Một số giải pháp hỗ trợ hoạt động thu mua chỉ xơ dừa ở huyện Mỏ Cày Nam tỉnh Bến Tre

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM ----------------- CƠNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƢỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN “NHÀ KINH TẾ TRẺ – NĂM 2009” TÊN CƠNG TRÌNH: THUỘC NHĨM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ 1 TĨM TẮT ĐỀ TÀI Bến Tre là một tỉnh cịn nghèo nhƣng cĩ tiềm năng rất lớn để phát triển ngành dừa, đặc biệt là nhu cầu xơ dừa hiện nay đang tăng trên thị trƣờng thế giới. Chỉ xơ dừa đƣợc xuất sang các nƣớc nhƣ: Ấn Độ, Trung Quốc, các nƣớc châu Âu…Tuy nhiên trong

pdf59 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 09/12/2013 | Lượt xem: 1611 | Lượt tải: 1download
Tóm tắt tài liệu Một số giải pháp hỗ trợ hoạt động thu mua chỉ xơ dừa ở huyện Mỏ Cày Nam tỉnh Bến Tre, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
quá trình thu mua cịn nhiều bất cập, phải trải qua nhiều khâu trung gian nên làm gia tăng chi phí, giảm hiệu quả xuất khẩu do đĩ cần cĩ các giải pháp hỗ trợ quá trình này nhằm nâng cao giá trị của lƣới xơ dừa xuất khẩu. Hiện tại chƣa cĩ nhiều đề tài nghiên cứu nhiều về chỉ xơ dừa, đặc biệt là quá trình thu mua và sản xuất chỉ xơ dừa ở Bến Tre vì thế nhĩm đề tài tập trung nghiên cứu quá trình này, đánh giá những ƣu điểm và hạn chế từ đĩ đƣa ra giải pháp hỗ trợ cho các đối tƣợng tham gia hoạt động, tìm hƣớng nâng cao hiệu quả thu mua, xuất khẩu cho chỉ xơ dừa ở Bến Tre. 1. Mục đích nghiên cứu Đề tài nghiên cứu hoạt động của các đối tƣợng trong quá trình thu mua chỉ xơ dừa xuất khẩu ở huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre, đánh giá những ƣu thế và những hạn chế từ đĩ đề xuất các giải pháp hỗ trợ các đối tƣợng trong chuỗi thu mua xơ dừa, giúp hoạt động thu mua diễn ra tốt hơn. 2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động quá trình thu mua chỉ xơ dừa, phạm vi nghiên cứu chủ yếu là các hộ trồng dừa, những ngƣời thu mua dừa và các chủ vựa xơ dừa ở huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. 3. Phƣơng pháp nghiên cứu Nội dung chính của đề tài là chƣơng 2 phân tích thực trạng hoạt động thu mua xơ dừa ở huyện Mỏ Cày Nam tỉnh Bến Tre đƣợc thực hiện bằng phƣơng pháp thống kê 2 mơ tả, phỏng vấn những ngƣời cĩ liên quan trong chuỗi thu mua xơ dừa để phân tích tình hình thực tế của vấn đề, từ đĩ lý luận đề xuất các giải pháp. 4. Kết cấu đề tài Chương 1: Cơ sở lý luận về thu mua Nghiên cứu cơ sở lý luận về thu mua, vai trị của hoạt động thu mua và các yếu tố ảnh hƣởng đến việc thu mua nơng sản. Chương 2: Phân tích thực trạng hoạt động thu mua xơ dừa ở huyện Mỏ Cày Nam tỉnh Bến Tre Giới thiệu tổng quát về cây dừa cũng nhƣ các hiệu quả kinh tế từ cây dừa, tập trung đi sâu vào phân tích thực trạng hoạt động thu mua xơ dừa ở huyện Mỏ Cày Nam tỉnh Bến Tre, đánh giá ƣu thế cũng nhƣ những hạn chế trong quá trình thu mua xơ dừa. Chương 3: Một số giải pháp đề xuất hỗ trợ hoạt động thu mua lưới xơ dừa ở huyện Mỏ Cày Nam - tỉnh Bến Tre Từ những tồn tại đặt ra ở chƣơng 3, lý luận đề xuất các giải pháp nhằm hỗ trợ hoạt động thu mua lƣới xơ dừa ở huyện Mỏ Cày Nam - tỉnh Bến Tre 5. Đĩng gĩp của đề tài Đề tài thực hiện sẽ giới thiệu rõ hơn về quá trình thu mua chỉ xơ dừa đang đƣợc tiến hành ở huyện Mỏ Cày tỉnh Bến Tre, phân tích thực trạng, đánh giá hoạt động, lý luận đƣa ra những giải pháp gĩp phần nâng cao hiệu quả cho việc thu mua chỉ xơ dừa 6. Hƣớng phát triển của đề tài Hiện nay nhu cầu về chỉ xơ dừa đang tăng trên thị trƣờng. Đề tài nghiên cứu hồn thiện quá trình thu mua và chế biến chỉ xơ dừa với số lƣợng lớn từ đĩ phân loại theo chất lƣợng để tìm hƣớng đi mới phù hợp cho chỉ xơ dừa. Chỉ xơ dừa lại cĩ giá 3 thành rẻ hơn rất nhiều so với sợi tổng hợp và thân thiện với mơi trƣờng, cĩ thể đƣợc tận dụng để chế biến thành rất nhiều thành phẩm, nếu đƣợc tận dụng tốt chỉ xơ dừa sẽ gĩp phần tăng thu nhập cho ngƣời nơng dân tỉnh Bến Tre. 4 CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU MUA 1.1 KHÁI NIỆM VỀ THU MUA Thu mua bao gồm hàng loạt các quá trình, tiếp tục quá trình sản xuất: sơ chế, bảo quản, vận chuyển và chế biến sản phẩm. Quá trình này làm thay đổi hình thức giá trị sử dụng và làm tăng giá trị trao đổi.  