Tiêu thụ sản phẩm & các phương hướng, biện pháp thúc đẩy khả năng Tiêu thụ sản phẩm của Công ty Nhựa Hà Nội

Lời nói đầu Từ sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, nền kinh tế nước ta thực sự bước vào quá trình chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI đã khẳng định: “Tiếp tục xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ chế vận hành của nền kinh tế đó là cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các cộng cụ khác.” Trong cơ chế mới này, mục tiêu hàng đầu của mọi

doc54 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1114 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Tiêu thụ sản phẩm & các phương hướng, biện pháp thúc đẩy khả năng Tiêu thụ sản phẩm của Công ty Nhựa Hà Nội, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
doanh nghiệp sản xuất cũng như dịch vụ là lợi nhuận. Có lợi nhuận thì doanh nghiệp mới có điều kiện tái sản xuất giản đơn hay mở rộng, mới có điều kiện tạo nguồn tích luỹ cho bản thân doanh nghiệp và xã hội. Mà muốn có lợi nhuận ngoài vấn đề sản xuất ra sản phẩm thì tiêu thụ sản phẩm cũng là vấn đề vô cùng quan trọng đối với các doanh nghiệp. Vì thế đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm đã và đang được các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh rất quan tâm trong điều kiện hiện nay. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác tiêu thụ sản phẩm, trong thời gian thực tập tại công ty Nhựa Hà nội, vận dụng những lí thuyết đã học vào nghiên cứu tình hình ở công ty, được sự giúp đỡ tận tình của các cán bộ trong công ty và thầy giáo hướng dẫn, em đã đi sâu vào nghiên cứu đề tài: “Tiêu thụ sản phẩm và các phương hướng, biện pháp thúc đẩy khả năng tiêu thụ sản phẩm của công ty Nhựa Hà nội”. Đây là một đề tài mang tính thực tiễn và là một vấn đề đang được nhiều doanh nghiệp quan tâm. Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung bài viết được trình bày thành ba chương như sau: Chương I: Tiêu thụ sản phẩm và vai trò của công tác Tài chính trong việc thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm. Chương II: Tình hình tiêu thụ sản phẩm của công ty Nhựa Hà Nội năm 2002. Chương III: Phương hướng và biện pháp chủ yếu góp phần đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm ở công ty Nhựa Hà nội. Bằng phương pháp khảo sát thực tế, tổng hợp. so sánh, phân tích để thấy được tình hình tiêu thụ sản phẩm của Công ty song lượng kiến thức tích luỹ có hạn, thời gian thực tập và điều kiện nghiên cứu còn hạn chế nên mặc dù rất cố gắng nhưng bài viết này vẫn không tránh khỏi thiếu xót. Em rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của các thầy cô giáo, các cô chú trong phòng tài vụ Công ty và các bạn để bài viết này được hoàn thiện hơn. Chương I: Tiêu thụ sản phẩm và vai trò của công tác Tài Chính trong việc thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm. I. Những vấn đề cơ bản về tiêu thụ sản phẩm. 1/ Tiêu thụ sản phẩm: Một xã hội muốn tồn tại và phát triển phải tiến hành phát triển nền sản xuất xã hội. Chỉ có phát triển sản xuất mới có thể tạo ra được nhiều sản phẩm hàng hoá đáp ứng tốt hơn các yêu cầu vật chất và tinh thần của con người. Các Mác đã nói: “ Một xã hội không thể không sản xuất nữa, cũng không thể thôi không tiêu dùng nữa”. Như vậy có thể nói mục đích cao nhất của sản xuất chính là thoả mãn các yêu cầu tiêu dùng khác nhau của con người. Như chúng ta đã biết, các doanh nghiệp của nước ta đang hoạt động trong nền kinh tế thị trường. Nền kinh tế này đòi hỏi sự thử thách khắt khe đối với các nhà sản xuất kinh doanh, nó không chấp nhận bất cứ một sản phẩm nào một cách dễ dàng, nó không giống như nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp trước kia: Nhà nước bao sản xuất, bao giá và bao luôn cả khâu tiêu thụ. Do đó mà thị trường đã không phát huy được vai trò của mình gây nên tình trạng ỷ lại, kém năng động của các doanh nghiệp. Đó là thời kì vấn đề tiêu thụ không được các nhà quản lí doanh nghiệp