Thực trạng và giải pháp cho vấn đề tiêu thụ nông sản ở Việt Nam

Tài liệu Thực trạng và giải pháp cho vấn đề tiêu thụ nông sản ở Việt Nam: ... Ebook Thực trạng và giải pháp cho vấn đề tiêu thụ nông sản ở Việt Nam

doc31 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1538 | Lượt tải: 5download
Tóm tắt tài liệu Thực trạng và giải pháp cho vấn đề tiêu thụ nông sản ở Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỤC LỤC PHẦN I MỞ ĐẦU Trong hơn 25 năm qua, thực hiện đường lối đổi mới kinh tế của Đảng và nhà nước, kinh tế Việt nam đã có những bước chuyển mình to lớn cả về chất và về lượng. Trong đó có thể nói nông nghiệp là lĩnh vực đạt được nhiều thành tựu to lớn nhất, nổi bật nhất, có những bước phát triển khá mạnh mẽ và toàn diện.Tốc độ tăng trưởng bình quân của nông nghiệp, thuỷ sản đạt kết quả cao, riêng lương thực năm 2009 tăng 2,5 triệu tấn so với năm 2008, đáp ứng cơ bản nhu cầu lương thực và thực phẩm trong nước, giữ vững an ninh lương thực quốc gia. Trong một thời gian không dài, từ một nền nông nghiệp tự cấp, tự túc ,nông nghiệp đã vươn lên trở thành một ngành sản xuất hàng hoá lớn, có sức cạnh tranh ngày càng cao trong quá trình hội nhập quốc tế. Cùng với những thành tựu đạt được trong nông nghiệp ,đời sống nông dân và bộ mặt nông thôn Việt Nam cũng có những biến đổi tích cực : Cơ sở hạ tầng nông thôn được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người đã đạt 715USA năm 2009, tỷ lệ nghèo đói giảm từ 14,7% ( năm 2007) xuống còn 11,7% (năm 2008), nhiều bệnh viện, trường học mới được xây dựng lên ở nhiều vùng nông thôn trong cả nước. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được,nếu so sánh với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và so với các nước trong khu vực thì nông nghiệp và nông thôn nước ta còn nhiều yếu kém và thách thức như : Vấn đề việc làm cho lao động nông thôn, tình trạng nghèo đói còn gay gắt ở vùng sâu, vùng xa; cơ sở hạ tầng ở nông thôn chưa đáp ứng được yêu cầu của một nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá lớn.... Trong những khó khăn, thách thức kể trên,vấn đề tiêu thụ nông sản sau thu hoạch đang là vấn đề bức xúc nhất không chỉ đối với nông dân mà còn là trăn trở của các nhà lãnh đạo, các nhà hoạch định chính sách.Tại sao được mùa mà người nông dân không phấn khởi? Đây là một câu hỏi lớn, một trong những vấn đề cấp thiết phải được giải quyết tức thời, nhằm đưa nền nông nghiệp Việt Nam có thể phát triển ngang tầm với nông nghiệp của các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới. Thực hiện đề tài: “Thực trạng và giải pháp cho vấn đề tiêu thụ nông sản ở Việt nam” , nhằm giúp em góp thêm một tiếng nói riêng và có một cách nhìn nhận chính xác về những tồn tại, yếu kém trong khâu tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, và một số đề xuất của bản thân nhằm góp một phần nào đó đưa nền sản xuất nông nghiệp Việt nam có những bước tiến mới , phát triển ngang tầm với các quốc gia khác, thực sự trở thành ngành sản xuất hàng hoá chính trong nền kinh tế quốc dân. PHẦN II: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI Tiêu thụ nông sản phẩm là một khâu rất quan trọng trong quá trình tái sản xuất nông nghiệp. Nó là khâu cuối cùng kết thúc quá trình sản xuất,tức là giải quyết khâu đầu ra của quá trình sản xuất. Từ quá trình tiêu thụ sản phẩm,sẽ thu được nguồn tiền để bù đắp các chi phí tham gia vào quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng. Tiêu thụ nông sản là giai đoạn làm cho sản phẩm ra khỏi quá trình sản xuất và bước vào lưu thông, đưa sản phẩm từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực tiêu dùng. Nếu tổ chức tốt và có hiệu quả việc tiêu thụ nông sản sẽ có tác dụng mạnh mẽ đến quá trình sản xuất. Tiêu thụ hết và kịp thời sản phẩm làm ra là một tín hiệu tốt cho doanh nghiệp bổ sung, điều chỉnh kế hoạch sản xuất cho quá trình tiếp theo. Giá trị sản phẩm được thực hiện cho phép doanh nghiệp sử dụng hợp lí vốn sản xuất, tránh ứ đọng vốn