Đánh giá tiềm năng và sự phát triển kinh tế biển - Đảo ở Việt Nam

MỞ ĐẦU I. Lí do chọn đề tài: Nằm trên bán đảo Đông Dương, Việt Nam là một quốc gia biển. Biển thực sự gắn bó mật thiết và ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, bảo vệ môi trường của mọi miền đất nước.Chẳng thế mà, từ xa xưa, ông cha ta đã nói tới vị trí to lớn của biển. Biển nước ta không chỉ rộng lớn về không gian: “tam sơn, tứ hải, nhất phần điền”, mà còn là điều kiện để Việt Nam cùng thế giới bước vào “thế kỷ của đại dương”. Vùng biển Việt

pdf59 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 12/11/2013 | Lượt xem: 2025 | Lượt tải: 9download
Tóm tắt tài liệu Đánh giá tiềm năng và sự phát triển kinh tế biển - Đảo ở Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Nam rộng hơn 1 triệu km2, gấp hơn 3 lần diện tích đất liền. Bờ biển Việt Nam dài 3260 km, trung bình khoảng 100 km2 đất liền thì có 1 km đường bờ biển (cao gấp 6 lần tỷ lệ này của thế giới). Ven bờ biển có 2773 hòn đảo lớn nhỏ các loại, với tổng diện tích 1720 km2… Tất cả những yếu tố đó đã tạo cho Việt Nam có thể đẩy mạnh viêc phát triển kinh tế biển - đảo một cách có hiệu quả. Kinh tế biển - đảo là các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển, tuy không phải diễn ra trên biển nhưng những hoạt động kinh tế này là nhờ vào yếu tố biển hoặc trực tiếp phục vụ các hoạt động kinh tế biển ở dãi đất liền bao gồm: đóng và sửa chữa tàu biển, công nghiệp chế biến dầu, khí, công nghiệp chế biến thủy hải sản, cung cấp dịch vụ biển, thông tin liên lạc, nghiên cứu khoa học công nghệ biển, đào tạo nhân lực phục vụ phát triển kinh tế biển - đảo, điều tra cơ bản về tài nguyên- môi trường biển-đảo. Chính vì vậy, đó là những lợi thế cho tất cả các quốc gia trên thế giới có được vùng bờ biển trong sự nghiệp phát triển kinh tế của mỗi nước trong đó có Việt Nam. Trong bối cảnh mở cửa và hội nhập, tức phải cạnh tranh với quốc tế để tồn tại và phát triển, so với sự phát triển của thế giới đương đại, thì cơ sở hạ tầng của các vùng biển, ven biển và hải đảo nước ta còn nhiều yếu kém, lạc hậu. Hệ thống cảng biển còn nhỏ lẻ manh mún, các chỉ tiêu hàng thông qua cảng trên đầu người rất thấp so với các nước trong khu vực . Đến nay, Việt Nam chưa có đường bộ cao tốc chạy dọc theo bờ biển nối các thành phố, các khu kinh tế, khu công nghiệp. Vì vậy, sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình cạnh tranh về kinh tế biển giữa nước ta với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới. Với những vấn đề trên, đề tài sẽ đề cập một số nét khái quát về tiềm năng cũng như hiện trạng phát triển kinh tế biển - đảo Việt Nam. Từ đó, đưa ra những định hướng và các giải pháp phát triển hiệu quả kinh tế biển-đảo trong thời gian tới, hầu phát huy được những tiềm năng to lớn mà thiên nhiên đã ban tặng. II. Mục đích nghiên cứu: - Đánh giá khái quát tiềm năng kinh tế biển - đảo Việt Nam - Đánh giá khái quát thực trạng phát triển kinh tế biển - đảo Việt Nam - Những điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động tới quá trình phát triển kinh tế biển - đảo Việt Nam. Trang 1 III. Nhiệm vụ nghiên cứu: - Làm rõ khái niệm kinh tế biển - đảo nói chung và tiềm năng phát triển kinh tế biển - đảo Việt Nam nói riêng. - Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế biển - đảo Việt Nam. - Khả năng phát triển kinh tế biển - đảo của Việt Nam. - Định hướng quá trình phát triển kinh tế biển - đảo Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020. IV. Giới hạn của đề tài.: Đề tài chỉ nghiên cứu những nội dung cụ thể mà mục đích và nhiệm vụ đã đề ra: “Tiềm năng và sự phát triển kinh tế biển - đảo Việt Nam”. Định hướng và giải pháp phát triển kinh tế biển - đảo trong thời gian sắp tới. V. Lịch sử nghiên cứu vấn đề: Biển - đảo là một yếu tố hết sức quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế đối với tất cả các quốc gia có vùng bờ biển. Vì thế, ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này như: “chiến lược phát triển kinh tế biển - đảo Việt Nam” của PGS – TS Bùi Tất Thắng; “ Hệ thống đảo ven bờ Việt Nam - tiềm năng và triển vọng” của GS – TS Lê Đức Tố… Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều tập san, tin tức, báo chí đề cập đến vấn đề này. VI.Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu. Địa lí học là một môn khoa học tổng hợp vừa mang tín thực tiễn sâu sắc lại vừa mang tính cụ thể cao. Đồng thời khoa học địa lí còn mang tính thời đại, nó luôn biến đổi phù hợp với những khám phá của tiến bộ khoa học kỹ thuật. Do đó, khi tiến hành nghiên cứu thực hiện đề tài “Tiềm năng và sự phát triển kinh tế biển - đảo Việt Nam”, tôi đã vận dụng những quan điểm và phương pháp nghiên cứu của địa lí học nói chung và địa lý kinh tế - xã hội nói riêng để hoàn thành đề tài của mình. 1. Phương pháp luận: 1.1. Quan điểm hệ thống: Địa lí kinh tế học nghiên cứu tổng hợp lãnh thổ sản xuất một trong các mối quan hệ tác động qua lại với môi trường xung quanh. Vì vậy, khi nghiên cứu vấn đề này, vùng biển - đảo Việt Nam được coi là một hệ thống kinh tế - xã hội thống nhất, được xem xét đánh giá quá trình phát triển kinh tế - xã hội của biển-đảo Việt Nam và sự kết hợp hài hòa với các ngành kinh tế khác trong cả nước. 1.2. Quan điểm tổng hợp lãnh thổ. Địa lí kinh tế - xã hội là một khoa học tổng hợp nghiên cứu không gian lãnh thổ kinh tế-xã hội liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau. Do đó khi nghiên cứu các nguồn lực nhằm phát triển kinh tế - xã hội của biển - đảo Việt Nam chúng ta cần xem xét nó trong một chỉnh thể chung của khu vực và thế giới, giải quyết mối quan hệ giữa tiềm năng, sự phát triển với việc nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo vệ môi trường… Đồng thời tìm kiếm những mặt tối ưu, định ra những biện pháp cụ thể nhằm phát huy lợi thế tối đa của ngành của các thành phần kinh tế để tạo động lực phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Trang 2 1.3.Quan điểm lịch sử viễn cảnh. Sự phát triển kinh tế nói chung không phải là yếu tố ổn định mà là yếu tố vận động có mối quan hệ phù hợp. Vì vậy, quá trình phát triển kinh tế biển - đảo luôn thay đổi theo từng thời kỳ nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của thời kỳ đó. Việc nhìn nhận chiều hướng phát triển kinh tế, sự thay đổi của nó qua từng giai đoạn của lịch sử đất nước trong quá khứ và hiện tại cho phép chúng ta vạch ra viễn cảnh dự báo cho sự phát triển trong tương lai. 2. Phương pháp nghiên cứu: Ngoài các phương pháp nghiên cứu khoa học chung như: phương pháp toán học, phương pháp thống kê, phương pháp thu thập và xử lý tài liệu… Đề tài còn sử dụng những phương pháp riêng đặc trưng của khoa học địa lý: phương pháp tổng hợp, phương pháp bản đồ - biểu đồ… Trong đó, đề tài đặc biệt sử dụng phương pháp lấy ý kiến chuyên gia, sử dụng những phương pháp mà nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam đã sử dụng. VII. Đóng góp mới của đề tài: Qua nghiên cứu lý luận và thực tiển, đề tài cho thấy sự chênh lệch to lớn giữa tiềm năng và sự phát triển kinh tế biển-đảo. Từ đó đưa ra các định hướng và các giải pháp tối ưu nhằm phát triển kinh tế biển-đảo một cách có hiệu quả. VIII. Ý nghĩa của đề tài: Kinh tế biển-đảo là một nền kinh tế đầy tiềm năng và triển vọng. Tuy nhiên bên cạnh các tài nguyên khác thì việc khai thác tài nguyên biển còn quá nhỏ bé so với tiềm năng hiện có. Vì vậy, cần có những định hướng chiến lược, những biện pháp hữu hiệu nhằm khai thác tốt nguồn tài nguyên mà thiên nhiên đã ban tặng cho Tổ quốc ta. IX. Cấu trúc của đề tài: Đề tài gồm có ba phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận. Trong phần nội dung được chia thành bốn chương, cụ thể như sau: -Chương I: Khái quát về Biển Đông và đặc điểm chung của vùng biển Việt Nam -Chương II: Tiềm năng về phát triển kinh tế biển-đảo của Việt Nam. -Chương III: Hiện trạng phát triển kinh tế biển-đảo Việt Nam và vấn đề khai thác tổng hợp kinh tế biển. -Chương IV: Định hướng chiến lược và hệ thống các giải pháp phát triển kinh tế biển-đảo của Việt Nam. Trang 3 CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ BIỂN ĐÔNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA VÙNG BIỂN VIỆT NAM I.KHÁI QUÁT VỀ BIỂN ĐÔNG VÀ PHÂN VÙNG BIỂN ĐÔNG: 1.Khái quát về Biển Đông: Trang 4 Bản đồ 1.1: Khu vực Biển Đông “Hành tinh chúng ta” – Trái Đất, là một bà mẹ hiền nuôi dưỡng cho mọi sự sống hiện hữu. Với diện tích 510.000.000 km2 là một hành tinh lớn thứ 5 trong hệ Mặt trời, tuy nhiên khác với các hành tinh khác, Trái Đất có những điều kiện thuận lợi làm phát sinh và duy trì sự sống hàng triệu năm qua. Với diện tích rộng lớn, nhưng biển và đại dương đã chiếm tới 71% diện tích toàn Trái Đất (tương đương 361.000.000 km2). Vì thế, có nhiều nhà khoa học cho rằng mầm mống của sự sống đã bắt nguồn từ đại dương. Trái đất có tất cả 4 đại dương và 68 biển lớn nhỏ, trong đó Biển Đông là biển có diện tích lớn thứ 3 trên thế giới với diện tích 3.477.000 km2 (sau biển San Hô và biển Arap), là một vùng biển có nguồn tài nguyên vô cùng phong phú. Không chỉ thế Biển Đông còn có tác dụng quan trọng đến lớp vỏ địa lý và cuộc sống của con người: Một kho nước khá lớn với tổng lượng nước ước khoảng 3.928.000 km3- một nhân tố ảnh hưởng đáng kể tới khí quyển, nhất là khí hậu ven bờ, quan trọng hơn nữa là nguồn dự trữ đáng kể về nguồn lợi thuỷ hải sản. Biển Đông là một biển nhiệt đới, nhiệt độ trung bình năm khoảng 230C, có hoạt động luân phiên của các dòng biển nóng và lạnh theo mùa đã giúp cho vùng biển này rất đa dạng về thủy hải sản cả về số lượng loài và số lượng cá thể. Ước tính có hơn 2000 loài cá, 1647 loài giáp xác, 70 loài tôm, 2500 loài nhuyễn thể… Đây là điều kiện rất quan trọng để thúc đẩy ngành khai thác và nuôi trồng thủy hải sản của các nước phục vụ tốt hơn cho sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Một nguồn tài nguyên rất quan trọng khác mà Biển Đông đã ban tặng cho đó chính là nguồn dự trữ về dầu mỏ và khí đốt khổng lồ. Theo các cuộc khảo sát và thăm dò cho thấy vùng thềm lục địa Biển Đông có trữ lượng về dầu mỏ và khí đốt khá lớn. Trong tương lai nguồn tài nguyên này sẽ phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế chung cho các quốc gia Đông Nam Á. Hiện nay, dầu mỏ và khí đốt đã được khái thác ở Indonesia, Brunây, Việt Nam…Ngoài ra trong lòng Biển Đông cũng còn chứa đựng rất nhiều tài nguyên kim loại và phi kim loại khác. Biển Đông cũng là vùng biển có rất nhiều đảo với hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ nằm rải rác trong Biển Đông và một diện tích rừng ngập mặn khá lớn. Đây là một tiềm năng rất quan trọng để phát triển du lịch, dịch vụ hàng hải và bảo vệ an ninh quốc phòng. Vị trí của Biển Đông được xác định là từ xích đạo (00) tới 250B thông với biển Java ở phía Nam qua các eo Kalimamta, Gaspa và với biển Đông Trung Hoa ở phía Bắc qua eo Đài Loan từ kinh tuyến 1000 Đ đến kinh tuyến 1210 Đ, thông với Ấn Độ Dương qua eo Malăcca và Thái Bình Dương qua eo Basi. Chiều dài từ Singapore tới Đài Loan khoảng 3000km, còn chiều dài từ bờ biển Nam Bộ (Việt Nam) tới bờ biển Kalimantan là khoảng 1000 km. Vì thế đây chính là vùng biển chung của rất nhiều quốc gia như: Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Singapore, Brunây, Philippin, lãnh thổ Đài Loan và Trung Quốc. Trong đó vùng biển thuộc chủ quyền làm chủ của Việt Nam khoảng 1.000.000 km2 và với đường bờ biển dài 3260 km. Vì thế, có