Tìm hiểu việc giữ gìn nét văn hóa dân tộc ở lễ hội vía bà Chúa Xứ núi Sam, thị xã Châu đôc, tỉnh An Giang

Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Lịch sử phát triển nhân loại cho thấy văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, nó không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia. Văn hóa là từ có nội hàm rất rộng bao trùm cả lĩnh vực lịch sử, giáo dục, xã hội… Văn hóa giúp cho lịch sử con người nhận thức được không gian, và mọi vật xã hội tiến tới chân - thiện - mỹ. Trải qua bao biến chuyển

pdf62 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 2903 | Lượt tải: 2download
Tóm tắt tài liệu Tìm hiểu việc giữ gìn nét văn hóa dân tộc ở lễ hội vía bà Chúa Xứ núi Sam, thị xã Châu đôc, tỉnh An Giang, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
của lịch sử, nếu có một điều đáng tự hào của nhân loại nói chung, đó chính là thành tựu văn hóa. Lịch sử trên thế giới đã chứng minh: lớp bụi thời gian sẽ làm phai mờ tất cả, trừ giá trị văn hóa vẫn mãi mãi lưu truyền. Trong thời đại ngày nay, khi kinh tế ngày càng phát triển và các quốc gia trên thế giới ngày càng xích lại gần nhau thì văn hóa dân tộc trở thành trung tâm của sự chú ý. Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước Việt Nam nhiều lần khẳng định vai trò quan trọng của văn hóa trong việc bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, đồng thời đặt mục tiêu “Xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” [21;533]. Đối với từng quốc gia đều có những nét văn hóa rất riêng, rất đặc trưng của quốc gia dân tộc mình gắn liền với sắc thái văn hóa của tất cả các dân tộc sinh sống trên quốc gia đó. Đối với từng đơn vị hành chính (tỉnh, huyện) của một quốc gia, bên cạnh tất cả các sắc thái văn hóa của các dân tộc đang sinh sống còn có những địa danh, khu di tích lịch sử, các lễ hội truyền thống… góp phần tạo nên những nét văn hóa rất đơn nhất, rất đặc sắc của đơn vị hành chính đó. Do đó, nếu biết phát huy và phát triển các giá trị văn hóa của mỗi con người, của các cộng đồng dân tộc, của từng khu di tích lịch sử, của từng lễ hội truyền thống một cách lành mạnh thì càng có điều kiện thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế, giải quyết tốt các vấn đề xã hội. Việt Nam có 64 tỉnh, thành trải dài từ Bắc chí Nam hầu như nơi nào cũng có di tích và thắng cảnh. Mỗi di tích và thắng cảnh như mỗi bông hoa rực rỡ sắc màu trong rừng hoa văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam. An Giang thuộc miền Tây Nam Bộ, vùng đất có lợi thế về thiên nhiên, là vùng đồng bằng bỗng dưng có núi. Đây còn là vùng đất giàu di tích lịch sử văn hóa. Vùng đất này trở thành trung tâm du lịch hành hương điển hình biểu tượng của miền Tây; một Trang 1 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh hình ảnh An Giang trong lòng mọi người. Từ vị trí địa lý đặc biệt của mình, An Giang xưa đã trở thành trung tâm văn hóa Óc Eo nổi tiếng trong chín tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Khi người Việt đến An Giang còn bị hoang hóa và người Việt đã viết tiếp trang sử của vùng đất này. Người Việt sống cộng cư với các dân tộc anh em khác và cùng nhau xây dựng nền văn hóa mới, phủ lên vùng đất An Giang và cả miền Tây Nam Bộ nói chung. Ngày nay, người Việt trở thành chủ thể của vùng đất này. Trong suốt tiến trình lịch sử, các dân tộc Kinh, Chăm, Hoa, Khmer ở An Giang luôn gắn bó học hỏi lẫn nhau cùng phát triển và hình thành nên một “nền văn hóa sông nước”. Núi Sam thuộc xã Vĩnh Tế (nay thuộc phường Núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang), một làng mang nhiều nét đặc thù ở vùng biên thùy Tây Nam Bộ, có núi, có sông, có đồng bằng bát ngát và nhiều di tích, thắng cảnh. Nơi đây tập trung nhiều công trình kiến trúc, di tích lịch sử văn hóa cùng hàng trăm chùa, am, miếu và nhiều thắng cảnh đẹp mang dấu ấn một thời mở đất về phương Nam. Núi Sam có khoảng 142 cơ sở tín ngưỡng, thờ tự cùng các di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu [23]. Ngoài 142 cơ sở tín ngưỡng, thờ tự, khu vực núi Sam có 5 công trình lịch sử văn hóa tiêu biểu được công nhận là di tích: đình Vĩnh Tế, chùa Tây An, chùa Hang, Lăng Thoại Ngọc Hầu và miếu Bà Chúa Xứ. Những di tích trên có giá trị về mặt lịch sử, tín ngưỡng – tôn giáo, giá trị về mặt kiến trúc, cảnh quan môi trường và giá trị về mặt hiện vật. Bên cạnh các di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu tại núi Sam, lễ hội là một loại hình văn hóa đặc sắc của vùng đất. Đặc trưng nhất của nét lễ hội vùng núi Sam là Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ. Chính sách của Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến các di tích thắng cảnh cũng như sinh hoạt truyền thống của các lễ hội, tạo điều kiện trùng tu xây dựng các di tích lịch sử, nâng cấp các lễ hội, hướng các lễ hội sinh hoạt lành mạnh theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước. Mặt khác, vẫn tôn trọng những giá trị văn hóa thuộc về truyền thống của các di tích, cũng như những nét sinh hoạt đặc sắc riêng của các lễ hội. Các lễ hội núi Sam, có tính đa dạng về loại hình hoạt động và phong phú về nội dung thờ cúng. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tập tục thờ nữ thần, thờ cúng Phật, Thánh… xuất phát từ tín ngưỡng đa thần của cư dân nông nghiệp; từ cội nguồn tâm thức chung của người Việt, luôn sống với đạo lý: “Uống nước nhớ nguồn”. Qua các nội dung của các lễ hội nêu trên, người ta có thể nhìn nhận rõ Trang 2 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh nét hơn tính giao lưu tiếp biến văn hóa của tín ngưỡng dân gian bản địa, điển hình như Chúa Xứ Thánh Mẫu. Trong những năm qua, mặc dù những nét văn hóa trong Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam đã được nhiều tác giả nghiên cứu đến. Tuy nhiên, hầu hết tất cả đều nêu một cách khái quát về Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ, chưa đi sâu tìm hiểu phong tục sinh hoạt, các nét văn hóa truyền thống độc đáo của lễ hội và đề ra các biện pháp để giữ gìn nét văn hóa dân tộc trong Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam, một lễ hội được xếp hạng cấp quốc gia vào năm 2001. Trong giai đoạn phát triển hiện nay của đất nước, giai đoạn hội nhập toàn cầu, vấn đề đặt ra là làm thế nào để giữ gìn những nét văn hóa độc đáo trong Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang. Quảng bá hình ảnh độc đáo Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam không chỉ cho du khách trong nước mà còn du khách ngoài nước biết đến, cũng như xóa bỏ những nghi ngờ, những quan niệm sai lệch xem lễ hội là một hình thức mê tín dị đoan. Đó cũng là vấn đề đáng quan tâm hiện nay. Mảng đề tài về văn hóa là lĩnh vực tôi rất tâm đắc, được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất An Giang giàu truyền thống anh hùng, nổi tiếng về nông nghiệp, với nhiều di tích lịch sử và thắng cảnh đẹp. Tiếp bước truyền thống đó, tôi cũng muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào quá trình xây dựng quê hương An Giang nói riêng, sự nghiệp xây dựng đất nước nói chung ngày càng giàu đẹp, đặc biệt trên lĩnh vực văn hóa. Chính vì vậy tôi đã quyết định chọn đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình: “Tìm hiểu việc giữ gìn nét văn hóa dân tộc ở Lễ hội vía Bà Chúa Xứ núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang”. 2. Mục đích và nhiệm vụ: 2.1. Mục đích: Tìm hiểu việc giữ gìn nét văn hóa dân tộc trong Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang. Đề xuất một số giải pháp trong việc giữ gìn nét văn hóa dân tộc trong Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang hiện nay. 2.2. Nhiệm vụ: Nghiên cứu tín ngưỡng dân gian thờ Mẫu trong Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang. Trang 3 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh Tìm hiểu việc giữ gìn nét văn hóa dân tộc trong Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 3.1. Đối tượng: Nghiên cứu nét văn hóa dân tộc trong Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang. 3.2. Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận chỉ nghiên cứu việc giữ gìn nét văn hóa dân tộc trong Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang. 4. Phương pháp nghiên cứu: Khóa luận sử dụng: Phương pháp luận: Duy vật biện chứng. Phương pháp chuyên ngành: Phương pháp tiếp cận văn hóa: logic-lịch sử, khảo sát thực tế. Phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp hệ thống. Phương pháp điền giả 5. Đóng góp của khóa luận: Khóa luận góp phần làm sáng tỏ thêm về văn hóa dân tộc nói chung, và một số nét văn hóa độc đáo (Văn hóa tín ngưỡng dân gian thờ Mẫu) của Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang hiện nay nói riêng. Đề ra một số giải pháp giữ gìn nét văn hóa dân tộc trong Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang trong giai đoạn hội nhập của đất nước hiện nay. Quảng bá hình ảnh văn hóa độc đáo của Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam không chỉ cho du khách trong cả nước mà còn cho du khách nước ngoài biết đến, cũng như xóa bỏ những nghi ngờ, những quan niệm sai lệch về Lễ hội. Kết quả nghiên cứu của khóa luận có thể làm nguồn tư liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập về văn hóa, cũng như nét văn hóa dân tộc trong Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang. Góp phần cung cấp những cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách, chủ trương của chính quyền địa phương về công tác văn hóa, tư tưởng thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang trong giai đoạn hiện nay. Trang 4 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh 6. Kết cấu khóa luận: Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 2 chương. Chương 1 Văn hóa tín ngưỡng dân gian và tín ngưỡng thờ Mẫu trong nền văn hóa Việt Nam 1.1. Văn hóa và văn hóa tín ngưỡng dân gian 1.1.1. Khái niệm văn hóa 1.1.2. Văn hóa tín ngưỡng dân gian 1.1.3. Tư tưởng, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về văn hóa 1.1.3.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa 1.1.3.2. Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về văn hóa 1.1.3.3. Đường lối, chính sách của Đảng bộ An Giang về văn hóa 1.2. Tín ngưỡng thờ Mẫu trong nền văn hóa Việt Nam 1.2.1. Thờ Mẫu trong lịch sử người Việt 1.2.2. Về kiến trúc, bày trí điện thần và lễ thức của tín ngưỡng thờ Mẫu Chương 2 Giữ gìn nét văn hóa ở Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang 2.1. Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang 2.1.1. Vị trí địa lý và tình hình kinh tế - xã hội thị xã Châu Đốc hiện nay 2.1.1.1. Vị trí địa lý và lịch sử hình thành thị xã Châu Đốc 2.1.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội thị xã Châu Đốc hiện nay 2.1.2. Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang 2.2. Tác động của Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam đến đời sống người dân 2.2.1. Ý thức người dân đối với Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam 2.2.2. Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam tác động đến người dân 2.3. Một số giải pháp giữ gìn nét văn hóa ở Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang 2.3.1. Một số vấn đề tồn tại trong Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam 2.3.2. Một số giải pháp giữ gìn nét văn hóa Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam Trang 5 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh 2.3.2.1. Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền và nâng cao nhận thức về giữ gìn nét văn hóa ở Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam 2.3.2.2. Phát huy nét đẹp, điều đúng ở Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam 2.3.2.3. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và biện pháp quản lý của Nhà nước đối với Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam Trang 6 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh PHẦN NỘI DUNG Chương 1 Văn hóa tín ngưỡng dân gian và tín ngưỡng thờ Mẫu trong nền văn hóa Việt Nam 1.1. Văn hóa và văn hóa tín ngưỡng dân gian 1.1.1. Khái niệm văn hóa Tiến trình lịch sử của nhân loại cho thấy, ngay từ thuở sơ khai, văn hóa đã là nền tảng, là động lực của quá trình phát triển của toàn thể cộng đồng nói chung và từng cá thể thành viên của cộng đồng nói riêng. Văn hóa đã trở thành một chủ đề thu hút sự quan tâm chung của toàn thể cộng đồng nhân loại chứ không còn là vấn đề riêng của giới nghiên cứu học thuật nữa. Trong tiếng Việt, văn hóa là danh từ có nội hàm khá rộng và phức tạp. Người ta có thể hiểu văn hóa như là một hoạt động sáng tạo của con người, nhưng cũng có thể hiểu văn hóa như lối sống, thái độ ứng xử, lại cũng có thể hiểu văn hóa như trình độ học vấn mà mỗi công nhân viên chức vẫn ghi trong lý lịch công chức của mình. Đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa, tùy thuộc vào những không gian, thời gian khác nhau và những tác giả khác nhau. Điều đó chứng tỏ tính đa dạng phong phú và tính luôn luôn biến đổi của văn hóa. Bản thân thực thể văn hóa đã trở thành đối tượng cho nhiều nhà nghiên cứu, văn hóa không còn giới hạn trong khuôn khổ của một khoa học mà là sự đa chiều của nhiều khoa học. Điều này đã dẫn đến việc có quá nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa được đề cập đến ở cả phương Đông lẫn phương Tây. Quả thật, văn hóa là một khái niệm có nội dung rất phong phú và đa dạng, qua đó cho thấy việc xác định khái niệm văn hóa không đơn giản bởi các tác giả khác nhau thường hiểu nội dung của nó khác nhau tùy thuộc vào góc độ tiếp cận và tùy thuộc vào việc xuất phát từ cứ liệu riêng, mục đích riêng phù hợp với vấn đề mình cần nghiên cứu. Trong quyển “Nhân chủng học Văn hóa”, giáo sư Richley H.Crapo cho rằng, hai nhà khoa học Mỹ A.L.Krober và Kluckhôn đã khảo sát 158 định nghĩa về văn hóa. Năm 1967, Abraham Moles, nhà Văn hóa học Pháp cho rằng, có 250 định nghĩa về văn hóa. Nhà nghiên cứu văn hóa Trung Hoa Từ Hồng Hưng cho rằng, có đến “hàng nghìn định nghĩa về văn hóa” [31;10]. Theo tác giả Đoàn Văn Trang 7 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh Chúc trong sách “Xã hội học văn hóa” thống kê cho đến nay có tới 256 định nghĩa khác nhau về văn hóa [13;21]. Năm 1994, trong công trình Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới, Phó Giáo Sư Phan Ngọc cho biết: “Một nhà dân tộc học Mỹ đã dẫn ngót bốn trăm định nghĩa về văn hóa khác nhau” [22;19]. Ngược dòng thời gian, ở phương Tây, từ văn hóa xuất hiện sớm trong đời sống ngôn ngữ. Nhà ngôn ngữ học người Đức W.Wundt cho rằng: Văn hóa là một từ có căn gốc Latinh: Colere, sau trở thành Cultura nghĩa là cày cấy, gieo trồng. Từ nét nghĩ này về sau dẫn đến nghĩa rộng hơn là sự hoàn thiện, vun trồng tinh thần, trí tuệ. Thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên, nhà hùng biện thời La Mã Cicéron có câu nói nổi tiếng: “Triết học là văn hóa tinh thần” [17;13]. Quay sang phương Đông, ở Trung Quốc, từ văn hóa đã xuất hiện trong đời sống ngôn ngữ ở thời Tây Hán (206 trước Công nguyên - 220 sau Công nguyên), hai từ văn và hóa đã được kết hợp lại thành văn hóa, và nhìn chung có hàm nghĩa: Dung, Thi, Thư, Lễ, Nhạc, điển chương, chế độ… để giáo hóa dân chúng. Trong quyển sách Thuyết uyển bài Chỉ vũ của Lưu Hướng viết: Thánh nhân cai trị thiên hạ, trước dùng văn đức rồi sau mới dùng vũ lực. Như vậy, trong cách nghĩ của Lưu Hướng, từ văn hóa được hiểu như một cách giáo hóa đối lập với vũ lực, văn hóa gần nghĩa với giáo hóa [17;14]. Trong phong trào “Minh trị duy tân” khởi xướng vào năm 1868, Nhật Bản đã dịch rất nhiều sách của phương Tây, hai từ văn hóa đã được Nhật Bản dùng để dịch những từ có cùng gốc Latinh Cultura. Mặc dù có mặt sớm trong đời sống ngôn ngữ phương Tây cũng như phương Đông như vậy, nhưng phải đến thế kỷ XVIII, từ văn hóa mới được đưa vào khoa học, sử dụng như thuật ngữ khoa học. Năm 1774, từ này mới được xuất hiện trong thư tịch và ghi vào từ điển năm 1783 ở Đức. Người đầu tiên sử dụng từ văn hóa trong khoa học là Pufendorf, người Đức. Ông cho rằng văn hóa là toàn bộ những gì được tạo ra do hoạt động xã hội, nghĩa là văn hóa đối lập với trạng thái tự nhiên. Trong khi nhà triết học H.Kant lại cho rằng văn hóa là sự phát triển, bộc lộ các khả năng, năng lực và sức mạnh của con người [17;14]. Cùng với các nhà triết học Đức, nhà triết học Vico người Ý cho rằng, văn hóa là một từ chỉ phức thể gồm: khoa học, nghệ thuật, kinh tế, chính trị. Đến năm 1855, khi Klemm công bố công trình Khoa học chung về văn hóa thì người ta mới coi khoa học về văn hóa hình thành và thực sự phát triển. Năm 1871, E.B.Tylor công bố công trình Văn hóa nguyên thủy ở Luân Đôn. Lúc này, ngành khoa học về văn hóa mới chính thức được khẳng định, bởi E.B.Tylor đã Trang 8 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh xác lập được đối tượng nghiên cứu của ngành văn hóa học. Trên cơ sở này, E.B.Tylor đã đề xuất một định nghĩa đầu tiên về văn hóa và khá nổi tiếng: “Văn hóa, hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục và những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội” [10;19]. Như vậy, E.B.Tylor cho rằng con người có được văn hóa với tư cách là một thành viên xã hội, không có cộng đồng nào không có văn hóa và cũng không có văn hóa nào tồn tại ngoài cộng đồng. Đi sâu tìm hiểu định nghĩa này, có thể thấy, E.B.Tylor đã nhấn mạnh về mặt tinh thần của văn hóa. Định nghĩa này cũng nêu gộp mọi bình diện, cấp độ của văn hóa, do đó chưa nêu được bản chất văn hóa, vì vậy chỉ là định nghĩa mang tính chất mô tả và văn hóa không đơn giản là sự hiểu biết. Đây được xem là định nghĩa đầu tiên, cổ điển, tiêu biểu về văn hóa, dù chưa phải là hay nhất và đầy đủ nhất. Đến giữa những năm 60 của thế kỷ này, Abraham Moles, một nhà văn hóa học Pháp, lại quan niệm: “Văn hóa - đó là chiều cạnh trí tuệ của môi trường nhân tạo, do con người xây dựng nên trong tiến trình đời sống xã hội của mình” [13;21]. Các Pốp nhà văn hóa thuộc Liên Xô cũ thì định nghĩa: “Văn hóa là toàn bộ của cải vật chất và tinh thần, kết quả của những hoạt động có tính chất xã hội và lịch sử của xã hội loài người” [19;21]. Như đã nói trên, bản thân thực thể văn hóa đã trở thành một đối tượng được nhiều chuyên ngành thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn quan tâm đi sâu nghiên cứu, trước kia là khoa học nhân học và hiện nay là chuyên ngành văn hóa học. Cùng với thời gian, hàm nghĩa văn hóa không ngừng được mở rộng, ngày càng thêm phong phú, chuẩn xác, nhưng “văn hóa là gì?” vẫn là một vấn đề luôn được đặt ra để đón nhận những lời giải đáp ngày càng thấu đáo và đầy đủ hơn. Những năm thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, vấn đề văn hóa được quan tâm, được xem là yếu tố có vị trí quan trọng để vừa bảo tồn dân tộc, vừa phát triển dân tộc. Quan điểm của UNESCO là: văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác dân tộc khác. Rất nhiều cuộc hợp bàn về văn hóa dưới sự chủ trì của Liên hiệp quốc đã được tổ chức, qua đó nhiều định nghĩa về văn hóa đã được đề xuất. Tại lễ phát động Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa tổ chức tại Paris ngày 21/1/1988, Tổng giám đốc UNESCO Federico Mayor lại đưa ra định nghĩa: “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống con người đã diễn ra trong quá khứ và cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên hệ thống các giá trị, Trang 9 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình” [13;22]. Bên cạnh đó, trong các bộ Từ điển bách khoa và các từ điển chuyên ngành của các nước, từ văn hóa cũng có một vị trí xứng đáng với những lời giải thích khá đầy đủ và sâu sắc: “Văn hóa theo nghĩa rộng là tập tục, tín ngưỡng, ngôn ngữ, tư tưởng, thị hiếu thẩm mỹ … những hiểu biết kĩ thuật cũng như toàn bộ việc tổ chức môi trường con người… những công cụ, nhà ở… và nói chung toàn bộ công nghiệp có thể truyền lại được, điều tiết những quan hệ và ứng xử của một nhóm xã hội với môi trường sinh thái của nó…” (Bách khoa toàn thư Pháp) [10;35]. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, văn hóa bắt nguồn từ lao động. C. Mác viết: Chúng ta buộc phải bắt đầu bằng việc xác định tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại con người, và do đó tiền đề của mọi lịch sử, đó là người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể “làm ra lịch sử”. Nhưng muốn sống được thì trước hết phải có thức ăn, nước uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác. Như vậy hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất những tư liệu để thỏa mãn những nhu cầu ấy, việc sản xuất ra đời sống vật chất. Hơn nữa, đó là một hành vi lịch sử, một điều kiện cơ bản của mọi lịch sử mà (hiện nay cũng như hàng ngàn năm về trước) người ta phải thực hiện hàng ngày, hàng giờ, chỉ để nhằm duy trì đời sống con người [31;10-11]. Từ đây Mác cho rằng, khởi điểm của hành vi lịch sử đầu tiên là văn hóa. Văn hóa như là sự thăng hoa của quá trình sản xuất vật chất, là cái để con người khẳng định mình. Và do vậy, bản chất con người luôn sáng tạo theo quy luật của cái đẹp. Quan niệm của Mác, Ăngghen về văn hóa đã được V.I.Lênin kế thừa và phát triển. Với V.I.Lênin, văn hóa luôn gắn liền với phát triển và hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội [31;11]. Thuật ngữ văn hóa xuất hiện rất lâu trong ngôn ngữ Hán, du nhập vào Việt Nam từ hơn 2000 năm trước [3;10]. Cho đến nay có rất nhiều khái niệm khác nhau được các giáo sư, các nhà văn hóa học Việt Nam nêu lên. Căn cứ vào nghĩa gốc của từ Culture trong tiếng Latinh, Giáo sư Vũ Khiêu, nhà văn hóa học Việt Nam, cho rằng: “Văn hóa thể hiện trình độ vun trồng của con người, của xã hội… Văn hóa là trạng thái của con người ngày càng tách khỏi giới động vật, ngày càng xóa bỏ những đặc tính của động vật, để khẳng định những đặc tính của con người” [13;21]. Trang 10 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh P. Giáo Sư, Viện sĩ Trần Ngọc Thêm cũng đưa ra khái niệm về văn hóa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [25;10]. Theo ông, văn hóa có bốn đặc trưng cơ bản: tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử, tính nhân sinh. Ngày nay, văn hóa thường được hiểu theo hai nghĩa rộng và hẹp, văn hóa nói chung và các nền văn hóa cụ thể. Văn hóa hiểu theo cách khái quát nhất và rộng nhất có thể coi văn hóa là để chỉ toàn bộ những sáng tạo của con người về vật chất, về tinh thần và về ứng xử, đó là những sáng tạo và hoạt động có ích cho cuộc sống con người, cho xã hội loài người và cho thế giới xung quanh trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên, quần thể cộng đồng và thế giới tâm linh. Còn văn hóa hiểu theo nghĩa riêng, chính là đặc trưng đời sống mang tính chung cho cộng đồng người, đồng thời là bản sắc riêng khi