Thực trạng & Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu thầu ở Công ty xây dựng số 4

LờI NóI ĐầU Trong nền kinh tế quốc dân, sản phẩm của ngành xây dựng chiếm một vị trí đặc biệt. Trình độ, quy mô và tốc độ phát triển hợp lý của ngành quyết định nhịp độ phát triển của nền kinh tế, xác định khả năng cho phép mở rộng tái sản xuất, quyết định quy mô và thời gian giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội cơ bản như: tốc độ, quy mô công nghiệp hoá; khả năng có thể ứng dụng những thành tựu tiến bộ khoa học kỹ thuật và cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân. Sự mở

doc89 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1261 | Lượt tải: 2download
Tóm tắt tài liệu Thực trạng & Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu thầu ở Công ty xây dựng số 4, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
rộng, tăng cường hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản một cách có hiệu quả là tiền đề để tăng trưởng kinh tế. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hoạt động của thị trường xây dựng Việt Nam ngày càng sôi động với rất nhiều các dự án đầu tư xây dựng cơ bản của đủ mọi thành phần kinh tế đã và đang được thực hiện. Trong bối cảnh đó, đấu thầu là một phương thức lựa chọn nhà thầu cho sự thành công của chủ đầu tư. Muốn tham gia đấu thầu trong điều kiện cạnh tranh quyết liệt giữa các nhà thầu trong nước và nước ngoài, mỗi nhà thầu không những phải am hiểu và làm tốt các khâu như marketing xây dựng, tính toán giá bỏ thầu,... mà còn phải am hiểu các quy định và thủ tục đấu thầu cạnh tranh trong nước và quốc tế. Do vậy, việc nghiên cứu hoạt động đấu thầu càng trở nên cần thiết đối với những cán bộ, sinh viên đang công tác và học tập trong lĩnh vực liên quan. Qua thời gian thực tập tại Công ty xây dựng số 4 thuộc Tổng công ty xây dựng Hà Nội, em đã đi sâu nghiên cứu và chọn đề tài: "Thực trạng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu thầu ở Công ty xây dựng số 4" Đề tài gồm 3 chương: Chương I: Lý luận chung Chương II: Tình hình hoạt động dự thầu của Công ty xây dựng số 4 Chương III: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu thầu ở Công ty xây dựng số 4 Chương I lý luận chung 1. Khái niệm và các nguyên tắc cơ bản của đấu thầu a. Khái niệm Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu theo yêu cầu của bên mời thầu. Bên mời thầu là chủ dự án, chủ đầu tư hoặc pháp nhân đại diện hợp pháp của chủ dự án, chủ đầu tư được giao trách nhiệm thực hiện công việc đấu thầu. Nhà thầu là tổ chức kinh tế có đủ tư cách pháp nhân tham gia đấu thầu. b. Các nguyên tắc cơ bản - Nguyên tắc hiệu quả: Một cuộc đấu thầu được tổ chức với sự tham gia của nhiều nhà thầu có năng lực sẽ tạo thành một cuộc cạnh tranh mạnh mẽ. Đối với bên mời thầu sẽ chọn được nhà thầu có đủ năng lực đáp ứng các yêu cầu của mình về kỹ thuật, trình độ thi công, đảm bảo kế hoạch tiến độ, tiết kiệm được vốn đầu tư và chống được tình trạng độc quyền về giá cả của nhà thầu. Đối với nhà thầu, do phải cạnh tranh nên họ đều phải cố gắng tìm tòi những kỹ thuật, công nghệ, biện pháp và giải pháp tốt nhất để thắng thầu. Điều này có tác dụng tích cực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. - Nguyên tắc công bằng: Các hồ sơ dự thầu phải được đánh giá một cách không thiên vị theo cùng 1 chuẩn mực và được đánh giá bởi một hội đồng xét thầu có năng lực và phẩm chất. Lý do được chọn hay bị loại phải được giải thích đầy đủ để tránh sự ngờ vực của nhà thầu. Nguyên tắc này mang tính tương đối vì trong những trường hợp cụ thể, nhà thầu địa phương thường được hưởng một số điều kiện ưu đãi nhất định. - Nguyên tắc minh bạch: Các nhà thầu phải nhận được đầy đủ tài liệu đấu thầu với các thông tin chi tiết, rõ ràng, có hệ thống về quy mô, khối lượng, quy cách, yêu cầu chất lượng của công trình hay hàng hoá, dịch vụ cần xây lắp hay mua sắm, về tiến độ và điều kiện thực hiện. Bên mời thầu phải nghiên cứu, tính toán, cân nhắc thấu đáo để tiên liệu về mọi yếu tố liên quan, tránh tình trạng chuẩn bị hồ sơ mời thầu sơ sài. Nhà thầu phải hiểu rõ lĩnh vực cần thực hiện theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu. Nguyên tắc này mang tính tương đối vì các nhà thầu trong lĩnh vực chuyên môn mới có thể hiểu được. - Nguyên tắc 3 chủ thể: Thực hiện dự án luôn có sự hiện diện của 3 chủ thể: chủ công trình, nhà thầu và kỹ sư tư vấn. Kỹ sư tư vấn có trách nhiệm đảm bảo cho hợp đồng được thực hiện nghiêm túc, những bất cập về tiến độ thi công được phát hiện kịp thời, đưa ra những biện pháp khắc phục và hạn chế tối đa đối với những mưu toan thông đồng hay thoả hiệp có thể gây thiệt hại cho chủ công trình. - Nguyên tắc trách nhiệm phân minh: Nghĩa vụ, quyền lợi của các bên liên quan được đề cập trong hợp đồng xây dựng để cho không có một sai sót nào mà không có người chịu trách nhiệm. Mỗi bên liên quan đều biết rõ mình sẽ phải gánh chịu hậu quả gì khi có sơ suất xảy ra nên mỗi bên đều phải nỗ lực tối đa để kiểm soát bất chắc và phòng ngừa rủi ro. - Nguyên tắc bảo mật: Hồ sơ, tài liệu, thông tin có liên quan đến gói thầu trong suốt quá trình đấu thầu được xem là những bí mật thương mại. Cá nhân, tập thể của bên mời thầu, tư vấn lập hồ sơ mời thầu, cơ quan thẩm định và phê duyệt hồ sơ mời thầu không được tiết lộ nội dung hồ sơ mời thầu với bất cứ đối tượng nào trước ngày phát hành hồ sơ mời thầu. Không được tiết lộ các thông tin có liên quan đến quá trình xét thầu như nội dung các hồ sơ dự thầu, các sổ tay ghi chép và các biên bản cuộc họp về xét thầu, các ý kiến nhận xét, đánh giá của chuyên gia hoặc tư vấn đối với từng nhà thầu và các tài liệu có liên quan khác. Hồ sơ dự thầu của nhà thầu được niêm phong, giữ kín trước khi mở thầu. Bên mời thầu có trách nhiệm bảo mật hồ sơ dự thầu đã nộp. Đối với hồ sơ dự thầu chào hàng cạnh tranh được gửi qua fax cũng phải được bảo mật như đối với các hồ sơ dự thầu khác. 2. Các loại hình đấu thầu Theo tính chất công việc, đấu thầu có thể áp dụng cho các công việc sau: - Đấu thầu tuyển chọn tư vấn. - Đấu thầu xây lắp. - Đấu thầu mua sắm hàng hoá. - Đấu thầu lựa chọn đối tác thực hiện dự án. Trong trường hợp đấu thầu tuyển chọn tư vấn, nhà thầu có thể là cá nhân. Nhà thầu là nhà xây dựng trong đấu thầu xây lắp, là nhà cung cấp trong đấu thầu mua sắm hàng hoá, là nhà tư vấn trong đấu thầu tuyển chọn tư vấn, là nhà đầu tư trong đấu thầu lựa chọn đối tác thực hiện dự án. Hoạt động tư vấn là hoạt động đáp ứng các yêu cầu về kiến thức, kinh nghiệm chuyên môn cho bên mời thầu trong việc xem xét, quyết định, kiểm tra quá trình chuẩn bị và thực hiện dự án. Hoạt động xây lắp là những công việc thuộc quá trình xây dựng và lắp đặt thiết bị các công trình, hạng mục công trình. Hàng hoá là máy móc, phương tiện vận chuyển, thiết bị (toàn bộ, đồng bộ hoặc thiết bị lẻ), bản quyền sở hữu công nghiệp, bản quyền sở hữu công nghệ, nguyên nhiên vật liệu, hàng tiêu dùng (thành phẩm, bán thành phẩm). Các hình thức lựa chọn nhà thầu và phương thức đấu thầu Điều 4 và điều 5 trong quy chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định số 88/1999/NĐ-CP ngày 1/9/1999 quy định có các hình thức lực chọn nhà thầu và phương thức đấu thầu sau: 3.1. Các hình thức lựa chọn nhà thầu a. Đấu thầu rộng rãi: Đây là hình thức đấu thầu không hạn chế số lượng nhà thầu tham dự. Bên mời thầu phải thông báo công khai về các điều kiện, thời gian dự thầu trên các phương tiện thông tin đại chúng tối thiểu 10 ngày trước khi phát hành hồ sơ mời thầu. Hình thức này nhằm tăng tính cạnh tranh trong đấu thầu trên cơ sở sự tham gia của nhiều nhà thầu. Song do số lượng nhà thầu lớn nên có thể có những nhà thầu có phẩm chất, năng lực kém tham dự và sẽ mất nhiều thời gian cùng với chi phí cho việc tổ chức đấu thầu. b.Đấu thầu hạn chế: Là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu mời một số nhà thầu (tối thiểu là 5) có đủ năng lực tham dự. Danh sách nhà thầu tham dự phải được người (cấp) có thẩm quyền chấp thuận. Hình thức này áp dụng khi: - Chỉ có một số nhà thầu có khả năng đáp ứng được yêu cầu của gói thầu. - Các nguồn vốn sử dụng yêu cầu phải tiến hành đấu thầu hạn chế. - Do tình hình cụ thể của gói thầu mà việc đấu thầu hạn chế có lợi thế. Việc quy định cụ thể số lượng tối thiểu nhà thầu tham dự và phải được người (cấp) có thẩm quyền phê duyệt sẽ tránh được hiện tượng biến tướng của hình thức chỉ định thầu. Nếu mời 2 nhà thầu, trong đó có 1 nhà thầu có đủ năng lực còn nhà thầu thứ 2 không đủ năng lực thì nhất định là nhà thầu thứ 1 sẽ trúng thầu. Qua hình thức này, chủ đầu tư có thể nhanh chóng chọn được nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của mình. Nhưng hình thức này cũng hạn chế một phần sự cạnh tranh trong đấu thầu do chỉ mời một số nhà thầu tham dự. c. Chỉ định thầu: Theo điều 1 Nghị định số 14/2000/NĐ-CP ngày 5/5/2000 của chính phủ về việc sửa đổi,bổ sung một số điều của Quy chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định số 88, chỉ định thầu là hình thức chọn trực tiếp nhà thầu đáp ứng yêu cầu của gói thầu để thương thảo hợp đồng. Hình thức này được áp dụng trong các trường hợp sau: +Trường hợp bất khả kháng do thiên tại, địch hoạ, sự cố cần khắc phục ngay thì chủ dự án (người được người có thẩm quyền giao trách nhiệm quản lý và thực hiện dự án) được phép chỉ định ngay đơn vị có đủ năng lực để thực hiện công việc kịp thời. Trong thời gian 10 ngày kể từ ngày quyết định chỉ định thầu, chủ dự án phải báo cáo người (cấp) có thẩm quyền về nội dung chỉ định thầu; người (cấp) có thẩm quyền nếu phát hiện việc chỉ định thầu sai với quy định phải kịp thời xử lý. +Gói thầu có tính chất nghiên cứu thử nghiệm, bí mật quốc gia, bí mật an ninh, bí mật quốc phòng do Thủ tướng Chính phủ quyết định. +Gói thầu có giá trị dưới 1 tỷ đồng đối với việc mua sắm hàng hoá, xây lắp; dưới 500 triệu đồng đối với tư vấn. Các gói thầu được chỉ định thầu thuộc dự án nhóm A, Thủ tướng Chính phủ phân cấp cho Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, hội đồng quản trị Tổng công ty nhà nước do Thủ tướng Chính phủ thành lập (Tổng công ty 91), Chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án quyết định. Khi chỉ định thầu các gói thầu, người có thẩm quyền quyết định chỉ định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình. Trường hợp thấy không cần thiết chỉ định thầu thì tổ chức đấu thầu theo quy định. nghiêm cấm việc tuỳ tiện chia dự án thành nhiều gói thầu nhỏ để chỉ định thầu. Bộ Tài chính quy định cụ thể về chỉ định thầu mua sắm đồ dùng, vật tư, trang thiết bị, phương tiện làm việc thường xuyên của cơ quan Nhà nước, đoàn thể, doanh nghiệp Nhà nước; đồ dùng vật tư, trang thiết bị, phương tiện làm việc thông thường của lực lượng vũ trang. + Gói thầu có tính chất đặc biệt khác do yêu cầu của cơ quan tài trợ vốn, do tính phức tạp về kỹ thuật và công nghệ hoặc do yêu cầu đột xuất của dự án, do người có thẩm quyền quyết định đầu tư quyết định chỉ định thầu trên cơ sở báo cáo thẩm định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ý kiến bằng văn bản của cơ quan tài trợ vốn và các cơ quan có liên quan khác. +Phần vốn ngân sách dành cho dự án của các cơ quan sự nghiệp để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu về quy hoạch phát triển kinh tế, quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch chung xây dựng đô thị và nông thôn, đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao nhiệm vụ thực hiện thì không phải đấu thầu nhưng phải có hợp đồng cụ thể và giao nộp sản phẩm theo đúng quy định. +Gói thầu tư vấn lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, khả thi của dự án đầu tư thì không phải đấu thầu nhưng chủ đầu tư phải chọn nhà tư vấn phù hợp với yêu cầu dự án. Nội dung của báo cáo đề nghị chỉ định thầu gồm: - Lý do chỉ định thầu. - Kinh nghiệm và năng lực về mặt kỹ thuật, tài chính của nhà thầu được đề nghị chỉ định thầu. - Giá trị và khối lượng đã được người (cấp) có thẩm quyền phê duyệt làm căn cứ cho chỉ định thầu (riêng gói thầu xây lắp phải có thiết kế và dự toán được duyệt theo quy định). Trong trường hợp cần khắc phục ngay hậu quả thiên tai, địch hoạ, sự cố thì chủ dự án cần xác định khối lượng và giá trị tạm tính, sau đó phải lập đầy đủ hồ sơ, dự toán được trình duyệt theo quy định để làm cơ sở cho việc thanh quyết toán. Hình thức này giúp chủ đầu tư chọn được ngay nhà thầu có đủ năng lực đáp ứng các yêu cầu của mình. Song nó làm triệt tiêu tính cạnh tranh trong đấu thầu. Bên cạnh đó, nhà thầu được chọn có thể đưa ra phương án chưa phải là tối ưu. d. Chào hàng cạnh tranh: Hình thức này áp dụng cho các gói thầu mua sắm hàng hoá có giá trị dưới 2 tỷ đồng. Mỗi gói thầu phải có ít nhất 3 chào hàng của 3 nhà thầu khác nhau trên cơ sở yêu cầu chào hàng của bên mời thầu. Việc chào hàng có thể được thực hiện bằng gửi trực tiếp, bằng fax, bằng đường bưu điện hoặc bằng các phương tiện khác. e. Mua sắm trực tiếp: Hình thức này áp dụng khi đang thực hiện dở hợp đồng hoặc bổ sung hợp đồng cũ đã thực hiện xong (dưới 1 năm) với 1 nhà thầu mà bên mua lại có nhu cầu mua thêm nhưng với điều kiện không được vượt mức giá hay đơn giá trong hợp đồng đã ký trước đó. Trước khi ký hợp đồng, nhà thầu phải chứng minh có đủ năng lực về kỹ thuật và tài chính để thực hiện gói thầu. f.Tự thực hiện: Hình thức này áp dụng đối với các gói thầu mà chủ đầu tư có đủ năng lực thực hiện. g. Mua sắm đặc biệt: Hình thức này áp dụng đối với các ngành hết sức đặc biệt, ví dụ như mua máy bay, mà nếu không có những quy định riêng thì không thể đấu thầu được. Cơ quan quản lý ngành phải xây dựng quy trình thực hiện đảm bảo các mục tiêu của quy chế đấu thầu và có ý kiến thoả thuận của Bộ Kế hoạch và Đầu tư để trình Thủ tướng Chính phủ quyết định. 3.2. Các phương thức đấu thầu a. Đấu thầu 1 túi hồ sơ: Phương thức mà nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu trong 1 túi hồ sơ. Phương thức này được áp dụng đối với đấu thầu mua sắm hàng hoá và xây lắp. b. Đấu thầu 2 túi hồ sơ: Là phương thức mà nhà thầu nộp đề án kỹ thuật và đề án tài chính trong từng túi hồ sơ riêng biệt vào cùng một thời điểm. Túi hồ sơ đề án kỹ thuật sẽ được xem xét trước để đánh giá. Các nhà thầu đạt số điểm kỹ thuật từ 70% trở lên sẽ được mở tiếp túi hồ sơ đề án tài chính để đánh giá. Phương thức này chỉ được áp dụng đối với đấu thầu tuyển chọn tư vấn. c. Đấu thầu 2 giai đoạn: +Phương thức này áp dụng cho các trường hợp sau: - Các gói thầu mua sắm hàng hoá và xây lắp có giá trị từ 500 tỷ đồng trở lên. - Các gói thầu mua sắm hàng hoá có tính chất lựa chọn công nghệ thiết bị toàn bộ, phức tạp về công nghệ, kỹ thuật hoặc gói thầu xây lắp đặc biệt phức tạp. - Dự án được thực hiện theo hợp đồng chìa khoá trao tay. + Quá trình thực hiện phương thức này như sau: - Giai đoạn 1: Các nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu sơ bộ gồm đề án kỹ thuật và phương án tài chính (chưa có giá) để bên mời thầu xem xét, thảo luận cụ thể với từng nhà thầu, nhằm thống nhất về yêu cầu, tiêu chuẩn kỹ thuật để nhà thầu chuẩn bị và nộp hồ sơ dự thầu chính thức của mình. - Giai đoạn 2: Bên mời thầu mời các nhà thầu tham gia trong giai đoạn 1 nộp hồ sơ dự thầu chính thức với đề án kỹ thuật đã được bổ sung hoàn chỉnh trên cùng một mặt kỹ thuật và đề án tài chính chi tiết với đầy đủ nội dung về tiến độ thực hiện, điều kiện hợp đồng và giá dự thầu để đánh giá và xếp hạng nhà thầu. Các loại hợp đồng Theo điều 6 Nghị định số 88 bên mời thầu và nhà thầu trúng thầu phải ký kết hợp đồng bằng văn bản. Hợp đồng này phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản sau: - Tuân thủ các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về hợp đồng. Trường hợp luật pháp Việt Nam chưa có quy định thì phải xin phép Thủ tướng Chính phủ trước khi ký kết hợp đồng. - Nội dung hợp đồng phải được người (cấp) có thẩm quyền phê duyệt, chỉ bắt buộc áp dụng đối với các hợp đồng sẽ ký với nhà thầu trong nước hoặc nhà thầu nước ngoài mà kết quả đấu thầu do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Căn cứ vào thời hạn và tính chất gói thầu, có 3 loại hợp đồng sau: - Hợp đồng trọn gói: Là hợp đồng theo giá khoán gọn. áp dụng khi gói thầu xác định rõ về số lượng, chất lượng và thời gian. Trường hợp có phát sinh ngoài hợp đồng nhưng không do nhà thầu gây ra thì sẽ được người (cấp) có thẩm quyền xem xét quyết định. - Hợp đồng chìa khoá trao tay: Là hợp đồng bao gồm toàn bộ các công việc thiết kế, cung cấp thiết bị và xây lắp của 1 gói thầu được thực hiện thông qua 1 nhà thầu. Chủ đầu tư có trách nhiệm tham gia giám sát quá trình thực hiện, nghiệm thu và nhận bàn giao khi nhà thầu hoàn thành toàn bộ công trình theo hợp đồng đã ký. - Hợp đồng điều chỉnh giá: Là hợp đồng áp dụng cho các gói thầu mà tại thời điểm ký kết hợp đồng không đủ điều kiện xác định chính xác về số lượng, khối lượng hoặc có sự biến động lớn về giá cả do chính sách của Nhà nước thay đổi và hợp đồng có thời gian thực hiện trên 12 tháng. Hợp đồng có điều chỉnh giá phải ghi rõ danh mục, điều kiện, công thức và giới hạn điều chỉnh giá được cấp quyết định đầu tư chấp thuận bằng văn bản về các yếu tố gây biến động giá như lao động, nguyên vật liệu, thiết bị,... Quy trình thực hiện đấu thầu xây lắp Căn cứ chương 4 Nghị định số 88,việc thực hiện đầu thầu xây lắp tuân theo quy trình sau: 5.1. Trình tự tổ chức đấu thầu - Bước 1: Sơ tuyển nhà thầu (nếu có) - Bước 2: Lập hồ sơ mời thầu - Bước 3: Gửi thư mời thầu hoặc thông báo mời thầu - Bước 4: Nhận và quản lý hồ sơ dự thầu - Bước 5: Mở thầu - Bước 6: Đánh giá, xếp hạng nhà thầu - Bước 7: Trình duyệt kết quả đấu thầu - Bước 8: Công bố trúng thầu, thương thảo hoàn thiện hợp đồng - Bước 9: Trình duyệt nội dung hợp đồng và ký hợp đồng. Từ bước 1 đến bước 6 do bên mời thầu thực hiện hoặc thuê chuyên gia thực hiện. 5.2. Sơ tuyển nhà thầu: 5.2.1. Việc sơ tuyển nhà thầu phải được tiến hành đối với các gói thầu có giá trị từ 200 tỷ đồng trở lên nhằm lựa chọn các nhà thầu đủ năng lực và kinh nghiệm thực hiện, đáp ứng yêu cầu của hồ sơ mời thầu. 5.2.2. Sơ tuyển nhà thầu được thực hiện theo các bước sau: a. Lập hồ sơ sơ tuyển gồm: - Thư mời sơ tuyển - Chỉ dẫn sơ tuyển - Tiêu chuẩn đánh giá - Phụ lục kèm theo. b. Thông báo mời sơ tuyển c. Nhận và quản lý hồ sơ dự sơ tuyển d. Đánh giá hồ sơ dự sơ tuyển e. Trình duyệt kết quả sơ tuyển f. Thông báo kết quả sơ tuyển 5.3. Hồ sơ mời thầu: Hồ sơ mời thầu gồm: Thư mời thầu Mẫu đơn dự thầu 3. Chỉ dẫn đối với nhà thầu 4. Các điều kiện ưu đãi (nếu có) 5. Các loại thuế theo quy định của pháp luật 6. Hồ sơ thiết kế kỹ thuật kèm theo bản tiên lượng và chỉ dẫn kỹ thuật 7. Tiến độ thi công 8. Tiêu chuẩn đánh giá, gồm cả phương pháp và cách thức quy đổi về cùng mặt bằng để xác định giá đánh giá 9. Điều kiện chung và điều kiện cụ thể của hợp đồng 10. Mẫu bảo lãnh dự thầu 11. Mẫu thoả thuận hợp đồng 12. Mẫu bảo lãnh thực hiện hợp đồng. 5.4. Thư hoặc thông báo mời thầu Nội dung thư hoặc thông báo mời thầu bao gồm: 1. Tên và địa chỉ của bên mời thầu 2. Khái quát dự án, địa điểm, thời gian xây dựng và các nội dung khác 3. Chỉ dẫn việc tìm hiểu hồ sơ mời thầu 4. Các điều kiện tham gia dự thầu 5. Thời gian, địa điểm nhận hồ sơ mời thầu 5.5. Chỉ dẫn đối với nhà thầu Chỉ dẫn đối với nhà thầu bao gồm: 1. Mô tả tóm tắt dự án 2. Nguồn vốn thực hiện dự án 3. Tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng 4. Yêu cầu năng lực, kinh nghiệm và địa vị hợp pháp của nhà thầu, các chứng cứ, những thông tin liên quan đến nhà thầu trong khoảng thời gian hợp lý trước thời điểm dự thầu. 5. Thăm hiện trường (nếu có) và giải đáp các câu hỏi của nhà thầu. 5.6. Hồ sơ dự thầu Nội dung của hồ sơ dự thầu bao gồm: 1. Các nội dung về hành chính, pháp lý: - Đơn dự thầu hợp lệ (phải có chữ ký của người có thẩm quyền) - Bản sao giấy đăng ký kinh doanh - Tài liệu giới thiệu năng lực và kinh nghiệm của nhà thầu kể cả nhà thầu phụ (nếu có) - Văn bản thoả thuận liên danh đối với trường hợp liên danh dự thầu. - Bảo lãnh dự thầu. 2. Các nội dung về kỹ thuật - Biện pháp và tổ chức thi công đối với gói thầu - Tiến độ thực hiện hợp đồng - Đặc tính kỹ thuật, nguồn cung cấp vật tư, vật liệu xây dựng - Các biện pháp đảm bảo chất lượng. 3. Các nội dung về thương mại, tài chính - Giá dự thầu kèm theo thuyết minh và biểu giá chi tiết - Điều kiện tài chính (nếu có) - Điều kiện thanh toán. 5.7. Bảo lãnh dự thầu - Nhà thầu phải nộp bảo lãnh dự thầu cùng với hồ sơ dự thầu. Trong trường hợp áp dụng phương thức đấu thầu 2 giai đoạn, bảo lãnh dự thầu nộp ở giai đoạn 2. - Giá trị bảo lãnh dự thầu bằng từ 1% đến 3% giá dự thầu. Bên mời thầu có thể quy định mức bảo lãnh thống nhất để đảm bảo bí mật về mức giá dự thầu cho các nhà thầu. Bên mời thầu quy định hình thức và điều kiện bảo lãnh dự thầu. Bảo lãnh dự thầu sẽ được trả lại cho những nhà thầu không trúng thầu trong thời gian không quá 30 ngày, kể từ ngày công bố kết quả đấu thầu. - Nhà thầu không được nhận lại bảo lãnh dự thầu trong các trường hợp sau: ã Trúng thầu nhưng từ chối thực hiện hợp đồng ã Rút hồ sơ dự thầu sau khi đóng thầu. ã Vi phạm quy định trong quy chế đấu thầu hiện hành. - Bảo lãnh dự thầu chỉ áp dụng cho các hình thức đấu thầu rộng rãi và hạn chế. - Sau khi nộp bảo lãnh thực hiện hợp đồng, nhà thầu trúng thầu được hoàn trả bảo lãnh dự thầu. 5.8. Tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu 1. Kỹ thuật, chất lượng: - Mức độ đáp ứng đối với các yêu cầu về kỹ thuật, chất lượng vật tư thiết bị nêu trong hồ sơ thiết kế. - Tính hợp lý và khả thi của các giải pháp kỹ thuật, biện pháp và tổ chức thi công. - Bảo đảm điều kiện vệ sinh môi trường và các điều kiện khác như phòng cháy, an toàn lao động. - Mức độ đáp ứng của thiết bị thi công về số lượng, chủng loại, chất lượng và tiến độ huy động. - Các biện pháp đảm bảo chất lượng. 2. Kinh nghiệm và năng lực của nhà thầu: - Kinh nghiệm đã thực hiện các dự án có yêu cầu kỹ thuật ở vùng địa lý và hiện trường tương tự. - Số lượng, trình độ cán bộ, công nhân kỹ thuật trực tiếp thực hiện dự án. - Năng lực tài chính: doanh số, lợi nhuận và các chỉ tiêu khác. 3. Tài chính và giá cả: - Khả năng cung cấp tài chính (nếu có yêu cầu). - Các điều kiện thương mại, tài chính, giá đánh giá. 4. Tiến độ thi công: - Mức độ đảm bảo tổng tiến độ quy định trong hồ sơ mời thầu. - Tính hợp lý về tiến độ hoàn thành giữa các hạng mục công trình có liên quan. 5.9. Đánh giá hồ sơ dự thầu 1. Đánh giá sơ bộ: Việc đánh giá sơ bộ nhằm loại bỏ các hồ sơ dự thầu không đáp ứng yêu cầu, bao gồm: - Kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ dự thầu - Xem xét sự đáp ứng cơ bản của hồ sơ dự thầu đối với hồ sơ mời thầu - Làm rõ hồ sơ dự thầu (nếu cần) 2. Đánh giá chi tiết: Việc đánh giá chi tiết hồ sơ dự thầu được thực hiện theo phương pháp giá đánh giá, gồm 2 bước: a. Bước 1: Đánh giá về mặt kỹ thuật để chọn danh sách ngắn Việc đánh giá tiến hành dựa trên cơ sở các yêu cầu và tiêu chuẩn đánh giá chi tiết được người (cấp) có thẩm quyền phê duyệt trước thời điểm mở thầu. Các nhà thầu đạt số điểm tối thiểu từ 70% tổng số điểm kỹ thuật trở lên sẽ được chọn vào danh sách ngắn. b. Bước 2: Đánh giá về mặt tài chính, thương mại. Tiến hành đánh giá tài chính, thương mại các nhà thầu thuộc danh sách ngắn trên cùng một mặt bằng theo tiêu chuẩn đánh giá được phê duyệt. Việc đánh giá về mặt tài chính, thương mại nhằm xác định giá đánh giá bao gồm các nội dung sau: - Sửa lỗi - Hiệu chỉnh các sai lệch - Chuyển đổi giá dự thầu sang 1 đồng tiền chung - Đưa về một mặt bằng so sánh - Xác định giá đánh giá của các hồ sơ dự thầu. 3. Xếp hạng hồ sơ dự thầu theo giá đánh giá. 5.10. Kết quả đấu thầu 1. Nhà thầu có hồ sơ dự thầu hợp lệ, đáp ứng cơ bản các yêu cầu của hồ sơ mời thầu, có giá đánh giá thấp nhất và có giá đề nghị trúng thầu không vượt giá gói thầu hoặc dự toán, tổng dự toán được duyệt sẽ được xem xét trúng thầu. 2. Kết quả đấu thầu phải được người (cấp) có thẩm quyền xem xét phê duyệt. 