rất nhiều khó khăn cho việc phân chia quyền lợi và chủ quyền lãnh thổ Biển Đông giữa các quốc gia nói trên. Biển Đông là một vùng biển tương đối sâu, độ sâu trung bình là 1140m, nơi sâu nhất đạt tới 5559m, nằm ở phía tây một lòng chảo sâu trên 4000m chạy theo hương Tây Nam – Đông Bắc giữa quần đảo Phlippin. Trong Biển Đông có 2 vịnh lớn là vịnh Thái Lan (diện tích 462.000 km2) và vịnh Bắc Bộ (diện tích 126.250 km2) và hàng ngàn các Trang 5 đảo và quần đảo: Hải Nam (Trung Quốc); Phú Quốc, Hoàng Sa, Trường Sa (Việt Nam)…Đây là những đảo rất có tiềm năng về phát triển du lịch và bảo vệ an ninh quốc phòng. Tuy nhiên nét nổi bật của Biển Đông là tính chất biển kín của nó, do bị bao bọc chung quanh bởi các rìa lục địa, đảo và quần đảo. Dễ hiểu hơn là các đường biển quốc tế nối liền Nam Á và xa hơn nữa là với Đông Bắc Á cũng như với Châu Mỹ phần lớn đều đi qua Biển Đông. Vì vậy, Biển Đông là trung tâm của Đông Nam Á cả với Trung Quốc và lãnh thổ Đài Loan. Tính chất biển kín sẽ ảnh hưởng đến đặc điểm của sóng, dòng biển, thuỷ triều cũng như cả về giới sinh vật… - Sóng trong Biển Đông có 2 loại là sóng gió và sóng lừng. Chế độ sóng phụ thuộc vào 2 loại gió mùa vào đặc tính của các vịnh và đặc biệt là ảnh hưởng của bão. Mùa đông hướng gió chủ yếu là Đông - Bắc có khi là Bắc hoặc Đông. Mùa hè hướng gió lại có hướng Tây – Nam. Sóng lừng được hình thành cùng với sóng gió, thường hình thành khi gió chuyển hướng hoặc giảm tốc độ. - Thuỷ triều trong Biển Đông rất phức tạp với sự biểu hiện đồng thời của 4 loại thuỷ triều khác nhau đó là: Chế độ nhật triều đều, nhật triều không đều, bán nhật triều đều, bán nhật triều không đều. Sóng và thuỷ triều là 2 yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới dãi đất ven biển: Các cửa sông hình phễu các hiện tượng xói lở bờ và bồi tụ, các lạch triều và bãi triều, các quần xã thực vật ngập mặn… đã nói lên điều đó. - Các hải lưu trong Biển Đông cũng đổi hướng theo mùa. Vào mùa đông, dưới tác dụng của gió mùa Đông - Bắc, luồng hải lưu chuyển động theo hướng Đông Bắc- Tây Nam áp sát bờ biển Kalimantan, bờ tây quần đảo Philippin để nhập lại vào hải lưu chính. Ở trung tâm biển này còn xuất hiện một nghịch lưu chảy ngược với hướng của hải lưu chính nói trên. Vào mùa hè, trong khi dòng hải lưu Đông - Bắc yếu dần, hình thành một dòng hải lưu trôi tương đối rộng ở ngoài khơi bờ biển Nam Bộ và Trung Bộ Việt Nam, chảy theo hướng Tây Nam – Đông Bắc nhưng ngày càng lệch về phía đông sát bờ biển Philippin. Phần lớn khối nước trôi này chảy qua eo biển Đài Loan để nhập vào hải lưu quy mô địa cầu là hải lưu Kurôsivô, phần còn lại hoà vào dòng Đông Bắc- Tây Nam tạo thành một hệ thống vòng tròn thống nhất (cũng như trong trường hợp trên ở giữa biển cũng hình thành và rồi cũng hoà nhập vào hải lưu chính). Có thể nói các chế độ sóng, thuỷ triều và hải lưu trong Biển Đông rất phức tạp và nghiên cứu chúng có quan hệ mật thiết với các hoạt động kinh tế ven bờ và trên biển, nhất là giao thông, đánh bắt và khai thác dầu khí. Tóm lại, Biển Đông là một biển lớn mà tài nguyên lại vô cùng phong phú. Do đó, để phát triển nền kinh tế biển, muốn sử dụng hợp lý và tối ưu tài nguyên này cần nghiên cứu tỉ mỉ và sâu sắc vùng biển để kết quả thu được ngày càng hiệu quả hơn. Đồng thời Biển Đông cũng là cầu nối liên lục địa, tức là giao thông hàng hải, đặc biệt là hàng hải quốc tế cũng có tác dụng rất quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam nói riêng và các quốc gia Đông Nam Á nói chung. Không chỉ vậy Biển Đông còn là vùng biển rất có tiềm năng để phát triển du lịch với các trung tâm nghỉ mát nổi tiếng như: Nha trang, Vũng Tàu, Singapore…Đây là một ngành kinh tế tương đối hấp dẫn trong tương lai là một ngành kinh tế mũi nhọn cho các quốc gia Đông Nam Á có vùng biển. Đặc biệt, Biển Đông đã trở thành nơi cư trú và sản xuất cho con người, nhất là từ khi Liên Hợp Quốc đã lấy năm 1998 là năm Quốc Tế Đại Dương và coi đại dương là một di sản chung của toàn nhân loại. Trang 6 2. Phân vùng Biển Đông: Phân vùng Biển Đông cũng là một vấn đề rất quan trọng và cần thiết. Trước hết là đối với địa lý học qua phân vùng Biển Đông sẽ phát hiện ra các đặc trưng cơ bản và độc đáo của từng khu vực biển, đồng thời lại xác định mối quan hệ giữa các đặc trưng hải văn đó với môi trường địa lý địa phương. Sau nữa là về phương diện thực tiễn sản xuất có thể sử dụng triệt để và hợp lý nguồn tài nguyên tại các khu vực biển đó. Hệ thống phân vùng Biển Đông được chia thành các cấp sau: Bảng: 1.1: Các cấp phân vùng Biển –Đông Nguồn: Địa lí tự nhiên Biển Đông của Nguyễn Văn Âu - Miền: Là phân vị lớn nhất trong Biển Đông mang đặc tính của sự phân hoá theo qui luật địa đới. - Khu: Là cấp phân vị thứ hai trong biển do sự phân hoá theo qui luật phi địa đới mà ở đây là sự phân hoá theo hướng kinh tuyến. - Vùng: Là cấp phân vị nhỏ nhất song là cơ bản của hệ thống thể hiện ở cả hai qui luật trên. Theo kết quả trên thì hệ thống phân vùng Biển Đông đã có sự phân hoá thành các khu vực khác nhau với một hệ thống phân vị gồm: + Miền: 2 đơn vị :Bắc và Nam Biển Đông + Khu: 6 đơn vị: Đông Bắc, Tây Bắc, vịnh Bắc Bộ, Đông Nam, Tây Nam và vịnh Thái Lan. + Vùng: 9 đơn vị: Mỗi vùng tương ứng với một khối nước nhất định: Bắc, Hoàng Sa, Đông Bắc, vịnh Bắc Bộ, Phú Quí, Tây Nam, Song tử, Trường Sa, vịnh Thái Lan. Khi mã hoá thì các vùng sẽ được biểu thị như sau: Miền Khu Vùng Á vùng Kí hiệu Tên gọi 1 1 1 111 Bắc 2 112 Hoàng Sa 2 3 123 Đông Bắc 3 4 a 134a Tây vịnh Bắc Bộ b 134b Đông vịnh Bắc Bộ 2 4 5 245 Phú Quý 6 246 Tây Nam 5 7 257 Song Tử 8 258 Trường Sa 6 9 a 269a ĐB vịnh hái Lan b 269b TN Vịnh Thái Lan Trang 7 Trang 8 Sơ đồ 1.1: phân vùng Biển Đông Tóm lại, nước là một môi trường khá đồng nhất, song do tác động của quá trình động lực, nhất là hoạt động của các hải lưu nên trong Biển Đông cũng có sự phân hóa thành các khối nước khác nhau. Tuy vậy sơ đồ này cũng mới phản ánh được những nét cơ bản nhất của một vùng biển phức tạp này. II. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA VÙNG BIỂN VIỆT NAM 1.Toàn cảnh biển – đảo Việt Nam. Trang 9 Hệ thống đảo ven bờ Việt Nam gồm 2773 đảo lớn, nhỏ với diện tích 1.720 km2, trong đó các đảo nhỏ dưới 0,5 km2 chiếm hơn 97% và tập trung chủ yếu ở vùng biển vịnh Bắc Bộ đó là các đảo đá vôi, địa hình thấp, chịu nhiều tác động của quá trình phong hóa hóa học, tạo nên một quần thể đảo có kiến trúc đặc sắc: các sườn, vách dốc đứng với các đỉnh sắc nhọn, hoặc các khối đá đổ vở chồng chất và các hốc sóng vỗ - một cảnh quan độc nhất vô nhị trong ý nghĩa toàn cầu về giá trị địa chất và địa mạo. Vùng đá vôi Karst với cái tên huyền thoại “di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long”. Các đảo lớn từ 1 km2 trở lên có 84 đảo, trong đó có 24 đảo có diện tích từ 10 km2 trở lên như: Phú Quốc 568 km2, Cát Bà 297 km2, Cái Bầu 200 km2, Côn Đảo 76 km2, Phú Quý 39 km2…những đảo này chiếm tới 82% diện tích tự nhiên các đảo khoảng 1413 km2, phân bố rải rác từ vùng biển ven bờ Quảng Ninh tới Kiên Giang, các đảo có địa hình chủ yếu là đồi núi thấp, dạng khối bất đối xứng. Nhìn chung, các đảo đều có sườn thoải ( thường là sườn khuất gió, ít chịu tác động của quá trình động lực biển) phát triển theo bề mặt các lớp đá có thế nằm nghiêng, có các bề mặt san bằng và các bậc thềm mài mòn trên những độ cao khác nhau 300m, 200m, 100 m, 70m, 50m… Dưới chân đảo là những cung bờ lỡm với các địa hình tích tụ cát thạch anh trắng mịn, là những bãi tắm lý tưởng với những kích thước khác nhau như vài chục mét đến vài trăm mét, thậm chí đến cả vài ngàn mét như: Cô Tô, Ngọc Vừng, Cái Bầu, Phú Quốc, Phú Quý… Sườn đón gió là những vách đá dốc đứng (300 – 600), chịu tác động mạnh của quá trình thủy động lực và vận động kiến tạo cục bộ tạo nên các cảnh quan địa chất hùng vĩ. Đặc biệt các đảo cấu tạo từ đá granit ở vùng ven biển miền Trung có các khe nứt, các hốc đá cheo leo trên sườn dốc là những nơi cư trú của chim yến như: Hòn Khô, Hòn Lao, Cù Lao Chàm và các đảo ở vùng biển Nha Trang đem lại nguồn lợi rất lớn cho quá trình phát triển kinh tế. Về cấu tạo địa chất các đảo lớn có sự phân hóa theo từng vùng. Các đảo ven vịnh Bắc Bộ được cấu tạo từ đá cacbonat chiếm ưu thế, các đảo ven bờ từ Thanh Hóa đến Bình Thuận và các đảo ven bờ Tây Nam được cấu tạo chủ yếu từ đá macma xâm nhập, đá trầm tích, granit và phun trào. Lớp vỏ phong hóa phủ trên sườn các đảo này thường không dày, thành phần vật chất gắn liền với cấu tạo địa chất, chủ yếu là đất feralit nâu vàng trên sản phẩm phong hóa đá vôi có thành phần cơ giới từ thịt nặng tới sét pha. Đất feralit vàng đỏ trên sa diệp thạch có thành phần cơ giới nặng, cấu trúc tốt. Đất cát hoặc đất nghèo mùn và nghèo đạm thường làm lượng lân và kali từ trung bình đến nghèo phân bố ở các thềm biển ở độ cao từ 6 – 10 m. Địa hình đáy biển xung quanh đảo không đồng nhất và khá phức tạp gồm: địa hình tích tụ, nông thoải từ độ sâu 2m và từ 10 đến 20 m với thảm san hô rất phát triển độ che phủ đạt 60% - một hệ sinh thái đặc trưng của vùng biển nhiệt đới có hệ số đa dạng sinh học cao, giàu nguồn lợi đặc sản. Ngoài ra, hệ sinh thái san hô còn là bộ lọc nước tự nhiên cao cấp làm sạch môi trường nước biển. Địa hình xâm thực ở chân đảo tạo thành các thung lũng ngầm kéo dài và các rãnh sâu dưới chân các mũi nhô của đảo độ sâu có thể đạt đến 30 m hoặc sâu hơn tạo thành những cư sinh của các loài đặc sản như: tôm hùm, các nhuyễn thể sống bám vào vách đá. Trang 10 Bản đồ 1.2: Các đảo và quần đảo Việt Nam Bản đồ 1.2: Các đảo và quần đảo Việt Nam Ở ngoài khơi vùng biển Viêt Nam còn có hai quần đảo lớn đó là quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Đây là các đảo đá, san hô với dạng ám tiêu san hô vòng độc đáo. Hai quần đảo có một ý nghĩa rất lớn trong vai trò tiền tiêu bảo vệ tổ quốc. Có thể khẳng định, biển – đảo Việt Nam là một đơn nguyên cảnh quan địa chất, địa mạo, là một hệ sinh thái hoàn chỉnh, có rừng có biển, có núi, có bãi cát và chan hòa ánh sáng mặt trời. Cảnh quan biển – đảo trán lệ, khí hậu trong lành đến tinh khiết, tài nguyên đa dạng và phong phú, không gian rộng lớn đến vô tận là nguồn sinh lực dồi dào cho sự phát triển của con người và xã hội. Lấy biển làm chổ dựa nhằm thõa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi người dưới điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Do hoàn cảnh tự nhiên về cấu tạo địa chất, địa hình và cảnh quan mà mỗi đảo có những nét riêng, song lại có chung một điểm là nét lý tưởng để phát triển kinh tế - sinh thái và du lịch. Trên thực tế rất nhiều đảo trên thế giới đã phát triển thành những thiên đường du lịch nổi tiếng như: Ha Oai (Thái Bình Dương), Manlta (Địa Trung Hải), Mandivơ (Ấn Độ Dương), Bacmuđa (Đaị Tây Dương)…đã đem lại nguồn tài chính lớn lao cho các nước như: Hoa kì, mỗi năm có khoảng 45 triệu du khách đến tham gia du lịch biển – đảo và thu được 8 tỷ USD; tại Canada có 65 triệu lượt và thu về 4,7 tỷ USD, tại Nhật bản có 100 triệu lượt, còn tại Trung Quốc có khoảng 1.500 điểm phong cảnh du lịch bờ biển và hải đảo đã thu hút hàng trăm triệu lượt khách du lịch mỗi năm. 2. Đặc điểm hải văn Biển Việt Nam: 2.1.Nhiệt độ: Nhiệt độ nước biển trung bình hàng năm ở vùng biển nước ta khoảng 230C và có sự thay đổi theo mùa, theo khu vực và theo độ sâu. Ở vùng biển nước ta nhiệt độ nước biển tăng dần từ bờ biển ra ngoài khơi. Sự dao động theo mùa của nhiệt độ nước biển rất đáng kể. Tại khu vực phía Bắc của vịnh Bắc Bộ, nhất là vùng ven bờ về mùa đông nhiệt độ có thể xuống dưới 150C. Trong thời kì mùa hạ, nhiệt độ trên khắp vùng biển nước ta tương đối đồng nhất và đạt khoảng 300C. Như vây, sự chênh lệch lớn của nhiệt độ nước biển từ Bắc vào Nam cũng chỉ xảy ra vào thời kì đầu mùa đông, tương tự như đối với nhiệt độ không khí trên đất liền. Nhiệt độ nước biển ở vùng biển Việt Nam cũng giảm theo độ sâu tùy thuộc vào độ sâu đáy biển và vị trí vùng biển. Ở vùng biển nông nhiệt độ nước biển giảm dần và diễn ra từ từ, giữa tầng mặt và tầng đáy chỉ chênh lệch 10C – 20C. Ở ngoài khơi, nhất là ở vùng biển sâu sự giảm nhiệt độ diễn ra phức tạp hơn nhiều. 