Xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam_Thực trạng và giải pháp phát triển

Lời nói đầu Việt Nam gia nhập WTO, trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại lớn nhất toàn cầu là một sự kiện lịch sử lớn của nền kinh tế Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế theo phương châm đa phương hóa, đa dạng hóa cùa Đảng và nhà nước ta. Đó cũng cơ hội và cũng là thách thức lớn đối với việc xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam và đặc biệt là xuất khẩu các mặt hàng chủ lực vì chúng đóng góp một khối lượng lớn trong tổng kim ngạch xuât khẩu hàng hóa và mang lại nguồn thu

doc64 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1159 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam_Thực trạng và giải pháp phát triển, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
lớn cho đất nước. Hiện nay do đang trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu nên việc xuất khẩu các mặt hàng chủ lực còn găp nhiều khó khăn và thách thức lớn đặt ra cho các doanh nghiệp xuất khẩu phải làm sao tìm đúng hướng đi cho doanh nghiệp của mình. Là một sinh viên chuyên ngành Thương Mại trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội em nhận thấy việc nghiên cứu đề tài “Xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam_Thực trạng và giải pháp phát triển” Rất thiết thực vì nó phục vụ cho chuyên môn của em sau này.Thông qua kiến thức đã tiếp thu ở trên lớp cùng với sự giúp đỡ của thầy giáo, cô giáo bộ môn và việc tham khảo một số tài liệu em xin trình bày nội dung của đề án như sau: Chương 1: Tổng quan về việc xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam Chương 2: Thực trạng xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Chương 3: Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu và mở rộng thị trường cho các mặt hàng chủ lực của Việt Nam trong giai đoạn nền kinh tế khó khăn hiện nay Hoàn thành đề tài này, em xin chân thành cảm ơn GS.TS Đặng Đình Đào-giảng viên trường Đại học Kinh Tế Quôc Dân đã tận tình huớng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu. Do trình độ có hạn của người viết nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót cần bổ sung, em rất mong được sự xem xét và đóng góp ý kiến của thầy cô để đề tài nghiên cứu của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn! Chương 1: Tổng quan về việc xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam 1. Xuất khẩu và vai trò của xuất khẩu hàng hoá đối với sự phát triển kinh tế 1.1. Khái niệm về xuất khẩu Xuất khẩu là việc bán hàng hóa hoặc dịch vụ cho nước ngoài trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán. Cơ sở của hoạt động xuất khẩu là hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa (bao gồm cả hàng hóa hữu hình và hàng hóa vô hình) trong nước. Khi sản xuất phát triển và trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia có lợi, hoạt động này mở rộng phạm vi ra ngoài biên giới của quốc gia hoặc thị trường nội địa và khu chế xuất trong nước. Xuất khẩu là một hoạt động cơ bản của hoạt động ngoại thương, nó đã xuất hiện từ lâu đời và ngày càng phát triển từ hình thức cơ bản đầu tiên là trao đổi hàng hóa giữa các nước, cho đến nay nó đã rất phát triển và được thể hiện thông qua nhiều hình thức. Hoạt động xuất khẩu ngày nay diễn ra trên phạm vi toàn cầu, trong tất cả các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế không chỉ là hàng hóa hữu hình mà cả hàng hóa vô hình với tỷ trọng ngày càng lớn. 1.2. Lợi ích của xuất khẩu Xuất khẩu hàng hóa là một hoạt động nằm trong lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hóa của một quá trình tái sản xuât hàng hóa mở rộng, mục đích lien kết sản xuất và tiêu dùng của nước này với nước khác. Hoạt động đó không chỉ diễn ra ở các cá thể riêng biệt mà là có sự tham gia của toàn bộ hệ thống kinh tế với sự điều hành của nhà nước. Xuất khẩu hàng hóa là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế. Xuất khẩu hàng hóa có vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia nên sản xuất xã hội của một nước phát triển như thế nào phụ thuộc rất lớn vào hoạt động xuất khẩu. Thông qua xuất khẩu có thể làm gia tăng ngoại tệ thu được, cải thiện cán cân thanh toán, tăng thu ngân sách kích thích đổi mới công nghệ, cải biến cơ cấu kinh tế, tạo công ăn việc làm nâng cao mức sống của người dân. Đối với những nước có trình độ kinh tế còn thấp như nước ta, những nhân tố tiềm năng là tài nguyên thiên nhiên và lao động, còn những yếu tố thiếu hụt như vốn, thị trường và khả năng quản lý. Chiến lược hướng về xuất khẩu thực chất là giải pháp mở của nền kinh tế nhằm tranh thủ vốn và kỹ thuật của nước ngoài, kết hợp chúng với tiềm năng trong nước về lao động và tài nguyên thiên nhiên để tạo ra sự tăng trưởng mạnh cho nền kinh tế, góp phần rút ngắn khoảng cách với nước giàu. 1.3. Xuất khẩu với sự phát triển kinh tế Đặc trưng quan trọng của tình hình kinh tế thế giới ngày nay là xu hướng quốc tế hoá. Nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển, mỗi nước dù lớn hay nhỏ đều phải tham gia vào việc phân công lao động khu vực và quốc tế. Ngày nay, không một dân tộc nào có thể phát triển đất nước mình mà chỉ bằng tự lực cánh sinh. Đặc biệt đối với các nước đang phát triển như Việt Nam thì việc nhận thức đầy đủ những đặc trưng quan trọng này và ứng dụng vào tình hình thực tế đất nước có tầm quan trọng lớn hơn bao giờ hết. Ở nước ta, khi xác định những quan điểm lớn về công nghiệp hóa, hiện đại hoá, hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng đã khẳng định “ kiên trì chiến lược hướng mạnh về xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả, phát huy lợi thế so sánh của đất nước cũng như của từng vùng, từng ngành, từng lĩnh vực trong từng thời kỳ, không ngừng nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường trong nước, thị trường khu vực và thị trường thế giới”. Thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo trong những năm qua thương mại Việt Nam đã đạt được những thành tựu bước đầu quan trọng, góp phần tạo nên những biến đổi sâu sắc nền kinh tế-xã hội nước ta và vị thế mới trên thị trường quốc tế Việt Nam thiết lập được nhiều mối quan hệ ngoại giao với nhiều nước, tiếp tục mở rộng hoạt động ngoại thương theo hướng đa dạng hoá, đa phương hoá, tích cực hội nhập vào nền kinh tế thế giới tham gia các tổ chức thương mại quôc tế như ASEAN, AFTA, APEC, WTO...Điều này đã đặc biệt làm cho lĩnh vực xuất khẩu ngày càng trở nên sôi động và đó cũng là điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá trong nước mở rộng thị trường tìm kiếm cơ hội xuất khẩu. 1.4. Vai trò của xuất khẩu Xuất khẩu có vai trò cực kỳ quan trọng trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu: Để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, cần phải có một nguồn vốn lớn để nhập khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ hiện đại. Nguồn vốn ngoại tệ chủ yếu từ các nguồn xuất khẩu, đầu tư nước ngoài, vay vốn, viện trợ, thu từ hoạt động du lịch, các dịch vụ có thu ngoại tệ, xuất khẩu lao động...Xuất khẩu là nguồn vốn chủ yếu để nhập khẩu. Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế thúc đẩy sản xuất phát triển. Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển.Xuất khẩu không chỉ tác động tham gia tăng nguồn thu ngoại tệ mà còn giúp cho việc gia tăng nhu cầu sản xuất, kinh doanh của các ngành liên quan khác. Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước. Thông qua cạnh tranh trong xuất khẩu, buộc các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến sản xuất, tìm ra những cách thức kinh doanh sao cho có hiệu quả, giảm chi phí và tăng năng suất. Xuất khẩu tích cực giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống nhân dân. Xuất khẩu làm tăng GDP, làm gia tăng nguồn thu nhập quốc dân, từ đó có tác động làm tăng tiêu dùng nội địa đó là nhân tố kích thích nền kinh tế tăng trưởng. Xuất khẩu gia tăng sẽ tạo thêm công ăn việc làm trong nền kinh tế, nhất là trong ngành sản xuất cho hàng hoá xuất khẩu, xuất khẩu làm gia tăng đầu tư trong ngành sản xuất hàng hoá. 2. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Trong giai đoạn hiên nay theo Bộ Công Thương thì các mặt hàng xuất khẩu được coi là chủ lực khi mặt hàng đó có tổng kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD. Hiện nay Viêt Nam có 11 mặt hàng xuất khẩu chủ lực chủ yếu thuộc nhóm hàng công nghiệp, chế biến nông sản đó là: thuỷ sản, gạo, cà phê, cao su, dầu thô, dệt may, giầy dép, điện tử, linh kiện máy tính, sản phẩm gỗ và nhóm sản phẩm cơ khí, dây điện và cáp điện. Bảng1: Danh mục hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Mặt hàng Đơn vị 2003 2004 2005 2006 2007 2008 Dầu thô Nghìn tấn 17142,5 19500,6 17966,6 16442,0 15061,5 13075,3 Than đá Nghìn tấn 7261,9 11631,1 17987,8 29308,0 31947,9 19035,4 Hải sản Tr.USD 2199,6 2408,1 2732,5 3358,0 3763,4 4051,2 Giày dép Tr.USD 2260,5 2691,1 3038,8 3595,9 3994,3 4077.2 Dệt may Tr.USD 3609,1 4429,8 4772,4 5854,8 7749,7 9012,3 Gạo Nghìn tấn 3810,0 4063,1 5254,8 4642,0 4557,5 4074,3 Gỗ và sản phẩm gỗ Tr.USD 608,9 1101,7 1561,4 1943,1 2404,1 2083,1 Cà phê Nghìn tấn 749,4 976,2 912,7 980,9 1229,2 1006,3 Cao su Nghìn tấn 432,3 523,4 554,1 704,0 714,9 658 Sản phẩm điện tử và linh kiện Tr.USD 854,7 1062,4 1427,4 1807,8 2154,8 2064,2 Dây điện và dây cáp điện Tr.USD 291,7 389,7 518,2 705,7 883,0 1001,3 Nguồn: Tổng cục thống kê- Niên giám 2008 Đánh giá của Bộ Công Thương cho thấy năm 2009 sẽ là năm nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sẽ phải vượt qua những khó khăn lớn. Cụ thể, nhóm hàng khoáng sản khó có khả năng tăng trưởng trong năm 2009 do sản lượng dầu thô và than đá xuất khẩu giảm mạnh để phục vụ nhu cầu sản xuất và tiêu thụ trong nước, giá xuất khẩu sẽ không ở mức cao như năm 2008. Ước tính kim ngạch nhóm này đạt khoảng 5,92 tỷ USD, giảm 5,97 tỷ USD tương đương với giảm 50,02% so với năm 2008.Nhóm hàng nông, lâm, thuỷ sản cũng bị xếp vào diện khó có khả năng tăng trưởng cao do hạn chế về cơ cấu sản lượng và đặc biệt giá các mặt hàng chủ lực sẽ ở mức thấp so với năm 2008. Dự bao, kim ngạch nhóm này đạt khoảng 12,23 tỷ USD, giảm 6,28 triệu USD so với năm 2008. Một số mặt hàng có tỷ trọng lớn cần phấn đấu là thuỷ sản trên 5,1 tỷ USD, cà phê trên 2,1 tỷ USD, gạo trên 1,95 tỷ USD. Dù được xếp vào diện quan trọng nhất nhưng nhóm hàng công nghiệp chế biến năm 2009 dự kiến cũng chỉ đạt khoảng 52,9 tỷ USD, tăng 38,7% so với năm 2008. Trong đó cần đặc biệt quan tâm chỉ đạo một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn là dệt may 11,5 tỷ USD, giầy dép 5,1 tỷ USD, hàng điện tử và linh kiện máy tính 4,1 tỷ USD, sản phẩm gỗ 3 tỷ USD. Đồng thời tiếp tục mở rộng thị trường để xuất khẩu các mặt hàng tiềm năng như nhựa, túi xách... Các thị trường chủ lực của ta trong năm 2009 sẽ vẫn là thị trường Châu Á ( Nhật Bản, ASEAN, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông), Châu Âu chủ yếu la thị trường EU, Bắc Mỹ (Mỹ, Canada) và Châu Đại Dương (Australia). Ngoài ra, tiếp tục khai thác, thâm nhập một số thị trường truyền thống hoặc thị trường mới như Nga, Trung Đông, Mỹ La Tinh, Châu Phi. Báo cáo của Bộ Công Thương cũng cho biết trong năm 2009, tiếp tục thực hiện cam kết quốc tế Việt Nam sẽ phải cắt giảm thuế đối với toàn bộ biểu thuế khoảng 10.600 dòng để đến năm 2010 sẽ giảm còn 13,4% theo cam kết WTO. 3. Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu các mặt hàng chủ lực Trước trào lưu hội nhập các doanh nghiệp Việt Nam đã có nhiều cơ hội để phát triển song cũng gặp không ít khó khăn. Một doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường quốc tế phải đối mặt với vô số những nhân tố nằm ngoài tầm kiểm soát của mình các nhân tố quan trọng và ảnh hưởng nhiều nhất đối với việc xuất khẩu các mặt hàng chủ lực trong đó có môi trường chính trị, môi trường kinh tế…Và một trong những yếu tố nan giải nhất là pháp luật. Môi trường chính trị cũng tác động rất lớn tới hoạt động xuất khẩu hàng hóa đặc biệt là đối với các mặt hàng chủ lực.Chính trị có ổn định thì việc xúc tiến xuất khẩu hàng hóa sẽ đẩy nhanh và gặp nhiều thuân lợi.Độ ổn định chính trị sẽ tạo động lực lớn cho việc xuất khẩu hàng hóa. Thông qua xu hướng toàn cầu hóa thì môi trường kinh tế quốc tế đã tác động mạnh mẽ vào nền kinh tế nước ta nói chung và hoạt động xuất khẩu của nước ta nói riêng. Sau khi Việt Nam gia nhập WTO thì sẽ được ưu đãi dành cho các nước đang phát triển theo qui chế tối hệ quốc trong quan hệ với các nước trong khu vực và trên trên thế giới. Môi trường kinh tế thuận lợi sẽ tạo điều kiện cho nước ta đẩy mạnh xuất khẩu để khai thác triệt để lợi thế so sánh về lao động, tài nguyên của nước ta để phát triển sản xuất trong nước thông qua đó đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu và đáp ứng được nhu cầu của thị trường thế giới. Sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp trong kinh doanh quốc tế phụ thuộc phần lớn vào doanh nghiệp có am hiểu các chính sách, các luật lệ của nước sở tại hay không. Cho dù doanh nghiệp đóng ở đâu cũng bị ảnh hưởng của hệ thống luật pháp và các chính sách của chính phủ nước đó. Thất bại trong việc nghiên cứu yếu tố môi trường pháp luật và các ảnh hưởng của nó đến các hoạt động kinh doanh của mình sẽ dẫn đến những hậu quả không lường trên thị trường quốc tế. Trên thực tế đã có nhiều bài học đau đớn xảy ra đối với các doanh nghiệp làm công tác xuất khẩu không nghiên cứu kỹ môi trường pháp luật. Một bài học khá đau đớn đối với một công ty XNK Đà Nẵng là khi xuất khẩu một lô hàng mây tre đan sang Australia mà không biết quy định về pháp lý là hàng hoá phải được hun trùng trước khi đưa vào cảng Australia. Kết quả là toàn bộ lô hàng không được chấp nhận và bị bắt huỷ tại chỗ. Thiệt hại ở đây không chỉ đối với hàng hoá mà doanh nghiệp còn phải chịu toàn bộ chi phí huỷ lô hàng. Chi phí này lớn hơn trị giá lô hàng. Những quy định về pháp lý đối với hàng hoá đưa vào Australia rất nghiêm ngặt nhất là hàng tươi sống. Trường hợp 480 tấn dưa hấu của Việt Nam xuất khẩu sang Indonesia bị trả lại cũng là do không biết về quy định pháp lý đối với hàng hoá tươi sống nhập khẩu vào Indonesia. Hàng hoá tươi sống nhập khẩu vào Indonesia phải có giấy chứng nhận của Công ty giám định Thuỵ Sĩ (SGS). Nhưng khi đưa dưa hấu vào Indonesia, Việt Nam lại lấy chứng nhận của Công ty giám định Việt Nam VINACONTROL. Ví dụ về những bài học thất bại nêu trên của các doanh nghiệp Việt Nam cho chúng ta thấy tầm quan trọng của yếu tố pháp luật trong kinh doanh quốc tế. Việc nghiên cứu và hiểu rõ môi trường pháp luật trong nước, môi trường pháp luật ngoài nước, môi trường pháp luật quốc tế và đặc biệt là việc nghiên cứu ảnh hưởng của nó đến các hoạt động kinh doanh quốc tế trở nên cấp thiết đối với các nhà hoạt động kinh doanh muốn thành công trên thương trường quốc tế. Luật lệ của các chính phủ đưa ra cũng nhằm bảo vệ quyền lợi của xã hội. Các luật lệ này một mặt duy trì cạnh tranh, mặt khác lại bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. Những luật lệ như vậy không những làm tăng chi phí kinh doanh của các công ty mà còn làm ảnh hưởng đến chiến lược marketing ở bất kỳ khâu nào trong bốn khâu (product, price, place, promotion) của marketing hỗn hợp. - Khâu kênh phân phối Ở hầu hết các nước, nhà sản xuất không được quyền lựa chọn nhiều kênh phân phối, nhưng ở Mỹ nhà sản xuất lại được phép. ở châu Âu, các nhà kinh doanh độc lập buôn bán máy tính cá nhân nhưng luật lệ của EC lại hạn chế việc quản lý phân phối máy loại cỡ trung của công ty IBM. Kết quả là IBM buộc phải sử dụng đại lý bán hàng độc lập ăn hoa hồng, một loại kênh phân phối sản phẩm không hiệu quả lắm. Các doanh nhân ở Tây Ban Nha đã gặp không ít khó khăn