và nhanh chóng và kịp thời sản phẩm làm ra còn rút ngắn được thời gian lưu kho, lưu thông và chu kì sản xuất kinh doanh của sản phẩm. Như vậy, tiêu thụ tốt sản phẩm là cơ sở thông tin về thị trường cho người sản xuất. Ngược lại sản phẩm không tiêu thụ được là tín hiệu xấu đòi hỏi doanh nghiệp phải tìm ra nguyên nhân để từ đó có những giải pháp kịp thời điều chỉnh cho phù hợp. Đối với lĩnh vực tiêu dùng ,tiêu thụ tốt sản phẩm sẽ đáp ứng kịp thời nhu cầu tiêu dùng, đồng thời còn có tác dụng điều chỉnh và hướng dẫn tiêu dùng mới ,đặc biệt đối với những sản phẩm mới. Trong điều kiện kinh tế thị trường, sản xuất phải hướng tới tiêu dùng và lấy tiêu dùng làm mục tiêu để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong cầu nối này. Thông qua tiêu thụ sản phẩm, các nhà sản xuất sẽ nắm bắt được thị hiếu người tiêu dùng về số lượng, chất lượng, mẫu mã ,chủng loại mặt hàng. Tiêu thụ sản phẩm là một hoạt động nằm trong lĩnh vực lưu thông, có nhiệm vụ chuyển tải những kết quả của lĩnh vực sản xuất sang lĩnh vực tiêu dùng. Vì vậy tiêu thụ sản phẩm kịp thời và nhanh chóng là tiền đề quan trọng trong thực hiện phân phối sản phẩm và kết thúc quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Đây là một khâu không thể thiếu được đối với bất kì hoạt động sản xuất nào, vì vậy vấn đề này phải luôn được đặt vào một trong những vấn đề phải quan tâm giải quyết hàng đầu và phải luôn có những chính sách thích hợp để thúc đẩy phát triển. PHẦN III: Nội dung nghiên cứu 1. Những biến đổi, phát triển của thị trường tiêu thụ nông sản. * Trong nước: Sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam rất đa dạng, phong phú và phức tạp, nhưng trong những năm qua nhờ tổ chức tốt kênh tiêu thụ sản phẩm nên đã góp phần vào tăng trưởng nền kinh tế. Trước đây việc tiêu thụ nông sản phẩm ở Việt Nam do Nhà nước tổ chức rất chặt chẽ và khép kín. Hệ thống kênh tiêu thụ như vậy có tác dụng cho kháng chiến và cho phân phối nhưng mặt khác đã làm sản xuất chậm phát triển, lưu thông chậm, giảm sức mua, từng vùng từng địa phương chỉ biết mình, không được tự do mua bán. Đến nay nhờ có chính sách tự do hóa thương mại nên mọi người, mọi thành phần kinh tế đều đã được tự do tham gia vào các kênh tiêu thụ nông sản phẩm. Ngược lại với tình hình trước đây do Nhà nước tổ chức quản lý chặt chẽ thì hiện nay kênh tiêu thụ sản phẩm có đặc điểm chủ yếu là do tư nhân quản lý chi phối. Các kênh gián tiếp bước đầu phát triển khá như: kênh lương thực, thực phẩm cung cấp đi các nước, kinh tế Nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo trong xuất khẩu. Mạng lưới tiêu thụ tuy chưa đồng đều giữa các vùng nhưng cũng đã góp phần phân phối một lượng lớn khối lượng nông sản phẩm. Phát triển thị trường nông nghiệp trong Giai đoạn đổi mới: Nhờ có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị ra đời (5/4/1988) với nội dung là xác định giao ruộng đất lâu dài cho hộ nông dân, hóa giá trâu bò cày kéo, tài sản cố định có giá trị lớn. Xóa bỏ phân phối theo ngày công, hộ nông dân được coi là đơn vị kinh tế tự chủ, nhờ vậy sản xuất nông nghiệp hàng hoá đạt được thành tựu to lớn. Chúng ta đã bước đầu khắc phục được tình trạng khủng hoảng về thị trường trong tiêu thụ nông sản, kinh tế nông nghiệp trong nước phát triển, quan hệ quốc tế ngày càng được mở rộng đã nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Các chính sách, cơ chế hỗ trợ khuyến khích phát triển thương nhân, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, xúc tiến thương mại, kích cầu, cải thiện môi trường đầu tư, cải thiện kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất kinh doanh và đời sống trong nông nghiệp nông thôn... đã góp phần làm phong phú và sống động hoạt động thương mại trên thị trường nông nghiệp nông thôn. * Biến đổi của thị trường tiêu thụ quốc tế: Với phương châm xuất khẩu để tăng trưởng kinh tế, trong 10 năm qua, xuất khẩu nông sản nước ta đã có những chuyển biến tích cực. Kim ngạch xuất khẩu nông sản tăng khá nhanh, đạt