Tóm tắt Luận án - Đời sống văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh thời kỳ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1.1. Việt Nam có 3/4 diện tích là biển và đại dương, đường bờ biển dài 3260 km kéo từ Móng Cái cho tới Hà Tiên, bao bọc lấy phía Đông, Nam và một phần phía Tây của Tổ quốc. Từ xa xưa, con người Việt Nam đã có sự gắn kết chặt chẽ với biển, nhóm cư dân cư trú ở khu vực ven biển trong quá trình sinh tồn, để thích nghi được với môi trường biển, khai thác, đánh bắt nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có của biển đảm bảo cho nhu cầu cuộc sống hang ngày, họ

pdf24 trang | Chia sẻ: huong20 | Ngày: 17/01/2022 | Lượt xem: 271 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Tóm tắt Luận án - Đời sống văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh thời kỳ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
đã tích luỹ được các tri thức, kinh nghiệm, hiểu biết về biển, về nguồn tài nguyên sinh vật biển, đồng thời đã hình thành những nét văn hoá đặc trưng so với cư dân ở các vùng khác. 1.2. Trong thời kỳ CNH, HĐH, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều Nghị quyết, Chỉ thị về phát triển kinh tế vùng biển, ven biển và hải đảo. Nghị quyết số 09 - NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X (ngày 9-2- 2007) đã đề ra “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, đánh một dấu mốc quan trọng, thể hiện tầm nhìn mới của Đảng và Nhà nước về vai trò kinh tế biển đối với sự nghiệp CNH, HĐH hiện nay. 1.3. Tỉnh Hà Tĩnh có đường bờ biển dài (137km), với 04 cửa biển là cửa Hội, cửa Sót, cửa Nhượng và cửa Khẩu, có địa hình phong phú, bao gồm: miền núi, trung du, đồng bằng và ven biển. Sự phong phú về địa lý, địa hình dẫn đến địa bàn cư trú của cư dân Hà Tĩnh rất đa dạng, từ đó tạo ra sự đa dạng về đời sống văn hoá. Trong sự đa dạng của văn hóa Hà Tĩnh có dấu ấn văn hoá của nhóm cư dân định cư ở vùng ven biển, vì sống trong môi trường biển, nhóm cư dân này đã tạo ra những bản sắc văn hoá riêng. Hiện nay, dưới những tác động của CNH, HĐH, đặc biệt là “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” của Đảng và Nhà nước, vùng ven biển Hà Tĩnh đang có nhiều thay đổi, tính thuần nhất và nét đặc trưng văn hoá vùng có xu hướng bị phá vỡ, nguy cơ phai nhạt, pha trộn, ảnh hưởng bản sắc trở thành thách thức lớn trong quá trình CNH, HĐH và hội nhập thế giới. 2 Để tìm hiểu thực trạng và nhận diện xu hướng biến đổi ĐSVH của cư dân ven biển Hà Tĩnh trước bối cảnh CNH, HĐH, NCS chọn đề tài “Đời sống văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh thời kỳ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá” để làm Luận án Tiến sĩ, chuyên ngành Văn hoá học tại Trường Đại học Văn hoá Hà Nội. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu Làm rõ thực trạng và bước đầu nhận diện xu hướng biến đổi Đời sống văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu - Tập hợp và phân tích các công trình của những nhà nghiên cứu đã viết về Hà Tĩnh, cư dân, văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh để từ đó kế thừa và phân tích tính mới của luận án. - Nghiên cứu cơ sở lý thuyết bao gồm: các khái niệm đời sống văn hoá, cơ cấu của đời sống văn hoá, tiêu dùng văn hóa, vùng ven biển Hà Tĩnh,Qua đó giới thuyết nội dung, phạm vi nghiên cứu của đề tài. - Khảo sát, phân tích, nhận diện thực trạng và xu hướng biến đổi ĐSVH của cư dân ven biển Hà Tĩnh trước những tác động của CNH, HĐH. - Nhận định những vấn đề đặt ra đối với đời sống văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh thời kỳ CNH, HĐH, qua đó có những kiến nghị, đề xuất. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Luận án tập trung nghiên cứu về đời sống văn hoá tinh thần của cư dân ven biển Hà Tĩnh trong bối cảnh CNH, HĐH. 3.2. Phạm vi nghiên cứu * Phạm vi vấn đề nghiên cứu Đời sống văn hoá tinh thần của cư dân ven biển Hà Tĩnh hiện nay qua một số thành tố: tín ngưỡng, lễ hội, phong tục và tiêu dùng văn hoá . * Phạm vi không gian Đề tài nghiên cứu các làng/xã ven biển của 5 huyện: Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Lộc Hà, Nghi Xuân (lựa chọn một số làng/xã điển hình để 3 khảo sát, thực hiện chương trình trưng cầu ý kiến qua điều tra xã hội học). * Phạm vi thời gian: Nghiên cứu đời sống văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh hiện nay (thời điểm khảo sát 2013 - 2015). Tuy nhiên trong quá trình phân tích có đề cập đến đời sống văn hoá xưa (trước CNH, HĐH - mốc trước 1995-Hội nghị TW7 khoá VII) để đối chiếu, so sánh, nhận diện những biến đổi. 4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu 4.1. Phương pháp luận Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về xây dựng đời sống văn hoá. 4.2. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu liên ngành văn hoá học: Luận án sử dụng các khái niệm, phạm trù, kết quả của các ngành khoa học có liên quan đến văn hoá học để nghiên cứu về đời sống văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh như: Dân tộc học/ nhân học văn hoá, xã hội học văn hoá, Folklore học, tâm lý học, - Phương pháp phân tích, tổng hợp hệ thống tư liệu của các học giả đi trước đã nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến vùng ven biển Hà Tĩnh, cư dân ven biển Hà Tĩnh và văn hoá ven biển Hà Tĩnh. Qua sự phân tích này, tác giả luận án kế thừa và đưa ra mục tiêu, nhiệm vụ và những vấn đề mới của đề tài luận án. - Phương pháp khảo sát - điền dã của nhân học/dân tộc học văn hoá ở những điểm nằm trong không gian nghiên cứu, để tìm hiểu thực tế, sưu tầm thu thập tư liệu, thông tin qua cộng đồng cư dân tại thực địa. - Phương pháp điều tra xã hội học thông qua việc phỏng vấn sâu và bảng hỏi để có những tư liệu định lượng minh chứng cho những nhận xét, đánh giá định tính về biến đổi văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh. - Phương pháp so sánh, đối chiếu giữa đời sống văn hoá trước và sau CNH, HĐH của cư dân ven biển Hà Tĩnh để tìm ra xu hướng vận động biến đổi. - Phương pháp nghiên cứu đại diện: Chọn một số địa điểm ven biển tiêu biểu của Hà Tĩnh để minh chứng cho vấn đề mà đề tài đang đề cập, đánh giá, và bàn luận, 4 5. Đóng góp mới của luận án 5.1. Đóng góp về mặt khoa học - Luận án là công trình đầu tiên vận dụng lý luận về đời sống văn hoá với nội hàm là đời sống văn hoá tinh thần vào nghiên cứu đời sống văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh thời kỳ CNH, HĐH. - Nhận diện xu hướng vận động, biến đổi về đời sống văn hoá tinh thần của cư dân vùng ven biển Hà Tĩnh thời kỳ CNH, HĐH. - Phân tích, làm rõ những vấn đề đặt ra trong đời sống văn hoá tinh thần của cư dân ven biển Hà Tĩnh thời kỳ CNH - HĐH. 5.2. Đóng góp về mặt thực tiễn - Giúp các nhà lãnh đạo, quản lý tham khảo để hoạch định các chính sách xây dựng, phát triển kinh tế-văn hoá -xã hội ở vùng ven biển Hà Tĩnh hiện nay; - Làm tài liệu tham khảo để giảng dạy các chuyên ngành văn hoá tại các trường cao đẳng, đại học. 6. Kết cấu của luận án Ngoài mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận án chia làm 4 chương: Chƣơng 1:Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết, khái quát về vùng ven biển Hà Tĩnh Chƣơng 2: Thực trạng đời sống văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh qua tín ngưỡng, lễ hội, phong tục Chƣơng 3: Thực trạng đời sống văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh qua tiêu dùng văn hoá Chƣơng 4: Xu hướng biến đổi đời sống văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và những vấn đề đặt ra Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHÁI QUÁT VỀ VÙNG VEN BIỂN HÀ TĨNH 1.1. TỔNG QUAN T NH H NH NGHIÊN CỨU 1.1.1. Các công trình viết về vùng ven biển Hà Tĩnh: Đại Nam nhất