2.2. Độ mặn: Độ mặn trung bình ở vùng biển nước ta khoảng 32 - 33%0 song cũng có sự thay đổi theo thời gian và không gian. Ở khu vực ven bờ, do ảnh hưởng của nước sông nên độ mặn giảm đi và có sự thay đổi theo mùa cũng như có sự khác nhau giữa các khu vực. Ở ngoài khơi nước biển có tỷ lệ mặn cao và thường ổn định hơn. Sự biến động theo mùa của độ mặn có thể dao động từ dưới 20%0 trong mùa mưa đến trên 30 – 32%0 trong mùa khô khiến cho biên độ hàng năm của độ mặn cũng thay đổi theo từng khu vực. VD: Tại Hòn Dáu là 17,5%0, Văn Lí là 9,3%0, Vũng Tàu là 5,8%0... Trang 11 Ở ngoài khơi thì độ mặn ổn định hơn và có biên độ năm thấp như: Hoàng Sa 0,75%0, Trường Sa 1,7%0…Độ mặn nước biển còn tăng theo độ sâu, sự gia tăng này thể hiện tương đối rõ ở khu vực ven biển. Còn ở ngoài khơi chỉ tăng khoảng 1%0. 2.3. Thủy triều: Chế độ thuỷ triều ven bờ biển Việt Nam có những nét riêng khác với các khu vực khác trên thế giới. Dọc bờ biển Việt Nam phổ biến là chế độ nhật triều (gồm nhật triều đều và nhật triều không đều), còn chế độ bán nhật triều (gồm bán nhật triều đều và bán nhật triều không đều) khá phổ biến trên thế giới thì lại kém phát triển ở nước ta. Các nhân tố chính tác động đến chế độ nhật triều ở nước ta là địa hình và độ sâu của đáy biển, ở các vũng vịnh và hải đảo, nhất là đảo Hải Nam - Chế độ nhật triều đều: Xảy ra ở phía Bắc của vịnh Bắc Bộ như ở Thiên Môn, Cẩm Phả, Hòn Gai…và ở vịnh Thái Lan. - Chế độ nhật triều không đều: Xảy ra ở phía Nam vịnh Bắc Bộ như Hòn Niên, Đồng Hới, Quy Nhơn, Nha Trang… và ở Nam Bộ như Cà Mau, Hà Tiên… - Chế độ bán nhật triều đều: Chế độ thuỷ triều này rất hiếm ở nước ta, chỉ phát triển trong phạm vi vài chục km ở khu vực cửa Thuận An. - Chế độ bán nhật triều không đều: Cũng ít xảy ra ở nước ta và tập trung ở hai khu vực từ Cửa Tùng đến Quảng Ngải và vùng Vũng Tàu – Côn Đảo. 2.4. Sóng: Ở vùng biển nước ta sóng không lớn lắm nhưng cũng khác nhau về kích thước, hướng truyền và dạng sóng do sự chi phối của chế độ gió và đặc điểm địa hình bờ biển. Sóng gió chịu tác động trực tiếp của gió mùa còn sóng lừng là loại dao động không chịu tác động trực tiếp của nhân tố sóng mà được phát sinh do sự đổi hướng hay giảm tốc độ đột ngột của gió, nhất là do gió bão gây ra. Trong mùa đông tần suất hướng sóng Đông Bắc chiếm tới 75%, cao nhất là trong tháng 1 và tháng 2 có thể lên tới 80 – 90% với số ngày sóng mạnh trên cấp năm chiếm 20-30%. Trong gió mùa Tây Nam do tốc độ gió nhỏ nên số ngày lặn sóng lên đến 20% và số ngày sóng mạnh cấp 5 giảm xuống còn 10 – 20%. Hướng sóng Tây Nam trung bình chiếm khoảng 60% trong mùa hạ. Vào thời kì giữa mùa (tháng 7,8) tần suất tối đa cũng 67%, nhưng khi có bão thì sóng hướng Tây Nam lại lớn hơn hẳn sóng hướng Đông Bắc. 2.5. Dòng Biển: Ngoài các dao động nước biển kể trên, còn có dạng chuyển động tịnh tiến của nước biển đó là hải lưu hay dòng biển. Hải lưu chủ yếu trên Biển Đông là các dòng địa phương trong nội bộ Biển Đông do gió mùa và địa hình chi phối. Thế nhưng cũng có các dòng biển bổ sung từ phía Bắc xuống hay từ phía Nam lên. Hải lưu trên vùng biển Việt Nam được hình thành bởi hai dòng chảy khác nhau tùy thuộc vào tác động của gió mùa. Trang 12 - Vào mùa đông, gió mùa Đông Bắc tạo nên một dòng biển chảy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam kết hợp với một bộ phận nước từ dòng biển lớn Kưrôsivô rẽ vào, với tốc độ khoảng 60 -70 cm/s (hơn 1 hải lí/h) đôi khi lên tới 100cm/s. Đặc biệt vào thời kì giữa mùa đông (từ tháng 12 đến tháng 2) gió mùa Đông Bắc thổi ổn định và mạnh, tốc độ của dòng biển có thể đạt tới 2 – 3 hải lí/h. - Vào mùa hạ, do ảnh hưởng của gió Tây Nam nên hình thành một dòng biển chảy theo hướng Tây Nam – Đông Bắc. Dòng biển này chảy sát bờ biển Trung Bộ song càng lên phía Bắc càng mở rộng và càng lệch sang phía Đông rồi chảy vào dòng biển lớn Kưrôsivô, tốc độ trung bình chỉ đạt 30cm/s, lớn nhất tới 50 – 60cm/s. Trong thời gian dòng biển mùa hạ chảy, dòng biển mùa đông không mất hẳn, mà có thể chìm sâu xuống, chảy ở độ sâu 80 – 140 m. Trong các tháng chuyển mùa, cả hai dòng biển theo mùa này đều yếu, nên đã hình thành dòng biển nhỏ chạy vòng tròn, ở phía Bắc xoáy nước tròn nằm giữa cửa vịnh Bắc Bộ và quần đảo Hoàng Sa, còn ở phía Nam thì từ bờ biển Nam Trung Bộ và Nam Bộ đến Côn Đảo. Ở vịnh Bắc Bộ và vịnh Thái Lan, hệ thống dòng biển cũng có sự thay đổi ngược nhau theo mùa. Tại vịnh Bắc Bộ vào mùa đông có một dòng biển lạnh chạy theo hướng Đông Bắc- Tây Nam ven theo đường bờ với tốc độ 25–30 cm/s, đồng thời từ cửa vịnh theo hướng Tây Nam – Đông Bắc có một dòng biển nóng chảy theo bờ đảo Hải Nam. Cả hai dòng biển này đã tạo thành một dòng tròn ngược chiều kim đồng hồ. Vào mùa hạ, tại cửa vịnh một dòng biển nóng khác chảy theo hướng Đông Nam – Tây Bắc men theo bờ biển Bắc Bộ với tốc độ trung bình 15 – 20m/s rồi vòng về ven biển đảo Hải Nam hình thành một hệ thống vòng tròn chảy thuận theo chiều kim đồng hồ. Tại vịnh Thái Lan vào thời kì gió mùa Đông Bắc, dòng biển biến thành vòng tròn ngược chiều kim đồng hồ nên ở khu vực bờ biển phía Tây Nam Bộ thuộc Kiên Giang và Cà Mau có dòng biển Đông Nam – Tây Bắc với tốc độ 15-20cm/s. Còn vào thời kì gió mùa Tây Nam thì dòng biển chảy thành vòng tròn thuận chiều kim đồng hồ nên ở khu vực bờ biển phía Tây Nam Bộ lại có dòng Tây Bắc-Đông Nam với tốc độ 10- 15cm/s. Điều đáng chú ý là ở khu vực giữa vịnh nước chuyển động với tốc độ rất nhỏ nên đã tạo điều kiện cho sự tập trung một lớp rong nổi, hình thành một biển Sa Gát nhỏ, giống như ở giữa Đại Tây Dương. 3.Tác động của Biển Đông đối với thiên nhiên Việt Nam: 3.1.Khí hậu mang tính hải dương: Tính chất hải dương của nước ta được thể hiện rõ nét qua tác dụng điều hòa khí hậu của Biển Đông, làm cho độ ẩm không khí của nước ta luôn trên 80%. Vào thời kì mùa đông, nhiệt độ của nước biển ấm hơn đất liền, lượng nhiệt và ẩm của biển đã làm bớt độ lạnh và khô của kiểu khí hậu mùa đông ở miển Bắc đặc biệt vào các đợt hoạt động mạnh của gió mùa Đông Bắc. Vào thời kì mùa hạ lượng nhiệt và ẩm lớn Trang 13 Hình 1.1: Bãi biển Vũng Tàu của biển làm tăng cường lượng mưa và độ ẩm trên đất liền, nhất là ở những nơi có địa hình chắn gió thuận lợi. Biển tạo nên khí hậu mát mẽ, trong lành cho nên nhiều nơi ở vùng biển nước ta đã xây dựng trở thành các địa điểm du lịch nghĩ mát, an dưỡng nổi tiếng như: Nha Trang, Vũng Tàu, vịnh Hạ Long, Phú Quốc… 3. 2. Địa hình ven biển đa dạng và đặc sắc: Các dạng địa hình ven biển nước ta rất đa dạng, đặc trưng vùng biển nhiệt đới ẩm với tác động của quá trình xâm thực – bồi tụ diễn ra mạnh mẽ trong mối tương tác giữa biển và lục địa. Đó là các dạng địa hình vịnh cửa sông, các bờ biển mài mòn, các tam giác châu thổ với bãi triều rộng lớn, các bãi cát phẳng lì, các vũng vịnh nước sâu, các đảo ven bờ và các dạng san hô có nhiều giá trị về kinh tế và du lịch. - Từ Móng Cái đến Yên Lập: vốn là một khu vực đồi núi biển tràn ngập, tạo nên đoạn bờ biển nhiều đảo nhất Việt Nam. Bãi biển Trà Cổ là bãi biển đẹp nhất ở đây. Nơi đây còn có một kỳ quan của thế giới là vịnh Hạ Long. - Đoạn từ Yên Lập đến Lạch Trường: là đoạn bờ biển rất thấp, lầy bùn. Bãi biển Đồ Sơn được khai thác làm bãi tắm nhưng nước biển vẫn đục vì hòa lẫn phù sa do các cửa sông._. lân cận đổ ra. - Đoạn từ Lạch Trường đến Quy Nhơn: Đây là đoạn bờ biển khúc khuỷu, song được san bằng qua phương thức cồn – phá. Những mõm núi nhô ra biển được nối liền với nhau bởi các cồn cát, bãi cát lấy kín vùng biển làm thành các phá nối, phá bị lấp thành đồng bằng chân núi. Cũng vì thế, đoạn này có nhiều bải tắm đẹp nổi tiếng như: Sầm Sơn, Cửa Lò, Cửa Tùng, Thuận An, Mỹ Khê, Non Nước, Sa Huỳnh… - Đoạn từ Quy Nhơn đến Mũi Dinh: Là đoạn bờ biển có dạng trẻ nhất và khúc khuỹu nhất với nhiều mũi đất, vách đá và vũng biển kín đáo. Đây cũng là đoạn bờ biển tuyệt đẹp, có sự hòa huyện giữa núi và biển. Nổi tiếng nhất là vịnh Cam Ranh, kín đáo có độ sâu từ 20 -30 m, tàu biển có trọng tải 100.000 tấn có thể ra vào dễ dàng. - Đoạn từ Mũi Dinh đến Vũng Tàu: đây là đoạn bờ biển có địa hình bằng phẳng, có những đụn cát màu đỏ, có 2 mũi đá là mũi Kê Gà và mũi Vũng Tàu che chắn cho vùng bờ biển này. - Đoạn từ Vũng Tàu đến Hà Tiên: là bờ biển tam giác châu. Tuy vậy, do ảnh hưởng của thủy triều vào sâu, nên cảng Sài Gòn mặc dầu nằm xa biển trên 80 km nhưng cũng đã xây dựng thành cảng lớn nhất Việt Nam với mực nước sâu có thể tới 18m, tàu trọng tải 20.000 tấn có thể ra vào dễ dàng. - Dọc bờ biển khu vực bán đảo Cà Mau có rừng ngập mặn rất phát triển với diện tích trên 300.000 ha. Trang 14 Hình 1.2: Bãi biển Trà Cổ Ở ngoài khơi Biển Đông thuộc vùng biển nước ta còn có địa hình kiểu san hô với 2 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Đó là các đảo san hô và các đảo đá, bãi cạn, xung quanh bề mặt được bao phủ cát và sát sinh vật biển. Tại nhiều nơi còn được phủ bởi một lớp phân chim biển khá dày. Đây cũng là một nguồn nguyên liệu đáng kể để phục vụ cho ngành sản xuất phân bón. 3.3. Cảnh quan thiên nhiên rừng ưu thế: Lượng mưa, độ ẩm cao do Biển Đông mang lại đã xúc tiến mạnh mẽ hơn cường độ vòng tuần hoàn sinh vật vốn đã thuận lợi trong điều kiện khí hậu nhiệt đới nước ta. Ngoài trừ một số địa phương có khí hậu khô khan hoặc những nơi đất bị khai thác kiệt quệ, còn lại khắp mọi nơi trên đất nước, màu xanh bao phủ do quá trình tái sinh, hồi phục rừng diễn ra mau chóng. Địa hình đồi núi chiếm chủ yếu khiến cho cảnh quan rừng là tiêu biểu cho thiên nhiên nước ta. Cảnh quan rừng đã thay thế cảnh quan sa mạc, bán hoang mạc nhiệt đới, cận nhiệt đới mà ta thấy ở các nước có cùng vĩ độ thuộc vùng Tây Nam Á và Bắc Phi. Hình dạng bán đảo còn mang lại cho tài nguyên rừng nước ta diện tích rừng nhiệt đới ẩm thường xanh ngập mặn ven biển khá rộng, có tới 450.000 ha, riêng vùng Nam Bộ là 300.000 ha, lớn thứ 2 thế giới chỉ sau rừng ngập mặn Amadôn. Hệ sinh thái rừng ngập mặn cho năng suất sinh học cao, đặc biệt là sinh vật nước lợ. Tuy nhiên, hiện nay rừng ngập mặn đã bị thu hẹp lại đáng kế do nhiều nguyên nhân khác nhau. 3.4. Thiên tai: Kèm theo những điều kiện thuận lợi do biển mang lại thì trung bình mỗi năm vùng đồng bằng và ven biển nước ta đón nhận từ 3-4 cơn bão trực tiếp từ Biển Đông đổ vào. Năm bão nhiều có tới 8-10 cơn, năm ít cũng 1-2 cơn. Bão qua Biển Đông gây mưa to, lượng mưa đột ngột tăng lên đến 300-400 mm trong 24 giờ, Trang 15 Hình:1.3: Rừng ngập mặn Cần Giờ Sơ đồ 1.2: Đường đi của bão Cimaron nước dâng mạnh, gió giật mạnh, sóng lớn làm phá hủy các công trình xây dựng, đắm chìm tàu bè và làm ngập mặn đất đai. Những đợt sóng lớn (sóng lừng) do gió bão gây ra có thể rất cao, độ cao cực đại ở Cô Tô, Bạch Long Vĩ là 6-7m, Hoàng Sa, Trường Sa là 11m… Bão lớn, sóng lừng, nước dâng là những thiên tai bất thường, khó phòng tránh vẫn thường xuyên đe dọa hàng năm, gây hậu quả nặng nề cho vùng đồng bằng ven biển nước ta, nhất là vùng ven biển Trung Bộ. Sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên thiên nhiên biển-đảo, phòng chóng ô nhiểm môi trường, thực thể những biện pháp phòng chóng thiên tai là những vấn đề hệ trọng cần giải quyết trong chiến lược khai thác tổng hợp kinh tế biển-đảo nước ta. 4. Vùng biển và chủ quyền của nước Việt Nam: Vùng biển nước ta bao gồm: nội thủy, lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. 