Thực trạng & biện pháp nâng cao hiệu quả Nhập khẩu máy móc, thiết bị của Công ty COALIMEX

mở đầu Hiện nay, trên thế giới, các nước dành ưu tiên cao cho việc phát triển kinh tế, lấy lợi ích quốc gia làm chuẩn mực khi thực hiện chính sách đa dạng hoá và đa phương hoá quan hệ đối ngoại, tăng cường hợp tác quốc tế. Trong bối cảnh đó, Thương mại quốc tế đóng một vai trò quan trọng vào sự thành công của cuộc Công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Đặc biệt là lĩnh vực nhập khẩu đã từ lâu chiếm một vị trí quan trọng trong sự tồn tại và phát triển kinh tế của mọi quốc gia. Thương mại quốc

doc39 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1121 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Thực trạng & biện pháp nâng cao hiệu quả Nhập khẩu máy móc, thiết bị của Công ty COALIMEX, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
tế thông qua hoạt động nhập khẩu đem lại lợi ích cho nền kinh tế và mặt khác làm tăng thu nhập quốc dân nhờ tranh thủ được lợi thế so sánh trao đổi với nước ngoài, phát huy những tiềm năng, những lợi thế vốn có của đất nước, tạo thêm tích luỹ cho quá trình tái sản xuất trong nước. Kinh tế thị trường ngày càng phát triển, yêu cầu quản lý ngày càng cao. Trong những bước đầu tiên tham gia thị trường thế giới , các doanh nghiệp Việt nam gặp nhiều khó khăn, phức tạp do điều kiện có hạn và buôn bán trên thị trường thế giới, còn hạn chế. Do đó yêu cầu các doanh nhgiệp kinh doanh XNK phải quản lý được hoạt động của mình nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao hiệu qủa kinh doanh. Nhận thức được sự phức tạp và tầm quan trọng của hoạt động nhập khẩu, cũng như trước đòi hỏi thực tế của công tác nhập khẩu, cùng với những kiến thức được trang bị tại nhà trường và những tìm hiểu thực tế trong đợt thực tập vừa qua tại Công ty xuất nhập khẩu và hợp tác quốc tế COALIMEX , để đi sâu nghiên cứu vấn đề em xin mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu " Thực trạng và biện pháp nâng cao hiệu quả nhập khẩu máy móc, thiết bị của Công ty COALIMEX " cho luận văn tốt nghiệp của mình. Đề tài này nhằm mục đích trình bày những vấn đề cốt lõi của nghiệp vụ kinh doanh nhập khẩu, những lợi ích mang lại cho nền kinh tế quốc dân và thực trạng hoạt động nhập khẩu của Công ty COALIMEX. Qua đó rút ra những mặt mạnh cũng như những tồn tại chủ yếu trong lĩnh vực nhập khẩu, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm giải quyết những tồn tại đó và đẩy mạnh hơn nữa những hoạt động nhập khẩu của Công ty. Đây là một đề tài rộng và phức tạp lại có những hạn chế về trình độ cũng như về thời gian nên chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sai sót. Kính mong sự góp ý bổ sung của các thầy cô giáo và các bạn để đề tài được hoàn thiên hơn. Kết cấu luận văn gồm 3 chương Chương 1: Một số vấn đề cơ bản và hiệu quả nhập khẩu của Công ty COALIMEX. Chương 2: Thực trạng hoạt động nhập khẩu máy móc thiết bị của Công ty COALIMEX. Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả nhập khẩu máy móc thiết bị của Công ty COALIMEX. Chương I Lý luận chung về hiệu quả nhập khẩu của Công ty COALIMEX I. Quan niệm về hiệu quả nhập khẩu. * Để tồn tại và phát triển thì bất cứ một doanh nghiệp nào cũng phải quan tâm đến mục đích cuối cùng đó là hiệu quả. Hiệu quả luôn là mục tiêu phấn đấu của mọi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Vấn đề đặt ra cho bất cứ một doanh nghiệp nào muốn trụ vững trong nền kinh tế thị trường thì phải đảm bảo lấy thu bù chi và có lãi sau mỗi vụ kinh doanh. Lãi ở đây được xem như hiệu quả hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp phải tìm mọi cách thực hiện bằng được mục tiêu thu dược lợi nhuận tối đa thì mới có điều kiện mở rộng và phát triển kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. ở đây, trong doanh nghiệp thương mại mà hoạt động nhập khẩu là chính thì hiệu quả kinh doanh được hiểu là hiệu quả