thống chí; Nghệ An ký; Đất nước Việt Nam qua các đời. Phong thổ ký các 5 huyện tỉnh Hà Tĩnh; Địa chí Cẩm Nhượng; Việt Nam lãnh thổ và các vùng địa lý,... Các công trình nghiên cứu đi trước trên đây đã cho biết địa danh một số huyện giáp biển của Hà Tĩnh, cũng như các cửa biển thuộc về Hà Tĩnh xưa và nay. Tuy nhiên, số liệu nhiều chỗ không còn phù hợp với thực tại, vì hiện nay các huyện của Hà Tĩnh đã khác. 1.1.2. Các công trình viết về cƣ dân ven biển Hà Tĩnh: An - Tĩnh cổ lục; Biển với người Việt cổ; Văn hoá Bàu Tró; Cộng đồng ngư dân ở Việt Nam; Các cộng đồng ngư dân thuỷ cư tại vùng biển Việt Nam; Người Bồ Lô và Vạn Kỳ Xuyên; Nhật trình đi biển của người Bồ Lô tại vùng biển Bắc Trung Bộ; Người Việt (Kinh) vùng ven biển miền Trung hội nhập cùng biển cả Các công trình nghiên cứu trên đây có chung nhận định cư dân tiền trú trên đất Hà Tĩnh là cư dân văn hoá Quỳnh Văn và cư dân văn hoá Bàu Tró, nhóm cư dân này sống chủ yếu ở đồng bằng ven biển, đánh bắt cá và các loài nhuyễn thể ở biển, sông, hồ. Về cư dân hiện đại, các công trình nghiên cứu chỉ đề cập đến thời kỳ tiền CNH, HĐH và nhận định có nguồn gốc bác tạp. 1.1.3. Các công trình viết về văn hoá ven biển Hà Tĩnh: Làng cổ Hà Tĩnh; Lễ hội dân gian ở Hà Tĩnh; Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh; Văn hoá làng biển ở xứ Nghệ; Văn hoá dân gian làng ven biển; Văn hoá biển miền Trung và văn hoá biển Tây Nam Bộ; Đôi nét về văn hoá dân gian ven biển trong nền kinh tế thị trường; Văn hoá dân gian người Bồ Lô ven biển Hà Tĩnh. Chưa có công trình nào đề cập có tính hệ thống đến ĐSVH của cư dân ven biển Hà Tĩnh thời kỳ CNH, HĐH. Tóm lại, từ những tập hợp, tổng thuật, phân tích các công trình nghiên cứu đi trước có liên quan đến đề tài luận án, nhận thấy: - Về phương diện địa lý, tự nhiên, các công trình nghiên cứu đi trước nhận định Hà Tĩnh là tỉnh có bờ biển dài, biển Hà Tĩnh có nguồn tài nguyên sinh vật phong phú, có nhiều hải sản quý, các cửa biển Hà Tĩnh đóng vai trò quan trọng về kinh tế, quân sự, văn hoá, giao lưu. - Với những di chỉ khảo cổ học trên đất Hà Tĩnh, các công trình nghiên cứu khẳng định cư dân tiền sử đã từng cư trú trên đất Hà Tĩnh, chủ yếu sinh sống ở các vùng ven sông biển, ăn các loài nhuyễn thể và đã để lại dấu vết đánh bắt ở vùng khơi, vùng lộng bên cạnh sản xuất nông nghiệp. 6 - Một số công trình nghiên cứu văn hoá đã đề cập đến phương thức đánh bắt, phương thức tổ chức đời sống xã hội, các nghề thủ công nổi tiếng ở một số làng, xã ven biển Hà Tĩnh và một số sinh hoạt phong tục, tập quán, lễ hội của cư dân ven biển Hà Tĩnh, nhưng chủ yếu ở thời kỳ tiền CNH, HĐH. 1.2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.2.1. Khái niệm, cơ cấu của đời sống văn hoá 1.2.1.1. Khái niệm đời sống văn hoá Khái niệm “Đời sống văn hoá” trong luận án được hiểu theo nghĩa hep: Đời sống văn hoá là tổng thể sống động những hoạt động tinh thần của con người (cá nhân và cộng đồng) trong thời gian rỗi là chủ yếu, bao gồm: sáng tạo, biểu hiện, truyền bá, thưởng thức, tiêu dùng các sản phẩm văn hoá nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần của con người. 1.2.1.2. Cơ cấu của đời sống văn hoá Theo tác giả Hoàng Vinh cơ cấu (cấu trúc) của ĐSVH: “có thể là một số dạng hoạt động văn hoá phổ biến như sau: - Hoạt động sáng tác và biểu diễn văn nghệ, ứng dụng khoa học vào đời sống. - Hoạt động khai trí - giáo dục nhằm nâng cao kiến thức cho mọi người: dạy học, diễn giảng, toạ đàm, thư viện, thông tin. - Hoạt động lưu giữ sản phẩm văn hoá: bảo tàng, lưu trữ, triển lãm, sưu tập. - Hoạt động tiêu dùng sản phẩm văn hoá: đọc sách, báo, nghe âm nhạc, xem nghệ thuật, phim ảnh, triển lãm, bảo tàng, tham quan, du lịch. - Hoạt động lễ hội, tín ngưỡng, xây dựng phong tục nếp sống gia đình văn hoá - Hoạt động thể dục, thể thao, vui chơi giải trí trong thời gian rỗi” 1.2.2. Quan niệm về