quan tâm, không được đặt ra một cách cấp bách. Ngày nay khi khách hàng được tôn làm “Thượng đế” thì họ có quyền lựa chọn, đó là quyền đòi hỏi các sản phẩm phải thoả mãn yêu cầu của họ. Điều này buộc các nhà quản lí doanh nghiệp phải chú ý, phải tìm mọi cách đáp ứng được các nhu cầu của “Thượng đế” một cách tốt nhất. Tuy nhiên để có được sản phẩm đưa vào thị trường thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải tiến hành sản xuất và tổ chức quá trình đưa sản phẩm ra thị trường. Quá trình này được trải qua các giai đoạn khác nhau tạo thành một chu kì sản xuất kinh doanh nhất định, sự lặp đi lặp lại của chu kỳ sản xuất kinh doanh tạo ra một vòng tuần hoàn và chu chuyển tư bản. Đứng trên góc độ Tài chính mà xét thì quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thực chất là sự vận động vốn kinh doanh qua các giai đoạn và quá trình này được lặp đi lặp lại nhiều lần tạo ra sự tuần hoàn của vốn. Trải qua các giai đoạn khác nhau của tuần hoàn chu chuyển vốn, vốn kinh doanh được biểu hiện dưới nhiều hình thái khác nhau và sau một chu kì kinh doanh nó lại trở lại hình thái ban đầu của mình. Sơ đồ của quá trình này được biểu diễn như sau: TLSX T - H ..... SX ..... H’ - T’ SLĐ Vậy tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của một chu kì sản xuất. Tiêu thụ sản phẩm là quá trình đơn vị bán xuất giao sản phẩm cho đơn vị mua và thu được một khoản tiền về tiêu thụ số sản phẩm đó hoặc nhận được giấy báo chấp nhận trả tiền hàng. Đứng trên góc độ luân chuyển vốn thì tiêu thụ sản phẩm là một quá trình chuyển hoá hình thái giá trị của vốn từ hình thái hàng hoá sang hình thái tiền tệ ( H’ - T’). Thời điểm tiêu thụ sản phẩm được tính từ khi đơn vị bán được đơn vị mua chấp nhận thanh toán hoặc nhận được tiền hàng. Nếu hàng hoá được bán đi mà chưa được đơn vị mua chấp nhận thanh toán đối với số hnàg hoá đó thì được coi như chưa tiêu thụ, bởi vì số hàng hóa đó có thể bị bên mua trả lại do không đáp ứng được yêu cầu mà họ đặt ra, có thể về chất lượng, qui cách, mẫu mã... vì vậy tiêu thụ bao gồm cả hai hành vi: - Doanh nghiệp cung ứng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng. - Khách hàng trả tiền cho doanh nghiệp theo giá trị hàng hoá đó. Hai hành vi này có thể khác nhau về không gian, thời gian, về tiền bán hàng thu được. Trên thực tế phương thức mua bán hàng hoá giữa doanh nghiệp với khách hàng được diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau. Do vậy thời điểm được coi là tiêu thụ hoàn thành cũng khác nhau . 2. Doanh thu và nội dung của doanh thu: Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, đòi hỏi các doanh nghiệp phải cực kì năng động sáng tạo, đa dạng hoá các hoạt động của mình. Vì thế, doanh thu của doanh nghiệp không chỉ có doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn bao gồm doanh thu từ các hoạt động khác như doanh thu từ hoạt động tài chính và doanh thu bất thường. Như vậy doanh thu của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền thu được từ các hoạt động kể trên. Còn doanh thu tiêu thụ sản phẩm là toàn bộ số tiền thu được khi bán sản phẩm đó. Doanh thu tiêu thụ sản phẩm được xác định như sau: n T = S (Sti x Gi) i=1 Trong đó: T: Là doanh thu về tiêu thụ sản phẩm trong kì Sti: Số lượng sản phẩm i đã bán ra trong kì. Gi: Giá bán đơn vị sản phẩm i trong kì. i: Loại sản phẩm tiêu thụ trong kì (i=1,n). Thực tế hiện nay khi thuế doanh thu được thay bằng thuế VAT (Thuế giá trị gia tăng) thì giá bán đơn vị sản phẩm trong kỳ chính là giá chưa có thuế (còn thuế được bóc tách riêng). Cho nên, doanh thu tiêu thụ sản phẩm là toàn bộ số tiền thu được khi bán sản phẩm đó mà không kể phần thuế VAT phải nộp cho nhà nước. Tuy nhiên phần mà doanh nghiệp thực thu về để bù đắp các khoản chi phí hay còn gọi là doanh thu thuần thì được tính: Doanh thu thuần = Doanh thu (không có thuế) - các khoản giảm trừ. Các khoản giảm trừ bao gồm: triết khấu hàng bán, giảm giá hàng bán, trị giá hàng bán bị trả lại (nếu chứng từ hợp