nhập khẩu. * Trước hết, muốn hiểu được hiệu quả nhập khẩu là gì thì chúng ta phải hiểu được " nhập khẩu " là gì ? + Nhập khẩu là việc mua bán hàng hoá, dịch vụ của nước ngoài cho sản xuất và tiêu dùng trong nước. Nhập khẩu là hoạt động kinh doanh thương mại ở phạm vi quốc tế, là một trong hai hoạt động cấu thành nghiệp vụ ngoại thương đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. * Trong kinh doanh, hiệu quả luôn là mối quan tâm trước nhất của tất cả các doanh nghiệp, có nhiều cách nhìn nhận khác nhau về hiệu quả nhập khẩu, nhưng quan niệm phổ biến cho rằng hiệu quả nhập khẩu là hiệu số giữa tổng kết quả thu được và chi phí thu với chi phí nhập khẩu bỏ ra để đạt được kết quả đó, nó phản ánh kết quả của quá trình nhập khẩu. Nhưng quan niệm này bộc lộ điều chưa hợp lí là đồng nhất với hiệu quả nhập khẩu. Với hoạt động nhập khẩu , kết quả là sự chênh lệch giữa chi phí ngoại tệ nhập khẩu và giá trị nội tệ của hàng nhập khẩu. Còn hiệu quả nhập khẩu xuất hiện do sự khác nhau tồn tại giữa các vùng kinh tế, giữa các quốc gia, sự khác nhau về chi phí sản xuất trong nước của các hàng hoá khác nhau. Chính sự khác nhau đó tạo cơ sở cho trao đổi ngoại thương. Như vậy kết quả chỉ là cơ sở để tính hiệu quả đạt được sau mỗi kỳ kinh doanh. Xét về mặt lý luận, ý nghĩa to lớn của hiệu quả nhập khẩu là góp phần thúc đẩy tăng năng suất lao động xã hội, nghĩa là tiết kiệm lao động xã hội và tăng thu nhập quốc dân, từ đó tạo thêm nguồn tích luỹ cho sản xuất và nâng cao mức sống trong nước. Quan niệm hiệu quả nhập khẩu không chỉ được biểu hiện bằng chỉ tiêu doanh lợi mà mỗi doanh nghiệp đạt được trong mỗi kì kinh doanh, hoạt động nhập khẩu còn đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cho nền kinh tế quốc dân bằng cách góp phần vào việc sản suất, đổi mới cơ cấu kinh tế, tăng năng suất lao động xã hội, tăng doanh thu cho ngân sách, gải quyết việc làm, cải thiện đời sống nhân dân ... Như vậy hiệu quả cho ta thấy rõ khả năng và trình độ quản lý của doanh nghiệp đối với từng lĩnh vực kinh doanh cụ thể. II. Vai trò của hoạt động nhập khẩu, ý nghĩa nâng cao hiệu quả nhập khẩu và hình thức nhập khẩu của Công ty COALIMEX. Vai trò của của hoạt động nhập khẩu. bất cứ nơi nào có hoạt động thương mại, đặc biệt là thương mại Quốc tế hoạt động mạnh thì nơi đó có nền kinh tê phát triển. Nền kinh tế mở cửa sẽ mở ra những hướng phát triển mới, tạo điều kiện khai thác lợi thế tiềm năng sẵn có trong nước nhằm sử dụng phân công lao động Quốc tế một cách có lợi nhất. Thương mại Quốc tế chỉ ra và xác định cho một nước biết đâu là lợi thế của mình, chỉ ra đúng đắn nên đầu tư vốn vào đâu, đầu tư vào lĩnh vực nào có lợi nhất. Nhập khẩu là một trong những nhiệm vụ quan trong của thương mại quốc tế, do đó vai trò của nhập khẩu ngày càng trở nên quan trọng và cụ thể. - Nhập khẩu làm đa dạng hoá về mặt hàng, quy cách cho phép thoả mãn hơn nhu cầu trong nước, mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước, phục vụ nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng. - Nhập kẩu thúc mạnh quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. - Tạo sự cạnh tranh giữa hàng hoá nội và hàng hoá ngoại, tức là tạo ra động lực cho các nhà sản xuất trong nước và không ngừng vươn lên để tồn tại, tạo ra sự phát triển thực chất của sản xuất xã hội và thanh lọc các đơn vị sản xuất yếu kém. - Tạo thuận lợi cho việc chuyển giao công nghệ, do đó tạo sự phát triển vượt bậc của sản xuất hàng hoá, tiết kiệm chi phí và thời gian, tạo sự đồng đều và sự phát triển trong nước - Nhập khẩu xoá bỏ tình trạng độc quyền, phá vỡ, triệt để chế độ tự cung tự cấp của nền kinh tế đóng. - Nhập khẩu giải quyết được những nhu cầu đặc biệt, hàng hoá hiểm hoặc có hàm lượng công nghệ cao mà trong nước chưa thể sản xuất được. - Nhập khẩu bổ sung kịp thời những mặt cân đối của nền kinh tế, đảm bảo một sự phát triển cân đối và ổn định, khai thác đến mức tối đa tiềm