Nghệ thuật miêu tả xung đột tư tưởng giữa hai kiểu nhân vật phụ nữ quý tộc tài hoa trong tiểu thuyết hồng lâu mộng

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA SƯ PHẠM NGUYỄN HOÀN ANH LỚP DH5C2 KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGÀNH NGỮ VĂN NGHỆ THUẬT MIÊU TẢ XUNG ĐỘT TƯ TƯỞNG GIỮA HAI KIỂU NHÂN VẬT PHỤ NỮ QUÝ TỘC TÀI HOA TRONG TIỂU THUYẾT HỒNG LÂU MỘNG Giảng viên hướng dẫn Ths. PHÙNG HOÀI NGỌC AN GIANG, THÁNG 04 NĂM 2008 LỜI CẢM ƠN Xin chân thành cảm ơn thầy Phùng Hoài Ngọc đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện khoá luận này. Xin cảm ơn tất cả quý thầy cô đã giảng

pdf84 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 12/11/2013 | Lượt xem: 1268 | Lượt tải: 2download
Tóm tắt tài liệu Nghệ thuật miêu tả xung đột tư tưởng giữa hai kiểu nhân vật phụ nữ quý tộc tài hoa trong tiểu thuyết hồng lâu mộng, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
dạy tôi trong suốt khoá trình. Cảm ơn bạn bè thân hữu đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên của mình. Long Xuyên, ngày 29 tháng 04 năm 2008 Nguyễn Hoàn Anh. MỤC LỤC Phần mở đầu ….….….….….….….….….….….….…………...….….…….…..….trang 1 Phần nội dung.….….….….….….….….….… .….….….….….…………….……trang 9 Chương I. Cơ sở lý luận….….….….….….…….….….….………....….……..….. trang 9 Chương II. Vài nét về tác giả, tác phẩm….….….….….………....……………..trang 12 1 Các tác giả.....................................................................................................trang 12 2 Tác phẩm......................... ......................... ......................... .........................trang 14 Chương III. Nghệ thuật miêu tả xung đột giữa hai kiểu nhân vật phụ nữ quý tộc tài hoa trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng……………………. ...................................trang 25 1. Những tiền đề nảy sinh xung đột tư tưởng giữa hai kiểu nhân vật phụ nữ quý tộc tài hoa trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng........................................................................trang 25 1.2 Hiện thực xã hội phong phú, phức tạp thời Mãn Thanh………………...trang 25 1.2 Sự phát triển của tư tưởng dân chủ tự do………………………………..trang 26 2. Nghệ thuật miêu tả xung đột tư tưởng giữa hai kiểu nhân vật phụ nữ quý tộc tài hoa trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng………………………………………….trang 27 2.1 Xây dựng hệ thống yếu tố làm nổi bật xung đột tư tưởng giữa hai kiểu nhân vật phụ nữ quý tộc tài hoa………………………………………………….......trang 27 2.1.1 Yếu tố tương đồng…………………………………………..trang 27 2.1.2 Yếu tố tương phản…………………………………………..trang 32 2.2 Độc thoại nội tâm, đối thoại bộc lộ xung đột tư tưởng giữa hai kiểu nhân vật phụ nữ tài hoa……………………………………………………….………….trang 46 2.3 Mượn lời nhận xét của nhân vật khác để miêu tả xung đột tư tưởng giữa hai kiểu nhân vật phụ nữ quý tộc tài hoa…………………………………….…….trang 49 2.4 Những bài thơ bộc lộ xung đột tư tưởng giữa hai kiểu nhân vật phụ nữ quý tộc tài hoa trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng………………………………….…...trang 53 3. Kết quả, ý nghĩa của những xung đột tư tưởng giữa hai kiểu nhân vật phụ nữ quý tộc tài hoa trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng.......…………………………….…….trang 58 Kết luận…………………………………………………………………….……...trang 61 Phụ lục Phác thảo chân dung các nhân vật nữ chính trong Hồng lâu mộng………….…….trang 63 Tài liệu tham khảo...................................................................................................trang 79 GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 1 PHẦN MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Người Trung Hoa có câu rằng “Khai đàm bất thuyết Hồng lâu mộng, độc tận thi thư diệc uổng nhiên !” (mở miệng mà không nói chuyện Hồng lâu mộng thì đọc hết cả sách vở cũng vô ích). Ở Trung Quốc, có một chuyên ngành nghiên cứu Hồng lâu mộng - gọi là Hồng học, có lẽ trên thế giới chỉ có Shakespeare và Sholokhov là có vinh dự lớn lao như thế vì có Shakespeare học và Sholokhov học.. Điều đó cho thấy ảnh hưởng xã hội rộng lớn của Hồng lâu mộng. Và ảnh hưởng của Hồng lâu mộng không chỉ dừng lại trong biên giới Trung Hoa, tính đến nay trên thế giới đã có ít nhất 16 thứ ngôn ngữ khác nhau như Anh, Pháp, Nga, Đức, Nhật, Italia, Hungari, Hà Lan, Rumani, Triều Tiên, Việt Nam…dịch toàn văn hoặc trích dịch Hồng lâu mộng. Bách khoa toàn thư Pháp đánh giá Hồng lâu mộng là một tấm gương của xã hội Trung Quốc thế kỉ XVIII, là một cột mốc lớn trên văn đàn thế giới” ( Tào Tuyết Cần. 1996. Tr.17). Ở Việt Nam hiện nay, Hồng lâu mộng được giảng dạy và nghiên cứu trong các trường Đại học, Cao đẳng như một nội dung quan trọng của bộ môn văn học Trung Quốc. Tác giả chính của Hồng lâu mộng, Tào Tuyết Cần, giống như phần lớn các nhà văn lớn Trung Hoa trong lịch sử, viết văn là để giải toả nỗi niềm cô phẫn, là để ký thác những suy tư về con người và thời đại. Vì thế có thể xem Hồng lâu mộng là sự thể hiện tư tưởng thời đại: tinh thần dân chủ, tinh thần phê phán đời sống xã hội phong kiến mục nát, phê phán những giáo điều truyền thống đã ăn sâu bén rễ hàng ngàn năm, đòi tự do yêu đương, đòi giải phóng cá tính, đòi tự do bình đẳng, khát khao một cuộc sống lý tưởng… Trong Hồng lâu mộng, những khát vọng sâu xa của con người thời đại và sự biểu hiện nó ra một cách nghệ thuật đã có một cuộc hẹn hò tuyệt diệu. Nhận xét về nghệ thuật văn chương Hồng Lâu Mộng, Hồng Thu Phiên trong Hồng lâu mộng quyết vi đã viết “Hồng lâu mộng lập ý mới, bố cục khéo, từ ngữ đẹp, đầu mối rõ, khởi kết kì, đan cài diệu, miêu tả thật, sắp xếp tài, kể việc thực, nói tình thiết, đặt tên sát, dùng bút kín, cái tài tình không kể xiết…” ( Tào Tuyết Cần. 1996. Tr.12). Còn Thôi Đạo Di thì lại nhận xét “đối với tôi không có một tác phẩm văn học nào có thể so tài với Hồng lâu mộng về cách sáng tạo câu chuyện và nhân vật chân thật, sống động, bền bỉ... Có thể nói, đọc Hồng lâu mộng không chỉ khiến chúng ta hiểu lịch sử mà còn giúp chúng ta hiểu hiện thực cuộc sống”. (Phan Thanh Anh. 2006. Tr.131). Một trong những yếu tố góp phần làm nên thành công của Hồng lâu mộng là nghệ thuật xây dựng nhân vật. Mỗi nhân vật trong tác phẩm đều có tính cách riêng không ai giống ai. Có thể nói Hồng lâu mộng đã miêu tả hàng trăm trạng thái tâm lý của con người, không chỉ miêu tả sự suy tàn của xã hội phong kiến mà còn lột tả những tâm trạng buồn thương cho thân phận con người. Đáng chú ý ở đây là nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật phụ nữ. Chính tác giả đã tỏ bày trong hồi 1 của tác phẩm “Nay tôi sống cuộc đời gió bụi, không làm nên được trò trống gì. Chợt nghĩ đến những người con gái ngày trước cùng sống với tôi, so sánh kỹ lưỡng thấy sự hiểu biết và việc làm của họ đều hơn tôi. Tôi đường đường là bậc tu mi; lại chịu kém bạn quần