Thanh toán tín dụng chứng từ (L/C) một số rủi ro tiềm ẩn đối với các ngân hàng Việt Nam

Tài liệu Thanh toán tín dụng chứng từ (L/C) một số rủi ro tiềm ẩn đối với các ngân hàng Việt Nam: ... Ebook Thanh toán tín dụng chứng từ (L/C) một số rủi ro tiềm ẩn đối với các ngân hàng Việt Nam

doc33 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 3695 | Lượt tải: 1download
Tóm tắt tài liệu Thanh toán tín dụng chứng từ (L/C) một số rủi ro tiềm ẩn đối với các ngân hàng Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI NÓI ĐẦU Hiện nay chúng ta đã là thành viên chính thức của tổ chức thương mại quốc tế WTO, đây là cơ hội lớn để đất nước ta hội nhập một cách đầy đủ với các nước trên thế giới. Đối với các doanh nghiệp Việt Nam đây là cơ hội để vươn ra biển lớn, giao lưu buôn bán thế giới. Còn đối với các ngành ngân hàng nói riêng việc hội nhập với nền kinh tế thế giới nói chung tạo điều kiện cho ngành ngân hàng phát triển các loại hình dịch vụ của mình, đặc biệt là các loại hình thanh toán quốc tế, vì việc trao đổi thanh toán quốc tế càng nhiều thì nhu cầu thanh toán quốc tế càng tăng, hầu hết các hoạt động mua bán quốc tế đều thực hiện thông qua ngân hàng bởi vì các doanh nghiệp xuất nhập khẩu đều nhận thấy thanh toán qua ngân hàng mang lại nhiều lợi ích và hạn chế được nhiều rủi ro. Trong thanh toán quốc tế có nhiều phương thức thanh toán khác nhau, mỗi phương thức có những ưu nhược điểm riêng. Nhưng ưu điểm hơn cả là phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, và trên thực tế nó cũng được sử dụng nhiều nhất chiếm khoảng 70 – 80 % trong thanh toán quốc tế. Tuy phương thức thanh toán L/C có nhiều ưu việt và được sử dụng nhiều nhưng không hẳn là không xảy ra những rủi ro cho các bên tham gia. Rủi ro có thể xảy ra với bất cứ bên nào tham gia thanh toán bằng phương thức này, và thực tế trong hoạt động thanh toán quốc tế của các ngân hàng thương mại Việt Nam thấy đã không ít những rủi ro xảy ra và gây ra những thiệt hại nặng nề cho tất cả các bên. Như vậy làm thế nào để phương thức thanh toán tín dụng chứng từ càng ngày càng phát huy được những ưu việt và hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro. Đó là lý do em chọn đề tài “ Thanh toán tín dụng chứng từ một số rủi ro tiềm ẩn đối với các ngân hàng Việt Nam” để tìm hiểu và trao đổi về bản chất, những nguyên nhân gây ra rủi ro và tìm ra các biện pháp phòng ngừa. Đề tài nghiên cứu ngoài lời nói đầu, kết luận, gồm 3 chương Chương 1: Những vấn đề cơ bản về thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ Chương 2: Những rủi ro thường gặp trong thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ. Chương 3: Một số giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ. CHƯƠNG I : NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 1.Thanh toán quốc tế Thanh toán quốc tế là một trong những điều kiện quan trọng nhất của hợp đồng thanh toán quốc tế hiểu một cách đơn giản thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả về tiền tệ phát sinh từ các quan hệ kinh tế, thương mại tài chính, tín dụng và các dịch vụ phi mậu dịch giữa các tổ chức kinh tế quốc tế, giữa các hãng, các cá nhân của các nước khác nhau để kết thúc một chu trình hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại bằng các hình thức chuyển tiền hay bù trừ trên các tài khoản tại ngân hàng. 1.1.Cơ sở hình thành và phát triển nghiệp vụ thanh toán quốc tế. + Phát sinh từ quá trình quốc tế hóa ngày càng gia tăng về thương mại, kinh doanh tiền tệ để hưởng phí dịch vụ và chênh lệch lại suất, tỷ giá. + Cơ sở kỹ thuật để thực hiện quan hệ thanh toán quốc tế là mạng thanh toán quốc tế giữa các thành viên tham gia là các quốc gia riêng biệt + Khác với thanh toán nội địa thanh toán quốc tế thường gắn liền với việc trao đổi đồng tiền của nước này sang đồng tiền của nước khác. + Phần lớn các giao dịch chi trả trong thanh thanh toán quốc tế đều thông qua hệ thống tài khoản tại ngân hàng đồng tiền