năng và khả năng của nền kinh tế và vòng quay kinh tế. - Nhập khẩu đảm bảo cho đầu vào sản xuất, tạo việc làm ổn định cho người lao động, góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của người lao động. - Nhập khẩu có vai trò tích cực thúc đẩy xuất khẩu, góp phần nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu, tạo môi trường thuận lợi cho xuất khẩu hàng việt nam ra nước ngoài, đặc biệt là nước nhập khẩu. - Nhập khẩu là cầu nối thông suốt nền kinh tế thị trường trong và ngoài nước với nhau, tạo điều kiện cho phân công lao động và hợp tác quốc tế, phát huy được lợi thế so sánh của đất nước trên cơ sở chuyên môn hoá. ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả nhập khẩu. Để biết và đánh giá kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, người ta dựa trên một hệ thống chỉ tiêu, gọi là chỉ tiêu hiệu quả. Từ việc phân tích đánh giá các chỉ tiêu này cho phép doanh nghiệp biết được thực trạng sản xuất kinh doanh để từ đó lựa chọn phương án kinh doanh tối ưu. Điều này cho phép doanh nghiệp trụ vững và phát triển trong nền kinh tế tị trường. Không ngừng nâng cao hiệu quả là mối quan tâm của bất kỳ nền sản xuất nào nói chung và là mối quan tâm chủ yếu của mỗi doanh nghiệp nói riêng. Đối với nước ta hiện nay nâng cao hiệu quả kinh doanh thương mại đang là vấn đề cấp bách vì: - Nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu không những là nhân tố quyết định nhất để tham gia vào phân công lao động quốc tế mà còn là yêu cầu tất yếu của việc thực hiện quy luật tiết kiệm các nguồn lực trong nước. - Nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu không những tạo điều kiện cho doanh nghiệp tái sản xuất mở rộng mà còn làm tăng thu nhập kinh tế quốc dân nhờ tranh thủ được lợi thế so sánh trao đổi hàng hoá với nước ngoài, phát huy được tiềm năng, lợi thế của đất nước. - Nâng cao hiệu quả nhập khẩu còn là điều kiện thuận lợi để chúng ta có thể hội nhập khu vực, kội nhập thế giới, làm cho quá trình liên kết kinh tế xã hội nước ta với nước ngoài chặt chẽ và mở rộng hơn, góp phần làm ổn định kinh tế chính trị của đất nước. - Nâng cao hiệu quả nhập khẩu giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển mở rộng hoạt động kinh doanh, nâng cao đời sống cán bộ nhân viên. - Từ những ý nghĩa trên, trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay, việc nhập khẩu là hết sức quan trọng. Song cần phải xác định nhập khẩu như thế nào ? nhập khẩu những gì ? Cần tránh những việc nhập khẩu tràn lan, việc nhập khẩu phải hướng vào giải quyết những mục tiêu cơ bản của doanh nói riêng và của đất nói chung, đó là sự phát triển lâu dài và ổn định bền vững nền kinh tế. Thấm nhuần tư tưởng trên, việc tổ chức và thực hiện nhập khẩu mới đạt hiệu quả cao. Hình thức nhập khẩu của Công ty COALIMEX. a. Nhập khẩu trực tiếp Hoạt động nhập khẩu trực tiếp là hoạt động nhập khẩu độc lập của một doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu trên cơ sở nghiên cứu thị trường trong nước và quốc tế, tính toán chính xác những các chi phí, đảm bảo hiệu quả kinh doanh nhập khẩu, tuân thủ đúng chính sách, luật pháp quốc gia và luật pháp quốc tế. Trong hình thức này doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu phải trực tiếp làm các hoạt động tìm kiếm đối tác, đàm phám, kí kết hợp đồng. . .và phải bỏ vốn để tổ chức kinh doanh hàng nhập khẩu. Khi sử dụng hình thức này, các doanh nghiệp nhập khẩu phải hoàn toàn chịu trách nhiệm đối với các hoạt động của mình. Để nhập khẩu trực tiếp, doanh nghiệp phảo tự bỏ vốn, chịu mọi chi phí giao dịch, nghiên cứu thị trường, giao nhận, lưu kho, tiêu thụ hàng hoá, nộp thuế. . .Chính vì vậy, các doanh nghiệp cần thận trọng xem xét và cân nhắc cẩn thận trước khi tiến hành hoạt động kinh doanh. Độ rủi ro của hoạt động nhập khẩu trực tiếp là rất cao nhưng lại có thể đạt được lợi nhuận cao hơn so với hình thức nhập khẩu khác. Khi tiến hành nhập khẩu trực