thoa, thực đáng hổ thẹn! Bây giờ hối cũng vô ích, biết làm thế nào! Tôi nghĩ trước kia được ơn trời, nhờ tổ, mặc đẹp ăn ngon mà phụ công nuôi dạy GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 2 của mẹ cha, trái lời răn bảo của thầy bạn, đến nỗi ngày nay một nghề cũng không thành, nửa đời long đong, nên muốn đem những chuyện đó chép thành một bộ sách bày tỏ với mọi người. Tôi biết rằng tôi mang tội nhiều. Nhưng trong khuê các còn biết bao người tài giỏi, tôi không thể nhất thiết mượn cớ ngu dại muốn che giấu lỗi của mình, để cho họ bị mai một. Cho nên, đám cỏ lều tranh, giường tre bếp đất, cùng cảnh gió sớm trăng chiều, sân hoa thềm liễu, đều thúc giục thực hiện lòng mong ước dùng bút mực viết ra lời…”. Trong suốt chiều dài Hồng lâu mộng, ta luôn bắt gặp bóng dáng những người phụ nữ mà cuộc đời, số phận họ đã được dự báo, tóm tắt trong hồi thứ 5 của tác phẩm. Ẩn đằng sau hình tượng xinh đẹp ấy là sự xung đột tư tưởng giữa các nhân vật phụ nữ được miêu tả đậm nét và giàu ý nghĩa. Thế nhưng, những vấn đề ấy không phải bao giờ cũng được đánh giá xác đáng. Xuất phát từ niềm đam mê Hồng lâu mộng, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Nghệ thuật miêu tả xung đột tư tưởng giữa hai kiểu nhân vật phụ nữ quý tộc tài hoa trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng”, với mong muốn khám phá phần nào ý nghĩa và giá trị to lớn của tác phẩm để từ đó có một cái nhìn toàn diện hơn về thiên tiểu thuyết tuyệt diệu này. Cũng hy vọng rằng đề tài này sẽ tiếp thêm lửa trong trái tim của những ai đã từng yêu mến Hồng lâu mộng và thắp lên ngọn lửa yêu thích trong trái tim những ai chưa một lần đọc Hồng lâu mộng. Như con ong làm mật cho đời, chúng tôi mong công trình nhỏ bé này sẽ góp thêm một tiếng nói trên diễn đàn Hồng học đang tưng bừng rộn rã. 2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ Bộ tiểu thuyết Hồng lâu mộng được truyền bá không lâu thì đã thu hút được sự quan tâm của độc giả và các nhà nghiên cứu, phê bình. Đến đầu thế kỉ XX, một xu hướng, trào lưu nghiên cứu, phê bình Hồng lâu mộng ra đời, gọi là Hồng học. Và cho đến nay, việc nghiên cứu Hồng lâu mộng vẫn đang tiếp diễn sôi nổi ở Trung Quốc, lan rộng ra Việt Nam và nhiều nước khác trên thế giới. Chúng tôi xin điểm qua lịch sử nghiên cứu Hồng lâu mộng ở Trung Quốc và Việt Nam . 2.1 THÀNH TỰU NGHIÊN CỨU Ở TRUNG QUỐC Có thể nói ở Trung Quốc chưa có bộ tiểu thuyết nào lại được tranh luận và gây hứng thú cho các nhà nghiên cứu nhiều như Hồng lâu mộng. Chi Nghiễn Trai trùng bình Thạch đầu kí các bản Giáp Tuất (1754), Kỉ Mão (1759), Canh Thìn (1760) được viết ngay khi Tào Tuyết Cần còn sống; có thể xem đây là những tư liệu nghiên cứu Hồng lâu mộng sớm nhất. Ban đầu, do quan điểm duy tâm lệch lạc, Hồng học đã đi sai đường, biến thành những nghiên cứu gán ghép, gượng gạo. Các nhà Hồng học chia làm nhiều trường phái. Phái thứ nhất cho rằng: Hồng lâu mộng hoàn toàn vì Thanh Thái Tổ và Đổng Ngạc Phi mà sáng tác, đồng thời đề cập đến các danh vương kĩ nữ đương thời, tiêu biểu cho trường phái này là Vương Mộng Nguyễn và Thẩm Bình Am. Phái thứ hai lại cho rằng: Hồng lâu mộng là tiểu thuyết chính trị của triều Khang Hy nhà Thanh, tiêu biểu cho trường phái này là Thái Khiết Dân. Phái thứ ba thì khẳng định: những tình tiết trong Hồng lâu mộng đều là việc của Nạp Lan Thành Đức con trai của tể tướng Minh Châu thời Khang Hi, tiêu biểu cho trường phái này là Trương Tường Hà…Nhìn chung các trường phái đều cho rằng Hồng lâu mộng viết về những câu chuyện có thật thời Mãn Thanh. GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 3 Sau Ngũ Tứ, các học giả như Thái Nguyên Bồi, Ngô Thế Xương, Du Bình Bá, Lí Huyền Bà, Cố Hiệt Cương, Chu Nhữ Xương, Ngô Ẩn Dụ, Phan Trọng Quỳ đặc biệt là Hồ Thích với công trình Hồng lâu mộng giản luận năm 1921 đã khai sáng phái Tân Hồng học. Từ đây, Hồng học mới trở thành một ngành học thật sự, có phương pháp khoa học hẳn hoi, xuất phát từ việc khảo sát tác giả và tác phẩm văn học. Phái Tân Hồng học cho rằng Hồng lâu mộng là ghi chép việc thực của bản thân tác giả. Đến sau 1949, nổi dậy một phong trào đấu tranh tư tưởng mãnh liệt phê phán những quan điểm nghiên cứu trước kia. Năm 1954, bắt đầu một phong trào rộng lớn phê bình phương pháp nghiên cứu Hồng lâu mộng của Du Bình Bá. Mở đầu đợt tấn công này là hai sinh viên tốt nghiệp Đại học: Lý Hi Phàm và Lam Linh. Kể từ đây, việc nghiên cứu Hồng lâu mộng có bước chuyển biến đáng kể, nhiều phương pháp mới được áp dụng. Các bài viết dần dần đã đi đến chỗ thống nhất khẳng định giá trị tác phẩm về cả nội dung và nghệ thuật. Về mặt nội dung tiểu thuyết, các nhà phê bình, nghiên cứu khẳng định: Hồng lâu mộng là tác phẩm phản ánh hiện thực xuất sắc, phơi bày bức tranh xã hội phong kiến suy tàn với những mối quan hệ và mâu thuẫn hết sức phức tạp. Đồng thời, qua đó tác giả còn gửi gắm ước mơ, khát vọng tự do, khát vọng tình yêu… Đồng thời, các nhà phê bình, nghiên cứu cũng khẳng định thành công về nghệ thuật của Hồng lâu mộng ở các phương diện: xây dựng nhân vật, miêu tả tâm lý nhân vật, nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, nghệ thuật xây dựng hệ thống các chi tiết, nghệ thuật xây dựng kết cấu tác phẩm… Chúng tôi xin nêu vài nhận định tiêu biểu để chứng minh sự đánh giá cao của người tiếp nhận dành cho Hồng lâu mộng về phương diện xây dựng nhân vật. Lỗ Tấn đã nhận xét: “…Điểm khác biệt của Hồng lâu mộng với các cuốn tiểu thuyết trước đây là dám tả thật không che đậy. Bởi vậy, các nhân vật được miêu tả ở đây đều là những con người thật. Nói chung sau khi Hồng lâu mộng ra đời, cách viết và cách tư duy truyền thống đã hoàn toàn bị phá vỡ…” (Phan Thanh Anh. 2006. Tr.130) Còn tác giả quyển Lịch sử văn học Trung Quốc tập II thì khẳng định: “…Thành tựu to lớn của Hồng lâu mộng trước hết thể hiện ở tài xây dựng nhân vật, và xây dựng rất nhiều nhân vật cùng một lúc…. Những nhân vật đó sống động, có máu thịt, có cá tính rõ nét. Có một số nhân vật nhà văn chỉ phác họa sơ qua vài nét nhưng cũng để lại ấn tượng sâu sắc cho người đọc. Đáng chú ý là, trong Hồng lâu mộng, Tào Tuyết Cần miêu tả nhiều nhất là phụ nữ, mà chủ yếu lại là những thiếu nữ giống nhau hoặc na ná như nhau về độ tuổi, hoàn cảnh sống, cách sống. Rõ ràng điều đó làm cho việc miêu tả gặp rất nhiều khó khăn. Nhưng Tào Tuyết Cần không những có thể miêu tả được hết sức rõ ràng cá tính của từng người, mà đến cả những tính cách gần giống nhau chỉ khác ở những nét đặc trưng hết sức tinh tế, cũng được ông khắc hoạ rõ ràng tỉ mỉ…” ( Nhiều tác giả. 1997. Tr.676) Ngày nay, ở Trung Quốc có Sở nghiên cứu Hồng lâu mộng. Chuyên đăng tải các thông tin nghiên cứu Hồng học thì có 2 tạp chí lớn là Hồng lâu mộng GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 4 học san ra hàng quý do ba nhà Hồng học nổi