thanh toán có thể là ngoại tệ, có thể là bản tệ song một đồng tiền bản tệ được đưa vào sử dụng trong hợp đồng mua bán thì nhất thiết nó phải là ngoại tệ của phía bên kia, hoặc đồng tiền của bên thứ ba chủ yếu là ngoại tệ mạnh. + Ngoài ngoại tệ là yếu tố cơ bản trong thanh toán quốc tế, thì chứng từ cũng là yếu tố quan trọng không kém. 1.2. Vai trò của thanh toán quốc tế - Tạo khả năng tăng doanh thu và lợi nhuận: Khi khách hàng đến với ngân hàng họ không chỉ sử dụng dịch vụ thanh toán quốc tế mà còn sử dụng nhiều dịch vụ khác như tín dụng, mở tài khoản thanh toán. Với các tiện lợi như vậy doanh thu và lợi nhuận của ngân hàng sẽ không ngừng tăng. - Tạo môi trường ứng dụng công nghệ ngân hàng: Để thực hiện các nghiệp cụ thanh toán quốc tế thì hầu hết các ngân hàng đều phải trang bị những công nghệ hiện đại nhất, vì yêu cầu của dịch vụ này là phải nhanh chóng và kịp thời - Giúp ngân hàng mở rộng thị trường thu hút ngày càng nhiều khách hàng: Trong thời buổi toàn cầu hóa như hiện nay thì nhu cầu của khách hàng là rất phong phú và đa dạng, đòi hỏi ngân hàng phải không ngừng đa dạng hóa loại hình sản phẩm và mở rộng thị trường. - Tạo điều kiện phân tán rủi ro, và tăng cường mối quan hệ giao lưu quốc tế đối với các ngân hàng. 1.3. Các phương thức thanh toán chủ yếu trong thanh toán quốc tế Mỗi phương thức thanh toán đều có lợi thế cho một bên và khả năng đem lại rủi ro cho bên đối tác. Vì vậy mà tùy theo từng loại hàng hóa, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể mà các bên đối tác trong quan hệ thương mại quốc tế sẽ thỏa thuận và lựa chọn một phương thức thanh toán cho phù hợp. Phương thức thanh toán là một cách thức nhất định để người bán thu đựợc tiền nhanh nhất an toàn nhất, người mua trả tiền và nhận đựợc hàng chuẩn xác đúng và đủ như hợp đồng đã ký kết. Phương thức thanh toán là một trong những điều kiện quan trọng nhất của hợp đồng thanh toán quốc tế. Hiện nay trên thế giới có rất nhiều phương thức thanh toán khác nhau nhưng chủ yếu là các phương thức sau: 1.3.1. Thanh toán bằng phương thức chuyển tiền - Khái niệm: Là phương thức thanh toán trong đó khách hàng (người trả tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho người khác (người thụ hưởng) ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền do khách hàng yêu cầu. - Đặc điểm: Các bên tham gia thanh toán gồm 4 bên Người yêu cầu chuyển tiền (người mua) Người thụ hưởng ( người bán) Ngân hàng nhận ủy nhiệm chuyển tiền Ngân hàng trả tiền Ngân hàng đóng vai trò là trung gian thanh toán phục vụ khách hàng, với vị trí trung gian giữa người chuyển trả tiền và người thụ hưởng, thực hiện lệnh của các bên liên quan. Vì vậy ngân hàng không thể can thiệp vào thiện chí của bên chi trả cho bên thụ hưởng. Các hình thức thanh toán + Chuyển tiền bằng thư: Là hình thức chuyển tiền trong đó lệnh thanh toán cảu ngân hàng chuyển tiền được thể hiện trong nội dung một bức thư mà ngân hàng này gửi yêu cầu ngân hàng thanh toán thực hiện. Thư chuyển tiền là chỉ thị của ngân hàng chuyển tiền đối với ngân hàng thanh toán yêu cầu ngân hàng này chi trả một khoản tiền đựợc ấn định cho người thụ hưởng đựợc chỉ định trong thư. + Chuyển tiền bằng điện: Là hình thức chuyển tiền trong đó lệnh thanh toán của ngân hàng chuyển tiền đựợc thể hiện trong nội dung một bức điện mà ngân hàng này gửi cho ngân hàng thanh toán thông qua truyền tin của mạng viễn thông như Swift Ưu điểm: Đây là phương thức thanh toán quốc tế đơn giản nhất nhanh gọn nhất Nhược điểm Do ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian nên không thể can thiệp vào thiện trí chi trả cho bên thụ hưởng. + Nếu áp dụng thanh toán trả tiền trước cho người bán thì rủi ro có thể sảy ra cho người mua khi mà không nhận đựợc hàng như trong hợp đồng đã ký, hoặc có thể không nhận đựợc hàng khi mà người bán bị phá sản. + Nếu áp dụng thanh toán trả tiền sau thì rủi ro với người bán khi người mua chây ì không chịu thanh toán, hoặc từ chối thanh toán không muốn nhận hàng do nhiều lý do khác nhau như: biến động giá bất lợi cho người mua, hàng lỗi mốt.... + Rủi ro với ngân hàng khi ngân hàng phục vụ người mua cho người mua vay thanh toán để nhập hàng, và ngân hàng phục vụ người bán cho người bán vay thu mua ... Nếu người mua và người bán gặp rủi ro thì ngân hàng cũng khó thu hồi đựợc vốn nợ. 1.3.2. Phương thức thanh toán mở tài khoản - Khái niệm: Là người bán xin mở một tài khoản (hoặc sổ) để ghi nợ người mua sau khi người bán đã hoàn thành việc giao hàng hay dịch vụ, định kỳ sau khi kiểm tra đối chiếu theo thỏa thuận giữa hai bên người mua trả tiền cho người bán. - Đặc điểm: Chỉ gồm hai bên tham gia thanh toán đó là bên mua và bên bán. Ngân hàng chỉ là người mở tài khoản và thực thi thanh toán, chỉ mở tài khoản đơn biên không mở tài khoản song biên, nếu người mua mở tài khoản để ghi thì nó chỉ là tài khoản theo dõi chư không có giá trị thanh quyết toán. - các hình thức thanh toán: + Trong phương thức thanh toán mở tài khoản chỉ có một hình thức thanh toán duy nhất đó là người bán sẽ mở tài khoản để theo dõi, ghi nợ người mua, bằng việc mở sổ, nhà xuất chỉ chỉ cần viết biên lai thu tiền khách hàng với kỳ vọng người mua sẽ thanh toán tại một thời điểm trong tương lai. + Phương thức này khác với phương thức giao hàng thu tiền ở chỗ khi gửi hàng theo phương thức này có nghĩa là người bán đồng ý cho khách hàng thanh toán chậm một thời gian, trong khi theo phương thức giao hàng thu tiền, hàng đựợc chuyển lên tàu nhưng chưa đựợc bán, có nghĩa là hàng chỉ thuộc sở hữu của khách hàng khi người mua đã hoàn thành nghĩa vụ thanh toán. + Cơ sở để hai bên thanh toán Căn cứ để ghi nợ của của người xuất khẩu là hóa là hóa đơn giao hàng. Căn cứ nhận nợ của người nhập khẩu dựa vào giá trị của hóa đơn giao hàng và dựa vào thực tế hàng đã nhận. Thanh toán trả cho nhau dưới hình thức chuyển tiền bằng thư hoặc điện phải được thỏa thuận giữa hai bên. Hình thức này tương tự hình thức thanh toán sau của thanh toán chuyển tiền. Ưu nhược điểm của phương thức thanh toán mở tài khoản + Ưu điểm: Phương thức này thuận lợi cho bên mua được sử dụng hàng hóa thường xuyên, thậm chí cả lúc chưa đưa đủ tiền, và thuận lợi cho bên bán tiêu thụ được hàng hóa và giữ được thi trường truyền thống. Phương thức này sẽ thuận tiện nếu như người mua và người bán có mối quan hệ lâu dài và đáng tin cậy, người mua có độ tín nhiệm cao. + Nhược điểm: Đây là phương tức thanh toán rủi ro nhất, do không có chứng từ hay có ngân hàng làm đảm bảo. Nhà xuất khẩu hoàn toàn tin tưởng vào người mua, và nếu như người mua không thanh toán, thì nhà xuất khẩu không những không đòi được tiền mà còn phải mất một khoản phí Nhà xuất khẩu giao hàng trước khi nhận được tiền và không kiểm soát được hàng hoá cũng như việc tiêu thụ. Có thể xảy ra trường hợpngười mua mất khả năng thanh toán do các nguyên nhân bất khả kháng từ bên ngoài, khi đó nhà xuất khẩu lại bị thiệt 1.3.3. Phương thức thanh toán nhờ thu - Khái niệm: Là phương thức thanh toán mà người xuất khẩu sau khi giao hàng hoặc cung ứng một dịch vụ nào đó cho nhà nhập khẩu tiến hành ủy thác cho cho ngân hàng thu hộ tiền trên cơ sở trên cơ sở hối phiếu hoặc chứng từ do nhà nhập khẩu lập. - Đặc điểm: Các bên thanh toán gồm 4 bên Người có yêu cầu ủy nhiệm thu Ngân hàng nhận ủy thác thu Ngân hàng xuất trình Người trả tiền(bên mua) Ở phương thức này ngân hàng chỉ đóng vai trò là người thu hộ người bán chứ không có trách nhiệm gì đến việc trả tiền của người mua. - Các hình thức thanh toán: Dựa trên cơ sở cách thức yêu cầu thanh toán của bên bán có thể phân biệt thành hai hình thức thu + Nhờ thu trơn: là phương thức thanh toán trong đó bên ủy thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền từ người mua căn cứ vào hối phiếu do chính bên bán lập,các giấy tờ liên quan đến giao dịch bên bán đã chuyển cho bên mua, không qua ngân hàng, như vậy giữa sự trr tiền và nhận hàng có sự tách biệt