đối sánh, phân biệt văn hóa với cộng đồng người khác. Nhìn chung, tuy có rất nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa nhưng mọi khái niệm văn hóa đều thống nhất những đặc điểm sau: Một là, văn hóa bao gồm văn hóa tinh thần và văn hóa vật chất chứ không chỉ là văn hóa tinh thần hay văn hóa nghệ thuật; Hai là, văn hóa không chỉ có nghĩa là văn học nghệ thuật như thông thường người ta thường nói. Văn học nghệ thuật chỉ là một bộ phận cao nhất trong lĩnh vực văn hóa; Ba là, văn hóa là sự sáng tạo của con người hướng tới giá trị chân – thiện – mỹ. Do vậy, nó trở thành dấu hiệu tộc loại để phân biệt con người với động vật khác; Bốn là, văn hóa xuất hiện do sự thích nghi một cách chủ động và có ý thức của con người với tự nhiên nên văn hóa cũng là kết quả của sự thích nghi đó; Năm là, nói đến văn hóa là nói đến tính hệ thống với chức năng tổ chức xã hội, tính giá trị với chức năng điều tiết xã hội, tính lịch sử với chức năng giáo dục, tính nhân bản với chức năng giao tiếp; Sáu là, văn hóa về bản chất là một quá trình phát triển mang tính người, nó là cái đặc trưng cho một cộng đồng dân tộc. Tóm lại, điểm qua một vài định nghĩa xưa và nay, trong và ngoài nước về văn hóa, có thể thấy rằng trên cả hai bình diện chính trị và khoa học thì những quan điểm hoặc định nghĩa về văn hóa là rất khác nhau nhưng không vì thế mà Trang 11 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh chúng ta không thấy điểm chung trong các định nghĩa, quan niệm về văn hóa (văn hóa thuộc về con người và có tính giá trị). Tất nhiên, ở mọi cộng đồng người khác nhau do những điều kiện tự nhiên, xã hội khác nhau thì những giá trị này không đồng nhất mà chúng hết sức khác nhau thậm chí đối nghịch nhau. Bên cạnh khái niệm văn hóa, còn có những khái niệm gần gũi, có liên quan song không đồng nhất với nó. Đó là các khái niệm văn minh, văn hiến, văn vật. Văn hóa là một khái niệm bao trùm, có chứa cả giá trị vật chất lẫn tinh thần. Văn hóa luôn mang tính lịch sử, tính dân tộc. Khái niệm văn hóa và các nền văn hóa cổ đại đều xuất phát từ các nước phương Đông có nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước: Trung Quốc, Ấn Độ, Lưỡng Hà, Ai Cập, … Nền văn hóa phương Tây xuất hiện sớm nhất là văn hóa Hy lạp và La Mã cùng có nguồn gốc từ phương Đông, trên cơ sở tiếp thu những thành tựu của nền văn hóa Ai Cập - Lưỡng Hà. Các trung tâm văn hóa cổ đại phương Đông đều hình thành ở những lưu vực có con sông lớn - là những nơi sản xuất nông nghiệp từ xưa đến nay. Văn minh (văn là vẻ đẹp, minh là sáng) là một từ có nguồn gốc trong tiếng Hán được Hán Việt hóa, được ghép bằng hai từ Văn và Minh. Trong các tiếng Anh, Pháp, Đức, Nga, Latinh cùng có một nguồn gốc là Civilisation là để chỉ sự khai hóa, làm cho con người thông tuệ lên. Như vậy, quan niệm của phương Đông và phương Tây thì có sự đồng nhất trong khái niệm văn minh, đó là làm cho con người tân tiến hơn cả về vật chất, về tinh thần, về ứng xử, cũng có nghĩa là làm cho xã hội ngày càng phát triển. Nếu như văn hóa là toàn bộ những sáng tạo từ đầu đến cuối của nhân loại thì văn minh là để chỉ mỗi một nấc thang, từng cấp độ của sự phát triển trong đó có văn hóa. Văn minh chỉ cho ta trình độ phát triển nhất định của văn hóa; nó là một đặc trưng của thời đại và có tính quốc tế, đặc trưng cho một khu vực rộng lớn hoặc cả nhân loại. Một dân tộc có trình độ văn minh cao song có khi nền văn hóa lại rất nghèo nàn. Ngược lại một dân tộc còn lạc hậu có khi lại có nền văn hóa phong phú. Văn hiến là một khái niệm của phương Đông, theo nghĩa gốc là “sách vở, điển chương chế độ, người hiền tài”.Văn hiến là khái niệm thiên về các giá trị tinh thần. Nếu văn hóa là tổng thể những sáng tạo về văn hóa, văn minh là các cấp độ, nấc thang cao thấp của sáng tạo văn hóa; văn hiến lại ghi nhận, khẳng định cho sáng tạo của nền văn hóa - văn minh. Muốn xác lập một nền văn hiến cho một quốc gia phải có đủ các tiêu chuẩn: chữ viết và những quy định bằng văn Trang 12 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh bản (chữ viết, bản đồ, các loại hình mã hóa trên cơ sở của chữ viết) khắp các lĩnh vực hoạt động của đất nước đó. Văn vật có nghĩa hẹp hơn, là khái niệm bộ phận của văn hóa, chỉ khác văn hóa ở độ bao quát các giá trị. Văn vật là truyền thống văn hóa thiên về các giá trị văn hóa vật chất ở một vùng đất. Nó biểu hiện ở việc có nhiều nhân tài, nhiều di tích, công trình hiện vật có giá trị nghệ thuật và lịch sử. Tóm lại, văn hóa là một khái niệm có nội dung rất phong phú và phức tạp. Các tác giả khác nhau thường hiểu nội dung của nó khác nhau tùy thuộc vào góc độ tiếp cận của từng người. Cùng với lịch sử, nội hàm văn hóa ngày càng mở rộng và chuẩn hóa thêm, số lượng khái niệm văn hóa tăng lên ngày một nhiều, nhưng câu hỏi văn hóa là gì? luôn đặt ra và luôn chờ những lời giải thích. Tùy thuộc vào góc độ, khía cạnh khác nhau mà chúng ta tìm hiểu về khái niệm văn hóa khác nhau. 1.1.2. Văn hóa tín ngưỡng dân gian Từ khi có loài người đã có tín ngưỡng. Các tín ngưỡng xa xưa ấy đều là bái vật giáo, đa thần giáo theo quan niệm sơ khai của nhân loại là vạn vật hữu linh. Cùng với sự tiến bộ của nhân loại, các tôn giáo lớn ra đời dần thay thế các tín ngưỡng sơ khai. Tuy nhiên, nhiều bộ tộc, nhiều dân tộc của các quốc gia, kể cả các quốc gia có nền văn hóa sớm phát triển, vẫn duy trì tín ngưỡng đa thần giáo. Theo Đào Văn Tập trong Tự điển Việt Nam phổ thông: “Tín ngưỡng là lòng tin, ngưỡng mộ một tôn giáo hay một chủ nghĩa” [27;95]. Trong Hán – Việt tự điển, Đào Duy Anh đã giải thích: “Tín ngưỡng là lòng ngưỡng mộ mê tín đối với một tôn giáo hay một chủ nghĩa” [27;95]. Tín ngưỡng là sự tin tưởng, ngưỡng mộ và sùng bái những thần thánh, vật thiêng hoặc linh hồn người chết do con người tưởng tượng ra hoặc do con người suy tôn, gán cho những phẩm chất siêu phàm. Tín ngưỡng là một thành tố của văn hóa tổ chức cộng đồng, thuộc phạm vi đời sống cá nhân, được hình thành tự phát, nhưng có vai trò rất quan trọng trong đời sống con người. Tín ngưỡng của người Việt thể hiện ở các mặt: tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên và tín ngưỡng sùng bái con người. Ra đời trên nền tảng xã hội nông nghiệp cổ truyền, tố chất nông dân mạnh về tư duy tổng hợp, thiếu tư duy phân tích nên tín ngưỡng của người Việt là tín ngưỡng dân dã đang ở giai đoạn hình thành mầm móng của tôn giáo sơ khai; nghĩa là tín ngưỡng Việt Nam chưa chuyển được thành tôn giáo. Trang 13 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh Cũng như các thành tố khác của văn hóa Việt Nam, tín ngưỡng Việt Nam phản ánh rất rõ những đặc trưng nông nghiệp lúa nước của nền văn hóa Việt Nam. Đó là: sự tôn trọng và gắn bó mật thiết với thiên nhiên (tín ngưỡng sùng bái tự nhiên); là sự phản ánh đậm nét nguyên lý Âm – Dương (từ đối tượng thờ cúng như Trời – Đất, Chim – Thú, Rừng – Nước, cơ quan sinh dục Nam – Nữ… cho đến cách thức giao lưu giữa con người và thần linh, trần gian và cõi linh thiêng); là khuynh hướng đề cao nữ tính với hàng loạt nữ thần được thờ cúng ở mọi làng quê (Mẹ Trời, Mẹ đất, nữ thần Mây, Mưa…) là tính tổng hợp thể hiện ở tính đa thần, tính cộng đồng. Một số tín ngưỡng dân gian tiêu biểu của người Việt: Tín ngưỡng thờ vua Hùng Vua Hùng là vị Vua Tổ của người Việt, người có công sáng lập ra nước Văn Lang và mở ra thời đại Hùng Vương trong lịch sử Việt Nam (từ khoảng thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ III Tr. CN). Tương truyền, Vua Hùng (Hùng Vương thứ nhất) là con trưởng của Lạc Long Quân và Âu Cơ, cháu đời thứ 6 của Thần Nông. Theo thần thoại, Âu Cơ lấy Lạc Long Quân, sinh ra bọc có 100 trứng, nở thành 100 con trai. Một nửa theo Cha xuống bể, một nửa theo Mẹ lên non. Đến đất Phong Châu (vùng Việt Trì – Phú Thọ ngày nay) Mẹ Âu Cơ cùng các con tôn người con trưởng làm vua nước Văn Lang. Mảnh đất Phong Châu nơi đóng đô của các Vua Hùng trở thành vùng Đất Tổ. Ngày 10 tháng 3 (âm lịch) hàng năm được lấy làm ngày giỗ Tổ. Thờ cúng Vua Hùng mang một ý nghĩa thiêng liêng cao cả hướng về cội nguồn, tưởng nhớ những người có công trong việc tạo lập non sông đất nước, xây dựng cuộc sống ngày nay trong mỗi người dân và đ._.ể mong tổ tiên phù hộ cho cuộc sống của con cháu. “Các Vua Hùng đã có công dựng nước. Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” là lời của Bác Hồ căn dặn các thế hệ người Việt Nam phải đoàn kết để xây dựng và bảo vệ non sông gấm vóc này. Và “Dù ai đi ngược về xuôi. Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng Ba” là điều mà mỗi người Việt Nam hằng tâm niệm. Tín ngưỡng phồn thực Tín ngưỡng phồn thực là sự tin tưởng, ngưỡng mộ và sùng bái sự sinh tồn nảy nở của tự nhiên và con người (phồn = nhiều; thực = nảy nở). Tín ngưỡng phồn thực hình thành từ xa xưa trong lịch sử, trên cơ sở tư duy trực quan, cảm tính của cư dân nông nghiệp trước sự sinh sôi để duy trì cuộc sống con người (là Trang 14 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh kết quả hành vi giao phối Đực – Cái, Nam – Nữ); trước sự sinh sôi để duy trì sự sống của cây trồng (cây lúa…), vật nuôi. Họ nhìn thấy ở thực tiễn đó một sức mạnh siêu nhiên và sùng bái các hiện vật – hiện thực đó như thần thánh. Như vậy, bản chất của tín ngưỡng phồn thực là tín ngưỡng cầu sinh nở và no đủ. Ở nước ta, tín ngưỡng phồn thực từng tồn tại suốt chiều dài lịch sử, dưới hai dạng biểu hiện: thờ cơ quan sinh dục nam nữ và thờ bản thân hành vi giao phối. Thứ nhất, thờ cơ quan sinh dục nam nữ, được gọi là thờ sinh thực khí (sinh = đẻ, thực = nảy nở, khí = công cụ). Đây là hình thái đơn giản của tín ngưỡng phồn thực, nó phổ biến ở các nền văn minh nông nghiệp trên thế giới. Thuật ngữ của ngành dân tộc học trên thế giới gọi sinh thực khí là Linga (Cơ quan sinh dục nam) và Yoni (Cơ quan sinh dục nữ). Ở Việt Nam, việc thờ sinh thực khí được gọi là thờ cúng nõ nường, những tên chỉ sinh thực khí là Nõ (nêm) tượng cho bộ phận sinh dục nam, Nường (nang, mo nang) tượng cho bộ phận sinh dục nữ. Ngoài ra, còn có các biến thể của việc thờ cơ quan sinh dục nam nữ như: thờ cột đá tự nhiên, thờ các kẻ đá nứt tự nhiên, tạc các bộ phận của các công trình kiến trúc có hình dáng như bộ phận sinh dục nam, nữ. Thứ hai, thờ hành vi giao phối, một dạng tín ngưỡng phồn thực độc đáo, đặc biệt phổ biến ở khu vực Đông Nam. Ở Việt Nam, có những biểu hiện của tín ngưỡng này như: tượng bốn đôi nam nữ đang giao hợp được đúc bằng đồng, gắn trên nắp thạp đồng Đào Thịnh (Yên Bái, niên đại 500 năm Tr.CN). Ở thân thạp Đào Thịnh khắc chìm hình những con thuyền, chiếc sau nối đuôi chiếc trước, khiến cho hai con cá sấu – rồng được gắn ở mũi và lái của hai chiếc thuyền chạm vào nhau trong tư thế giao hoan. Trên nắp trống đồng Hoàng Hạ (Hà Sơn Bình) có khắp những cặp chim ngồi trên lưng nhau trong tư thế đạp mái; tượng cóc giao phối; điệu múa “tùng – dí” trong lễ hội làng các vùng trung Châu nay thuộc tỉnh Phú Thọ, với thanh niên nam nữ từng đôi múa, cầm trong tay những vật biểu trưng cho sinh thực khí nam và nữ, cứ mỗi khi nghe trống đánh (tùng), họ lại giơ hai vật đó chạm vào nhau (dí); Tượng nam nữ với bộ phận sinh dục quá cỡ thường xuyên có mặt ở các nhà mồ Tây nguyên;… Tín ngưỡng thờ Mẫu Tín ngưỡng thờ Mẫu là sự tin tưởng, ngưỡng mộ, tôn vinh và thờ phụng những vị nữ thần gắn với các hiện tượng tự nhiên, vũ trụ được người đời cho rằng Trang 15 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh có chức năng sáng tạo, bảo trợ và che chở cho sự sống của con người (như: trời đất, sông nước, núi rừng,…); thờ những thái hậu, hoàng hậu, công chúa là những người khi sống tài giỏi, có công với dân với nước, khi mất hiển linh phù trợ cho người an vật thịnh. Các vị nữ thần này được tôn vinh với các chức vị: Thánh Mẫu (Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Chúa Xứ Thánh Mẫu, Linh Sơn Thánh Mẫu, Thượng Ngàn Thánh Mẫu…), Quốc Mẫu (như Quốc Mẫu Âu Cơ…), Vương Mẫu (như người mẹ của Thánh Gióng được tôn vinh là Vương Mẫu…). Tục thờ Mẫu ra đời trên cơ sở tục thờ nữ thần. Các thánh Mẫu đều là nữ thần. Các vị được thờ trong các đền, chùa, miếu, điện; đặc biệt là có Thánh Mẫu Liễu Hạnh được thờ trong một loại hình kiến trúc riêng là phủ: phủ Giày, phủ Tây Hồ. Hiện nay, tín ngưỡng thờ Mẫu đã phát triển khá sâu rộng trên cả nước, được nhiều người Việt ở nước ngoài thờ phụng. Ở mỗi địa phương khác nhau, Tín ngưỡng thờ Mẫu có sắc thái riêng, do ảnh hưởng của quá trình tiếp xúc và giao lưu văn hóa. Ngoài ra, người Việt Nam còn có tín ngưỡng: thờ cúng tổ nghề, thờ cúng tổ tiên, tục thờ nữ thần, tín ngưỡng Tứ bất tử, tục thờ thần Nông,… Bên cạnh đó, các tín ngưỡng dân gian thường gắn với lễ hội dân gian cổ truyền, sao cho phù hợp với tín ngưỡng đó. Lễ hội dân gian cổ truyền là sinh hoạt văn hóa cộng đồng đáp ứng nhu cầu sáng tạo, thưởng thức, giao lưu văn hóa và tín ngưỡng trong sinh hoạt tinh thần của con người. Phần lớn các lễ hội dân gian đều được cấu tạo thành hai phần chính: “Lễ” và “Hội”. Lễ là phần nghi thức tế lễ diễn ra trong thần điện, thể hiện quan hệ Người - Thần của đời thiêng. Hội là hoạt động văn hóa, vui chơi – hội hè, thể hiện quan hệ Người – Người của đời thường, gắn bó với lễ về nội dung, không gian và thời gian. Lễ hội là kết quả của sự vận động của sự hội nhập giữa “Lễ” và “Hội” diễn ra trong tiến trình lịch sử đời sống tinh thần của cộng đồng xã hội. Cũng có thể hiểu: lễ hội là sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của cộng đồng làng xã, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ sự tồn tại và phát triển cho cả cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, niềm hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi của gia súc, sự bội thu của mùa màng từ bao đời nay đã quy tụ niềm mơ ước chung vào bốn chữ “Nhân Khang Vật Thịnh”. Đó là mục đích và yêu cầu của lễ hội dân gian truyền thống. Một quan niệm đúng đắn về bản chất của lễ hội sẽ là cơ sở quan trọng để từ đó nhìn nhận, đánh giá thực trạng hiện nay của chúng ta và đưa ra hướng giải quyết thích hợp. Trang 16 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh 1.1.3. Tư tưởng, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về văn hóa 1.1.3.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng vĩ đại, nhà lý luận thiên tài của cách mạng Việt Nam. Toàn bộ tư tưởng di sản của Người là một kho báu văn hóa của dân tộc, hàm chứa nhiều lĩnh vực rộng lớn và phong phú, đặc sắc và sáng tạo, rất trí tuệ và rất nhân văn. Trong đó tư tưởng về văn hóa chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng. Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa là một hệ thống các quan điểm lý luận mang tính khoa học và cách mạng về văn hóa và xây dựng nền văn hóa Việt Nam. Nó chắc lọc, tổng hợp và kết tinh được những giá trị văn hóa của phương Đông và phương Tây, truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế trong đó cốt lõi là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với tinh hoa và bản sắc dân tộc Việt Nam [18;13]. Nét đặc sắc nổi bật trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hòa giữa dân tộc với quốc tế, giai cấp với nhân loại, truyền thống với hiện đại, trên cơ sở một chủ nghĩa nhân văn tất cả vì hạnh phúc của con người, tất cả vì sự hoàn thiện con người. Tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh là một di sản vô giá, là những giá trị vĩnh cửu, mà Người để lại cho dân tộc mình và cho nhân loại. Những tư tưởng ấy không chỉ nằm trong những bài nói, mà còn nằm trong toàn bộ hoạt động thực tiễn, trong cuộc sống, trong con người Hồ Chí Minh, và quan trọng hơn là trong phong trào cách mạng của cả một dân tộc, trong sự nghiệp vĩ đại mà Người cùng với dân tộc mình tạo dựng nên trong thế kỷ XX, trong sự lay động con tim khối óc của hàng triệu, hàng triệu con người trên thế giới. Năm 1923, nhà thơ Xô-viết Ô-xíp Man-đen-xtam, với cái nhìn sắc xảo của mình đã thấy: “Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một nền văn hóa không phải văn hóa châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai” [2;91]. Chủ tịch Hồ Chí Minh là đại diện cho khát vọng dân tộc, tự do cho mỗi nhân cách; là hiện thân khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc, bản sắc văn hóa của mình. Người đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trên phạm vi toàn thế giới. Với những đóng góp to lớn ấy, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người (1990), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được Ủy ban khoa học - Giáo dục - Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO) công nhận là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Tiến sĩ M. Ác-mét, giám đốc UNESCO khu Trang 17 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh vực châu Á - Thái Bình Dương, đại diện đặc biệt của Tổng giám đốc UNESCO phát biểu về Hồ Chí Minh: “Người sẽ được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ, mà còn là nhà hiền triết hiện đại đã mang lại viễn cảnh và hi vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này” [2;93]. Với nhân cách, tư tưởng, đạo đức, ý chí và tài năng trên nhiều lĩnh vực, Hồ Chí Minh xứng đáng là biểu tượng của một nền văn hóa, văn minh tương lai, xứng đáng bậc trượng phu người quân tử, nhà triết học vĩ đại, nhà thơ lớn, nhà văn hóa lỗi lạc, uyên thâm. Người đã để lại cho đời biết bao công trình và tác phẩm đặc sắc, mẫu mực trên nhiều lĩnh vực, để lại nhiều nhiều quan điểm, tư tưởng của mình về văn hóa và cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Thắm nhuần sâu sắc chủ nghĩa Mác – Lênin, tinh hoa văn hóa thế giới và các giá trị văn hóa dân tộc, tắm mình trong hoạt động thực tiễn phong phú của nhân dân, Hồ Chí Minh đã nhận rõ ý nghĩa lớn lao và vị trí đặc biệt của văn hóa. Người nói: “Văn hóa có liên lạc với chính trị rất mật thiết. Phải làm thế nào cho văn hóa vào sâu trong tâm lý quốc dân, nghĩa là văn hóa phải sửa đổi được tham nhũng, được lười biếng, phù hoa xa xỉ. Tâm lý của ta lại muốn lấy tự do, độc lập làm gốc. Văn hóa phải làm thế nào cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập, tự do… Số phận dân ta ở trong tay ta. Văn hóa phải biết soi đường cho quốc dân đi” [2;137-138]. Chúng ta thấy rõ quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa và chiến lược phát triển văn hóa. Những tư tưởng đó không chỉ còn nguyên giá trị của nó mà có thể nói, hơn lúc nào hết cần được quán triệt trong giai đoạn đất nước ta bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, việc xây dựng một nền văn hóa mới đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đặt ra như một trong những nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng. Những ngày đầu tháng 9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho thành lập Ủy ban văn hóa lâm thời Bắc bộ. Trong buổi tiếp đại biểu của Ủy ban này ngày 7/9/1945, Người nói: “Tôi mong rằng các ngài trong giới văn hóa nhận thấy rõ nhiệm vụ của các ngài trong lúc này là củng cố nền độc lập Việt Nam, sửa soạn gây dựng cho đất nước một nền văn hóa mới” [11;415]. Khi miền Bắc bước vào giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “… để phục vụ sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa thì văn hóa phải xã hội chủ nghĩa về nội dung và dân tộc về văn hóa” [11;416]. Trang 18 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh Giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám (1945), cuộc kháng chiến dân tộc ta bước vào thời kỳ quyết liệt. Trên cơ sở nắm vững được vị trí vai trò của văn hóa, Hồ Chí Minh đã đề ra khẩu hiệu: “Kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến”. Với khẩu hiệu trên, văn hóa đã thật sự “ở trong kinh tế và chính trị” hoặc “Văn hóa, nghệ thuật cũng là một mật trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy” [2;139]. Trong khi các nhà văn hóa trên thế giới còn bàn cãi về khái niệm văn hóa, đưa ra hàng trăm định nghĩa khác nhau, thì mấy ai biết từ năm 1942, Chủ tịch Hồ Chí Minh có một định nghĩa rất đúng về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với những biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [11;409]. Đây là một định nghĩa đúng nhất về khái niệm văn hóa, được ghi nhận trong trang cuối của bản thảo Nhật kí trong tù, không quá rộng, cũng không quá hẹp mà hoàn toàn thích hợp với con người ở những trình độ phát triển khác nhau, ở những xã hội chưa có điều kiện phát triển cao, cũng như xã hội có cuộc sống cao. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh cần phải xây dựng kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng để có điều kiện xây dựng và phát triển văn hóa: “… Văn hóa là một kiến trúc thượng tầng; nhưng cơ sở hạ tầng của xã hội có kiến thiết rồi, văn hóa mới kiến thiết được và có đủ điều kiện phát triển được” [11;412]. Tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới địa chỉ đích thực, diện mạo và bản sắc của văn hóa, đó là tính dân tộc. Trong lĩnh vực văn hóa văn nghệ, Người thường nói đến “cốt cách dân tộc”, “đặc tính dân tộc”. Người đã viết rằng: “Mỗi dân tộc phải chăm lo đặc tính dân tộc của mình trong văn nghệ” [12;93]. Văn hóa phải biết kết hợp với văn minh. Trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh, văn minh không hoàn toàn trùng khít lên văn hóa. Coi văn minh là một trình độ, một cơ cấu kĩ thuật của xã hội và văn hóa là trình độ người, là giá trị người của các quan hệ xã hội [12;96]. Xuất phát từ quan niệm đúng đắn đó về văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn phấn đấu vì một xã hội có văn hóa, phấn đấu cho mọi người được hưởng văn hóa, phấn đấu cho cả dân tộc phải có văn hóa ngang tầm thời đại. Cho nên khi nói Trang 19 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh đến việc chống giặc dốt, Người nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” [2;141]. Khi nói đến Đảng ta, Người đòi hỏi: “Đảng là đạo đức là văn minh” [2;141]. Nếu Đảng không có đạo đức, không văn minh thì làm sao có thể lãnh đạo cả một dân tộc chiến thắng được những tên đế quốc lớn như Mỹ và Pháp. Đó chính là bí quyết về sức mạnh văn hóa mà kẻ thù không sao hiểu nổi. Ngày nay, trong xây dựng đất nước, Đảng không có đạo đức thì làm sao đưa đất nước đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hồ Chí Minh chỉ ra tính chất, đặc trưng của nền văn hóa mới mà chúng ta cần xây dựng, đó là nền văn hóa dân tộc, hiện đại và nhân văn. Người nói nhiều đến việc xây dựng đời sống mới, chăm lo phát triển văn hóa từ việc nhỏ đến việc lớn, quan tâm đến đời sống văn hóa của mọi người, mọi nhà. Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói nhiều đến đạo đức và xây dựng con người toàn diện có cả đức lẫn tài. Ngày nay, trong bối cảnh xã hội mới, được chứng kiến nhiều hiện tượng xuống cấp đạo đức đến mức báo động, chúng ta càng thấy rõ những điều dạy của Người về đạo đức cách mạng là vô cùng sáng suốt. Không chỉ nói đến văn hóa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương, một ví dụ tiêu biểu của một con người văn hóa, không chỉ thể hiện ở tài năng, phẩm chất, đức độ mà cả cách ứng xử, tác phong. Đó là một con người rất nghiêm khắc trong việc chống cái xấu, cái ác nhưng rất bao dung với mọi người. Như vậy, các quan điểm, tư tưởng cơ bản nói trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa đã và đang là định hướng lớn cho việc xây dựng và phát triển nền văn hóa nước ta. Những lời dạy của Người không chỉ có tầm chiến lược mà còn có ý nghĩa chỉ đạo cụ thể trong công việc hằng ngày của chúng ta. Nó mãi mãi là ánh sáng soi đường cho công cuộc xây dựng và phát triển nền văn hóa nước ta. 1.1.3.2. Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về văn hóa Ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam rất coi trọng công tác văn hóa, xác định công tác văn hóa là một bộ phận của cách mạng Việt Nam. Sự lãnh đạo của Đảng trên bình diện văn hóa văn nghệ hơn bảy thập kỷ qua có thể chia làm bốn thời kỳ lớn: Thời kỳ thành lập Đảng (1922 -1930) với tiêu điểm là Luận cương chính trị năm 1930. Thời kỳ từ 1930 – 1960: đáng chú ý có Đề cương văn hóa (1943), văn kiện Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam (1948) của cố Tổng Bí thư Trường Chinh và Trang 20 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh Báo cáo chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (1951). Thời kỳ 1960 – 1985: quan điểm của Đảng thể hiện qua các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, IV, V. Thời kỳ từ năm 1986 đến nay: quan điểm của Đảng ta được thể hiện trong các Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX, X và các Nghị quyết của Bộ chính trị, của Ban Bí thư khóa VI, VII và Ban Chấp hành Trung ương khóa VII kỳ hợp thứ tư, khóa VIII kỳ hợp thứ năm. Nhìn lại từng thời kỳ, chúng ta sẽ thấy sự phát triển trong đường lối của Đảng ta về văn hóa - văn nghệ. Quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề văn hóa - văn nghệ, nắm vững hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đảng ta có một đường lối về văn hóa - văn nghệ rất nhất quán, sau nhiều lần điều chỉnh bổ sung và phát triển. Nếu như trong Luận cương chính trị 1930, Đảng ta chỉ mới đặt ra vấn đề giải phóng dân tộc, nâng cao dân trí và tự do báo chí thì Đề cương văn hóa 1943 chính thức đặt vấn đề văn hóa một cách rộng hơn. Với 5 phần: Cách đặt vấn đề (phần I); Lịch sử và tính chất văn hóa Việt Nam (phần II); Nguy cơ của văn hóa Việt Nam dưới ách phát xít Nhật – Pháp (phần III); Vấn đề cách mạng văn hóa Việt Nam (phần IV); Nhiệm vụ cần kíp của những nhà văn hóa mác xít Đông Dương và nhất là những nhà văn hóa mác xít ở Việt Nam (phần V). Đề cương văn hóa 1943 của Đảng ta do đồng chí Trường Chinh chấp bút thực sự là văn kiện lớn có giá trị lịch sử, đánh dấu quan điểm của Đảng ta về văn hóa - văn nghệ. Xác định “phạm vi vấn đề văn hóa bao gồm cả tư tưởng, học thuật và nghệ thuật”, bản Đề cương văn hóa 1943 khẳng định: “Thái độ cộng sản Đông Dương đối với vấn đề văn hóa: a. Mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hóa), ở đó người cộng sản phải hoạt động. b. Không phải chỉ làm cách mạng chính trị mà còn phải làm cách mạng văn hóa. c. Có lãnh đạo được phong trào văn hóa Đảng mới ảnh hưởng được dư luận, việc tuyên truyền của Đảng mới có hiệu quả” [21;517]. Trên cơ sở ấy, bản Đề cương văn hóa 1943 khẳng định: nền văn hóa mà cuộc cách mạng văn hóa Đông Dương phải thực hiện sẽ là văn hóa xã hội chủ Trang 21 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh nghĩa và chỉ ra ba nguyên tắc vận động của cuộc vận động văn hóa: dân tộc hóa, đại chúng hóa và khoa học hóa. Đến nay, nhiều quan điểm văn hóa, nhiều phạm trù khoa học, nhiều phương châm hành động được nêu lên trong bản Đề cương văn hóa 1943 đã đi vào cuộc sống và trở nên quá quen thuộc với mọi người, “nếu đặt bản Đề cương vào thời điểm 50 năm trước thì đó lại là đỉnh cao trí tuệ đương thời, là nhận thức sắc bén về tình hình, là dự báo khoa học về tương lai, là sức mạnh tinh thần to lớn mà đất nước đang cần” [17;22]. Nói cách khác, ngay từ đầu, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thấy vai trò quan trọng của văn hóa, định hướng xây dựng nền văn hóa Việt Nam. Nối tiếp Đề cương văn hóa 1943, năm 1948, đồng chí Trường Chinh công bố tác phẩm Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam ở Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ hai. Với bảy phần: Văn hóa và xã hội, lập trường văn hóa mácxít, văn hóa Việt Nam xưa và nay, tính chất và nhiệm vụ văn hóa dân chủ mới Việt Nam, mặt trận văn hóa thống nhất trong mặt trận dân tộc thống nhất, văn hóa Việt Nam trong mặt trận văn hóa dân chủ thế giới và mấy vấn đề cụ thể trong văn học và nghệ thuật nước ta hiện nay. Tác phẩm này có giá trị như Lời giới thiệu của Nhà xuất bản Sự thật trong lần in thứ ba: “Từ đó đến nay, 26 năm đã trôi qua. Xã hội Việt Nam, cách mạng Việt Nam, văn hóa dân tộc Việt Nam đã có nhiều biến đổi sâu sắc và phát triển mạnh mẽ theo đường lối của Đảng. Những ý kiến của đồng chí Trường Chinh nêu trong bản báo cáo về mối quan hệ giữa văn hóa và xã hội, về lập trường văn hóa mácxit, về ưu điểm và nhược điểm văn hóa dân tộc, về tính chất và nhiệm vụ văn hóa dân chủ mới Việt Nam, về mặt trận văn hóa thống nhất, v.v… vẫn giữ nguyên giá trị, soi sáng bước đường văn hóa của nước ta” [17;23]. Trong tác phẩm, khái niệm văn hóa được đồng chí Trường Chinh mở rộng hơn: đó là một vấn đề rất lớn, bao gồm cả văn hoc, nghệ thuật, khoa học, triết học, phong tục, tôn giáo… Lĩnh vực mà Đảng ta quan tâm nhiều hơn cả lúc bấy giờ khi nói về văn hóa là đời sống tinh thần và lối sống dân tộc, đặc biệt đối với văn học nghệ thuật – hay nghệ thuật nói chung, bao gồm cả nghệ thuật ngôn từ, bởi đây là lĩnh vực có nhiều đặc thù mà các lĩnh vực khác không có. Từ tính chất của nền văn hóa mới Việt Nam mà Đề cương văn hóa 1943 trình bày: “Văn hóa mới Việt Nam là một thứ văn hóa có tính chất dân tộc về hình thức và dân chủ về nội dung” [17;23]. Sau này, Đảng ta khẳng định nền văn Trang 22 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh hóa Việt Nam là nền văn hóa có nội dung xã hội chủ nghĩa và hình thức dân tộc. Đó là một bước cụ thể hơn trong việc xác định tính chất của nền văn hóa Việt Nam. Từ năm 1986, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới, đặc biệt là đổi mới tư duy trên nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực văn hóa. Tiếp nối những văn kiện về văn hóa đã được công bố trước đây, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương khóa VI ra nghị quyết 05 chuyên về văn hóa văn nghệ (tháng 11-1987). Tháng 6-1988, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VI và sau đó tháng 11-1988 Bộ Chính trị ra nghị quyết và kết luận về công tác văn hóa văn nghệ. Ngày 8-6-1989, Ban Bí thư ra chỉ thị số 62 – CT/TW về đổi mới và nâng cao chất lượng phê bình văn học nghệ thuật. Ngày 21-6-1990, Ban Bí thư ra chỉ thị số 61 – CT/TW về công tác quản lý văn hóa nghệ thuật và ngày 25-7-1990 ra chỉ thị số 63 – CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo đổi mới trong tư duy lý luận về văn hóa của Đảng. Quan điểm của Đảng cũng được thể chế hóa trong văn bản nhà nước. Hiến pháp 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thể chế hóa những quan điểm ấy. Trong chương III của Hiến pháp (1992) với nhan đề Văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, từ điều 30 đến điều 34 đề cập đến vấn đề văn hóa ở các khía cạnh: Một là, Nhà nước chủ trương bảo tồn phát triển nền văn hóa Việt Nam, các di sản văn hóa dân tộc, những giá trị của nền văn hiến các dân tộc Việt Nam, tư tưởng, đạo đức, tác phong Hồ Chí Minh và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, cấm truyền bá tư tưởng, văn hóa phản động, đồi trị, bài trừ mê tín, hủ tục. Hai là, Văn hóa có chức năng góp phần bồi dưỡng nhân cách và tinh thần cao đẹp của con người Việt Nam, có tinh thần yêu nước, yêu chế độ xã hội chủ nghĩa, có tinh thần quốc tế chân chính, hữu nghị và hợp tác, có thuần phong mỹ tục, xây dựng gia đình có văn hóa, hạnh phúc. Ba là, Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp văn hóa; nghiêm cấm các hoạt động văn hóa tổn hại cho lợi ích quốc gia, phá hoại nhân cách, đạo đức và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam. Tháng 1-1993, Ban chấp hành Trung ương khóa VII họp hội nghị lần thứ tư dành riêng một nghị quyết về một số nhiệm vụ văn hóa văn nghệ những năm trước mắt. Trong lời phát biểu khai mạc hội nghị, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười nói: mọi sự phát triển xã hội phải “gắn liền với việc kế thừa và phát huy những truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc. Phát triển tách khỏi cội nguồn dân tộc Trang 23 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh thì nhất định sẽ rơi vào nguy cơ tha hóa. Đi vào kinh tế thị trường, hiện đại hóa đất nước mà xa rời những giá trị truyền thống sẽ làm mất bản sắc dân tộc, đánh mất bản thân mình, trở thành cái bóng mờ của người khác của dân tộc khác” [17;25]. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư của Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, đã khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển kinh tế - xã hội” [17;25]. Tiếp đó, Bộ Chính trị ra nghị quyết 09 về các định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay, xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của đời sống xã hội, là động lực thúc đẩy sự phát triển, là mục tiêu cao cả của chủ nghĩa xã hội. Trong 6 định hướng về công tác tư tưởng, có một định hướng lớn là phát triển văn hóa với hai nội dung cơ bản: phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Điều đó chứng tỏ quan điểm đúng đắn về văn hóa và vai trò của văn hóa đối với phát triển. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng lại tiếp tục khẳng định rõ hơn quan điểm này. Đại hội xác định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội” [7;110]. Năm 1998, Ban chấp hành Trung ương khóa VIII họp Hội nghị lần thứ năm đề ra Nghị quyết Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Bản Nghị quyết gồm ba phần: Phần thứ nhất đề cập về thực trạng văn hóa nước ta: những thành tựu, những mặt yếu kém, những nguyên nhân chủ yếu. Phần thứ hai đề cập phương hướng, nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa; năm quan điểm chỉ đạo cơ bản; những nhiệm vụ cụ thể với 10 nhiệm vụ và những nhiệm vụ cấp bách đến năm 2000. Phần thứ ba là những giải pháp lớn xây dựng và phát triển văn hóa, gồm bốn giải pháp: mở cuộc vận động giáo dục chủ nghĩa yêu nước gắn với thi đua yêu nước và phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; xây dựng, ban hành luật pháp và các chính sách văn hóa; nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa. Cần phải nhận thấy rằng, trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn văn hóa, Đảng ta đã nhận thức rất rõ sự cần thiết của việc ban hành một nghị quyết riêng về văn hóa. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm của Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII thực sự là một sản phẩm trí tuệ của toàn Đảng và phản ánh ý nguyện toàn dân, ở diện rộng, chiều sâu và tầm cỡ lớn lao hơn. Điểm mới thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng trong việc xây dựng nhiệm vụ của văn hóa một cách toàn diện, Trang 24 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh một nghị quyết mang tính định hướng chiến lược lâu dài, đồng thời đưa cả những giải pháp để giải quyết những vấn đề cấp bách trước mắt. Điểm mới này, một mặt thể hiện rất rõ ở những quan điểm chỉ đạo cơ bản về văn hóa, trong đó đặc biệt là 5 quan điểm chỉ đạo cơ bản về xây dựng và phát triển văn hóa: Thứ nhất, Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Thứ hai, Nền văn hóa mà chúng ta đang xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Thứ ba, Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Thứ tư, Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ tri thức giữ vai trò quan trọng. Thứ năm, Văn hóa là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì thận trọng. [21;533-534-535]. Mặt khác, còn thể hiện khá cụ thể ở những nhiệm vụ, những giải pháp lớn để xây dựng và phát triển văn hóa. Nghị quyết lần này đã nhìn nhận vai trò văn hóa, vị thế văn hóa một cách toàn diện, từ quan niệm văn hóa với nội hàm rộng đến việc xác lập trọng tâm công tác văn hóa những năm trước mắt; từ quan điểm gắn kết văn hóa với phát triển, sự thấm sâu của văn hóa đến đời sống xã hội đến hình thành một phong trào, một cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa; từ việc đề cao các giải pháp và chính sách về văn hóa đến việc nhấn mạnh đời sống văn hóa Đảng và tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên… Tiếp theo đến Đại hội IX của Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định: “Tiếp tục xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam, bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại” [8;115]. Văn kiện Đại hội X khẳng định: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Gắn kết chặt chẽ văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [9;284]. Như vậy, từ khi thành lập cho đến nay, Đảng ta luôn xác định văn hóa là mặt trận mà Đảng phải lãnh đạo. Đường lối về văn hóa văn nghệ của Đảng đến Nghị Trang 25 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh quyết Hội nghị lần thứ năm của Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII đã định hình, đến Đại hội lần thứ IX, X tiếp khẳng định lại tầm quan trọng của văn hóa. Trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân hiện nay là xây dựng và phát triển một nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. 1.1.3.3. Đường lối, chính sách của Đảng bộ An Giang về văn hóa Thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) và Chương trình hành động Tỉnh ủy về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” đã khơi dậy phong trào toàn Đảng, toàn dân chăm lo và phát triển văn hóa, góp phần tạo nên những thành tựu quan trọng trên nhiều mặt của đời sống tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân. Nhiều phong trào văn hóa được sự đồng tình, hưởng ứng sâu rộng trong quần chúng nhân dân, đã mang lại nhiều hiệu quả thiết thực; văn hóa truyền thống được kế thừa phát huy; hoạt động thông tin báo chí ngày càng mở rộng. Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII), Chương trình hành động của Tỉnh ủy và kết luận Hội nghị Trung ương 10 (khóa IX) đặc biệt là việc học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm tạo sự chuyển biến cơ bản và bước phát triển mạnh mẽ trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam ở trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong Chỉ thị thực hiện kết luận Trung ương 10 (khóa IX) về “Tiếp tục xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên ._.ứ núi Sam đã vươn ra khỏi cái khung hành chính địa phương, là sản phẩm quốc gia về mặt văn hóa và du lịch có nghĩa rằng đối tượng của lễ hội từ nay phải tính đến sự tham gia của du khách. Có hơn hai triệu lượt người, như một dòng chảy, hàng năm cuồn cuộn đổ về núi Sam để hành hương. Chắc hiếm có lễ hội nào trong nước, mà số người về dự đông đến thế. Dường như có một điều gì đó thật hấp dẫn, để có thể thu hút khách thập phương đến với Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam (Châu Đốc) trong nhiều năm qua. Ai đó chỉ cần đến núi Sam một lần, thì tiếp theo những năm sau, họ sẽ háo hức, với một tâm trạng thật thoải mái, để quay lại với lễ hội. Khi cuộc sống vật chất đầy đủ, người ta chăm lo đến đời sống tinh thần. Một trong những thú vui có ý nghĩa, giúp con người thư giãn sau những ngày lao động căng thẳng với công việc là đi hành hương, du lịch. Đi để mở rộng tầm nhìn kiến thức; để hiểu biết những cái mới lạ, cảm thụ sắc thái văn hóa của các dân tộc. Đi để chiêm bái hoặc thưởng ngoạn vẻ đẹp của núi sông, của các di tích thắng cảnh; để trái tim hồn nhiên rung động với người và cảnh vật. Về với núi Sam, về với Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ, du khách sẽ nghe lòng mình nhẹ nhàng thơ thới, một cảm giác lâng lâng, bay bổng, quyện vào mùi khói nhan cay cay như say như mộng, hòa nhập vào thế giới thần linh. Chúng ta sẽ nghe được tiếng gió núi bên tai, tiếng của người xưa rùn rùn đi mở đất, tiếng của những anh hùng đi mở rộng biên cương, tiếng chuông chùa Tây An ngân dài trong sương chiều tĩnh mịch… Khách hành hương đến với Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam bằng cả một niềm tin và sự ngưỡng vọng về sự linh thiêng của Bà Chúa Xứ, thể hiện sự tín ngưỡng dân gian thờ Mẫu của người dân Châu Đốc nói riêng và khách thập phương nói chung. Niềm tin và sở nguyện của khách thập phương được lan nhanh ra khắp nơi, khắp chốn… Không chỉ có người già đến cầu ước, mà còn có nhiều tài tử, giai nhân bốn phương đến với núi Sam một mặt để thưởng ngoạn danh lam thắng cảnh, sông núi hữu tình mà thiên nhiên đã ban tặng, một mặt để hòa nhập với không khí linh thiêng, trang nghiêm của Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ, có rất nhiều người là những người kinh doanh họ cầu nguyện làm ăn phát đạt, có thật nhiều hợp đồng kinh doanh, hay có nhiều người cầu nguyện cho gia cảnh của mình được bình an, hạnh phúc…. Mùa lễ hội nơi đây còn là mùa của tình yêu, mùa của Trang 50 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh hò hẹn. Trai thanh, nữ tú khắp mọi miền đất nước nô nức về đây. Lòng họ hân hoan, rộng mở niềm vui. Với họ ai cũng muốn vào đền thắp cho Bà một nén hương, để cầu xin tình duyên, cầu xin hạnh phúc lứa đôi. Khách hành hương đến cúng viếng Bà thường dâng tặng nhiều lễ vật, quà lưu niệm rất phong phú, đa dạng và giá trị. Người ta dâng tặng Bà những bộ áo, mão, quạt nhiều màu sắc thêu rồng phụng kim tuyến sặc sỡ và đắt tiền. Có nhiều bộ áo trị giá trên một lượng vàng. Các vật dụng tiện nghi trong miếu hầu hết cũng do khách thập phương tặng như bàn ghế sơn mài cẩn xà cừ, những cặp nhang, đèn cầy rất to đắp nổi hình rồng phụng cao một, hai mét. Sau khi nhận quà tặng, Ban quản trị lăng miếu núi Sam trao tặng chủ nhân giấy cảm tạ rất trang trọng. 2.2.2. Lễ Hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam tác động đến người dân Bà Chúa Xứ núi Sam cho người dân cả một niềm tin, là chỗ dựa vững chắc tinh thần của họ. Mọi người dân đều tin rằng Bà Chúa Xứ ban phúc cho mình.Việc ban phúc đầu tiên là cho người dân Vĩnh Tế! Ngày xưa, dân Vĩnh Tế nghèo cằn cỗi, quanh năm chỉ sống bằng nghề đập đá, nép mình sau những tấm phên rách, kiếm sống từng bữa qua ngày. Hôm nay, họ đang giàu có lên! Nhà lầu đúc hai ba tầng. Trước kia xóm làng thưa thớt, nay đã trở thành đô thị. Khách sạn, nhà trọ mọc lên như nấm. Dân chúng buôn bán tấp nập… Miếu Bà Chúa Xứ thu hút khách thập phương ngày càng đông, số tiền người hành hương chiêm bái, hỉ cúng, đóng tiền cho việc trùng tu tôn tạo ngày càng cao. Số tiền này được quản lý chặt, công khai, minh bạch. Ngoài việc đầu tư, sửa chữa, nâng cấp, xây dựng các công trình của miếu nhằm phục vụ khách hành hương, các thời kỳ Hội quý tế đã ủng hộ cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ bằng nhiều hình thức: tiếp tế tiền, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, chôn cất liệt sĩ, tạo điều kiện ẩn náu cho cán bộ công tác vùng tạm chiếm… Đồng thời sử dụng một phần nguồn thu nhập này vào công tác phúc lợi xã hội, phục vụ cho cuộc sống con người. Các công trình phúc lợi: Theo các tư liệu còn thu thập được, một số công trình phúc lợi lớn được xây dựng từ quỹ miếu Bà Chúa Xứ: Trường Trung học Vĩnh Tế: khởi công xây dựng từ 19-8-1970 hoàn thành 10-4-1972, khánh thành 5-10-1972, tổng chi phí trên 23 triệu đồng thời bấy giờ, gồm một tầng trệt, hai tàng lầu với 16 phòng học. Đây là trường trung học đầu Trang 51 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh tiên của làng Vĩnh Tế, giúp cho các em học sinh bậc Trung học không còn phải ra Châu Đốc xa xôi. Từ năm 1985 đến nay, đã trên 40 phòng học ở địa phương, sửa chữa nâng cấp các trường ở xã Vĩnh Tế, xây dựng phòng thí nghiệm, thư viện, nhà vệ sinh, nhà giáo viên, dụng cụ dạy nghề cho học sinh. Từ năm 1987 đến nay, miếu Bà đầu tư rất lớn chi phí làm đường phục vụ sự đi lại cho nhân dân và du khách. Điển hình như nâng cấp, tráng nhựa, xây kè đá, mương thoát nước cho các con lộ: đường vòng núi Sam, quốc lộ 91 khu vực xã Vĩnh Tế, đường chợ Bến Đá, đường sau miếu, lộ tẻ vòng núi Sam… Từ năm 1991 đến năm 1994, tu sửa đường Tháp lên đỉnh núi Sam và xây dựng 4 nhà nghỉ mát trên núi cho du khách nghỉ chân. Năm 1990, xây dựng nhà bảo sanh thuộc Trạm y tế xã Vĩnh Tế, năm 1993 sửa chữa Trạm y tế và mua trang thiết bị tim mạch. Năm 1993, xây dựng trạm bơm nước, năm 1994 xây dựng nhà máy nước phục vụ toàn xã. Năm 1994 – 1995, xây dựng đường ống nước. Nhờ các công trình này nhân dân xã Vĩnh Tế và du khách có nguồn nước sạch hơn để sinh hoạt. Phục vụ ánh sáng cho dân trong xã, từ năm 1989 đến 1993 đã hỗ trợ cho mạng lưới điện toàn xã. Xây dựng công trình điện lên đỉnh núi Sam. Nhằm giáo dục truyền thống và đền ơn đáp nghĩa những người có công với đất nước, năm 1994 và 1995, xây dựng đền thờ nhà chí sĩ Trương Gia Mô trên sườn núi Sam. Xây nhà tưởng niệm liệt sĩ xã Vĩnh Tế, xây nhà tình nghĩa. Phục vụ sản xuất địa phương. Năm 1991, đã xuất quỹ đào kinh Bến Vựa và đắp đê bảo vệ lúa. Năm 1994, chi tiền trồng cây phủ xanh đồi núi Sam. Năm 1997, hỗ trợ kinh phí cho công trình khu dân cư Bến Vựa. Đang thi công xây dựng nhà bia liệt sĩ và bãi đậu xe của xã. Ngoài ra miếu Bà còn chi sửa chữa trùng tu các lăng miếu địa phương như: lăng Thoại Ngọc hầu, miếu Khổng Tử, miếu Âm Nhơn, đình Vĩnh Tế, xây dựng nhà trưng bày…[15;86-88]. Hoạt động xã hội: Hoạt động xã hội cũng là một việc làm thường xuyên của miếu Bà, trong đó có một số hoạt động đáng kể: Đóng góp quỹ khuyến học thị xã. Giúp học sinh nghèo trong thị xã. Trang 52 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh Giúp một số Trường Phổ thông Trung học trong tỉnh. Mua xe nhà giàng phục vụ lễ tang ở địa phương. Hỗ trợ kinh phí cho trung tâm nuôi dưỡng người già và mồ coi thị xã Châu đốc, cung cấp gạo, dầu ăn hàng tháng… [15;89]. 