tiếng là Vương Triều Văn, Phùng Kì Dung, Lí Hi Phàm chủ biên và Hồng lâu mộng nghiên cứu tập san do Sở Nghiên cứu Văn học thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc chủ trì. Phân hội Giang Tô đã xuất bản Bộ tư liệu tham khảo nghiên cứu Hồng lâu mộng, tháng 12 năm 1982 công bố kết quả 10 năm gian khổ hiệu đính, chỉnh lí văn bản Hồng lâu mộng của ông Phan Trọng Quỳ, đến năm 1983 lại công bố hồ sơ mới phát hiện về gia thế Tào Tuyết Cần. Sau đó, Du Bình Bá đã tập hợp các bản Chi Nghiễn Trai trùng bình Thạch đầu kí gồm hơn 2000 lời bình điểm thành tập tư liệu để nghiên cứu Hồng lâu mộng. Gần đây, dư luận Trung Quốc lại xôn xao về thông tin trên báo chí và mạng Internet cho rằng Hồng Thăng hoặc Ngô Mai Thôn mới chính là tác giả Hồng lâu mộng. Các cuộc nghiên cứu về Hồng lâu mộng vẫn đang diễn ra nghiêm túc và sôi nổi, kể cả giới điện ảnh Trung Quốc cũng đang tập trung làm hai bộ phim Hồng lâu mộng bản mới. Từ Trung Quốc, Hồng học đã vươn xa ra phạm vi quốc tế. 2.2 THÀNH TỰU NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM Các nhà nghiên cứu ở Việt Nam cũng khá tâm đắc bộ tiểu thuyết Hồng lâu mộng. Nhìn chung, những nghiên cứu về Hồng lâu mộng ở Việt Nam có nhiều điểm tương đồng về nội dung cũng như phương pháp với những nghiên cứu của Trung Quốc. Nghĩa là các nhà nghiên cứu chủ yếu đi vào tìm hiểu, khẳng định những đặc sắc về nội dung, nghệ thuật của tác phẩm. Những thành công về mặt kết cấu, miêu tả tâm lý nhân vật, ngôn ngữ, sắp xếp chi tiết…đều được nêu lên. Việc tổng hợp những bài nghiên cứu Hồng lâu mộng ở Việt Nam đòi hỏi rất nhiều thời gian và công sức. Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ xin nêu một vài nghiên cứu tiêu biểu để khẳng định giá trị tác phẩm. Tạp chí văn học số 3 năm 1962 với bài “Giá trị bộ tiểu thuyết Hồng lâu mộng” của Nguyễn Đức Vân đã đánh giá cao giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Hồng lâu mộng. Lời giới thiệu Hồng lâu mộng của Phan Văn Các trong bộ tiểu thuyết Hồng lâu mộng do NXB Văn học xuất bản năm 1996 đã trình bày một số vấn đề về tác giả Tào Tuyết Cần và Cao Ngạc cùng với quá trình sáng tác Hồng lâu mộng, văn bản và lịch sử lưu truyền, sự ra đời và phát triển của Hồng học, khái quát nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Cuốn Bài giảng văn học Trung Quốc của Lương Duy Thứ với bài Hồng lâu mộng khái quát nội dung và nghệ thuật Hồng lâu mộng, bài viết này khẳng định Hồng lâu mộng là đỉnh cao của tiểu thuyết hiện thực. Cuốn Tác gia tác phẩm văn học nước ngoài trong nhà trường Tào Tuyết Cần của Nguyễn Thị Diệu Linh do NXB Đại học sư phạm Hà Nội xuất bản năm 2006, bao gồm các nội dung: phần giới thiệu về tác giả Tào Tuyết Cần và quá trình sáng tác Hồng lâu mộng; 2 bài nghiên cứu của Trần Lê Bảo về Hồng lâu mộng và Chu Dịch và Nghệ thuật xây dựng nhân vật chính diện trong Hồng lâu mộng; 2 bài nghiên cứu của Nguyễn Thị Diệu Linh về Một quan niệm nghệ thuật về con người trong Hồng lâu mộng và Thực hư với kết cấu không gian và thời gian của Hồng lâu mộng. Đáng chú ý là phần phụ lục với bài viết Tầm quan GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 5 trọng của hồi thứ 5 đối với kết cấu tác phẩm Hồng lâu mộng, đây là một vấn đề trước đây ít được quan tâm. Nhìn chung, trong các nghiên cứu ở Trung Quốc và Việt Nam, chúng tôi chưa đọc được công trình khai thác nghệ thuật miêu tả xung đột tư tưởng giữa hai kiểu nhân vật phụ nữ tài hoa trong Hồng lâu mộng. Mặt khác các dịch giả Hồng lâu mộng ở Việt Nam chưa chú trọng lắm đến việc dịch nghĩa các bài thơ trong Hồng lâu mộng để độc giả Việt Nam dễ dàng tiếp nhận. Chúng tôi sẽ kế thừa, tiếp thu có chọn lọc các thành tựu nghiên cứu của những người đi trước bằng tinh thần khoa học, thái độ cầu thị và nghiêm túc để đi sâu vào tìm hiểu, nghiên cứu đề tài “Nghệ thuật miêu tả xung đột tư tưởng giữa hai kiểu nhân vật phụ nữ tài hoa trong Hồng lâu mộng”. 3. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI Qua đề này, chúng tôi mong muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình để người đọc có thể tiếp nhận tác phẩm Hồng lâu mộng một cách toàn diện và sâu sắc hơn nhằm góp phần vào việc nghiên cứu, dạy và học văn học Trung Quốc trong nhà trường. Hiện nay, độc giả Việt Nam được tiếp xúc với nhiều bản dịch Hồng lâu mộng rất hay, và được đánh giá cao nhất là bản dịch của nhóm Vũ Bội Hoàng. Thế nhưng ở các bản dịch này, người đọc chỉ được tiếp xúc với những bài thơ đã được dịch thoát nghĩa mà không được tiếp cận với phần nguyên tác chữ Hán, phần phiên âm Hán Việt và phần dịch nghĩa; do đó phần nào bị hạn chế trong cách hiểu và cảm nhận. Trong khoá luận này, chúng tôi đã cố gắng trình bày nguyên tác chữ Hán, phiên âm Hán Việt và dịch nghĩa các bài thơ dự báo số phận các nhân vật phụ nữ trong hồi thứ 5 của tác phẩm đặt bên cạnh bản dịch thơ của nhóm Vũ Bội Hoàng; hy vọng sẽ góp phần nào đó giúp người đọc cảm nhận được cả tình và ý mà tác giả đã gửi gắm vào đó. Bên cạnh đó, tuy có nhiều bài nghiên cứu về Hồng lâu mộng nhưng chưa thấy có công trình nào đi sâu nghiên cứu nghệ thuật miêu tả xung đột tư tưởng giữa hai kiểu nhân vật phụ nữ tài hoa một cách đầy đủ cả. Vì thế, ở phạm vi nhất định, chúng tôi hy vọng sẽ đem đến một cách nhìn khái quát cho người đọc và góp phần vào kho tàng nghiên cứu Hồng lâu mộng đang rất phong phú và đa dạng ngày nay. GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 6 4. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Nghiên cứu đề tài “Nghệ thuật miêu tả xung đột tư tưởng giữa hai kiểu nhân vật phụ nữ tài hoa trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng” chúng tôi hướng tới những mục tiêu chủ yếu sau: - Nghiên cứu nghệ thuật miêu tả xung đột tư tưởng giữa hai kiểu nhân vật phụ nữ tài hoa trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng. - Hiểu được ý đồ nghệ thuật của nhà văn khi xây dựng hình tượng người phụ nữ với những xung đột tư tưởng gay gắt. - Thấy được “cái tâm” và “cái tài” của tác giả trong quá trình lao động nghệ thuật chân chính. - Thiết thực phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập văn học Trung Quốc trong nhà trường. 5. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu là bộ tiểu thuyết Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần do nhóm Vũ Bội Hoàng dịch được nhà xuất bản Văn học xuất bản năm 1996, trong đó đi sâu vào nghệ thuật miêu tả xung đột tư tưởng giữa hai kiểu nhân vật phụ nữ tài hoa trong tác phẩm. Thế giới nhân vật trong Hồng lâu mộng rất đồ sộ, trong đó có đến 213 nhân vật phụ nữ, để khảo sát hết số lượng nhân vật này đòi hỏi rất nhiều thời gian và công sức. Vì thế, trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ xin đề cập đến những nhân vật phụ nữ được dự báo số phận ở hồi thứ 5 của tác phẩm và đi sâu vào nghệ thuật miêu tả xung đột tư tưởng giữa Lâm Đại Ngọc và Tiết Bảo Thoa -hai nhân vật phụ nữ quý tộc tài hoa đại diện cho tư tưởng tự do dân chủ và tư tưởng bảo thủ phong kiến. 6.