nhau. + Nhờ thu kèm chứng từ: Là phương thức thanh toán trong đó bên bán ủy nhiệm cho ngân hàng thu hộ tiền ở người mua không chỉ căn cứ vào bộ chứng từ hàng hóa gửi kèm theo với điều kiện người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền ( đối với hối phiếu có kỳ hạn) sẽ trao bộ chứng từ cho người mua hàng. Như vậy trong nhờ thu kèm chứng từ, người bán ngoài việc ủy thác cho ngân hàng thu hộ còn nhờ ngân hàng khống chế chứng từ hàng hóa đối với người mua, đây chính là sự khác nhau cơ bản giữa nhờ thu trơn và nhờ thu kèm chứng từ. Ưu điểm: Với phương thức thanh toán này người bán sẽ ủy nhiệm cho ngân hàng thu hộ, do có trình độ chuyên môn cao và thu ở cùng địa bàn với người mua nên việc thu tiền sẽ thuận lợi hơn, đạt hiệu quả cao hơn. Nhược điểm: + Với phương thức thanh toán nhờ thu trơn: Sẽ không đảm bảo được quyền lợi cho bên bán, do giữa sự trả tiền và nhận hàng có sự tách rời nhau, không ràng buộc lẫn nhau, người mua có thể nhận hàng mà không chịu trả tiền hoặc trì hoãn việc trả tiền, ngựợc lại trong trường hợp trả tiền trước thì người mua cũng có thể gặp rủi ro khi mà chưa biết hàng chuyển giao có đúng theo hợp đồng hay không. + Còn với phương thức nhờ thu kèm chứng từ tuy đã có sự ràng buộc giữa việc thanh toán tiền và nhận hàng của người mua, nhưng điều đó mới chỉ đảm bảo khống chế hàng hóa chứ chưa khống chế đựợc tiền của người mua. Người mua có thể kéo dài việc trả tiền bắng cách chưa nhận hàng hóa hoặc không thanh toán khi thị trường biến động bất lợi cho họ. 1.3.4. Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Đây là phương thức thanh toán quốc tế được sử dụng rộng rãi nhất và ưu việt hơn cả trong thanh toán quốc tế, chiếm khoảng 70% giá trị thanh toán. Lý do là nó bảo đảm quyền lợi một cách tương đối cho cả người mua và người bán. Phương thức thanh toán này sẽ đựơc nghiên cứu kỹ ở phần sau. 1.3.5. Các phương thức thanh toán khác * Thư bảo đảm trả tiền L/G: Là việc ngân hàng của người mua sẽ viết thư đảm bảo trả tiền cho người bán theo yêu cầu của người mua gọi là “ thư đảm bảo trả tiền” đảm bảo rằng sẽ thanh toán trả tiền khi bên bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng tại địa điểm thỏa thuận.Đây thực chất là hình thức ngân hàng bảo lãnh cho việc thanh toán của người nhập khẩu. * Thanh toán qua tài khoản treo ở nước ngoài: Là phương thức thanh toán mà nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu thỏa thuận theo tài khoản ở nước người nhập khẩu để ghi có số tiền của người xuất khẩu, đồng thời số tiền này được dùng để mua lại hàng hóa ở nước người nhập khẩu, phương thức này thích hợp với việc mua, bán, đền bù. 2. Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ 2.1. Khái niệm Thư tín dụng (L/C) là một cam kết thanh toán của ngân hàng cho người xuất khẩu nếu như họ xuất trình được một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với các điều khoản và điều kiện của L/C. Được hình thành trên cơ sở của hợp đồng ngoại thương, song sau khi đựơc thiết lập, thư tín dụng lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng ngoại thương. Ngân hàng mở L/C chỉ căn cứ vào bộ chứng từ mà nhà xuất khẩu trình và nội dung của L/C đã đựơc mở để trả tiền cho người bán.Việc thanh toán của ngân hàng không phụ thuộc vào thực trạng hàng hóa. 2.2. Đặc điểm - Ngân hàng và các bên tham gia liên quan chỉ giao dịch trên cơ sở chứng từ, không dựa trên hàng hóa hoăc dịch vụ. - L/C phải chỉ rõ là hủy ngang hay không hủy ngang, nếu không chỉ rõ thì sẽ đựơc coi là không hủy ngang. - Chứng từ đựơc coi như không phù hợp với điều khoản quy định trong L/C nếu: Chứng từ mâu thuẫn với các điều khoản quy định của L/C hay các chứng từ mâu thuẫn nhau. - Ngân hàng phát hành có một khoảng thời gian hợp lý không quá 7 ngày làm việc sau khi nhận đựơc chứng từ để kiểm tra chứng từ và xác định chứng từ phù hợp hay không phù hợp, nếu quá thời gian ngân hàng phát hành không có quyền thông báo sai sót. - Ngân hàng không