tiếp, doanh nghiệp chỉ lập một hợp đồng với bên nước ngoài, còn hợp đồng bán hàng trong nước sẽ lập sau khi hàng về. b. Nhập khẩu uỷ thác. Nhập khẩu uỷ thác là hoạt động hình thành giữa một doanh nghiệp trong nước có vốn ngoại tệ riêng và có nhu cầu nhập khẩu một số loại hàng hoá nhưng lại không có khả năng nhập khẩu trực tiếp, họ muốn uỷ thác cho một doanh nghiệp khác làm nhiệm vụ giao dịch trực tiếp và tiến hành nhập khẩu hàng hoá theo yêu cầu của mình: bên nhận uỷ thác phải tiến hành đàm phán với đối tác nước ngoài và làm thủ tục nhập khẩu hàng hoá theo yêu cầu của bên uỷ thác, bên nhận uỷ thác sẽ được hưởng một phần thù lao lao gọi là phí uỷ thác. Đối với hình thức này, doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu nhận uỷ thác sẽ không phải bỏ vốn, không phải xin hạn ngạch (quota), không cần quan tâm tới thị trường tiêu thụ cho hàng hoá mà chỉ là đại diện cho bên uỷ thác tiến hành giao dịch, đàm phán, kí hợp đồng, làm thủ tục nhậo hàng cũng như thay mặt bên uỷ thác khiếu nại đòi bồi thường đối với đối tác nước ngoài khi có tổn thất trực tiếp. Chỉ khi bên uỷ thác chuyển toàn bộ số tiền theo giá trị hợp đồng và tỉ lệ phần trăm phí uỷ thác đã thoả thuận vào tài khoản của bên nhận uỷ thác thì lúc đó bên nhận uỷ thác mới làm đơn xin mở L/C (letter of credit) để bên bán giao hàng. Khi hàng về có thông báo giao hàng gửi đến, bên nhận uỷ thác báo cho bên uỷ thác để họ có kế hoạch kịp thời rút hàng ra khỏi cảng sau khi làm thủ tục hải quan. Trước khi rút hàng ra khỏi cảng, bên uỷ thác phải thanh toán hết tất cả các chi phí phát sinh hợp lí mà bên nhận uỷ thác thay mặt thanh toán như: thuế nhập khẩu, phí mở L/C, phí giám định, phí bốc xếp , phí lưu kho ... Hình thức này giúp cho doanh nghiệp nhận uỷ thác không mất nhiều cho phí, độ rủi ro thấp nhưng lợi nhuận thu từ hoạt động này không cao. Khi tiến hành nhập khẩu uỷ thác doanh nghiệp nhận uỷ thác sẽ chỉ tính kim ngạch xuất khẩu chứ không tính vào doanh số. Đồng thời doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu nhận uỷ thác sẽ phải lập hai hợp đồng: một hợp đồng nhập khẩu kí với đối tác nước ngoài (người bán) và một hợp đồng nhận uỷ thác nhập khẩu với bên uỷ thác. Ngoài hai hình thức nhập khẩu trên Công ty còn nhập khẩu một số hình thức khác như: nhập khẩu liên doanh, nhập khẩu tái xuất, đổi hàng... * Quy trình nhập khẩu của Công ty . Hoạt động kinh doanh nhập khẩu được tổ chức thực hiện với nhiều nghiệp vụ khác nhau, từ điều tra nghiên cứu thị trường trong nước, tìm kiếm thị trường cung ứng nước ngoài... đến việc thực hiện hợp đồng, bán hàng nhập khẩu ở thị trường trong nước. Các khâu, các nghiệp vụ này cần phải đặt trong mối quan hệ hữu quan nhằm đạt được hiệu quả cao nhất, phục vụ kịp thời cho nhu cầu trong nước. Do đó, người tham gia kinh doanh nhập khẩu hàng hoá phải nắm chắc các nội dung của hoạt động nhập khẩu hàng hoá, giấy phép nhập khẩu. Hình 1: sơ đồ quy trình nhập khẩu hàng hoá Nghiên cứu thị trường Lập phương án kinh doanh hàng hoá nhập khẩu Giao dịch đàm phán và ký kết hợp đồng nhập khẩu Tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu Khiếu nại và giải quyết tranh chấp Làm thủ tục thanh toàn Kiểm tra hàng hoá nhập khẩu Nhận hàng Làm thủ tục Hải quan Mua bảo hiểm hàng hoá Thuê phương tiện vận tải Mở L/C Xin giấy phépnhập khẩu Chương II Thực trạng hoạt động nhập khẩu máy móc thiết bị của Công ty COALIMEX I. Tổng quan về hình thành và phát triển của Công ty. 1 Lịch sử ra đời và phát triển của Công ty. Công ty COALIMEX ra đời ngày 31/12/1981 theo quyết định số 65của Bộ Điện và Thanvà trực thuộc Bộ Điện và Tha. Tên gọi ban đầu của Công ty là " Công ty Xuất nhập khẩu và cung ứng vật tư ( Viet nam National Coal Import - Export and Supply Coporation ). Tên giao dịch Quốc tế - COALIMEX. Nhiệm vụ chủ yếu của Công ty trong thời gian này là - Xuất khẩu than - Nhập khẩu trang thiết bị vật tư kỹ thuật phục vụ cho quá trình khai thác