3. Bên mời thầu sẽ mời nhà thầu trúng thầu đến thương thảo hoàn thiện hợp đồng. Nếu không thành công, bên mời thầu sẽ mời nhà thầu xếp hạng tiếp theo đến thương thảo nhưng phải được người (cấp) có thẩm quyền chấp thuận. 5.11. Bảo lãnh thực hiện hợp đồng 1. Nhà thầu trúng thầu phải nộp bảo lãnh thực hiện hợp đồng cho bên mời thầu để đảm bảo trách nhiệm thực hiện hợp đồng đã ký. 2. Giá trị bảo lãnh thực hiện hợp đồng không quá 10% giá trị hợp đồng tuỳ theo loại hình và quy mô của hợp đồng. Bảo lãnh thực hiện hợp đồng có hiệu lực cho đến khi chuyển sang thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh hoặc bảo trì. 3. Bảo lãnh thực hiện hợp đồng gồm những nội dung chủ yếu sau: - Thời gian nộp: Nhà thầu trúng thầu phải nộp bảo lãnh thực hiện hợp đồng trước khi ký hợp đồng. - Hình thức bảo lãnh dưới dạng tiền mặt, séc, bảo lãnh của ngân hàng hoặc hình thức tương đương. - Thời hạn hiệu lực của bảo lãnh. - Đồng tiền bảo lãnh. 6. Sự khác biệt giữa đấu thầu cạnh tranh trong nước với đấu thầu cạnh tranh quốc tế Đấu thầu cạnh tranh trong nước và đấu thầu cạnh tranh quốc tế đều tuân thủ những bước và thủ tục được nêu ở trên song giữa chúng có những sự khác biệt quan trọng. Những khác biệt chính là: Một là: Ngôn ngữ Tiếng Việt được dùng trong hồ sơ mời thầu trong nước và để nộp hồ sơ dự thầu. Đối với đấu thầu quốc tế, một ngôn ngữ được chỉ định cụ thể mà ngôn ngữ đó được sử dụng rộng rãi trong thương mại quốc tế, thường là tiếng Anh. Các dự án sử dụng vốn của WB -Ngân hàng thế giới,thì ngôn ngữ là tiếng Anh, tiếng Pháp hoặc tiếng Tây Ban Nha.Các dự án sử dụng vốn của Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản -JBIC thì ngôn ngữ là tiếng Anh. Theo hiến chương thành lập ADB-Ngân hàng phát triển Châu á, ngôn ngữ làm việc của ngân hàng là tiếng Anh. Hồ sơ mời thầu và các tài liệu có liên quan khác, kể cả quảng cáo phải được viết bằng tiếng Anh. Trong trường hợp có nhiều ngôn ngữ được sử dụng, bản tiếng Anh sẽ có ưu thế quyết định. Hai là: Đồng tiền Tiền đồng Việt Nam được sử dụng cho giá thầu và thanh toán đối với đấu thầu trong nước. Trong đấu thầu quốc tế, nhà thầu được phép sử dụng những đồng tiền nước ngoài được chỉ định, thường là đồng đô la Mỹ. WB cho phép sử dụng tối đa 3 loại tiền để dự thầu. Điều này tạo thuận lợi cho nhà thầu vì có trường hợp nhà thầu phải nhập nguyên liệu từ nhiều nước khác nhau. ADB quy định trong hồ sơ mời thầu yêu cầu những nhà thầu chào giá bằng loại tiền của nước mình hoặc 1 loại tiền mua bán quốc tế. JBIC quy định là phải sử dụng đồng Yên Nhật. Ba là: Các điều kiện của hợp đồng Trong trường hợp các hợp đồng xây dựng công trình, các điều kiện của hợp đồng đối với đấu thầu trong nước đơn giản hơn nhiều so với trường hợp đấu thầu quốc tế. Trong trường hợp đấu thầu quốc tế, mặc dù dài hơn và phức tạp hơn nhưng người ta vẫn kiến nghị nên sử dụng các điều kiện hợp đồng của Hiệp hội quốc tế các kỹ sư tư vấn - FIDIC vì chúng rất quen thuộc trong công nghiệp đấu thầu. Thậm chí trong các hợp đồng hàng hoá, các điều kiện hợp đồng còn đơn giản hơn cả trong đấu thầu trong nước. Bốn là: Thời gian chuẩn bị hồ sơ dự thầu đến khi mở thầu Căn cứ quy mô và sự phức tạp của gói thầu, theo Nghị định 88 thì thời gian chuẩn bị hồ sơ dự thầu tối thiểu là 15 ngày đối với đấu thầu trong nước, 7 ngày đối với gói thầu quy mô nhỏ. Bên mời thầu có thể gia hạn thời gian chuẩn bị hồ sơ dự thầu. Đối với đấu thầu quốc tế: WB quy định ít nhất là 6 tuần ADB quy định tối thiểu là 60 ngày đối với gói thầu tư vấn, mua sắm và 90 ngày đối với gói thầu xây lắp. JBIC: Căn cứ hoàn cảnh cụ thể của dự án, quy mô cũng như độ phức tạp của hợp đồng quy định không dưới 45 ngày đối với đấu thầu quốc tế. Trường hợp các công trình xây dựng lớn hoặc có liên quan đến những loại thiết bị phức tạp thì thường không dưới 90 ngày. Năm là: Thời gian mở thầu Nghị định 88 quy định thời gian mở thầu không quá 48 tiếng kể từ khi đóng thầu. Đối với đấu thầu quốc tế: WB quy định phải mở ngay sau khi đóng thầu hoặc sau 1 khoảng thời gian đủ để vận chuyển hồ sơ dự thầu từ nơi nhận thầu đến nơi mở thầu. ADB quy định như WB. JBIC: Không quy định về thời điểm mở thầu. Sáu là: Ưu tiên Theo điều 10 Nghị định 88 thì đấu thầu trong nước là một thủ tục thông thường phải tuân thủ. Chỉ cho phép đấu thầu cạnh tranh quốc tế khi không có sự cạnh tranh giữa các nhà thầu trong nước với nhau (không có hoặc chỉ có 1 nhà thầu có thể đáp ứng yêu cầu của dự án) hoặc nguồn tài chính của dự án là từ các tổ chức quốc tế hoặc các nước khác và cần phải có đấu thầu cạnh tranh theo đúng qui định. Nhà thầu trong nước khi tham gia đấu thầu cạnh tranh quốc tế sẽ được quyền hưởng ưu đãi khi so sánh hồ sơ dự thầu của họ với hồ sơ dự thầu của nhà thầu nước ngoài. Tuy nhiên lại không có một hướng dẫn cụ thể nào áp dụng ưu đãi này. Đối với đấu thầu quốc tế: WB quy định về nhà thầu hợp lệ. Tư cách hợp lệ của nhà thầu là: - Vốn vay ngân hàng chỉ được phép rút để thanh toán các chi phí hàng hoá và công trình do công dân của các nước thành viên của ngân hàng cung cấp, được sản xuất hoặc cung ứng từ các nước đó. Theo chính sách này công dân của các nước khác hoặc những nhà thầu chào hàng hoá hay công trình từ các nước khác đều không đủ tiêu chuẩn để dự thầu các hợp đồng sẽ được tài trợ toàn bộ hay một phần bằng vốn vay ngân hàng. - Các doanh nghiệp thuộc sở hữu của Chính phủ của nước vay chỉ có thể được dự thầu khi: ã Độc lập về pháp lý và tài chính. ã Hoạt động theo Luật Thương mại. Các cơ quan trực thuộc của bên vay hoặc bên vay lại trong các dự án do ngân hàng tài trợ không được phép dự thầu hoặc nộp đề án về mua sắm hàng hoá và công trình cho dự án đó. - Việc sơ tuyển là cần thiết cho các công trình lớn và phức tạp. Điều này cũng giúp xác định tính hợp lệ của nhà thầu được hưởng ưu đãi cho các nhà thầu trong nước, nếu được phép của ngân hàng. Tiêu chí sơ tuyển là: ã Kinh nghiệm, kết quả thực hiện các hợp đồng tương tự trước đây. ã Năng lực về con người, máy móc xây dựng hoặc chế tạo. ã Khả năng tài chính. - Ngân hàng duy trì một danh mục các nước mà các nhà thầu hàng hoá và dịch vụ không đủ tư cách hợp lệ để tham gia đấu thầu dự án do ngân hàng tài trợ. Danh mục này được cấp thường xuyên và có thể lấy từ Trung tâm thông tin của WB. - Ngân hàng phát hiện ra nhà thầu nào có hiện tượng tham nhũng hay gian lận, ngân hàng cấm nhà thầu đó tham gia các gói thầu cho WB tài trợ, nhà thầu đó được coi là không hợp lệ. - Đối với hợp đồng xây dựng khi được ngân hàng đồng ý, các bên vay trong diện đủ tiêu chuẩn hợp lệ có thể dành một mức ưu đãi là 7,5% cho các nhà thầu trong nước tức giá chào thầu nhà thầu nước ngoài cộng thêm 7,5% giá chào thầu. Với tư cách là 1 tổ chức hỗ trợ phát triển, WB khuyến khích các nhà thầu trong nước tham dự song không phải mọi trường hợp nhà thầu trong nước đều được ưu tiên. Nhà thầu trong nước phải có tư cách hợp lệ và điều kiện được xét ưu tiên là các công trình xây lắp tại các nước thành viên có mức thu nhập quốc dân -GNP tính theo đầu người dưới mức đã được xác định. Mức GNP do ngân hàng xác định hàng năm. Các nhà thầu Nhật Bản thường được ưu tiên đối với các dự án do JBIC tài trợ mặc dù các điều khoản ưu tiên không ghi trên văn bản chính thức. Những hàng hoá hợp lệ để được tài trợ theo khoản vay là những mặt hàng được sản xuất tại các nước hợp lệ. Tuy nhiên ngay cả các hàng hoá bao gồm nguyên vật liệu được nhập khẩu từ một hay nhiều nước không phải là hợp lệ, các hàng hoá ._.đó cũng có thể được xem là hợp lệ để được cấp vốn nếu phần nhập khẩu thấp hơn 50% đơn giá của những sản phẩm đó theo công thức sau: ã Khi 1 nhà cung ứng ở quốc gia thuộc bên vay được trao hợp đồng có liên quan: x 100 ã Khi nhà cung ứng của 1 nước hợp lệ ngoài nước thuộc bên vay được trao hợp đồng có liên quan: x 100 ã Giá xuất khẩu (FOB - Free on board) là toàn bộ chi phí có liên quan đến hàng hoá bị xuất khẩu tính đến khâu xếp hàng lên tàu tại cảng nước xuất khẩu. ã Giá nhập khẩu (CIF - Cost insurance freigh) gồm giá FOB tại cảng xuất hàng của nước xuất khẩu cộng với chi phí bảo hiểm, chi phí vận chuyển hàng hoá đến cảng của nước nhập khẩu, kể cả chi phí bốc dỡ hàng và vận chuyển vào kho ở cảng của nước nhập khẩu. Bảy là: Điều chỉnh giá. Theo Nghị định 88, thì việc điều chỉnh giá hợp đồng thực hiện theo các hoá đơn, chứng từ thực chi. Trong đấu thầu cạnh tranh quốc tế: WB quy định giá hợp đồng được điều chỉnh theo công thức hoặc các công thức. Các công thức này tách tổng giá trị hợp đồng ra các thành phần có thể điều chỉnh được bằng các chỉ số giá cả được quy định cho từng thành phần. ADB quy định phương pháp điều chỉnh giá được ghi trong hồ sơ mời thầu, cho phép điều chỉnh dựa trên cơ sở bằng chứng là những giấy tờ do nhà thầu cung cấp hoặc tính theo công thức điều chỉnh giá. Các điều khoản về điều chỉnh giá là không cần thiết cho những hợp đồng cung cấp đơn giản với thời hạn giao hàng ngắn. Đối với những hợp đồng cung cấp với thời hạn giao hàng dài (trên 12 tháng) và đối với tất cả các hợp đồng công trình xây dựng quan trọng thì cần phải có điều khoản về điều chỉnh giá. Hồ sơ mời thầu cần quy định mức trần điều chỉnh giá nhưng việc so sánh giá dự thầu chỉ thực hiện dựa trên cơ sở giá gốc, không kể các điều khoản điều chỉnh. JBIC quy định công thức cụ thể để điều chỉnh giá sẽ được quy định rõ trong hồ sơ mời thầu. Giới hạn tối đa của việc điều chỉnh giá sẽ được đưa vào trong hợp đồng cung ứng hàng hoá nhưng trong hợp đồng xây lắp thì một giới hạn tối đa như vậy là không phổ biến. 7. Đặc điểm của sản phẩm xây dựng và hoạt động sản xuất xây dựng. 7.1. Đặc điểm của sản phẩm xây dựng Sản phẩm xây dựng có tính đơn chiếc Đặc điểm này đòi hỏi nhà thầu xây dựng phải có một năng lực nhất định. Với mỗi công trình khác nhau thì kiến trúc, công dụng và phương pháp thi công khác nhau nên công việc bóc tách khối lượng công việc cần làm; tính toán tiến độ thi công, số lượng máy móc, nhân công huy động cho công trình và đề xuất biện pháp thi công cho công trình là khác nhau đối với một nhà thầu. 2. Thời gian sử dụng và giá trị sản phẩm Khác với những sản phẩm thông thường, yêu cầu về độ bền vững và thời gian sử dụng của các công trình xây dựng thường lớn và dài. Do có độ dài về thời gian sử dụng nên các công trình có nhu cầu lớn về sửa chữa lớn, sửa chữa thường xuyên, cải tạo, mở rộng,... Bên cạnh đó, giá trị của công trình xây dựng lớn hơn giá trị của hàng hoá thông thường nên nhà thầu xây dựng nhiều khi phải có 1 lượng vốn đủ lớn để tiến hành thi công trong thời gian chờ vốn thanh toán của chủ đầu tư. Đặc điểm này cho thấy nếu nhà thầu có những sai sót trong thi công thì sẽ gây lãng phí lớn và việc sửa chữa sẽ khó khăn.. 3. Sản phẩm xây dựng chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội và đặc điểm địa lý nơi