chịu trách nhiệm kiểm tra những chứng từ không quy định trong L/C. 2.3. Nội dung chủ yếu của một thư tín dụng * Số hiệu, địa điểm, ngày mở L/C - Số hiệu: Số hiêu dùng để tra đổi thư từ, điện tín có liên quan đển việc thực hiện thư tín dụng. Tất cả các thư tín dụng đều phải có số liệu riêng. - Địa điểm ở L/C: Là nơi ngân hàng phát hành L/C cam kết trả tiền cho người xuất khẩu. Ngày mở L/C: là ngày bắt đầu phát sinh cam kết của ngân hàng mở L/C với người xuất khẩu, là ngày bắt đầu tính thời hạn hiệu lực của L/C, là căn cứ để người xuất khẩu kiểm tra xem người nhập khẩu thực hiện việc mở L/C có đúng thời hạn như đã quy định trong hợp đồng không. * Tên, địa chỉ những người có liên quan - Các thương nhân - Các ngân hàng tham gia trong phương thức tín dụng chứng từ * Số tiền của thư tín dụng: Vừa đựơc ghi bằng số vừa đựơc ghi bằng chữ thống nhất với nhau, tên của đơn vị tiền tệ phải đựơc ghi rõ ràng. * Thời hạn hiệu lực, thời hạn trả tiền, thời hạn giao hàng - Thời hạn hiệu lực của thư tín dụng: Là thời hạn mà ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho nhà xuất khẩu, nếu người này xuất trình đủ bộ chứng từ trong thời hạn đó và phù hợp với những quy định trong L/C. * Những nội dung về hàng hóa: Bao gồm tên hàng, số lượng, trọng lượng, giá cả, quy cách phẩm chất, bao bì, mã hiệu…. * Những nội dung về vận tải, giao nhận hàng hóa: Baôi gồm các điều kiện giao hàng, nơi gửi, nơi giao hàng, hình thức vận chuyển, cách giao hàng…. *Những chứng từ người xuất khẩu phải xuất trình: Đây là nội dung then chốt trong thư tín dụng, bởi vì bộ chứng từ quy định trong thư tín dụng là một bằng chứng của người xuất khẩu chứng minh rằng mình đã đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng.Thông thường bao gồm: Bản gốc thư tín dụng Hóa đơn thương mại Giấy tờ bảo hiểm Vận đơn Giấy chứng nhận kiểm định, giấy chứng nhận xuất xứ Bản kê khai hàng hóa Và một số giấy tờ khác theo yêu cầu của người nhập khẩu * Cam kết trả tiền của ngân hàng phát hành L/C: nội dung này rằng buộc trách nhiệm mở L/C, cam kết trả tiền bằng uy tín và trách nhiệm của mình đối với khách hàng. * Những điều khoản đặc biệt khác: Ngân hàng mở L/C nhập khẩu có thể có thêm những nội dung khác như quy định có thể hoàn trả bằng điện thanh toán. * Chữ ký của ngân hàng phát hành L/C: Mang tính chất pháp lý tùy ý. 2.4. Ưu nhược điểm của thanh toán tín dụng chứng từ * Ưu điểm - Đối với nhà xuất khẩu: Sẽ đựơc bảo đảm thanh toán nếu tuân thủ các điều kiện điều khoản của L/C và nhậ được thanh toán nhanh nhất, đựơc ngân hàng giúp đỡ tư vấn, giảm thiểu các rủi ro, ngoài ra còn có thể sử dụng L/C như là một trong những phương thức tài trợ cho xuất khẩu như chiết khấu bộ chứng từ. - Đối với nhà nhập khẩu: Chỉ phải thanh toán khi nhận được bộ chứng từ phù hợp với các điều kiện và điều khoản của L/C khi nhận hàng, người mua đựơc sự trợ giúp của ngân hàng trong việc bảo đảm các điều kiện của L/C. Nhà nhập khẩu sẽ dễ dàng trong việc kêu gọi tài trợ vốn từ phía các ngân hàng, và đựơc các điều khoản của UCP bảo vệ. - Đối với ngân hàng khi thực hiện nghiệp vụ này thì cũng thu đựơc lợi ích lớn từ khoản phí dịch vụ, tạo điều kiện mở rộng kinh doanh tín dụng, bảo lãnh quốc tế và kinh doanh ngoại tệ. * Nhược điểm - Ngân hàng chỉ giao dịch trên cơ sở chứng từ, nên nếu người bán xuất trình đầy đủ chứng từ thì ngân hàng sẽ thanh toán ngay bất kể hàng hóa tốt hay xấu. Điều này sẽ gây ra rủi ro và thiệt hại cho người mua nếu như người bán cố ý định lừa đảo, lập các chứng từ hàng hóa giả mạo. - Đối với nhà xuất khẩu họ cũng phải chịu những rủi ro nếu như không đáp ứng đựơc các quy định của L/C, thì việc thanh toán sẽ bị trì hoãn thậm chí có thể bị từ chối thanh toán. - Với tư cách là thành viên tham gia vào phương thức thanh toán nên ngân hàng bị ràng buộc bởi trách nhiệm của mình với người mua và người bán. Ngân hàng là người cam kết thanh toán cho người bán thay cho người mua, nên nhiều khi cũng gặp phải