biến đổi văn hoá Những nghiên cứu của các học giả về lĩnh vực này có một điểm chung rằng biến đổi văn hoá là một hiện tượng phổ biến, là một bước tiến bộ trong sự phát triển của dân tộc và nhân loại; biến đổi văn hoá là do quá trình thay đổi phương thức sản xuất, kỹ thuật sản xuất, dẫn đến thay đổi nếp nghĩ, nếp sống, đời sống tinh thần phù hợp với những biến đổi về chính trị, kinh tế, xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định của mỗi dân tộc. Nghiên cứu biến đổi văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh là nghiên cứu về biến đổi văn hoá truyền thống trong đời sống của họ. 7 1.2.3. Quan niệm về tiêu dùng văn hoá Tiêu dùng văn hoá là việc sử dụng những sản phẩm văn hoá để đáp ứng, làm thoả mãn nhu cầu tinh thần của cư dân hiện nay, và việc tiêu dùng sản phẩm văn hoá này cũng chỉ đề cập đến tiêu dùng sản phẩm tinh thần, gắn liền với sản phẩm tinh thần là công cụ phương tiện tiêu dùng văn hoá và phương thức tiêu dùng văn hoá. 1.2.4. Quan niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao. 1.2.5. Quan niệm về “Vùng ven biển” Vùng ven biển được hiểu không chỉ là vùng nước chạy cặp bờ biển, chịu ảnh hưởng của biển rõ rệt mà còn bao gồm cả dải đất liền ven biển bị ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của biển. Vùng ven biển được đề cập trong luận án là một khu vực (không gian) địa lý (vùng đất) nằm dọc bờ biển Hà Tĩnh, không gắn với sự trực thuộc về mặt hành chính lãnh thổ, được kéo dài từ đầu tỉnh đến cuối tỉnh Hà Tĩnh, đi qua lãnh thổ của 5 huyện Nghi Xuân, Lộc Hà, Thạch Hà, Cẩm Xuyên và Kỳ Anh. 1.3. KHÁI QUÁT VỀ VÙNG VEN BIỂN HÀ TĨNH 1.3.1. Đặc điểm địa lý, dân cƣ, kinh tế và văn hoá 1.3.1.1. Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên: Hà Tĩnh thuộc vùng duyên hải Bắc Trung bộ, cách thủ đô Hà Nội 340 km về phía Nam, phía Bắc giáp tỉnh Nghệ An, phía Nam giáp tỉnh Quảng Bình, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây là dãy Trường Sơn tiếp giáp với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào. Diện tích đất tự nhiên 6.025,6 km2, chiếm khoảng 1,7% diện tích toàn quốc. Nhìn tổng thể địa hình Hà Tĩnh có 4 dạng: vùng núi, vùng đồi trung du, vùng đồng bằng (nội đồng) và vùng ven biển. Vùng ven biển Hà Tĩnh chiếm chưa đến 10% diện tích của tỉnh, bờ biển 8 dài 137km, địa hình trung bình cao trên dưới 3m so với mực nước biển, bị uốn lượn theo mức độ thấp ra cửa biển từ vùng đồi núi phía Tây, càng về phía Nam càng hẹp. Phía Bắc giáp vùng biển của tỉnh Nghệ An, phía Nam giáp vùng biển của tỉnh Quảng Bình, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây là vùng nội đồng nhỏ hẹp bị chia cắt bởi các dãy núi, sông suối. Dọc bờ biển Hà Tĩnh có bốn cửa sông (cửa biển) là Cửa Hội, Cửa Sót, Cửa Nhượng và Cửa Khẩu. Ven biển Hà Tĩnh có nhiều dãy núi nhô ra tận biển, nhiều nhất là ở bờ biển phía nam (từ huyện Thạch Hà trở vào) như: núi Nam Giới (Thạch Bàn, Thạch Hà), núi Thiên Cầm (thị trấn Thiên Cầm, Cẩm Xuyên), núi Bàn Độ, núi Cao Vọng, núi Chóp Cờ (núi Kỳ Đầu), Đèo Ngang (huyện Kỳ Anh). Ngược lại với bờ biển phía nam, bờ biển phía bắc (thuộc địa phận huyện Nghi Xuân) địa hình tương đối bằng phẳng, không có núi, với chiều dài 32km, được ngăn cách với bờ biển của huyện Lộc Hà bởi ngọn Hồng Lĩnh. Các ngọn núi dọc bờ biển Hà Tĩnh không cao lắm. 1.3.1.2. Đặc điểm dân cư: Các nguồn tư liệu viết về Hà Tĩnh, lịch sử Hà Tĩnh và các di chỉ khảo cổ học ở Hà Tĩnh cho biết cư dân tiền trú ở ven biển Hà Tĩnh là cư dân văn hoá Quỳnh Văn và cư dân văn hoá Bàu Tró. Đến thời hiện đại và thời kỳ CNH, HĐH, cư dân ven biển Hà Tĩnh mang tính “bác tạp”, sinh sống bằng nhiều ngành nghề khác nhau, phân bố ở các vùng bãi dọc và bãi ngang, nhưng tập trung đông nhất và phát triển mạnh nhất là ở vùng bãi dọc do đặc điểm có nhiều lợi thế về vị trí địa lý, giao thông và tiềm năng kinh tế khoáng sản,... 