam kết, dẫn đến vốn không được giải phóng như dự kiến, nếu xảy ra với lượng lớn hoặc nhiều khách hàng cùng lúc có thể dẫn tới rủi ro thanh toán hoặc mất cơ hội ký hợp đồng tín dụng mới. Nợ dây dưa khó đòi là những khoản nợ quá hạn trên 90 ngày, khả năng trả vốn và lãi rất thấp. Nợ khó đòi làm đọng vốn của ngân hàng, có thể gây khó khăn cho ngân hàng trong quản lý nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn, khả năng thanh khoản bị giảm thấp, dẫn đến, thiệt hại về tài sản của ngân hàng. Nếu các khoản nợ khó đòi chiếm tỷ trọng đáng kể có thể đưa ngân hàng đến bên bờ phá sản. Chi phí để xóa bỏ các khoản nợ khó đòi rất cao mà thường các khoản nợ này không còn trả lãi nữa, dẫn đến thua lỗ và thiệt hại về tài sản của ngân hàng. * Rủi ro tín dụng có thể dẫn đến phá sản ngân hàng. Rủi ro tín dụng ngân hàng sẽ làm giảm lợi nhuận của ngân hàng, gây thiệt hại về tài sản, làm giảm lòng tin của dân chúng, đưa ngân hàng đến phá sản. Nếu xét trên phạm vi toàn bộ xã hội, rủi ro tín dụng làm cho các doanh nghiệp ngân hàng này phá sản sẽ kéo theo sự phá sản của hàng loạt ngân hàng khác. * Tóm lại Hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường luôn gắn liền với rủi ro. Rủi ro là biến cố gây thiệt hại về vật chất cho doanh nghiệp. Mặc dù không mong muốn nhưng rủi ro vẫn xuất hiện, tuy nhiên rủi ro có thể biết được, có thể do lường được và vì thế có thể ngăn ngừa, phòng chống và hạn chế rủi ro. Hoạt động của ngân hàng đa dạng và phong phú nên rủi ro ngân hàng cũng có nhiều loại. Hoạt động tín dụng mang lại lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng nhưng cũng có hệ số rủi ro cao nhất, phức tạp nhất, khó quản lý nhất. Hậu quả của rủi ro tín dụng cũng rất to lớn nó có thể trực tiếp hay gián tiếp dẫn đến phá sản một ngân hàng. Chương II Tình hình rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại việt nam 2.1 Khái quát về tình hình kinh doanh tín dụng của Ngân hàng thương mại Việt nam : 2.1.1Tình hình huy động vốn Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. Khi một ngân hàng bắt đầu hoạt động, nghiệp vụ đầu tiên là mở các khoản tiền gửi dể giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng, bằng cách đó ngân hàng huy động tiền của các doanh nghiệp, các tổ chức dân cư . Tiền gửi là nguồn tiền quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguổn tiền của ngân hàng. Để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có được nguổn tiền có chất lượng ngày càng cao, các ngân hàng đã đưa ra và thực hiện nhiều hình thực hiện nhiều hình thức huy động khác nhau gồm có: tiền gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch hoặc tiền gửi thanh toán ), tiển gửi có kì hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, tiền gửi tiết kiệm của dân cư (tiển gửi có kì hạn và không kì hạn ) và tiền gửi của các ngân hàng khác. Bên cạnh đó các ngân hang thương mại còn phát hành các giay tờ có giá gồm trái phiếu ngân hàng, kỳ phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi. Một vấn đề mà hiện nay đang là mối quan tâm của các ngân hàng thương mại ở nước ta đó là khả năng các ngân hàng có thể đi vay dược các nguồn vốn trung và dài hạn để cho vay. Các nguồn vốn huy động để cho vay ngắn hạn thì hiện đang dư thừa trái lại các nguồn vốn trung và dài hạn thì lại đang rất thiếu để cho vay mà nhu cầu đi vay này lại rất lớn. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để thỏa mãn nhu cầu này? Hoạt động ngân hàng có chữ tín thì khách hàng mới gửi tiền, mới cho ngân hàng vay tiền và mới tổ chức thanh toán qua ngân hàng. Các hình thức thanh toán qua Ngân hàng cũng là một biện pháp tạo nguồn vốn qua thanh toán cho ngân hàng. Qua biểu thống kê của ngân hàng thương mại Eximbank sau đây để đánh giá hoạt động huy động vốn của ngân hàng. Bảng 1: diễn biến nguồn vốn huy động và vốn đi vay (1997-2001) Đơn vị: Tỷ đồng Nội dung 1997 1998 1999 2000 2001 Nguồn vốn huy động TGTK Trong đó: - Tiền gửi không kỳ hạn - Tiền gửi có kỳ hạn 2. Tiền gửi thanh toán 3. Vay các tổ chức tín dụng Trong đó: - TCTD trong nước - TCTD ngoài nước 180 115 65 60 210 78 132 450 330 120 80 20 12 8 504 350 154 110 25 15 10 552 338 214 145 43 25 18 603 358 245 216 49 28 21 Cộng 450 550 639 740 868 (Nguồn : Phòng kinh doanh tín dụng ngân hàng Eximbank Hà nội) Qua bảng tổng hợp trên thấy rằng năm 1997 nguồn vốn huy động từ tài khoản TG còn hạn chế nhưng từ năm 1998 trở đi đã tăng 1 lượng đáng kể. Điều muốn nói ở đây là vốn huy động tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn tính đến cuối năm 1999 là 350 tỉ đồng chiếm 69%, còn lại là tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Đây là một điều khó kế hoạch hoá tín dụng cho vay của Ngân hàng. Có thể nói một vấn đề nếu xảy ra hiện tượng các khách hàng ồ ạt rút tiền gửi huy động thì ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng khó khăn. Còn vốn đi vay các tổ chức tín dụng khác đến 1997 là 210 tỷ đồng và giảm dần đến năm 2001 vốn đi vay các tổ chức tín dụng khác chỉ còn 49 tỉ đồng còn tổng nguồn vốn huy động tiền gửi tiết kiệm đến là 552 tỉ đồng thì tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là 338 tỉ đồng, chiếm 61%. 2.1.2. Về sử dụng vốn Nhận thức được vai trò, chức năng của ngân hàng thương mại, nhận thức được việc cho vay - kinh doanh tín dụng sẽ vô cùng khó khăn và nếu chỉ lơ là một chút thôi thì hậu quả rủi ro tín dụng sẽ khôn lường. Các ngân hàng ở nước ta hiện nay rất chú trọng khâu tín dụng, coi đó là một trong các hoạt động của ngân hàng. Vì vậy, thời gian qua, dư nợ cho vay bao gồm các loại thời hạn cũng như các loại thành phần kinh tế đều có xu hướng tăng lên. Có thể minh hoạ kết quả dư nợ cho vay của ngân hàng Eximbank (xem bảng 2). Bảng 2 Phân tích dư nợ (1997-2001) Đơn vị: Tỷ đồng 1 1997 1998 1999 2000 2001 I. Cho vay ngắn hạn Trong đó: 235 390 405 489 560 - Doanh nghiệp nhà nước 92.8 35 55 64 58 - NgoàI quốc doanh 128 250 205 265 307 - Thành phần kinh tế tư nhân 3.2 15 35 52 73 - Thành phần khác 11 90 110 108 122 II. Cho vay trung và dài hạn 19.1 20.7 28 32.2 34.4 - Doanh nghiệp nhà nước 19.1 20.7 28 32.2 