những rủi ro. 2.5. Vai trò của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Đây là phương thức thanh toán ưu việt nhất, nó đã dung hòa, cân bằng đựơc giữa quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia, chúng đan xen và ràng buộc lẫn nhau tạo nên một sự đảm bảo và chắc chắn hơn cả trong việc thanh toán tiền hàng. Như vậy có thể nói thanh toán L/C có vai trò rất quan trọng trong thanh toán quốc tế. * Thư tín dụng cung cấp hành lang pháp luật cho thương mại quốc tế: Vì khi thư tín dụng đựơc các bên lựa chọn là hình thức thanh toán hợp đồng và thư tín dụng đựơc mở và thông báo cho người thụ hưởng thì các bên tham gia đều phải tuân thủ theo 49 điều đựơc quy định trong UCP 600. * Thư tín dụng giúp tăng khả năng tài trợ vốn - Thỏa mãn nhu cầu tài chính của người bán và người mua qua việc xác định hạn mức tín dụng ngân hàng trên cơ sở đề nghị của hai bên. - Có thể cho phép người mua mua hàng với giá thấp hơn cũng như việc trả tiền đựơc kéo dài hơn so với phương thức mở tài khoản hoặc nhờ thu. - Thư tín dụng cung cấp giao dịch đặc biệt với mức tín dụng ngân hàng độc lập và lời hứa trả tiền rõ ràng. - Giảm tỷ lệ nhất định rủi ro hối đoái và rủi ro chính trị. * Thư tín dụng đảm bảo kiểm tra chứng từ cẩn thận trước khi gửi tới người mua - Người mua đựơc đảm bảo rằng chứng từ họ yêu cầu thưo thư tín dụng phải được xuất trình phù hợp với những điều khoản và điều kiện của thư tín dụng. - Người mua đựơc đảm bảo rằng chứng từ xuất triònh phải đựơc kiểm tra bởi một kỹ năng chuyên môn ngân hàng trong hoạt động thư tín dụng. 2.6. Các loại thư tín dụng Theo công dụng của L/C người ta phân L/C thành các loại sau: * L/C có thể hủy ngang: Là loại L/C có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ mà không cần thông báo cho người hưởng lợi. Loại L/C này thường chỉ đựợc sử dụng trong các trường hợp sau: - Việc giao hàng giữa công ty mẹ và công ty con - Giữa người mua và người bán có quan hệ tín dụng rất tốt Vì nó chứa đựng rủi ro với người bán khi hàng hóa đang trên đường mà L/C bị hủy bỏ hoặc thay đổi. Ngược lại nó lại tạo cho người mua một sự chủ động tối đa. * L/C không thể hủy ngang: Đây là loại L/C sau khi đã đựơc ngân hàng mở thì không thể sửa đổi, bổ sung hay hủy bỏ trong thời gian hiệu lực của nó nếu không có sự thỏa thuận của các bên tham gia. L/C không thể hủy ngang bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia nên nó được sử dụng một cách rộng rãi trong thương mại quốc tế. * L/C có điều khoản đỏ: Là loại L/C đặc biệt, trong đó có một điều khoản ghi rõ ngân hàng phát hành sẽ chuyển tiền hoặc ủy quyền cho ngân hàng thông báo (ngân hàng xác nhận, ngân hàng chiết khấu) để thực hiện ứng trước cho người hưởng một số tiền nhất định, thông thường tính theo tỷ lệ phần trăm so với giá trị L/C và phải xuất trình chứng từ tại ngân hàng mà họ nhận tiền ứng trước và phải bồi hoàn lại số tiền nếu như họ không xuất trình đủ chứng từ hợp lệ trong thời gian quy định. Số tiền ứng trước được thực hiện theo yêu cầu của người mở L/C. Rủi ro trong thanh toán L/C có điều khảon đỏ là tiền ứng trước có thể đựơc dùng không đúng mục đích, chứng từ nhà xuất khẩu xuất trình có thể không phù hợp hoặc người xuẩt khẩu không hoàn thành việc sản xuất hàng hóa mà cũng không hoàn lại được tiền ứng trước cho ngân hàng. * L/C tuần hoàn: Là loại L/C không thể hủy ngang mà sau khi sử dụng xong hoặc sau khi hết hạn hiệu lực L/C sẽ tự động khôi phục lại giá trị như cũ mà không cần mở L/C mới. L/C tuần hoàn có thể khống chế việc thực hiện tuần hoàn theo hai cách; - Theo thời gian: Là khống chế thời gian hiệu lực của L/C trong mỗi lần tuần hoàn và tổng giá trị của L/C. Có thể là L/C tích lũy hoặc không tích lũy - Theo giá trị: Là L/C được phép khôi phục lại giá trị ngay khi giá trị cũ đã được sử dụng loại này ít được sử dụng vì nó tạo ra cam kết vô hạn của ngân hàng phát hành, có ba cách tuần hoàn: Tự động, không tự động và hạn chế. Rủi ro: Với thời gian dài