1.3.1.3. Đặc điểm kinh tế: Hà Tĩnh là một trong 28 tỉnh, thành phố của cả nước có biển, với bờ biển dài 137km, Hà Tĩnh có 35 xã ven biển. Ngành nghề truyền thống của cư dân ven biển Hà Tĩnh là ngư nghiệp, nông nghiệp và một số nghề tiểu thủ công nghiệp (chế biến hải sản, làm muối,..), thương nghiệp (buôn bán hải sản). Sang thời kỳ CNH, HĐH các ngành nghề của cư dân phong phú, đa dạng trên cơ sở hình thành ba mô hình kinh tế tập trung là: đánh bắt, du lịch và kinh tế công nghiệp... 1.3.1.4. Đặc điểm văn hoá: Hà Tĩnh là vùng “địa linh”, cũng là vùng biên viễn “phên dậu” của nhà nước Đại Việt, là ranh giới giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài dưới triều đại phong kiến Lê mạt. Từ ngàn xưa đến nay, vùng đất ven 9 biển Hà Tĩnh luôn giữ vai trò, vị trí chiến lược quan trọng của Tổ quốc. Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Hà Tĩnh là “cái nôi” của cách mạng Việt Nam, sản sinh ra nhiều anh hùng dân tộc, chí sĩ cách mạng, các nhà chính trị lỗi lạc, các nhà khoa học trên các lĩnh vựcVì vậy, Hà Tĩnh và vùng ven biển Hà Tĩnh chứa đựng trong đó nhiều giá trị văn hoá mang đặc trưng vùng rõ rệt và có nhiều di tích danh thắng lịch sử. 1.3.2. Tình hình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở vùng ven biển Hà Tĩnh 1.3.2.1. Chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với kinh tế vùng ven biển Để phát huy thế mạnh và các tiềm năng của biển Việt Nam trong thế kỷ XXI, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) đã thông qua Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 9/2/2007 “Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, trong đó nhấn mạnh "Thế kỷ XXI được thế giới xem là thế kỷ của đại dương” 1.3.2.2. Tình hình triển khai công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở vùng ven biển Hà Tĩnh Căn cứ vào các văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, quá trình CNH, HĐH ở vùng ven biển Hà Tĩnh hiện nay diễn ra trên một số lĩnh vực chủ yếu như: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong khai thác, đánh bắt; Công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong nuôi trồng thuỷ hải sản; Công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong phát triển du lịch biển; Công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong xây dựng khu kinh tế tổng hợp (Vũng Áng); Công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong khai thác chế biến khoáng sản; Công nghiệp hoá, hiện đại hoá dịch vụ cảng biển,...Trên cơ sở đó hình thành ba khu kinh tế đặc thù: khu kinh tế đánh bắt, khu kinh tế du lịch, khu kinh tế công nghiệp. Tiểu kết Vùng đất, con người và văn hoá ven biển Hà Tĩnh, đã được một số học giả trong và ngoài nước nghiên cứu. Dưới góc độ dân tộc học, sử học, một số học giả đề cập đến phương thức mưu sinh, nét đặc trưng về phong tục, tập quán, đời sống tín ngưỡng của nhóm cư dân ven biển Hà Tĩnh trong xã hội truyền thống và ở thời kỳ tiền CNH, HĐH. Về thực trạng đời sống văn hoá của cư dân 10 ven biển Hà Tĩnh trước những tác động mạnh mẽ của sự nghiệp CNH, HĐH hiện nay là mục tiêu nghiên cứu của đề tài luận án, chưa có công trình nào đề cập đến. Do đó, các công trình nghiên cứu của các học giả đi trước được tổng quan ở chương này là những tài liệu quý để NCS kế thừa, tiếp thu vào luận án, cũng là cơ sở nền tảng gợi ý cho ý tưởng luận án. Đời sống văn hoá là một phạm trù rộng, trên cơ sở các khái niệm, quan niệm về đời sống văn hoá của các học giả đi trước NCS xác định đời sống văn hoá được nghiên cứu trong luận án là đời sống văn hoá tinh thần, luận án tập trung đề cập đến những sinh hoạt văn hoá tinh thần của cư dân ven biển Hà Tĩnh thời kỳ CNH, HĐH. Tuy nhiên, đời sống văn hoá tinh thần cũng mang nội hàm rộng, gồm nhiều thành tố, luận án chỉ giới hạn ở một số thành tố trong đời sống văn hoá tinh thần để khảo sát và đưa ra