lệ). Chiết khấu hàng bán: Là số tiền người bán giảm trừ cho người mua do người mua thanh toán tiền mua sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ trước thời hạn thanh toán. Đây là hình thức , khuyến mãi đối với khách hàng. Giảm giá hàng bán: Là số tiền người bán giảm trừ cho người mua trên giá đã thoả thuận do các nguyên nhân: hàng kém phẩm chất, không đúng qui định hoặc giảm giá ưu đãi cho khách hàng mua với khối lượng lớn. Trị giá hàng bán bị trả lại: Là giá trị theo giá thanh toán số sản phẩm, hàng hoá đã tiêu thụ xong bị khách hàng trả lại do vi phạm các điều kiện đã cam kết trong hợp đồng. Doanh thu tiêu thụ sản phẩm là biểu hiện cụ thể của kết quả tiêu thụ, nó phản ánh toàn bộ quá trình tiêu thụ. Doanh thu tiêu thụ là một chỉ tiêu quan trọng không những đối với bản thân doanh nghiệp, mà nó còn có ý nghĩa đối với nền kinh tế quốc dân. Nó phản ánh qui mô của quá trình tái sản xuất, phản ánh trình độ tổ chức, chỉ đạo sản xuất kinh doanh, tổ chức công tác tiêu thụ sản phẩm. Doanh thu tiêu thụ sản phẩm là nguồn quan trọng để doanh nghiệp trang trải các khoản chi phí về công cụ lao động, đối tượng lao động đã hao phí trong quá trình sản xuất kinh doanh, trả lương hay tiền công tiền thưởng cho người lao động, trích bảo hiểm xã hội, doanh nghiệp làm nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước như nộp thuế. Như trên đã nói, nội dung của doanh thu gồm có: doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh thu từ hoạt động tài chính và doanh thu bất thường. - Doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh: là một bộ phận cấu thành nên doanh thu, đặc biệt trong các doanh nghiệp sản xuất thì bộ phận này chiếm tỉ trọng lớn nhất. Doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm: doanh thu thuần, thu từ phần trị giá của các hàng hoá, dịch vụ cung cấp theo yêu cầu của nhà nước, và các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đem tặng, biếu, cho hoặc tiêu dùng ngay trong nội bộ doanh nghiệp cũng phải hạch toán xác định doanh thu. Thời điểm xác định doanh thu là khi người mua đã chấp nhận thanh toán, không phụ thuộc đã thu tiền hay chưa. - Doanh thu từ hoạt động tài chính gồm: các khoản thu từ hoạt động đầu tư ra ngoài doanh nghiệp, thu từ hoạt động mua bán tín phiếu, các chứng từ có giá, thu từ cho thuê tài sản, thu từ hoạt động liên doanh liên kết, thu từ lãi tiền gửi, lãi tiền cho vay. - Doanh thu bất thường gồm: Thu từ các khoản tiền phạt, nợ đã xoá xong lại thu được, thu do hoàn nhập các khoản dự phòng đã trích năm trước nhưng không sử dụng và các khoản thu khác. 3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình tiêu thụ sản phẩm. Bất cứ một doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đều muốn tiêu thụ được nhiều sản phẩm. Song việc tiêu thụ sản phẩm của mỗi doanh nghiệp nhanh hay chậm, nhiều hay ít lại không phải chỉ do ý kiến chủ quan của doanh nghiệp quyết định. Việc tiêu thụ sản phẩm diễn ra như thế nào còn chịu tác động của rất nhiều nhân tố khác nhau, trong đó có những nhân tố chủ yếu sau: - Đặc điểm sản xuất kinh doanh của từng ngành nghề, từng doanh nghiệp. - Kết cấu sản phẩm, hàng hoá đưa ra tiêu thụ. - Giá cả sản phẩm tiêu thụ. - Khối lượng sản phẩm hàng hoá đưa ra tiêu thụ. - Chất lượng sản phẩm. - Công tác tổ chức bán hàng của doanh nghiệp. - Quảng cáo giới thiệu sản phẩm. - Thị trường tiêu thụ. Trên đây là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tiêu thụ sản phẩm. Ngoài ra đường lối chính sách của nhà nước, các công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nước, sự phát triển của cơ sở hạ tầng... cũng đều ảnh hưởng đến việc mở rộng hay thu hẹp khả năng tiêu thụ sản phẩm của mỗi doanh nghiệp. Trong sự tác động qua lại hỗ trợ hay kìm hãm nhau làm tăng giảm tốc độ tiêu thụ sản phẩm và doanh thu tiêu thụ sản phẩm, việc tính toán mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố và tìm ra cách giải quyết tối ưu là nhiệm vụ cuả mỗi doanh nghiệp. Có như vậy doanh nghiệp