Vai trị Trao đổi sản phẩm tiến hành dƣới hình thức mua bán sản phẩm là mối liên hệ kinh tế chủ yếu giữa những ngƣời sản xuất và tiêu dùng trong xã hội.  Phân loại  Thu mua trực tiếp  Thu mua gián tiếp 5 Tuỳ theo tính chất phức tạp của hàng hố, cĩ thể cĩ một hay nhiều ngƣời trung gian làm cầu nối cho việc trao đổi hàng hố. Số lƣợng ngƣời trung gian càng nhiều thì giá cả của hàng hố ngày càng tăng thêm, ảnh hƣởng đến khả năng cạnh tranh của hàng hố. 1.2 LIÊN HỆ ĐẾN CÁC THÀNH PHẦN TRONG CHUỖI THU MUA XƠ DỪA: Theo những quan sát từ thực tế, hệ thống tiêu thụ dừa tại huyện Mỏ Cày Nam nĩi riêng và tỉnh Bến Tre nĩi chung cũng tƣơng tự nhƣ các vùng trồng dừa khác, nghĩa là ngƣời nơng dân sau khi thu hoạch sẽ bán cho ngƣời thu mua. Ngƣời thu mua đƣa đến cơ sở chế biến hoặc vựa thu mua lớn hơn và sau đĩ, lƣợng dừa này mới đến các cơng ty sản xuất hoặc xuất khẩu. SƠ ĐỒ THU MUA, XUẤT KHẨU CHỈ XƠ DỪA 1.2.1 Nhà vƣờn: Nhà vƣờn là xuất phát điểm quan trọng trong quá trình thu mua và sản xuất chỉ xơ dừa. Đa số ngƣời dân ở tỉnh Bến Tre đều trồng dừa nhƣng việc trồng dừa cịn manh 6 mún và họ đều trồng theo kinh nghiệm là chính, khơng thƣờng xuyên cập nhật các kiến thức giống cây trồng, kĩ thuật chăm sĩc,… Trồng dừa khơng cần vốn nhiều, chỉ cần cĩ hai hay ba cơng đất là cĩ thể trồng dừa. Cứ khoảng 20 ngày hay 1 tháng đến kì thu hoạch thì nhà vƣờn gọi ngƣời đến mua, bẻ dừa chở đi. 1.2.2 Thƣơng lái Thƣơng lái là trung gian mua bán giữa nhà vƣờn và các chủ vựa. Vai trị của thƣơng lái trong việc thu mua nơng sản nĩi chung cũng nhƣ thu mua dừa nĩi riêng là rất quan trọng, vì việc trồng dừa manh mún khơng cĩ quy hoạch rõ ràng nên thƣơng lái là ngƣời quan trọng gĩp phần nối kết đầu ra cho cây dừa. Họ thu mua dừa từ các nhà vƣờn, tập trung dừa tại một địa điểm từ đĩ vận chuyển đi bán cho các chủ vựa. Dừa trái đƣợc thƣơng lái đến tận các nhà vƣờn bẻ rồi vận chuyển về bằng xe đạp, xe cải tiến, xuồng hay ghe. Sau khi tập trung dừa trái từ các nhà vƣờn, thƣơng lái cĩ thể dùng ghe chở dừa trái đến bán trực tiếp cho chủ vựa, hoặc là chở đến chỗ chủ vựa lột và bán vỏ cho chủ vựa cịn “hột” – trái dừa đã lột vỏ xơ đi cịn gáo dừa, cơm dừa và nƣớc – thì vận chuyển đi bán ở nơi khác. 1.2.3 Vựa thu mua Cơ sở chế biến cĩ quy mơ nhỏ, nằm ngay tại địa phƣơng. Chủ vựa thu mua dừa trái hoặc vỏ dừa khơ từ thƣơng lái, cho vỏ dừa vào máy tƣớc chỉ rồi đem chỉ ra phơi khơ, sau đĩ gom lại đĩng thành từng kiện bán cho các cơng ty xuất khẩu. Các cơng ty xuất khẩu đến tận vựa để thu gom chỉ xơ dừa. Các cơng ty sẽ tái chế và đĩng gĩi xuất khẩu hoặc bán cho các doanh nghiệp sản xuất trong nƣớc. Các vựa tƣớc chỉ thƣờng cĩ một máy tƣớc chỉ làm việc với cơng suất 1 đến 2 tấn một ngày nếu là chỉ khơ, cịn chỉ ƣớt thì cơng suất đƣợc khoảng 4 đến 5 tấn một ngày. 7 Các vựa tƣớc chỉ là nơi giải quyết phần lớn cơng việc cho ngƣời dân ở đây, một vựa thu mua dừa tƣớc chỉ trung bình cĩ khoảng 20 đến 25 nhân cơng thực hiện các cơng đoạn: lột vỏ dừa, đứng máy, bốc vác, phơi chỉ,… 1.2.4 Cơng ty xuất khẩu Là đầu mối tiêu thụ sản phẩm, hiện tại việc xuất khẩu chỉ xơ dừa khơng chỉ cĩ các cơng ty Việt Nam mà đã cĩ sự tham gia ngày càng nhiều của các cơng ty nƣớc ngồi nhƣ Cơng ty Chế biến Dừa Phú Hƣng (đơn vị liên doanh giữa Tập đồn Silvermill - Sri Lanka và Cơng ty Treximco- Bến Tre) đặc biệt là các cơng ty Trung Quốc, Đài Loan càng gia tăng sự cạnh tranh gay gắt trong việc thu mua và xuất khẩu chỉ xơ dừa. 8 CHƯƠNG 2. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THU MUA XƠ DỪA Ở HUYỆN MỎ CÀY NAM TỈNH BẾN TRE 2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÂY DỪA Trên thế giới thì cĩ khá nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ cĩ diện tích trồng dừa tầm cỡ là Philippin, Malayisia, Sri Lanka, Việt Nam, Mexico, Tây Châu Phi…, nhìn chung cây dừa phổ biến khắp các vùng nhiệt đới. Ở Việt Nam cĩ hai địa phƣơng trồng nhiều dừa là: Đồng bằng sơng Cửu Long (Bến Tre) và duyên hải miền Trung (Đà nẵng vào Phan Thiết). Việt Nam cĩ diện tích trồng dừa trên 200.000 ha thì Bến Tre đã chiếm 40 ngàn ha, và là vùng trồng dừa lớn nhất cả nƣớc. Cây dừa cĩ chu kỳ khai thác kinh tế kéo dài từ 40 đến 50 năm, dễ trồng và thích nghi với điều kiện sinh thái khác nhau. Hiện tại ở nƣớc ta cĩ 2 nhĩm giống dừa chính đang trồng với các đặc tính khác nhau: nhĩm giống dừa cao (dừa ta, dừa dâu, dừa lửa, dừa giấy...) phát triển nhanh cĩ thể cao 18 đến 20 m, ra trái muộn, trái dùng lấy dầu và chế biến các sản phẩm cĩ giá trị khác.  Giá trị sản phẩm từ cây dừa: * Than hoạt tính: Tẩy màu, khử mùi, lọc chất lỏng, lọc khí, lọc vàng, lọc máu nhằm giảm chất phĩng xạ. Giá trị xuất khẩu: 1.000 USD/tấn. * Cơm dừa nạo sấy: dùng chế biến thực phẩm, cĩ hàm lƣợng chất béo cao, khơng cĩ chứa hàm lƣợng Cholesterol (chất gây chứng béo phì và các bệnh về tim mạch). Giá trị xuất khẩu: 1.000 USD/tấn. * Xơ dừa: là nguyên liệu sản xuất các loại niệm ngủ, vật liệu trang trí nội thất thân thiện với mơi trƣờng, làm lƣới phủ xanh đồi trọc, bảo vệ các cơng trình cơng nghiệp 9 dƣời biển bới độ bền, lâu bị phân huỷ trong mơi trƣờng nƣớc nặng, cách âm, cách nhiệt. Giá trị xuất khẩu: 170 - 185 USD/tấn. Dừa là một trong những mặt hàng cĩ kim ngạch xuất khẩu lớn nhất của nƣớc ta trong tháng 4/2007 - chiếm 30,3% tổng kim ngạch xuất khẩu trái cây của cả nƣớc. Dừa Việt Nam tập trung chủ yếu ở 3 nơi: Bến tre, Trà Vinh và Bình Định. Bến Tre đƣợc biết đến cĩ diện tích dừa lớn nhất Việt Nam, hiện nay khoảng 40.000 ha. Sản lƣợng dừa cũng cao nhất nƣớc (trên 300 triệu trái/năm). Giá trị xuất khẩu các sản phẩm dừa năm 2009 dự kiến đạt trên 66 triệu USD trong tổng số 170 triệu USD giá trị xuất khẩu của tồn tỉnh. 2.2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ CÂY DỪA BẾN TRE Vƣờn dừa ĐBSCL tập trung chủ yếu ở Bến Tre, Trà Vinh, Kiên Giang, Cà Mau, Vĩnh Long… Trong đĩ, Bến Tre và Trà Vinh là nơi phát triển mạnh về diện tích lẫn chế biến xuất khẩu. Tại các huyện Mỏ Cày, Bình Đại, Giồng Trơm (Bến Tre); Càng Long, Cầu Kè (Trà Vinh). Trung bình mỗi vƣờn dừa (4.000m2) mỗi tháng cho thu hoạch khoảng 7-8 trăm trái (mỗi trăm bằng 120 trái). Giá dừa bán tại vƣờn hiện nay là 320.000đ/ trăm dừa vào mùa nắng (mùa mƣa giá cĩ sụt đơi chút). Về giống, theo khảo sát dừa trồng tại Bến Tre chia thành 2 nhĩm chính: giống dừa cao và giống dừa lùn; dừa cao cĩ 3 giống chính: dừa ta chiếm 35% tổng diện tích dừa của tỉnh, dừa dâu chiếm 4% diện tích vƣờn dừa của tỉnh, dừa lửa chiếm 2% diện tích vƣờn dừa của tỉnh; dừa lùn chiếm trên 10% diện tích trồng dừa của tỉnh gồm các giống dừa: dừa xiêm, dừa tam quan, dừa ẻo… Mật độ trồng khoảng 150-180 cây/ha với giống dừa cao và 200-220 cây đối với giống dừa lùn. Trong khâu chọn giống, qua khảo sát thực tế 500 hộ trồng dừa trong tỉnh cho thấy: 89% nơng dân chọn giống từ vƣờn nhà; mua giống từ vƣờn khác chiếm 10%; mua giống từ các trung tâm giống chiếm dƣới 1%. . Hiện tại, đa số diện tích dừa ĐBSCL trồng tự phát quá lâu, giống cũ nên 10 năng suất thấp. Bình quân mỗi cây chỉ cho 30- 35 trái/năm, nơi trúng cũng chỉ đạt 38 - 40 trái/cây/năm. Nếu đƣợc đầu tƣ tốt cĩ thể đạt 70 trái/cây/năm. Viện Nghiên cứu dầu thực vật vừa lai tạo thành cơng 2 giống dừa lai JVA 1 và JVA 2 cho năng suất cao, trái lớn, hàm lƣợng dầu tăng hơn giống địa phƣơng khoảng 65%. Về