4.1. Nội Thủy: Nội thủy là vùng nước ở phía trong đường cơ sở để tính lãnh hải của mỗi quốc gia. Ngày 12 tháng 11 năm 1982, chính phủ nước ta đã ra tuyên bố quy định đường cơ sở ven đường bờ biển để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam. Việc xác định các điểm chuẩn là các đảo ven bờ và các mũi đất dọc bờ biển để vạch đường cơ sở của nước ta được dựa trên cơ sở pháp lí phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế. Riêng đường cơ sở của các quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và vịnh Thái Lan sẽ được quy định sau do hiện nay chưa giải quyết xong vấn đề chủ quyền và phân định biên giới trên biển với các nước có liên quan. Theo đó, vùng nội thủy của nước ta mặc dù nằm trên biển song vẫn được coi như lãnh thổ trên đất liền. 4.2. Lãnh hải: Lãnh hải Việt Nam theo tuyên bố của chính phủ nước ta ngày 12 tháng 5 năm 1977, có chiều rộng là 12 hải lí. Ranh giới phía ngoài của lãnh hải được coi là biên giới quốc gia trên biển. Trên thực tế, đó là các đường song song và cách đều đường cơ sở về phía biển 12 hải lí. 4. 3. Tiếp giáp lãnh hải: Tiếp giáp lãnh hải là vùng biển được quy định nhằm đảm bảo cho việc thực hiện chủ quyền của một nước ven biển. Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước ta cũng được Trang 16 Sơ đồ 1.3: Vùng biển và chủ quyền của Việt Nam quy định có chiều rộng 12 hải lí. Trong vùng này, nhà nước ta có quyền thực hiện các biện pháp để bảo vệ an ninh quốc phòng, kiểm soát thuế quan, các quy định về y tế, môi trường, di cư, nhập cư… 4.4. Vùng đặc quyền kinh tế: Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển hợp với lãnh hải có chiều rộng 200 hải lí tính từ đường cơ sở. Ở vùng này Nhà nước ta có chủ quyền toàn bộ về kinh tế nhưng vẫn để các nước khác được đặt các đường ống dẫn dầu, dây cáp ngầm và tàu thuyền, máy bay nước ngoài được tự do về hàng hải và hàng không, đúng như các công ước quốc tế về Luật Biển đã quy định. 4.5. Thềm lục địa: Thềm lục địa nước ta cũng được nhà nước quy định bao gồm: đáy biển và lòng đất dưới biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, có độ sâu 200m hoặc sâu hơn nữa. Nơi nào bờ ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở không đến 200 hải lí thì thềm lục địa nơi ấy được tính cho đến 200 hải lí. Nhà nước ta có chủ quyền hoàn toàn về mặt thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lí các tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt Nam. Như vậy, theo quan điểm mới về chủ quyền quốc gia thì Việt Nam có chủ quyền trên một vùng biển khá rộng, khoảng 1.000.000 km2 tại Biển Đông. 4.6. Vùng Trời: Vùng trời Việt Nam là khoảng không gian bao trùm lên lãnh thổ nước ta, trên đất liền được xác định bằng các đường biên giới, trên biển là ranh giới phía ngoài của lãnh hải và không gian của các hải đảo. 5. Phân định vịnh Bắc Bộ: Trước yêu cầu cần xây dựng một hệ thống đường biên giới quốc gia rõ ràng nhằm tạo ra môi trường xung quanh ổn định cho sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước, cùng với việc giải quyết những vấn đề biên giới lãnh thổ với các quốc gia láng giềng khác. Vấn đề cần quan tâm hàng đầu ở đây là việc giải quyết việc phân định ranh giới trên vùng vinh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Vịnh Bắc Bộ có diện tích 126.250 km2, bờ biển có tổng cộng chiều dài khoảng 1458 km, trong đó bờ biển của Việt Nam dài khoảng 763 km và Trung Quốc 695 km. Dọc theo bờ biển của vịnh có 16 triệu người dân Việt Nam sinh sống ở 10 tỉnh, thành phố và 40 triệu người dân Trung Quốc sinh sống ở 3 tỉnh Quảng Tây, Hải Nam và Quảng Đông.Vịnh có 2 cửa là : eo biển Quỳnh Châu và eo chính là từ đảo Cồn Cỏ tới đảo Hải Nam rộng khoảng 112 hải lí. Trong vịnh có khoảng 3000 hòn đảo lớn nhỏ, nhưng đối với phần vịnh thuộc Việt Nam là 2300 đảo. Vịnh Bắc Bộ là cửa ngỏ giao lưu lớn và lâu đời của Việt Nam và thế giới, có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự nghiệp phát triển kinh tế, thương mại quốc tế cũng như bảo vệ quốc phòng, an ninh của nước ta. Vịnh còn có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú về hải sản và đáy biển của vịnh được dự báo là có tiềm năng về dầu và khí đốt. Việc duy trì và ổn định trong vịnh, thông qua đó đảm bảo thương mại hàng hải và khai thác hiệu quả các tài nguyên của vịnh, sẽ góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Đối với Trung Quốc, vịnh Bắc Bộ cũng có tầm quan trọng to lớn không kém, đặc biệt là đối với khu vực phía Nam của Trung Quốc. Vì Vậy, cả 2 nước đều rất coi trọng việc quản lý, sử dụng và khai thác vịnh Bắc Bộ. Trang 17 Sơ đồ 1.4: Phân định vịnh Bắc Bộ Do chiều rộng của vịnh Bắc Bộ nơi rộng nhất không đến 200 hải lý do bờ biển Việt Nam và Trung Quốc chủ yếu nằm đối diện nên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của 2 nước trong vịnh bị “chồng lấn” lên nhau. Ở khu vực ngoài cửa sông Bắc Luân, nơi bờ biển 2 nước tiếp liền nhau, lãnh hải của 2 nước cũng có sự chồng lấn và do đó, cần được phân định và tiến hành đàm phán để phân định lãnh hải nhằm xác định biên giới trên biển và ranh giới vùng đặc quyền kinh tế cũng như thềm lục địa giữa Việt Nam và Trung Quốc. Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ gồm 11 điều khoản, quy định về một đường phân định nối tuần tự 21 điểm có tọa độ địa lí cụ thể để phân định rõ ràng lãnh hải ( từ điểm số 1 đến điểm số 9) và ranh giới chung cho vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa ( từ điểm số 9 đến điểm số 21). Phạm vi phân định theo Hiệp định là toàn bộ vịnh Bắc Bộ, với đường ống của vịnh là đường thẳng nối giữa mũi Oanh Ca ( đảo Hải Nam) qua đảo Cồn Cỏ đến một điểm trên bờ biển Việt Nam tại tỉnh Quảng Trị. Hiệp định cũng quy định hai bên cam kết tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của mỗi bên đối với lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong vịnh đã được phân định theo Hiệp định. Theo đó, mỗi bên tự chủ tiến hành việc Trang 18 Sơ đồ 1.4: Phân định vịnh Bắc Bộ thăm dò, khai thác một cách độc lập các tài nguyên khoáng sản trong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình. Đối với các mỏ dầu khí tự nhiên đơn nhất hoặc các mỏ khoáng sản khác nằm vắt ngang đường phân định, hai bên phải thông qua hiệp thương hữu nghị để đạt thõa thuận về việc khai thác hữu hiệu nhất cũng như việc phân chia công bằng lợi ích thu được. Đồng thời hai bên đồng ý trao đổi về việc sử dụng hợp lý và phát triển bền vững tài nguyên sinh vật, hợp tác nhằm bảo tồn, quản lý và sử dụng tài nguyên sinh vật thuộc vùng đặc quyền kinh tế trong vịnh. Mọi tranh chấp giữa hai bên liên quan đến Hiệp định sẽ được giải quyết một cách hòa bình, hữu nghị thông qua thương lượng, việc giải quyết này không ảnh hưởng hay phương hại đến lập trường của mỗi bên đối với các quy phạm quốc tế về biển. Theo đường phân định này thì phía Việt Nam được hưởng 67.203 km2 ( chiếm 53,23% diện tích vịnh), phía Trung Quốc được hưởng 59.047 km2 ( chiếm 46,77% diện tích vịnh). Đường phân định đi cách đảo Bạch Long Vĩ 15 hải lý, tức được hưởng lãnh hải 12 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 3 hải lý (hiệu lực 25%), đảo Cồn Cỏ được hưởng 50% hiệu lực trong phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Đây là một kết quả công bằng đạt được trên cơ sở luật pháp và điều kiện cụ thể của vịnh. 6. Việc xác định chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa: Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là các hòn đảo mà cả một thời gian dài ít ai biết đến. Theo hiểu biết địa lý lúc bấy giờ, hai quần đảo được thể hiện liền một dải, bao gồm cả Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa và ban đầu được người Việt gọi chung một tên nôm là Bãi Cát Vàng. Vào nửa đầu thế kỷ XVII, chúa Nguyễn tổ chức “ đội Hoàng Sa” ra quần đảo này thu gôm hàng hóa và đánh bắt thủy hải sản quí hiếm đem về dâng nạp. Thông qua việc tổ chức khai thác tài nguyên trên hai quần đảo này liên tục hàng thế kỷ, trên thực tế cũng như về pháp lý, Nhà Nguyễn đã làm chủ hai quần đảo từ khi hai quần đảo này còn chưa thuộc về lãnh thổ của bất kỳ quốc gia nào và biến hai quần đảo này từ “ít ai biến đến” thành bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam. Thời kì Pháp xâm lượt Việt Nam, trên cơ sở đại diện cho triều đình phong kiến An Nam, Pháp đã có nhiều hành động củng cố chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa bằng việc tiến hành tuần tra, kiểm soát và đưa quân ra chiếm đóng trên các đảo. Sau chiến tranh thế giới lần hai, Pháp quay lại Hoàng Sa và Trường Sa. Sau 1954 hai quần đảo này thuộc chủ quyền của chính quyền cộng hòa Miền Nam, khi đó Hoàng Sa được sáp nhập vào tỉnh Thừa Thiên Huế còn Trường Sa thì sáp nhập vào tỉnh Phước Tuy (nay là tỉnh Bình Định và Phú Yên). Tháng 1/1974, khi Trung Quốc dùng không quân và hải quân đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa, chình quyền Sài Gòn đã tố cáo Bắc Kinh đã quy phạm chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa. Ngày 20/01/1974, chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã ra tuyên bố phản đối hành động này của phía Trung Quốc. Ngày 14/02/1975, Bộ ngoại giao chính quyền Sài Gòn công bố Sách trắng về các quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Quốc hội Việt Nam đã nhấn mạnh "Cần phân biệt vấn đề giải quyết tranh chấp quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa với các vấn đề bảo vệ các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, căn cứ vào những nguyên tắc và Trang 19 những tiêu chuẩn của công ước của Liên hợp Quốc về luật biển năm 1982”. Cho đến nay, Việt Nam đang thực sự quản lý 21 đảo, đá và bãi cạn thuộc quần đảo Trường Sa, không ngừng củng cố phát triển cơ sở vật chất và đời sống kinh tế - xã hội nhằm từng bước xây dựng huyện đảo trở thành đơn vị hành chính ngang tầm với vị trí và vai trò của nó trong hệ thống tổ chức hành chánh của nhà nước CHXHCN Việt Nam. Lập trường của Việt Nam là nước ta chiếm hữu thật sự hai quần đảo này ít nhất từ thế kỷ XVII khi nó chưa thuộc chủ quyền của bất kỳ quốc gia nào và Nhà nước Việt Nam đã thực hiện thực sự chủ quyền của mình một cách liên tục và hòa bình cho đến khi nó bị nước ngoài dùng vũ lực xâm chiếm. Trang 20 Bản dồ 1.3: Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa Bản đồ 1.3: Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa CHƯƠNG II: TIỀM NĂNG VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN-ĐẢO CỦA VIỆT NAM I. Khái niệm kinh tế biển – đảo: Theo GS – TS Bùi Tất Thắng: Kinh tế biển – đảo là các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển – đảo, tuy không trực tiếp diễn ra trên biển – đảo nhưng những hoạt động kinh tế này là nhờ vào yếu tố biển-đảo hoặc trực tiếp phục vụ các hoạt động kinh tế biển ở dải đất liền ven biển gồm: đóng và sữa chửa tàu biển, công nghiệp chế biến dầu khí, công nghiệp chế biển thủy hải sản, cung cấp dịch vụ biển, thông tin liên