mới có thể đẩy mạnh được tiêu thụ sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho đơn vị mình. II/ Sự cần thiết phải đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm. 1. ý nghĩa của tiêu thụ sản phẩm: Có thể nói tiêu thụ sản phẩm hàng hoá không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với tất cả các doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân. Tiêu thụ hàng hoá tốt sẽ thúc đẩy quá trình lưu thông, trao đổi hàng hoá, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển. Trái lại hàng hoá của doanh nghiệp mà không tiêu thụ được chẳng những đẩy doanh nghiệp đến bên bờ vực phá sản mà còn gây nguy hại cho nền kinh tế. Chính vì vậy mà tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa thật đặc biệt. Tiêu thụ sản phẩm ảnh hưởng đến tốc độ chu chuyển của vốn lưu động.Tăng tiêu thụ sản phẩm, làm lợi nhuận tăng lên và là điều kiện tăng thêm thu nhập cho cán bộ công nhân viên, tăng thêm các hoạt động phúc lợi cho doanh nghiệp nhằm cải thiện và nâng cao điều kiện làm việc, sinh hoạt cho cán bộ công nhân viên. Ngoài ra, thực hiện công tác tiêu thụ sản phẩm nhanh chóng, kịp thời sẽ tiết kiệm được các khoản chi phí bán hàng, chi phí kho tàng, bảo quản.. góp phần hạ giá thành, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Ngược lại, nếu công tác tiêu thụ sản phẩm bị chậm chạp, ngưng trề thì sẽ dẫn tới chu kì sản xuất bị kéo dài, vốn bị ứ đọng, doanh nghiệp sẽ không có doanh thu để trang trải các khoản chi phí như trả nợ người cung cấp, các yếu tố đầu vào, trả lương cho cán bộ công nhân viên, trả nợ ngân hàng, ngoài ra vốn còn mất dần đi sự trượt giá của đồng tiền... đó chính là nguy cơ dẫn doanh nghiệp tới bờ vực phá sản. Doanh nghiệp bị phá sản không chỉ là rủi ro đối với chủ doanh nghiệp mà còn để lại nhiều hậu quả khác mà xã hội phải gánh chịu như làm tăng số người thất nghiệp, tăng tệ nạn xã hội... Không những thế còn gây khó khăn cho các chủ thể kinh tế khác có quan hệ đối với doanh nghiệp phá sản đó đồng thời ngân sách của nhà nước cũng bị giảm thu. Như vậy tiêu thụ sản phẩm có vai trò hết sức quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn với cả xã hội. Cho nên, bất cứ một doanh nghiệp nào cũng phải đặt vấn đề tiêu thụ sản phẩm lên hàng đầu, nhất là trong nền kinh tế thị trường hiện nay. 2. Tình hình tiêu thụ sản phẩm hiện nay của các doanh nghiệp. Với sự phát triển thế giới ngày nay, không một quốc gia nào dù lớn hay nhỏ, phát triển hay đang phát triển lại có thể sống tách biệt với thế giới, mà ngược lại mỗi quốc gia đều là một thành viên không thể tách rời của cộng đồng quốc tế. Xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá là một xu hướng tất yếu. Cũng chính vì thế mà cuộc khủng hoảng tài chính khu vực đã có ảnh hưởng nhất định đến Việt nam, làm cho nền kinh tế Việt nam những năm gần đây đang có nhiều khởi sắc bị phát triển chậm lại và tình hình tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp hiện nay cũng không nằm ngoài bối cảnh chung đó. Nhìn chung sản phẩm của các doanh nghiệp sản xuất ra có tới 80% được tiêu thụ trong nước và chỉ có 20% xuất khẩu nhưng chủ yếu dưới dạng thô chứ chưa được tinh chế. ở Việt Nam hiện nay, đa phần các doanh nghiệp đều nằm trong tình trạng thiếu vốn trầm trọng, và chủ yếu theo mô hình doanh nghệp vừa và nhỏ, công nghệ lạc hậu, trang thiết bị cũ kỹ, năng suất lao động thấp, năng lực quản lý kinh doanh yếu kém, giá thành sản phẩm của Việt nam nói chung là cao hơn, chất lượng thấp hơn và không ổn định so với sản phẩm cùng loại của các nước trong khu vực.Trong khi đó sản phẩm của các nước trong khu vực sẽ tràn vào Việt nam ngày càng nhiều. Đây là một thách thức lớn đối với tất cả các nghành sản xuất của Việt nam.Không còn con đường lựa chọn nào khác là tất cả các ngành phải nhanh chóng không ngừng cải tiến coong nghệ, đổi mới máy móc thiết bị, tăng năng suất lao động... để không ngừng nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, nhờ đó mà tăng khả năng cạnh