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Trong quá trình tìm hiểu, triển khai đề tài nghiên cứu khoá luận, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp sau: 6.1 PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ, PHÂN LOẠI Chúng tôi tiến hành thống kê, phân loại những chi tiết thể hiện sự xung đột tư tưởng giữa các nhân vật phụ nữ để tìm ra ý đồ nghệ thuật của tác giả. 6.2 PHƯƠNG PHÁP LIỆT KÊ Chúng tôi tiến hành liệt kê các dẫn chứng cần thiết trong bản dịch và trong các tài liệu có liên quan đến đề tài để chứng minh cho các luận điểm đã nêu sao cho phù hợp với những đề mục của khoá luận. 6.3 PHƯƠNG PHÁP HỆ THỐNG Do thể loại tiểu thuyết có dung lượng lớn, các tình tiết tản mạn…nên việc tìm hiểu nghiên cứu đòi hỏi phải đảm bảo tính hệ thống. Phương pháp hệ thống giúp chúng tôi khi nghiên cứu tìm hiểu, bao quát tác phẩm một cách dễ dàng và trình bày khoá luận theo một cách khoa học hơn. GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 7 6.4 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH, TỔNG HỢP Chúng tôi tiến hành phân tích các dẫn chứng nhằm làm nổi bật các luận điểm cần triển khai. Sau đó thâu tóm, khái quát chúng lại thành những đúc kết mang tính kết luận vấn đề. 7. CẤU TRÚC KHOÁ LUẬN Khóa luận: Nghệ thuật miêu tả xung đột tư tưởng giữa hai kiểu nhân vật phụ nữ quý tộc tài hoa trong Hồng lâu mộng Phần mở đầu 1. Lý do chọn đề tài 2. Lịch sử vấn đề 3. Đóng góp của đề tài 4. Mục đích nghiên cứu 5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6. Phương pháp nghiên cứu 7. Cấu trúc khoá luận Phần nội dung Chương I. Cơ sở lý luận 1. Nhân vật trong tác phẩm văn học và xung đột tư tưởng của nhân vật trong tác phẩm văn học 2. Các biện pháp xây dựng nhân vật Chương II. Vài nét về tác giả, tác phẩm 1. Các tác giả 1.1 Tào Tuyết Cần 1.2 Cao Ngạc 2. Tác phẩm Chương III. Nghệ thuật miêu tả xung đột giữa hai kiểu nhân vật phụ nữ quý tộc tài hoa trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng 1. Những tiền đề nảy sinh xung đột tư tưởng giữa hai kiểu nhân vật phụ nữ quý tộc tài hoa trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng 1.2 Hiện thực xã hội phong phú, phức tạp thời Mãn Thanh 1.2 Sự phát triển của tư tưởng dân chủ tự do 2. Nghệ thuật miêu tả xung đột tư tưởng giữa hai kiểu nhân vật phụ nữ quý tộc tài hoa trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng 2.1 Xây dựng hệ thống yếu tố làm nổi bật xung đột tư tưởng giữa hai kiểu nhân vật phụ nữ quý tộc tài hoa 2.1.1 Yếu tố tương đồng GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 8 2.1.2 Yếu tố tương phản 2.2 Độc thoại nội tâm, đối thoại bộc lộ xung đột tư tưởng giữa hai kiểu nhân vật phụ nữ tài hoa 2.3 Mượn lời nhận xét của nhân vật khác để miêu tả xung đột tư tưởng giữa hai kiểu nhân vật phụ nữ quý tộc tài hoa 2.4 Những bài thơ bộc lộ xung đột tư tưởng giữa hai kiểu nhân vật phụ nữ quý tộc tài hoa trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng 3. Kết quả của những xung đột tư tưởng giữa hai kiểu nhân vật phụ nữ quý tộc tài hoa trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng 4. Ý nghĩa của những xung đột tư tưởng giữa hai kiểu nhân vật phụ nữ quý tộc tài hoa trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng Kết luận. Phụ lục Phác thảo chân dung các nhân vật nữ chính trong Hồng lâu mộng (Dịch nghĩa các bài thơ trong Hồi 5) Tài liệu tham khảo. GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 9 PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC Nhân vật trong tác phẩm văn học là những con người hay những sự vật mang cốt cách con người được xây dựng bằng các phương tiện của nghệ thuật ngôn từ. Nhân vật trong tác phẩm văn học có những đặc điểm khác với nhân vật của các loại hình nghệ thuật khác. Trước hết là do hình tượng văn học là hình tượng phi vật thể cho nên nhân vật trong tác phẩm văn học là nhân vật của liên tưởng, tưởng tượng chứ không phải hữu hình như trong điêu khắc, hội hoạ hay điện ảnh, sân khấu. Qua ngôn từ, người đọc tưởng tượng và hình dung nhân vật theo khả năng liên tưởng của mình. Khả năng và đặc điểm liên tưởng của mỗi người không giống nhau nên nhân vật trong tác phẩm văn học được cảm nhận cũng không giống nhau hoàn toàn. Mặt khác, do hình tượng nhân vật trong tác phẩm văn học là hình tượng thời gian cho nên nhân vật trong tác phẩm văn học là nhân vật quá trình. Do đó, muốn tiếp nhận người đọc phải hồi cố, nhớ lại những gì xảy ra cho nhân vật trước đó. Ý nghĩa của nhân vật thể hiện ở khả năng biểu đạt của nó trong tác phẩm. Sáng tạo ra nhân vật, nhà văn nhằm thể hiện những cá nhân xã hội nhất định và các quan niệm về các nhân vật đó trong mối quan hệ xã hội. Mỗi nhân vật xuất hiện sẽ mang theo tiếng nói của nhà văn về con người, cuộc đời. Qua mỗi nhân vật, ta không chỉ hiểu một số phận, một cuộc đời mà còn hiểu ý nghĩa cuộc đời đằng sau số phận đó. Cho nên, không thể đánh giá, nhận xét nhân vật như những con người bằng xương bằng thịt ngoài đời mà phải đánh giá khái quát nghệ thuật mà nó thể hiện. Tức là phải xem xét nhân vật trong tác phẩm văn học ở góc độ thẩm mỹ chứ không phải như một hiện tượng xã hội học. Sức sống của nhân vật ngoài tính sinh động của sự miêu tả còn chính là ý nghĩa điển hình mà nó khái quát. Cho nên, những nhân vật xây dựng thành công và có sức sống lâu bền đều là những nhân vật có giá trị điển hình sâu sắc. Hay nói khác hơn, đó là những nhân vật không chịu nằm yên trên trang sách mà đã bước ra giữa cuộc đời, đó là những nhân vật đã làm cho tên tuổi nhà văn trở thành bất tử. Nhân vật văn học còn được thể hiện qua những mâu thuẫn, xung đột, sự kiện. Đặt nhân vật vào mâu thuẫn, xung đột hay sự kiện nào đó là cơ sở để bộc lộ phần sâu kín nhất của bản chất nhân vật. Trong cuộc đời có bao nhiêu biến cố, xung đột thì trong văn chương cũng có bấy nhiêu biến cố, xung đột. Và mỗi một biến cố, mỗi một xung đột lại làm lộ ra từng phần tính cách của con người. GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 10 Xung đột là biểu hiện cao nhất sự phát triển mâu thuẫn giữa các lực lượng, các tính cách trong một tác phẩm. Thông thường người ta hay đề cập đến xung đột trong tác phẩm kịch, thế nhưng trong tiểu thuyết chính những xung đột cũng sẽ làm nên kịch tính của tác phẩm. Có thể nói xung đột là một yếu tố thiết yếu của một tác phẩm văn học nói chung cũng như tiểu thuyết nói riêng. Nhờ có xung đột câu chuyện mới phát triển, tính cách nhân vật mới được bộc lộ. Và qua sự lựa chọn, giải quyết những xung đột trong tác phẩm sẽ thấy được tư tưởng nghệ thuật mà tác giả đã gửi gắm. Xung đột bao giờ cũng mang ý nghĩa xã hội và ý nghĩa thời đại. Trong