lạc, nghiên cứu khoa học – công nghệ biển, đào tạo nhân lực phục vụ phát triển kinh tế biển, điều tra cơ bản về tài nguyên – môi trường biển. II. Vài nét về đảo, quần đảo Việt Nam: Việt Nam có rất nhiều đảo và quần đảo, trong đó có 12 huyện đảo và phân bố thành 4 khu vực đảo: Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu về các huyện đảo Việt Nam năm 2000 STT Huyện đảo Diện tích (km2) Dân số (người) MĐDS 1 Vân Đồn 482 32.400 67 2 Cô Tô 35 1.900 54 3 Cát Hải 325,5 26.700 82 4 Bạch Long Vĩ 20,7 - - 5 Cồn Cỏ 4 - - 6 Hoàng Sa - - - 7 Lý Sơn 10,7 18.300 1710 8 Trường Sa 10 - - 9 Phú Quý 16 18.100 1131 10 Côn Đảo 76 6.000 79 11 Kiên Hải 39 20.100 515 12 Phú Quốc 593,2 52.700 88 Nguồn: Sổ tay địa danh Việt Nam của Nguyễn Dược và Trung Hải 1. Các đảo và quần đảo thuộc Quảng Ninh – Hải Phòng: Đây là khu vực có nhiều đảo nhất nước ta khoảng 2300 hòn đảo, chủ yếu là đảo đá vôi chạy dài dọc bờ biển tạo nên cảnh quan du lịch nổi tiếng như vịnh Hạ Long. Các dảo lớn như Cát Bà (297 km2), Cái Bầu (200 km2), Cô Tô ( 37 Km2)…hầu hết các đảo này có rất nhiều rừng, có thể xây dựng các khu bảo tồn thiên nhiên với các hệ sinh thái đảo rất độc đáo. Đảo Bạch Long Vĩ (20,7 km2) cách Hải Phòng 70 hải lý nổi tiếng là đảo “bào ngư”, đồng thời là tiền đồn ngoài cùng phía Đông Bắc của tổ quốc nên có giá trị rất lớn trong việc bảo vệ an ninh quốc gia. Trong vùng này có 4 huyện đảo: Trang 21 1.1 Huyện đảo Vân Đồn: Là huyện đảo nằm trong vịnh cùng tên Vân Đồn nằm ở phía Đông của thị xã Cẩm Phả diện tích 482 km2, với số dân 32.400 người. Huyện đảo gồm nhiều đảo lớn như Cái Bầu, Trà Bản, Quan Lan, Phượng Hoàng và nhiều đảo nhỏ khác. Đây là một huyện đảo có dân số tương đối đông, đó là một yếu tố quan trọng về nguồn lao động địa phương góp phần đáng kể trong chiến lược phát triển kinh tế. 1.2. Huyện đảo Cô Tô: Cô Tô là một huyện đảo gồm 29 đảo nhỏ và 2 đảo lớn là Cô Tô và Thanh Lam với tổng diện tích khoảng 37 km2. Đây là huyện đảo nằm trong vùng biển rất trù phú về nguồn lợi thủy hải sản, cư dân trên đảo sống chủ yếu là nghề nuôi, đánh bắt hải sản và làm nông nghiệp. Đặc biệt ở đây còn rất nổi tiếng về nghề nuôi trai ngọc với giá trị kinh tế rất cao. 1.3. Huyện đảo Cát Hải: Là một huyện đảo gồm 2 đảo lớn là Cát Hải và Cát Bà, diện tích 325,5 km2. Trên đảo có rất nhiều vũng kín thuận lợi cho tàu thuyền trú đậu và xây dựng các cảng biển. Dọc theo bờ biển còn có những bãi biển trắng mịn có thể khai thác thành bãi tắm phục vụ cho việc phát triển du lịch. Bên cạnh đó, trên đảo Cát Bà còn có vườn quốc gia cùng tên Cát Bà được thành lập vào năm 1986, diện tích của khu rừng này là 10.000 ha, trong rừng còn bảo tồn nhiều động, thực vật quý hiếm rất thích hợp cho việc phát triển du lịch sinh thái và du lịch nghiên cứu. 1.4 Huyện đảo Bạch Long vĩ: Là huyện đảo được thành lập vào tháng 12 năm 1992 với tổng diện tích 20,7 km2. Ở đây có địa hình tương đối bằng phẳng, có nguồn nước ngọt tương đối thuận lợi để cho cư dân sinh sống và phát triển kinh tế đặc biệt là khai thác hải sản và trồng trọt. Đây là khu vực biển có rất nhiều bào ngư, phục vụ tốt cho nhu cầu xuất khẩu. 2. Các đảo và quần đảo Bắc Trung Bộ: BTB là khu vực có ít đảo nhất nước ta, đáng kể nhất là các đảo: Hòn Mê, Hòn Ngừ, Hòn Mát, Cồn Cỏ… Các đảo này không lớn nhưng lại chứa nhiều đặc sản quan trọng như: tổ yến, ngọc trai… là những sản phẩm rất có giá trị cho xuất khẩu. Trên hòn Ngư có nhiều bãi biển tốt rất có điều kiện để phát triển thành bãi tắm phục vụ phát triển ngành du lịch nghĩ dưỡng. Nhưng quan trọng hơn là Cồn Cỏ, một đảo lớn nhất trong vùng biển này, nó án ngữ cửa ra vào vịnh Bắc Bộ, là một cột mốc để vạch đường cơ sở vùng lãnh hải nước ta. Trong vùng biển này chỉ có một huyện đảo đó là huyện đảo Cồn Cỏ (thuộc tỉnh Quảng Trị) có diện tích 4 km2, nằm cách bờ biển Quảng Trị 27 km, là huyện đảo có nhiều chiến công hiển hách trong kháng chiến chống Mỹ, là nơi có thể phát triển loại hình du lịch mang tính nhân văn và lịch sử. Đồng thời, Cồn Cỏ cũng là một tiền tiêu có trách nhiệm bảo vệ an ninh lãnh thổ quốc gia. 3. Các đảo và quần đảo Nam Trung Bộ và Nam Bộ: Giống như Bắc Trung Bộ đây cũng là khu vực không có nhiều đảo. Nhưng các đảo ở đây đã được tổ chức thành 5 huyện đảo (gồm 3 huyện đảo ven bờ là Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo và 2 huyện đảo ngoài khơi là Hoàng Sa, Trường Sa). Các đảo ở Nam Trung Bộ chủ yếu là các đảo đá, thế nhưng trên các vách đá cheo leo ấy lại chứa đựng Trang 22 một nguồn giá trị quan trọng là tổ yến, một loại sản phẩm có giá trị kinh tế rất cao. Trên vùng biển Nha Trang còn có hàng chục hòn đảo nhỏ, trên các đảo này lại có nhiều bãi tắm đẹp và cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn là một lợi thế để đầu tư và phát triển ngành du lịch nghĩ dưỡng, thể thao…Ngoài khơi, còn có 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là 2 quần đảo có rất nhiều tiềm năng về tài nguyên khoáng sản, đặc biệt là dầu khí; đồng thời cũng là một tiền tiêu bảo vệ tổ quốc. 3.1 Huyện đảo Hoàng Sa: Gồm hơn 30 hòn đảo, đá cồn, san hô, bãi cát nằm trên một vùng biển rộng 15.000 km2, cách Quảng Ngãi 120 hải lý. Thảm thực vật của quần đảo đa dạng, có đảo có cây cói um tùm, nhưng cũng có đảo chỉ có các cây bụi và cỏ dại. Trên đảo có nguồn phốt phát vôi do phân chim tích tụ từ lâu đời bị phong hóa. Qua khảo sát của các nhà địa chất Pháp ước tính trữ lượng khoảng gần 10 triệu tấn – đây là nguồn phân bón có giá trị lớn. Nơi đây cũng có nhiều loài hải sản quý như: tôm hùm, hải sâm, đồi mồi, vích, ốc tai voi… và một số loài rong câu quý hiếm, rất có giá trị trên thị trường quốc tế. Hai đảo lớn nhất ở đây là đảo Phú Lâm và đảo Linh Côn rộng khoảng 1,5 km2. 3.2. Huyện đảo Lý Sơn: Gồm 2 hòn đảo lớn là đảo Lý Sơn và Cù Lao Bờ Bãi với diện tích 10,7 km2. Trên đảo có một ngọn núi cao 180m và một số ngọn núi lửa đã tắt. Xung quanh đảo có nhiều rạn đá ngầm, dân cư trên đảo sống chủ yếu về nông nghiệp và đánh bắt hải sản, nông sản chính là tỏi. Vì vậy, đảo còn có tên là “vương quốc tỏi”, từ xưa là tiền đồn bảo vệ vùng bờ biển Miền Trung nên được gọi là cù lao Ré. Ven bờ các đảo có nhiều vũng, vịnh sâu và kín rất thích hợp để xây dựng các cảng biển có quy mô nhỏ và nuôi trồng thủy hải sản. Khác hẳn với các đảo khác, Lý Sơn còn có 1 di tích quốc gia đã được Bộ văn hóa xếp hạng đó là Chùa Hang - đây là một điều kiện thuận lợi để giúp Lý Sơn phát triển ngành du lịch mang âm hưởng phật giáo. Chính vì thế, trục tam giác Sa Kỳ - Lý Sơn – Dung Quất sẽ là tuyến du lịch lý tưởng trong tương lai khi khu công nghiệp Dung Quất hình thành. 3.3 Huyện đảo Trường Sa: Gồm hơn 100 đảo, chủ yếu là các đảo đá, bãi cạn, cồn san hô và bãi ngầm, nằm trong một vùng biển rộng từ 160.000 đến 180.000 km2, cách Cam Ranh 148 hải lý. Toàn bộ phần đất nổi của huyện đảo khoảng 10 km2, đảo lớn nhất là đảo Ba Bình và Song Tử Tây. Trên quần đảo chủ yếu là đá vôi, cát và san hô. Tuy nhiên, một số đảo vẫn có đất và nguồn nước tuy rất hạn chế nhưng cũng có thể trồng được cây lâu năm như dừa, bàng vuông, phong ba… Xung quanh Trường Sa là một vùng biển rất giàu có về tài nguyên thủy hải sản như: cá ngừ, vây vàng, cá ngừ mắt to, cá thu vàng… đó là những loài cá có giá trị kinh tế rất cao. Cùng với tài nguyên thủy hải sản, vùng nước trong quần đảo còn là nơi có trữ lượng san hô lớn, có thể sản xuất ra các sản phẩm mỹ nghệ và sử dụng nhiều trong lĩnh vực y học. Bên cạnh đó khu vực quần đảo Trường Sa còn có trữ lượng dầu khoảng 6 tỷ thùng, trong đó khí chiếm khoảng 70 %. Đây là một nguồn năng lương dự trữ tương đối lớn để giúp Việt Nam trong tương lai có thể phát triển một nền công nghiệp toàn diện. 3.4 Huyện đảo Phú Quý: Gồm 8 đảo lớn, nhỏ với diện tích khoảng 16 km2 và dân số hơn 18.000 người là huyện đảo có mật độ dân số rất cao hơn 1000 người/km2, đây là một nguồn lao động rất dồi dào đáp ứng tốt chương trình phát triển kinh tế của huyện đảo. Phú quý nằm Trang 23 trong phạm vi của một ngư trường lớn Ninh Thuận – Bình Thuận nên có một nguồn lợi thủy hải sản vô cùng phong phú, vùng biển này còn là nơi cư trú của nhiều loài cá mập – một loài cá quý hiếm và có giá trị rất cao, chính vì thế ngư dân ở đây còn có nghề câu cá mập và nghề bán vây cá đem lại lợi nhuận to lớn. Huyện đảo Phú Quý còn có vị trí quan trọng là nằm trên trục đường biển quốc tế thuận lợi trong việc phát triển các hoạt động dịch vụ hàng hải, đã được xác định là một trung tâm kinh tế biển, khu công nghiệp chế biến và dịch vụ hàng hải. Trong tương lai Phú Quý sẽ trở thành khu kinh tế đầu tiên được xây dựng theo mô hình đặc khu kinh tế biển. 3.5 Huyện Côn Đảo: Côn Đảo nằm cách thành phố Vũng Tàu khoảng 180 km với diện tích khoảng 76 km2 và dân số khoảng 6000 người. Xung quanh đảo có ngư trường rộng lớn với tiềm năng lớn về khai thác, đánh bắt thủy hải sản xa bờ, dịch vụ hậu cần nghề cá và là nơi phục vụ tránh trú bão cho tàu thuyền của cả khu vực rộng lớn. Với chiều dài đường bờ biển hơn 200 km bao quanh, vùng biển Côn Đảo còn có tiềm năng lớn về dầu khí. Hiện tại trong khu vực này đã được tiến hành khai thác ở một số mỏ và thu về nguồn ngoại tệ rất cao. Côn Đảo còn có vị trí thuận lợi về giao thương trong nước và quốc tế, nằm trên vùng biển phía Nam, cửa ngỏ ra vào của các tỉnh Nam Bộ, gần đường hàng hải quốc tế (từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam) và nhiều tuyến đường bay quốc tế đi ngang khu vực này. Có cơ sở hạ tầng tương đối mới và đồng bộ thuộc loại khá cao so với các huyện đảo khác và mang dáng dấp của một đô thị. Bên cạnh đó với hệ thống di tích lịch sử cách mạng và khu Vườn quốc gia Côn Đảo với hệ động thực vật nguyên sinh, đa dạng phong phú với nhiều loài đặc hữu, nhiều cảnh quan thiên nhiên rừng, biển… đã mở ra tiềm năng to lớn cho việc phát triển một nền kinh tế toàn diện ở huyện đảo này. 4. Các đảo và quần đảo thuộc vùng biển Tây Nam: Đây là khu vực có nhiều đảo thứ hai ở nước ta với hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ như: Phú Quốc (568 km2), Thổ Chu ( 17,5 km2), … Các đảo ở đây được tổ chức thành Trang 24 Bản đồ 2.1: Quần đảo Côn Đảo 2 huyện đảo là huyện đảo Phú Quốc (gồm đảo Phú Quốc và quần đảo Thổ Chu), và huyện đảo Kiên Hải thuộc tỉnh Kiên Giang. 