và sản xuất của Bộ. Tháng 4 năm 1988, theo chủ trương của Hội đồng Bộ trưởng ( nay là Chính phủ ) Bộ Điện và than được tách thành hai Bộ là Bộ Điện và Bộ Mỏ và Than. Công ty COALIMEX trực thuộc Bộ Mỏ và Than. Tháng 6 năm 1991, để phù hợp với mục tiêu và phương thức kinh doanh, Công ty được đổi tên thành Công ty Xuất nhập khẩu và Hợp tác quốc tế - COALIMEX. Tháng 11 năm 1995, sau khi Tổng Công ty Than được thành lập Công ty chuyển về trở thành một thành viên trực thuộc Tổng Công ty Than Việt nam. Ngày 25 tháng 12 năm 1996, Công ty chính thức đổi tên gọi thành tên gọi ngày nay: Công ty Xuất nhập khẩu và hợp tác quốc tế - COALIMEX. Trụ sở chính của Công ty được đặt tại 47 - Quang Trung Hà nội. Loại hình doanh nghiệp. Công ty Xuất nhập khẩu và Hợp tác quốc tế - COALIMEX là một doanh nghiệp nhà nước và trực thuộc Tổng Công ty Than Việt nam. Vốn của Công ty một phần do nhà nước cấp và một phần do Công ty tự tích luỹ. Công ty là một doanh nghiệp hoạt động kinh doanh độc lập trong lĩnh vực xuất khẩu than và nhập khẩu các trang thiết bị, máy móc, vật tư cung ứng cho quá trình khai thác mỏ, cùng với việc nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng có khả năng đáp ứng nhu cầu của thị trường. Lĩnh vực kinh doanh của Công ty. Công ty kinh doanh và tìm kiếm lợi nhuận thông qua các hoạt động sản xuất bao gồm: - Xuất khẩu than uỷ thác cho các mỏ than trong nước ra nhiều thị trường khác nhau trên thế giới như: Tây âu, Nhật bản, Thái lan, Hàn quốc... - Nhập khẩu vật tư, thiết bị từ nước ngoài vào Việt nam, chủ yếu nhằm phục vụ cho quá trình khai thác và chế biến than và các ngành kinh tế trong nước. - Sản xuất và kinh doanh nước đá sạch - Hợp tác đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài. Quy mô và cơ cấu tổ chức. a/ Quy mô. Công ty bao một trụ sở chính đặt tại 47 Quang Trung, Hà nội và hai chi nhánh đặt tại Quảng ninh và Thành phố Hồ Chí Minh. Tại Hà nội, Công ty bao gồm các phòng ban: phòng Giám đốc, phó Giám đốc, kế hoạch kế toán và tài chính, hành chính tổng hợp, tổ chức nhân sự và thanh tra bảo vệ, hợp tác lao động, các phòng kinh doanh Xuất nhập khẩu và một phòng kiểm toán. Tại Quảng ninh,chi nhánh của Công ty bao gồm các đơn vị khai thác, sản xuất và chế biến than, làm thủ tục đưa than lên tàu nước ngoài và các thủ tục nhập khẩu nếu có. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, Công ty COALIMEX văn phòng đại diện vừa quản lý thị trường tiêu thụ đồng thời kinh doanh một xưởng sản xuất nước đá sạch, nhập khẩu vật tư, thiết bị cho các ngành ở Thành phố Hồ Chí Minh. b/ Cơ cấu tổ chức. Công ty có tổng số nhân viên là 120 người hoạt động ở các trụ sở văn phòng khác nhau của Công ty và taapj trung chủ yếu ở Hà nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Quảng ninh. Công ty hoạt động theo chế độ thủ trưởng, đứng đầu là Giám đốc Công ty do hội đồng quản trị Tổng Công ty than Việt nam bổ nhiệm. Giá đốc tổ chức điều hành mọi hoạt động của Công ty theo luật doanh nghiệp nhà nước, theo điều lệ của Công ty là người chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị Tổng Công ty than Việt nam và pháp luật về toàn bộ hoạt động của Công ty. Công ty có hai Phó giám đốc cùng các phòng ban hoạt động từng chức năng nhiệm vụ dưới đây. - Phòng tổ chức nhân sự và thanh tra bảo vệ. - Phòng kế hoạch kế toán tái chính. - Phòng hành chính tổng hợp. - Các phòng nhập khẩu 1,2,3,4 và 5. - Phòng xuất khẩu than và hợp tác quốc tế. - Phòng kiểm toán. - Phòng hợp tác lao động. Các phòng chức năng này có trách nhiệm giúp đỡ Giám đốc giải quyết và điều hành mọi lĩnh vực của Công ty. Các phòng kinh doanh cũng đồng thời hoạt động một cách độc lập dưới sự điều hành của Giám đốc và các trưởng phòng. Người đứng đầu là các phòng do Giám đốc bổ nhiệm. Riêng kế toán trưởng, người giúp đỡ Giám đốc chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác kế toán của Công ty, do Giám đốc đề nghị T ổng Công ty Than Việt nam bổ nhiệm, khen thưởng và kỷ luật. * Công ty có hai chi nhánh sau - Chi nhánh COALIMEX tại Thành phố Hồ Chí Minh - Chi nhánh COALIMEX tại Quảng Ninh Đây là những đơn vị trực thuộc Công ty, đứng đầu là Giám đốc chi nhánh do Công ty bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng và kỷ luật và phải chịu trách nhiệm trước Giám đốc Công ty về hoạt động được phân công phụ trách. Những đơn vị trực thuộc này mặc dù có tư cách pháp nhân nhưng không đầy đủ, hạch toán phụ thuộc và chịu sự giám sát chỉ đạo của Giám đốc Công ty, được mở tài khoản tại ngân hàng theo quy định của pháp luật. Các đơn vị này có quyền triển khai các hoạt động kinh doanh trong phạm vi được giám đốc uỷ quyền. Công ty chịu trách nhiệm cuối cùng về các nghĩa vụ tài chính phát sinh do sự cam kết của các đơn vị nói trên xuất phát từ nhiệm vụ, quyền hạn được Giám đốc giao cho. Đặc biệt đối với công tác quản lý gồm: tổ chức thanh tra, kế hoạch kinh tế tài chính, hành chính doanh nghiệp thì công tác quản lý và hạch toán có đặc thù riêng. Cơ cấu tổ chức của Công ty theo mô hình tổ chức chức năng đã giúp cho Công ty vận dụng tốt khả năng chuyên môn của các thành viên. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Công ty COALIMEX P.XK than P.Hợp tác LĐ Phó Giám đốc 1 P.Nhập khẩu 1 P.Nhập khẩu 2 Chi nhánh QN Chi nhánh HCM K.T trưởng Giám Đốc P. Kiểm toán P.Nhập khẩu 3 P.TTBV,TCNS P.Nhập khẩu 4 Phó Giám đốc 2 P.Nhập khẩu 5 P. HCTH P.Kế toán TC II. Thực trạng tình hình hoạt động nhập khẩu của Công ty. Nguồn hàng nhập khẩu. Được sự giúp đỡ của tổng Công ty than Việt nam, cùng với sự phấn đấu không ngừng của cán bộ công nhân viên trong Công ty cho nên Công ty có rất nhiều mối quan hệ buôn bán với nhiều tập đoàn nước ngoài có uy tín sản xuất thiết bị, vật tư phục vụ cho các ngành công nghiệp. Nhờ đó mà Công ty có những nguồn hàng nhập khẩu tương đối lớn, góp phần làm cho Công ty có được sự phong phú về mặt hàng, chủng loại hàng, về giá cả hàng hoá nhằm đáp ứng một cách đầy đủ nhất và phong phú cho nhu cầu sản xuất của ngành Than và thị trường trong nước. Công ty đã nghiên cứu và tìm cho mình các đối tác giao dịch đem lại hiệu quả kinh doanh cao thông qua: - Tìm hiểu thông tin qua bạn hàng nước ngoài. - Thông qua các đơn vị trong ngành đã quan hệ buôn bán với khách hàng đó để thấy được thuận lợi, khó khăn khi buôn bán với họ - Tìm thông tin ở phòng Thương Mại Việt nam, nhờ đó đến nay Công ty có quan hệ buôn bán với nhiều nước và tập đoàn lớn trên Thế giới. * Nguồn hàng nhập khẩu của Công ty bao gồm: + Máy móc, thiết bị ( Máy xúc, xe Ballaz, máy gạt, máy khoan, băng tải ). Những loại máy móc thiết bị này thường nhập từ các nước : Nhật, Mỹ, Nga, Phần Lan, Thuỵ Điển, Hàn Quốc. + Xe ôtô phục vụ cho việc chở công nhân: nhập từ Hàn Quốc. + Những vật tư, nguyên liệu phục vụ ngoài ngành ( Sắt thép, xe máy, bình nóng lạnh...) nhập từ Italia, Nhật, Trung Quốc. Thực trạng nhập khẩu của Công ty từ năm 1998 đến năm 2000. 2.1 Vốn kinh doanh. Công ty Xuất nhập khẩu và hợp tác quốc tế - COALIMEX được uỷ quyền thay mặt Tổng công ty than Việt nam nhập khẩu máy móc, thiết bị phục vụ cho ngành than và đồng thời Công ty cũng được phép nhập khẩu các thiết bị khác, vật tư để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và các ngành khác. Vốn của Công ty một phần do nhà nước cấp ( Tổng công ty than Việt nam ) và một phần là do tích luỹ của Công ty. *Số tài chính năm 1995. Tổng số vốn được đưa vào kinh doanh của Công ty trong năm 1995 là: - Vốn do ngân sách nhà nước cấp: 4.893 Triệu VND + Vốn cố định : 38 Triệu VND + Vốn lưu động : 4.855 Triệu VND - Vốn tự bổ sung : 10.653 Triệu VND 2.2 Nhập khẩu uỷ thác. Công ty COALIMEX được Tổng Công ty than Việt nam giao nhiệm vụ thay mặt các công ty trong ngành ký kết và thực hiện một số lượng lớn hợp đồng nhập khẩu máy móc, thiết bị và vật tư. Đây là nhiệm vụ cũng rất quan trọng của Công ty, do vậy Công ty tập