nhận định chung cho những biến đổi đời sống văn hoá tinh thần của cư dân ven biển Hà Tĩnh thời kỳ CNH, HĐH, đó là các thành tố: tín ngưỡng, lễ hội, phong tục và tiêu dùng văn hoá. Sang thời kỳ CNH, HĐH, xuất phát từ tiềm năng của vùng, nền kinh tế ven biển Hà Tĩnh phát triển đa dạng hoá các ngành nghề, trong đó nổi bật ba mô hình kinh tế: đánh bắt, du lịch biển, công nghiệp khai khoáng và thương mại hải cảng. Dưới tác động CNH, HĐH và những thay đổi của nền kinh tế, đời sống văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh đang có những biến đổi theo các xu hướng khác nhau, sự biến đổi đó diễn ra ngày càng mạnh mẽ và rõ nét. Chƣơng 2 THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ CỦA CƢ DÂN VEN BIỂN HÀ TĨNH QUA TÍN NGƢỠNG, LỄ HỘI, PHONG TỤC 2.1. TÍN NGƢỠNG 2.1.1. Các tín ngƣỡng 2.1.1.1. Tín ngưỡng chung của cộng đồng Là tín ngưỡng thờ những vị thần chung của cả cộng đồng (làng, xã) ở cơ sở thờ cúng chung (công cộng). Tín ngưỡng chung của cộng đồng cư dân ven biển Hà Tĩnh hiện nay rất phong phú, đa dạng, bao gồm các tín ngưỡng thờ cúng sau: Tín ngưỡng thờ thần biển, tín ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng, 11 2.1.1.2. Tín ngưỡng thờ cúng tại gia đình Bên cạnh tín ngưỡng chung của cộng đồng, tín ngưỡng thờ cúng tại gia đình của cư dân ven biển Hà Tĩnh hiện nay cũng phong phú và đa dạng, trong đó tiêu biểu có các tín ngưỡng thờ cúng như: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên; Thờ Thiên thần; Thờ thần tài; 2.1.2. Sinh hoạt tín ngƣỡng Về nhu cầu và mức độ thực hành (sinh hoạt) tín ngưỡng của cư dân vùng ven biển Hà Tĩnh thời kỳ CNH, HĐH rất phát triển, phong phú, đa dạng, gắn với quan niệm đa thần. Cư dân ven biển Hà Tĩnh ngày nay thường đến các đền, miếu thắp hương vào các ngày rằm, mồng một, lễ tết cũng như thắp hương lên bàn thờ tổ tiên và các gia thần vào các ngày này. Ngoài ra, những khi gia đình có việc hệ trọng cư dân cũng đến thắp hương tại các cơ sở thờ cúng công cộng và tại gia đình mình. 2.2. LỄ HỘI 2.2.1. Các lễ hội 2.2.1.1. Lễ hội dân gian Lễ hội dân gian là hình thức sinh hoạt lễ hội gắn với các tín ngưỡng của cư dân. Lễ hội dân gian của cư dân ven biển Hà Tĩnh mang đậm sắc thái biển, phong phú đa dạng về loại hình bao gồm: Lễ hội cầu ngư; Lễ kỳ phúc lục ngoạt; Lễ hội tưởng nhớ anh hùng dân tộc (nhân vật lịch sử). 2.2.1.2. Lễ hội tôn giáo Lễ hội tôn giáo là hình thức lễ hội gắn với các tôn giáo, thường được cư dân theo tôn giáo đó đứng ra tổ chức. Ở vùng ven biển Hà Tĩnh hiện nay, tiêu biểu có lễ hội của hai tôn giáo sau: Lễ hội công giáo; Lễ hội Phật giáo. Ngoài các lễ hội trên, ở vùng ven biển Hà Tĩnh thời kỳ CNH, HĐH còn xuất hiện một số lễ hội mới (mang tính hiện đại) như: lễ khai trương mùa du lịch bãi tắm ở các khu du lịch bãi tắm ven biển Hà Tĩnh vào ngày 30 tháng 4 (dương lịch) hàng năm. 2.2.2. Sinh hoạt lễ hội Các lễ hội truyền thống được phục dựng ở vùng ven biển Hà Tĩnh hiện 12 nay đã thực sự đi vào đời sống sinh hoạt tinh thần, tâm linh, tín ngưỡng của cư dân. Hầu hết cư dân thuộc nhiều thành phần kinh tế, nhiều nghề nghiệp khác nhau đều có nhu cầu tham gia sinh hoạt lễ hội. 2.3. PHONG TỤC 2.3.1. Phong tục trong chu kỳ vòng đời ngƣời 2.3.1.1. Phong tục sinh đẻ Việc thực hành các phong tục sinh đẻ truyền thống của cư dân ven biển Hà Tĩnh hiện nay có xu hướng giảm dần ở những phong tục gắn với môi trường sống cũ. Còn những phong tục có giá trị, ý nghĩa với cuộc sống đương đại được cư dân kế thừa thực hành và có những biến đổi phù hợp với cuộc sống, xã hội đương đại. 2.3.1.2. Phong tục cưới xin Việc thực hành các phong tục cưới xin của cư dân ở ba khu kinh tế vùng ven biển Hà Tĩnh hiện nay có tính tương đối đồng nhất, cả ba khu kinh tế đều duy trì thực hành đầy đủ bốn nghi lễ cưới xin truyền thống, đó là: lễ dạm ngõ, lễ ăn hỏi, lễ cưới, lễ lại mặt. 2.3.1.3. Phong tục ma