tranh cả ở thị trường trong nước và trong khu vực. Bên cạnh đó chúng ta lại có những thuận lợi như: + Là nước chậm phát triển, chúng ta có lợi thế của người đi sau. Lợi thế đó chính là ở chỗ được phép lựa chọn những giải pháp tối ưu, khả thi, kết hợp một cách thông minh khôn ngoan giữa những nhân tố tiên tiến nhất thời đại với tinh hoa dân tộc. + Thực hiện tự do hoá buôn bán với các nước ASEAN có nghĩa là thị trường Việt nam sẽ mở rộng đáng kể từ một thị trường có trên 75 triệu người tiêu thụ trở thành thị trường với khoảng 500 triệu người tiêu dùng với sức mua tăng lên. + Ngoài ra các doanh nghiệp hiện nay còn có những thế lợi nội tại của mình như: nhân công rẻ, nguồn tài nguyên phong phú ... Tóm lại, xuất phát từ ý nghĩa của việc tiêu thụ sản phẩm và tình hình tiêu thụ sản phẩm hiện nay của các doanh nghiệp có thể nói đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm là sự cần thiết tất yếu của các doanh nghiệp. III. Vai trò của công tác tài chính trong thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm. Nếu như chức năng của tài chính là sự phản ánh những thuộc tính khách quan, những mối liên hệ bản chất của phạm trù tài chính doanh nghiệp thì việc sử dụng một cách có ý thức các chức năng của tài chính nhằm đạt được mục tiêu đã định trước trong chính sách tài chính là một nội dung chủ yếu của vai trò tài chính. Thực tế chỉ ra rằng, vai trò của tài chính doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào trình độ vận dụng của người quản lí trong việc khai thác và sử dụng các chức năng của tài chính mà còn phụ thuộc vào môi trường kinh tế. Việc đổi mới quản lí, chuyển các doanh nghiệp trong kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước đã làm thay đổi vai trò và phạm vi hoạt động của tài chính doanh nghiệp. Các quan hệ hàng hoá tiền tệ được mở rộng thay thế cho các quan hệ hiện vật bị ràng buộc bởi các chỉ tiêu kế hoạch được xác định một cách hành chính, tập trung. Cùng với việc thực hiện tự do hoá giá cả, việc xoá phương thức tiêu thụ sản phẩm theo địa chỉ được xác định từ cấp trên đã buộc doanh nghiệp phải đối mặt với thị trường. Đồng thời nền kinh tế được phát triển theo hướng nhiều thành phần. Các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, vừa hợp tác vừa cạnh tranh lẫn nhau. Những thay đổi cơ bản trên đây đã tạo ra môi trường kinh tế thuận lợi hơn cho sự tác động của tài chính đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong đó có công tác tiêu thụ sản phẩm. Điều đó được thể hiện trên những điểm chủ yếu sau: - Tài chính doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc tạo lập vốn đáp ứng yêu cầu tiếp cận chiếm lĩnh và mở rộng thị trường tiêu thụ của doanh nghiệp. Để đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp phải tiếp cận chiếm lĩnh và mở rộng thị trường tiêu thụ. Muốn đáp ứng yêu cầu này cần phải có các nguồn tài chính to lớn để tìm hiểu nghiên cứu và thăm dò thị trường, để đổi mới và nâng cao chất lượng sản phẩm... Trong điều kiện kinh doanh chuyển sang cơ chế thị trường và thực hiện tự cấp tự phát tài chính, các doanh nghiệp không thể trông chờ vào nguồn vốn được cấp phát từ phía ngân sách nhà nước mà phải chủ động tạo lập vốn đáp ứng yêu cầu của sản xuất kinh doanh và mở rộng thị trường. Vì thế tài chính doanh nghiệp phải chủ động khai thác các nguồn tài chính tự có từ kết quả sản xuất kinh doanh của mình, đồng thời chú trọng khả năng khai thác các nguồn tài chính khác từ hoạt động liên doanh liên kết, từ thị trường tài chính. Chỉ có trên cơ sở đó doanh nghiệp mới có điều kiện đầu tư và mở rộng sản xuất theo hướng đa dạng hoá sản phẩm, đổi mới kĩ thuật và công nghệ sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành sản phẩm, nghiên cứu nắm bắt thị trường tạo điều kiện mở rộng thị trường tiêu thụ. - Tài chính doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả, tạo điều kiện nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, dự toán chi phí bán hàng như: chi phí bao bì đóng