trung vào việc chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ được giao. Trong hoạt động này thì toàn bộ vốn là vốn vay của Tổng công ty và các đơn vị uỷ thác trực thuộc Bộ Mỏ và Than, Công ty có nhiệm vụ gọi hàng, chào hàng, tổ chức cùng đơn vị uỷ thác đàm phán với đối tác nước ngoài, tiến hành và ký kết giao hàng cho đơn vị uỷ thác. Trong hoạt động này doanh thu của Công ty là mức phí uỷ thác mà Công ty được hưởng khi thực hiện hợp đồng, giá trị hàng nhập khẩu sẽ không tính vào giá vốn hàng bán như ở hoạt động tự kinh doanh. Với cơ chế tổ chức hoạt động như vậy Công ty phải tự thiết kế hợp đồng, từ việc tìm kiếm nhu cầu sau đó tìm nguồn hàng và cùng đơn vị uỷ thác đàm phán với đối tác nước ngoài. Trước hết Công ty phải lập phương án kinh doanh trình lên Hội đồng Tổng công ty và Tổng Công ty duyệt phương án. Tổng công ty sẽ xem xét và chỉ cấp vốn khi phương án kinh doanh đã được phê duyệt, hàng hoá nhập khẩu phải tiến hành thủ tục giao nhận và vận chuyển tới đơn vị có nhu cầu. Bảng 1: Mức phí uỷ thác của máy móc, thiết bị. TT Giá trị HDNK( USD ) Mức phí ( % ) Mức khống chế( USD ) 1 Từ 500.000 trở lên 0,7 2 Từ 100.000 đến 500.000 1,0 Tối đa 500.000 3 Từ 50.000 đến 100.000 1,2 Tối đa 100.000 4 Từ 30.000 đến 50.000 1,4 Tối thiểu 650 5 Dưới 30.000 1,6 Tối thiểu 400 Bảng 2: Mức phí uỷ thác nhập khẩu phụ tùng hàng hoá dây truyền công nghệ. TT Giá trị HDNK (USD ) Mức phí( % ) Mức khống chế( USD ) 1 Từ 1.000.000 trở lên 0,7 2 Từ 150.000 đến 1.000.000 1,0 Tối đa 700.000 3 Từ 100.000 đến 150.000 1,2 Tối đa 150.000 4 Từ 50.000 đến 100.000 1,4 Tối đa 100.000 5 Dưới 50.000 1,8 Tối thiểu 7.000 Các mức phí ở hai bảng trên được tính dựa trên giá trị nhập khẩu CIF cảng Việt nam DAF biên giới Việt nam. Phí uỷ thác bao gồm các phí cho việc giao dịch, đàm phán ký kết hợp đồng, theo dõi đôn đốc việc thực hiện hợp đồng, làm thủ tục thông quan cho đến khi hàng về giao cho người uỷ thác, lập thủ tục khiếu nại, kiện tụng (nếu có ). Đối với hàng hoá ngoài danh mục uỷ thác thì Công ty sẽ nghiên cứu thị trường quốc tế và tìm đối tác cùng bên uỷ thác tiến hành giao dịch nhập khẩu. Công ty sẽ tiến hành đàm phán ký kết hợp đồng, trên nguyên tắc đảm bảo có lợi nhất cho người uỷ thác. Phí uỷ thác đối với đơn vị ngoài ngành là tuỳ thuộc vào thoả thuận giữa hai bên nhưng phải đảm bảo nguyên tắc hai bên cùng có lợi. Là một Công ty chuyên về Xuất nhập khẩu và là một Công ty đứng đầu về việc Xuất nhập khẩu của Bộ mỏ và Than vì vậy Công ty có nhiều mối quan hệ làm ăn tốt đẹp với bạn hàng trong và ngoài nước. Mặt hàng nhập khẩu thì đa dạng về chủng loại, điều này đem lại cho Công ty nguồn thu đáng kể. Trong tổng giá trị hàng nhập khẩu của Công ty thì hàng nhập khẩu uỷ thác chiếm khoảng gần 50% tổng giá trị hợp đồng của Công ty. Bảng 3: Tỷ trọng hàng nhập khẩu uỷ thác Đơn vị tính: USD Năm Tổng giá trị NK Giá trị HĐ uỷ thác % so với tổng giá trị 1998 25.831.648 12.436.480 48% 1999 27.243.840 14.132.364 47% 2000 32.051.577 15.790.351 49.25% Nhìn vào bảng ta thấy tỷ trọng hàng hoá nhập khẩu uỷ thác của các năm giữ ở mức tương đối ổn định, chứng tỏ nhập khẩu uỷ thác cũng đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động nhập khẩu của Công ty. Năm 1998, giá trị hợp đồng uỷ thác đạt 12.436.480 USD chiếm tỷ trọng 48% sang năm 1999 và 2000 thì tỷ trọng vẫn ở mức ổn định nhưng giá trị hợp đồng uỷ thác thì tăng điều này chứng tỏ hoạt động nhập khẩu uỷ thác đang được thực hiện rất tốt, nhiều hợp đồng được ký kết và đem lại cho Công ty một nguồn thu lớn, đáng kể từ mức phí uỷ thác. Đặc biệt là doanh thu thuần năm 1998 đạt 5.500 triệu VND, con số này đã tăng gấp hai lần vào năm 2000. Đây là nền móng cho Công ty tiến lên và phát triển mở rộng trong tương lai cũng như góp phần vào sự phát triển chung của Công ty COALIMEX và cho toàn ngành than Việt Nam. Bảng 4: Kết quả hoạt động nhập khẩu kinh doanh của Công ty. STT Chỉ tiêu ĐVT 1998 1999 2000 1 Nộp ngân sách Tr. đ 1.220 1.250 33.000 2 Tổng giá trị HĐ - HĐ uỷ thác - HĐ tự doanh USD USD USD 25.243.822 12.436.480 12.807.341 28.686.161 14.132.364 14.553.797 32.051.577 15.790.351 16.261.226 3 Lợi nhuận Tr. đ 600 718 1.100 4 Thu nhập BQ Tr.