do lệnh cấm chuyển những gói quà đến tận nhà người nhận. Người tiêu dùng Tây Ban Nha phải đến tận bưu điện trung tâm để nhận, như vậy đã hạn chế rất nhiều việc gửi quà bằng bưu điện. Về bán lẻ, không phải lúc nào cũng luôn sẵn có những nhà bán lẻ của các loại mặt hàng. Nếu có thì hiệu quả cũng bị hạn chế. Ở Nhật Bản, dưới sự bảo trợ của luật pháp, các cửa hiệu nhỏ chiếm lĩnh ngành công nghiệp bán lẻ. Luật pháp cho phép các cửa hàng bán lẻ lân cận có quyền không chấp nhận bất kỳ một kế hoạch mở cửa hàng mới nào có diện tích lớn hơn 27.000 feet vuông (2.508,3 m2) hay kế hoạch mở rộng các cửa hàng sẵn có. Quy định hạn chế việc phát triển và mở rộng hệ thống cửa hàng bán lẻ và siêu thị này đã buộc các nhà sản xuất và các nhà nhập khẩu phải bán hàng qua các cửa hiệu bán lẻ nhỏ - một loại kênh phân phối có chi phí khá lớn. Nhiều người cho rằng luật pháp đã hình thành bức rào cản trở thương mại vì các nhà bán lẻ nhỏ ít có khả năng dự trữ hàng và bán hàng nhập khẩu. Ở một số nước, bán hàng lẻ còn bị ảnh hưởng bởi cái gọi là hệ thống “Luật xanh” cổ điển. Luật này không cho phép các cửa hiệu mở cửa vào các ngày chủ nhật. Ở Anh và Wales, vào ngày chủ nhật người ta được phép mua một quyển sách đồi trụy nhưng không được phép mua một quyển sách kinh thánh; được phép mua rượu whisky hay rượu gin, nhưng không được phép mua sữa khô ở trong thùng; được phép mua bưu thiếp, nhưng không được mua thiếp chúc mừng sinh nhật; được phép mua rau quả tươi chứ không được mua rau quả hộp; được phép mua thức ăn cho ngựa, nhưng không được mua thức ăn cho chó, mèo. Vấn đề mở cửa hiệu vào ngày chủ nhật hay không do một vài ngụ ý tôn giáo hay tín ngưỡng đã gây nên những tranh luận trong công chúng, làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh. - Khâu xúc tiến Do chưa thấy hết được tầm quan trọng của quảng cáo trong kinh doanh, nhiều nước đã đánh thuế trực tiếp vào những hoá đơn quảng cáo, các hãng quảng cáo, các phương tiện thông tin đại chúng. Một vài chính phủ sử dụng thuế quảng cáo để giảm bớt quảng cáo, do vậy có thể giảm được lạm phát và nhu cầu. Một vài chính phủ khác lại sử dụng việc hạn chế quảng cáo như một hàng rào phi thuế quan đối với hàng ngoại. Ví dụ: Nhật Bản không cho phép thuốc lá ngoại quảng cáo bằng tiếng Nhật. Một số nước không cho phép những vật phẩm quảng cáo sản xuất ở nước khác trưng bày ở nước mình. Australia yêu cầu tất cả những quảng cáo trên tivi phải được các nhà sản xuất phim địa phương quay. Nam Phi và Mêhicô yêu cầu những sản phẩm bán ở nước này phải là những sản phẩm đã được quảng cáo ở đây. Nếu có một luật lệ chung cho tất cả các nước thì đó là luật cấm quảng cáo sai sự thật hay gian dối. Đức yêu cầu các thông tin về hàng hoá phải đúng, chính xác và không được mơ hồ. Hãng Simpson-Sears, hãng bán lẻ lớn nhất của Canađa bị chính quyền địa phương phạt 800.000 USD do các quảng cáo trên catalô và báo dẫn đến sự hiểu lầm. Còn một vấn đề nữa mà các công ty phải chú ý đó là ý nghĩa các quảng cáo được hiểu theo các cách khác nhau. Một quảng cáo ở một nước được hiểu theo cách này thì ở nước khác có thể lại được hiểu theo một cách hoàn toàn khác. Điều này đòi hỏi các nhà kinh doanh quốc tế phải nghiên cứu và rất thận trọng trong lời lẽ quảng cáo dùng ở các nước khác nhau. - Khâu giá Không phải mọi lúc, mọi nước đều áp dụng hệ thống thị trường tự do. Chứng minh cho điều này là ngành công nghiệp dược phẩm của các nước EU. Do luật sức khoẻ của từng nước và cơ chế quản lý giá đã tạo ra một sự khác biệt khoảng 600% về giá giữa nước EU này và nước EU khác. Quản lý giá là chính sách chung của nhiều nước. ở Mỹ, tuy không phổ biến, nhưng chính sách này đôi khi cũng được áp dụng. Mục đích chung của chính sách quản lý giá là bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và kiềm chế lạm phát. Nhìn chung các doanh nghiệp không còn lựa chọn nào khác mà phải tuân thủ chính sách quản lý giá và lương của chính phủ. Mặc dù việc quản lý giá là cần thiết, song nhiều nước cũng thấy được vai trò của cạnh tranh giá cả. Do vậy, một vài biện pháp can thiệp vào giá cả thị trường bị luật pháp cấm. Một biện pháp can thiệp vào giá cả thị trường được coi là bất hợp pháp ở nhiều nước là biện pháp phân biệt giá. Ở Mỹ, đạo luật Robinson Patman đã cấm hành động phân biệt giá cả. Liên minh châu Âu cũng đang chuyển dần tới xu hướng như vậy. Liên minh châu Âu đã đưa vào luật của EU nguyên tắc bình đẳng giá cả và đánh giá chi phí. Chiết khấu phải cân xứng với hoạt động kinh doanh của các nhà buôn và phải trực tiếp liên quan đến việc giảm giá thành sản xuất. Năm 1981, hãng Michelin bị phạt 700.000 USD do khoản chiết khấu phân biệt đối xử cho các thương gia Hà Lan do luật cấm chiết khấu số lượng cộng dồn. Quan điểm của Liên minh châu Âu về chiết khấu không phải được nhất trí ở mọi nơi. Pháp, Tây Đức, Anh không hoàn toàn phản đối việc chiết khấu phân biệt đối xử. Anh cho phép các cửa hàng bán lẻ chiết khấu có lợi cho những người mua với số lượng lớn. Pháp cũng cho phép chiết khấu có lợi cho những tiến bộ về kinh tế và xã hội. - Sự thay đổi thường xuyên của pháp luật Nếu luật pháp giữ mãi không đổi, các nhà làm luật sẽ nhanh chóng bị thất nghiệp. Vì vậy, luôn có những luật mới ra đời, có những thay đổi trong luật cũ và những văn bản dưới luật giải thích mới cho luật hiện hành. Những thay đổi này có thể gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp. Những luật mới thường đưa ra những trở ngại và thách thức mới. Những nhà kinh doanh quốc tế luôn phải sẵn sàng đối phó với những thử thách mới, cơ hội mới khi có luật mới ban hành cùng với những thay đổi thường xuyên và nhanh chóng trong các tiêu chuẩn về kinh tế - xã hội, và các tiêu chuẩn về pháp luật. Một thị trường đã bị đóng có thể đột nhiên được mở cửa v.v… do sự thay đổi của luật pháp. Mãi đến những năm đầu 80, Đức và các nước châu lục vẫn còn do dự không cho phép phát hành thẻ gia hạn tín dụng ngân hàng, vì họ không muốn mất quyền kiểm soát mức cho vay tín dụng và mức cung tiền - hai nhân tố gây lạm phát. Kết quả là chỉ có thẻ đảm bảo séc hay thẻ du lịch (Ví dụ: thẻ American Express và Diner’s Club) được phép phát hành. Các nước Hà Lan, Bỉ và Lucxembua trước đây ngân hàng trung ương của họ không được phép phát hành thẻ tín dụng, thì bây giờ, do có luật mới ban hành, nên đã có thể phát hành thẻ VISA (VISA CARDS) và các loại thẻ gia hạn tín dụng khác. - Những kẽ hở của luật pháp Mặc dù các doanh nghiệp phải tuân thủ mọi pháp luật hiện hành, song không thể hoàn toàn phó mặc hoàn cảnh mà cần phải tìm cách khắc phục. Chính sách “ba không” của Đài Loan: không quan hệ, không đàm phán và không nhượng bộ với Trung Quốc đã không ngăn cản Đài Loan buôn bán với Trung Quốc khoảng 2 tỷ USD một năm. Họ đạt được kim ngạch như vậy bằng con đường chuyển tải hàng hoá qua Hồng Kông và các cảng của nước thức ba khác. Một công ty đa quốc gia có thể rời bỏ một nước nếu như luật nước đó gây quá nhiều khó khăn phức tạp không bù đắp lại được những chi phí bỏ ra trong kinh doanh. Nếu việc rời bỏ không thực tiễn hay ngoài ý muốn của nước sở tại thì công ty có thể tác động nhằm thay đổi luật. Trong một vài trường hợp, luật pháp có thể cố tình hay vô tình để một vài kẽ hở về mặt kỹ thuật. Các công ty đa quốc gia với mạng lưới kinh doanh quốc tế thường có khả năng lợi dụng những sơ hở của luật pháp để làm lợi cho mình. - Pháp quyền và đặc quyền Không có đạo luật quốc tế nào áp dụng cụ thể cho các hoạt động kinh doanh của công ty trên vũ đài quốc tế, chỉ có luật quốc gia của các nước khác nhau. Vì vậy, khi chuẩn bị hợp đồng cần phải quy định rõ khi có tranh chấp thì sẽ vận dụng hệ thống luật nào và toà án nào. Các công ty cần luôn luôn nhớ rằng thắng một vụ kiện ở toà án nước mình là một chuyện nhưng để bắt đối phương nước ngoài thi hành phán quyết đó thì lại hoàn toàn là một chuyện khác. Việc thi hành phán quyết thật là khó khăn, trừ phi