tốc độ tăng bình quân cao. Cho đến nay, kim ngạch xuất khẩu nông sản chiếm khoảng 30% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước đạt 15 tỉ USA năm 2009 và là một trong những nguồn thu ngoại tệ chủ yếu ở nước ta. Với điều kiện của một nền nông nghiệp nhiệt đới phát triển trên cơ sở khai thác tài nguyên sinh học đa dạng, Việt Nam có khả năng cung cấp cho thị trường quốc tế chủng loại hàng hoá nông sản đa dạng, từ lương thực, thực phẩm, đến các loại nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Đồng thời, việc hội nhập vào đời sống kinh tế khu vực và thế giới, việc phát triển xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp hoặc các sản phẩm có nguồn gốc nông nghiệp trở thành yêu cầu tất yếu. Trong những năm qua, việc xuất khẩu các loại hàng hoá này có những kết quả tích cực cả trên phương diện chủng loại hàng hoá, khối lượng và phạm vi thị trường. Nhiều sản phẩm đã thâm nhập được vào những thị trường có đòi hỏi khắt khe về chất lượng, như thị trường EU, Nhật Bản. Tuy vậy, việc mở rộng thị trường quốc tế cho phát triển sản xuất nông nghiệp và công nghiệp chế biến vẫn đang là vấn đề nan giải. Để tham gia có hiệu quả vào các quan hệ thương mại quốc tế, đòi hỏi chi phí sản xuất hàng hoá nông sản trong nước phải thấp hơn, hoặc ngang bằng với những nước có điều kiện tương tự. Muốn đạt yêu cầu này đòi hỏi phải có sự chuyển biến mạnh mẽ về năng suất lao động nông nghiệp, năng suất ruộng đất và năng suất vật nuôi . Đồng thời, phải xác định rõ hơn cơ cấu sản phẩm nông nghiệp và sản phẩm có nguồn gốc nông nghiệp xuất khẩu phù hợp với yêu cầu thị trường trong từng giai đoạn phát triển, trong đó xác định rõ các sản phẩm chủ lực xuất khẩu. Phải phấn đấu làm cho các sản phẩm xuất khẩu có khả năng đáp ứng toàn diện nhu cầu của thị trường, trong đó chú trọng những thị trường có đòi hỏi đặc biệt khắt khe, như Nhật Bản, Tây Âu, Bắc Mỹ. Chỉ có lấy những yêu cầu của các thị trường đó làm hướng đích, mới có quyết tâm chiến lược với những bước đi thích hợp tạo cho hàng hoá nông sản nước ta có thế cạnh tranh cao trên thị trường khu vực và thế giới. Bên cạnh những kết qu¶ đạt được thì thị trường trong nước còn ở trình độ thấp, thị trường nông thôn chưa phát triển, chưa thiết lập được mối liên kết giữa ng­êi sản xuất và thương nhân, giữa thương mại nhà nước Trung ương và các doanh nghiệp và các thành phần kinh tế, giữa xuất khẩu và nhập khẩu... để tạo ra các kênh lưu thông hàng hoá hợp lý và ổn định từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm. Thị trường trong nước chưa thực sự làm cơ sở vững chắc để mở rộng và tham gia quá trình hội nhập với thị trường quốc tế. Khả năng cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp, nhiều mặt hàng còn yếu. Thương nghiệp tư nhân tuy đông đảo nhưng nhỏ bé, hoạt động kinh doanh và sử dụng nguồn lực hiệu quả thấp, chưa xuất hiện nhiều mô hình kinh doanh đạt hiệu quả cao. Quy mô thị trường nhỏ bé, khả năng cạnh tranh trên thị trường của hàng hoá nông sản Việt Nam, của các doanh nghiệp vẫn còn hạn chế. Các chính sách về thị trường tiêu thụ sản phẩm nông sản còn nhiều bất cập. Nhà nước cần tạo môi trường hành lang pháp lý và điều kiện để phát triển sản xuất hàng hoá và tạo cơ sở cho thị trường phát triển. Nhà nước điều tiết quản lý thị trường bằng các công cụ quản lý vĩ mô theo luật định và tích cực chuẩn bị cho các doanh nghiệp tham gia hội nhập một cách có hiệu quả nhất phù hợp với từng giai đoạn phát triển sản xuất kinh doanh nông nghiệp. 