tác phẩm văn học, xung đột có thể là những xung đột của cá nhân nhân vật, nhưng bản thân xung đột ấy đã mang một ý nghĩa xã hội sâu sắc. Ví dụ như trong tác phẩm Othello của Shakespear, Othello và Desdemona trước hết mang trong mình những xung đột có tính cá nhân, cá thể. Nhưng những xung đột bi kịch ấy đã vượt khỏi phạm vi cá nhân vì nó đã tố cáo chủ nghĩa cá nhân tư sản đang chà đạp những ước mơ, lý tưởng của con người. Xung đột ở mỗi thời đại khác nhau thì khác nhau. Ví dụ ở thời Hy Lạp cổ đại là xung đột giữa con người với thiên nhiên, con người với số mệnh, ngay cả vị thần tối cao như Dớt cũng bị số mệnh đe dọa; trong thời Phục Hưng là xung đột giữa chủ nghĩa nhân văn và chủ nghĩa cá nhân tư sản, các thế lực phong kiến, đồng tiền, tôn giáo; các xung đột hiện đại thường xoay quanh xung đột giữa cách mạng và phản cách mạng, giữa cái tốt và cái xấu, giữa cái thiện và cái ác. Xung đột có thể có nhiều phạm vi cấp độ khác nhau: xung đột nội tâm, xung đột tư tưởng, xung đột giữa các tính cách và hoàn cảnh, xung đột giữa các lực lượng xã hội, … Một tác phẩm văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng nếu không có xung đột thì sẽ trở nên rất nhạt nhẽo. Nhân vật trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng tất nhiên cũng mang những đặc điểm như thế. Vì vậy, việc tìm hiểu nghệ thuật miêu tả xung đột tư tưởng giữa hai kiểu nhân vật phụ nữ quý tộc tài hoa là một thao tác cắt ngang hệ thống nhân vật phụ nữ tài hoa trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng để thấy được nghệ thuật miêu tả tinh vi cũng như ý nghĩa xã hội rộng lớn mà tác giả đã gửi gắm vào đó. Công việc này phải được xem xét từ góc độ thẩm mỹ và được đúc kết từ những chi tiết, những lớp độc thoại nội tâm, đối thoại…biểu hiện xung đột tư tưởng giữa hai kiểu nhân vật phụ nữ quý tộc tài hoa rồi từ đó khái quát lên thành ý nghĩa, tư tưởng của tác giả trong tác phẩm. GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 11 2. CÁC BIỆN PHÁP XÂY DỰNG NHÂN VẬT Mỗi nhà văn có một đường hướng, cách thức riêng khi miêu tả nhân vật. Mỗi phương pháp nghệ thuật, mỗi giai đoạn lịch sử cũng có những cách thức miêu tả nhân vật không giống nhau. Đối với mỗi loại hình nhân vật cũng có những biện pháp miêu tả phù hợp. Do đó ở đây chỉ xin nêu biện pháp xây dựng nhân vật chung nhất mà nhà văn có thể sử dụng. Nhân vật trước hết được miêu tả bằng những chi tiết nghệ thuật. Các chi tiết nghệ thuật thể hiện các phương diện khác nhau của nhân vật từ chân dung ngoại hình cho đến nội tâm, từ hành động cho tới ngôn ngữ. Qua các chi tiết nhân vật dần dần hiện lên và dần dần bộc lộ ra các nét khác nhau của tính cách. Để miêu tả ngoại hình, các chi tiết dừng lại ở việc miêu tả quần áo, mặt, mũi, chân, tay, ánh mắt, nụ cười…Mỗi nét ngoại hình này không chỉ gợi lên sự hình dung về dáng vẻ nhân vật thế nào mà còn gợi lên cả tâm tính bên trong nhân vật. Để miêu tả nội tâm, các chi tiết thường dừng lại ở những suy tư, dằn vặt những cảm xúc, xúc động của nhân vật. Có lẽ hơn đâu hết, văn học có khả năng vô tận trong việc thể hiện thế giới nội tâm của con người. Cũng có khi nội tâm nhân vật được bộc lộ một cách gián tiếp qua miêu tả cảnh vật, đồ dùng, nhà cửa. Các chi tiết cũng góp phần khắc hoạ nhân vật qua miêu tả ngôn ngữ và hành động của nhân vật. Nhân vật văn học còn được thể hiện qua những mâu thuẫn, xung đột, sự kiện. Đặt nhân vật vào trong mâu thuẫn, xung đột hay sự kiện nào đó là cơ sở để bộc lộ phần sâu kín nhất của bản chất nhân vật. Ngoài ra, nhân vật còn có thể được miêu tả qua cái nhìn của nhân vật khác, của những con người xung quanh, qua hoàn cảnh sống…Nhân vật cũng có thể được thể hiện bằng các phương tiện khác của văn học như qua lời văn, kết cấu, loại thể. Những phương tiện này càng làm phong phú thêm các phương thức khắc hoạ nhân vật. Như đã nói ở trên, xung đột sẽ góp phần thể hiện nhân vật. Do đó, các biện pháp xây dựng nhân vật vừa nêu trên cũng có thể được vận dụng để miêu tả xung đột hay xung đột tư tưởng của nhân vật trong tác phẩm._. văn học. GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 12 CHƯƠNG II VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM 1 TÁC GIẢ 1.1 TÀO TUYẾT CẦN Tào Tuyết Cần tên thật là Tào Triêm (chữ Triêm  có bộ “vũ” trên đầu, nghĩa là đầm đìa). Ngoài ra còn có ba lối xưng hô: Mộng Nguyễn (mơ Nguyễn), Cần Phố (vườn rau cần) và Cần Khê (suối rau cần) trong đó cái nào là tự, cái nào là hiệu, ý kiến các học giả còn chưa thống nhất. Tư liệu về Tào Tuyết Cần rất thiếu thốn. Năm sinh và năm mất của ông vẫn còn là một câu hỏi đối với các nhà nghiên cứu, có ý kiến cho rằng ông sinh trong khoảng năm 1715 đến năm 1724 và mất trong khoảng năm 1762 đến năm 1763, ngoài 40 nhưng chưa đến 50 tuổi. Tổ tiên xa xưa của ông là người Hán, sau đó vì nhiều lý do đã nhập tịch Mãn Châu. Do vậy, trong tiểu sử của ông có ý kiến nói ông là người Hán, lại có ý kiến nói ông là người Mãn Châu. Phụ thân của ông là Tào Ngung hay Tào Thiếu cũng vẫn còn là một câu hỏi treo lơ lửng. Câu đố về thân thế Tào Tuyết Cần càng tăng thêm màu sắc bí ẩn cho Hồng lâu mộng thậm chí đã gây ra mối hoài nghi của một số người về bản quyền tác giả. Tuy nhiên có điều chắc chắn rằng từ đầu đời Thanh cho đến thế hệ Tào Tuyết Cần, nhà họ Tào là một “bách niên vọng tộc”. Cụ cố 5 đời của Tào Tuyết Cần là Tào Chân Ngạn được bổ làm tri châu Cát Châu, phủ Bình Dương (Sơn Tây), đến thời cụ nội Tào Tuyết Cần là Tào Tỉ, nhà họ Tào đã có mối quan hệ khá mật thiết với nhà vua đương triều là Khang Hi. Tào Tỉ đảm nhận chức Giang Ninh chức tạo giám đốc suốt 22 năm, vợ Tào Tỉ là vú nuôi của vua Khang Hi. Sau Tào Tỉ, đến Tào Dần là ông nội của Tuyết Cần và bố đẻ hay chú bác Tuyết Cần đều lần lượt sung chức ấy, trước sau đến 65 năm. Ngoài ra, dòng họ Tào rất giàu truyền thống văn học, Tào Dần đã đứng ra lo việc hiệu đính và in ấn bộ Toàn Đường thi. Đời Tào Dần là thời kì cực thịnh của họ Tào. Vợ Tào Dần là con gái Lí Sĩ Trinh tuần phủ Giang Nam; hai con gái Tào Dần đều là Vương phi. Tào Dần đã có vinh hạnh 4 lần được tiếp giá khi nhà vua Khang Hi đi tuần du phương Nam chọn hành cung là Tào phủ. Như vậy, đủ biết nhà vua đã tin tưởng và sủng ái họ Tào như thế nào. Và căn cứ vào những chi tiết Nguyên Phi về thăm nhà họ Giả trong Hồng lâu mộng cũng có thể hình dung được cảnh tượng tiếp giá vua phải long trọng và xa hoa đến mức nào. Nhưng vinh quang mà họ Tào có được cũng là mầm mống gây hoạ cho gia tộc lớn này. Đúng như lời Dì Triệu trong Hồng lâu mộng đã nói “Chẳng qua lấy tiền bạc của nhà vua đem đập vào bản thân nhà vua đấy thôi…”. Quả thật tiền bạc đổ vào nghênh đón nhà vua cũng chính là tiền bạc của nhà vua nghĩa là họ Tào “tham ô” của công mà có được. Mặt khác, chính mối quan hệ mật thiết với Khang Hi đã khiến các nhà vua kế nhiệm tìm cách diệt