đ 1.16 1.6 1.8 5 Doanh thu thuần Tr. đ 5.500 7.000 11.000 Trong hoạt động nhập khẩu uỷ thác điều quan trọng là tính an toàn và mục tiêu phục vụ khách hàng và đây là vấn đề bức xúc của doanh nghiệp nhập khẩu vì nhập khẩu uỷ thác luôn chiếm tỷ trọng xấp xỉ với nhập khẩu tự doanh, cũng là nguồn thu chính của Công ty. Sơ đồ 1: Doanh số bán hàng của Công ty Đơn vị tính: USD NK uỷ thác 250.000 NK tự doanh 200.000 100.000 1998 1999 2000 2.3 Nhập khẩu tự doanh. Nhập khẩu tự doanh là một trong những mảng chính của Công ty. Đối với mảng này Công ty phải tự chủ trong hạch toán tự tìm kiếm nhu cầu và nguồn hàng... để đạt hiệu quả kinh doanh. Trong năm 2000 các công ty sản xuất than trong Tổng công ty than Việt nam chưa có nhu cầu nhập khẩu các lô hàng lớn, trong Tổng công ty lại có nhiều đơn vị cùng làm công tác nhập khẩu nên việc dành dược một hợp đồng nhập khẩu trong Tổng Công ty than rất khó khăn. Trước khó khăn này Công ty kịp thời chỉ đạo các phòng nhập đã được Công ty phân công mặt hàng luôn bám sát các đơn vị sản xuất than và Tổng Công ty để tìm kiếm đơn hàng trong Tổng công ty đồng thời phải làm tốt công tác đấu thầu để cạnh tranh thắng thầu. Mặt khác phải chủ động tìm kiếm khách hàng ngoài Tổng công ty than để nhập khẩu. Để tăng giá trị nhập khẩu các phòng nhập đã đa dạng hoá mặt hàng nhập khẩu. Từ việc nhập khẩu thiết bị, phụ tùng, vật tư sắt thép cho ngành mỏ, năm 2000 đã mở rộng ra các mặt hàng tiêu dùng cho thị trường trong nước như: xe máy, bột giặt, hoá chất, hạt nhựa, rượu, máy giặt, phụ kiện điện thoại... * Kết quả hoạt động nhập khẩu năm 2000: giá trị hợp đồng nhập khẩu tự doanh đã ký đạt 16.261.226 USD chiếm gần 51% tổng giá trị hợp đồng của Công ty. Bảng 5: Giá trị nhập khẩu kinh doanh của Công ty năm 2000 Đơn vị tính: USD STT Tên đơn vị Tổng giá trị HĐ Trong ngành Ngoài ngành HĐ kinh doanh Hàng đã về 1 Phòng Xuất nhập khẩu 1 4.419.006 1.860.419 2.558.587 2.775.306 4.419.006 2 Phòng Xuất nhập khẩu 2 4.387.035 925.687 3.461.348 126.796 3.532.223 3 Phòng Xuất nhập khẩu 3 1.198.525 604.125 594.400 930.407 464.000 4 Phòng Xuất nhập khẩu 4 5.682.232 2.863.434 2.818.798 1.470865 3.339.392 5 Phòng Xuất nhập khẩu 5 5.794.718 5.794.718 3.476.445 4.726.198 6 Phòng xuất khẩu và HTQT 5.794.718 5.794.718 5.575.584 3.202.600 7 Chi nhánh TP. HCM 4.607.281 4.607.281 1.687.738 3.914.841 8 Chi nhánh QN 214.691 214.691 214.691 214.691 Tổng 32.061.577 6.463.356 25.583.221 16.261.226 23.812.951 Nhìn vào bảng 5: ta có thể thấy rõ được giá trị hợp đồng nhập khẩu kinh doanh tự doanh của Công ty là rất lớn tuy tỷ trọng chỉ lớn hơn một chút so với hợp đồng uỷ thác Phân tích hiệu quả kinh doanh nhập khẩu trong một số năm gần đây. Việc tính toán hiệu quả để biết được thực trạng, tìm ra nguyên nhân và tìm cách khắc phục những sai lầm để nâng cao hiệu quả kinh doanh là một việc làm rất quan trọng đối với một doanh nghiệp, nhất là trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Vì vậy phân tích hiệu quả kinh doanh nói chung và nhập khẩu nói riêng thực chất là phân tích các chỉ tiêu kinh tế xã hội của doanh nghiệp. 3.1 Chỉ tiêu về lợi nhuận Có thể đánh giá hiệu quả kinh doanh thông qua kết quả cuối cùng là lợi nhuận được thể hiện ở bảng dưới đây. Bảng 6: Lợi nhuận kinh doanh của Công ty Đơn vị tính: Triệu VND STT Chỉ tiêu 1998 1999 2000 Tốc độ tăng trưởng(%) 1 Tổng doanh thu 51.238 58.225 68.500 134 2 Tổng chi phí 50.638 57.507 67.400 133 3 Lợi nhuận 600 718 1.100 183 Qua số liệu ở bảng trên cho thấy lợi nhuận của Công ty tăng qua các năm. Năm 1998 lợi nhuận chỉ có 600 triệu VND nhưng sang đến năm 1999 Công ty đã tăng._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docA0351.doc