2. Những tồn tại trong tiêu thụ nông sản và nguyên nhân. 2.1. Những tồn tại trong tiêu thụ nông sản. Thứ nhất, hầu hết các loại nông sản sau thu hoạch đều có tình trạng tồn đọng . Thực tế cho thấy,khi chưa đến vụ thu hoạch thì hàng hoá trở nên khan hiếm , có thể có hiện tượng đột biến về giá cả, nhưng khi vào vụ thu hoạch thì bắt đầu xuất hiện tình trạng dư thừa sản phẩm , giá nông sản tụt xuống thê thảm , gây thiệt hại cho người kinh doanh , đặc biệt là người nông dân . Đây chính là điều phản ánh sự yếu kém trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta, luôn luôn động viên tăng cường sản xuất, tăng sản lượng nhưng không hề chủ động trong việc nắm thông tin về đầu ra, hay chủ động về thông tin về giá cả của các loại nông sản. Thứ hai, điều kiện trao đổi hàng hoá bất lợi cho nông dân. Trong tất cả các kênh phân phối liên quan đến sản xuất nông nghiệp và đời sống nông dân ở nông thôn đều có sự tham gia phổ biến của tiểu thương, dẫn đến điều bất hợp lý là phân phối sản phẩm qua quá nhiều khâu trung gian, dẫn đến làm chậm quá trình lưu thông sản phẩm gây ách tắc dẫn đến tồn đọng giả tạo. Điều đó thể hiện rõ nét trong sự chênh lệch về giá cả hàng hoá nông sản và giá cả hàng hoá công nghiệp và dịch vụ. Trong khi giá nông sản tăng chậm hoặc không tăng, thậm chí giảm sút thì giá cả các loại hàng hoá mà người nông dân phải mua lại ổn định hoặc gia tăng. Như vậy, khi mất mùa hay được mùa, người nông dân luôn phải đối mặt với sự lo lắng, phiền muộn là bị người mua ép giá. Họ không có sự lựa chọn nào khác là phải chấp nhận những điều kiện rất phi lý do người mua đặt ra. Để giải quyết tình trạng này, Nhà nước cũng đã ban hành một số chính sách bảo hộ quyền lợi của nông dân trong trao đổi hàng hoá, ấn định mức giá tối thiểu của các mặt hàng nông sản, hỗ trợ các doanh nghiệp thương mại nhà nước thu mua hàng hoá của nông dân trong vụ thu hoạch. Tuy nhiên, chính sách này chỉ có tác dụng nhất thời và còn nhiều bất cập, hạn chế trong quá trình thực hiện. Thứ ba, mặc dù sản xuất ra nhiều loại nông sản, nhưng người dân vẫn chưa bám sát nhu cầu của thị trường. Trong sản xuất nông nghiệp phổ biến vẫn là “ bán cái mình có chưa phải bán cái thị trường cần”, mang đậm nét tình trạng xuất phát từ cung, tức là xuất phát từ khả năng và truyền thống sản xuất, chưa hoàn toàn sản xuất theo yêu cầu. Phương hướng sản xuất này quá lỗi thời, chỉ phù hợp với điều kiện cung nhỏ hơn cầu, sản xuất và tiêu dùng khép kín trong phạm vi quốc gia, thậm chí trong từng vùng. Nhưng trong điều kiện hội nhập kinh tế như ngày nay, nguyên tắc cơ bản chi phối sản xuất phải là “sản xuất và đưa ra thị trường cái mà thị trường cần, chứ không phải đưa ra thị trường cái mà mình có”. Thực tế trong tiêu thụ nông sản ở cả nội địa và xuất khẩu, nhiều nông sản đưa ra không được người mua chấp nhận, chính là do không phù hợp về chủng loại, số lượng, chất lượng của nhiều loại nông sản thực phẩm, dẫn đến tình trạng người tiêu dùng ngày càng cảnh giác với nhiều loại nông sản về khả năng bảo đảm an toàn và vệ sinh thực phẩm. Thứ tư, mặc dù nông thôn là địa bàn rộng lớn nhưng sức mua lại hạn chế, nhất là sức mua các mặt hàng nông sản đã qua chế biến. Không phải là người dân không có nhu cầu tiêu dùng mặt hàng này, mà là thu nhập của họ quá thấp để có thể mua lại các sản phẩm mà chính họ đã làm ra. Thực tế, vào các siêu thị bán các mặt hàng chế biến từ nông sản, ta có thể dễ dàng thấy các mặt hàng , mẫu mã chẳng thua kém đồ ngoại nhập, nhưng chỉ mới qua khâu chế biến thôi mà giá cả đã quá xa vời đối với người nông dân. Vậy thì, liệu người nông dân có dám “chạm tay” vào các sản phẩm mình đã làm ra. Đến khi nào thu nhập của người nông dân được cải thiện để có thể được hưởng thụ những gì đáng ra phải thuộc về họ, ít nhất cũng là đầy đủ các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống. Thứ năm, năng lực chế biến nông sản thực phẩm và công nghệ bảo quản sau thu hoạch còn nhiều hạn chế, gây ra hiện tượng ế thừa giả, gây thất thu cho nông dân. Ta có thể thấy rõ điều này qua sự thua thiệt không đáng có về cả giá bán và chất lượng của các sản phẩm xuất khẩu. Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc đầu tư đổi mới, trang bị thêm một số thiết bị hiện đại ,nhưng vẫn phải thừa nhận rằng các sản phẩm xuất khẩu đã qua chế biến của ta còn có một khối lượng lớn chưa đạt được tiêu chuẩn gắt gao của thị trường thế giới, các sản phẩm đó hoặc không đạt tiêu chuẩn hoặc bị khách hàng ép giá, mua với giá rẻ hơn so với các sản phẩm cùng loại của các nước khác . Chính vì sự yếu kém này còn dẫn đến hậu quả bản thân công nghiệp chế biến cũng đang gặp ách tắc về tiêu thụ hàng hoá của mình, do vậy không đủ sức đóng vai trò kích thích phát triển tiêu thụ hàng hoá trong nông nghiệp. Thứ sáu, việc tiêu thụ nông sản còn gặp khó khăn về điều kiện giao lưu hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ. Yếu tố cơ bản trong điều kiện này là sự phát triển còn thấp kém của giao thông vận tải. Tuy đã có những cải thiện nhất định, nhưng hệ thống hạ tầng kĩ thuật nói chung, hệ thống giao thông nói riêng của chúng ta còn quá thấp so với yêu cầu khai thác các vùng có tiềm năng nông nghiệp và mở rộng giao lưu trao đổi hàng hoá. Ngoài ra các nơi diễn ra giao dịch hàng hoá như chợ, trung tâm thương mại còn chưa được đầu tư thoả đáng ,qui mô và điều kiện chưa đáp ứng được các yêu cầu trao đổi. Những tồn tại, ách tắc trong quá trình tiêu thụ nông sản đang là một trong những trở ngại lớn trong sự phát triển sản xuất nông nghiệp ở nước ta. Cần phải xác định được nguyên nhân trung tâm của các tồn tại trên, để từ đó có những giải pháp hữu hiệu và tức thời để đẩy nhanh, bền vững và có hiệu quả sản xuất nông nghiệp cũng như sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. 2.2. Các nguyên nhân. Các nguyên nhân dẫn đến những tồn tại trong tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp thì có nhiều, xét cả về mặt chủ quan và khách quan. Tuy nhiên qua quá trình phân tích những tồn tại trên, ta có thể đưa ra một số nhóm nguyên nhân chính như sau: * Nhóm nguyên nhân về sản xuất - chế biến: - Sản xuất nông nghiệp của nước ta vẫn còn mang nặng tính tự cung, tự cấp . - Cơ sở hạ tầng cho vùng nguyên liệu và chế biến nông sản chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hoá lớn. - Cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn đã có chuyển biến mới nhưng vẫn còn chậm và chưa rõ ràng, chưa thoát khỏi tính chất thuần nông, độc canh, tỷ suất hàng hóa còn thấp, cơ cấu sản xuất chậm biến đổi và chưa phát huy được lợi thế của các vùng sinh thái. Sản xuất nông nghiệp chưa thực sự gắn bó với công nghiệp chế biến. Ngành nghề dịch vụ trong nông thôn phát triển chậm, chưa hình thành được thế phân công lao động tại chỗ trong nông thôn. - Công nghệ sau thu hoạch nhìn chung đang ở trong tình trạng cũ kỹ, lạc hậu; chế biến tiêu hao nguyên liệu cao nhưng chất lượng thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu cả trong nước lẫn nước ngoài. Cơ cấu mặt hàng đơn điệu, không có sự khác biệt so với các nước trong khu vực nên bị thua thiệt và ít có lợi thế trong cạnh tranh trên thị trường. * Nhóm nguyên nhân về tiêu thụ và thị trường: - Thị trường nông sản bị thả nổi và không ổn định nên kém phát triển - Hiện nay nông sản xuất khẩu ở dạng thô chiếm tỉ lệ cao. Do vậy thị trường xuất khẩu của chúng ta tuy nhiều nhưng thiếu các bạn hàng lớn và không vững chắc. Nhiều mặt hàng phải xuất qua trung gian nên bị ép giá, hiệu quả không cao, mất lãi ròng, dẫn đến thu nhập của người sản xuất và xuất khẩu thấp. - Khả năng cạnh tranh của nông sản Việt nam chưa cao do chưa phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của thị trường và chất lượng thường kém hơn các sản phẩm cùng loại của các nước khác. Công tác nghiên cứu thị trường,xúc tiến thương mại, tiếp thị mở rộng thị trường còn nhiều yếu kém ,các doanh nghiệp lại không năng động trong quá trình tiếp xúc với thị trường. * Nhóm nguyên nhân về cơ sở hạ tầng: - Cơ sở hạ tầng ở đây trước hết là giao thông ,vận tải, nghĩa rộng hơn là các hệ thống chợ,trung tâm thương mại, giao dịch, các công trình thuỷ lợi. đây là các yếu tố hết sức quan trọng đối với đời sống và sản xuất, quyết định rất lớn đối với quá trình tiêu thụ nông sản, nhưng vẫn chưa có những chính sách đầu tư thoả đáng, vì vậy còn rất thiếu sự đồng bộ, lạc hậu. - Tuy cơ sở hạ tầng của nông thôn có cải thiện sau hơn 20 năm đổi mới, nhưng thực tế là còn nhiều khu vực còn thiếu các công