như vậy thì tình hình tài chính của người nhập khẩu có thể xấu đi, hoặc có thể những biến động trên thịư trương tiêu thụ, hàng hóa bị ứ đọng mà người nhập khẩu vẫn phải tiếp tục nhập hàng về, không hủy bỏ được L/C. Vì vậy loại L/c này chỉ đựơc sử dụng trong việc mua bán hàng hóa với số lượng đều đặn và nhiều lần trong năm. * L/C chuyển nhượng: Là một L/C mà người hưởng đầu tiên có thể chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần giá trị L/C cho một hoặc nhiều người hưởng lợi thứ hai. Trong L/C chuyển nhượng, người hưởng lợi thứ nhất chỉ là trung gian môi giới giữa người cung cấp hàng hóa và người mua cuối cùng và L/C chỉ đựơc chuyển nhượng một lần. Như vậy người hưởng lợi thứ hai là chịu rủi ro lớn nhất, họ chịu rủi ro không những về người mua và ngân hàng phát hành mà còn chịu rủi ro từ ngân hàng chuyển nhượng và người hưởng lợi thứ nhất. * Nhượng tiền thu được: là việc người hưởng lợi từ L/C chỉ thị cho ngân hàng phục vụ mình chuyển thẳng một phần tiền thu đựợc từ L/C cho người cung cấp hàng hóa cho họ. * L/C giáp lưng: Khi người nhận được một L/C không phải là L/C chuyển nhượng song không thể tự cung cấp hàng hóa, khi đó họ có thể thỏa thuận với ngân hàng của mình phát hành ra một L/C thứ hai với nội dung tương tự cho người cung cấp hàng hóa. * L/C dự phòng: Là loại tín dụng chứng từ hoặc thỏa thuận tương tự * L/C xác nhận: Là loại thư tín dụng không thể hủy ngang được một ngân hàng xác nhận, điều đó có nghĩa là ngoài cam kết thanh toán của ngân hàng phát hành còn có thêm cam kết thanh toán của ngân hàng xác nhận. * L/C trả ngay: Là loại L/C không thể hủy ngang và phải thanh toán ngay khi hối phiếu được xuất trình. * L/C trả chậm: là loại L/C trong đó ngân hàng phát hành cam kết thanh toán cho người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng một số ngày sua khi bộ chứng từ hoàn hảo được xuất trình hoặc sau ngày giao hàng. 2.7 Các bên tham gia trong thanh toán L/C Thông thường trong thanh toán L/C thì thuờng gồm có các bên sau đây: + Người yêu cầu mở L/C (tức nhà nhập khẩu) + Người thụ hưởng (tức nhà xuất khẩu) + Ngân hàng phát hành L/C + Ngân hàng thông báo L/C Trong một số trường hợp cụ thể có có thêm một trong số các bên tham gia sau đây: + Ngân hàng xác nhận + Ngân hàng hoàn trả + Ngân hàng chiết khấu + Ngân hàng chuyển nhượng 2.8 Quy trình nghiệp vụ thanh toán L/C Quy trình thanh toán L/C dạng đơn giản Hợp đồng ngoại thương Nhà nhập khẩu Nhà xuất khẩu Ngân hàng nhập khẩu Ngân hàng xuất khẩu (1) (7a) (4) (7b) (6a) (5) (3) (2) (6b) (1) Người nhập khẩu làm đơn xin mở L/C gửi ngân hàng phục vụ mình, yêu cầu mở thư tín dụng theo thỏa thuận trong hợp đồng (2) Ngân hàng của nhà nhập khẩu dựa vào đơn xin mở L/C mở thư tín dụng cho người xuất khẩu thông qua ngân hàng của nhà nhập khẩu (3) Ngân hàng của nhà nhập khẩu được L/C kiểm tra tính trung thực và thông báo cho nhà xuất khẩu ( cũng có thể yêu cầu xác nhận trước khi thông báo) (4) Nhận được L/C người xuất khẩu tiến hành giao hàng và lập chứng từ theo quy định của L/C (5) Nhà xuất khẩu gửi chứng từ tới ngân hàng phục vụ mình để ủy quyền đòi tiền (6a) Ngân hàng nhận được chúng từ kiểm tra sự phù hợp với quy định của L/C thực hiện chiết khấu theo tỷ lệ quy định của ngân hàng đó (6b) Đồng thời làm thủ tục gửi chứng từ đi đòi tiền ngân hàng mở thư tín dụng (7a) Ngân hàng mở nhận được chứng từ đòi tiền khi hợp đồng theo L/C tiến hành ghi nợ tài khoản nhà nhập khẩu và trao chứng từ cho người nhập khẩu đi nhận hàng (7b) Đồng thời trả tiền theo lệnh của ngân hàng xuất khẩu. CHƯƠNG II : NHỮNG RỦI RO THƯỜNG GẶP TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 1. Khái niệm rủi ro Theo một cách chung nhất, rủi ro được hiểu là sự việc xảy ra ngoài ý muốn chủ quan của con người, đem lại những hậu quả mà người ta không thể dự đoán được. Còn rủi ro trong thanh toán quốc tế là những rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện thanh toán quốc tế liên quan đến giao