34.4 Cộng 254.1 410.7 433 521.2 594.4 (Nguồn : Phòng kinh doanh tín dụng ngân hàng Eximbank Hà nội) Trong hoạt động tín dụng của mình chi nhánh cũng rất quan tâm đến việc cho vay trung và dài hạn. Song, số dư nợ đến cuối năm cũng phản ánh sự chắc chắn và chấp hành chế độ trong đầu tư trung, dài hạn: Năm 1997 dư nợ 19,1 tỷ đồng, tỷ trọng7,5% tổng dư nợ và năm 1998 dư nợ là 20,7,tỷ trọng 5% đến 2001 dư nợ là 34,4 tỉ đồng. Đồng thời số dư nợ này chủ yếu nằm trong các doanh nghiệp nhà nước. Chứng tỏ việc đầu tư tín dụng trung, dài hạn của ngân hàng là có tính toán tránh rủi ro có thể xảy ra từ việc tín dụng dài hạn lãi ít, vốn đọng lâu này. 2.2 Thực trạng rủi ro tín dụng trong kinh doanh của ngân hàng thương mại 2.2.1 Tình hình rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng được phản ánh chủ yếu ở các chỉ tiêu về nợ quá hạn và nợ khó đòi .Nợ quá hạn là yếu tố tất nhiên trong tín dụng ngân hàng. Nếu có thể nói: Ngân hàng nào trong tín dụng mà không có nợ quá hạn thì chắc chắn ngân hàng đó báo cáo sai, hoặc vô lý trong hoạt động tín dụng. Nhất là trong tình hình hiện nay về khách quan: Cả nước đang đi theo cơ chế thị trường, sản xuất hàng hoá. Các yếu tố về mua bán hàng hoá, sản xuất - tiêu thụ luôn là bạn đồng hành của: ăn nên làm ra, phát triển lên hay lụi bại, sụp đổ của các đơn vị kinh tế, các nhà làm kinh tế, các yếu tố này liên quan chặt chẽ đến việc cho vay vốn của ngân hàng và việc sử dụng vốn vay của đơn vị. Nếu một tổ chức kinh tế vay vốn của ngân hàng mà sụp đổ thì điều tất yếu là ngân hàng đó cũng suy sụp nếu không nói là khốn đốn trong hoạt động. Trong tình hình kinh tế như vậy, tránh sao khỏi có đơn vị làm ăn được, đơn vị không làm ăn được do nhiều nguyên nhân dẫn đến sụp đổ và thế là ngân hàng cho vay vốn cũng bị kéo theo vào chiến trận phải xử lý! Về chủ quan của ngành ngân hàng, tránh sao được rủi ro do: Cơ chế qui định đề ra về cơ chế lãi suất từng thời kỳ, thời điểm, qui định về thời hạn nợ cho vay, nguyên tắc cho vay. . . . mà các đơn vị tín dụng, tổ chức ngân hàng phải thực thi thế thì tránh sao được có qui định phù hợp, có điều khoản nào đó còn chưa phù hợp. Thực tế việc qui định thời hạn nợ cho vay với đối tượng, món vay nào đó chưa cụ thể mà người, đơn vị tín dụng phải tự mình áp dụng, tự mình định kỳ hạn nợ cho món vay đó làm sao tránh được trong hàng ngàn món cho vay không có món nào định kỳ hạn không đúng. Tất yếu có món sai và tất yếu xảy ra nợ quá hạn. Đây là chưa tính đến trường hợp định kỳ hạn nợ có phù hợp với chu kỳ sản xuất, vòng quay của hàng hoá - tiền hàng. . . hay không?. Nói rằng nợ quá hạn là rủi ro: chưa chắc và nói rủi ro là có nợ quá hạn cũng không chính xác. Vì vậy phải phân tích, kiểm tra xem nợ quá hạn và thực trạng nợ quá hạn do đâu: Do đơn vị vay kinh doanh thua lỗ, do ngân hàng định kỳ hạn nợ sai, do yếu tố bất khả kháng của đơn vị vay vốn dẫn đến chưa trả được nợ… Qua bảng 3,4 cho thấy kết cấu dư nợ quá hạn của Eximbank và NH Công Thương Hoàn Kiếm Bảng 3:theo dõi nợ quá hạn của ngân hàng Eximbank (1997-2001) Nội