4.1. Huyện đảo Phú Quốc: Huyện đảo Phú Quốc có diện tích 593 km2 với số dân hơn 50.000 người-là huyện đảo có số dân đông nhất, cách thị xã Hà Tiên 46 km. Phú Quốc có nhiều điều kiện thuận lợi hơn các đảo khác nên trong những năm gần đây đã được đầu tư phát triển một cách mạnh mẽ. Là một đảo lớn, trên đảo có tầng đất rất dày, nguồn nước ngọt phong phú (bao gồm cả nguồn nước mặt và nước ngầm) nên rất thuận lợi để phát triển ngành trồng trọt đặc biệt là trồng cây công nghiệp như: tiêu, dừa…Nơi đây còn thích hợp để phát triển chăn nuôi và trồng rừng. Mặc dù Phú Quốc nằm trong một vùng biển nông nhưng một số nơi cũng có những vũng, vịnh tương đối kín và độ sâu vừa phải- đó là một điều kiện thuận lợi để xây dựng các cảng biển (cảng An Thới). Phú Quốc được mệnh danh là “Đảo Ngọc” vì xung quanh đảo có rất nhiều bãi biển đẹp, cát trắng mịn rất hấp dẫn với du khách như: Bãi Khem, Bãi Sao, Bãi Vòng, Bãi Dương Đông...kết hợp với vườn quốc gia Phú Quốc đây là một tiềm năng to lớn để Phú Quốc kết hợp mô hình du lịch giữa nghĩ dưỡng và nghiên cứu khoa học rất độc đáo. Không những thế, Phú Quốc còn nằm trong một vùng rất giàu có về nguồn lợi mà thiên nhiên đã ban tặng cho đó chính là thủy hải sản, trữ lương hải sản ở đây không nhiều nhất cả nước nhưng bù lại nơi này có trữ lượng cá nổi rất cao và hầu hết là những loài có giá trị kinh tế như: cá thu, cá chim, tôm, sò, mực… Không chỉ thuận lợi về vị trí tự nhiên mà ngay cả về vị trí kinh tế - xã hội Phú Quốc cũng hội tụ biết bao là điều kiện thuận lợi. Nằm trong vùng tiếp cận với các quốc gia có nền kinh tế phát triển năng động như: Singapore, Malaysia, Thái Lan…vì vậy, Phú Quốc sớm có điều kiện để phát triển và hội nhập kinh tế. Đặc biệt, khi kênh đào Kra thực hiện thì Phú Quốc sẽ là nơi trung chuyển và quá cảnh cả về tuyến hàng hải và giao thông quốc tế. 4.2. Huyện đảo Kiên Hải: Gồm một hệ thống các đảo ven bờ với tổng diện tích 39 km2 và số dân hơn 20.000 người. Dù nằm trên vùng vịnh Thái Lan như đảo Phú Quốc nhưng Kiên Hải không hội đủ những điều kiện thuận lợi như Phú Quốc vì bản thân là các đảo nhỏ nên mạng lưới cơ sơ hạ tầng đặc biệt là giao thông vận tải đòi hỏi khi xây dựng là rất tốn kém. Kiên Hải tuy không so bằng Phú Quốc về tiềm năng nhưng bù lại có một nguồn thủy hải sản phong phú và một số đảo có phong cảnh đẹp – đây cũng là một động lực lớn trong quá trình phát triển và hội nhập của huyện. Trang 25 Bản đồ 2.2 Huyện đảo Phú Quốc III. Tiềm năng về phát triển kinh tế của biển – đảo Việt Nam: 1. Tiềm năng về phát triển kinh tế: Bản đồ 2.3: Tìềm năng phát triển kinh tế biển – đảo Việt Nam Trang 26 Cũng như nhiều vùng biển và nhiều quốc gia có vùng biển khác, biển Việt Nam tạo cho đất nước có vị thế địa kinh tế quan trọng, không gian biển chứa đựng nguồn tài nguyên phong phú và to lớn bao gồm cả biển quốc gia và biển quốc tế, cả vùng trời, mặt nước, lòng biển và lòng đất dưới đáy biển. Biển chứa đựng trong lòng nhiều loại tài nguyên có ý nghĩa kinh tế to lớn. Đó là tài nguyên địa kinh tế với ý nghĩa mặt tiền mở cửa hướng ra quốc tế. Lịch sử nhân loại cho thấy các quốc gia công nghiệp phát triển đều đã lợi dụng thành công yếu tố biển- đảo cho sự phát triển. Sự hùng mạnh của kinh tế biển – đảo, khoa học công nghệ chính là một bộ phận hợp thành của sức mạnh kinh tế và tiềm lực khoa học – công nghệ quốc gia. Vùng trời trên biển là tài nguyên phát triển du lịch hàng không… Ngoài ra, biển còn là nhân tố có ý nghĩa lớn điều hòa khí hậu, là nơi chứa đựng các nguồn năng lượng thủy triều, năng lượng gió, năng lượng sóng biển… Có thể khai thác trong tương lai. Tiềm năng to lớn của biển kết hợp với việc hình thành các đồng bằng châu thổ và đồng bằng ven biển khá màu mỡ đã tạo nên nét đặc thù của nền nông nghiệp “ châu Á gió mùa”, những ngành nghề kinh tế đặc trưng thuần biển, làm muối, hàng hải… cùng với những lễ hội của ngư dân vùng ven biển, vùng đảo đã tạo nên một sắc thái độc đáo mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam. Là một trong những quốc gia biển, yếu tố biển đã không chỉ có ảnh hưởng mạnh đến đời sống của con người Việt Nam mà còn gắn với “Văn minh lúa nước”. Biển, đã, đang và sẽ còn tiếp tục góp phần cùng với các lưu vực của hệ thống sông Mê Kông, sông Hồng kiến tạo nên 2 đồng bằng phì nhiêu ở 2 đầu đất nước. Đặc biệt, nền văn minh sông Hồng lâu đời của người Việt chịu tác động sâu sắc và liên tục của dòng chảy sông Hồng nơi chắn sóng – bồi tụ đến đâu con người ra đến đấy. Lớp lớp những truyền đê quay chắn sóng vươn về phía biển nối thành đường đi để được thay bằng con đê mới, để tạo nên một nét đặc sắc trong lịch sử phát triển của đồng bằng châu thổ sông Hồng. Có lẽ “ văn hóa đê điều” là một trong những nét độc đáo và lâu đời nhất mà yếu tố biển đã góp phần tạo ra cho cư dân nông nghiệp vùng ĐBSH gắn với truyền thuyết 50 người con trai theo cha là Lạc Long Quân._. nguyên biển vẫn chưa được quan tâm đúng mức, còn có sự chồng lấn giữa các ngành kinh tế biển để rồi do sự phát triển không theo quy hoạch, sự bùng nổ tự phát của ngành này giết chết sự phát triển của ngành kia (như ngành nuôi tôm và ngành làm muối), hay sự phát triển của ngành này ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của ngành khác (như ngành khai thác dầu khí và ngành du lịch biển) hoặc để hổ trợ cho sự phát triển của ngành đánh bắt – nuôi trồng thuỷ sản thì ngành chế biến thuỷ sản còn rất hạn chế. Vì vậy, trong quá trình phát triển kinh tế biển – đảo, vấn đề khai thác tổng hợp kinh tế biển là một yêu cầu vô cùng cấp bách do môi trường biển là một môi trường thống nhất, không chia cắt được và rất nhạy cảm dưới tác động của con người.Việc khai thác không hợp lý dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp. Hầu như chúng ta chỉ mới khai thác dưới dạng thô (dầu khí, cát biển, muối biển…); giao thông vận tải biển chưa xứng với tiềm năng, du lịch biển chưa đủ mạnh, nguy cơ suy thoái và ô nhiễm môi trường biển ngày càng lớn Trang 47 Nói chung, việc khai thác tổng hợp tài nguyên biển nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao, hỗ trợ nhau cùng phát triển, giải quyết công ăn việc làm, đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, du lịch. Tuy nhiên cần trang bị tàu hiện đại để đẩy mạnh, đánh bắt xa bờ, đẩy mạnh khai thác dầu khí, muối, tận dụng sản xuất điện, xây dựng các nhà máy lọc dầu, phát triển nâng cấp cảng biển, phát triển du lịch biển…Song, cần đặc biệt chú ý giải quyết vấn đề ô nhiểm môi trường trong quá trình khai thác, vận chuyển và chế biến dầu mỏ. III. Vấn đề ô nhiểm và bảo vệ môi trường biển – đảo: Môi trường biển, ven biển và hải đảo là môi trường rất nhạy cảm, dễ biến động, dễ tổn thương nên cân bằng sinh thái dễ bị phá vỡ. Vì vậy, quản lý môi trường biển - đảo phải được xem là việc làm cần thiết hiện nay. Nhà nước cần nâng cao dân trí về bảo vệ môi trường, có kế hoạch quản trị kỹ thuật, quản lý Nhà nước đối với môi trường tài nguyên ven biển một cách thống nhất trong cả nước và trong từng khu vực, đồng thời đầu tư mạnh vào khâu xử lý các nguồn nước thải, cứu hộ các vùng biển ô nhiễm… để giảm được các thiệt hại và ô nhiểm trong tương lai. Hiện nay các nhà máy công nghiệp đều đổ trực tiếp nước thải chưa được xử lý vào môi trường và vấn đề ô nhiểm công nghiệp đang nổi lên ở các vùng biển, ven biển và hải đảo….Tại nhiều cửa sông, chất lượng nước bị suy thoái nghiêm trọng, đặc biệt là Hải Phòng, Đà Nẵng và Vũng Tàu. Ngay tại cửa sông Hồng, hàm lượng đồng, kẽm, thuốc trừ sâu đều cao hơn mức cho phép hàng chục lần. Tại các vùng ven biển như Vinh, Vũng Tàu, hàm lượng đồng trong nước biển cao gấp 2,5 – 4,6 lần mức cho phép. Đã có 3% vùng biển, ven nước nước ta có hàm lượng cacbon vượt quá mức độ an toàn mà nguyên nhân chủ yếu là do sự rò rỉ từ các tàu trên biển. Ô nhiểm bởi dầu đã trở thành vấn đề quan trọng, đã có 8 điểm ven biển được phát hiện có lượng ô nhiểm dầu cao đến mức độ gây nguy hiểm cho sinh vật biển. Các thành phố ven biển như Hải Phòng, Vinh, Huế, Đà Nẳng, TPHCM, Cà Mau… thải hàng triệu tấn chất thải công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt mỗi ngày ra cửa sông và ven biển, gây tình trạng ô nhiểm nặng. Bên cạch đó là sự lắng đọng của khí thải khi mưa xuống, tai nạn của các tàu chở dầu, thậm chí các tàu chở dầu trong khi di chuyển đã đổ dầu cặn xuống biển bất chấp quy định. Dọc nhiều vịnh biển, bãi tắm… dầu cặn dưới dạng parafin chìm và lơ lững trong nước có thể thấy được bằng mắt thường như ở dọc đường bờ biển Vũng Tàu, Trà Vinh, Bến Tre. Trang 48 Hình 3.6: Ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam Vì thế, việc bảo vệ môi trường biển – đảo cùng với sự phát triển bền vững luôn phải được xác định là một định hướng chiếc lược quan trọng hàng đầu trong công cuộc xây dựng đất nước, làm cho đất nước ta ngày càng trở nên giàu đẹp hơn. Tóm lại, để xây dựng Việt Nam thành một quốc gia mạnh về kinh tế biển, có cơ cấu kinh tế hiện đại, thực sự làm động lực thúc đẩy kinh tế cả nước phát triển với tốc độ nhanh. Tạo ra một sự kết hợp kinh tế ven biển, kinh tế trên biển và kinh tế hải đảo với các khu vực nội địa để phát triển nhanh, ổn định và bền vững. Chúng ta có thể coi chính sách mở cửa, hợp tác quốc tế để phát triển kinh tế biển – đảo một cách toàn diện. Phát huy triệt để và có hiệu quả các nguồn lực bên trong, kết hợp với tranh thủ sự hợp tác và thu hút nguồn lực bên ngoài theo nguyên tắc cùng có lợi, tôn trọng chủ quyền và trên tinh thần chủ động, tích cực mở cửa, hội nhập. Chính vì thế phát triển kinh tế biển-đảo là động lực để lôi kéo, thúc đẩy các vùng khác cùng phát triển; kinh tế biển- đảo là “hạt nhân” tạo sự chuyển biến cơ bản và toàn diện theo hướng CNH, HĐH. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế biển – đảo và bảo vệ tài nguyên môi trường sinh thái, tái tạo và phát triển cac nguồn tài nguyên biển, đảm bảo sự phát triển bền vững về kinh tế - xã hội và môi trường sống của vùng biển, ven biển và các hải đảo. CHƯƠNG IV: ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC VÀ HỆ THỐNG CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN – ĐẢO CỦA VIỆT NAM I. Định hướng chiến lược phát triển: 1. Kinh tế hàng hải: Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế nói chung và vận chuyển hàng hoá nói riêng, trong giai đoạn đến năm 2020, ngành vận tải biển phải được đầu tư phát triển nhanh và toàn diện cả về hệ thống cảng biển, đội tàu, công nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu biển, dịch vụ cảng và dịch vụ hàng hải… theo hướng CNH, HĐH với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế và mở rộng hợp tác với nước ngoài. Nhanh chóng xây dựng ngành vận tải biển Việt Nam thành ngành kinh tế mạnh và hiện đại, tạo tiền đề để tiến nhanh ra đại dương, hỗ trợ và thúc đẩy các ngành, nhất là ngoại thương và các vùng kinh tế trong cả nước phát triển nhanh theo hướng sản xuất hàng hoá quy mô lớn, Trang 49 hướng về xuất khẩu, đồng thời đón trước và bắt kịp những cơ hội phát triển mới của đất nước trong xu thế chung của khu vực và thế giới. Xây dựng hệ thống cảng biển hiện đại mà nòng cốt là cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong. Phấn đấu tổng công suất hàng hoá qua cảng vào năm 2020 khoảng 400 - 500 triệu tấn, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước và hội nhập quốc tế. Đối với công nghiệp tàu biển, đứng trước tình hình ngành đóng tàu quốc tế đang bão hoà, nhiều nước như Nhật Bản, Hàn Quốc... đang muốn giảm bớt và chuyển giao công nghệ đóng tàu cho các nước khác (vì hiệu quả thấp và lao động nặng nhọc), nước ta cần lựa chọn phương hướng và bước đi thích hợp, kết hợp giữa tự lực với nhập khẩu và hợp tác, hoặc khuyến khích đầu tư trực tiếp của nước ngoài để có hiệu quả, chủ động đón trước những tiến bộ công nghệ của thế giới. Hình thành 3 trung tâm công nghiệp đóng tàu ở miền Bắc (Hải Phòng, Hạ Long), ở miền Trung (Khánh Hoà) và ở miền Nam (TP Hồ Chí Minh, Vũng Tàu). 