xây dựng. Đặc điểm này chi phối các hoạt động: khảo sát, thiết kế, các phương pháp thi công, giá cả đất đai, vấn đề đền bù giải phóng mặt bằng xây dựng,... Các chính sách kinh tế - xã hội tại địa phương nơi thực hiện xây dựng đặc biệt là các chính sách khuyến khích đầu tư xây dựng, nếu thông thoáng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nhà thầu tiến hành xây dựng. Các công trình xây dựng được thi công trên một địa điểm, nơi đó đồng thời gắn liền với việc tiêu thụ và thực hiện giá trị sử dụng của công trình. Địa điểm tiêu thụ sản phẩm sẽ do chủ đầu tư quyết định, nhà thầu chỉ có thể xác định địa điểm tiêu thụ và thi công thông qua việc thông báo của chủ đầu tư. Nếu nơi xây dựng có kết cấu địa chất ổn định thì công trình sẽ bền vững. Nếu kết cấu địa chất không ổn định hoặc ở vào nơi trước kia là hồ, ao sau đó được lấp đất thì sẽ phải tốn rất nhiều chi phí cho việc làm nền móng của công trình. Do vậy, nhà thầu trước khi tiến hành xây dựng công trình phải tiến hành điều tra thực tế tại địa điểm nơi thực hiện xây dựng từ đó tìm ra những biện pháp hữu hiệu giảm tới mức tối đa các rủi ro có thể xảy ra do đặc điểm này của sản phẩm xây dựng. Đặc điểm của hoạt động sản xuất xây dựng Một là: Sản xuất xây dựng phải tiến hành theo đơn đặt hàng cho từng trường hợp cụ thể vì sản xuất xây dựng rất đa dạng, có tính cá biệt cao và chi phí lớn. Trong phần lớn các ngành sản xuất khác, người ta có thể sản xuất sẵn hàng loạt sản phẩm để bán. Nhưng với các công trình xây dựng thì không thể làm thế được, trừ một số trường hợp rất hiếm hoi khi chủ đầu tư làm sẵn một số nhà ở để bán, nhưng ngay cả ở đây, mỗi nhà cũng đều sẽ có các đặc điểm riêng do điều kiện địa chất và địa hình đem lại. Đặc điểm này dẫn đến yêu cầu là phải xác định giá cả của sản phẩm xây dựng trước khi sản phẩm được làm ra và hình thức giao nhận thầu hoặc đấu thâù xây dựng cho từng công trình cụ thể trở nên phổ biến trong sản xuất xây dựng. Đặc điểm này cũng đòi hỏi nhà thầu muốn thắng thầu phải tích luỹ nhiều kinh nghiệm cho nhiều trường hợp xây dựng cụ thể và phải tính toán cẩn thận khi tranh thầu. Hai là: Quá trình sản xuất xây dựng rất phức tạp, các đơn vị tham gia xây dựng công trình phải cùng nhau kéo đến hiện trường thi công với một diện tích có hạn để thực hiện phần việc của mình, theo một trình tự nhất định về thời gian và không gian. Đặc điểm này đòi hỏi phải có trình độ tổ chức phối hợp cao trong sản xuất, coi trọng công tác chuẩn bị xây dựng và thiết kế tổ chức thi công, phối hợp chặt chẽ với các nhà thầu khác. Ba là: Sản xuất xây dựng phải tiến hành ngoài trời nên chịu nhiều ảnh hưởng của thời tiết, điều kiện làm việc nặng nhọc. ảnh hưởng của thời tiết thường làm gián đoạn quá trình thi công, năng lực sản xuất của nhà thầu không được sử dụng điều hoà theo bốn quý, gây khó khăn cho việc lựa chọn cho trình tự thi công, đòi hỏi dự trữ vật tư nhiều hơn. Đặc điểm này đòi hỏi nhà thầu phải lập tiến độ thi công hợp lý để tránh thời tiết xấu, phấn đấu tìm cách hoạt động tròn năm, áp dụng kết cấu lắp ghép làm sẵn trong xưởng một cách hợp lý để giảm bớt thời gian thi công tại hiện trường, áp dụng cơ giới hoá hợp lý, chú ý độ bền chắc của máy móc, đặc biệt quan tâm đến việc cải thiện điều kiện làm việc của công nhân, chú ý đến nhân tố rủi ro về thời tiết khi tính toán tranh thầu, quan tâm phát triển phương pháp xây dựng trong điều kiện nhiệt đới.. Bốn là: Chu kỳ sản xuất (thời gian xây dựng công trình) thường dài. Đặc điểm này làm cho vốn đầu tư xây dựng công trình và vốn sản xuất của nhà thầu thường bị ứ đọng lâu tại công trình đang còn xây dựng, dễ gặp phải các rủi ro ngẫu nhiên theo thời gian, công trình xây dựng xong dễ bị hao mòn vô hình do tiến bộ của khoa học và công nghệ nếu thời gian xây dựng quá dài. Đặc điểm này đòi hỏi nhà thầu phải chú ý đến nhân tố thời gian khi lựa chọn phương án, phải lựa chọn phương án có thời gian hợp lý, phải có chế độ thanh toán và kiểm tra chất lượng trung gian thích hợp, dự trữ hợp lý. Năm là: Tình hình và điều kiện sản xuất trong xây dựng thiếu tính ổn định, luôn biến đổi theo địa điểm xây dựng và giai đoạn xây dựng. Cụ thể là trong xây dựng con người và công cụ lao động luôn luôn phải di chuyển từ công trường này đến công trường khác, còn sản phẩm xây dựng (tức là công trình xây dựng) thì hình thành và đứng yên tại chỗ, một đặc điểm hiếm thấy ở các ngành khác. Các phương án xây dựng về mặt kỹ thuật và tổ chức sản xuất cũng luôn luôn phải thay đổi theo từng địa điểm và giai đoạn xây dựng. Đặc điểm này gây ra những khó khăn cho việc tổ chức sản xuất, khó cải thiện điều kiện cho người lao động, làm nảy sinh nhiều chi phí cho khâu di chuyển lực lượng sản xuất và cho công trình tạm phục vụ sản xuất. Đặc điểm này cũng đòi hỏi nhà thầu phải chú ý tăng cường tính cơ động, linh hoạt và gọn nhẹ về mặt trang bị tài sản cố định sản xuất, lựa chọn các hình thức tổ chức sản xuất linh hoạt, tăng cường điều hành tác nghiệp, phấn đấu giảm chi phí có liên quan đến vận chuyển, lựa chọn vùng hoạt động thích hợp, lợi dụng tối đa lực lượng xây dựng tại chỗ và liên kết tại chỗ để tranh thầu xây dựng, chú ý đến nhân tố chi phí vận chuyển khi lập giá tranh thầu. Đặc điểm này cũng đòi hỏi phải phát triển rộng khắp trên lãnh thổ, các loại hình dịch vụ sản xuất phục vụ xây dựng, như các dịch vụ cho thuê máy xây dựng, cung ứng và vận tải, sản xuất vật liệu xây dựng. Chương II Tình hình hoạt động dự thầu của công ty xây dựng số 4 I. Sự hình thành và phát triển của Công ty Công ty xây dựng số 4 được thành lập ngày 18 tháng 10 năm 1959,cơ sở tiền thân ban đầu là Công trường xây dựng nhà máy phân đạm Hà Bắc và Công ty kiến trúc khu bắc Hà Nội. Nhiệm vụ chính của Công ty là: +Thực hiện các công việc xây dựng gồm: -Nạo vét, đào đắp mặt bằng, đào đắp nền và đào đắp công trình. -Thi công các loại móng công trình. -Xây lắp các kết cấu công trình. -Hoàn thiện trong xây dựng. -Lắp đặt thiết bị điện nước và kết cấu công trình. -Trang trí nội ngoại thất công trình. +Thực hiện xây dựng các công trình gồm: -Xây dựng các công trình dân dụng và các công trình công nghiệp. -Nhận thầu san lấp mặt bằng và xử lý nền móng công trình. -Xây dựng các công trình kỹ thuật hạ tầng đô thị và khu công nghiệp. -Xây dựng đường và trạm biến áp điện đến 35 KV. -Xây dựng đường bộ,cầu đường bộ, cầu cảng các loại nhỏ. -Xây dựng kênh,mương,đê, kè,trạm bơm thuỷ lợi loại vừa và nhỏ. Sự trưởng thành và phát triển của công ty trên 40 năm qua có thể khái quát bằng 4 thời kỳ sau: Thời kỳ 1959 - 1965 Khôi phục kinh tế miền Bắc XHCN Công ty xây dựng số 4 ra đời vào lúc bắt đầu thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (năm 1961-1965), Đảng và nhà nước ta chủ trương hàn gắn các vết thương chiến tranh, khôi phục và xây dựng nền kinh tế ở miền Bắc. Với tinh thần đó, nhiệm vụ đầu tiên của công ty là xây dựng Nhà máy phân đạm Hà Bắc (năm 1960). Công việc thi công thời gian này gập rất nhiều khó khăn như cơ sở vật chất nghèo nàn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ hạn chế, lao động thủ công là chủ yếu, với gần 15.000 lao động đa phần là bộ đội, thanh niên xung phong chuyển ngành..., song với tinh thần lao động cần cù sáng tạo vừa sản xuất vừa học tập nâng cao tay nghề nên đã hoàn thành tốt kế hoạch, chỉ tiêu và những yêu cầu được giao. Thời kỳ 1965 - 1975 Xây dựng và chiến đấu chống chiến tranh xâm lược. Thời kỳ xây dựng và chiến đấu chống chiến tranh xâm lược, đánh dấu một thời kỳ khó khăn, ác liệt song cũng nhiều thành tích trong lao động, chiến đấu của tập thể cán bộ công nhân viên của công ty. Năm 1964, đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh leo thang phá hoại miền Bắc, công ty xây dựng số 4 phải thực hiện nhiệm vụ theo hướng vừa xây dựng, vừa sẵn sàng chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Thời kỳ này, công ty được giao thi công hàng loạt các công trình quân sự, công nghiệp và dân sự như sân bay Kép, sân bay Gia Lâm, sân bay Hoà Lạc, kho vật tư kỹ thuật quân sự, nhà máy cơ khí Đông Anh, nhà máy gạch Tân Xuyên, bệnh viện Lạng Sơn, nhiệt điện Hà Bắc,... Bên cạnh đó, với tinh thần tất cả cho tiền tuyến, công ty đã điều hàng trăm xe tải vận chuyển vật tư kỹ thuật quân sự chi viện cho chiến trường miền Nam, hàng ngàn thanh niên, công nhân của công ty hăng hái lên đường làm nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Thời kỳ 1975 - 1986 Xây dựng trong hoà bình, thống nhất và bắt đầu sự nghiệp đổi mới đất nước. Là một trong những đơn vị trong ngành được chọn để xây dựng mô hình quản lý mới, công ty xây dựng số 4 đã tiến hành phương thức phân công, phân cấp tự chủ trong sản xuất kinh doanh, làm ăn có lãi, tổ chức lại các xí nghiệp theo hướng chuyên ngành, theo vùng... Hoạt động của công ty trải dài từ Thanh Hoá đến Lạng Sơn với nhiệm vụ thi công trên 6 tỉnh, thành phố trực thuộc. Hàng loạt các công trình được công ty đảm nhận thi công thời kỳ này được đánh giá cao như nhà máy cơ khí Hà Bắc, phục hồi nhà máy điện và phân đạm Hà Bắc, nhà máy kính Đáp Cầu,... Nhiều sáng kiến cải tiến và quản lý chất lượng đã đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc cuả đội ngũ cán bộ công nhân viên công ty xây dựng số 4 trong quản lý kinh tế cũng như điều hành tổ chức thi công. Với nhiều bằng khen, giấy chứng nhận, nhiều cán bộ công nhân viên được Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam tặng Bằng Lao động sáng tạo. Công ty xứng đáng được Bộ xây dựng đánh giá là đơn vị mạnh, có kinh nghiệm và khả năng tổ chức và thi công các công trình công nghiệp lớn, đặc biệt có khả năng tập trung cơ động nhanh, chi viện cho các công trình trọng điểm khi được Bộ giao. Thời kỳ 1986 - 1999 Đổi mới hội nhập và phát triển. Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo khởi đầu từ nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV ( tháng12/1986) đưa nước ta bước sang thời kỳ phát triển mới. Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa thực sự là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp phải tự đổi mơí nhất là đổi mới tư duy kinh tế. Năm 1992, công ty được chuyển địa điểm từ Hà Bắc về Hà Nội đồng thời được Bộ xây dựng quyết định sát nhập Xí nghiệp xây dựng dịch vụ số 3 thuộc Bộ xây dựng thành Công ty xây dựng số 4 hiện nay. Để tăng cường nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp nhà nước có đủ thế mạnh cạnh tranh trong cơ chế thị trường, tháng 5/1995, Công ty xây dựng số 4 được Bộ xây dựng quyết định trực thuộc Tổng công ty xây dựng Hà Nội. Tại thời điểm này, kiện toàn tổ chức sản xuất, mạnh dạn đầu tư thiết bị mới, tuyển chọn đội ngũ cán bộ có phẩm chất, có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ tốt, có sự năng động sáng tạo thích ứng với cơ chế thị trường là phương thức của công ty bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển trong điều kiện mới. Những công trình thi công đạt chất lượng cao của công ty trong thời kỳ này tiêu biểu như Nhà họp Chính phủ, Uỷ ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư, Văn phòng Quốc hội, Nhà hát lớn Thành phố, Khách sạn Opera Hilton Hà Nội, đại sứ quán Pháp, trung tâm điều hành thông tin di động V MS,... II. Tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty Trong môi trường cạnh tranh quyết liệt do sức ép tạo việc làm, công ty phải đối mới với rất nhiều khó khăn nhưng dưới sự lãnh đạo của Tổng công ty, của Đảng uỷ công ty và sự nỗ lực phấn đấu của tập thể cán bộ công nhân viên toàn công ty, công ty xây dựng số 4 luôn đạt và vượt các chỉ tiêu kế hoạch định mức được giao, có mức tăng trưởng cao. Tổng giá trị tài sản hiện có của công ty tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2000 là 43 tỷ đồng. Về phương tiện máy móc thiết bị : công ty có một hệ thống máy móc thiết bị khá tiên tiến hiện đại đảm bảo cho công ty hoàn toàn có đủ khả năng tiến hành thi công mọi công trình có quy mô lớn,yêu cầu chất lượng cao và tiến độ nhanh. Mặc dù giá trị sản xuất kinh doanh tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước song tốc độ phát triển về doanh thu và lợi nhuận có xu hướng giảm do công ty phải dự thầu nhiều công trình có tính cạnh tranh quyết liệt, công ty phải hạ thấp giá dự thầu nhằm thắng thầu, tạo công ăn việc làm cho cán bộ công nhân viên công ty. Công ty luôn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước qua mức nộp ngân sách ở mức cao. Năm 1998 giá trị sản xuất kinh doanh là 192,497 tỷ đồng, lợi nhuận là 2,115 tỷ đồng. Năm 1999 giá trị sản xuất kinh doanh là 200,065 tỷ đồng, cao hơn năm 1998 nhưng lợi nhuận thu được là 1,352 tỷ đồng, thấp hơn năm 1998. Năm 2000 giá trị sản xuất kinh doanh là 232 tỷ đồng, cao hơn năm 1999 nhưng lợi nhuận chỉ là 0,98 tỷ đồng, thấp hơn năm 1999. Bảng kết quả sản xuất kinh doanh trong 7 năm (1994-2000) Đơn vị: tỷ đồng STT Chỉ tiêu 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 1 Giá trị sản xuất kinh doanh 35 60 90 151 192,497 200,065 232 2 Tốc độ phát triển định gốc(%) 100 171,4 257,1 431,4 549,9 571,6 662,8 3 Doanh thu 34 59 82,24 137 190,264 146,804 140,372 4 Tốc độ phát triển định gốc(%) 100 173,5 241,8 402,9 559,6 431,7 412,86 5 Lợi nhuận 0,3 1,9 2,4 2,139 2,115 1,352 0,980 6 Tốc độ phát triển định gốc(%) 100 663,3 800 713 705 451 326,7 7 Nộp ngân sách 1,2 3,5 3,46 4,904 7,745 10,082 8,798 8 Tốc độ phát triển định gốc (%) 100 291,7 288,3 408,7 645,4 840,2 733,2 (Nguồn : Phòng Tài chính kế toán) Bảng cơ cấu giá trị sản xuất kinh doanh Chỉ tiêu Đơn vị 1999 2000 Giá trị sản xuất kinh doanh Tỷ đồng 200,065 232 Tốc độ phát triển định gốc % 100 115,96 Trong đó: a. Giá trị Tỷ đồng - Xây dựng dân dụng " 94,42 157,264 Tốc độ phát triển định gốc % 100 166,56 - Xây dựng công nghiệp Tỷ đồng 32,92 51,935 Tốc độ phát triển định gốc % 100 157,76 - Xây dựng hạ tầng, giao thông, thuỷ lợi Tỷ đồng 72,73 23,250 Tốc độ phát triển định gốc % 100 31,96 b. Tỷ trọng: " 100 100 - Xây dựng dân dụng “ 47,2 67,8 - Xây dựng công nghiệp “ 16,4 22,2 - Xây dựng hạ tầng, giao thông, thuỷ lợi “ 37,4 10 (Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 1999 và năm 2000) Theo bảng trên trong cơ cấu giá trị sản xuất kinh doanh của công ty thì xây dựng dân dụng chiếm 1 tỷ trọng lớn nhất. Năm 1999 xây dựng dân dụng là 94,42 tỷ đồng chiếm 47,2%; xây dựng công nghiệp là 32,92 tỷ đồng chiếm 16,4%; xây dựng hạ tầng, giao thông thuỷ lợi là 72,73 tỷ đồng chiếm 37,4%. Năm 2000 xây dựng dân dụng là 157,264 tỷ đồng cao hơn năm 1999; xây dựng công nghiệp là 51,935 tỷ đồng cao hơn năm 1999 và xây dựng hạ tầng, giao thông thuỷ lợi là 23,25 tỷ đồng thấp hơn năm 1999. Tốc độ phát triển của xây dựng dân dụng và xây dựng công nghiệp năm 2000 cao hơn so với năm 1999, tốc độ phát triển của xây dựng hạ tầng, giao thông thuỷ lợi năm 2000 thấp hơn năm 1999. Cùng với việc nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ công nhân viên, công ty đã quan tâm và nâng cao đời sống vật chất,tinh thần cho toàn thể cán bộ công nhân viên biểu hiện ở mức thu nhập bình quân tăng qua các năm. Song song với nhân tố con người công ty rất chú trọng đến công tác đầu tư mua sắm máy móc, thiết bị hiện đại, phục vụ thi công và quản lý. Tổng giá trị đầu tư tăng qua các năm. Bảng thu nhập bình quân của cán bộ công nhân viên công ty và tình hình đầu tư máy móc thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh Năm Đơn vị 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 Thu nhập bình quân đ/người 500.000 600.000 700.000 780.000 800.000 920.000 920.000 Tổng giá trị đầu tư Tỷ đồng 1,321 4,191 1,484 7,434 9,547 8,5 10,502 (Nguồn: Báo cáo thành tích 40 năm xây dựng và trưởng thành của công ty) III. Tình hình hoạt động đấu thầu xây dựng ở nước ta hiện nay Kể từ khi quy chế đấu thầu được ban hành kèm theo Nghị định 43/CP ngày16/7/1996, hầu hết các dự án đầu tư xây dựng đều được triển khai thưc hiện đấu thầu.Việc đấu thầu đã đem lại những kết quả là : Một là: Tiết kiệm vốn đầu tư nhờ đấu thầu So với thực tế ở chế độ giao thầu khi mà thực chi của các dự án đầu tư bao giờ cũng lớn hơn dự toán chi, có khi gấp từ 1,5 đến 2 lần thì lại càng thấy rõ hiệu quả của công tác đấu thầu. Ví dụ: dự án đường Láng - Hoà Lạc, gói thầu số 10 (đoạn km 27 đến km 30) được dự toán là 17,1 tỷ đồng nhưng qua đấu thầu đã ký được hợp đồng với giá có 6,9 tỷ đồng. (Nguồn: 12 - trang 8 và 9) Hai là: Tận dụng được những "khoản dư" sau đấu thầu đối với dự án sử dụng nguồn vốn ODA Nhờ tổ chức đấu thầu quốc tế nên trong quá trình thực hiện các dự án sử dụng nguồn vốn ODA, số tiền tài trợ thường lớn hơn giá bỏ thầu. Đây là "khoản dư" sau đấu thầu. Thực tiễn cho thấy nếu được nhà tài trợ chấp thuận trên cơ sở đánh giá hiệu quả của toàn bộ quá trình triển khai dự án như tiến độ giải ngân, trình độ quản lý dự án,... thì bên được vay sẽ tiếp tục tiến hành các hạng mục công trình khác nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của dự án chính ban đầu. Có 2 dự án có quy mô khá lớn được triển khai bằng số vốn "dư" sau đấu thầu. (Nguồn: 13 - trang 5). Một là dự án xây dựng tuyến tránh Pháp Vân - Cầu Giế do 2 chủ dự án là PMV1 và PMV18 đồng thực hiện. Tổng số vốn cho dự án này khoảng 30 triệu USD được "trích" từ dự án nâng cấp cải tạo quốc lộ 1A do JBIC tài trợ. Hai là dự án nâng cao hiệu quả khai thác quốc lộ 5 với tổng số vốn khoảng 50 triệu USD được "lấy" từ dự án cải tạo nâng cấp quốc lộ 5 của JBIC. Các hiệp định vay vốn ODA được ký kết giữa Chính phủ Việt Nam và các nhà tài trợ đều dựa trên nguyên tắc cơ bản là số tiền viện trợ dành để thực hiện 1 dự án và số vốn vay được quyết định trên cơ sở các số liệu của dự án tiền khả thi. Do vậy, việc quy hoạch tổng thể dự án một cách chính xác không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả của dự án mà còn là điều kiện tốt để có thể triển khai thực hiện các dự án sử dụng vốn dư sau đấu thầu. Bên cạnh những ưu điểm trên, công tác đấu thầu xây dựng còn tồn tại những hạn chế sau: Một là: Muốn nhận được một hợp đồng thi công công trình xây dựng cơ bản, trước hết nhà thầu phải biết cách móc nối quan hệ, phải được cả một đường dây ủng hộ thì mới xong. Có những công trình đặc biệt, phải qua rất nhiều cửa, ngoài cửa chính còn cửa ngách, cửa hậu,... Qua cửa nào cũng phải lễ lạt hết, nhẹ thì cân thuốc, túi chè, nặng thì tờ xanh, tờ đỏ; có những cửa phải trích % không thiếu một xu. Tất nhiên những thứ đó, nhà thầu phải đưa vào giá thành chứ không ai rút tiền túi ra cả. Dăm chục, một trăm thì hạch toán vào phí, nhiều thì phải tính vào khối lượng chứ biết làm sao. Hãy thử tính xem, các công trình xây dựng cơ bản hiện nay phải gánh trên nó những gì, ngoài khối xi măng sắt thép khổng lồ trên nền đất không lấy gì làm vững chãi công thêm cái nền xã hội rối rắm như vậy, nhiều công trình bị lún móng, nứt tường, dột trần,... nghĩ cũng là điều dễ hiểu vì chúng phải chịu quá tải! Hai là : Giá bỏ thầu quá thấp Giá bỏ thầu quá thấp so với giá dự toán đã gây nên sự sửng sốt cho các nhà thầu đối thủ, chủ đầu tư và cơ quan tư vấn thiết kế. Đối với nhà thầu trúng thầu nhiều khi không được vui lắm vì biết rằng với giá như vậy họ sẽ không có lãi mà còn bị lỗ nặng. Với các dự án có vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, thoạt nghe thì nhà nước là người được lợi do tiết kiệm được khi giá chào thầu thấp hơn nhiều so với giá dự toán công trình. Thực tế không diễn ra như vậy, chất lượng công trình là một vùng đệm hầu như không có giới hạn để nhà thầu điều chỉnh chi phí cho phù hợp với mức giá bỏ thầu. Do vậy, để hạ giá thành, nhà thầu chỉ việc thay thế bằng vật tư rẻ tiền, cắt xén công đoạn và khối lượng thực hiện và cuối cùng giải quyết khâu nghiệm thu với giám sát bên A bằng giải pháp "phong bì". Các dự án có vốn vay hoặc từ nguồn ODA thì hầu hết các nhà thầu chính là nhà thầu nước ngoài do có lợi thế về quy chế của tổ chức tín dụng, giải pháp bí quyết công nghệ, tiềm lực tài chính, kinh nghiệm lâu năm, uy tín trên thương trường quốc tế. Giá công trình là giá trên mặt bằng quốc tế được xác định thông qua đấu thầu quốc tế. Khi bỏ thầu thấp, tưởng rằng các nhà thầu nước ngoài sẽ chịu lỗ nhưng thực chất vẫn thu được lợi nhuận cao, khoản lỗ sẽ do các nhà thầu phụ gánh chịu. Sau khi thắng thầu, nhà thầu chính nước ngoài thường thực hiện công trình cùng với một số nhà thầu phụ trong nước. Song vì thiếu quy định của pháp luật, quy chế đấu thầu hiện hành của Việt Nam chỉ quy định việc đấu thầu giữa 2 bên A và bên B còn việc chuyển thầu giữa các bên B thì chưa có hướng dẫn nên các hạng mục "ngon ăn, dễ làm" được chuyển cho các bên phụ là nhà thầu nước ngoài, các hạng mục "khó nhai" mới đến lượt các nhà thầu phụ trong nước. Thế nhưng để trở thành nhà thầu phụ đâu phải là chuyện đơn giản. Giải pháp phổ biến là các nhà thầu phụ Việt Nam tranh nhau hạ giá, kết quả nhà thầu chính nước ngoài có khi chỉ mất không đến 50% chi phí đã dự toán cho phần công việc mà nhà thầu phụ Việt Nam đảm nhận. Khi thực hiện các công trình loại này, nhà thầu chính nước ngoài hầu như không chấp nhận cách làm cắt xén trong công việc nên nhà thầu phụ Việt Nam đành phải làm theo đúng quy chuẩn và cam kết chất lượng sản phẩm mà nếu tính đúng, tính đủ thì phía Việt Nam lỗ to. Để có giá bỏ thầu rất thấp, nhà thầu phụ Việt Nam đành phải "ngậm bồ hòn làm ngọt", giảm hoặc bỏ qua chi phí khấu hao hết; giảm định mức khoán chi phí lao động cho các đội và người lao động; đưa vào khai thác một số vật tư, tài sản còn sót lại từ thời bao cấp hoặc cắt giảm chi phí về bảo hiểm, chi phí an toàn lao động. Vô hình chung, nhà thầu phụ Việt Nam đã tự rút ruột tài sản và năng lực của mình để làm giàu cho các nhà thầu chính nước ngoài. Điều dễ nhận thấy là các thầu phụ Việt Nam bỏ giá thầu thấp hầu hết là doanh nghiệp nhà nước còn tư nhân và liên doanh nước ngoài không bao giờ chấp nhận thực hiện công việc nếu biết trước là phải bù lỗ. Không có lợi nhuận để tái đầu tư nên các nhà thầu phụ Việt Nam không nâng cao được năng lực cạnh tranh trong đấu thầu. Cái "vòng luẩn quẩn" làm thuê lại tiếp diễn. Bảng Giá trúng thầu bỏ quá thấp so với giá gói thầu được duyệt trong kế hoạch đấu thầu của 1 số dự án gần đây TT Tên dự án hoặc gói thầu Giá gói thầu được duyệt Giá trúng thầu So sánh (%) 1 Dự án cải tạo sông Kim Ngưu 42 tỷ VNĐ 34 tỷ VNĐ 80 2 Dự án cải tạo hành lang Lê Duẩn 49 tỷ VNĐ 32 tỷ VNĐ 65 3 Đê chắn sóng - Nhà máy lọc dầu số 1 - Dung Quất 60 tr USD 43 tr USD 71 4 Dự án cải tạo xi măng Bỉm Sơn (gói xây lắp) 55 tỷ VNĐ 36 tỷ VNĐ 65 5 Đường Xuyên á 80 tr USD 30 tr USD 37,5 6 Hầm đường sắt Hải Vân (1 gói) 15 tr USD 4,5 tr USD 30 7 9 cầu đường sắt 2,4 tỷ Yên 1,15 tỷ Yên 48 8 San nền khu thể thao quốc gia 26,6 tỷ VNĐ 17,9 tỷ VNĐ 67 9 Dự án R500 (Ngập Lục Quảng Ngãi - Nha Trang - 1 gói) 9700 tỷ VNĐ 7143 tỷ VNĐ 73,6 10 Dự án ADB 2 N2 Lạng Giang - Cầu Lường 343,4 tỷ VNĐ 222,4 tỷ VNĐ 64 11 Dự án WB2 (Vinh Đông Hà) HĐ2 (Sông Họ - Sông Gianh) 353,4 tỷ VNĐ 247,8 tỷ VNĐ 70 (Nguồn: Viện kinh tế - Bộ xây dựng) Ba là: Hầu hết các dự án xây dựng các công trình từ nguồn vốn ODA đều được điều chỉnh tăng khối lượng sau khi bỏ thầu Tiến độ xây dựng hạ tầng giao thông thường hay bị chậm do có sự ách tắc "mang tính kỹ thuật" trong quá trình triển khai việc vay vốn từ các