trừ họ Tào. Cho nên, khi Ung Chính lên ngôi, nội bộ hoàng thất khuynh loát nhau dữ dội thì đến năm Ung Chính thứ 5 (1729). Tào Thiếu bị tội mất chức, gia sản bị tịch thu, năm sau cả gia đình từ Giang Nam dọn về Bắc Kinh. Nhà họ Tào từ đó sa sút. GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 13 Công tử Tào Tuyết Cần chào đời vào khoảng những năm 1715-1724, nghĩa là còn quá nhỏ để có thể tận hưởng vinh hoa phú quý. Đến khi trưởng thành, Tuyết Cần đã nhận ra sự suy vong của dòng họ. Vinh hoa, phú quý, tiền bạc, danh vọng trôi qua đời ông như một giấc mộng ngắn ngủi nhưng oái oăm thay vẫn đủ sức ám ảnh tâm hồn nhạy cảm của ông đến suốt cuộc đời. Lúc này, gia đình Tào Tuyết Cần sống nghèo khổ ở ngoại ô Bắc Kinh. Ông đã phải làm đủ nghề như dạy học, vẽ tranh để kiếm sống. Tương truyền Tào Tuyết Cần còn là một hoạ sĩ rất tài hoa. Tào Tuyết Cần từng kết bạn với hai anh em Đôn Mẫn và Đôn Thành, coi họ như những người bạn tri âm tri kỉ. Tuyết Cần đã uống rượu, ngâm thơ với anh em Đôn Mẫn và Đôn Thành. Đáng tiếc thơ của Tuyết Cần đều thất lạc hết. Song, qua các bài thơ anh em họ Đôn để lại ta có thể hình dung một Tào Tuyết Cần với tâm trạng “tài cao, phận thấp”, cuộc đời chìm nổi nhưng phóng khoáng. Những năm tháng “chạy ăn từng bữa” cay đắng ấy đã sản sinh ra một tài năng văn học lớn cho cuộc đời. Tào Tuyết Cần viết Hồng lâu mộng khi cả nhà đã phải sống cảnh rau cháo qua ngày. Quá trình sáng tác Hồng lâu mộng ra sao khó lòng mà biết được. Chỉ thấy trong hồi thứ nhất của tác phẩm viết “phi duyệt thập tải, tăng san ngũ thứ” (viết trong vòng 10 năm và 5 lần thêm bớt sửa chữa), “tự tự khán lai giai thị huyết, thập niên tân khổ bất tầm thường” (mỗi chữ xem ra đều là máu, mười năm cay đắng chẳng tầm thường). Ông đã dâng tất cả tâm huyết cho đến sinh mệnh của mình cho bộ tiểu thuyết này. Chỉ tiếc rằng mới viết được 80 hồi Thạch đầu kí thì Tào Tuyết Cần đã qua đời trong bệnh tật nghèo túng chẳng bao lâu sau cái chết của đứa con trai độc nhất. Tào Tuyết Cần chết, không còn con cái, chỉ duy nhất một người vợ nghèo goá bụa, tiền nong cũng chẳng có, vài ba người bạn thương tình, tống táng qua quýt. Đó là kết cục bi thảm của một tiểu thuyết gia thiên tài vào bậc nhất của nhân loại. 1.2 CAO NGẠC Bản thảo dở dang Tào Tuyết Cần để lại chỉ 80 hồi đặt tên là Thạch đầu kí. Người viết tiếp 40 hồi sau là Cao Ngạc, tự Lan Thự (Lan Sử), biệt hiệu Hồng lâu mộng sử, đỗ cử nhân năm Mậu Thân Càn Long 53 (1788), làm quan Nội các Trung thư rồi Thị Độc, Giang Nam ngự sử hình khoa cấp sự trung. Cao Ngạc là tác giả của các sách Lại trị tập yếu, Lan thự văn tồn, Lan thự thập nghệ. Đều là người Hán nhập tịch Mãn Châu, đều xuất thân từ gia đình quý tộc nhưng Tào Tuyết Cần sống nghèo túng cô độc và bất đắc chí còn Cao Ngạc thì đỗ đạt làm quan với con đường công danh rộng mở. Hai hoàn cảnh khác nhau đã làm cho hai phần của tác phẩm Hồng lâu mộng tuy về cơ bản không có dấu vết chắp vá nhưng khuynh hướng tư tưởng vẫn khác nhau. Cao Ngạc đã để cho nhân vật Giả Bảo Ngọc cưới vợ, sắp sinh con nối dõi tông đường, đi thi, đỗ đạt rồi mới bỏ đi tu biệt tích, tương lai họ Giả vẫn còn nhen nhóm hy vọng ở Giả Lan và đứa bé trong bụng Bảo Thoa. Trong khi ở bản dự thảo Tào Tuyết Cần lại để Giả Bảo Ngọc bỏ đi ngay sau khi Lâm Đại Ngọc chết, tức là sau đám cưới. Cao Ngạc còn để gia đình họ Giả được minh oan, được phục chức nhằm cố gắng tô điểm cho bức tranh phủ Ninh và phủ Vinh lúc xế chiều thêm màu tươi sáng. Đó là chủ ý của Cao Ngạc muốn đẩy lùi kết thúc bi kịch đang ám ảnh những đứa con trung thành của chế độ phong kiến. GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 14 2. VÀI NÉT VỀ TÁC PHẨM 2.1 VĂN BẢN VÀ LỊCH SỬ LƯU TRUYỀN Thạch đầu kí 80 hồi đầu chỉ có số ít bạn bè thân thiết của tác giả chuyền tay nhau đọc dưới dạng bản thảo viết tay. Năm Càn Long thứ 56 (1791), Trình Vĩ Nguyên và Cao Ngạc lần đầu tiên cho in bằng chữ rời để xuất bản, tên sách đổi thành Hồng lâu mộng tăng lên đến 120 hồi (gọi là bản Trình A), năm sau sửa chữa và in lại (gọi là bản Trình B). Mãi về sau người ta mới khảo chứng ra rằng 40 hồi sau là do Cao Ngạc viết nối. Hồng lâu mộng in ra, giá bán lên đến vài chục lạng bạc nhưng thiên hạ tranh nhau mua. Người ta thích thú vừa đọc vừa khen hay, ca ngợi là tác phẩm hay nhất không có gì hay hơn trong làng tiểu thuyết, là vì người ta đã chán ngấy Kinh học gượng gạo thời Càn Long- Gia Khánh. Mặt khác, do sự hấp dẫn của cấu tứ nghệ thuật tự nhiên, thoải mái, hình tượng nhân vật đầy đặn, tư duy thâm trầm bén nhạy, cảm thụ chân thật tế nhị và ngôn ngữ văn học đẹp đẽ của Hồng lâu mộng nên người ta ngang nhiên chế giễu Kinh học, khẳng định Hồng lâu mộng mới là văn học thật sự. Hồng lâu mộng được yêu thích như vậy nên có ngót 40 bộ sách viết tiếp như Hậu Hồng lâu mộng, Hồng lâu mộng bổ, Hồng lâu viên mộng…và có đến hơn 20 bộ phỏng tác như Kính hoa duyên, Thuỷ Thạch duyên… Đương nhiên Hồng lâu mộng cũng vấp phải sự phỉ báng và chống đối của các thế lực bảo thủ nhân danh bảo vệ đạo đức xã hội phong kiến. Hoặc vu khống Hồng lâu mộng là sách hối dâm, hoặc nguyền rủa Tào Tuyết Cần và hậu duệ của ông chịu quả báo. Mấy triều vua từng ra lệnh cấm và huỷ Hồng lâu mộng. Không gì ngăn được ảnh hưởng xã hội rộng lớn của Hồng lâu mộng. Tác phẩm ấy vẫn sống mãnh liệt trong lòng xã hội Trung Hoa và đến năm Càn Long thứ 58 (1793) thì được truyền sang Nhật Bản và nhiều nước Đông Nam Á, cuối cùng vươn xa ra thế giới như ngày nay. 2.2 SỬ DỤNG HÌNH THỨC TRUYỀN KỲ, TƯ TƯỞNG ĐỊNH MỆNH DUY TÂM Truyền kỳ là tiền thân của thể loại tiểu thuyết, được viết nhiều vào đời Đường. Nội dung truyện truyền kì chuyên miêu tả chuyện lạ lùng, kì quái, nhằm phản ánh thế giới trần tục của con người, với những chuyện sinh hoạt, thuộc số phận con người bình thường trong sự biến động khôn lường của xã hội phong kiến. Nghệ thuật truyền kỳ kết hợp tài tình giữa hiện thực và hoang đuờng, lịch sử và kì ảo…Nhiều truyền kì có kết cấu như một giấc mơ. Ví dụ như Câu chuyện trong chiếc gối của Thẩm Kí Tế, Anh đào thanh y của Nhiệm Phan, gần với Hồng lâu mộng hơn có thể kể đến Tứ mộng của Thang Hiền Tổ đời Minh (Tử tiên kí, Tử thoa kí, Nam kha kí, Hàm Đan kí). Như vậy, tiểu thuyết Hồng lâu mộng đã sử dụng hình thức truyền kỳ và tư tưởng duy tâm, định mệnh. Vì Hồng lâu mộng có kết cấu giống như một giấc mộng lớn, ngoài ra trong tác phẩm còn đến vài chục giấc mộng lớn nhỏ khác nhau, trong đó đáng chú ý nhất là giấc mộng của Giả Bảo Ngọc ở hồi thứ 5 (chàng đến Thái hư cảnh ảo, được xem Thập nhị kim thoa chính sách, phó sách, hựu phó sách ghi rõ số mệnh của những người đẹp thành Kim Lăng…). Hơn nữa GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 15 ta thấy mở đầu tác phẩm là câu chuyện hoang đường về hòn đá và cây Giáng Châu như một cái án phong lưu “Chỉ vì trên bờ sông