trình cơ sở hạ tầng cơ bản. Sự thấp kém cơ sở hạ tầng này tập trung chủ yếu ở các xã Trung du, miền núi phía Bắc, khu IV cũ, Duyên hải miền Trung và Tây nguyên. * Nhóm nguyên nhân về hệ thống chính sách: - Hiện nay, có một số chính sách do nhà nước đề ra đã không còn phù hợp với điều kiện kinh tế mới, nhưng vẫn chưa được điều chỉnh, nhất là các chính sách về thị trường,tín dụng, về phát triển khoa học công nghệ,đào tạo nhân lực trong nông nghiệp ,nông thôn ; làm kìm hãm phát triển sản xuất nông nghiệp nói chung, tiêu thụ nông sản nói riêng. - Hệ thống quản lí Nhà nước còn nhiều bất cập, quan tâm nhiều đến chỉ đạo sản xuất , nhưng chưa làm tốt nhiệm vụ gắn sản xuất với thị trường, chưa tìm được những đầu ra ổn định và lâu dài cho tiêu thụ nông sản, chưa làm tốt công tác quản lí chất lượng nông sản hàng hoá,công tác tiếp thị sản phẩm. 3. Một số đề xuất nhằm thúc đẩy, phát triển, tiêu thụ nông sản. 3.1. Những căn cứ đề xuất * Xuất phát từ bối cảnh thị trường trong nước và quốc tế có những biến động to lớn trong những năm qua, ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trong tiêu thụ nông sản. - Thị trường tiêu thụ trong nước: Nếu trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung trước đây, Nhà nước hoàn toàn bao tiêu sản phẩm, các Hợp tác xã sản xuất theo kế hoạch được Nhà nước giao, thì trong thời gian qua, thị trường nông sản có xu hướng gần như bị thả nổi, người nông dân phải tự lo liệu việc tiêu thụ hàng hoá sản xuất ra. Nhà nước đã đặt ra nhiều chính sách để hạn chế sự thả nổi trên, nhưng hầu hết các chính sách đều thiếu những luận chứng khoa học rõ ràng, đầy đủ, dẫn đến các chính sách chỉ có hiệu lực trong nhất thời. Điều này gây bất lợi cho cả người nông dân và cho cả phía Nhà nước, vì người nông dân trực tiếp chịu sự điều tiết tự phát của thị trường, bị thiệt thòi trong quá trình trao đổi, còn những mục tiêu định hướng của Nhà nước cũng không thu được kết quả cao. Đứng trước tình hình đó, muốn nền nông nghiệp tiếp tục phát triển và hoàn thiện, đòi hỏi Nhà nước, các nhà hoạch định chính sách phải có những định hướng chung, và cả những định hướng cụ thể cho nông sản ở từng vùng, dựa trên những phân tích dự báo thị trường cụ thể và khoa học. - Thị trường nông sản xuất khẩu: Cùng với quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, thương mại nông nghiệp Việt Nam cũng như thế giới đang có những sự vận động mới mẻ, đưa tới cho chúng ta cả nhưng cơ hội cũng như thách thức to lớn. Là quốc gia được thiên nhiên ưu đãi cho nhiều điều kiện phát triển một nền sản xuất nông nghiệp đa dạng, từ lương thực, thực phẩm, đến các loại nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, trong những năm vừa qua, ngành xuất khẩu nông sản đã có những bước tiến vượt bậc, trở thành một trong những ngành chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập quốc dân, kim ngạch xuất khẩu tăng khá nhanh. Tuy nhiên, tốc độ tăng của giá trị xuất khẩu hàng nông sản vẫn giảm sút so với mức tăng của giá trị xuất khẩu hàng hoá. Điều này thể hiện những hạn chế trong việc gia tăng giá trị xuất khẩu hàng nông sản chưa tương xứng với tiềm năng sản xuất các sản phẩm nông nghiệp ở nước ta. Điểm tồn tại lớn nhất hiện nay trong xuất khẩu nông sản nước ta là sức cạnh tranh của các mặt hàng xuất khẩu. So với các nước khác, nếu xuất khẩu cùng loại mặt hàng thì giá cả của hàng xuất khẩu Việt Nam bao giờ cũng thấp hơn nhiều. Các mặt hàng của Việt Nam thường có chất lượng thấp, mức độ chế biến chưa cao và mang tính đơn điệu. Ngoài nguyên nhân do chúng ta chưa tiếp cận được đến những thị trường cuối cùng, có thể kể đến nguyên nhân là danh mục mặt hàng xuất khẩu của chúng ta quá nhiều nhưng chỉ chú trọng quá mức vào các sản phẩm sẵn có để sản xuất và xuất khẩu các nông sản khác chậm cải tiến giá trị thương mại của các sản phẩm để đưa ra thị trường. Bên cạnh đó là sự khó khăn trong việc tìm kiếm một thị trường tiêu thụ ổn định và lâu dài cho tiêu thụ nông sản . Sau sự sụp đổ của thị trường