chay Với 13 phong tục, nghi lễ ma chay được thực hành phổ biến trong cư dân vùng ven biển Hà Tĩnh hiện nay, là : che mặt người chết, khâm liệm, nhạc hiếu, thầy cúng làm lễ, xem giờ phát tang, xem giờ hạ huyệt, tang phục, cúng ba ngày, cúng 49 ngày, cúng trăm ngày, giỗ đầu, giỗ hết, sang cát (bốc mộ). Kết quả điều tra xã hội học cho thấy: Ở khu kinh tế đánh bắt số cư dân thực hành phong tục này hiện nay thấp nhất, ở khu kinh tế du lịch số cư dân thực hành phong tục ma chay cao nhất. Xếp sau khu kinh tế du lịch và cao hơn nhiều so với khu kinh tế đánh bắt là cư dân ở khu kinh tế công nghiệp. 2.3.2. Phong tục trong mƣu sinh * Kiêng kỵ: Ngày nay, những kiêng kỵ nghề nghiệp truyền thống của cư dân vùng ven biển Hà Tĩnh không phổ biến như trước, cư dân chỉ thực hành một số kiêng kỵ mang tính nhân văn, có ý nghĩa với cuộc sống hiện đại, phù hợp với đạo lý dân tộc và điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay. Còn những kiêng kỵ gắn với môi trường sống cũ đã được cư dân xoá bỏ, do trình độ nhận thức, 13 hiểu biết của cư dân ngày nay đã được nâng cao và điều kiện kinh tế - xã hội đã có những thay đổi. * Nghi lễ: Trong xã hội truyền thống, cư dân vùng ven biển Hà Tĩnh có rất nhiều nghi lễ liên quan đến nghề đánh bắt. Nhưng hiện nay, cư dân chỉ lưu giữ một số nghi lễ đánh bắt truyền thống, đó là: nghi lễ cúng thuyền mới, và trong nghi lễ cúng thuyền mới cư dân coi trọng lễ hạ thuyền (còn gọi là lễ hạ thuỷ). Tiểu kết Phân tích thực trạng đời sống tín ngưỡng của cư dân ven biển Hà Tĩnh, trong đó có diện mạo các thần linh được phụng thờ, cùng các sinh hoạt nghi lễ, nhận thấy: trước hết về hệ thống các thần linh được phụng thờ ở vùng ven biển Hà Tĩnh ngày nay phong phú, đa dạng hơn so với xưa. Ngoài các vị thần truyền thống gắn với vùng biển, nghề biển, xuất hiện một số thờ cúng mới trong các gia đình cư dân, như: thờ thần tài, thờ các thiên thần, thờ Phật, thờ Bác Hồ, Cùng với xuất hiện các hiện tượng thờ cúng mới, các sinh hoạt tín ngưỡng và thực hành nghi lễ trong cư dân cũng gia tăng, không chỉ diễn ra vào dịp lễ hội, lễ tết, lễ giỗ, mà còn được thực hành đều đặn vào các ngày sóc vọng, những ngày gia đình cư dân có việc hệ trọng,... Lễ vật thờ cúng ngày nay cũng được cư dân chú trọng, mua sắm phong phú và đa dạng hơn so với truyền thống. Gắn liền với hệ thống tín ngưỡng là các lễ hội, lễ hội ở vùng ven biển Hà Tĩnh hiện nay có nhiều biến đổi: trong lễ hội đã sử dụng các thiết bị hiện đại, có phần nghi lễ và lễ dâng hương của cấp chính quyền và các đoàn thể chính trị. Về phong tục của cư dân ven biển Hà Tĩnh thời kỳ CNH, HĐH biểu hiện qua chu kỳ vòng đời người và nghề nghiệp, nhận thấy đây là những phong tục khá đặc thù như: tục treo cây chứa trước cổng khi gia đình có người mới sinh, tục chôn người chết đầu hướng ra biển; và những kiêng kỵ liên quan đến nghề đánh bắt, như: kiêng gặp phụ nữ mới sinh, kiêng nói các từ “lật”, “úp”, “chó”, “mèo”, kiêng đếm lưới,... Tuy nhiên, trên thực tế, sang thời kỳ CNH, HĐH một số phong tục truyền thống của cư dân ven biển Hà Tĩnh mất đi; một số phong tục còn được tồn tại nhưng mang thêm hơi thở, màu sắc mới của thời đại; một số phong tục được phục hồi có sự tái cấu trúc. 14 Chƣơng 3 THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ CỦA CƢ DÂN VEN BIỂN HÀ TĨNH QUA TIÊU DÙNG VĂN HOÁ 3.1. CÁC PHƢƠNG TIỆN TIÊU DÙNG VĂN HOÁ 3.1.1. Phƣơng tiện tiêu dùng văn hoá tại gia đình 3.1.1.1. Ti vi (truyền hình vô tuyến): Ti vi là một trong những phương tiện truyền thông quan trọng nhất, đáp ứng tốt mọi nhu cầu tiêu dùng văn hoá. Do đó, các phương tiện truyền thông mà người dân trang bị cho tiêu dùng văn hoá tại gia đình chiếm số lượng lớn nhất là ti vi. 3.1.1.2. Truyền hình cáp và các dịch vụ truyền hình khác: Việc xuất hiện và lắp đặt truyền hình cáp và các dịch vụ truyền hình trả tiền ở vùng ven biển Hà Tĩnh là bước khẳng định rõ nét sự phát triển nhu cầu tiêu dùng văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh. Hiện nay cư dân vùng ven biển Hà Tĩnh đã sử dụng phổ biến các loại dịch vụ truyền hình. 3.1.1.3. Internet: Ở vùng ven biển Hà Tĩnh số gia đình lắp đặt Internet khá nhiều. Ở khu kinh tế đánh bắt, có tới 24,2% số người được hỏi cho biết gia đình họ đã lắp đặt Internet, ở khu kinh tế du lịch có 25,2% và ở khu kinh tế công nghiệp là 46,1%. 