Linh hà ở Tây Phương, bên cạnh hòn đá Tam sinh có một cây Giáng Châu được Thần Anh làm chức chầu chực ở cung Xích hà ngày ngày lấy nước cam lộ tưới bón cho nó mới tươi tốt sống lâu. Đã hấp thu tinh hoa của trời đất lại được nước cam lộ chăm bón, cây Giáng Châu thoát được hình cây, hoá thành hình người con gái, suốt ngày rong chơi ngoài cõi Ly hận đói thì ăn quả Mật thanh khát thì uống nước bể Quán sầu. Chỉ vì chưa trả được ơn bón tưới cho nên trong lòng nó vẫn mắc víu, khi nào cũng cảm thấy như còn vương vấn một mối tình gì đây. Gần đây, Thần Anh bị lửa trần rực cháy trong lòng, nhân gặp đời thái bình thịnh vượng muốn xuống cõi trần để qua kiếp ảo duyên, nên đến trước mặt vị tiên Cảnh Ảo ghi sổ, Cảnh Ảo liền hỏi đến mối tình bón tưới, biết chưa trả xong, muốn nhân đó để kết liễu câu chuyện. Nàng Giáng Châu nói: Chàng ra ơn mưa móc mà ta không có nước để trả lại. Chàng đã xuống trần làm người, ta cũng phải đi theo. Ta lấy hết nước mắt của đời ta để trả lại cho chàng, như thế mới trang trải xong!. Từ đó dẫn đến câu chuyện tình duyên đầy nước mắt rồi lại chấm dứt như sự trả nợ một kiếp phong trần. Gạt ra ngoài tư tưởng duy tâm định mệnh thì đây cũng chỉ là một biện pháp kết cấu được ưa chuộng ở Trung Quốc nói riêng và Phương Đông nói chung. Thật ra, mộng ảo trong Hồng lâu mộng chỉ là sự hiện thực hoá cõi tâm linh con người. Những yếu tố hoang đường tạo nên cái khung của bức tranh xã hội Trung Quốc thế kỉ XVIII, là vật cống của tác giả cho những đòi hỏi của thời đại mình. Những chuyện hoang đường không có gì là thần bí, nó đem lại cho chúng ta bí quyết để hiểu cái vũ trụ quan vốn có của người Trung Quốc thế kỉ XVIII. Như vậy, có thể thấy việc sử dụng hình thức truyền kì và tư tưởng duy tâm định mệnh trong Hồng lâu mộng chỉ là phương tiện chứ không phải là cứu cánh. Có nghĩa là tác giả đã sử dụng hình thức truyền kì, tư tưởng định mệnh duy tâm như một phương tiện nghệ thuật chứ không phải muốn tuyên truyền cho tư tưởng duy tâm, định mệnh thần kì ấy. Vì vậy, bản thân Hồng lâu mộng vẫn được đánh giá là một tiểu thuyết hiện thực xuất sắc và được xếp vào đỉnh cao của tiểu thuyết Minh-Thanh. 2.3 CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC NGHIÊM NHẶT TRONG HỒNG LÂU MỘNG - ĐỈNH CAO CỦA TIỂU THUYẾT MINH THANH Nhà Hán học Xô Viết nổi tiếng, viện sĩ N.S.Kônrát đánh giá rất cao tiểu thuyết Hồng lâu mộng. Ông viết: “Tiểu thuyết Hồng lâu mộng là một tác phẩm hiện thực chủ nghĩa tiêu biểu. Đó là một bức tranh vĩ đại về quy mô cũng như về ý nghĩa của cuộc sống xã hội Trung Quốc thế kỉ XVIII…” ( Nguyễn Khắc Phi, Lương Duy Thứ. 1998. Tr.126) Quả thật, có thể xem Hồng lâu mộng là tập đại thành những tiến bộ nghệ thuật của tiểu thuyết hiện thực Trung Quốc thế kỉ XIV-XVIII. Mặc dù về khuynh hướng tư tưởng tiểu thuyết Minh và Thanh có khác nhau, tiểu thuyết Minh nặng về ca ngợi anh hùng, còn tiểu thuyết Thanh chủ yếu nói về cuộc sống thường ngày của con người, nhưng xét về phương pháp sáng tác thì từ Tam quốc, Thuỷ hử đến Chuyện làng Nho, Hồng lâu mộng lại là quá trình phát triển thống nhất. Đó là quá trình ngày càng thành thục của khuynh hướng hiện thực chủ nghĩa. GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 16 Hồng lâu mộng kế thừa và phát triển đến đỉnh cao những thành tựu nghệ thuật ấy của tiểu thuyết Minh-Thanh. So với những bộ tiểu thuyết trước đó, Hồng lâu mộng đem đến một sự đổi mới đáng kể. Tư duy nghệ thuật mới mẻ và tài năng sáng tạo của nhà văn đã phá vỡ tư tưởng và cách viết truyền thống, đưa tiểu thuyết cổ điển phát triển ngày càng gần gũi với tiểu thuyết hiện đại. Nhà văn Lỗ Tấn đã nhận xét: “Điểm trọng yếu là ở chỗ đã dám miêu tả như thực, hoàn toàn không tô vẽ, khác hẳn tiểu thuyết trước kia, hễ tả người tốt là hoàn toàn tốt, người xấu là cực kì xấu: Bởi vậy những nhân vật trong chuyện đều là chân thật cả…” ( Nguyễn Khắc Phi, Lương Duy Thứ. 1998. Tr.127). Thật vậy, con người trong Hồng lâu mộng là những con người hết sức trần thế, mang đầy đủ những mặt tốt và cả những mặt xấu của con người hiện thực. Ngay cả nhân vật “lý tưởng” như Lâm Đại Ngọc vừa xinh đẹp, tài hoa vừa đa tình đa cảm, dám yêu và sống hết mình cho tình yêu…cũng còn mang những nét chưa tốt như thích châm chọc người khác mà nhân vật Tương Vân đã phê phán “Nếu mình quả giỏi hơn, cũng không nên gặp người nào trêu chọc người ấy” (hồi 20 ) và tính cách kiêu kì, cô độc của Đại Ngọc đã làm phật lòng không ít bậc “bề trên” và tạo nên sự oán ghét cho nhiều kẻ “bề dưới”. Còn như nhân vật Phượng Thư vốn mang bản chất trục lợi, xảo quỵêt độc ác nhưng lại xinh đẹp, ăn nói khéo léo và cũng có những nét tính cách tốt như biết trắc ẩn đối với những người nghèo như Già Lưu, yêu quý và ủng hộ Đại Ngọc, xót thương Tình Văn. Một người mưu toan thâm hiểm như Phượng Thư mà cũng có lúc thốt ra câu cảm thương người khác “Cô nhắc đến Tình Văn, tôi cũng thương cho nó! Con bé ấy mặt mũi thân hình đều khá, chỉ có mồm miệng sắc sảo. Thế rồi không biết bà Hai nghe lời bịa đặt ở đâu làm cho nó phải chết” (hồi 101)… Rõ ràng, nhân vật trong Hồng lâu mộng không đơn điệu, một chiều mà hết sức đa dạng phức tạp như chính con người trong cuộc sống hiện thực vậy. Có thể khái quát những đặc điểm nghệ thuật nổi bật của Hồng lâu mộng như sau: Thứ nhất, trong khi miêu tả, tác giả đã bám sát đời sống hàng ngày, miêu tả một cách chi tiết, cụ thể, không tô vẽ, cường điệu. Nếu trong Tam quốc diễn nghĩa, Thuỷ hử, Tây du,…con người và sự việc đều ít nhiều mang nét khác thường, kì lạ thậm chí phi thường thì trong Hồng lâu mộng cuộc sống diễn ra rất bình thường như nó vốn có. Nếu như trong Tam quốc, Thuỷ hử, Tây du,…các sự việc thường được rút ngắn lại thì trong Hồng lâu mộng bức tranh cuộc sống dường như được trải rộng ra với đầy đủ chi tiết vụn vặt của nó. Có thể nói sức hấp dẫn của Hồng lâu mộng không phải bắt nguồn từ những mẩu chuyện ly kỳ, những biến cố rùng rợn, những con người phi thường như trong các tiểu thuyết trước kia mà chính từ những cái bình dị, thường nhật, có thể tìm thấy ở bất cứ nơi đâu và bất kỳ lúc nào trong cuộc sống hàng ngày. Đúng như tác giả đã viết ở hồi thứ nhất của tác phẩm “Xưa nay những nhân vật phong lưu chẳng qua chỉ để lại một chút gì rất ít với một số thư từ mà thôi. Còn những chuyện ăn uống trong gia đình, trong khuê các thì không bao giờ ghi chép đầy đủ: hơn nữa những chuyện gió trăng, phần nhiều chỉ là trộm hương cắp ngọc, hò hẹn riêng tây mà thôi, chưa hề nói tới chân tình của người con gái. Tưởng lũ người này xuống trần thì những bọn si tình, hám sắc, hiển ngu bất tiếu ở đây, khác hẳn những truyện trước GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 17 để lại”. Vì thế, trong Hồng lâu mộng không có những cảnh chiến trường oanh liệt, không có đấu trí tranh hùng mà chỉ quanh đi quẩn lại với những cảnh tiệc tùng, ma