doanh thu, dừa trồng chuyên canh đạt lợi nhuận bình quân từ 8,5-11,6 triệu đồng/ha/năm; nếu dừa đƣợc trồng xen với các loại cây ăn trái khác nhƣ: măng cụt, bƣởi, chanh, cam sành thì hiệu quả sẽ rất cao, doanh thu đạt bình quân từ 26,5-51 triệu/ha/năm, lợi nhuận bình quân từ 17-41 triệu/ha/năm. Hiện trên tồn tỉnh Bến Tre cĩ trên 30% vƣờn dừa áp dụng mơ hình thâm canh tổng hợp theo 2 vùng ngọt và vùng lợ; vùng ngọt cĩ mơ hình: dừa kết hợp trồng cây đặc sản và nuơi thủy sản, dừa kết hợp trồng ca cao và nuơi thủy sản, dừa kết hợp trồng dâu; vùng lợ cĩ các mơ hình: dừa kết hợp cây cĩ múi, dừa kết hợp trồng cỏ nuơi bị… 2.3 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THU MUA XƠ DỪA Ở HUYỆN MỎ CÀY NAM TỈNH BẾN TRE: 2.3.1 Chỉ xơ dừa ở huyện Mỏ Cày Nam tỉnh Bến Tre và triển vọng phát triển: Huyện Mỏ Cày hiện cĩ 200 cơ sở sản xuất chỉ xơ dừa, tập trung ở các xã Đa Phƣớc Hội, An Thạnh, Khánh Thạnh Tân và Thành Thới B, hàng năm sản xuất khoảng 30.000 tấn chỉ tƣơi, tạo ra giá trị xuất khẩu hơn 60 tỷ đồng, bằng 15% tổng giá trị sản xuất ngành cơng nghiệp của huyện. Làng nghề sản xuất chỉ xơ dừa ở huyện Mỏ Cày đã thu hút hơn 4.000 lao động trực tiếp và khoảng 16.000 lao động gián tiếp tham gia các cơng đoạn nhƣ quay chỉ rối, kéo chỉ, dệt thảm chỉ xơ dừa, đan đát các sản phẩm thủ cơng mỹ nghệ chỉ xơ dừa .v.v. Ngồi việc tạo ra giá trị xuất khẩu lớn cho địa phƣơng, làng nghề sản xuất chỉ xơ dừa ở 11 huyện Mỏ Cày cịn gĩp phần quan trọng trong việc thực hiện chủ trƣơng xĩa đĩi giảm nghèo, đồng thời nâng cao thu nhập cho nơng dân trồng dừa.  Nhu cầu thị trường Giá các loại thảm xơ dừa (thảm chùi chân) trên thị trƣờng thế giới dao động từ 12,5 – 37,84 USD/m2, hiện nay giá cĩ khuynh hƣớng giảm với tỷ lệ giảm khoảng 5,6%. Giá chổi xơ dừa và bàn chải xơ dừa hiện khoảng 0,77 USD/chiếc tăng khoảng 14,2% so với giá cùng thời điểm năm trƣớc. Quý 1/2009, giá chỉ xơ dài khoảng 862 USD/tấn tăng 35,4%, giá chỉ xơ xoắn khoảng 962USD/tấn tăng 5,25%, giá mụn dừa khoảng 315USD/tấn tăng 11,8% so với giá quý 1/2008. Nhu cầu nhập khẩu các sản phẩm chỉ xơ dừa luơn biến đổi. Năm 2008, mụn dừa chủ yếu đƣợc xuất khẩu sang Nhật Bản, Hàn Quốc, tiếp theo là EU (các nƣớc Tây Ban Nha, Hà Lan, Ý, Pháp, Anh Đức, Phần Lan). Các nƣớc Bắc Mỹ (Mỹ, Canada, Mexico) nhập khẩu mụn dừa. Các nƣớc Châu Mỹ La linh nhƣ Argentina, Ecuador và Chi Lê cũng nhập khẩu một số lƣợng nhỏ mụn dừa. Ngồi ra, các sản phẩm chỉ xơ dài, chỉ xơ cứng, chỉ xơ xoắn, nệm xơ dừa cũng đƣợc xuất khẩu sang thị trƣờng Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Á Rập Saudi, các nƣớc EU. Ngồi Đức, cĩ 6 quốc gia quan trọng khác ở thị trƣờng EU đang nhập khẩu thảm lĩt sàn bằng xơ dừa từ thị trƣờng thế giới là Ai Cập, Netherlands, Tây Ban Nha, Ý, Anh (UK) và Ba Lan. Thị trƣờng nhộn nhịp nhất theo nhận định là Tây Ban Nha, Ý và Ba Lan. Ba quốc gia này cĩ tốc độ tăng trƣởng nhập khẩu rất đáng kể là 26,9%, 19,2% và 18,4%/năm trong suốt 5 năm qua. Nhu cầu trung bình hàng năm của các quốc gia này là 1,6 triệu tấn (Tây Ban Nha), 3,0 triệu tấn (Ý) và 0,3 triệu tấn (Ba Lan). 12 Các quốc gia nhập khẩu ở thị trƣờng EU nhƣ Ai Cập, Netherlands cĩ tỷ lệ tăng trƣởng giảm với 4,7% và 13,8%/năm tƣơng ứng với lƣợng nhập khẩu trung bình là 0,33 triệu tấn (Ai Cập) và 0,61 triệu tấn (Netherlands). Mặc dù cĩ xu hƣớng giảm trong vịng 5 năm qua, nhƣng thị trƣờng EU vẫn là một trung tâm thị trƣờng nhập khẩu xơ dừa và các bán thành phẩm. Đức vẫn cĩ nhu cầu cần khoảng 8,7 triệu tấn/năm đối với các sản phẩm xơ dừa nhƣ xơ thảm và xơ cứng và cũng đã nhập khẩu hàng năm khoảng 0,65 triệu tấn bán thành phẩm từ xơ dừa từ thị trƣờng thế giới. Netherlands đã nhập khẩu các sản phẩm xơ dừa cùng loại với số lƣợng lớn hơn của Đức. Nhu cầu nhập khẩu hàng năm trong 5 năm qua là 6,9 triệu tấn (xơ thơ) và 12,8 triệu tấn bán thành phẩm từ xơ. Hai loại sản phẩm này đã mở rộng tỷ lệ phát triển đến 70,1% và 38,8% tại thị trƣờng Netherlands. Khơng giống với các thị trƣờng khác, Ý cĩ nhu cầu nhập khẩu bán thành phẩm từ xơ dừa hơn là xơ dừa thơ. Tỷ lệ phát triển đối với xơ dừa thơ đang giảm đến 8,2%/năm trong khi nhu cầu nhập khẩu bán thành phẩm từ xơ lại tăng đến 27,8%/năm. Các mức giá trung bình đối với mặt hàng xơ dừa thơ và bán thành phẩm từ xơ dừa tại thị trƣờng Châu Âu là 0,36 USD/kg và 0,54 USD/kg. Các mức giá xuất khẩu đối với cùng loại sản phẩm tại Sri Lanka là 0,24 USD/kg và 0,40 USD/kg. 2.3.2 Thực trạng hoạt động thu mua xơ dừa ở huyện Mỏ Cày Nam tỉnh Bến Tre 2.3.2.1 Nhà vườn Huyện Mỏ Cày Nam cĩ điều kiện tự nhiên là vùng nƣớc lợ do đĩ đƣợc xem là vùng chuyên canh trồng dừa cĩ qui mơ tại tỉnh Bến Tre, nƣớc lợ tạo điều kiện thuận lợi cho việc trồng dừa năng suất hơn. Trong vùng cĩ nhiều loại dừa: dừa dứa, dừa xiêm, 13 dừa dâu, dừa sáp, dừa khơ,… song dừa ta đƣợc trồng nhiều nhất nhằm phục vụ cho nhu cầu cơng nghiệp. Huyện Mỏ Cày Nam gồm 11 xã, trung bình 7 ấp/ xã, trong đĩ Định Thủy, Phƣớc Hiệp, Bình Khánh là 3 xã trồng nhiều dừa, tƣơng đƣơng nhau về năng suất, giá cũng cao hơn so với các vùng khác. Diện tích cịn manh mún, chƣa quy hoạch hợp lý. Trên thực tế, ở huyện Mỏ Cày Nam hiện nay, số hộ sở hữu 1 ha (10.000m2) vƣờn dừa rất ít. Đại trà là mỗi hộ chỉ 2-3 cơng đất vƣờn dừa (2.000-3.000m2). Một cơng đất (1000m2) nếu trồng kỹ thuật sẽ phải trồng khoảng 19 cây, khoảng cách 8 thƣớc tƣơng đƣơng 2m50 thì dừa sẽ phát triển tốt nhất tuy nhiên cũng rất ít hộ thực hiện đƣợc điều này, bên cạnh việc trồng dừa khơng cần cơng chăm sĩc nhiều, ngƣời nơng dân cần cĩ nhiều cơng việc phụ thêm. Tuổi thọ cây dừa trung bình là 60 năm, sau lần thu hoạch đầu tiên cứ khoảng 1 tháng - 20 ngày lại thu hoạch, nhƣ vậy 1 năm ngƣời trồng dừa thu hoạch khoảng 10 lần. Về cách thức thu hoạch, chủ vƣờn cĩ thể thuê ngƣời chuyên mơn bẻ dừa rồi bán cho thƣơng lái với giá 32.000VNĐ/ chục hoặc thƣơng lái đến bẻ dừa, đếm rồi mua luơn, giá hiện tại là 30.000VNĐ/ chục, giảm gần một nửa so với năm trƣớc. Theo cách khác, trong trƣờng hợp chủ vựa lột dừa bán thẳng cho chủ tàu Trung Quốc để cạnh tranh họ sẽ liên hệ trực tiếp với nhà vƣờn, nhà vƣờn bẻ sẵn rồi họ tới lấy. Phƣơng tiện vận chuyển dừa cĩ thể dùng xe đạp (1 xe đạp máng đƣợc 50 trái dừa), xe lơi, xe ba gác, ghe, xuồng máy…hoặc dùng bè kết dừa thả trơi theo đƣờng nƣớc kênh rạch nếu nhƣ ghe, xuồng máy khơng thể vào.Trong quá trình vận chuyển cĩ thể kết hợp nhiều cách thức, phƣơng tiện vận chuyển bằng đƣờng thủy là phổ biến và hiệu quả nhất vì cĩ thể tận dụng hệ thống sơng ngịi, kênh rạch cùng các con nƣớc lên xuống theo thời gian. Ngƣời trồng vƣờn chịu nhiều áp lực vì một trái dừa mang lại các giá trị khác nhau và chỉ cần một trong các yếu tố cĩ vấn đề thì giá dừa sẽ giảm. Nhìn chung giá bấp 14 bênh gây nhiều khĩ khăn cho ngƣời trồng dừa, cầu thị trƣờng biến động, phụ thuộc nhiều vào tàu Trung Quốc. Bên cạnh đĩ, cịn các yếu tố cũng gây ảnh hƣởng tới việc trồng dừa nhƣ thời tiết, sâu bọ, phân bĩn,…Sâu bọ phá hại nếu xuất hiện ở một cây trong vƣờn cĩ thể sẽ ăn hết vƣờn gây thiệt hại lớn cho ngƣời trồng. Mức độ phá hại của chuột khơng bằng sâu bọ song cũng làm năng suất giảm đáng kể. Nhà nƣớc ta cĩ qui định trong cơng việc trồng dừa, một cây một tháng hái đƣợc 6 trái, nếu dừa cơng nghiệp (hay cịn gọi là dừa ta/dừa bị): 10 trái/cây, 1 cơng dừa 19 cây thì chỉ đƣợc 15 cây thu hoạch. Từ đĩ ngƣời nơng dân cĩ thể so sánh đối chiếu với kết quả thu hoạch của mình, để cĩ kế hoạch trồng và chăm sĩc vƣờn dừa tốt hơn. Các hộ nơng dân trồng dừa sẽ đƣợc tập huấn qua các hội thảo, chƣơng trình do phịng nơng nghiệp của huyện tổ chức. Nếu hộ nào nằm trong vùng dự án sẽ đƣợc tập huấn thƣờng xuyên hơn, hình thành hợp tác xã, đƣợc hỗ trợ phân bĩn, tƣ vấn kĩ thuật. Tuy