các nước xã hội chủ nghĩa như Liên Xô và các nước Đông Âu từ cuối những năm 1990, đã xuất hiện sự chuyển hướng thị trường xuất khẩu hàng nông sản sang các khu vực thị trường khác, trong đó chủ yếu tập trung vào các nước ASEAN và các nước châu Á khác. Phần lớn các thị trường này là thị trường tái xuất hoặc thị trường không ổn định. Do vậy vấn đề tìm kiếm thị trường xuất khẩu ổn định và thị trường tiêu thụ cuối cùng là vấn đề sống còn đối với phát triển xuất khẩu nông sản ở Việt Nam hiện nay. * Căn cứ vào kết quả nghiên cứu thực trạng tiêu thụ nông sản ở nước ta. Như trên đã nói ,từ khi đổi mới cơ chế quản lí kinh tế, bước vào hội nhập kinh tế quốc tế, vấn đề tiêu thụ nông sản ở nước ta đã có những biến chuyển tích cực, tuy vậy vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thách thức. Xét trên bình diện chung, thị trường nông thôn nước ta được hình thành và phát triển mang tính tự phát, mang sắc thái của nền kinh tế nhỏ, phân tán. Vấn đề nghiên cứu và tìm kiếm thị trường, xác định qui mô, yêu cầu chất lượng tính toán chi phí,giá cả như thế nào là những vấn đề mà người nông dân gặp không ít khó khăn. Thực tế là Nhà nước luôn động viên người nông dân mở rộng sản xuất, nâng cao sản lượng, nhưng không tìm cho họ một đầu ra ổn định, dẫn đến người nông dân luôn là đối tượng chịu nhiều thiệt thòi nhất.Thậm chí có lúc họ phải triệt phá cây đang độ thu hoạch để trồng loại cây khác, loại bỏ giống vật nuôi này để thay bằng giống vật nuôi khác cốt sao để có thể tiêu thụ được sản phẩm. Như vậy đã làm thiệt hại hàng trăm tỉ đồng cho nhà nước và bản thân người nông dân. Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, nhiều nơi đang thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá ,việc hình thành vùng lúa xuất khẩu ở Đồng bằng Sông Cửu Long, Đồng bằng Sông Hồng, các vùng chuyên canh cây công nghiệp, cây ăn quả, mở rộng các làng nghề truyền thống; nhưng vẫn gặp khó khăn trong việc tìm đầu ra.Trên thực tế, việc tìm kiếm thị trường vẫn tuỳ thuộc vào khả năng của nông dân, chưa thực sự được sự đầu tư và hỗ trợ từ phía các cơ quan có chức năng. Khi người nông dân sản xuất ra sản phẩm hàng hoá ,thương nhân cần thì mua, nếu không cần thì bỏ mặc người dân tự xoay xở với hàng hoá của mình, hoặc chèn ép người nông dân phải bán với mức giá rẻ mạt. Không những thế, sản phẩm nông nghiệp là những sản phẩm dễ thối hỏng và khó bảo quản, muốn để được lâu dài và chờ tiêu thụ thì yêu cầu phải có một quá trình chế biến và bảo quản. Tuy nhiên, thực tế ở nước ta là công nghệ chế biến còn quá lạc hậu và thấp kém về qui mô, không có khả năng tiêu thụ được lượng nông sản hàng hoá với số lượng khi được mùa , trúng vụ. Cũng chính vì vậy ,sản phẩm chế biến ra thường có giá cao ,dẫn đến làm giảm khả năng cạnh tranh của nông sản trên thị trường so với các sản phẩm cùng loại của các nước khác. Xuất phát từ những căn cứ trên, chúng ta thấy rằng thị trường tiêu thụ hàng nông sản cũng như thị trường nông nghiệp, nông thôn còn chưa thực sự phát triển . Để có thể thực hiện thành công quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn cần phải sớm tìm ra ngay những hướng đi và giải pháp thích hợp, trước mắt là tìm ra các giải pháp nhằm thúc đẩy , phát triển thị trường tiêu thụ nông sản phẩm. 3.2. Các đề xuất nhằm thúc đẩy, phát triển thị trường tiêu thụ nông, sản phẩm. a. Nâng cao chất lượng nông sản và hoàn thiện quy cách, mẫu mã. Một trong những nguyên nhân có tính bao trùm cản trở khả năng và hiệu quả xuất khẩu nông sản là do chất lượng sản phẩm không cao, không ổn định, không đồng đều, khối lượng phân tán nhỏ bé, mẫu mã không hấp dẫn... Do vậy giải pháp về nâng cao chất lượng sản phẩm là giải pháp cơ bản, có tính chiến lược lâu dài, cần phải thực hiện kịp thời các nội dung sau: * Quy hoạch và đầu tư một cách đồng bộ tạo vùng sản xuất hàng hóa tập trung và vùng nguyên liệu có chất lượng cao phục vụ cho chế biến và xuất khẩu. * Nâng cao đầu tư và áp dụng các tiến bộ khoa học- công nghệ, trước hết