2.3. Một số giải pháp giữ gìn nét văn hóa Lễ Hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam 2.3.1. Một số vấn đề tồn tại trong Lễ Hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam Sự phát triển ồ ạt của hoạt động lễ hội trên địa bàn cả nước những năm gần đây tuy có những tác động tích cực góp phần ổn định và nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa đất nước, nhưng nó cũng kéo theo nhiều biểu hiện tiêu cực. Trong Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam cũng không ngoại lệ, mặc dù đã được khắc phục đáng kể những biểu hiện không tốt diễn ra trong Lễ hội nhưng vẫn còn những vấn đề tồn tại cần phải khắc phục: Tổ chức Lễ hội nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của con người là việc làm chính đáng. Song, nhiều hoạt động mê tín dị đoan cũng nhân đó mà trỗi dậy, tác động đến tinh thần ý thức của nhiều người. Tại Lễ hội, những kẻ “buôn thần bán thánh” đã gieo rắc vào số đông người những điều nghi hoặc qua việc xóc thẻ, bán quẻ, đoán số, biến thánh nhân có công đức thành đối tượng cho những hoạt động phản văn hóa, tạo ra tâm lý thực dụng xa lạ với sinh hoạt văn hóa lành mạnh của con người. Do trải qua một quá trình phát triển hàng thế kỷ, Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam ít nhiều cũng bị tác động bởi các phần tử lạc hậu, mê tín dị đoan… điển hình như Lễ hội này đã có một thời từng tồn tại những thủ tục rất lạc hậu như: thỉnh bùa của Bà đeo, lấy nước tắm Bà làm phép chữa bệnh, xin xăm, lên đồng, múa bóng, xin lộc Bà, vay tiền Bà… Chính những hiện tượng tiêu cực ấy đã dung tục hóa, vật chất hóa quan hệ Thần – Người và quan hệ Người – Người ở nơi thờ cúng linh thiêng. Một số kẻ cơ hội lợi dụng lễ hội kiếm ăn bất chính bằng các nghề bói toán, tướng số, đồng cốt,… Đồng thời, nhiều con nhang đệ tử đến lễ hội với ý thức “lợi dụng thần thánh”, họ dâng lễ vật hậu hĩnh mong rửa sạch tội lỗi, hy vọng nhờ thần thánh che chở cho những hoạt động phi pháp trong đời sống thường ngày. Gắn với các hiện tượng tiêu cực trên, những biểu hiện kinh doanh trong Lễ hội của một số tập thể và cá nhân cũng bộc lộ một cách trắng trợn. Nhiều tờ báo đã lên tiếng phê phán cảnh tượng này qua các lễ hội, Báo văn hóa nêu: “Mấy năm Trang 53 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh gần đây, lễ hội diễn ra cùng với cơ chế thị trường, nên việc kinh doanh lễ hội cũng lộ rõ, khó có thể chấp nhận được. Nhiều nơi diễn ra lễ hội, có những khoản thu phí bừa bãi, lễ hội bỗng chốc trở thành mảnh đất cho nhiều kẻ kiếm lời” [14;77]. Hệ quả việc kinh doanh lễ hội là những dịch vụ “bắt chẹt”, “cắt cổ” khách hành hương và khách du lịch của những kẻ bất chính. Những biểu hiện tiêu cực luôn đeo bám Lễ hội này một cách dai dẳng, nổi bật nhất là tệ “cò mồi”, đủ loại “cò”, từ giành khách, dắt mối bán đồ cúng, đến mời mọc gởi xe, chụp ảnh, ăn uống, bán hàng theo kiểu chặn đường níu kéo không từ một ai, gây không ít phiền hà cho du khách và làm mất trật tự nơi công cộng. Cả “làng cò” núi Sam từ lâu đã trở thành đối tượng kém văn hóa nhất. Ngoài ra, từ các điểm hoạt động nghệ thuật, vui chơi giải trí, từ các quán ăn, quán giải khát tạo ra một không gian hỗn loạn về âm thanh, phá vỡ cái không khí nghiêm trang cần thiết để tiến hành các nghi lễ. Những biểu hiện tiêu cực tác động đến Lễ hội, những hành vi lấn chiếm, xâm phạm di tích văn hóa phải có biện pháp kịp thời ngăn chặn và xử lý nghiêm minh. Bên cạnh “đội quân phục vụ” là “đội quân ăn bám” sống dựa vào lễ hội cũng xuất hiện đông đảo. Đó là những kẻ giả vờ hành khất, những kẻ đội lốt các nhà tu hành và các loại thầy số, thầy tướng “dởm”. Trong số hành khất ấy có những kẻ không muốn xin ăn mà ngang ngược đòi ăn, chúng bao vây khách, nhất là khách nước ngoài, bắt ép họ phải “bố thí” mới thôi. Tính tiêu cực trong Lễ hội còn thể hiện ở sự phát triển các hủ tục và tệ nạn xã hội; cờ bạc nhậu nhẹt, hút sách, sát phạt lẫn nhau giữa thanh thiên bạch nhật, giữa nơi thiêng liêng làm rối loạn trật tự công cộng, ngăn cản sự bái vọng của khách hành hương. Ý thức cục bộ địa phương, cục bộ phường hội của đội quân phục vụ Lễ hội nảy sinh trong việc tranh giành địa bàn làm dịch vụ dẫn đến ẩu đả thậm chí ảnh hưởng đến tính mạng con người. Cách tổ chức và quản lý của những người có trách nhiệm trong Lễ hội cũng còn nhiều việc chưa tốt. Tổ chức Lễ hội mà chưa có phương án, kế hoạch, phương tiện, người bảo vệ cần thiết tốt nhất để giữ gìn trật tự an toàn cho Lễ hội, nên dẫn đến sự lộn xộn, chen chút tạo điều kiện cho bọn ăn cắp xô đẩy, cướp lễ vật và cướp giật tiền của khách. Nạn ô nhiễm môi trường, phá hoại cảnh quan thiên nhiên ở di tích văn hóa Miếu Bà cũng là một hiện tượng tiêu cực đáng báo động. Tại lễ hội diễn ra nhiều Trang 54 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh ngày, có hàng chục ngàn người tham gia, rác rưởi và các loại phế thải do con người thải ra đã làm mất vệ sinh, làm mất vẻ mỹ quan khu di tích văn hóa. Tuy đã có nhiều biện pháp khắc phục nhưng giao thông vẫn là vấn đề cần quan tâm trong Lễ hội, đặc biệt là những ngày chánh lễ tình trạng kẹt xe, ùng tắt giao thông, hiện tượng chở quá số người quy định… Tóm lại, không riêng gì Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam, các lễ hội cổ truyền tồn tại trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc, là loại hình văn hóa đặc biệt, trong mỗi giai đoạn lịch sử, lễ hội đều có vai trò, tác dụng nhất định. Sự phục hồi và có chiều hướng ngày càng gia tăng những năm gần đây đã chứng minh sức sống trường tồn của chúng. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong thời gian qua những giá trị văn hóa truyền thống của các lễ hội không được phát huy một cách triệt để, đôi khi bị cố tình hiểu sai lệch tạo nên một thực trạng “đáng buồn” như đã mô tả trên. Trước thực tế đó, vấn đề cần là phải làm cho sinh hoạt lễ hội truyền thống trở nên lành mạnh, hữu ích. Riêng Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam cần có những giải pháp những vấn đề tồn tại để ngày càng làm Lễ hội xứng đáng là Lễ hội cấp quốc gia thu hút được du khách trong và ngoài nước đến tham dự. 2.3.2. Một số giải pháp giữ gìn nét văn hóa Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam Các di sản và lễ hội là vốn quý của dân tộc do biết bao nhiêu thế hệ tổ tiên, ông bà ta vắt óc suy nghĩ và đổ công sức lao động lẫn tiền của để tạo dựng nên. Có dân tộc là có văn hóa, mất văn hóa thực tế là mất dân tộc. Chính vì vậy, trong những năm qua Nghị quyết của các Đại hội Đảng về xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc và định hướng cho các hoạt động văn hóa, văn nghệ đã giành một vị trí thích đáng cho lĩnh vực bảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân tộc. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI khẳng định: “Tiếp tục phát triển và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa, văn học nghệ thuật; xây dựng một nền văn hóa văn nghệ xã hội chủ nghĩa, đậm đà bản sắc dân tộc” [5;222]. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội VII có viết: “… Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng Trang 55 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh cao…” [6;10]. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII nêu rõ: “Kế thừa và phát huy các giá trị tinh thần, đạo đức và thẩm mỹ, các di sản văn hóa, nghệ thuật của dân tộc. Bảo tồn và tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh của đất nước” [7;110]. Văn kiện Đại hội IX cũng đã nhấn mạnh: “Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc, các giá trị văn hóa, nghệ thuật, ngôn ngữ, chữ viết và thuần phong mỹ tục của dân tộc” [8;115]. Đại hội X tiếp tục chỉ ra: “Tiếp tục đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng, kháng chiến, các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc, các giá trị văn hóa, nghê thuật, ngôn ngữ, thuần phong mỹ tục các cộng đồng dân tộc” [9;106-107]. Như vậy, việc giữ gìn nét văn hóa truyền thống của dân tộc là vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm. Trên tinh thần chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, để giữ gìn nét văn hóa của Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam, cần có một số giải pháp cụ thể sau 2.3.2.1. Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền và nâng cao nhận thức về việc giữ gìn nét văn hóa dân tộc ở Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam: Trước hết, các cấp chính quyền, nhân dân tại địa phương nói riêng và du khách nói chung cần phải nhận thức đúng đắn về việc bảo tồn di sản văn hóa Miếu Bà Chúa Xứ cũng như nét văn hóa của Lễ hội. Chúng ta cần phải thực sự ý thức được nó như là một tài sản vô giá, đóng vai trò nền tảng cho động lực phát triển đất nước. Cần phải nhận thức đầy đủ về vai trò và ý nghĩa của tài sản văn hóa, nếu không ý thức được vấn đề này, chẳng bao lâu nữa địa phương nói riêng và đất nước nói chung sẽ lại đứng trước những hiểm họa mà các nước phát triển đã vấp phải. Khi đó sẽ lại phải bắt đầu trở lại những gì mà các nước phát triển giờ đây đang tiến hành. Phát triển trên sự hư hoại của những tài sản văn hóa truyền thống như thế có thể dẫn đến kết quả là tụt hậu. Trên cơ sở nhận thức đúng đắn, nhân dân địa phương và du khách sẽ tự ý thức và khắc phục được những việc mình không nên làm, những tồn tại do mình gây ra. Từ đó, góp phần giữ gìn nét văn hóa của Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam xứng đáng là một lễ hội mang tầm cỡ quốc gia được đông đảo quần chúng nhân dân ngưỡng vọng. Để quảng bá hình ảnh văn hóa của Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam, cần phải tuyên truyền, vận động thông qua việc thiết lập hệ thống báo chí, sách vở để đưa đến tận người đọc, thông qua mạng lưới thư viện đến các phòng đọc sách, các Trang 56 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh tủ sách được bố trí ở cụm dân cư hoặc ở tại miếu Bà. Trong những năm qua, các tài liệu cũng như sách báo viết về Lễ hội chưa được nhiều và đầy đủ, vì vậy để đảm bảo việc đưa thông tin và kiến thức từ sách, báo đến mọi người cần phải khai thác tốt hoạt động của các nhà bưu điện ở phường núi Sam trên cả hai mặt thông tin liên lạc và thông tin kiến thức, tận dụng các cơ sở sẵn có, phát triển thêm điểm đọc tạo điều kiện thuận lợi cho người đọc. Về công tác thông tin cổ động, đây là mũi chủ chốt của hoạt động thông tin cơ sở, nó mang hình ảnh trực quan sống động hàm chứa thông tin, thông qua bảng biểu (panô áp phích). Qua hoạt động thông tin, tuyên truyền hình ảnh văn hóa của Lễ hội sẽ đến với du khách trong và ngoài nước biết đến để họ hòa vào không khí và dòng người đến hành hương hay tham quan thắng cảnh, di tích. Nâng cao ý thức giữ gìn, trùng tu, tôn tạo Miếu Bà Chúa Xứ. Đồng thời giáo dục, động viên lớp trẻ về ý thức bảo tồn di sản văn hóa tại Miếu Bà để họ tự nguyện học tập và truyền bá văn hóa của Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam. Đảm bảo sự trang nghiêm, văn hóa ở nơi thờ tự ở miếu Bà. 2.3.2.2. Phát huy nét đẹp, điều đúng ở Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam: Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam diễn ra vào thời điểm sau Tết Nguyên Đán của cả dân tộc Việt Nam. Những ngày này (từ ngày 23 đến ngày 27 tháng tư âm lịch) quần chúng nhân dân địa phương cũng như khách hành hương chuẩn bị vật phẩm, trang phục đẹp để đến Lễ hội cúng bái, ngưỡng vọng Bà Chúa Xứ. Việc tổ chức Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam phải đảm bảo sự hài hòa giữa sinh hoạt tôn giáo, sinh hoạt xã hội và sinh hoạt văn hóa. Cần phải giữ gìn những nét văn hóa độc đáo, riêng biệt cả phần hội và phần lễ của Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam, đồng thời khắc phục những hủ tục lạc hậu không còn phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước ta không nên can