nhiên miền Nam chƣa cĩ các hợp tác xã, hội nơng dân,…đa số nơng dân tự phát, chỉ mới ở Châu Thành cĩ một hội nơng dân đi vận động tỉa bớt dừa già, trồng xen ca cao vì loại cây này phù hợp với bĩng râm của dừa, bĩn phân cho ca cao dừa cũng cĩ thể hấp thụ đƣợc. Huyện Mỏ Cày Nam đang áp dụng và dần nhân rộng mơ hình này song cũng gặp nhiều khĩ khăn. 2.3.2.2 Thương lái Thƣơng lái tới từng nhà dân thu mua dừa khơ theo mùa thu hoạch dừa, thơng thƣờng là quanh năm, trung bình một tháng một lần do khơng cĩ vùng trồng dừa chuyên canh. Qui mơ trồng của ngƣời dân nhỏ nên ở mỗi hộ thƣơng lái chỉ thu gom đƣợc khoảng 10-50 trái. Chất lƣợng dừa tùy theo vùng khác nhau cĩ nhiều loại giá khác nhau. Trung bình 32000VNĐ/12 trái dừa khơ. Thƣơng lái thu mua 8-10% ( khơng tính cơng bẻ ) 27000VNĐ/chục (12 trái). 15 Do các vƣờn dừa trồng manh mún nên việc thu mua của thƣơng lái cũng rất đa dạng: xe đạp, xe tự chế, ghe, xuồng, hoặc là dừa đƣợc kết thành bè thả trơi theo dịng nƣớc... Nếu dùng xe đạp thu mua thì mỗi xe cĩ thể chở đƣợc 50 trái dừa. Xe ba gác nhỏ chở dừa mua đƣợc từ các hộ dân đƣợc tập trung tại một địa điểm gần ven sơng sau đĩ vận chuyển bằng ghe, thuyền dọc theo sơng đến tận bãi dừa của các chủ vựa nằm ven sơng. Giữa thƣơng lái và chủ vựa cĩ mối quan hệ chặt chẽ, tuy khơng cĩ hợp đồng nhƣng ràng buộc về vốn (tiền bạc), các thƣơng lái cĩ thể đăng ký với chủ vựa để ứng trƣớc vốn cho thƣơng lái, thƣơng lái đi mua đâu khơng cần biết chỉ cần vận chuyển dừa về đủ cho chủ vựa sơ chế chỉ xơ dừa rồi hƣởng chênh lệch giữa giá mua và bán. Trong trƣờng hợp cĩ sự ứng vốn nhƣ trên chủ vựa lấy giá thấp hơn thị trƣờng để trừ tiền lãi, nếu chỉ quen biết làm ăn thơng thƣờng chủ vựa sẽ lấy tiền ngang thị trƣờng. 2.3.2.3 Vựa thu mua Từ Thành Thới B lên tới Mỏ Cày bảy cây số, 200 cơ sở lột dừa lấy vỏ làm tơ xe sợi. Mỗi cơ sở đều tập trung ở ven sơng, cĩ 4 khu riêng, khu lột vỏ dừa ở ngay cạnh sơng, khu tƣớc chỉ xơ dừa, khu sân phơi và kho dự trữ. Nhờ nghề sản xuất chỉ xơ dừa, mỗi lao động thu nhập thƣờng xuyên trên 50.000 đồng/ngày. Làng nghề này cĩ gần 200 cơ sở, mỗi cơ sở giải quyết việc làm từ 18-20 lao động. Lột dừa khơ 1 cị (200 trái) tiền cơng là 8.000 đồng, trung bình một ngày một ngƣời lột từ 8-10 cị (1 thiên dừa 1.200 trái). Thảy dừa từ ghe lên bờ tiền cơng 7.000 đồng/thiên dừa. Đập vỏ dừa (bằng máy) 50.000 đồng/tấn. Tƣớc chỉ xơ dừa (bằng máy) 120.000 đồng/tấn, bình quân 8 tiếng, 5 ngƣời tƣớc đƣợc ít nhất 2 tấn. Cịn cơng đoạn phơi chỉ xơ dừa tuy nhẹ nhƣng cực cơng, nhất là vào mùa mƣa. Nhƣng tiền cơng phơi 1 tấn chỉ xơ dừa cao, 120.000 đồng/tấn... Các cơ sở sản xuất chỉ xơ dừa hoạt động quanh năm, chỉ nghỉ mấy ngày 16 Tết. Với cơng suất 2-3 tấn chỉ/ngày, một chủ vựa cĩ thể cĩ thu nhập 400.000 đồng/ngày sau khi trừ hết chi phí. Các cơ sở sản xuất các sản phẩm từ dừa hiện nay tại Bến Tre đều chƣa hoạt động hết cơng suất thiết kế. Qua điều tra 25 cơ sở sản xuất chế biến thì năng suất hoạt động trung bình của các cơ sở này đều vào khoảng 60%, trong đĩ cơ sở hoạt động thấp nhất là 40% và cơ sở hoạt động cao nhất là 70%. Cĩ khoảng 45% cơ sở dự tính sẽ tăng quy mơ hoạt động của mình lên hơn 10%, và 35% cơ sở dự tính tăng hơn 50%, trong khi số cịn lại (khoảng 20%) khơng cĩ ý định tăng quy mơ hoạt động của cơ sở mình. Điều này cho thấy các cơ sở sản xuất chế biến đang bị động về đầu ra, khơng cĩ thị trƣờng tiêu thụ nên việc tổ chức mạng lƣới marketing cho các sản phẩm ngành dừa vơ cùng cấp thiết và quan trọng. Theo các số liệu nghiên cứu, chỉ cĩ khoảng 5% các cơ sở sản xuất chế biến của ngành dừa cĩ máy mĩc tiên tiến, cịn 62% cĩ máy mĩc trung bình, trong khi 33% cơ sở đang trong tình trạng sản xuất với các thiết bị máy mĩc lạc hậu, kho bãi cịn hạn chế, chƣa cĩ hệ thống bảo quản đạt tiêu chuẩn, do đĩ chỉ thƣờng bị hao hụt, độ ẩm khơng đạt chuẩn, khơng thể