dịch quốc tế, nguyên nhân phát sinh từ quan hệ giữa các bên tham gia thanh toán quốc tế như: Nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu, các ngân hàng hoặc do những nguyên nhân khách quan khác gây nên như thiên tai, chiến tranh, chính trị. 2. Những biểu hiện chính của rủi ro trong thanh toán L/C Cũng như rủi ro trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng, rủi ro trong thanh toán quốc tế không hẳn là những mất mát, thiệt hại xảy ra cho các ngân hàng do không thu hồi được vốn đã thanh toán cho nước ngoài, nhiều khi còn là việc không thu vốn đúng hạn hoặc làm phát sinh chi phí vô ích. Trong thanh toán quốc tế các ngân hàng hay gặp một số loại rủi ro sau: + Rủi ro về mặt kỹ thuật nghiệp vụ + Rủi ro về đạo đức kinh doanh + Rủi ro về cơ chế chính sách nhà nước thay đổi 3. Các loại rủi ro trong thanh toán L/C của ngân hàng thương mại a. Rủi ro kỹ thuật nghiệp vụ Rủi ro kỹ thuật nghiệp vụ là những rủi ro hình thành do những sai xót mang tính kỹ thuật trong quá trình thanh toán như sự khác biệt giữa bộ chứng từ thanh toán với nội dung L/C, hay việc các bên tham gia thực hiện sai một khâu trong quy trình nghiệp vụ thanh toán hoặc trái với điều khoản của UCP 600. Hiện nay trong thanh toán quốc tế ở Việt Nam thường sử dụng 4 phương thức đó là: phương thức chuyển tiền, phương thức mở tài khoản, phương thức nhờ thu, phương thức tín dụng chứng từ (L/C), trong đó phương thức tín dụng chứng từ tỏ ra ưu việt hay được dùng nhất trong ngoại thương Việt Nam hiện nay, song nó không phải là phương thức thanh toán đảm bảo tránh được rủi ro cho các bên tham gia một cách tuyệt đối. Vì vậy một mặt phải hiểu và thực hiện đúng theo tinh thần bản điều lệ UCP 600 mặt khác phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật như trong các nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng để hạn chế rủi ro. * Rủi ro với ngân hàng mở thư tín dụng Ngân hàng mở là ngân hàng phát hành L/C cam kết thanh toán đối với phương thức trả ngay, hoặc chấp nhận và thanh toán các hối phiếu trả chậm cho người hưởng lợi nều các chứng từ do người bán lập thỏa mãn tất cả các điều khoỏa và điều kiện của L/C chính vì tính chất thay thế mặt người mua, cam kết trả tiền có điều kiện cho người bán để người bán tin tưởng và yên tâm giao hàng đã làm xuất hiện khả năng xảy ra rủi ro đối với ngân hàng mở. Các rủi ro có thể do chính bản thân ngân hàng mở gây ra, nhưng phần nhiều là xuất phát từ phía nhà nhập khẩu ngưòi xin mở L/C, do ngân hàng không nắm được uy tín và khả năng thanh toán của họ hoặc gặp rủi ro dẫn đến thua lỗ, thậm chí phá sản, các rủi ro mà ngân hàng mở thường gặp phải là: - Rủi ro về tỷ giá: khi nhập hàng nhà nhập khẩu không thể lường trước được mức độ trượt giá đồng nội tệ so với ngoại tệ mạnh nên khi nhập hàng về tỷ giá trượt mạnh, đối với những mặt hàng giá bán cạnh tranh không thể tăng được, nhà nhập khẩu không muốn nhận hàng vì sợ lỗ. Trong trường hợp đó nếu tỷ lệ ký quỹ không thể bù đắp được tỷ lệ trượt giá của nội tệ thì rủi ro có thể xảy ra với ngân hàng mở. - Rủi ro trong quá trình vận chuyển: Trong quá trình vận chuyển hàng hóa từ nước nhà xuất khẩu đến nước nhà nhập khẩu có thể xảy ra một số rủi ro do đó để phân chia chi phí và rủi ro một cách cụ thể cho từng bên ICC đã ban hành “ các điều khoản thương mại quốc tế” để các bên lựa chọn. Nhà nhập khẩu thích chọn những điều kiện với chi phí nhập hàng càng thấp càng tốt mà ít khi coi trọng đến hậu quả rủi ro có thể xảy ra. Do đó nếu rủi ro xảy ra trong quá trình vận chuyển như mất mát, hư hỏng, va chạm, đắm tàu mà trách nhiệm không thuộc về hãng tàu và nhà nhập khẩu đã không mua bảo hiểm, nhà nhập khẩu không sẵn lòng thanh toán, ngân hàng mở có thể gặp rủi ro. - Rủi ro nhà nhập khẩu mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản. Đầy là loại rủi ro gây thiệt hại nặng nề nhất cho ngân hàng mở._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc36095.doc
Tài liệu liên quan