thiệp vào nghi thức tôn giáo hoặc tự do tín ngưỡng của quần chúng nhân dân mà chỉ tập trung đầu tư hỗ trợ cho các hoạt động vui chơi - giải trí, văn hóa thể thao tạo thêm sinh khí cho Lễ hội. Nhìn ở góc độ phần lễ của Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam, cần phải được giảm bớt những nghi thức rườm rà, câu nệ, thời gian tế lễ rút ngắn lại, nhưng vẫn bảo đảm tính thiêng liêng và long trọng. Văn tế bằng Hán ngữ được chuyển sang Việt ngữ gần gũi với con người hiện đại Việt Nam, vì ai cũng có thể hiểu và rung cảm bởi những lời thỉnh cầu chân thành của thần linh. Còn về phần hội, hoạt động Trang 57 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh vui chơi đúng nghĩa của lễ hội còn hạn chế, do đó cần phải tăng thêm một số nội dung hoạt động văn hóa, thể thao hiện đại, cần tạo thêm các trò chơi dân gian phù hợp; trò chơi Thi leo núi do Phòng Văn hóa Thông tin Châu Đốc tổ chức qua nhiều năm đã trở thành một loại hình chính thức trong phần hội của Lễ hội. Mặt khác, cũng phải nên loại bỏ những hình thức hoạt động không phù hợp, không thích nghi với không khí của lễ hội. Thật ra, phần đông khách thập phương đến với núi Sam trong những ngày mở hội không phải để xem phim, xem biểu diễn nghệ thuật, xem thi đấu thể thao mà người ta đến với vía Bà bằng lòng tín ngưỡng, tìm ở đó chút gì của cái thiêng, để được sống trong không khí có gì xưa xưa, thưởng thức những sinh hoạt văn hóa cổ. Hàng năm, vào dịp Lễ hội diễn ra, các Cấp ủy chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể cần tổ chức thăm hỏi, tham dự Lễ hội thể hiện sự quan tâm của các cấp đối với việc phát triển văn hóa, tôn trọng tín ngưỡng dân gian của quần chúng nhân dân, góp phần làm cho Lễ hội thêm trang trọng, đúng với vị thế, vai trò của Lễ hội cấp quốc gia. 2.3.2.3. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và biện pháp quản lý của Nhà nước đối với Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam Trên cơ sở các Nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, của tỉnh và các chương trình của Nhà nước về văn hóa. Vận dụng vào hoàn cảnh thực tế của địa phương, các cấp ủy phải có Nghị quyết về giữ gìn văn hóa của cấp mình, lãnh đạo chính quyền, mặt trận và các đoàn thể quần chúng cụ thể hóa triển khai thực hiện công tác xây dựng và phát triển văn hóa. Giữa ngành Văn hóa thông tin của tỉnh phải có sự phối hợp liên tịch với các ngành như Ban Tuyên giáo, Mặt trận Tổ quốc… để thống nhất trong việc quản lý và phân định chức năng của từng ngành đối với từng sự việc có liên quan đến vấn đề giữ gìn, trùng tu, tôn tạo di tích Miếu Bà và Lễ hội. Trên cơ sở luật Di sản văn hóa, tỉnh nên có văn bản pháp qui chỉ đạo các địa phương (thị xã Châu Đốc và phường núi Sam) cần phải thường xuyên kiểm tra, giám sát để phát hiện những sai phạm, vi phạm tại di tích Miếu Bà để có biện pháp xử lý hoặc báo về cấp trên để cùng phối hợp xử lý kịp thời những vấn đề có liên quan đến di tích Miếu Bà và Lễ hội. Phòng Văn hóa Thông tin thị xã Châu Đốc cũng phải tăng cường việc kiểm tra, giám sát các hoạt động tại di tích để có biện pháp xử lý kịp thời những vấn đề có liên quan đến di tích và trong các cuộc họp định kỳ về quản lý Nhà nước tại Sở Trang 58 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh Văn hóa Thông tin nên có phần báo cáo các hoạt động tại di tích thuộc địa bàn quản lý. Thanh tra ngành Văn hóa Thông tin khi nhận các vụ việc vi phạm tại di tích phải tổ chức đến ngay hiện trường, tùy theo mức độ vi phạm của sự việc mà dùng các biện pháp thuộc chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình, có biện pháp xử lý nhanh kịp thời để ngăn chặn và hạn chế sự việc vi phạm làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến di tích. Căn cứ vào luật Di sản văn hóa, các ngành chức năng quản lý Nhà nước nên kiên quyết xử lý đúng luật, phải đình chỉ và tháo gỡ các công trình xây dựng trái phép ở di tích và có mức phạt hành chánh nặng nhất để nhằm nâng cao vai trò quản lý Nhà nước. Công an địa phương và các lực lượng an ninh địa phương nên tăng cường việc kiểm tra giám sát và lưu ý. Có kế hoạch hỗ trợ Ban bảo vệ Lễ hội trong việc phòng chống cháy nổ, phòng chống trộm, bảo vệ an toàn các đồ thờ tự trong di tích. Với một số giải pháp được nêu trên, hy vọng có thể giúp cho việc giữ gìn và phát huy nét văn hóa truyền thống của Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang hiện nay. Góp phần vào mục tiêu mà Đảng và Nhà nước ta đang từng bước thực hiện trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhằm xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Trang 59 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh PHẦN KẾT LUẬN Hiện nay trên bề mặt địa cầu của chúng ta, không có một quốc gia nào, bất kể trình độ cao thấp đến đâu, lại không bị thu hút vào quá trình giao lưu văn hóa, theo xu hướng giữ gìn các lợi ích chung vì sự phát triển của toàn nhân loại. Qua hệ thống truyền thông đại chúng, hàng ngày mỗi người trên hành tinh có thể nắm bắt, cập nhật những tin tức phát ra từ những nơi cách xa vạn dặm. Sách, báo, phim ảnh, âm nhạc nhanh chóng vượt qua giới hạn của quốc gia, dân tộc để đến với công chúng toàn cầu. Quốc tế hóa đang là xu hướng mạnh mẽ chi phối sự phát triển của các hoạt động kinh tế trên thế giới. Từ lĩnh vực kinh tế, xu hướng này sẽ lan tỏa sang các lĩnh vực khác như chính trị, văn hóa, xã hội. Đương nhiên sự vận động văn hóa còn theo một quy luật riêng của nó. Đó là sự giao lưu qua màng lọc của văn hóa dân tộc thuộc các cộng đồng dân tộc – quốc gia khác nhau, nhằm chọn lọc tiếp thu những yếu tố thích hợp để văn hóa của mỗi cộng đồng xã hội có thể giàu có thêm lên về giá trị mà vẫn giữ được bản sắc độc đáo của mình. Đó là sự phát triển văn hóa trong tính đa dạng toàn nhân loại. Văn hóa dân gian nói chung và lễ hội văn hóa truyền thống nói riêng là tài sản vô giá góp phần làm nên vẻ đẹp phong phú, đa dạng của nền văn hóa Việt Nam thống nhất về mục tiêu, định hướng phát triển cũng như các tính chất đặc trưng cơ bản. Trong phạm vi của một nước đa tôn giáo, đa dân tộc (54 dân tộc) như nước ta thì vấn đề bảo tồn và phát triển các văn hóa tín ngưỡng dân gian và các lễ hội truyền thống mang một ý nghĩa chính trị - xã hội – văn hóa sâu sắc. Bản sắc văn hóa dân tộc ta hàm chứa những giá trị văn hóa dân gian thể hiện rất đa dạng, xuyên suốt thắm đượm trong toàn bộ đời sống xã hội. Nó có mặt khắp nơi trong văn hóa vật thể lẫn văn hóa phi vật thể, nó in đậm vào từng cá thể, cộng đồng. Nó gần gũi với mọi người trong sinh hoạt đời thường như ăn, mặc, giao tiếp,…đến các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao. Giữ gìn và phát triển các giá trị văn hóa tín ngưỡng dân gian nói chung và các lễ hội truyền thống nói riêng là một trong những vấn đề mà Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và coi đó là nội dung quan trọng trong thực hiện việc “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Cặp từ “lễ hội” mới thông dụng những năm gần đây để chỉ những hội hè đình đám mang tính truyền thống dân gian. Không riêng ở nước ta, các dân tộc Trang 60 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh trên toàn thế giới ngày nay vẫn duy trì lễ hội và phát triển rầm rộ như một cuộc phục hưng văn hóa, như thể một cuộc quay về nguồn cội hết sức náo nức, vội vàng. Nào đợi đến bây giờ, từ xưa, rất xa xưa lễ hội đã là nhu cầu thiết yếu cho nhân dân, như cơm ăn, áo mặc, nước uống hằng ngày không từ một ai trong cộng đồng dân tộc. Kẻ sang, người nghèo, bậc thức giả, người bình thường tìm đến lễ hội mỗi người một cách, một tâm tư riêng. Bất cứ lễ hội của dân tộc nào, một cộng đồng nhỏ bé nào, ở lục địa nào cũng mang ý nghĩa bắt nguồn từ thời rất xa xôi, từ những huyền thoại mơ hồ, từ khát vọng, ước mơ và hình thành trên đời sống thật của con người. Lễ hội, không chỉ là lễ hội đơn thuần, hay là những trò mê tín, hoang đường gần như không tưởng, như một số nhà cực đoan đã trì chiết, mà còn là mối quan hệ vô hình với thiên nhiên, giữa con người đang sống với những vĩ nhân, anh hùng có công với nước với dân, tái tạo sợi dây liên kết các thành viên trong xã hội, mà cơn lốc trong đời sống nghiệt ngã hàng ngày xô đẩy ra nhiều phía. Lễ hội nào cũng chan chứa âm thanh và hương sắc, tràn ngập khói hương, hoa trái trống kèn. Người đến lễ hội mang theo niềm hân hoan hướng thượng và hướng thiện, khát vọng bình an và hạnh phúc, niềm tin sâu kín và khát vọng ẩn giấu trong mỗi con người. Điều chắc chắn là ai ai đến lễ hội cũng mong tận hưởng sự hoan lạc thanh khiết, hào hứng và thanh thản tâm linh. Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam cũng không ra ngoài quy luật chung đó. Hàng năm, có đến hàng triệu lượt người hành hương về núi Sam cúng bái và cầu nguyện cuộc sống phát đạt an lành. Là một lễ hội cấp quốc gia ở Việt Nam, Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam phát sinh từ tín ngưỡng hoang đường đã thành lễ hội truyền thống dân gian, mang nhiều nét đẹp tín ngưỡng và văn hóa cổ truyền vốn có tự thân. Đó là tín ngưỡng thờ Mẫu đã có sự đan xen với các tín ngưỡng khác thể hiện sự giao lưu văn hóa. Lễ hội có hai phần: Phần lễ gồm Lễ tắm Bà, Lễ thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu, Lễ Túc Yết, Lễ Xây Chầu và Lễ Chánh Tế; Phần hội gồm Lễ Khai hội và Lễ Phục hiện. Những nét văn hóa truyền thống tốt đẹp này cần phải được giữ gìn hơn nữa để hòa nhập vào nền văn hóa chung của dân tộc Việt Nam và phù hợp với xu thế phát triển chung của thời đại. Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam đã có một quá trình lâu dài tồn tại và gắn bó với khách hành hương trong cả nước nói chung và nhân dân tại địa phương nói riêng. Trải qua thời gian khá dài như vậy nhưng Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam Trang 61 Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh vẫn bảo tồn được những nét văn hóa độc đáo của mình. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ An Giang, thị xã Châu Đốc nói riêng và của Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung, truyền thống văn hóa tín ngưỡng dân gian thờ Mẫu của Lễ hội vẫn được bảo tồn, phát huy và trở thành một bộ phận của nền văn hóa thống nhất trong đa dạng của dân tộc Việt Nam. Ngoài ra, Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam còn là một sản phẩm du lịch văn hóa. Du khách đến với núi Sam một cách rất tự nguyện không cần quảng cáo, đã vậy khách đáo lệ hàng năm ngày một đông hơn, bởi vì người ta đến đây để củng cố niềm tin bằng tâm linh, lợi thế tuyệt đối này không phải muốn mà có, cho nên phải khai thác triệt để. Lễ hội vẫn còn tồn tại không ít những mặt hạn chế nhất định cần phải khắc phục. Vì vậy, vấn đề đặt ra ở đây là phải tìm ra giải pháp hữu hiệu để giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc cho một hoạt động tín ngưỡng dân gian, đồng thời phát huy tiềm năng du lịch sẵn có của Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam. Sự quan tâm chăm lo của Đảng và Nhà nước, của lãnh đạo cấp ủy, chính quyền ở các địa phương là việc làm quan trọng để Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam ngày càng gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân và là một Lễ hội cấp quốc gia có quy mô lớn thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước. Trang 62 ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfXT1280.pdf
Tài liệu liên quan