gói, vận chuyển bốc dỡ, bảo hành... được tài chính doanh nghiệp lập nên. Cho nên nếu những kế hoạch dự toán đó được lập một cách khoa học, hợp lí, sát với thực tế sẽ là cơ sở cho tài chính xác định trọng điểm quản lí và sử dụng vốn sao cho tiết kiệm và hiệu quả. Từ đó thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm diễn ra mạnh mẽ hơn. - Ngoài ra tài chính doanh nghiệp cần áp dụng một số chính sách về đòn bẩy kinh tế như qui định các tỉ lệ trích thưởng, tỉ lệ phạt trong khi thực hiện hợp đồng, khuyến khích vật chất đối với việc tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm chi phí. Để đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm tài chính doanh nghiệp không chỉ áp dụng công cụ giá bán mà còn áp dụng công cụ khác nữa đó là chiết khấu bán hàng. Đây là một công cụ tài chính được sử dụng khá phổ biến để khuyến khích khách hàng mua sản phẩm với khối lượng lớn hoặc khuyến khích khách hàng thanh toán nhanh. Thêm vào đó tài chính doanh nghiệp còn sử dụng một số công cụ để thúc đẩy công tác tiêu thụ sản phẩm diễn ra mạnh mẽ hơn như: cước phí vận chuyển hàng hoá, hoa hồng cho đại lí, hàng kí gửi... - Tài chính doanh nghiệp có vai trò giám đốc, kiểm tra qua trình sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp. Điều này thể hiện ở chỗ tài chính doanh nghiệp giám sát tính đồng bộ, cân đối giữa kế hoạch sản xuất và tiêu thụ. Trong khâu tổ chức sản xuất, thông qua sổ sách, các số liệu kế toán... tài chính doanh nghiệp kiểm tra giám sát, đảm bảo sử dụng vốn đúng mục đích, đúng đối tượng, đúng thiết kế, tránh lãng phí hao hụt, mất mát... làm giá thành hạ, chất lượng đảm bảo, sản phẩm tiêu thụ được dễ dàng. Trong khâu bán hàng, tài chính doanh nghiệp kiểm tra, giám sát chặt chẽ các khoản chi phí bán hàng đã được lập trong dự toán, tánh mọi hiện tượng bớt xén, sử dụng sai mục đích... nhờ vậy sản phẩm được bao gói đẹp đẽ, đúng qui cách bảo quản cẩn thận, công tác vận chuyển, bảo hành sản phẩm được xúc tiến hợp lí có hiệu quả. Tất cả các hoạt động đó sẽ thu hút được ngày càng nhiều hơn khách hàng đến với doanh nghiệp. Như vậy tài chính doanh nghiệp có vai trò thực sự quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và công tác tiêu thụ sản phẩm nói riêng. Và đó là sự tác động của tài chính doanh nghiệp đến tiêu thụ sản phẩm. Vậy còn sự tác động ngược chiều lại thì sao? Tiêu thụ sản phẩm mạnh mẽ sẽ làm tăng vòng quay của vốn, rút ngắn kỳ thu tiền, tăng hiệu suất sử dụng vốn cố định, từ đó tăng lợi nhuận, tăng doanh lợi vốn, có nghiã là tăng khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh thu, tăng lợi nhận sẽ làm tăng tỷ trọng vốn tự có, giảm tỷ trọng vốn vay là cho kết cấu tài chính của doanh nghiệp được thay đổi theo hướng an toàn và có lợi. Từ việc giảm số vốn vay, đồng thời với việc đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tác động đến tái sản xuất sẽ làm tăng qui mô của tài sản lưu động đẫn đến tăng khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Qua đó tình hình tài chính của doanh nghiệp ngày càng ổn định và vững chắc. Còn nếu tiêu thụ sản phẩm chậm chạp sẽ làm giảm vòng quay của vốn, giảm hiệu suất sử dụng tài sản cố định... giảm lợi nhuận, khả năng sinh lời của một đồng vốn kém đi, lợi nhuận sẽ giảm sút, vốn tự có sẽ không đáp ứng với nhu cầu sản xuất kinh doanh, buộc doanh nghiệp phải tăng tỉ trọng vốn vay dẫn tới kết cấu tài chính của doanh nghiệp thay đổi theo hướng thiếu an toàn và bất lợi. Hệ số nợ tăng lên sẽ làm cho khả năng thanh toán của doanh nghiệp giảm đi, công nợ chồng chất có thể sẽ dẫn tới phá sản. Chương II: Tình hình tiêu thụ sản phẩm ở công ty Nhựa Hà nội. I. Tình tình và đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty Nhựa Hà Nội. 1. Sự ra đời và phát triển của công ty Nhựa Hà Nội. Công ty Nhựa Hà Nội trực thuộc Sở Công nghiệp Hà Nội đặt tại 27 Hai Bà Trưng - Hoàn Kiếm - Hà Nội. Tiền thân là xí nghiệp Nhựa Lợi Thành, đến 24 tháng 1 năm 1972 đổi tên là xí nghiệp Nhựa Hà Nội. Năm 1993 