dung 1997 1998 1999 2000 2001 Tổng dư nợ Quá hạn Tổng dư nợ Quá hạn Tổng dư nợ Quá hạn Tổng dư nợ Quá hạn Tổng dư nợ Quá hạn I. Ngắn hạn Trong đó: - DNNN - DN ngoài QD - Tư nhân - Thành phần khác 235 92,8 128 3,2 11 15,4 6,2 8,6 0,2 0,4 390 35 250 15 90 28,5 5 12 3,5 8 405 55 205 35 110 27 3 14 4 6 489 64 265 52 108 33,4 5,3 16,4 6,7 5 560 58 307 73 122 42,4 4,6 21 9,5 7,3 II. Trung + dài hạn 19,1 0 20,7 0 28 0 32,2 0 34,4 0 Đơn vị: Tỷ đồng (Nguồn : Phòng kinh doanh tín dụng ngân hàng Eximbank Hà nội) Qua bảng theo dõi nợ quá hạn trên ta thấy : - Chi nhánh rất cẩn thận trong cho vay trung, dài hạn. - Trong cho vay ngắn hạn rất chú ý tới chất lượng, hiệu quả vốn vay nên hạn chế được tỷ lệ nợ quá hạn và số dư nợ quá hạn tập trung ở hai loại hình chính là doanh nghiệp nhà nước và các công ty trách nhiệm hữu hạn. Còn cho vay tư nhân, nợ quá hạn so với tổng dư nợ thì thấp. Năm 1998 tỷ lệ nợ quá hạn lên 6,9% đến năm 1999 tỷ lệ nợ quá hạn là 6,2% giảm 0,7% so với năm 1998 và đến 2001 nợ quá hạn là 7,13% tổng dư nợ. Sự gia tăng nợ quá hạn báo hiệu công tác tín dụng sẽ, đã và đang rất khó khăn. Nợ quá hạn cũng tập trung phần lớn ở kinh tế nhà nước và công ty trách nhiệm hữu hạn. Mặc dù ban lãnh đạo chi nhánh hết sức quan tâm đến vấn đề này, song tìm hiểu nguyên nhân để có biện pháp giải quyết hữu hiệu thì là một việc không đơn giản. Bảng 4: Kết cấu dư nợ theo nợ quá hạn tại NHCTHK (1999-2001) Đơn vị : triệu đồng. Chỉ tiêu Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001 1.Doanh số cho vay 1.385.000 1.690.106 1.916.500 2. Doanh số thu nợ 1.409.310 1.695.019 1.823.740 3. Nợ quá hạn 37.364 31.395 17.430 (Nguồn : Phòng kinh doanh tín dụng ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm) Qua bảng số liệu trên ta nhận thấy, dư nợ quá hạn trong các năm 1999, năm 2000 và năm 2001 đã giảm dần về số tuyệt đối. Đặc biệt là giảm mạnh trong năm 2001, chỉ còn 17430 triệu đồng, giảm 44,5% so với năm 2000. Để đạt được kết quả này ngân hàng đã chú trọng trong việc thực hiện sàng lọc nhằm nâng cao thêm một bước chất lượng dư nợ đối với các khách hàng truyền thống. Ngân hàng đã tiếp tục tiếp thị tìm đến với những khách hàng mới, các dự án khả thi, để thay đổi cơ cấu dư nợ theo hướng giảm thiểu rủi ro. 2.2.2.Nguyên nhân nợ quá hạn và rủi ro tín dụng của hệ thống NHTM Các ngân hàng thương mại đều có đặc điểm: Được thành lập chủ yếu để kinh doanh tiền tệ và cung ứng dịch vụ cho thị trường nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Ngân hàng được thành lập có những bước thăng trầm, phát triển hoặc diệt vong. Các bước đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Ngân hàng là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ và cung ứng các sản phẩm, các loại dịch vụ và tài chính cho thị trường, chính vì vậy kinh doanh ngân hàng có những khác biệt so với các hoạt động kinh doanh khác. Tiền tệ là nguyên liệu của đầu vào nhưng cũng là sản phẩm của đầu ra. Tiền tệ lại luôn biến động và chịu sự chi phối của nhiều yếu tố. Yếu tố khách quan là sự quản lý của