đối tác nước ngoài vẫn muốn tiếp tục làm ăn ở nước đưa ra phán quyết đó. Việc đưa ra toà án một vụ tranh chấp ở nước người bị cáo thường là cần thiết. Để đảm bảo chắc chắn rằng toà án nước ngoài có quyền xử những vụ tranh chấp này, hợp đồng phải bao gồm điều khoản cho phép công ty có thể thưa kiện ở nước mình hay nước ngoài (nước sở tại). Các nhà hoạt động kinh doanh quốc tế cần phải nhận thức rằng một công ty không dễ gì trốn tránh trách nhiệm ở nước ngoài bằng cách suy nghĩ rằng toà án nước ngoài không có quyền xử kiện. Trường hợp công ty hữu hạn Duple Motor Body Works - một công ty của Anh là một bằng chứng. Công ty Duple cung cấp thân xe buýt cho công ty Vauhall Motor, một công ty Anh khác, để lắp ráp xe buýt tại Anh cho khách hàng ở Hawaii (Mỹ). Khi có một công nhân bị thương và liên quan đến trách nhiệm sản phẩm, vụ việc này được đưa ra toà án ở Hawaii. Tuy nhiên, công ty Duple tuyên bố rằng toà án Hawaii không có thẩm quyền, vì họ cho rằng Duple không quảng cáo cũng không bán hàng tại Hawaii. Nhưng công ty Duple biết rõ rằng thân xe của công ty cuối cùng cũng được sử dụng tại Hawaii. Điều này có thể là bằng chứng để toà án Hawaii phán xử Duple. Bất kỳ khi nào có thể và có khả năng thực hiện công ty nên cân nhắc đến trọng tài thương mại thay cho việc xét xử ở toà án. Các thủ tục xét xử qua trọng tài có nhiều lợi thế như xét xử khách quan, nhanh chóng có kết quả và những quyết định của trọng tài thường là quyết định của các chuyên gia có trình độ về chuyên môn. Trường hợp công ty IBM và Fujitsu, cả hai công ty đều rất thoả mãn với những phán quyết của hai trọng tài trong vụ giải quyết tranh chấp về bản quyền tác giả. Ngược lại, công ty Intel không sử dụng trọng tài đã thất vọng với tốc độ xét xử tại toà án vụ kiện về bản quyền của công ty chống lại công ty NEC. Sau những vụ xét xử dài, mất thời gian, một chánh án thuộc một bang ở Mỹ đã phán quyết là công ty Intel được nắm giữ bản quyền hợp pháp. Vụ việc trở nên phức tạp hơn nhiều khi toà án cấp cao hơn phải mất một năm nữa mới quyết định được là ngài chánh án kia không có đủ tư cách, do ông ta có cổ phiếu ở công ty Intel với trị giá 800 bảng Anh thông qua một câu lạc bộ đầu tư. Cuối cùng người chánh án này phải bị hạ bậc và tranh chấp lại được lệnh xét xử lại. Khi trọng tài là tình nguyện chứ không phải bắt buộc còn có thêm một lợi thế liên quan đến vấn đề thẩm quyền xét xử. Lợi thế này được quy định bởi Công ước New York của Liên Hiệp Quốc năm 1958 về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài. Công ước đưa ra những quy định thống nhất cho các quốc gia ký kết hợp đồng, công nhận và thi hành những phán quyết của trọng tài do những nước thành viên đưa ra với những nguyên tắc và quyền hạn riêng biệt (1). Công ước này đã loại bỏ thẩm quyền xét xử của toà án sở tại đối với những vấn đề đã được trọng tài phán quyết. Một khía cạnh nữa của luật pháp không được đông đảo chấp nhận liên quan đến việc áp dụng đặc quyền của luật pháp. Một quốc gia muốn bảo vệ lợi ích của riêng mình thường áp dụng luật của chính mình cho các hoạt động bên ngoài lãnh thổ. Như vậy, một công ty Mỹ kinh doanh ở ngoài nước Mỹ vẫn phải tuân thủ luật pháp của Mỹ. Mâu thuẫn hơn nữa đó là các hoạt động của các công ty con và các chi nhánh ở nước ngoài. Mặc dù sở hữu là của công ty Mỹ nhưng các chi nhánh nước ngoài là những công ty phi Mỹ trên đất hải ngoại. Một câu hỏi được đặt ra ở đây là liệu các công ty con này có phải tuân thủ luật pháp của chính phủ Mỹ hay không? Đáp lại lệnh cấm của Tổng thống Reagan năm 1986, cấm các công ty Mỹ buôn bán với Libi sau những vụ khủng bố ở Vienna và các sân bay ở Rome, các công ty Mỹ phải tuân thủ những lệnh này, nhưng lại không cấm các chi nhánh và công ty con của mình ở nước ngoài làm ăn với Libi như thường lệ với lý do là các nhân viên người Mỹ không đóng ở đó. Khi một quốc gia có ý định áp dụng những văn bản đặc biệt, nó có thể làm phật lòng các bạn hàng và các đồng minh chính trị. Trước đây, Mỹ đã nhiều lần bị đặt vào thế rất khó xử. Mỹ làm Canada phải tức giận khi chính phủ Mỹ cố ngăn chặn việc các công ty con của các công ty Mỹ đóng tại Canada bán hàng cho Cuba. Mỹ còn tạo ra một làn sóng giận dữ ở châu Âu khi Mỹ cấm các chi nhánh của mình ở châu Âu tham gia vào dự án đường ống dẫn dầu của Liên Xô (cũ). Từ những bài học đắt giá này, hiện nay Mỹ có ý định tránh những tranh chấp về hiệu lực của những văn bản này. Trong lệnh cấm vận về thương mại chống lại Nicaragua, Mỹ rất thận trọng không gây nên những xung đột không cần thiết với các đồng minh ở Trung Mỹ, bởi vì Nicaragua có kim ngạch buôn bán khá lớn với 4 nước khác của khối thị trường chung Trung Mỹ (Guatemela, El Salvador, Honduras và Costa Rica). Mỹ không muốn gây ra những gián đoạn về thương mại làm tổn thương đến nền kinh tế của những nước này và các nước đồng minh khác. Kết quả là Nicaragua vẫn có thể mua được phụ tùng của Mỹ qua đường Canada và Mêhicô. Vậy là lệnh cấm vận của Mỹ chỉ mang tính chất chính trị hơn là cấm vận về kinh tế. Môi trường pháp luật rất phức tạp và đa dạng. Hệ thống pháp luật khác nhau tác động khác nhau đối với các hoạt động kinh doanh. Việc tác động qua lại giữa môi trường pháp luật trong nước, môi trường pháp luật ngoài nước và môi trường pháp luật quốc tế tạo ra vô số những cơ hội mới song cũng gây nên không ít những khó khăn, chướng ngại vật mới cho kinh doanh. Một công ty hoạt động trên quy mô quốc tế không những phải tuân thủ luật pháp nước mình mà còn phải tuân thủ luật pháp nước sở tại. Một doanh nhân hoạt động trên phạm vi quốc tế cần phải hiểu rõ luật pháp nước sở tại liên quan đến cạnh tranh, định giá, phân phối, trách nhiệm sản phẩm, bằng sáng chế, nhãn hiệu và quảng cáo v.v… Ngoài việc phải chú ý đến luật pháp nước mình, luật pháp nước sở tại, các nhà kinh doanh quốc tế còn cần phải biết đến những quy định có tính bắt buộc của các điều ước quốc tế hữu quan. Làm được những điều nêu trên, các nhà hoạt động kinh doanh quốc tế mới có cơ hội thành công trên thương trường quốc tế . Chương 2: Thực trạng xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam 1. Khái quát về hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam 1.1 Kết quả hoạt động xuất khẩu của Việt Nam Trong giai đoạn 2001-2007, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu không ổn định. Năm 2001, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu chỉ đặt 2,7% do tình hinh kinh tế chính trị thế giới biến động. Chỉ số này đã được cải thiện vào năm 2002, và bứt phá trong hai năm 2004-2005. Sau khi suy giảm nhẹ vào năm 2005, tốc độ tăng trưởng tiếp tục giữ ở mức cao, đặc biệt năm 2007 là 28,9%, cao nhất trong 7 năm của giai đoạn 2001-2007. Tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm đạt 20,5%. Nguồn: Tổng cục thống kê 2008 Kim ngạch cả năm 2008 ước đạt xấp xỉ 63 tỷ USD, tăng trên 29,5% so với năm 2007. Kim ngạch của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 34,78 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 55,4% tăng 25,5% so với năm 2007 của khu vực doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài ước đạt 28,02 tỷ USD chiếm tỷ trọng 44,6% tăng 34,9% so với năm 2007 Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu giữ được ở mức cao do trong những tháng đầu năm dầu thô, than đá và nhiều mặt hàng nông sản gặp thuận lợi về giá và thị trường xuất khẩu. Những mặt hàng có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao như gạo, nhân điều, khoáng sản. Ngoài 10 mặt hàng có kim ngạch trên 1 tỷ USD đã thực hiện được từ năm 2007 (chủ yếu thuộc nhóm hàng công nghiệp chế biến, nông sản) là thủy sản, gạo, cà phê, cao su, dàu thô, dệt may, giầy dép, điện tử và linh kiện máy tính, sản phẩm gỗ và nhóm sẩn phẩm cơ khí, thì trong năm 2008 còn xuất hiện them một mặ hàng nữa là dây điện và cáp điện. Nguồn: Bộ Công Thương-2008 Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực có khối ._.lượng giảm nhưng do giá thế giới tăng mạnh nên về mặt giá trị gia tằng khá so với năm 2007 như: Dầu thô tăng 23,1% nhưng lượng giảm 7,7% , than đá tăng 44,3% nhưng lượng giảm 38,3%, ca phê tăng 5,8% nhưng lượng giảm 18,3%, cao su tăng 14,6% nhưng lượng giảm 9,8%, chè tăng 12,2% nhưng lượng giảm 8,8%. Sản phẩm tàu thuyền, sản phẩm từ gang thép, sản phẩm từ cao su có sức tăng trưởng cao so với năm 2007, là những mặt hàng có triển vọng tăng mạnh trong những năm tới. Mức tăng trưởng của các khu vực thị trường có sự thay đổi, xuất khẩu sang thị trường Châu Phi tăng 95,7%, Châu  tăng 37,8%, Châu Đại Dương tăng 34,9% , nhưng tăng chậm lại đối với Châu Mỹ (21,9%), Châu Âu (26,3%). Cơ cấu thị trường hàng hóa có sự chuyển dịch, thị trường Châu Á chiếm 44,5% (năm 2007 là 41,9%), Châu Âu chiếm 18,3% (năm 2007 là 18,7%),Châu Mỹ là 20,6% (năm 2007 là 21,9%), Châu Đại Dương là 6,7% ( nẵm 2007 là 6,4%), Châu Phi là 1,9% (năm 2007 là 1,27%). Tháng 2 năm 2009, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 4,3 tỷ USD, tăng 25,1 % so với tháng 2/2008. Trong đó, khu vực doanh nghiệp 100 % vốn trong nước ước đạt 2,5 tỷ USD, tăng 86,3 %, khu vục doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1,8 tỷ USD, giảm 14 %. Tuy nhiên, tính chung 2 tháng kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt khoảng 8,02 tỷ USD, giảm 5 % so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực doanh nghiệp 100 % vốn trong nước ước đạt 4,25 tỷ USD tăng 20,6 % so với cùng kỳ. Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 3,8 tỷ USD, giảm 23,4 % so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu tháng 2 tăng so với tháng 2/2008 chủ yếu do tăng lượng xuất khẩu của một số mặt hàng nông sản đang vào thời vụ thu hoạch như: cà phê tăng 74,4 %, nhân điều tăng 83,3 %, chè các loại tăng 60%, hạt tiêu tăng 186,9%, gạo tăng 98,2%. Tuy nhiên, ngoài mặt hàng gạo và nhân điều thì giá của các mặt hàng nông sản đều giảm đã ảnh hưởng đến tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của nhóm mặt hàng này. Nhóm mặt hàng khoáng sản, lượng xuất khẩu dầu thô tăng 42,6%. Tuy nhiên, do giá xuất khẩu giảm mạnh làm kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này giảm 35,1%; lượng xuất khẩu than đá giảm 7,2% nhưng do giá xuất khẩu tăng nên kim ngạch xuất khẩu tăng 5,3%; Riêng mặt hàng quặng và khoáng sản khác, kim ngạch xuất khẩu đạt thấp, chỉ bằng 37,5% so với tháng 2/2008. Kim ngạch xuất khẩu nhóm các mặt hàng công nghiệp chế biến tăng so với cùng kỳ như: sản phẩm hoá chất tăng 281,0%, thuỷ tinh và sản phẩm thuỷ tinh tăng 44,2%, sản phẩm từ sắt thép tăng 46,4%, hoá chất tăng 33,3%, dệt may tăng 25%, da giầy tăng 27%, sản phẩm chất dẻo tăng 19,6%. Ngoài ra, đóng góp vào mức tăng chung còn có một số mặt hàng khác như: túi xách, va li và ô dù, mây, tre, cói, thảm, giấy, ... với mức tăng trưởng từ 5- 10%. Cũng trong nhóm hàng này nhưng sản phẩm gỗ giảm 13,9% và hàng điện tử và linh kiện máy tính giảm 4,2%. Ngoài nhóm mặt hàng trên, mặt hàng đá quý, kim loại quý và sản phẩm (chủ yếu là vàng) đóng góp vào tăng trưởng xuất khẩu (khoảng 800 triệu USD), nếu loại trừ yếu tố này thì xuất khẩu của Việt Nam chỉ tăng khoảng hơn 2%. Nguyên nhân kim ngạch xuất khẩu tháng 2 tăng do: Nhiều mặt hàng nông sản của Việt Nam đang vào vụ thu hoạch nên lượng xuất khẩu tăng; giá vàng trong nước thấp hơn giá vàng thế giới khiến các doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng này tận dụng thời cơ để xuất khẩu gây yếu tố xuất khẩu vàng đột biến tăng cao. Bên cạnh những mặt hàng xuất khẩu tăng trong tháng 2 còn có một số mặt hàng công nghiệp chế biến như sản phẩm gỗ, cao su, sản phẩm từ cao su, hàng điện tử và linh kiện máy tính, dây điện và cáp điện do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nhu cầu tiêu thụ giảm, các nhà đầu tư nước ngoài thu hẹp sản xuất,... đã ảnh hưởng đến gia tăng kim ngạch xuất khẩu ,đáng chú ý là kim ngạch xuất khẩu của khối các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 2 tháng năm 2009 giảm 23,4% so với cùng kỳ. Kim ngạch nhập khẩu tháng 2 ước đạt 4,4 tỷ USD, giảm 28,6% so với với cùng kỳ, nhưng tăng 32 % so với tháng 1/2009. Trong đó, khu vực doanh nghiệp 100% vốn trong nước ước đạt 2,8 tỷ USD, giảm 35,8%; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1,6 tỷ USD, giảm 11,2%. Tính chung 2 tháng kim ngạch nhập khẩu ước đạt 7,73 tỷ USD, giảm 43,1% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực doanh nghiệp 100% vốn trong nước ước đạt 4,91 tỷ USD, giảm 48,7%; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 2,8 tỷ USD, giảm 29,8%. Kim ngạch nhập khẩu 2 tháng giảm cả về lượng và trị giá ở hầu hết các mặt hàng là nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp chế biến. Các mặt hàng tiếp tục giảm sâu như: phôi thép giảm 76,8%, ô tô nguyên chiếc giảm 72,9%, thép giảm 71,6%, thức ăn gia súc giảm 61,2%, gỗ giảm 55,8%, bông giảm 54,3%, xăng dầu giảm 52,9%,... nguyên nhân chính do nhu cầu tiêu dùng trên thế giới giảm, việc ký kết hợp đồng mới khó khăn, sản xuất chững lại dẫn đến nhập khẩu nguyên liệu cho sản xuất giảm. Nhóm các mặt hàng tiêu dùng cũng giảm do tình hình kinh tế khó khăn, nhu cầu tiêu dùng nội địa giảm. Ngoài nguyên nhân do khủng hoảng kinh tế thế giới, ước tính sự biến động giảm của một số mặt hàng nhập khẩu chủ yếu đóng góp khoảng 16,1% vào mức giảm của kim ngạch nhập khẩu. 1.2 Những thành tựu và hạn chế trong hoạt động xuất khẩu hàng hóa 1.2.1 Những thành tựu Năm 2008 do chịu ảnh hưởng của biến động kinh tế thế giới nên xuất khẩu diễn biến không theo qui luật, những tháng đầu năm xuất khẩu gặp thuận lợi về giá, kim ngạch xuất khẩu đặt mức cao trong 2 tháng 7 và 8 tuy nhiên đến tháng 9 xuất khẩu giảm mạnh và tiếp tục giảm trong những tháng cuối năm. Nhìn chung cả năm 2008, xuất khẩu đã đạt mức tăng trưởng cao, phát triển cả về qui mô, tốc độ, thị trường và thành phần tham gia xuất khẩu.Có thể nhìn nhận như sau: Thứ nhất, qui mô và tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu tiếp tục được duy trì và mở rộng ở mức cao. Thứ hai, các mặt hàng xuất khẩu truyền thống vẫn giữ được nhịp độ tăng trưởng cao, nhất là các mặt hàng gạo, rau quả, hạt điều,than đá, hàng điện tử và linh kiện máy tính, sản phẩm nhựa, túi xách vali và ô dù…Xuất khẩu hàng hóa tăng còn có sự đóng góp của nhiều mặt hàng mới ví dụ như sản phẩm từ cao su, sản phẩm chế tạo từ gang thép, máy biến thế, động cơ điện và tàu thuyền các loại… Thứ ba, cơ cấu hàng hóa xuất khẩu vẫn tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng nhóm hàng chế biến, chế tạo, giảm tỷ trọng xuất thô.Những hàng hóa có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao và giá trị xuất khẩu lớn là nhóm hàng công nghiệp và chế biến như: thủy sản, hàng điện tử và linh kiện điện tử, sản phẩm nhựa,túi xách, vali và ô dù… Thứ tư, bên cạnh việc tập trung khai thác tối đa thị trường trọng điểm, năm qua chung ta tiếp tuc giữ vững thị trường truyền thống, đẩy mạnh việc đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, nhiều chủng loại hàng hóa xuất khẩu đã vào được các thị trường mới, điển hình là các thị trường tại khu vực Châu Phi-Tây Nam Á, Châu Á và Châu Đại Dương. 1. 