nhà tài trợ. Khi lập dự án tiền khả thi, do đơn giá xây dựng cơ bản của Việt Nam thường cao hơn so với các quốc gia trong khu vực nên số lượng vốn vay cần thiết sẽ cao hơn định mức vốn mà nhà tài trợ có thể cho vay. Thực tế là hầu hết các dự án sau khi bỏ thầu đều được điều chỉnh tăng khoảng từ 30% khối lượng trở lên cá biệt có dự án đã tăng tới 70% khối lượng thi công so với quy mô ban đầu. Nếu không tính đến những ách tắc trong khâu giải phóng mặt bằng thì đây là lý do chủ yếu khiến thời gian thi công các dự án thường bị kéo dài hơn so với dự kiến ban đầu. Ví dụ: Sau gần 5 năm tiến hành xây dựng, dự án cải tạo nâng cấp hơn 1.500 km của quốc lộ 1A bằng nguồn vốn ODA của ADB và WB đã cơ bản hoàn thành. Tiểu dự án thi công đoạn thành phố Hồ Chí Minh - Nha Trang, đoạn ngập nặng Đông Hà - Quảng Ngãi đã được hoàn tất và đoạn thành phố Hồ Chí Minh - Cần Thơ đã có khối lượng thi công tương đương với giá trị phần vốn vay và Bộ tài chính đã thẩm định song các hạng mục cần thanh toán để trình nhà tài trợ nhằm đảm bảo thời hạn hiệu lực qua, khoảng 70% các cuộc đấu thầu quốc tế tại Việt Nam có kết quả trúng thầu là các nhà của Hiệp định vay vốn. Tuy nhiên, đoạn Vinh - Đông Hà do khối lượng tăng tới 70% nên cho đến nay mới hoàn thành khoảng hơn 70% khối lượng, dự kiến phải đến cuối năm 2001 mới được thông xe. Bốn là: Sự có mặt ít ỏi, chủ yếu ở vị trí thầu phụ của các doanh nghiệp Việt Nam trong các dự án lớn, đặc biệt là các dự án có đấu thầu quốc tế là một thực trạng đáng lo ngại về khả năng hội nhập và tìm kiếm cơ hội tăng doanh thu của các doanh nghiệp Việt Nam. Thực tế cho thấy, trên 1.300 doanh nghiệp của mọi thành phần kinh tế của Việt Nam đang hoạt động trong các lĩnh vực tư vấn, thiết kế, xây lắp, đầu tư phát triển nhà,... rất ít doanh nghiệp có khả năng tài chính mạnh, số đông còn lại, theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, tuy hạn chế về khả năng tài chính nhưng không thiếu năng lực, kinh nghiệm thực hiện dự án. Trong khi đó tài lực yếu là nguyên nhân chính làm rất nhiều nhà thầu Việt Nam đã bị "knock out" ngay từ vòng đầu. IV. Công tác dự thầu của công ty Công ty tham dự đấu thầu trên danh nghĩa công ty hoặc danh nghĩa Tổng công ty xây dựng Hà Nội. Trong những năm qua, công ty đã thắng thầu nhiều công trình lớn, nhỏ. Với danh nghĩa Tổng công ty, năm 2000, công ty lần đầu tiên đấu thầu quốc tế dự án R6 đường quốc lộ 10 và đã trúng thầu. Năm 1999, công ty dự thầu 106 công trình, trúng thầu 39 công trình trị giá 161,7 tỷ đồng, tỷ lệ thắng thầu đạt 37%. Năm 2000, công ty dự thầu 110 công trình, trúng thầu 52 công trình (tăng 0,3 lần so với năm 1999) với giá trị 257,361 tỷ đồng (tăng 0,59 lần so với năm 1999), tỷ lệ thắng thầu đạt 47%. DANH mục các công trình thi công năm 2000 Đơn vị: triệu VNĐ STT Tên công trình Giá trị 1 Sửa chữa kho Logitem II 936 2 Nhà thi đấu thể dục thể thao Vĩnh Phúc 5.130 3 Nhà ở số 2 Định Công 5.068 4 Trụ sở VOCASINEX 2.300 5 Công ty môi trường đô thị Vĩnh Phúc 730 6 Kho lương thực Vĩnh Phúc 1.293 7 Trạm bơm Long Khê 2.160 8 Công trình kho giầy Hà Nội 1.115 9 Sân Tennis FAFILM 620 10 Ban quản lý dự án điện Miền Bắc 2.180 11 Công trình quản lý ĐT Vĩnh Yên 220 12 Nhà A10 Đầm Trấu 2.500 13 Nhà khách 37 Hùng Vương 5.174 14 Cải tạo khách sạn La Thành 1.411 15 Phòng đọc thư viện quốc gia 6.600 16 Văn phòng làm việc các ban dự án - Bộ Tài chính 1.600 17 Trạm bơm Như Trác 2.255 18 Nhà A - E - G - H Thư viện quốc gia 2.800 19 Cơ sở đào tạo tại chức Đại học Tài chính Kế toán 3.782 20 Cống Đồng Vỹ và 11 cống tưới tiêu 905 21 VMS thành phố Hồ Chí Minh 10.680 22 Nhà hát cải lương Trung Ương 1.180 23 Sở Nông nghiệp phát triển nông thôn Hà Nam 1.700 24 Cải tạo trụ sở Bộ Lao động thương binh xã hội 1.386 25 Bệnh viện K 1.200 26 Nâng cấp, hoàn chỉnh nhà hát nhạc vũ kịch Việt Nam 500 27 Khu xử lý chất thải sinh hoạt Nam Sơn 1.138 28 Hệ thống cấp nước xã Cẩm ._.o thực hiện nhiệm vụ chính của mình nhằm khai thác triệt để lợi thế và kinh nghiệm của công ty, tạo điều kiện nâng cao chất lượng các công trình do công ty thi công. Ngoài ra nhằm giảm thiếu rủi ro khi tham gia đấu thầu, công ty cần đẩy nhanh công tác nghiên cứu khả thi các dự án trong lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng trình Tổng công ty xét duyệt vì nhu cầu về vật liệu xây dựng là rất lớn. Các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh đang trong quá trình đô thị hoá nên nhu cầu xây dựng nhà ở cho người dân là rất lớn nhưng chưa được đáp ứng, việc xây dựng hệ thống thoát nước, giao thông đô thị và thể thao là rất cần thiết. Do vậy công ty chuyển mạnh sang lĩnh vực kinh doanh nhà để bán, chú trọng các dự án thoát nước, giao thông đô thị và thể thao ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Bên cạnh việc chiếm lĩnh các thị trường truyền thống trong nước công ty từng bước thâm nhập vào thị trường xây dựng ở nước Cộng hoà dân chủ Lào. Hai là: Công tác nắm bắt thông tin và quảng cáo: + Công tác nắm bắt thông tin - Duy trì quan hệ với các chủ đầu tư đã có công trình do công ty nhận thầu dù nhu cầu xây dựng là không liên tục. - Công ty phải thiết lập 1 hệ thống thông tin đầy đủ về những định hướng chiến lược đầu tư của Nhà nước, của các bộ ngành; các dự án lớn trọng điểm của Nhà nước, tiếp cận các cơ quan lập dự án từ bước nghiên cứu tiền khả thi đến nghiên cứu khả thi. - Công ty cần xác định rõ những mặt mạnh mặt yếu của đối thủ để đề ra chiến lược đấu thầu thích hợp. Trong lĩnh vực xây dựng, rào cản về vốn, công nghệ đối với việc thành lập 1 doanh nghiệp mới là rất lớn nên công ty ít bị đe doạ về các đối thủ tiềm ẩn mới xâm nhập vào thị trường xây dựng. Các đối thủ chính của công ty là những công ty xây dựng trong nước và nước ngoài đã hoạt động lâu năm và có thị phần nhất định. Các công ty trong nước như: ã Tổng công ty xây dựng sông Đà có uy tín và thế mạnh trong xây dựng các công trình nhà máy thuỷ điện, nhiệt điện, các công trình đê đập. ã Tổng công ty xây dựng Trường Sơn, Tràng An là những Tổng công ty quân đội có sức mạnh trong vấn đề huy động nhân lực và giá tranh thầu của họ thường hấp dẫn ở 1 số công trình do giảm được chi phí nhân công. Các công ty xây dựng nước ngoài chủ yếu tham gia đấu thầu và nhận thầu các công trình có vốn FDI, ODA. Các công ty nước ngoài trúng thầu thường là các công ty của chính những nước có nguồn vốn đầu tư nói trên hoặc là là các công ty xây dựng nước ngoài được chủ đầu tư mời dự thầu. Đây là những công ty có tiềm lực mạnh về tài chính, công nghệ, tổ chức quản lý và có kinh nghiệm, uy tín lớn. Công ty nên mở rộng mối quan hệ với các công ty xây dựng nước ngoài để nhận làm thầu phụ khi tham gia đấu thầu quốc tế nếu như công ty không trúng thầu nhằm học hỏi kinh nghiệm. Ngoài ra còn có các doanh nghiệp xây dựng thuộc các Sở xây dựng và ngoài quốc doanh. Các công ty này chỉ xuất hiện và cạnh tranh với công ty khi công ty tham gia đấu thầu các công trình tại địa phương. Các công ty này tuy khả năng về tài chính, công nghệ, lao động còn hạn chế song lại có mối quan hệ chặt chẽ với chủ đầu tư, cơ quan Nhà nước tại địa phương. Do đó công ty phải đi nghiên cứu thực tế tình hình tại địa phương nơi sẽ xây dựng công trình, tìm hiểu kỹ giá nguyên vật liệu, điều kiện vận chuyển cung ứng ở địa phương, tăng cường mối quan hệ với chủ đầu tư, chính quyền địa phương hoặc liên doanh với các đơn vị xây dựng địa phương để tham gia đấu thầu nếu thấy khả năng trúng thầu là thấp. Cuối cùng công ty phải báo cáo kịp thời những thông tin cập nhật đưa lên lãnh đạo Tổng công ty để có phương án triển khai mua sắm máy móc, thiết bị thi công, bố trí kế hoạch sản xuất, bố trí lao động 1 cách đầy đủ, hợp lý nhằm giành ưu thế khi tham dự đấu thầu. + Giải quyết khiếu nại của khách hàng: Nhằm nâng cao uy tín cho công ty đồng thời tạo dựng lòng tin đối với các đơn vị có dự án giao cho công ty thi công xây lắp, công ty sẽ tiếp nhận, giải quyết những khiếu nại của các đơn vị về các sản phẩm, dịch vụ do công ty cung cấp. Người phụ trách liên quan của công ty để giải quyết những đề nghị, sự phàn nàn và không đồng ý của khách hàng là trưởng các phòng,xí nghiệp,đội trực thuộc công ty hoặc người được uỷ quyền. Việc giải quyết khiếu nại sẽ được giám đốc công ty hoặc người phụ trách liên quan phân công. Đối với các khiếu nại thuộc trách nhiệm của công ty, xí nghiệp, đội trực thuộc thì người phụ trách liên quan phải xác định được nguyên nhân, lập báo cáo khiếu nại theo mẫu để giải quyết hoặc trình giám đốc công ty quyết định hướng giải quyết nếu vượt quá thẩm quyền hoặc khiếu nại có liên quan đến các quy định của pháp luật. Người phụ trách liên quan thông báo cho khách hàng về cách thức, thời gian giải quyết và theo dõi đảm bảo việc giải quyết được thực hiện 1 cách kịp thời, đảm bảo thoả mãn các yêu cầu đã thoả thuận với khách hàng. Nếu khiếu nại không thuộc trách nhiệm của công ty, xí nghiệp, đội trực thuộc hoặc không có căn cứ thì người phụ trách liên quan sẽ trao đổi, làm rõ về khiếu nại đó với khách hàng. + Công ty phải chọn những cán bộ ngoài chuyên môn nghiệp vụ thành thạo còn phải có những tư chất như: năng khiếu nói chuyện, khả năng ứng xử, khả năng nhạy cảm xét đoán có những hiểu biết xã hội và có kinh nghiệm tiếp xúc để giải quyết những khiếu nại của khách hàng, để đàm phán ký kết hợp đồng. Người giao tiếp của công ty phải nắm bắt được ý đồ của khách hàng bằng việc trao đổi trực tiếp hỏi khách hàng hay bằng các công văn, thư từ, fax, internet,... Tiếp đó phải nghiên cứu ý đồ của khách hàng tức là đặt lên bàn cân những yêu cầu lợi ích và sự trả giá của khách hàng với khả năng và lợi ích của công ty với nguyên tắc chấp nhận 1 lợi ích chung từ 2 phía. Sau đó, phải thuyết phục khách hàng. Người giao tiếp của công ty phải có những lý lẽ, chứng cứ tài liệu, số liệu để làm cho khách hàng hiểu được những yêu cầu bất hợp lý mà họ cho là hợp lý. Quyết định chấp nhận và ký kết hợp đồng là công việc cuối cùng ở giai đoạn giao tiếp ban đầu của khách hàng với công ty. + Công tác quảng cáo Nhằm giới thiệu năng lực và uy tín của mình, công ty cần tăng cường hoạt động quảng cáo. Công ty làm những bộ phim video nhiều tập những cuốn cataloge giới thiệu về sự hình thành, phát triển của công ty, những công trình đạt huy chương vàng chất lượng cao do Bộ Xây dựng tặng, những kỹ thuật thi công tiên tiến. Những bộ phim này được trình chiếu và những cuốn cataloge này được trưng bày tại các kỳ hội chợ, triển lãm chuyên ngành. 2. Chiến lược đặt giá thấp Công ty bỏ thầu với giá thấp hơn các nhà thầu đối thủ để thắng thầu thì có thể xảy ra 2 trường hợp sau: Trường hợp 1: Công ty thu được mức lợi nhuận thấp hơn đối với từng công trình song số lượng công trình thắng thầu tăng, tổng lợi nhuận thu được từ các công trình thắng thầu cũng tăng. Trường hợp 2: Công ty vẫn thu được mức lợi nhuận như các nhà thầu đối thủ dựa vào: - Năng suất lao động tăng do kinh nghiệm thi công các công trình tương tự nên chi phí nhân công trực tiếp giảm. - Cân đối kế hoạch bố trí xe máy thi công, tổ chức thi công hợp lý, giảm được chi phí quản lý. - Định mức vật tư, kinh nghiệm quản lý tiết kiệm, giảm được chi phí nguyên vật liệu. - Tính toán từ mức hiệu quả đồng vốn bỏ ra nên chi phí sử dụng máy đưa vào dự toán có thể giảm được 10% vẫn bảo đảm máy hoạt động tốt trong những năm kế tiếp. Có người cho rằng, do đấu thầu cạnh tranh quyết liệt như hiện nay, các nhà thầu bỏ giá thầu thấp cốt để trúng thầu nên chất lượng công trình kém theo kiểu "tiền nào của ấy". Nhưng thực tế không hẳn như vậy. - Nếu chủ đầu tư chấp nhận mức giá bỏ thầu cao hoặc mức giá bỏ thầu trung bình nhưng khâu giám sát, quản lý kỹ thuật không tốt thì chất lượng công trình cũng không đảm bảo. - Nếu chủ đầu tư chấp nhận giá thấp với điều kiện nhà thầu có khả năng về trang thiết bị thi công, lực lượng lao động, vốn sản xuất,... để đảm bảo thi công gói thầu và được sự giám sát chặt chẽ ở tất cả các khâu như yêu cầu trong hồ sơ mời thầu và các cam kết của nhà thầu nêu trong hồ sơ dự thầu thì chất lượng công trình vẫn đảm bảo. Nhà thầu sẽ phải chấp nhận lãi ít hơn dự kiến hoặc lỗ để hoàn thành gói thầu, giữ uy tín cho nhà thầu hoặc bỏ cuộc, chịu mất tiền bảo lãnh dự thầu và mất uy tín trên thương trường. 3. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công nhân viên, xây dựng đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề; bố trí, sắp xếp, và sử dụng hợp lý đội ngũ lao động Lao động là một bộ phận của nguồn lực phát triển, là yếu tố đầu vào không thể thiếu được của quá trình sản xuất. Máy móc do con người sáng tạo ra song nó chỉ phát huy tác dụng thông qua kinh nghiệm, kiểm nghiệm và hiện thực hoá của hoạt động sản xuất trực tiếp của con người. Nếu số lượng lao động nhiều nhưng trình độ thấp thì hàm lượng chất xám trong sản phẩm thấp, giá bán sản phẩm của doanh nghiệp sẽ thấp. Nếu đẩy mạnh giáo dục và đào tạo sẽ nâng cao trình độ, tích luỹ kiến thức, hoàn thiện kỹ năng, kỹ xảo cho người lao động, tạo điều kiện cho người lao động có thể phát huy tối đa công suất máy móc, cải tiến đổi mới công nghệ, năng suất lao động được tăng lên, chất lượng sản phẩm tốt hơn, giá bán thấp hơn. Điều này sẽ tạo sự tín nhiệm đối với sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường. doanh nghiệp sẽ dần dần chiếm lĩnh thị trường và có lợi nhuận. Người lao động làm việc trong một môi trường đảm bảo vệ sinh an toàn lao động thì hiệu quả lao động sẽ tăng lên, làm việc với tinh thần sảng khoái. Đồng thời nếu có sức khoẻ tốt, sức bền bỉ, dẻo dai và khả năng tập trung cao độ trong khi đang làm việc, sản phẩm do người lao động làm ra sẽ đồng đều và có chất lượng tốt. Để xây dựng được 1 đội ngũ cán bộ công nhân viên có phẩm chất tốt, trình độ chuyên môn cao đáp ứng các yêu cầu mục tiêu phát triển, công ty cần thực hiện các nội dung sau: 3.1. Lập kế hoạch tuyển dụng - Việc lập kế hoạch tuyển dụng nhân lực dài hạn hàng năm và lao động thời vụ của công ty phải dựa trên cơ sở:kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm của công ty, nhu cầu bổ sung nhân lực cho các bộ phận trong công ty và thực trạng nhân lực của công ty. - Nội dung chủ yếu của kế hoạch tuyển dụng bao gồm: số lượng, ngành nghề, trình độ và thời gian cần tuyển. - Quá trình tuyển dụng lao động dài hạn cần tuân thủ các bước sau: ã Bước 1: Thông báo cần tuyển nhân lực trên các phương tiện thông tin đại chúng và các văn bản cần có trong hồ sơ dự tuyển. ã Bước 2: Kiểm tra hồ sơ dự tuyển. ã Bước 3: Thành lập hội đồng thi tuyển. ã Bước 4: Tiến hành thi tuyển. ã Bước 5: Ký hợp đồng thử việc. Thời gian thử việc đối với lao động tốt nghiệp cao đẳng, đại học trở lên là 2 tháng; tốt nghiệp trung sơ cấp kỹ thuật, nghiệp vụ là 1 tháng. ã Bước 6: Xét tuyển chính thức. Sau khi kết thúc thời gian thử việc, người lao động phải báo cáo bằng văn bản về kết quả thực hiện hợp đồng thử việc. Trưởng các phòng ban, thủ trưởng các đơn vị trực thuộc công ty hoặc người được uỷ quyền có liên quan đến công tác tuyển dụng nhân lực phải nhận xét kết quả thử việc và đề xuất việc tuyển dụng chính thức hay thôi tuyển dụng người thử việc tại bộ phận mình phụ trách. - Đối với tuyển dụng lao động ngắn hạn (thời vụ): ã Chủ nhiệm công trình xác định nhu cầu tuyển dụng lao động thời vụ cho từng dự án dựa trên khối lượng công việc và tiến độ thực tế của công trình. ã Tiến hành thông báo nhu cầu tuyển dụng lao động thời vụ bằng các hình thức như: đăng tin, nhờ môi giới hoặc liên hệ trực tiếp. ã Hồ sơ tuyển dụng cần có: đơn xin việc, lý lịch, giấy khám sức khoẻ, bằng cấp (nếu có). ã Tiến hành tuyển dụng: Chủ nhiệm công trình kiểm tra hồ sơ lý lịch, nhận thấy lý lịch rõ ràng, sức khoẻ đảm bảo, giấy chứng nhận nghề nghiệp phù hợp. Đối với các trường hợp không có bằng cấp thì trước khi chấp nhận phải kiểm tra tay nghề đối với công việc có liên quan để đảm bảo đảm đương được yêu cầu công việc, kết quả kiểm tra phải lưu hồ sơ. ã Những lao động được chấp nhận sẽ lập thành danh sách gửi cho phòng tổ chức lao động đối với các công trình trực thuộc công ty hoặc giám đốc xí nghiệp đối với các công trình trực thuộc xí nghiệp. Phòng tổ chức lao động hoặc giám đốc xí nghiệp sẽ ký hợp đồng thời vụ với đại diện của các lao động trong danh sách được chỉ định. - Kế hoạch tuyển dụng lao động dài hạn do giám đốc công ty hay người được uỷ quyền phê duyệt trước khi thực hiện. Kế hoạch tuyển dụng lao động thời vụ do giám đốc xí nghiệp hay chủ nhiệm công trình phê duyệt. 3.2. Lập kế hoạch đào tạo - Hàng năm, trưởng các phòng, đội trưởng đội sản xuất hoặc người được uỷ quyền có liên quan đến công tác đào tạo của công ty phải xác định các nhu cầu đào tạo chung cho nhân viên của bộ phận mình quản lý. - Nhu cầu đào tạo được xác định trên các cơ sở sau: nhân viên mới tuyển dụng; yêu cầu chuyên môn, kỹ thuật; kết quả xem xét của lãnh đạo và nhu cầu đột xuất để đáp ứng yêu cầu. - Với nhân viên mới tuyển dụng theo hợp đồng dài hạn phải được đào tạo theo các nội dung sau: các quy định, nội quy của công ty; cơ cấu tổ chức công ty; chính sách chất lượng, mục tiêu chất lượng và hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9002 của công ty. - Với nhân viên mới tuyển dụng theo hợp đồng ngắn hạn, thời vụ cho các dự án ngoài các nội dung trên còn thêm 2 nội dung là biện pháp thi công, đảm bảo an toàn và các yêu cầu về kỹ thuật khi thấy cần thiết. - Lập kế hoạch đào tạo: Nội dung của kế hoạch bao gồm: nội dung, thời gian và hình thức đào tạo. Ngoài kế hoạch đào tạo định kỳ đã xác định khi có nhu cầu đào tạo đột xuất thì giám đốc cong ty, giám đốc xí nghiệp hoặc chủ nhiệm dự án có thể quyết định kế hoạch đào tạo bổ sung hoặc điều chỉnh kế hoạch đào tạo định kỳ hàng năm sao cho phù hợp. - Thực hiện đào tạo: Việc đào tạo có thể được thực hiện theo các hình thức khác nhau sao cho đáp ứng các yêu cầu đào tạo, có thể bao gồm: ã Đào tạo tại chỗ trên công việc; đào tạo tập trung tại công ty, xí nghiệp hoặc tại công trường và đào tạo bên ngoài. Đối với việc đào tạo do công ty tự thực hiện, giám đốc công ty, giám đốc xí nghiệp hoặc chủ nhiệm dự án sẽ quyết định lựa chọn giảng viên có kiến thức và kinh nghiệm phù hợp. Giảng viên được lựa chọn phải có trách nhiệm chuẩn bị bài giảng và các tài liệu cần thiết sao cho đáp ứng được nhu cầu đào tạo. Khi có nhu cầu đào tạo bên ngoài, trưởng phòng tổ chức lao động, chỉ huy công trường cần xem xét khả năng của đơn vị đào tạo bên ngoài trên cơ sở uy tín và kinh nghiệm của đơn vị đó. Khi kết thúc khoá học, giảng viên cần đánh giá kết quả học tập của các học viên bằng hình thức kiểm tra hay nhận xét. Các học viên không đạt yêu cầu cần có hình thức đào tạo bổ sung hay tự học để được kiểm tra, đánh giá lại nhằm đáp ứng được các yêu cầu đào tạo đặt ra. 3.3. Thưởng phạt hợp lý, mua sắm trang thiết bị bảo hộ lao động cho cán bộ công nhân viên trên công trường; mua bảo hiểm xã hội; tặng thưởng các cháu học sinh là con của các cán bộ công nhân viên công ty có thành tích cao trong học tập, trợ cấp cho các cháu có hoàn cảnh khó khăn trong công ty. 3.4. Đề cao lòng tự trọng, lương tâm, đạo đức nghề nghiệp; phát huy tinh thần dám chịu trách nhiệm và tinh thần đoàn kết cho toàn thể cán bộ công nhân viên qua các phong trào, hoạt động sôi nổi, bổ ích do công ty tổ chức. 3.5. Bố trí, sắp xếp sử dụng hợp lý đội ngũ lao động. Việc bố trí, sắp xếp, sử dụng đúng người, đúng việc sẽ tiết kiệm yếu tố nhân lực, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí nhân công trong giá dự thầu, tăng khả năng trúng thầu. Phải xem người để giao việc, không thể để tự do ai muốn làm cũng được nếu không sẽ ảnh hưởng tới chất lượng công trình. 4. Phát huy các biện pháp sáng kiến cải tiến kỹ thuật, thực hiện đầu tư có trọng điểm đồng bộ, tăng cường hoạt động kiểm tra chất lượng máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu sản xuất. a. Công nghệ là chìa khoá của sự phát triển. Công nghệ làm tăng năng suất lao động, tăng chất lượng sản phẩm, sử dụng một cách triệt để và hiệu quả nhất các nguồn lực hiện có. Các thành phần cơ bản của công nghệ là phần vật tư kỹ thuật, phần con người, phần thông tin và phần tổ chức. Chúng bổ sung cho nhau và không thể thiếu bất cứ 1 thành phần nào trong mỗi công nghệ. Phần vật tư kỹ thuật bao gồm các công cụ, trang bị, máy móc, vật tư, phương tiện vận chuyển, nhà máy,... Nó là cốt lõi của bất kỳ công nghệ nào. Nó được triển khai, lắp đặt và vận hành do con người. Nhờ nó, con người tăng sức lực và trí tuệ. Khi phần vật tư kỹ thuật tăng thì 3 thành phần còn lại cũng tăng theo. Công ty cần phát động thành phong trào thi đua phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật cho toàn thể cán bộ công nhân viên toàn công ty. Hoạt động phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật có tác dụng khắc phục những khó khăn về mặt kỹ thuật, tiết kiệm kinh phí trong sản xuất kinh doanh đem lại hiệu quả kinh tế thiết thực cho công ty. Nhu cầu đầu tư mua sắm máy móc, thiết bị của công ty phải xuất phát từ nhu cầu thực tế như: khối lượng và thành phần công việc dự kiến, năng lực thiết bị thi công hiện có. Công ty luôn quán triệt quan điểm đầu tư là đầu tư trọng điểm và đồng bộ. Công ty nên mua sắm các máy móc thiết bị thi công hoàn toàn mới và hiện đại của các hãng nổi tiếng ở các nước có nền công nghệ phát triển như: Nhật, Italia, Đức,... Công ty phải đầu tư số vốn khá lớn nhưng đổi lại năng lực kỹ thuật sản xuất của công ty được nâng cao rõ rệt, đảm bảo nhu cầu tiến độ cũng như chất lượng ở các công trình đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật phức tạp, thi công quy m ô lớn, đảm bảo độ chính xác cao. Điều này sẽ tăng khả năng trúng thầu của công ty. Nếu thắng thầu các công trình lớn, công ty có thể khấu hao từ 90-100% giá trị máy móc thiết bị thi công mới mua sau khi thi công xong. Đối với máy móc thiết bị văn phòng, công ty mua sắm các máy hiện đại, đồng bộ. Công ty có thể mua thiết bị thi công từ các nước Châu á như: Trung Quốc, ấn Độ, Thái Lan,... với chi phí chỉ bằng 50-60% chi phí mua sắm thiết bị ở các nước Đức, Italia, Nhật. Việc mua sắm này chỉ đáp ứng các công trình có yêu cầu về kỹ thuật không phức tạp, quy mô công việc không lớn. Ngoài ra công ty có thể liên doanh, liên kết trong đấu thầu nhằm bổ sung cho nhau những điểm yếu về năng lực thiết bị, kinh nghiệm thi công, tận dụng năng lực thừa của nhau, phát huy sức mạnh tổng hợp của các bên nhằm giành thắng lợi khi đấu thầu. Công ty có thể thuê máy móc thiết bị thi công của các đơn vị khác. Nhưng trước khi mua sắm mới hay thuê, công ty cần cân nhắc lợi ích do mỗi hình thức đem lại. Nếu thuê, công ty có thể giải quyết khó khăn về vốn song nếu thuê phải máy móc thiết bị cũ, khấu hao gần hết thì sẽ ảnh hưởng tới chất lượng công trình. b. Hoạt động kiểm tra chất lượng máy móc thiết bị thi công phải được sự quan tâm thường xuyên và tiến hành liên tục. Hoạt động này giúp cán bộ quản lý biết máy móc nào chưa phát huy hết năng lực phục vụ, máy nào đã cũ, đã hỏng cần bảo dưỡng, sửa chữa, xác định được chính xác giá trị còn lại của máy móc đồng thời hỗ trợ cho công tác lập hồ sơ kỹ thuật năng lực thiết bị thi công trong hồ sơ dự thầu được chính xác, đề ra kế hoạch tiến độ thi công hợp lý. Các máy móc thiết bị chuyên dụng cần phải được những cán bộ kỹ thuật có kinh nghiệm, trình độ chuyên môn giỏi đánh giá, kiểm tra. Đối với nguyên vật liệu sản xuất thì việc kiểm tra chất lượng sẽ đảm bảo được chất lượng của công trình. Khi mua nguyên vật liệu công ty phải cung cấp đầy đủ thông tin về đặc điểm, quy cách, chủng loại, số lượng và chất lượng của nguyên vật liệu mà công ty cần cho bên cung ứng biết để họ có kế hoạch sản xuất hoặc xuất hàng theo yêu cầu của công ty. Khi giao nhận nguyên vật liệu,cần phải có hợp đồng giao nhận xác định chất lượng sản phẩm, số lượng, giá cả thời hạn cung cấp, nguồn gốc, nơi cung cấp và phương thức thanh toán. Trong hợp đồng phải ghi rõ người cung ứng phải chịu trách nhiệm đảm bảo chất lượng nguyên vật liệu. Công ty phải tiến hành kiểm tra chất lượng các loại vật tư có thể do để lâu ngày dễ bị hỏng như xi măng. 5. Tăng cường hoạt động tạo vốn. Thiếu vốn sản xuất kinh doanh là một bài toán khó giải quyết đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, trong đó có doanh nghiệp xây dựng. Đặc trưng của hoạt động xây dựng là thời gian xây dựng kéo dài, khối lượng công việc lớn, các doanh nghiệp xây dựng thường phải ứng trước vốn để thi công.Sau khi thi công xong, nghiệm thu bàn giao thì chủ đầu tư mới thanh toán. Do vậy công ty cần có những giải pháp hữu hiệu nhằm huy động vốn. Một là: Đa dạng hoá ngành nghề kinh doanh. Bên cạnh việc tập trung thực hiện tốt nhiệm vụ chính là xây dựng các công trình, hạng mục công trìng, công ty chuyển mạnh sang lĩnh vực kinh doanh nhà để bán, đầu tư xây dựng các nhà máy sản xuất nguyên vật liệu xây dựng nhằm tăng tổng doanh thu, tăng lợi nhuận. Hai là: Thi công dứt điểm các công trình, đảm bảo chất lượng từng công trình. Biện pháp này sẽ tăng khả năng thu hồi vốn, giảm ứ đọng vốn, rút ngắn được chu kỳ sản xuất, tăng nhanh vòng quay của vốn. Ba là: Tham gia liên doanh, liên kết trong đấu thầu nhằm tạo điều kiện hỗ trợ cho công ty về vốn lưu động, năng lực công nghệ. Bốn là: Đẩy mạnh công tác thu hồi nợ đối với các chủ đầu tư chậm thanh toán. Năm là: Huy động vốn nhàn rỗi tạm thời của cán bộ công nhân viên toàn công ty với lãi suất thấp. Sáu là: Đẩy mạnh quan hệ hơn nữa với ngân hàng đang cho công ty vay vốn nhằm tranh thủ sự giúp đỡ của ngân hàng khi cần vay và bảo lãnh những khoản tiền lớn đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu. Bảy là: Lập kế hoạch về nhu cầu vốn ngắn, trung và dài hạn của công ty để từ đó có những biện pháp huy động vốn kịp thời phục vụ nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của công ty. Tám là: Nghiêm túc thực hiện quy chế quản lý tài chính do Nhà nước ban hành, duy trì thường xuyên chế độ kiểm tra tài chính đối với các xí nghiệp, đội trực thuộc. Mọi chứng từ phải hợp lệ, tránh tình trạng lập chứng từ khống gây thiệt hại vốn cho công ty. Các chi phí chứng từ phát sinh trong kỳ phải được kiểm tra chặt chẽ. Thường xuyên lập báo cáo thống kê từng tháng, từng quý nhằm đảm bảo cho công ty đánh giá đúng thực trạng về vốn để có biện pháp giải quyết. Cơ chế giao việc giữa công ty với các xí nghiệp, đội trực thuộc luôn được điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tế. 6. Kiểm tra chất lượng công trình Một trong những nhân tố đảm bảo uy tín cho công ty trên thị trường xây dựng là chất lượng của các công trình do công ty thi công. Để các công trình đạt chất lượng cao, công ty phải tiến hành kiểm tra chất lượng trong quá trình thi công và trước khi nghiệm thu bàn giao công trình. -Cán bộ kỹ thuật công trường thực hiện các nội dung kiểm tra, kiểm soát quá trình thi công theo các biện pháp thi công đã duyệt. Phòng quản lý thi công kết hợp với phòng khoa học kỹ thuật thực hiện việc kiểm tra chất lượng tại các khâu quan trọng trong thi công như: nền, móng, sàn các tầng và mái, công tác lắp đặt thiết bị điện, nước, công tác hoàn thiện. Cán bộ kỹ thuật phải thông báo cho chỉ huy trưởng công trình khi có sai khác so với yêu cầu trong thiết kế. - Công tác kiểm tra chất lượng công trình phải tuân thủ theo hệ thống quản lý chất lượng - Bộ tiêu chuẩn ISO 9002 của công ty với phương châm ghi rõ quy trình sản xuất, thực hiện đúng điều đã cam kết. - Hàng tháng sau khi thi công xong từng phần công việc theo điểm dừng kỹ thuật sẽ tổ chức nghiệm thu, ghi kết luận bằng văn bản để làm cơ sở xác định và thanh toán khối lượng xây lắp hoàn thành. Công ty chỉ chuyển bước thi công khi có nghiệm thu của tư vấn giám sát. - Sau khi công trình đã hoàn thành, công ty tiến hành kiểm tra tổng thể bằng trực quan và kiểm tra vận hành thử các thiết bị điện, nước,... nếu thấy sai sót công ty sẽ sửa chữa. Công ty sẽ làm vệ sinh và bảo quản toàn bộ công trình đảm bảo sạch đẹp, tránh hư hỏng do mưa, gió,... 7. Kiến nghị với Nhà nước a. Về đấu thầu quốc tế và vai trò của nhà thầu trong nước Việc giao thầu tại các công trình có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, các công trình từ nguồn vốn ODA thường thông qua đấu thầu quốc tế, trong đó phần lớn đơn vị trúng thầu là các nhà thầu nước ngoài hoặc tổ hợp các công ty nước ngoài, rất ít trường hợp đơn vị thắng thầu là doanh nghiệp nhà nước. Mặc dầu những năm qua các nhà thầu Việt Nam đã tỏ rõ năng lực và tiến bộ của mình, đủ khả năng để tự xây dựng những công trình lớn như thuỷ điện Yaly, các đường quốc lộ, các cầu cảng lớn,... Nhưng tại sao trong đấu thầu quốc tế nhà thầu Việt Nam không dành được lợi thế ngay trên đất nước mình. Điều đó là do chính sách đấu thầu của Việt Nam. Có thể nói hầu hết các hồ sơ mời thầu đều do các công ty tư vấn nước ngoài chuẩn bị và đối với công trình vốn vay quốc tế thì chủ đầu tư Việt Nam lại ít kinh nghiệm. Tư vấn nước ngoài đã lợi dụng các sơ hở trong quy chế đấu thầu để tự chia dự án thành các gói thầu quá lớn, đòi hỏi các điều kiện dự thầu cao gay khó khăn và làm cho các nhà thầu nước ngoài dự thầu đều trúng vai trò thầu chính. Còn nhà thầu Việt Nam chỉ được cam kết làm thầu phụ cho nhà thầu nước ngoài. Khi trúng thầu, nhà thầu chính nước ngoài không thực hiện đúng các cam kết đó thì cũng không có cơ chế xử lý. Nếu có thực hiện cam kết thì nhà thầu nước ngoài cũng phân chia lại công việc, m, giá trị theo ý muốn của họ. Thực tế là tất cả các nhà thầu nước ngoài sau khi thắng thầu tự ý lựa chọn nhà thầu khác có giá thấp hơn giá khi 2 bên cam kết vào đấu thầu. Hướng giải quyết: - Quy định rõ việc liên kết với nhà thầu Việt Nam là bắt buộc trong đấu thầu quốc tế, các điều kiện liên kết phải được xác định trước khi dự thầu và các điều kiện ràng buộc này phải được thực hiện sau khi thắng thầu, trong văn bản công bố kết quả đấu thầu ghi rõ các nhà thầu phụ tham gia liên kết đấu thầu. - Việc phân chia gói thầu cho 1 dự án cần hợp lý để khai thác được tiềm năng trong nước, tạo điều kiện cho các nhà thầu trong nước có thể dự thầu độc lập. Tránh việc tổ chức đấu thầu hợp đồng chìa khoá trao tay vì nó yêu cầu điều kiện dự thầu cao mà nhà thầu trong nước khó có khả năng đáp ứng. - Có chính sách ưu đãi đối với nhà thầu trong nước. Điều này đã được các nước và các tổ chức quốc tế áp dụng. b. Để khắc phục tình trạng bỏ giá thầu quá thấp gây ảnh hưởng đến chất lượng công trình và sự phát triển lâu dài của các nhà thầu trong nước, có thể xác định giá xét thầu như kinh nghiệm nhiều nước trên thế giới. Cụ thể là: a. Nhà thầu trúng thầu là người chào giá (giá đánh giá) gần nhất so với giá trung bình của tất cả các hồ sơ dự thầu chủ đầu tư nhận được. b. Nhà thầu trúng thầu là người chào giá có thể lớn hơn giá trung bình nói trên nhưng là giá gần nhất với giá này và vẫn thấp hơn giá dự toán của chủ đầu tư. Tác dụng: nếu chọn 1 trong 2 cách này thì: - Đảm bảo "bí mật" của giá xét thầu - Tránh được việc phải lựa chọn những nhà thầu bỏ giá dự thầu quá thấp làm ảnh hưởng đến chất lượng công trình - Tìm được nhà thầu có mức giá sát thực tế. - Bảo đảm sử dụng đầy đủ các nguồn tài chính cho xây dựng công trình - Bảo đảm mức lợi nhuận hợp lý cho nhà thầu - Vẫn đảm bảo tính khách quan, ngẫu nhiên và cạnh tranh trong đấu thầu. c. Về vốn thi công Khi nhà thầu đã nhận được công trình, ngân hàng có thể nghiên cứu cho vay vốn lưu động với lãi suất ưu đãi không cần thế chấp vì chính hợp đồng mà doanh nghiệp ký kết đã là "tài sản thế chấp" đáng tin cậy. Chính phủ cần có chính sách hỗ trợ về tín dụng dài hạn để nhà thầu có điều kiện mua sắm trang thiết bị thi công. Tình trạng nhiều nhà thầu trong nước vẫn phải sử dụng tín dụng ngắn hạn để mua sắm thiết bị là nguyên nhân khiến các nhà thầu gặp khó khăn khi cân đối tài chính. Kết luận Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt trên thị trường xây dựng nhằm giành được những hợp đồng xây dựng, bất kỳ doanh nghiệp xây dựng nào cũng phải nâng cao hiệu quả công tác đấu thầu của đơn vị mình. Qua thời gian học tập tại trường và đi sâu tìm hiểu thực tế công tác đấu thầu ở Công ty xây dựng số 4, em đã tích luỹ được những kinh nghiệm thực tế quý báu về công tác đấu thầu xây dựng. Đề tài: "Thực trạng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu thầu ở công ty xây dựng số 4" chính là sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn của hoạt động đấu thầu xây dựng. Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn: Từ Quang Phương cùng các cán bộ phòng dự án - Công ty xây dựng số 4 đã tận tình chỉ bảo giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này. Trong quá trình tìm hiểu đề tài, do kiến thức và khả năng còn hạn chế, chuyên đề thực tập của em không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong được sự góp ý của thầy và các cán bộ phòng dự án để em có điều kiện hoàn thiện chuyên đề. Danh mục tài liệu tham khảo Quy chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định số 43/CP ngày 16/7/1996 của Chính phủ. Nghị định số 93/CP của Chính phủ ngày 23/8/1997 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định số 43/CP ngày 16/7/1996. Quy chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định số 88/1999/NĐ-CP ngày 01/9/1999 Nghị định số 14/2000/NĐ-CP ngày 5/5/2000 của Chính phủ về việc sửa đổi bổ sung 1 số điều của quy chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định số 88/1999/NĐ-CP. Thông tư số 04/2000/TT-BKH ngày 26/5/2000 của Bộ Kế hoạch và đầu tư hướng dẫn thực hiện quy chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định số 88/1999/NĐ-CP ngày 1/9/1999 và Nghị định số 14/2000/NĐ-CP ngày 5/5/2000 của Chính phủ. Thông tư số 08/1997/TT-BXD hướng dẫn điều chỉnh dự toán công trình xây dựng cơ bản. Thông tư số 01/1999/TT-BXD hướng dẫn lập dự toán công trình xây dựng cơ bản. Định mức xây dựng cơ bản năm 1999. Quy định của WB, ADB và OECF về tuyển dụng tư vấn, mua sắm hàng hoá và xây lắp - Bộ Kế hoạch và đầu tư - NXB Thống kê - Hà Nội, 1999. Đấu thầu xây dựng - Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội - NXB Xây dựng - Hà Nội, 1991. Tạp chí xây dựng các số năm 1998, năm 1999 và năm 2000. Tình hình thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ năm 2000 và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội,ngân sách năm 2001-Báo Hà Nội mới, thứ 5 ngày 9/11/2000. 11. Giải pháp phát triển nhà ở Hà Nội - Báo Hà Nội cuối tuần, số 315 ngày 7/4/2001. 12. Tiết kiệm vốn đầu tư nhờ đấu thầu -Báo đầu tư, thứ năm ngày 4/6/1998 13. Những khoản dư quý hiếm. Lợi ích do dụ án hạu ODA mang lại - Báo đầu tư, thứ năm ngày 10/8/2000. 14. Thắng thầu vẫn khổ ! Nghịch lý trong việc thi công các công trình có vốn ODA - Báo đầu tư, thứ 3 ngày 6/2/2001. Mục lục ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docB0095.doc