nhà nước, tâm lý, chính trị, xã hội. . . . yếu tố chủ quan là con người. Vì vậy hoạt động kinh doanh của ngân hàng có mối liên hệ chặt chẽ với thị trường. Với đặc điểm này mà trong kinh doanh của ngân hàng có nhiều rủi ro. Do vậy cần phải phân tích nguyên nhân có nợ quá hạn và rủi ro trong tín dụng của các ngân hàng thương mại nói chung va các ngân hàng cổ phần nói riêng như sau: *Nguyên nhân khách quan: Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển đổi, do vậy cơ chế, chế tài tín dụng, chính sách chế độ của nhà nước luôn luôn thay đổi và đi tới hoàn thiện. Quá trình thay đổi đó làm cho một số doanh nghiệp, chuyển hướng không kịp, không giải phóng được vốn và khó khăn trong việc trả nợ ngân hàng. Ví dụ như một số công ty xuất nhập khẩu tổng hợp khi vay vốn để mua nguyên liệu tại chỗ xuất khẩu, song cơ chế xuất khẩu trực tiếp của nhà nước thay đổi quá nhanh, thay đổi theo thời điểm mà trong thời điểm khi đơn vị đi vay thì chưa có. Trong khi đang chế biến nguyên liệu thì phát sinh, nên đơn vị không chuyển biến kịp, sản phẩm không xuất khẩu được, do đó đơn vị vay không có vốn trả nợ khi đến hạn và phát sinh nợ quá hạn. Việc nhà nước không cho xuất khẩu trực tiếp nên đơn vị phải thông qua một đơn vị trung gian khác, phải chịu lệ phí, chi phí, giá cả xuất. . . cũng làm cho thu nhập của đơn vị vay vốn (không được xuất khẩu trực tiếp) ảnh hưởng và đó cũng là nhân tố ảnh hưởng đến nợ quá hạn hiện đang tồn tại của đơn vị vay với chi nhánh ngân hàng. Phần lớn các doanh nghiệp có tỉ lệ vốn tự có thấp so với tổng số vốn lưu động tham gia vào kinh doanh nên bất kỳ một sự biến động nhỏ của thị trường và giá cả, điều kiện kinh doanh thì đều ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp với ngân hàng. Ngoài ra còn phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của khách hàng, trong thực tế đã phát sinh tại chi nhánh ngân hàng là: có một vài trường hợp cá nhân vay ngân hàng, khi chưa đến hạn trả nhưng người vay có tiền do bán hàng hoặc hoàn chỉnh một chu kỳ vay vốn, người vay không trả, chưa trả mà tiếp tục đưa vào chu kỳ khác do: sợ thủ tục vay của ngân hàng rườm rà, chờ đợi duyệt lâu,... nên tiếp tục kinh doanh bằng vốn đó. Đến khi đến hạn thì họ chưa giải quyết xong quy trình sau- nên không có vốn và phát sinh nợ quá hạn. Có trường hợp đã mất vốn vì kinh doanh sai mục đích vay vốn ở chu kỳ sau. Như vậy ý muốn chủ quan của người vay đã làm cho nợ quá hạn của ngân hàng phát sinh tăng lên. *Nguyên nhân chủ quan: Mặc dù chi nhánh rất quan tâm tới đào tạo đội ngũ cán bộ tín dụng. Ngay trong việc tuyển lựa cán bộ tín dụng cũng đặt ra yêu cầu trình độ đại học, đã qua công tác tín dụng ở các ngân hàng khác hiểu biết về các ngành kinh tế khác... Song điều bất cập vẫn sảy ra là trình độ bằng cấp thì nhiều song việc áp dụng vào thực tế công việc lại đòi hỏi phải năng động, nhanh nhạy, đòi hỏi đã là cán bộ tín dụng thì phải có năng lực quản lý, trình độ, kiến thức khoa học và thực tế, thực tiễn cuộc sống... để quyết đáp, tư vấn về một món cho vay phù hợp, đúng