xí nghiệp Nhựa Hà Nội đổi tên thành công ty Nhựa Hà Nội theo Quyết định số 2977/QĐ-UB ngày 10 tháng 8 năm 1993 của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội và được duy trì đến ngày nay. Đó là tên gọi và cũng là tên giao dịch của công ty. Công ty Nhựa Hà Nội là một công ty của Nhà nước, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng có tài khoản tại Ngân hàng, được tổ chức hoạt động theo điều lệ quản lí công ty và trong khuôn khổ pháp luật. Nhiệm vụ chính của công ty là sản xuất kinh doanh các mặt hàng nhựa phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Từ chỗ ban đầu với một số ít công nhân, việc sản xuất hoàn toàn bằng thủ công, máy móc không có gì, kĩ thuật thấp kém, không có kĩ sư chuyên ngành. Trải quan nhiều năm phấn đấu liên tục cho đến nay công ty đã có hơn 200 cán bộ và kĩ sư, công ty đã trang bị cho mình một hệ thống máy móc tiên tiến hiện đại có thể sản xuất những mặt hàng cao cấp đáp ứng yêu cầu của những khách hàng khó tính nhất. Nhờ vậy mà hiện nay công ty Nhựa Hà nội được coi là một trong những con chim đầu đàn của ngành chế phẩm nhựa, tạo được uy tín và chỗ đứng vững chắc trên thị trường. Các sản phẩm chính của công ty nhựa Hà nội gồm có: - Đồ nhựa gia dụng: dép, xô... - Chai dầu phanh, lọ các loại. - Vỏ Starte. - Đồ nội thất nhà tắm, mặt đồng hồ, nắp hộp xích... - Các chi tiết xe máy. Ngoài ra còn có nhiều sản phẩm loại khác, đặc biệt công ty còn nhận chế tạo khuôn mẫu sản phẩm cho khách hàng theo yêu cầu. Đến nay công ty đã có sự phát triển vượt bậc. Thông qua chỉ tiêu của một số năm gần đây ta có thể thấy được sự lớn mạnh của công ty: Năm 1998 Năm 2002 - Doanh số: 11.229.627.327đ 20.600.486.613đ - Tổng số lợi nhuận: 775.599.000đ 1.310.333.298đ - Thu nhập bình quân: 400.000đ 950.000đ 2. Những đặc điểm chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Nhựa Hà Nội. a. Về cơ cấu tổ chức và quản lí của công ty. Để đảm bảo sản xuất có hiệu quả và quản lí tốt quá trình sản xuất kinh doanh, công ty Nhựa Hà Nội đã tổ chức quản lí theo mô hình trực tuyến. Đứng đầu là giám đốc công ty, là người trực tiếp điều hành các phòng ban chức năng và các phân xưởng sản xuất. Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty được thể hiện qua sơ đồ sau(Biểu 1) Nhiệm vụ và chức năng của các phòng ban: - Ban giám đốc gồm 2 người: một giám đốc và một phó giám đốc. + Giám đốc công ty: Là người đứng đầu bộ máy lãnh đạo của công ty, đại diện cho nhà nước, có quyền quyết định điều hành toàn bộ hoạt động của công ty theo đúng kế hoạch, chính sách pháp luật. + Phó giám đốc: là người giúp việc cho giám đốc và thay quyền giám đốc lúc giám đốc vắng mặt. - Các bộ phận phòng ban chức năng: + Khối kĩ thuật bao gồm: Phòng kĩ thuật cơ điện, phòng kĩ thuật công nghệ và phòng KCS. . Phòng kĩ thuật cơ điện: Thiết kế khuôn mẫu theo đơn đặt hàng, chỉnh sửa máy móc, phụ trách an toàn kĩ thuật khi vận hành máy. . Phòng kĩ thuật công nghệ: phòng này có nhiệm vụ xây dựng các tiêu chuẩn kĩ thuật, sau đó căn cứ vào các tiêu chuẩn đã xây dựng mà xem xét kiểm tra chất lượng sản phẩm. . Phòng KCS: Kiểm tra chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn đã được duyệt. + Khối nghiệp vụ bao gồm: Phòng Kế hoạch và phòng Tài vụ. + Khối nội chính bao gồm: Phòng bảo vệ và phòng Tổ chức Hành chính. + Phân xưởng cơ khí: có nhiệm vụ chế tạo khuôn mẫu theo đơn đặt hàng đúng với thiết kế khuôn mẫu và các tiêu chuẩn kĩ thuật. + Phân xưởng nhựa: Là phân xưởng sản xuất ra sản phẩm theo khuôn mẫu. + Phân xưởng hoàn thiện: là phân xưởng gia công sửa chữa hoàn thiện các sản phẩm trước khi đem giao cho khách hàng hoặc nhập kho. Các phòng ban chức năng được tổ chức theo yêu cầu quản lí sản xuất kinh doanh chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Ban giám đốc và trợ giúp cho Ban giám đốc lãnh đạo hoạt động sản xuất kinh doanh thông suốt. b. Về qui trình công nghệ chế tạo sản phẩm và tình tình trang bị cơ sở vật chất kĩ thuật. + Về qui trình công nghệ chế tạo sản