là cải tiến công tác giống nhằm tạo các giống có năng suất cao, chất lượng tốt, cải tiến biện pháp canh tác để tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, bảo vệ môi trường, sản xuất các sản phẩm sạch. * Đầu tư đổi mới công nghệ chế biến bảo quản, cần xây dựng các chương trình: "hỗ trợ đổi mới công nghệ trong nông nghiệp nói chung, đối với những mặt hàng nông sản xuất khẩu nói riêng". Tập trung chủ yếu vào khâu thu hoạch, bảo quản, chế biến với những công nghệ tiên tiến, hiện đại, đẩy mạnh chế biến và tinh chế nông sản, đa dạng hóa sản phẩm chế biến, đáp ứng yêu cầu và thị hiếu ngày càng đa dạng của thị trường. b. Phát triển công nghệ chế biến, bảo quản nông sản. Trong những năm qua, mặc dù sản xuất nông nghiệp tăng lên, tạo nguồn nguyên liệu dồi dào cho phát triển công nghiệp chế biến, nhưng cũng chưa hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu phát triển của công nghiệp chế biến cả về tiêu chuẩn nguyên liệu lẫn cơ cấu sản phẩm... Hoạt động của ngành công nghiệp chế biến nông sản ở nước ta chưa đáp ứng được đòi hỏi của sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nhất là trong giai đoạn đầu của đổi mới kinh tế, bộc lộ rõ nét sự bất cập của công nghiệp chế biến với yêu cầu phát triển của một nền nông nghiệp hàng hóa. Hầu hết thiết bị trong công nghiệp chế biến nông sản ở nước ta đều cũ, hỏng, lạc hậu; danh mục sản phẩm được chế biến quá ít và đơn điệu; tỷ lệ sản lượng nông sản chế biến quá thấp; chất lượng sản phẩm chế biến chưa hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước và ngoài nước; tỷ lệ hao hụt nguyên liệu cao... Mặt khác ,trên thị trường nội địa, các doanh nghiệp công nghiệp chế biến nông sản là hộ tiêu thụ lớn nhất của nông nghiệp. Khả năng mở rộng phạm vi thị trường này phụ thuộc trực tiếp vào quy mô, trình độ và cơ cấu các doanh nghiệp công nghiệp chế biến nông sản. Bởi vậy, để tạo thị trường ngày càng rộng và ổn định cho sản xuất nông nghiệp và tiêu thụ nông sản, cần chú trọng phát triển các doanh nghiệp công nghiệp này cùng với việc tháo gỡ những khó khăn mà chúng đang gặp phải . Từ đó nên tập trung thực hiện các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển công nghệ chế biến ,bảo quản nông sản sau thu hoạch, nâng cao chất lượng nông sản tiêu thụ trong nước và hướng đẩy mạnh xuất khẩu: - Tăng cường năng lực chế biến hàng nông sản thông qua khuyến khích chuyển dịch cơ cấu nông sản sang sản phẩm chế biến sâu, đầu tư đồng bộ và nâng cấp thiết bị các cơ sở chế biến, kêu gọi đầu tư từ nước ngoài hoặc liên doanh hoặc đầu tư tư nhân, cấp tín dụng cho xây dựng các cơ sở chế biến nông sản. - Đối với các vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông sản, nên khuyến khích các công ty chế biến, thương mại mở rộng các đại lý thu mua dưới các hình thức hợp đồng với nông dân. Tạo mô hình liên kết "thương mại - chế biến - sản xuất nguyên liệu" . - Nhà nước nên hỗ trợ thành lập các doanh nghiệp quốc doanh chuyên nhận bảo quản, thu mua,chế biến nông sản ngay trên địa bàn nông thôn. Các doanh nghiệp này sẽ được tài trợ ban đầu (từ 3 - 5 năm) để có thể hoạt động. Trong thời gian 3 - 5 năm tiếp theo sẽ chuyển dần sang hoạt động theo cơ chế thu bù chi, được miễn một số nghĩa vụ nộp ngân sách cho Nhà nước cho đến khi có lãi. Sau đó trở đi, sẽ được chuyển thành các cơ sở tự hạch toán, hoạt động trên cơ sở có lợi nhuận. c. Tổ chức quy hoạch sản xuất, bố trí sản xuất tập trung, chuyên môn hoá, đa dạng hoá các sản phẩm. - Chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa phù hợp với thế mạnh của từng vùng: Trước hết, Nhà nước, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công nghiệp, Bộ Thương mại, các Bộ và địa phương căn cứ vào dự báo nhu cầu thị trường trong và ngoài nước, thế mạnh của từng vùng và địa phương để tạo môi trường và hành lang pháp lý cho những nơi này phát triển sản xuất hàng hóa một cách ổn định, lâu dài. Từ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc26116.doc
Tài liệu liên quan