dự trữ lâu đƣợc. Điều này dẫn đến bị động cho các chủ vựa trong việc tiêu thụ, họ phải tìm ngƣời tiêu thụ ngay trong 1 – 2 ngày sau khi chỉ đƣợc đĩng kiện. Trƣớc đây khi cơng ty Trúc Giang hay cơng ty 26/8 của Bến Tre cịn hoạt đơng kinh doanh trong lĩnh vực thu mua chỉ xơ dừa, tình hình khả quan hơn cho các chủ vựa vì cơng ty thực hiện chế độ bao tiêu cĩ nghĩa là bao giá dù thị trƣờng biến động, do đĩ các vựa thu mua đỡ bị lỗ. Năm 2005-2006 là thời hồng kim của ngành sản xuất chỉ xơ dừa ở Bến Tre. Hàng sản xuất ra luơn khơng đáp ứng đủ nhu cầu đặt hàng từ nƣớc ngồi. Giá chỉ xơ dừa xuất khẩu tăng vọt từ 220USD/tấn vào năm 2003 lên đến 350USD/tấn năm 2006. 17 Cịn giá vỏ dừa từ 200-250/cái cĩ lúc lên đến 1.000-1.500 đồng/cái, nhƣng các cơ sở cũng phải tranh mua vỏ dừa để sản xuất. Cả nơng dân trồng dừa và ngƣời sản xuất chỉ xơ dừa đều phấn khởi với những sợi “chỉ vàng” từ xơ dừa. Nhƣng bƣớc vào đầu năm 2007 đến nay, giá chỉ xơ dừa xuất khẩu bắt đầu rớt dài và hiện nay chỉ cịn trên dƣới 200 USD/tấn. Trƣớc đây, các nƣớc trong khu vực cĩ nhiều dừa nhƣ: Indonesia, Malaysia, Philippines, Sri Lanka... chỉ chú trọng sản xuất các sản phẩm từ cơm dừa nhƣ: cơm dừa nạo sấy, sữa dừa... Cịn phần vỏ dừa đƣợc xem là phế phẩm, khơng ai mua. Trong khi tại Bến Tre, vỏ dừa đƣợc tận dụng tối đa để sản xuất chỉ xơ dừa. Đến khi Trung Quốc, Đài Loan... cĩ nhu cầu nhập chỉ xơ dừa với số lƣợng lớn để làm nệm ơ tơ, nệm lĩt giƣờng ngủ, ghế sa lơng... thì ngành sản xuất chỉ xơ dừa của Bến Tre bắt đầu phát đạt. Nệm bằng nguyên liệu chỉ xơ dừa cĩ ƣu điểm rất thống hơi và khơng gây ơ nhiễm mơi trƣờng khi khơng sử dụng (chỉ xơ dừa rất dễ phân hủy). Tại Trung Quốc, Đài Loan, hầu hết các doanh trại quân đội đều sử dụng nệm làm từ chỉ xơ dừa... Vào mùa đơng, nhu cầu nệm bán ra thị trƣờng tăng mạnh, nên thƣờng từ tháng 7 âm lịch đến cuối năm, các nƣớc này cĩ nhu cầu nhập chỉ xơ dừa rất lớn. Để khắc phục tình trạng lệ thuộc nguồn cung chỉ xơ dừa độc quyền của Việt Nam, nhiều doanh nghiệp Trung Quốc đã đƣa ngƣời đến Bến Tre “tham quan” quy trình sản xuất chỉ xơ dừa. Tất cả máy mĩc phục vụ các cơng đoạn sản xuất chỉ xơ dừa do ngƣời dân Bến Tre tự chế đƣợc họ đặt hàng sản xuất và đƣa về Trung Quốc làm hàng mẫu để sản xuất lại. Ngay sau đĩ, những loại máy mĩc này đƣợc Trung Quốc đƣa đến những nƣớc cĩ nhiều dừa nhƣng chƣa biết tận dụng vỏ dừa để sản xuất chỉ xơ dừa nhƣ ở Bến Tre. Vì vậy, giá xuất khẩu chỉ xơ dừa trên thị trƣờng bị kéo xuống. Thêm vào đĩ, những nƣớc mới tham gia sản xuất chỉ xơ dừa đã chủ động khống chế độ ẩm đúng tiêu chuẩn của nhà nhập khẩu, để cạnh tranh với nguồn hàng từ Việt Nam. 18 Lợi thế của chỉ xơ dừa sản xuất tại Bến Tre là trắng, mịn (một phần do trái to), đƣợc khách hàng ƣa chuộng. Tuy nhiên, ngành sản xuất chỉ xơ dừa Bến Tre đang bị thất thế do khơng giữ chất lƣợng từ đầu; lợi thế độc quyền khơng cịn. Mặt khác, do chỉ chú trọng xuất khẩu nguyên liệu nên các cơ sở sản xuất đang bị lệ thuộc vào đầu mối tiêu thụ, các chủ vựa tƣớc chỉ đang bị các cơng ty Trung Quốc ép giá thu mua. 2.4 NHỮNG ƢU THẾ VÀ TỒN TẠI 2.4.1 Ƣu thế Bến Tre cĩ lợi thế sản xuất dừa so với các tỉnh khác trong đồng bằng sơng Cửu Long cũng nhƣ các tỉnh khác trong cả nƣớc nếu xét về sản lƣợng. Dừa là cây cơng nghiệp thế mạnh trong quá trình phát triển kinh tế của tỉnh Bến Tre. Hiện nay, diện tích dừa đang thu hoạch ổn định. Ngồi sản phẩm chính là chế biến dầu dừa, chỉ xơ dừa, các sản phẩm khác từ dừa đang đƣợc thị trƣờng trong nƣớc và quốc tế ƣa chuộng. Tỉnh cĩ chủ trƣơng phát triển diện tích dừa gắn liền với các cơ sở cơng nghiệp chế biến nhƣ tập trung cho dự án xây dựng nhà máy than hoạt tính, các cơ sở chế biến chỉ, thảm xơ dừa cĩ chất lƣợng cao... nhằm đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng nội địa và xuất khẩu. Quý 1/2009, kim ngạch xuất khẩu đạt 21,7 