2.2 Những hạn chế. Thứ nhất những mặt hàng xuất khẩu chủ lực gặp khó khăn do phải đối mặt với những rào cản thương mại mới ngày càng nhiều với các hành vi bảo hộ thương mại tinh vi tại các thị trường lớn. Việc tăng giá trị xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào giá thế giới và những thị trường xuất khẩu lớn, khi những thị trường này có biến động thì kim ngạch xuất khẩu bị ảnh hưởng. Thứ hai, nhu cầu của thị trường xuất khẩu bị thu hẹp, các đơn hàng xuất khẩu dệt may, đồ gỗ, một số nông sản vào Mỹ và EU đều giảm do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu; Trong khi thị trường xuất khẩu gặp khó khăn thì các chi phí đầu vào không giảm, thậm chí còn tăng cao như lương công nhân, lãi suất ngân hàng, khiến nhiều doanh nghiệp dệt may phải chuyển từ sản xuất mua nguyên liệu bán thành phẩm sang gia công để bảo toàn vốn, vì vậy giá trị gia tăng trên sản phẩm dệt may ngày càng thấp là lợi nhuận giảm. Thứ ba, xuất khẩu vẫn phụ thuộc nhiều vào các mặt hàng khoáng sản, nông, lâm, thuỷ, hải sản; các mặt hàng công nghiệp chế biến chủ yếu vẫn mang tính chất gia công; Các mặt hàng xuất khẩu chưa đa dạng, phong phú, số lượng các mặt hàng xuất khẩu mới có kim ngạch lớn, tốc độ tăng trưởng nhanh chưa nhiều. Xuất khẩu chủ yếu dựa vào khai thác lợi thế so sánh sẵn có mà chưa khai thác được lợi thế cạnh tranh thông qua việc xây dựng các ngành công nghiệp có mối liên kết chặt chẽ với nhau để hình thành chuỗi giá trị gia tăng xuất khẩu lớn. Thứ tư, vẫn chưa tận dụng triệt để lợi ích từ việc gia nhập WTO, các hiệp định thương mại song phương và khu vực đã ký kết giữa Việt Nam và các đối tác để khai thác hết tiềm năng của các thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc. Thứ năm, việc tiếp cận nguồn vốn vay bằng VNĐ cho sản xuất kinh doanh vẫn còn bất cập, nhất là đối với các mặt hàng nông sản, thuỷ sản, trong khi đó lãi suất cho vay mặc dù đã giảm nhưng vẫn ở mức cao , điều này đã làm chi phí tăng cao ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu. 2. Thực trạng xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam 2.1 Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chủ lực Trong tháng 12/2008, trị giá hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đạt 4,67 tỷ USD, tăng 9,8% so với tháng trước. Tính đến hết tháng 12, cả nước có 12 nhóm hàng đạt trên 1 tỷ USD, đặc biệt mặt hàng dầu thô đã vượt 10 tỷ USD; có 5 nhóm hàng xuất khẩu chủ lực vượt kế hoạch năm (gạo, hạt điều, hải sản, hàng giày dép, hàng rau quả). Tuy nhiên, có rất nhiều nhóm hàng có kim ngạch cao đã không thể hoàn thành kế hoạch năm về sản lượng như cà phê, cao su, dầu thô, than đá, chè các loại, hạt tiêu. Và có một số nhóm hàng không hoàn thành kế hoạch năm về kim ngạch như hàng dệt may, máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện, gỗ & sản phẩm gỗ.Uớc tính ba tháng đầu năm 2009, Việt Nam xuất siêu tới 1,647 tỷ USD.Đây là con số kỷ lục từ trước tới nay cho cán cân thương mại Việt Nam.Đó là thống kê mới nhất của Bộ Công Thương ước tính tình hình xuất nhập khẩu tháng 3 và 3 tháng đầu năm nay.Kim ngạch xuất khẩu tháng 3 đạt 4,7 tỷ USD, giảm 2,8% so với cùng kỳ năm 2008. Tính chung trong 3 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu đạt 13,479 tỷ USD, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm 2008. Trong 35 nhóm hàng hoá được thống kê, chỉ có 9 nhóm hàng hoá xuất khẩu tăng. Sở dĩ kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam 3 tháng tăng nhẹ là do có sự đóng góp tăng kỷ lục của nhóm đá quí và kim loại quí. Kim ngạch tháng 3/2009 của loại hàng hóa này đạt 850 triệu USD, tăng tới 49 lần so với cùng kỳ năm 2008 và chiếm 18% kim ngạch xuất khẩu cả nước. Tính trong ba tháng đầu năm, nhóm hàng này đã đạt kim ngạch 2,287 tỷ USD, tăng 48 lần so với cùng kỳ năm ngoái. Sự tăng đột biến này là do việc tái xuất vàng. Còn lại, xuất khẩu của đa số nhóm hàng hoá đều chững hoặc giảm. Đáng lo ngại nhất là trong 13 mặt hàng chủ lực thuộc “CLB xuất khẩu tỷ USD” của Việt Nam thì kim ngạch xuất khẩu của 12 mặt hàng đều giảm mạnh từ 10-20%, như điện tử và linh kiện máy tính, giày dép, than đá, thuỷ sản, cà phê, nhân điều, sản phẩm chất dẻo… Trong đó, so với cùng kỳ năm 2008, dầu thô giảm mạnh nhất với mức giảm 48,6%, kế đến là dây điện và cáp điện giảm 47,3%, cao su giảm 43,9%. Nguồn: Tổng cục thống kê- 2009 Nhóm hàng dệt may vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong kim ngạch xuất khẩu cả nước thì trong tháng 3, kim ngạch đã giảm 4,2%. Chỉ có duy nhất mặt hàng gạo trong nhóm hàng chủ lực này là có kim ngạch xuất khẩu tăng. Tháng 3, gạo tăng 23,5% và tính chung 3 tháng, gạo tăng 76,4% so với cùng kỳ 2008. Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu cả nước vẫn tiếp tục giảm mạnh. Kim ngạch nhập khẩu tháng 3 đạt 4,3 tỷ USD, giảm tới 47% so với cùng kỳ năm 2008. Tính chung 3 tháng đầu năm, kim ngạch nhập khẩu đạt 11,832 tỷ USD, giảm 45% so với cùng kỳ. 2.2 Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam -  Dầu thô Trong tháng 12/2008 xuất khẩu đạt 1,46 triệu tấn, tăng 35,6% so với tháng trước, nâng tổng lượng dầu thô xuất khẩu cả năm 2008 lên 13,75 triệu tấn, giảm 8,7% so với năm 2007. Mặc dù lượng giảm nhưng do giá bình quân  tăng 33,6% nên kim ngạch xuất khẩu dầu thô cả năm 2008 đạt 10,36 tỷ USD, tăng 22% so với năm 2007. Tính đến hết tháng 12/2008, lượng dầu thô của Việt Nam chủ yếu xuất sang các thị trường là Ôxtrâylia: 4,16 triệu tấn, giảm 19,6%; Nhật Bản: 2,95 triệu tấn, tăng 72,4%; Singapore: 2,06 triệu tấn, giảm 29,5%; Hoa Kỳ: 1,46 triệu tấn, giảm 1%; Malaysia: 853 triệu tấn, tăng 2,7%; Trung Quốc: 604 triệu tấn, tăng 60,6% so với cùng kỳ 2007. Cuối tháng 2 năm 2009 thì xuất khẩu trong tháng đạt 1,4 triệu tấn, tăng 1,1% so với tháng 1, nâng tổng lượng dầu thô xuất khẩu của Việt Nam 2 tháng đầu năm nay lên 2,79 triệu tấn, tăng 22,6% so với cùng kỳ năm 2008. Mặc dù lượng dầu thô xuất khẩu tăng nhưng do giá bình quân giảm mạnh (giảm 54% tương đương với giảm 394 USD/tấn) nên trị giá xuất khẩu dầu thô là 936 triệu  USD, giảm 43,6% so với cùng kỳ năm 2008. Trong 2 tháng đầu năm 2009, lượng dầu thô của Việt Nam chủ yếu xuất sang các thị trường là Singapore: 680 nghìn tấn, Malaysia: 604 nghìn tấn, Ôxtrâylia: 582 nghìn tấn, Nhật Bản: 298 nghìn tấn, Trung Quốc: 222 nghìn tấn,… -Than đá Tổng lượng than xuất khẩu của Việt Nam cả năm 2008 là 19,35 triệu tấn, giảm 39,4% so với  năm 2007 và chỉ thực hiện được 96,8% so với kế hoạch năm. Giá bình quân tăng 129,2% nên kim ngạch xuất khẩu than cả năm 2008 đạt 1,39 tỷ USD tăng 38,8% so với cùng kỳ năm 2007. Dẫn đầu trong các thị trường nhập khẩu than đá của Việt Nam trong năm 2008 là Trung Quốc với 14,61 triệu tấn, giảm 44,7% so với năm trước và chiếm 75,5% tổng lượng than xuất khẩu của Việt Nam. Tiếp theo là Nhật Bản với 1,93 triệu tấn,giảm 6,9%; Hàn Quốc là 974 nghìn tấn, tăng 25,6%; Philipin là 361 nghìn tấn, giảm 10,3%. Trong 2 tháng đầu năm 2009, xuất khẩu trong tháng đạt 1,91 triệu tấn, tăng 29,5% so với tháng trước, nâng tổng lượng than xuất khẩu 2 tháng đầu năm nay lên 3,39 triệu tấn, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước. Trị giá xuất khẩu than đá 2 tháng đầu năm 2009 đạt 166,6 triệu USD tăng 14,3% so với cùng kỳ năm 2008. Dẫn đầu trong các thị trường nhập khẩu than đá của Việt Nam trong 2 tháng qua vẫn là Trung Quốc với lượng và trị giá tương ứng là 2,89 triệu tấn và 116 triệu USD. Riêng xuất khẩu sang thị trường này đã chiếm 85% tổng lượng xuất khẩu than đá của Việt Nam, còn lại 15% xuất sang các thị trường khác như Hàn Quốc: 292 nghìn tấn, Nhật Bản: 116 nghìn tấn, Thái Lan: 64 nghìn tấn, … - Hàng dệt may Tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này năm 2008 đạt 9,12 tỷ USD, tăng 17,7 % so với cùng kỳ năm trước và thực hiện được 96% kế hoach năm.  Thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất của Việt Nam trong năm 2008 là Hoa Kỳ với hơn 5,1 tỷ USD, chiếm gần 56% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của cả nước, tiếp theo là Nhật Bản: 820 triệu USD, Đức: 395 triệu USD, Đài Loan: 293 triệu USD,... Trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong tháng 2/2009 là 563,6 triệu USD, giảm 24,1% so với tháng 1, nâng tổng kim ngạch 2 tháng lên 1,3 tỷ USD, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm. Hoa Kỳ vẫn là đối tác lớn nhất nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam trong 2 tháng qua với 700 triệu USD, giảm 4,5%. Tiếp theo là EU với 239 triệu USD, giảm nhẹ (0,5%) so với cùng kỳ năm trước. Trong khi xuất khẩu nhóm hàng này sang 2 thị trường lớn nhất suy giảm thì tại thị trường Nhật Bản, sau khi Hiệp định đối tác kinh tế giữa Việt Nam và Nhật Bản có hiệu lực từ tháng 1/2009, hàng may mặc được miễn thuế nên đã góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này với trị giá 138 triệu USD, tăng 25,1%. - Giày dép Tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này năm 2008 lên hơn 4,77 tỷ USD, tăng 19,4% so với năm trước và hoàn thành vượt 6% mức kế hoạch năm. Hai đối tác lớn nhất nhập khẩu giày dép của Việt Nam trong 12 tháng  năm 2008 vẫn là EU và Hoa Kỳ với trị giá và tốc độ tăng tương ứng là 2,51 tỷ USD, tăng 14,8% và 1,08 tỷ USD, tăng 21,5% so với cùng kỳ  2007. Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam 2008 Trị giá giày dép xuất khẩu trong tháng 2/2009 là 294 triệu USD, giảm 18,6% so với tháng trước. Hết tháng 2/2009, trị giá xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước là 654,7 triệu USD, giảm 7,6% so với cùng kỳ năm.  Tính đến hết tháng 2 năm 2009, hai đối tác lớn nhất nhập khẩu giày dép của Việt Nam vẫn là EU: 324 triệu USD, giảm 18,1% và Hoa Kỳ: 166 triệu USD, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm 2008. Các thị trường nhập khẩu khác như: Nhật Bản: 25,1 triệu USD, Mêxicô: 19,5 triệu USD, Trung Quốc: 14,2 triệu USD,… Gạo Trong tháng xuất khẩu 436 nghìn tấn, tăng 51,5% so với tháng trước, nâng tổng lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam năm 2008 đạt 4,74 triệu tấn, tăng 4% so với năm trước và thực hiện được 105,4% kế hoạch năm. Giá bình quân xuất khẩu gạo cả năm là 610 USD/tấn, tăng 86,7% tương đương với tăng 283 USD/tấn, trị giá cả năm đạt 2,89 tỷ USD tăng 94,3% so với cùng kỳ năm 2007. Tính đến hết tháng 12 năm 2008, Việt Nam xuất khẩu gạo sang Châu Á là 2,68 triệu tấn, giảm 19,1% so với năm 2007 và chiếm 56,4% tổng lượng gạo xuất khẩu của cả nước (trong đó, Philippin tiếp tục là nước dẫn đầu về nhập khẩu gạo của Việt Nam với 1,69 triệu tấn, tăng 15,6% so với cùng kỳ năm 2007, các nước còn lại 986 nghìn tấn, giảm 46,7%); tiếp theo là Châu Phi: 1,18 triệu tấn, tăng 88%; Châu Mỹ: 547 nghìn tấn, tăng 18,1% so với cùng kỳ năm 2007,… Tháng 2 năm 2009 xuất khẩu gần 740 nghìn tấn, tăng 143,6% so với tháng trước, nâng tổng lượng gạo xuất khẩu 2 tháng đầu năm 2009 lên 1,04 triệu tấn tăng 131% so với cùng kỳ năm trước. Do cả yếu tố giá và lượng tăng nên kim ngạch xuất khẩu gạo 2 tháng đầu năm nay đạt gần 470 triệu USD tăng 151% so với 2 tháng năm 2008. Hết tháng 2 năm 2009, xuất khẩu gạo sang châu Á là 627 nghìn tấn, chiếm 60,1% tổng lượng gạo xuất khẩu của cả nước. Trong đó, Philippin tiếp tục là nước dẫn đầu về nhập khẩu gạo của Việt Nam với 382 nghìn tấn, tăng 49,4% so với cùng kỳ năm 2008. Cơ cấu xuất khẩu gạo sang các châu lục theo tỷ trọng so với tổng lượng xuất khẩu của cả nước lần lượt là: châu Á: 60,1%, châu Phi: 25%, châu Mỹ: 6,6%, châu Âu: 5,2%, châu Đại Dương: 3,1%. - Hải sản Tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này năm 2008 lên 4,51 tỷ USD, tăng 19,8% so với cùng kỳ năm trước và hoàn thành vượt 6,1% kế hoạch năm.  Hết tháng 12/2008, trị giá hải sản xuất khẩu sang EU đạt 1,14 tỷ USD, tiếp theo là Nhật Bản: 830 triệu USD, Hoa Kỳ: 739 triệu USD, Hàn Quốc: 302 triệu USD. Trị giá xuất khẩu mặt hàng này ở các thị trường khác là 1,5 tỷ USD, chiếm 33,3% tổng kim ngạch hải sản xuất khẩu của cả nước. Trong tháng 2/2009 xuất khẩu gần 232 triệu USD, tăng 7,9% so với tháng 1. Tính đến hết tháng 2/2009, xuất khẩu hải sản của Việt Nam đạt 444 triệu USD, giảm 9,2% so với cùng kỳ năm trước.  Hết tháng 2/2009, trị giá hải sản xuất khẩu sang EU đạt 115 triệu USD, giảm 13,8% so với cùng kỳ năm 2008; tiếp theo là Nhật Bản: 77,9 triệu USD, giảm 9,4%; Hoa Kỳ: 66,7 triệu USD, giảm 2,5%; Hàn Quốc: 32,6 triệu USD, giảm 9,8%. Trị giá xuất khẩu mặt hàng này ở các thị trường khác là 152 triệu USD, giảm 8,1% và chiếm 34,1% tổng kim ngạch hải sản xuất khẩu của cả nước. -Cà phê Xuất khẩu trong tháng đạt 173,7 nghìn tấn, tăng 133,8% so với tháng trước, nâng tổng lượng cà phê xuất khẩu năm 2008 lên 1,06 triệu  tấn, giảm 13,8% so với năm 2008 và chỉ hoàn thành có 96,3% kế hoạch năm. Trị giá kim ngạch xuất khẩu cà phê năm 2008 đạt 2,11 tỷ USD, tăng 10,5% so với năm 2007.Thị trường chính nhập khẩu cà phê của Việt Nam là Đức: 136 nghìn tấn, Hoa Kỳ: 106 nghìn tấn, Tây Ban Nha: 88 nghìn tấn, Ý: 86 nghìn tấn. Hết tháng 2, tổng lượng cà phê xuất khẩu là 289 nghìn tấn, đạt kim ngạch 444 triệu USD, tăng 11,9% về lượng và giảm 8,7% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Các thị trường chính nhập khẩu cà phê của Việt Nam trong 2 tháng qua là Bỉ: 52 nghìn tấn, Đức: 35,1 nghìn tấn, Hoa Kỳ: 27,6 nghìn tấn, Ý: 27,5 nghìn tấn,… Cao su: Tổng lượng cao su xuất khẩu của Việt Nam năm 2008 lên 658 nghìn tấn, giảm 7,9% và chỉ hoàn thành có 84,4% kế hoạch năm. Tuy nhiên, do năm 2008 giá bình quân tăng 25% (tương đương với tăng 487 USD/tấn) nên kim ngạch xuất khẩu cao su cả năm đạt hơn 1,6 tỷ USD tăng 15,1% so với năm 2007. Năm 2008, Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam gần 431 nghìn tấn, chiếm tới gần 65,5% khối lượng xuất khẩu cao su của cả nước. Tiếp theo là Hàn Quốc: 29 nghìn tấn, Đức: 24 nghìn tấn, Đài Loan: 21,2 nghìn tấn, Malaysia gần: 21 nghìn tấn,… lượng xuất khẩu cao su tháng 2/2009 đạt 37 nghìn tấn, giảm 4,3% so với tháng trước, nâng tổng lượng cao su xuất khẩu 2 tháng năm 2009 lên 75,7 nghìn tấn, giảm 14,3% so với cùng kỳ năm trước. Giá xuất khẩu cao su bình quân vẫn tiếp tục giảm mạnh trong 2 tháng qua, giảm 41,9% tương đương với giảm 971 USD/tấn so với 2 tháng đầu năm 2008 nên trị giá là 101,8 triệu USD giảm 50,2%. Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu chính của cao su Việt Nam trong 2 tháng đầu năm 2009 với 52 nghìn tấn, tiếp theo là Hàn Quốc: 4,7 nghìn tấn, Đài Loan: 2,8 nghìn tấn, Hoa Kỳ: 2,7 nghìn tấn, Malaysia: 2,1 nghìn tấn, Đức: gần 2 nghìn tấn,… Gỗ và sản phẩm gỗ Tổng kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng này năm 2008 lên 2,83 tỷ USD, tăng 17,7 % nhưng chỉ hoàn thành 94,3% kế hoạch năm. Tính đến hết tháng 12/2008, Hoa Kỳ là thị trường nhập khẩu nhóm mặt hàng này nhiều nhất của Việt Nam với 1,06 tỷ USD, tăng 12,2% so với cùng kỳ năm 2007. Tiếp theo là thị trường EU: 795 triệu USD, tăng 24%; Nhật Bản: 379 triệu USD, tăng 23,4% ; Đức: 152 triệu USD, tăng 54,7%; Trung Quốc: 141 triệu USD, giảm 13,2%;... Máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện Trong tháng xuất khẩu gần 158 triệu USD, giảm 39,1% so với tháng trước, nâng kim ngạch xuất khẩu của năm 2008 lên 2,64 tỷ USD, tăng 22,5% so với năm trước nhưng hoàn thành kế hoạch năm chỉ đạt 75,4%. Các thị trường chính trong năm 2008 cho sản phẩm này là Thái Lan với 405 triệu US, Nhật Bản: 379 triệu USD, Hoa Kỳ: 305 triệu USD, Trung Quốc: 274 triệu USD, Hà Lan: 206 triệu USD, Singapore: 163 triệu USD,… Hết tháng 2/2009, tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này là 315,6 triệu USD, giảm 11,3% so với cùng kỳ năm trước. Hoa Kỳ vẫn là thị trường dẫn đầu nhập khẩu mặt hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện của Việt Nam với 54,3 triệu USD. Tiếp theo là Nhật Bản: 51 triệu USD, Thái Lan: 38,5 triệu USD, Hà Lan: 20,3 triệu USD, Trung Quốc: 18,7 triệu USD, Singapore: 16,3 triệu USD, Hồng Kông: 13,5 triệu USD,… Dây điện & dây cáp điện Tính đến hết tháng 12 năm 2008, xuất khẩu hơn 1 tỷ USD, đây là năm đầu tiên Việt Nam xuất khẩu mặt hàng dây điện & dây cáp điện trên 1 tỷ USD trong cả giai đoạn 2004- 2008. Trong đó, Nhật Bản là thị trường nhập khẩu chủ yếu của nước ta, với 727 triệu USD chiếm 73% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này. 2.3. Cơ cấu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu đã có những chuyển dịch tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng nhóm hàng chế biến, chế tạo, nhóm hàng có hàm lượng công nghệ và chất xám cao, giảm dần xuất khẩu hàng thô. Nhóm hàng có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao và giá trị xuất khẩu lớn là nhóm hàng công nghiệp và chế biến như: thủy sản, dệt may, giầy dép, hàng điện tử và linh kiện điện tử, sản phẩm gỗ… Nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu cao hơn nhiều so với mục tiêu đề ra là cà phê, hạt tiêu, sản phẩm nhựa. Tuy nhiên, nhóm hàng đặt mục tiêu giảm tốc độ tăng trưởng trong năm nay là nhóm hàng nguyên liệu và khoáng sản nhưng thực tế vẫn tăng trưởng. Tuy nhiên, hoạt động XK vẫn còn nhiều hạn chế: quy mô xuất khẩu vẫn còn nhỏ bé, kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người còn thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới (xuất khẩu bình quân đầu người của Xingapo là 60.600 USD/người, Malaixia 5.890 USD/người, Thái Lan 1.860 USD/người, Philipin546 USD/người và Việt Nam 473 USD/người). Mặt khác, xuất khẩu tăng trưởng nhanh nhưng chưa vững chắc và rất dễ bị tổn thương bởi các cú sốc từ bên ngoài như sự biến động giá cả trên thị trường thế giới hay sự xuất hiện của các rào cản thương mại mới của nước ngoài. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chưa hợp lý, thể hiện trên cả ba phương diện: Thứ nhất, là chủng loại hàng hóa còn đơn điệu, chậm xuất hiện những mặt hàng xuất khẩu mới có đóng góp kim ngạch đáng kể. Thứ hai, các mặt hàng xuất khẩu có giá trị gia tăng còn thấp, vẫn phụ thuộc vào các mặt hàng: khoáng sản (dầu thô, than đá), nông, lâm, thủy, hải sản; trong khi các mặt hàng công nghiệp như dệt may, da giày, điện tử và linh kiện máy tính.. chủ yếu vẫn còn mang tính chất gia công. Thứ ba, quá trình chuyển dịch cơ cấu mặt hàng xuất khẩu còn chậm, cơ cấu hàng xuất khẩu thời gian qua chủ yếu chuyển dịch theo chiều rộng mà chưa đi vào chiều sâu, xuất khẩu chủ yếu dựa vào khai thác lợi thế so sánh sẵn có mà chưa khai thác được lợi thế cạnh tranh, hình thành chuỗi giá trị gia tăng xuất khẩu lớn. Thêm nữa, thị trường xuất khẩu không đồng đều, trong khi thị trường Asean, EU, Mỹ tăng khá cao thì một số thị trường quan trọng khác tăng chậm hoặc giảm như Trung Quốc, Nhật Bản và Ôxtrâylia. 2.4 Thị trường xuất khẩu các mặt hàng chủ lực Theo nhân định của Bộ Công Thương, các thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam giai đoạn 2009-2010 vẫn là thị trường Châu Á (Nhật Bản, ASEAN, Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc), Châu Âu (chủ yếu là EU), Bắc Mỹ (Hoa Kỳ, Canada) và Châu Đại Dương (Australia). Bảng 2: MỘT SỐ MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ YẾU CỦA VIỆT NAM SANG HOA KỲ Đơn vị tính: ngàn USD STT Mặt hàng Tháng 1-09 Tháng 12-08 Tỷ lệ % T1-09/ T12-08 Tháng 1-08 Tỷ lệ % T1-09/ T1-08 Tổng cộng đến T1-09 Tỷ lệ % tháng 1-09 /tháng 1-08 1 Dệt may 477.209,00 403.719,00 18,20 410.135,00 16,35 477.209,00 16,35 2 Đồ gỗ 132.537,00 128.886,00 2,83 129.961,00 1,98 132.537,00 1,98 3 Giày dép 146.481,00 106.189,00 37,94 105.867,00 38,36 146.481,00 38,36 4 Thủy sản 59.027,00 66.491,00 -11,23 81.373,00 -27,46 59.027,00 -27,46 5 Dầu khí 86.630,00 64.343,00 34,64 72.884,00 18,86 86.630,00 18,86 6 Nông sản 59.820,00 48.822,00 22,53 59.804,00 0,03 59.820,00 0,03 7 Thiết bị, dụng cụ điện dây điện 36.768,00 31.931,00 15,15 27.875,00 31,90 36.768,00 31,9 Nguồn: Tổng hợp từ số liệu Bộ Thương Mại Hoa Kỳ Hoa Kỳ - thị trường lớn nhất cho mặt hàng dệt may. Theo Bộ Công Thương, kim ngạch xuất khẩu vào Hoa Kỳ năm 2008 đạt 12 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu vào thị trường này năm 2009 sẽ tăng 5,8% và sẽ tăng lên 12% vào năm 2010. Dự kiến kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may đến năm 2010 đạt trên 6 tỷ USD. Mặt hàng giày dép phấn đấu năm 2010 đạt 1,25 tỷ USD; mặt hàng thuỷ sản phấn đấu năm 2010 kim ngạch xuất khẩu đạt 1,2 tỷ USD; gỗ khoảng 1,3 tỷ USD; kim ngạch xuất khẩu cà phê đạt 250 triệu USD. Các mặt hàng khác như túi xách, ví, va li, ô dù... là những mặt hàng mới và có nhiều tiềm năng xuất khẩu vào Hoa Kỳ, phấn đấu đạt 420 triệu USD vào năm 2010. EU - thị trường mà Bộ Công Thương đề ra mục tiêu đạt kim ngạch xuất khẩu 12,1 tỷ USD vào năm 2010. Đối với hàng dệt may, phấn đấu đến năm 2010 đạt kim ngạch xuất khẩu 2,1 tỷ USD. EU là thị trường nhập khẩu giày dép lớn thứ 2 sau Hoa Kỳ, nhu cầu nhập khẩu những năm gần đây khoảng trên 36 tỷ USD/năm. Phấn đấu đến năm 2010 nước ta đạt được 3 tỷ USD xuất khẩu giày dép vào thị trường này. Bên cạnh đó, EU là thị trường tiêu thụ thủy sản lớn trên thế giới, nhập khẩu nhiều nhất philê cá đông lạnh, chủ yếu là cá tuyết, cá tuyết vàng và cá tra, sau đó là tôm đông lạnh và cá ngừ. Hàng năm kim ngạch nhập khẩu của thị trường này vào khoảng 40 tỷ USD. Việt Nam phấn đấu kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này năm 2010 đạt 1,45 tỷ USD. EU cũng là thị trường tiêu thụ lớn nhất đối với cà phê của Việt Nam, chiếm tỷ trọng khoảng 45% trong xuất khẩu của nước ta. Phấn đấu đến năm 2010 kim ngạch xuất khẩu đạt 850 triệu USD. Ngoài ra, sản phẩm gỗ cũng có tiềm năng xuất khẩu vào EU do thị trường này tiêu thụ đồ gỗ lớn nhất thế giới. Đồ gỗ của nước ta đã thâm nhập được vào hầu hết thị trường các nước EU trong đó những nước nhập khẩu chính là Anh, Pháp, Đức, Đan Mạch. Mục tiêu xuất khẩu mặt hàng này năm 2010 là đạt kim ngạch 900 triệu USD. ASEAN - thị trường quan trọng với xuất khẩu gạo. Kim ngạch xuất khẩu của ta vào ASEAN có xu hướng tăng chậm, trong khi kim ngạch nhập khẩu từ ASEAN tương đối nhanh nên nhập siêu từ khu vực này đang có xu hướng tăng mạnh. Các mặt hàng xuất khẩu của ta hiện nay vẫn là dầu thô, một số mặt hàng nông sản, thủy sản, linh kiện điện tử, vi tính và hàng bách hóa trong đó chiếm tỷ trọng cao nhất là gạo và dầu thô. ASEAN là thị trường quan trọng đối với xuất khẩu gạo của Việt Nam. Dự kiến đến năm 2010 kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này đạt 1,6 tỷ USD. Trong khi đó, mục tiêu đối với mặt hàng cà phê là 180 triệu USD, với thủy sản là 320 triệu USD và hàng dệt may là 360 triệu USD. Với mặt hàng điện tử và linh kiện, chủ yếu do các công ty liên doanh tại Việt Nam xuất khẩu sagn các nước Philippines, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, và phấn đấu đạt 2,6 tỷ USD vào năm 2010. Nhật Bản - khoảng 92% hàng hóa sẽ được miễn thuế trong vòng 10 năm. Nhật Bản hiện là thị trường xuất khẩu nhiều mặt hàng có thế mạnh của Việt Nam, ngoài dầu thô, khoáng sản thì các mặt hàng thủy sản, dệt may, đồ gỗ và thủ công mỹ nghệ, các mặt hàng chế tạo của Việt Nam đang được người Nhật ngày càng ưa chuộng. Theo Hiệp định giữa Việt Nam và Nhật Bản về Đối tác kinh tế (VJEPA), trong vòng 10 năm, khoảng 92% hàng hóa sẽ được miễn thuế khi vào thị trường của mỗi bên. Hàng nông sản, may mặc và thủy sản của Việt Nam sẽ được miễn thuế khi vào thị trường Nhật Bản. Ngược lại hàng công nghiệp, gồm cả phụ tùng ôtô và sản phẩm điện tử của Nhật khi vào Việt Nam sẽ được miễn hoặc giảm thuế nhập khẩu. Do vậy, việc xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào Nhật Bản giai đoạn 2009-2010 sẽ gặp nhiều thuận lợi hơn. Trung Quốc - cơ hội mới cho hàng nông sản và hải sản. Giai đoạn 2009-2010 tình hình kinh tế Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng trưởng cao, kéo theo nhu cầu nhập khẩu các nhóm hàng nguyên nhiêu liệu như cao su, than đá và đặc biệt là dầu thô. Theo nhận định của Bộ Công thương, nếu triệt để tận dụng cơ hội thì các mặt hàng nông sản và hải sản của Việt Nam có khả năng tăng khá do tác động của việc thực hiện chương trình thu hoạch sớm giữa Trung Quốc và các nước ASEAN. Mục tiêu xuất khẩu vào Trung Quốc đến năm 2010 đạt 6 tỷ USD. Nguồn: Tổng cục thống kê- 2008 Việc thực hiện đầy đủ các cam kết theo Hiệp định thuế quan có hiệu lực chung cho khu vực mậu d._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc2273.doc
Tài liệu liên quan