cơ chế tính toán được hiệu quả kinh tế đôi bên và lường được bất trắc xảy ra... Thực tế là còn nhiều cán bộ tín dụng còn trẻ chưa có bề dày kinh nghiệm trong vấn đề kiểm tra theo dõi chặt chẽ món vay, dẫn đến đơn vị vay sử dụng vốn sai mục đích, sử dụng vốn ngắn hạn sang xây cơ bản, mua sắm thiết bị... do vậy khi đến hạn không trả được nợ phải chuyển nợ quá hạn. Mặt khác việc đánh giá, nhận định về khách hàng, các thông tin, tư liệu về thực lực khách hàng không nắm rõ, nên việc thực hiện khâu điều tra cho vay chỉ làm trên hồ sơ còn thực tế không điều tra kỹ, dẫn đến cho vay không có thế chấp tài sản, thiếu và sai nguyên tắc và việc chuyển nợ quá hạn khi đến hạn là dĩ nhiên. Chương III Một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong kinh doanh tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam. Hiện nay trong điều kiện nền kinh tế thị trường vấn đề an toàn cho hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại là một vấn đề bức xúc nhất, vì rủi ro luôn là người bạn đường của lĩnh vực kinh doanh, vậy quá trình hoạt động kinh doanh của mình phải luôn tìm mọi cách đề phòng, né tránh và hạn chế đến mức tối đa khỏi sự xuất hiện rủi ro. Các biện pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại cùng với sự phát triển của công nghệ ngân hàng đã không ngừng được nhận thức và cải thiện cho phù hợp với điều kiện kinh tế của mỗi nước. Trong bài tiểu luận này em xin trình bầy một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong kinh doanh tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại Việt nam. Thứ nhất là: Các ngân hàng thương mại luôn quan tâm chăm lo đến việc đào tạo, đào tạo lại đội ngũ cán bộ ngân hàng giỏi về nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức tôt, có tư duy kinh tế và hiểu biết pháp luật. Đặc biệt là cán bộ tín dụng thì phải luôn có sự nhận thức nhanh, nhạy về thị trường, về xã hội, về đời sống kinh tế thực tế để có sự phán đoán, sự đánh giá, phân tích đúng về từng trường hợp khách hàng có quan hệ tín dụng với ngân hàng. Thứ hai là: Các ngân hàng thương mại phải tuân thủ tuyệt đối các chế tài tín dụng như cơ chế lãi suất, nguyên tắc cho vay, thế chấp tài sản, kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay. Đặc biệt là phân loại nợ từng thời kỳ, phân loại đơn vị khách hàng để có quyết sách quản lý nợ của mình đúng, hợp lý. Tuyệt đối không được đảo nợ. Thứ ba là: Xây dựng một chính sách tín dụng an toàn để định hướng cho quản lý rủi ro trong cho vay. Nhìn chung chính sách tín dụng chủ yếu có 3 mục tiêu chính: đạt lợi nhuận tối ưu, an toàn vốn và lành mạnh các khoản tín dụng. Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ làm nền tảng cho quản trị rủi ro tín dụng đúng đắn và đạt hiêụ quả. Tuỳ theo từng thời kỳ mà các nhà hoạch định chính sách đặt mục tiêu nào lên hàng đầu. Như Việt nam hiện nay trong môi trường kinh doanh của ngân hàng còn rất nhiều yếu tố không ổn định, bản thân các ngân hàng cũng._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc29947.doc
Tài liệu liên quan