2. Du lịch biển - đảo và vùng ven biển : Phát triển du lịch biển - đảo và ven biển nhanh chóng trở thành một ngành kinh tế chủ lực của kinh tế biển, có thứ hạng cao ở khu vực Đông Nam Á. Đa dạng hoá hợp tác với nước ngoài trong phát triển du lịch biển. Tập trung đầu tư phát triển các loại hình du lịch, vui chơi giải trí chất lượng cao ở các cụm du lịch Hạ Long - Cát Bà - Đồ Sơn; Trung tâm du lịch Huế - Đà Nẵng; cụm du lịch Vân Phong - Nha Trang - Ninh Chữ; Cụm du lịch Long Hải - Vũng Tàu - Côn Đảo và cụm du lịch Hà Tiên - Phú Quốc. Phương hướng chủ yếu phát triển ngành du lịch biển đến năm 2020 phát huy tối đa các ưu thế và nguồn lực bên trong, kết hợp tranh thủ sự hợp tác bên ngoài để phát triển tổng hợp du lịch biển - núi - hải đảo (mà các vùng khác không có), nhằm tạo ra các sản phẩm du lịch và dịch vụ cao cấp độc đáo, có chất lượng và uy tín cao trên thị trường du lịch trong nước và khu vực Đông Nam Á. Hình thành các trung tâm du lịch ven biển lớn tầm cỡ quốc gia và quốc tế ở các khu vực có nhiều điều kiện thuận lợi trên cơ sở phát triển đa dạng các tuyến du lịch và các loại hình du lịch - thể thao - giải trí cả ở trên bờ, trên biển và trên các hải đảo. 3. Khai thác thủy hải sản : Coi phát triển mạnh hải sản là một trong những hướng đi chủ đạo của kinh tế biển và ven biển nhằm góp phần phát triển kinh tế xã hội, cải thiện đời sống của cư dân và thay đổi bộ mặt của nông thôn ven biển theo hướng CNH, HĐH, tăng cường tiềm lực an ninh quốc phòng. Hợp tác với nước ngoài đầu tư công nghệ hiện đại để phát hiện ngư trường phục vụ trực tiếp cho việc đánh bắt có hiệu quả. Giảm thiểu đánh bắt ven bờ, triển khai đánh bắt khơi xa và đánh bắt các đối tượng có giá trị kinh tế cao ở vùng biển quốc tế. Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nghề cá trong mọi lĩnh vực khai thác, nuôi trồng và dịch vụ mạnh hơn nữa theo định hướng mạnh vào xuất khẩu và CNH, HĐH. Hình thành những vùng sản xuất hàng hoá tập trung trong nuôi trồng thủy sản. Ngành thuỷ sản trong 15-20 năm tới vẫn lấy xuất khẩu làm động lực phát triển. Quản lý nghề cá theo những chiến lược quốc gia thống nhất, khai thác có hiệu quả và Trang 50 bền vững, đẩy mạnh hợp tác quốc tế về nghề cá, xây dựng lực lượng lao động nghề cá có tính chuyên nghiệp cao. Phương hướng chung để phát triển công nghiệp chế biến là nâng tỷ lệ chế biến sản phẩm có giá trị gia tăng cao từ 35% hiện nay lên khoảng 45-50% năm 2010 và 60- 70% năm 2020, tăng chất lượng sản phẩm, đa dạng sản phẩm chế biến. Nâng cấp, xây mới thêm các cơ sở chế biến với công nghệ hiện đại. Sử dụng các thiết bị tiên tiến như thiết bị cấp đông nhanh 1,5 giờ để giảm chi phí về điện và tăng chất lượng sản phẩm (hiện nay khoảng 3-4 giờ). Nhanh chóng đưa ngành kinh tế thuỷ hải sản từ một ngành còn mang nặng tính chất công nghiệp khai thác nguyên liệu và nông nghiệp sang một ngành công nghiệp chế biến, chế tác có trình độ chuyên môn hoá, hợp tác hoá, liên hợp hóa ở trình độ cao. 4. Khai thác dầu khí : Quan điểm chủ đạo trong phát triển ngành dầu khí là kết hợp đảm bảo an ninh năng lượng với đảm bảo an ninh quốc gia, tăng cường sức mạnh bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển. Hướng phát triển là dựa trên cơ sở nguồn tài nguyên sẵn có trong nước, đồng thời tích cực mở rộng đầu tư ra nước ngoài. Phát triển ngành dầu khí một cách đồng bộ, hiệu quả, an toàn, mang tính đa ngành và liên ngành. Phát triển đi đôi với bảo vệ tài nguyên môi trường sinh thái, tiết kiệm năng lượng cho sự phát triển bền vững của đất nước. Mục tiêu chiến lược của phát triển dầu khí là trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng, hoàn chỉnh từ tìm kiếm thăm dò, khai thác, chế biến, tàng trữ, phân phối, dịch vụ và xuất nhập khẩu. Đẩy mạnh việc tìm kiếm, thăm dò, gia tăng trữ lượng xác minh, ưu tiên phát triển những vùng nước sâu, xa bờ, những vùng chồng lấn, tranh chấp. Khai thác và sử dụng hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm nguồn tài nguyên dầu khí trong nước, từng bước mở rộng hoạt động dầu khí ra nước ngoài. Tích cực xây dựng công nghiệp lọc, hoá dầu và sử dụng khí thiên nhiên; đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Từng bước hình thành và phát triển thị trường dầu khí cạnh tranh; mở rộng và đẩy mạnh phát triển các loại hình dịch vụ dầu khí, đa dạng hoá phương thức đầu tư và kinh doanh trong lĩnh vực dầu khí. Phát triển nhanh, hiệu quả đi đôi với đảm bảo chủ quyền quốc gia, bảo vệ tài nguyên, môi trường sinh thái và tiết kiệm năng lượng cho sự phát triển bền vững của đất nước. 5. Sản xuất muối biển : Dự báo trong tương lai, cùng với sự phát triển nhanh chóng của các ngành công nghiệp, nông nghiệp, y tế, hoá chất nhu cầu muối cho dân sinh và công nghiệp tối thiểu phải đạt 1,6 - 2,0 triệu tấn/năm. Để nhanh chóng phát triển nghề muối đáp ứng cho nhu cầu trong nước và tiến tới xuất khẩu, trước mắt phải đẩy mạnh thâm canh và cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất các đồng muối hiện có đồng thời mở rộng tối đa diện tích thuận lợi nhất cho nghề muối nâng diện tích các đồng muối của Việt Nam từ 20.000 ha hiện nay lên 30.000 - 35.000 vào năm 2010. Nghiên cứu khả năng xây dựng một số khu công nghiệp hoá học biển bao gồm các xí nghiệp sản xuất xút, axít clohydríc và các hoá chất cơ bản khác. Từ nguồn nguyên liệu muối biển có sản lượng lớn và chất lượng cao ở ven biển các tỉnh biển từ Đà Nẵng đến Sóc Trăng nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp lớn trong tương lai. 6. Nông, lâm nghiệp ven biển : Trang 51 Tích cực thực hiện quai đê lấn biển, mở mang diện tích nông, lâm nghiệp ở những nơi có điều kiện trên cơ sở khoa học, phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng biển. Phát triển nông nghiệp sinh thái vùng ven biển mang tính đặc thù cho từng vùng với nhiều loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao; tiêu biểu là dừa, cây ăn trái, cây lấy dầu kết hợp nuôi trồng thuỷ hải sản. Đối với một số khu vực biển lấn, cần nghiên cứu các loại cây trồng hợp lý để góp phần hạn chế tác động gây hại của biển lấn. Xúc tiến việc nghiên cứu, hợp tác quốc tế để phát triển các ngành nghề trồng, khai thác và chế biến dược liệu... 7. Khai thác khoáng sản (ngoài dầu khí) : Đẩy mạnh khai thác khoáng sản ven biển và dưới đáy biển. Việc khai thác than đá ở vùng mỏ Quảng Ninh chỉ duy trì ở mức 30 triệu tấn/năm (thời kỳ đến 2020) trên cơ sở phải bảo đảm gìn giữ môi trường và cảnh quan vùng Vịnh Hạ Long. Nghiên cứu khai thác quặng sắt ở mỏ Thạch Khê (Hà Tĩnh) để phát triển luyện thép. Tổ chức khai thác và tuyển các quặng sa khoáng ven biển, đến năm 2020 đạt sản lượng khoảng 10 vạn tấn titan. Nghiên cứu khai thác các quặng silic, diatômit, bcatônit... Khai thác các mỏ cát thuỷ tinh phục vụ xuất khẩu và chế biến, tiếp tục khai thác mỏ cát Vân Hải (Quảng Ninh) phục vụ công nghiệp sản xuất thuỷ tinh, đến năm 2020 đạt sản lượng 20 vạn tấn năm, các mỏ cát dọc ven biển miền Trung đến năm 2020 đạt sản lượng khoảng 50 vạn tấn năm. Đối với các mỏ đá vôi ven biển, kết hợp khai thác và bảo vệ, không làm ảnh hưởng đến cảnh quan du lịch. Trong tương lai xa, công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản từ biển sẽ phát triển ngày càng mạnh và đóng góp ngày càng lớn vào sự phát triển kinh tế biển và vùng ven biển. 8. Các ngành dịch vụ khác : Phát triển nhanh các lĩnh vực dịch vụ tài chính ngân hàng, thông tin, cứu hộ cứu nạn, cảnh báo, phòng chống và khắc phục hậu quả của thiên tai. Về tài chính, ngân hàng: Đẩy nhanh phát triển thị trường tài chính và thị trường dịch vụ tài chính, đảm bảo đa dạng hoá các kênh huy động vốn trong các vùng biển bằng cách hình thành các trung tâm các điểm ngân hàng không chỉ ở các thành phố mà tới tận các vùng đánh cá tập trung. Đào tạo và tiêu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ làm công tác ngân hàng ở vùng biển. Về thông tin: Phát triển những hệ thống dịch vụ bưu chính, viễn thông trên các vùng biển để cung cấp đầy đủ và nhanh thông tin cho các vùng biển, hiện đại hoá các cơ sở bưu chính trên các huyện đảo. Về tìm kiếm cứu nạn: Xây dựng lực lượng tìm kiếm cứu nạn chính quy, chuyên nghiệp, giải quyết nhanh các vụ việc. Tiếp tục đầu tư hiện đại hoá thiết bị, nâng cao trình độ và năng lực đội ngũ nhân viên tìm kiếm cứu nạn. Tổ chức phối hợp huy động giữa các lực lượng. Tham gia với các nước trong khu vực đầu tư xây dựng các trạm cảnh báo phòng chống thiên tai, đảm bảo dự báo và cảnh báo sớm các thiên tai có thể xảy ra trên các vùng biển, đảm bảo giảm thiểu hậu quả thiên tai. Trang 52 II. Hệ thống các giải pháp nhằm đảm bảo hiện thực hóa mục tiêu đề ra: Để đảm bảo thực hiện Chiến lược kinh tế biển nêu trên, một hệ thống các giải pháp trọng yếu cần được triển khai là: 1. Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của biển và kinh tế biển đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để có nhận thức đầy đủ về biển, việc cần làm trước tiên là đẩy mạnh công tác tuyên truyền và giáo dục sâu rộng, có hệ thống trong nhân dân nhằm nâng cao và tạo ra sự chuyển biến thực sự trong ý thức của tất cả các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân về vị trí, vai trò chiến lược của biển. Tư duy về biển phải được thể hiện đậm nét trong các chính sách phát triển của những ngành có liên quan và các địa phương có biển trong giai đoạn sắp tới. ý thức về biển phải được tất cả các ngành và các cấp uỷ đảng và chính quyền địa phương có biển quan tâm thường xuyên. Đối với mọi người dân, ý thức về biển phải thể hiện sâu sắc trong khai thác đi liền với bảo vệ tài nguyên, môi trường biển. Chẳng những thế, việc bảo vệ an toàn những tài sản kinh doanh trên biển và trong lòng biển của mọi chủ thể phải triệt để tôn trọng. Bài học thực tế từ việc xâm hại tuyến cáp quang trên biển làm tổn hại tới hệ thống thông tin ở vùng biển phía Nam vừa qua cho thấy rõ tính cấp bách và cần thiết của công tác tuyên truyền, giáo dục có ý nghĩa như thế nào. 2. Kết hợp phát triển kinh tế với an ninh quốc phòng, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền và an ninh trên biển. Hơn bất cứ địa bàn nào khác, việc xây dựng và phát triển kinh tế biển phải gắn chặt với nhiệm vụ quốc phòng - an ninh bảo vệ biển; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân gắn với phát triển kinh tế biển. Mục tiêu kết hợp kinh tế - xã hội với quốc phòng - an ninh nhằm khẳng định chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ trên biển, đảo của Tổ quốc; khai thác, sử dụng nguồn lợi của quốc gia có hiệu quả để thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Kết hợp trong từng cơ sở đánh bắt hải sản, khai thác tài nguyên, phát triển du lịch, dịch vụ; nghiên cứu khoa học biển; kết hợp theo quy hoạch, kế hoạch của từng địa phương, vùng biển, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của quốc phòng - an ninh để nâng cao năng lực quản lý, bảo vệ biển, đảo của Tổ quốc. Có chính sách đặc biệt để khuyến khích mạnh mẽ nhân dân ra định cư sinh sống ổn định trên đảo và làm ăn trên biển dài ngày. Đối với các hải đảo cần tiếp tục nghiên cứu xây dựng mô hình tổ chức hành chính phù hợp, tăng cường nâng cao năng lực quản lý về biển của chính quyền các huyện đảo, xã đảo nhằm phát triển mạnh kinh tế, xã hội; kết hợp bố trí dân cư và tổ chức lực lượng bảo vệ chủ quyền biển, đảo. 3. Đẩy mạnh điều tra cơ bản và phát triển khoa học - công nghệ biển. Công tác điều tra cơ bản về tài nguyên - môi trường biển phải tạo được hệ thống thông tin cơ sở tin cậy, phục vụ việc hoạch định các chính sách phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển. Đồng thời, phải tiến tới xây dựng được tiềm lực khoa học - công nghệ biển đủ sức tạo ra những khâu đột phá trong phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển và phát triển hệ thống dự báo, phòng chống thiên tai; có phương án bảo tồn biển (bảo tồn tài nguyên, đa dạng sinh học...). Quan tâm đặc biệt đến giải pháp về khoa học - công nghệ, coi đây là giải pháp đi trước, mang tính đột phá nhằm phát huy hết tiềm năng khoa học cho kinh tế biển, giảm thiểu tối đa các rủi ro trong chiến lược vươn ra biển. Trang 53 4. Triển khai công tác quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh các vùng biển và ven biển. Tiến hành quy hoạch các trung tâm phát triển ra biển và các khu vực biển, đảo có khả năng đột phá trong phát triển kinh tế như Móng Cái, Vân Đồn, Nghi Sơn, Vũng áng, Đà Nẵng, Dung Quất - Chu Lai, Vân Phong, Phú Quốc, Côn Đảo, Phú Quý… Công tác quy hoạch phải trên cơ sở của kinh tế thị trường, có tầm nhìn dài hạn, hiện đại theo những tiêu chuẩn phù hợp với quốc tế và khu vực. Đồng thời, phải tiến hành một cách có hiệu lực và hiệu quả công tác quản lý quy hoạch nhằm bảo đảm sự phát triển hài hoà, bền vững và đúng định hướng. Trong quy hoạch, cần quán triệt quan điểm coi vùng duyên hải gắn với kinh tế biển là vùng động lực để mở cửa, thúc đẩy phát triển toàn bộ nền kinh tế quốc gia, đẩy mạnh phát triển những cơ sở công nghiệp chế biến các sản phẩm từ biển. 5. Nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý Nhà nước về biển và kinh tế biển. Lâu nay, các hoạt động kinh tế và quản lý biển đảo chưa có một cơ quan Nhà nước quản lý thống nhất mà phân tán ở nhiều bộ, ngành và các cơ quan khác nhau. Quản lý tổng hợp về biển là vấn đề mới và rất phức tạp, biển lại rộng lớn và hoạt động mang tính đa ngành. Vì vậy, việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý Nhà nước về biển và kinh tế biển có vai trò quyết định. 6. Xây dựng đầy đủ, đồng bộ hệ thống cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển kinh tế biển và vùng ven biển. Các chính sách khuyến khích phát triển kinh tế biển có thể chia thành các loại như: 6.1. Chính sách đảm bảo an toàn, an ninh cho các hoạt động kinh tế biển Biển là môi trường hoạt động kinh tế đặc thù, có thể gặp nhiều rủi ro do diễn biến bất thường của thời tiết, thiên tai. Hỗ trợ cho loại chính sách này là các hoạt động của hệ thống dự báo thời tiết khí hậu, nhất là bão, sóng thần, hình thành các trung tâm tránh bão, các trung tâm quan sát và cung cấp thông tin cho người dân hoạt động trên biển. Hình thành lực lượng đủ mạnh để hỗ trợ một cách tích cực, có hiệu quả cao cho ngư dân khi gặp nạn. Bảo đảm cho mọi hoạt động của các lực lượng trên biển được an toàn, an ninh; phải xem đó là điều kiện thiết yếu để đẩy mạnh phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển. Đồng thời hoạt động bảo hiểm cho lĩnh vực kinh tế biển phải rất được coi trọng. 6.2. Các chính sách khuyến khích người dân ra biển làm kinh tế Hỗ trợ cho loại chính sách này là các hoạt động: - Tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng vùng biển, hải đảo. Có chính sách xây dựng phương tiện nối đất liền với đảo, tạo đà cho sự phát triển nhanh. Xây dựng các khu kinh tế, khu công nghiệp - đô thị mới, khu du lịch và tuyến du lịch biển được kết nối, hỗ trợ nhau phát triển. - Xây dựng các chính sách đặc thù, nhằm xây dựng nông thôn ven biển và hải đảo. Cần có chính sách đầu tư thích đáng để thực hiện nhanh chương trình xây dựng các tuyến đảo như: Phú Quốc, Phú Quý, Lý Sơn, Cát Bà, Cái Chiên, Vĩnh Thực, Vân Đồn, Cô Tô, Bạch Long Vĩ, Hòn Mê, Cồn Cỏ, Cù Lao Chàm, Cù Lao Xanh, Côn Đảo, Kiên Hải, Hòn Chuối, Nam Du, Thổ Chu... kết hợp với chương trình xây dựng đảo là tiền tiêu, là hậu cần vững chắc về an ninh - quốc phòng. Trang 54 - Nghiên cứu các chính sách và tạo điều kiện thuận lợi để thu hút mạnh mẽ nhân dân ra làm ăn, sinh sống lâu dài trên các đảo và lao động dài ngày trên biển, góp phần bảo vệ chủ quyền, biển, đảo của quốc gia. 6.3. Tăng cường hợp tác quốc tế để phát triển kinh tế biển Mở rộng hợp tác quốc tế và tăng cường công tác ngoại giao để bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển và phát triển kinh tế biển và vùng ven biển trên các lĩnh vực: đầu tư phát triển công nghiệp, điều tra và khai thác tài nguyên biển, đào tạo nguồn nhân lực, chia sẻ kinh nghiệm và thông tin, nghiên cứu khoa học - công nghệ, dự báo và cảnh báo thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, bảo vệ an ninh trên biển... Đặc biệt chú ý tăng cường hợp tác với các nước lân cận biển Đông và những nước có tiềm lực kinh tế, khoa học công nghệ mạnh về biển. 6.4. Các chính sách liên quan đến đầu tư Trong hoạt động đầu tư, cần tập trung đầu tư đủ mức, đồng bộ và dứt điểm để sớm đưa vào hoạt động, phát huy cao nhất năng lực khai thác và đạt hiệu quả cao, đặc biệt là với các khu công nghiệp, cảng biển, các cơ sở sản xuất. Đồng thời, cần quán triệt sâu sắc quan điểm về xã hội hoá trong lĩnh vực đầu tư. Khuyến khích mạnh mẽ các hình thức đầu tư phát triển kinh tế biển, kể cả các công trình thuộc kết cấu hạ tầng lớn như cảng biển, đường giao thông, các khu đô thị, khu công nghiệp... của mọi hình thức sở hữu, bao gồm cả hình thức BOT, BT... 6.5 Hình thành các trung tâm kinh tế biển mạnh ở mỗi vùng, miền - ở vùng biển phía Bắc, cùng với việc hợp tác với Trung Quốc xây dựng vành đai kinh tế Vịnh Bắc Bộ, cần đẩy nhanh tốc độ xây dựng khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái, các khu kinh tế Hải Hà, Vân Đồn, nối với Hạ Long, Hải Phòng và xây dựng tuyến đường cao tốc ven biển vùng đồng bằng Bắc Bộ, tạo ra một sức bật mới, mạnh mẽ của cả vùng để kết nối với 2 tuyến hành lang cùng đẩy nhanh tốc độ phát triển. - Vùng biển miền Trung với điểm nhấn là cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong, cùng với Đà Nẵng, Dung Quất, Chu Lai, Nha Trang... hình thành hệ thống trung tâm phát triển kinh tế biển mạnh của miền Trung - Vùng biển phía Nam lấy việc phát triển Phú Quốc thành trung tâm giao thương quốc tế, trở thành trung tâm du lịch sinh thái đảo - biển lớn của cả nước và khu vực để cùng với Vũng Tàu, Rạch Giá, Trường Sa thành những trung tâm hạt nhân phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển mạnh của vùng. 7. Phát triển nguồn nhân lực kinh tế biển. Căn cứ quy hoạch từng ngành, lĩnh vực thuộc kinh tế biển và vùng ven biển, phát triển tổng hợp nguồn nhân lực biển bao gồm cán bộ nghiên cứu khoa học, công nghệ biển; cán bộ quản lý, các chuyên gia và đội ngũ lao động được đào tạo chuyên sâu về các nghề như: hàng hải; khai thác và chế biến dầu, khí; đánh bắt và nuôi trồng hải sản; du lịch biển…, xây dựng cơ chế, chính sách về đào tạo nhân lực và kế hoạch phát triển nguồn nhân lực thuộc các thành phần kinh tế. Trước mắt, nhanh chóng tiến hành đào tạo và hợp tác quốc tế về đào tạo nguồn nhân lực cho các vùng kinh tế trọng điểm về kinh tế biển và vùng ven biển. Trang 55 Rà soát lại hệ thống các cơ sở đào tạo các ngành nghề về kinh tế biển để xây dựng mạng lưới đào tạo ngành nghề biển kinh tế hợp lý. Khuyến khích việc xây dựng các cơ sở đào tạo ngành nghề biển ở các thành phố biển. Trang 56 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Việt Nam là Một quốc gia biển, biển thực sự gắn bó với Việt Nam trong quá trình phát triển của đất nước. Biển Việt Nam ngoài mang lại một số sắc thái thiên nhiên độc đáo, góp phần điều hoà khí hậu, và xoá đi cảnh quan hoang mạc như các nước khác có cùng vĩ độ thì biển còn có một giá trị lớn về phương diện cuộc sống. Trước hết, là nguồn lợi sinh vật biển cùng với nhiều nguồn lợi khác cũng không kém phần quan trọng: các trầm tích sa khoáng nhất là immetit và đặc biệt là dầu khí, mà nước ta đang hợp tác khai thác như: Việt–Xô Petro, Total, BP, CEP, Shell, Hill… Rồi về giao thông hàng hải phục vụ cho việc vận tải trên biển với các cảng lớn như: Sài Gòn, Hải Phòng, Đà Nẵng…Một số ngành khác cũng không kém phần quan trọng là: khai thác dược liệu, làm đồ mĩ nghệ và nhất là nghỉ mát và du lịch biển với các bãi biển đẹp như: Trà Cổ, Hạ Long, Cửa Lò, Sầm Sơn, Nha Trang… cùng các cảnh quan và di tích lịch sử như: Côn Đảo, Phú Quốc… Biển Việt Nam còn có hàng nghìn hòn đảo, trong đó có một số đảo có giá trị kinh tế rất cao như: Phú Quốc, Côn Đảo, Phú Quý, Lý Sơn… Các đảo và quần đảo Việt Nam còn có ý nghĩa về an ninh quốc phòng bảo vệ tổ quốc như: Hoàng Sa, Trường Sa, Cồn Cỏ… Tuy nhiên, việc phát triển kinh tế biển thật sự chưa tương xứng với với tiềm năng to lớn mà biển mang lại cho tổ quốc Việt Nam. Chúng ta mới tập trung ở khâu đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản nhưng hầu hết cũng với những phương tiện thô sơ do nguồn vốn của ngư dân còn hạn chế; Du lịch biển chỉ phát triển tương đối khá ở Nha Trang, Tuần Châu - Hạ Long nơi tổ chức những cuộc thi mang tính quốc tế, còn những bãi biển khác hình như vẫn còn nằm im chờ đợi cơn gió mới; Thể thao biển với những cuộc đua thuyền, lướt ván vẫn còn nằm trong kế hoạch và việc du lịch “ Long cung, đảo nổi” với các nàng tiên cá như ở Xingapore chỉ là những điều mơ ước. Trong thời gian qua, ngành khai thác dầu khí đã có một bước tăng trưởng tương đối khá, góp phần giải quyết công ăn việc làm, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, tăng thu nhập cho người lao động. Tuy nhiên, hiện cũng chỉ đang khai thác ở dạng thô, yếu tố rủi ro còn nhiều và phụ thuộc mạnh mẽ vào công nghệ nước ngoài; quá trình khai thác dầu khí cũng như một số tài nguyên khác đã làm ô nhiễm biển.Giao thông vận tải thì phát triển chưa đủ mạnh, các loại hình giao thông còn rất thô sơ, kém chất lượng không thể cạnh tranh lại với các nước khác trong khu vực và thế giới như: Hoa Kì, Nhật Bản, Singrapore…Việc tận dụng các nguồn năng lượng mới từ biển như: sóng, thủy triều…thì chưa thực hiện được. Nói chung, kinh tế biển - đảo Việt Nam phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, chỉ đang trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển.. Việc khai thác tổng hợp tài nguyên biển chưa được quan tâm đúng mức, còn có sự chồng chéo giữa khai thác tài nguyên khoáng sản với việc phát triển du lịch biển và tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng . Ở các huyện đảo, nơi có tiềm năng về kinh tế lẫn an ninh quốc phòng thì đời sống nhân dân còn gặp rất nhiều khó khăn, vấn đề Hoàng Sa- Trường Sa là vấn đề nhức nhối trong mỗi công dân Việt Nam khi mà chủ quyền của tổ quốc trên biển bị xâm phạm. Trang 57 Từ những vấn đề trên, rõ ràng tiềm năng của biển vô cùng to lớn nhưng vấn đề khai thác biển- đảo hiện còn rất nhiều hạn chế, dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp so một số nước có nguồn lợi về biển cả. Điều này đòi hỏi Đảng và Nhà Nước ta cần có những chiến lược “ngắn hạn” cũng như “ lâu dài” phù hợp hướng về kinh tế biển. Có như thế, mới nâng cao vị thế của ngành trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khai thác hiệu quả tiềm năng và lợi thế của đất nước, mở đường cho sự hội nhập kinh tế quốc tế, hầu thay da đổi thịt cho cả dân tộc nói chung và của ngư dân vùng ven biển nói riêng. Đồng thời, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ ,xứng đáng những gì mà cha ông ta đã đổ biết bao xương máu gìn giữ một đất nước Việt Nam với cả vùng đất, vùng trời và vùng biển giàu đẹp.  KIẾN NGHỊ: Để nâng cao vị thế của kinh tế biển-đảo, để ngành kinh tế này trở thành thế mạnh của đất nước nhằm đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế, giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập nâng cao đời sống nhân dân…thì Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp cần: - Đẩy mạnh chính sách hổ trợ vốn cho ngư dân vùng biển-đảo. - Đầu tư cơ sở năng lượng, sơ sở hạ tầng nhất là hệ thống cảng biển. - Kêu gọi đầu tư của nước ngoài. - Chống ô nhiểm môi trường khi khai thác. - Đẩy mạnh công tác thông tin, tăng cường đảm bảo an ninh chính trị và quốc phòng. HẾT Trang 58 Trang 59 ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfXT1242.pdf
Tài liệu liên quan