phẩm: Là qui trình sản xuất liên tục, sản phẩm qua nhiều giai đoạn chế biến, song chu kì sản xuất ngắn, do đó việc sản xuất một sản phẩm nằm khép kín trong một phân xưởng (phân xưởng nhựa). Đây là điều kiện thuận lợi cho tốc độ luân chuyển vốn của công ty nhanh. Mặc dù sản phẩm của công ty rất đa dạng (có gần 200 loại sản phẩm) nhưng tất cả các sản phẩm đều có một điểm chung đó là được sản xuất từ nhựa. Cho nên, qui trình công nghệ sản xuất tương đối giống nhau. + Về trình độ trang bị kĩ thuật của công ty: Do trước đây công ty sản xuất xen kẽ giữa cơ khí và thủ công, đồng thời cùng với thời gian sử dụng đã lâu, máy móc thiết bị rất cũ và lạc hậu. Vì vậy năng suất thấp, chất lượng sản phẩm không cao. Trước tình hình đó, Ban lãnh đạo công ty đã quyết định đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ. Tính từ năm 1993 đến năm 2002 công ty đã đầu tư gần 20 tỉ đồng cho mua sắm máy móc thiết bị. Mặt khác, công ty lại áp dụng phương pháp khấu hao nhanh, thời gian sử dụng trung bình của số máy móc là 6 năm/1máy. Cho nên, công ty có thể thu hồi vốn nhanh, tránh được tình trạng hao mòn vô hình và theo kịp tốc độ đổi mới công nghệ hiện nay giúp công ty nâng cao thế mạnh cạnh tranh của mình. c. Về tình hình tổ chức lao động: Lao động là yếu tố quan trọng nhất của quá trình sản xuất, đảm bảo đủ số lượng, chất lượng lao động là điều kiện cần thiết để kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh được tốt. Hiện nay tổng số lao động của công ty gồm 230 người. Trong số đó công nhân trực tiếp sản xuất là 203 người, chiếm 88,26% tổng số công nhân viên toàn công ty, số bộ phận gián tiếp là 27 người chiếm 11,74%. d. Về thị trường và khách hàng: Thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty tập trung chủ yếu ở Hà nội. Ngoài ra còn có các thị trường khác như Vĩnh Phúc, thành phố Hồ Chí Minh... Tại thị trường Hà nội, vị trí trung tâm kinh tế của cả nước với diện tích 102,5 ngìn Km2, dân số 4 triệu người, mật độ dân cư đông, tốc độ phát triển nhanh, nhiều người có mức thu nhập cao hơn nhiều so với những nơi khác. Vì vậy Hà nội là một thị trường sôi động, hấp dẫn nhưng cũng thật phức tạp. Hơn nữa nó là một thị trường hấp dẫn các nhà sản xuất kinh doanh, nên hiện nay thị trường Hà nội có rất nhiều sản phẩm cùng loại của các công ty khác như sản phẩm từ Trung Quốc, Thái lan... nhập về, sản phẩm của các công ty như công ty Nhựa Hiệp Thành, công ty Nhựa Sài Gòn từ thành phố Hồ Chí Minh mang ra. Tất cả các sản phẩm của các đối thủ đều có chất lượng cao, mẫu mã đẹp, đặc biệt là hàng nhập lậu từ Trung quốc bán với giá rất rẻ... chính điều này buộc công ty phải có chiến lược cạnh tranh độc đáo, giữ vững và mở rộng thị trường. Ngoài ra, khách hàng của công ty đều là những đối tượng khó tính, trình độ nhận thức cao, họ có nhiều cơ hội để so sánh, lựa chọn sản phẩm, lựa chọn nhà cung cấp đáp ứng yêu cầu cầu mình. Vì thế muốn tiêu thụ được sản phẩm công ty phải không ngừng nâng cao chữ tín đối với khách hàng. e. Về sản phẩm của công ty: Hiện nay công ty đang thực hiện chiến lược đa dạng hoá sản phẩm (gần 200 sản phẩm). Tuy nhiên số lượng sản xuất và tiêu thụ của từng loại sản phẩm không lớn lắm. Các loại sản phẩm của công ty có thể phân thành một số nhóm như sau: Bao bì, vật liệu xây dựng, phụ tùng công nghiệp, hàng tiêu dùng, chế tạo khuôn mẫu thiết bị, nguyên liệu. Đối với cá loại sản phẩm như bao bì, vật liệu xây dựng (tấm ốp trần...) đòi hỏi phải lịch sự trang nhã, mẫu mã đẹp, chất lượng tốt, giá cả phải chăng. Còn đối với những sản phẩm công nghiệp cao cấp như: vỏ ác quy, linh kiện xe máy... là những mặt hàng sản xuất cho hãng Honda thì lại đòi hỏi rất khắt khe về mặt chất lượng. Vì thế, sản phẩm của công ty sản xuất ra không những đáp ứng đủ về số lượng mà còn đảm bảo đạt yêu cầu về chất lượng, mẫu mã. Do đó, sản phẩm của công ty đưa ra thị trường tiêu thụ chỉ có duy nhất một loại phẩm cấ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docA0223.doc
Tài liệu liên quan