3.1.1.4. Đài/radio: Theo bảng tổng hợp kết quả phiếu điều tra xã hội học về phương tiện truyền thông được trang bị tại các gia đình cư dân ven biển Hà Tĩnh cho thấy đài phát thanh/radio là phương tiện được cư dân sử dụng ít nhất. 3.1.2. Phƣơng tiện tiêu dùng văn hoá tại địa điểm công cộng Ngoài các hình thức, phương tiện tiêu dùng văn hoá tại gia đình, cư dân ven biển Hà Tĩnh ngày nay còn tham gia các hoạt động tiêu dùng văn hoá tại các thiết chế văn hoá, các địa điểm vui chơi, giải trí công cộng, như: Quán Karaoke, Quán Internet, Sân thể thao, sân tennis, sân patin, nhà văn hoá, điểm bưu điện và thư viện xã, khu vui chơi trẻ em,..Sự phong phú, đa dạng các thiết chế văn hoá công cộng và các điểm vui chơi giải trí hiện nay ở vùng ven biển Hà Tĩnh đã khẳng định tính sinh động về nhu cầu sinh hoạt văn hoá tinh thần, vui chơi giải trí của cư dân nơi đây. 15 3.2. NHU CẦU TIÊU DÙNG VĂN HOÁ 3.2.1. Qua các phƣơng tiện tiêu dùng văn hoá tại gia đình Thực trạng về nhu cầu tiêu dùng văn hoá qua các phương tiện truyền thông tại gia đình của cư dân ở ba khu kinh tế vùng ven biển Hà Tĩnh hiện nay rất lớn, ngày càng trở nên quan trọng và bức thiết trong đời sống của cư dân. 3.2.2. Qua các địa điểm, thiết chế văn hoá công cộng Tìm hiểu nhu cầu người dân đến với các thiết chế văn hoá và địa điểm vui chơi giải trí công cộng bằng số liệu điều tra xã hội học ở ba khu kinh tế cho thấy: quán karaoke và nhà văn hoá có số lượng cư dân đến nhiều nhất. Tiếp đến là quán Internet, đứng thứ tư là điểm bưu điện văn hoá xã. Có sức thu hút khá lớn hiện nay, được người dân lựa chọn khá cao, là sân tennist, sân patin. Đứng ở vị trí thấp nhất là thiết chế thư viện xã. 3.3. MỨC ĐỘ TIÊU DÙNG VĂN HOÁ 3.3.1. Qua các phƣơng tiện tiêu dùng văn hoá tại gia đình Mức độ tiêu dùng văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh hiện nay mang tính thường xuyên nhất là qua phương tiện ti vi, tiếp đến là truyền hình cáp (My TV) và Internet, thấp nhất trong cả ba khu kinh tế là đọc sách, báo và nghe đài. 3.3.2. Qua các địa điểm, thiết chế văn hoá công cộng Việc tiêu dùng văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh tại các thiết chế văn hoá, địa điểm vui chơi giải trí công cộng hiện nay ở mức độ thường xuyên không nhiều, chủ yếu cư dân thỉnh thoảng mới đến các thiết chế này. 3.4. NỘI DUNG TIÊU DÙNG VĂN HOÁ 3.4.1. Qua các phƣơng tiện tiêu dùng văn hoá tại gia đình 3.4.1.1. Xem trên ti vi Trong số 10 chương trình được đưa ra để tìm hiểu về những nội dung mà cư dân ở ba khu kinh tế thường xem trên ti vi, kết quả điều tra cho thấy “thời sự, tin tức”, “thể thao”, “ca nhạc”, “trò chơi giải trí”, “phim truyện”, là những chương trình thu hút được nhiều người xem nhất. Ngoài ra, các chương trình như phổ biến kiến thức, thế giới động vật, vòng quanh thế giới, hay quảng cáo cũng được cư dân quan tâm, nhưng không cao. 16 3.4.1.2. Xem trên truyền hình cáp và các dịch vụ truyền hình khác Kết quả điều tra xã hội học về 8 chương trình được đưa ra để khảo sát về các nội dung tiêu dùng văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh qua truyền hình cáp và dịch vụ My TV cho thấy tỷ lệ cư dân xem phim, xem ca nhạc, xem hoạt hình, xem các trò chơi giải trí, xem thể thao, xem các thông tin trên thế giới

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftom_tat_luan_an_doi_song_van_hoa_cua_cu_dan_ven_bien_ha_tinh.pdf
Tài liệu liên quan