triệu USD, tăng 12,5% so với kim ngạch xuất khẩu cùng kỳ năm trƣớc. Theo UBND tỉnh Bến Tre, giá trị xuất khẩu các sản phẩm dừa năm 2009 dự kiến đạt trên 66 triệu USD trong tổng số 170 triệu USD giá trị xuất khẩu của tồn tỉnh. Hiện các doanh nghiệp trong tỉnh đang tập trung XK khoảng 23 loại sản phẩm khác nhau từ cây dừa, trong đĩ nhiều nhất là cơm dừa nạo sấy và chỉ xơ dừa. Bến Tre cĩ diện tích trồng dừa lớn nhất nƣớc với hơn 40.000 ha, sản lƣợng trên 300 triệu trái dừa mỗi năm. 19 2.4.2 Tồn tại 2.4.2.1 Nhà vườn  Mùa vụ khơng ổn định Đơi ba tháng dừa treo trong năm cũng là mặt hạn chế khách quan về sản lƣợng chung của trái dừa Bến Tre. Trong năm, nếu vào thời điểm mùa khơ mà dừa ra bơng, kết trái thì trái non sẽ rụng rất nhiều so với dừa ra bơng khi trời sa mƣa. Dừa từ kết trái đến khi trở thành dừa khơ khoảng 8 tháng. Nhƣ vậy, nếu dừa ra bơng vào tháng 3 (mùa khơ) thì vào tháng 11, trái dừa cịn lại trên cây để trở thành dừa khơ rất ít, nơng dân gọi đĩ là “dừa treo”. Hiện tại, các nhà khoa học, nhà vƣờn cĩ thể cho cây chơm chơm, sầu riêng… ra trái mùa nghịch nhƣng với cây dừa, khắc phục yếu tố tự nhiên để cây dừa cho trái đều đặn quanh năm thì chƣa thể đƣợc. Bến Tre hiện cĩ khoảng 37.500 ha dừa, tổng sản lƣợng khoảng 230 triệu trái/năm. Nhƣ vậy ƣớc tính, mùa dừa treo trong năm đã làm Bến Tre mất đi khơng dƣới 50 triệu trái. Do đĩ đề ra các giải pháp nhằm hạn chế đƣợc “nhƣợc điểm” này hiện đang là nhu cầu cấp thiết.  Diện tích manh mún chưa quy hoạch, Số hộ sở hữu 1 ha (10.000m2) vƣờn dừa rất ít, đại trà là mỗi hộ chỉ 2-3 cơng đất vƣờn dừa (2.000-3.000m2) và ngƣời trồng dừa cũng khơng quan tâm nhiều đến kĩ thuật trồng dừa sao cho cĩ năng suất tốt. Nhƣ vậy gây khĩ khăn trong cơng tác qui hoạch, tập huấn cũng nhƣ việc thu mua, vận chuyển, tập trung về nơi sản xuất chế biến.  Thơng tin thị trường khơng ổn định ảnh hưởng đến tâm lý nhà vườn Trong khi ngƣời nơng dân phải mất khoảng 5 năm để cĩ thể thu hoạch đƣợc dừa thì khi giá dừa sụt giảm, ngƣời trồng dừa phải chặt bỏ hàng dừa để trồng loại cây khác 20 trong một thời gian ngắn. Việc phá bỏ dừa hàng loạt đã dẫn đến những bất ổn trong đời sống của ngƣời dân từ trƣớc đến nay vẫn quen canh tác dừa. Hậu quả của việc chặt phá dừa khơng chỉ giới hạn ở sức khoẻ kinh tế của hộ trồng dừa nữa mà ảnh hƣởng mạnh đến cơ cấu sản xuất và sức khoẻ kinh tế của cả một tỉnh, của các cụm tiểu thủ cơng nghiệp và vấn đề giải quyết cơng ăn việc làm tại các tỉnh trồng dừa và các tỉnh lân cận.  Nhà vườn chưa được hỗ trợ kỹ thuật trồng dừa Miền Nam chƣa cĩ các hợp tác xã, hội nơng dân,…đa số nơng dân tự phát, chỉ mới cĩ ở Châu Thành cĩ 1 hội nơng dân đi vận động tỉa bớt dừa già, trồng xen ca cao, ca cao phù hợp bĩng râm của dừa, bĩn phân cho ca cao. Nếu cĩ chƣơng trình tập huấn về kĩ thuật trồng dừa chỉ cĩ trƣởng ấp, phĩ ấp đƣợc mời sau đĩ mới phổ biến lại cho các hộ nơng dân. 2.4.2.2 Thương lái Tổ chức hệ thống thu mua dừa của các thƣơng lái hiện nay tuy cĩ nhiều thay đổi nhƣng năng lực kinh doanh và tổ chức phối hợp cịn bộc lộ nhiều yếu kém. Các thƣơng lái kinh doanh lấy cơng làm lời là chính, chƣa cĩ đầu tƣ đầy đủ vào phƣơng tiện vận chuyển để làm cho việc thu mua trở nên chuyên nghiệp. Giữa các thƣơng lái với nhau chƣa cĩ sự phối hợp, thu mua khơng hiệu quả, tình trạng lƣu thơng chồng chéo, tranh mua tranh bán gây tổn hại đến lợi ích chung của ngƣời trồng dừa. Các thƣơng lái chƣa đƣợc hỗ trợ vốn để thu mua dừa, họ thƣờng phải vay mƣợn vốn từ các chủ vựa cho nên thu nhập bấp bênh. 2.4.2.3 Vựa thu mua  Cơ sở vật chất chưa đáp ứng được nhu cầu:  Kho bãi dự trữ: 21 Các cơ sở chế biến và các vựa thu mua do hạn chế về vốn và kho tàng bảo quản nên họ chỉ thu mua._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfBai hoan chinh.pdf
  • pdfTom tat.pdf
  • docNCKHSV A3 - De tai chi xo dua.doc
Tài liệu liên quan