chay, sinh nhật, thưởng hoa, ngắm trăng…hết sức đời thường. Nhưng chính trong cái cuộc sống hàng ngày đó mâu thuẫn, xung đột đang phát triển, câu chuyện đang diễn tiến, cá tính rõ nét…Tất cả được một ngòi bút kết cấu sành sỏi “khéo léo như thợ trời, không lộ đường may” thể hiện một cách xuất sắc, tài hoa. Cuộc sống đuợc tái hiện trong Hồng lâu mộng dường như trào tuôn một cách tự nhiên trên mặt giấy mà người đọc không hề cảm thấy bàn tay đẽo gọt công phu nhưng thực chất nhà văn đã phải trải qua cả một quá trình rèn luyện gian khổ mới có thể đạt được. Cái cuộc sống ấy thật sinh động, muôn màu muôn vẻ, mọi thứ đều phức tạp rối rắm mà lại hết sức trong sáng rõ ràng. Tác giả đã phản ánh tỉ mỉ, sâu sắc nhưng lại khái quát cao độ bộ mặt chân thật cuộc sống, đó là tài năng bậc thầy của một ngòi bút tả thực theo một quan điểm nghiêm nhặt, mỗi người mỗi việc đều được xử lý một cách xác đáng, đúng như tác giả dã khẳng định trong hồi 1 của tác phẩm “…những cảnh hợp tan vui buồn, thịnh suy và những cảnh ngộ thay đổi, từ đầu đến cuối đều theo sát sự thực không có thêm bớt tô vẽ chút nào, không vì chiều lòng người mà xuyên tạc sự thật…”. Chính quan niệm hiện thực đó qua ngòi bút điêu luyện của tác giả đã đưa Hồng lâu mộng lên một đỉnh cao của chủ nghĩa hiện thực như Lỗ Tấn đã nhận xét “là một tác phẩm hiện thực không tô vẽ”. Bên cạnh đó nhân vật trong Hồng lâu mộng cũng được Tào Tuyết Cần dụng tâm xây dựng rất thành công. Có thể nói hệ thống nhân vật trong Hồng lâu mộng rất đông đúc nhưng mỗi người một vẻ không ai giống ai. Các nhân vật điển hình có khả năng bước ra từ trang sách và đi vào cuộc đời, và có thể đại diện cho một loại người nào đó trong xã hội, như Đại Ngọc được dùng để chỉ những cô gái đa sầu, đa cảm, kiêu kì và cô độc, Phượng Thư là loại nàng dâu kiêm quản gia xinh đẹp… Có một số nhân vật chỉ phác họa đơn sơ mà để lại ấn tượng hết sức sâu sắc cho người đọc như Chân Bảo Ngọc, Bồi Dính... Đặc biệt là phần đông các nhân vật phụ nữ tuổi tác suýt soát nhau, môi trường sống, quá trình giáo dục cũng tương tự mà tính cách lại khác xa nhau như Đại Ngọc khác Bảo Thoa, Phượng Thư khác Thám Xuân…Đồng thời tác giả cũng chú trọng việc miêu tả các nhân vật có tính cách gần giống nhau nhưng biểu hiện khác xa nhau. Ví dụ như tính kiêu kì của Đại Ngọc khác xa Diệu Ngọc - một người nhập thế còn một người xuất thế, hay tính ôn hoà của Bình Nhi lại khác với tính ôn hoà của Tập Nhân…Không chỉ nhân vật chính được tập trung miêu tả mà các nhân vật khác cũng hiện lên rõ ràng, có xương có thịt, có dáng dấp riêng, có lời ăn tiếng nói riêng không lẫn với ai. Đối với cô thiếu nữ đa sầu đa cảm như Lâm Đại Ngọc thì Tào Tuyết Cần tập trung bút lực đã đành. Nhưng dưới ngòi bút của ông, ngay cả những cô nữ tì chẳng được học hành gì cũng được thể hiện đẹp đẽ và cảm động, đó là Tử Quyên biết vì nỗi bất hạnh của người khác mà đau khổ, là Tình Văn vì sắc đẹp mà bị ngược đãi đến chết, là Uyên Ương xinh đẹp và trung thành mù quáng đến đáng thương, là cô ba Vưu xinh đẹp, phóng khoáng và khảng khái hiếm có… Phải có một sự quan sát tận tường cuộc sống và một tài năng văn chương hơn người thì mới có thể tả thực đến cao độ như vậy. Tương truyền khi xây dựng hình tượng 12 cô gái đẹp đất Kim Lăng, Tào Tuyết Cần đã vẽ sẵn chân dung 12 cô gái treo lên tường rồi theo đó mà miêu tả. Đó có thể chỉ là một giai thoại. Nhưng ít nhiều cũng cho ta thấy tinh thần lao GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 18 động nghệ thuật nghiêm túc và thái độ tôn trọng hiện thực của tác giả. Có lẽ, tất cả những điều đó đã góp phần tạo nên chủ nghĩa hiện thực nghiêm nhặt trong Hồng lâu mộng. Có thể thấy chủ nghĩa hiện thực trong Hồng lâu mộng có một bước tiến xa hơn so với những tiểu thuyết hiện thực cổ điển trước đây. Vì thế mà người ta nói rằng chủ nghĩa hiện thực trong Hồng lâu mộng là chủ nghĩa hiện thực nghiêm nhặt. Thứ hai, chú trọng miêu tả tâm lý nhân vật có chiều sâu đáng kể. Trong khi những tiểu thuyết trước Hồng lâu mộng chưa chú trọng mấy đến tâm lý nhân vật, thì trong Hồng lâu mộng tâm lý nhân vật được miêu tả đầy đủ và chi tiết hơn. Việc miêu tả tâm lý ở đây có thể thấy từ hai mặt: từ lời miêu tả của người kể và từ ngôn ngữ độc thoại của nhân vật. Ví dụ như Lâm Đại Ngọc, vốn là con người có tính cách kiêu kì cô độc trong sự xung đột với hoàn cảnh, cô ta luôn có diễn biến tâm lý hết sức phức tạp, đôi khi vui, buồn, giận hờn đến cùng một lúc như ở hồi thứ 26 khi Đại Ngọc đang nằm khe khẽ hát “Suốt ngày mê mẩn bồi hồi, tình riêng chán ngắt” thì Bảo Ngọc đến, cô bối rối đỏ mặt sau đó nói cười với Bảo Ngọc, rồi khi nghe Bảo Ngọc dùng lời trong truyện Tây Sương để nói với mình cô lại nổi ngay cơn giận lên và khóc… Ngoài ra, việc miêu tả tâm lý còn được triển khai bằng những thủ pháp độc đáo như mượn hàng loạt những giấc mộng để diễn tả tâm lý yêu đương không nói nên lời hoặc thông qua độc thoại nội tâm của nhân vật (giấc mộng của Đại Ngọc ở hồi 82 thấy mình bị bắt về miền Nam lấy chồng, giấc mộng của Diệu Ngọc thấy mình bị vương tôn công tử đến ép duyên…). Tóm lại, ở Hồng lâu mộng việc miêu tả tâm lý nhân vật thông qua ngôn ngữ và hành động đều sắc nét hơn những bộ tiểu thuyết trước kia. Đó là bước tiến bộ mới trên con đường phát triển của tiểu thuyết hiện thực. Thứ ba, kết cấu đồ sộ nhưng rất tập trung. Tuy còn có hạn chế như những sự kiện ở 80 hồi đầu tản mạn rời rạc mà ở 40 hồi cuối lại quá dồn nén. Nhưng nhìn chung kết cấu Hồng lâu mộng vẫn được đánh giá là đặc sắc. Và kết cấu ấy đã thể hiện rất rõ tài năng của tác giả: có thể chỉ mô tả câu chuyện 8 năm của một gia đình mà đạt đến quy mô của những tác phẩm viết về câu chuyện kéo dài 100 năm của ba nước, hơn thế nữa kết cấu ấy còn rất tập trung. Tác giả đề cập đến mọi mặt của đời sống gia đình họ Giả từ chuyện giàu sang phú quý, ăn tiêu xa xỉ đến chuyện tranh quyền đoạt lợi, dâm ô trác táng của bọn thống trị thậm chí đến cả số phận dáng thuơng của những a hoàn, đầy tớ…nhưng bao giờ cũng xoay quanh câu chuyện tình duyên Giả Bảo Ngọc- Lâm Đại Ngọc. Câu chuyện tình ấy là cái mạch ngoài dễ nhận thấy. Nhưng tác phẩm còn được liên kết bởi những mạch ngầm ngàn dặm làm cho một dấu vết, một sự việc có khi lờ mờ cũng có đầu mối của nó. Ví dụ như cái chết của Đại Ngọc rất có thể là do mẹ con Bảo Thoa đầu độc dần dần chứ không phải đơn thuần do u uất mà chết. Mặc dù tác giả không nói rõ nhưng dựa vào một số chi tiết ta có thể suy đoán. Từ đầu Bảo Thoa vốn không ưa Đại Ngọc, thậm chí có lúc còn dùng kế “kim thiền thoát xác” để bọn a hoàn ghét Đại Ngọc (hồi 27), thế mà bỗng dưng chị ta lại ân cần khuyên bảo Đại Ngọc và tâng bốc Đại Ngọc ( hồi 42)… Tất cả những hành động đó là nhằm tạo lòng tin với Đại Ngọc để đến khi Đại Ngọc ốm Bảo Thoa lại hào phóng tặng 2 bao yến sào cho Đại Ngọc bồi bổ (hồi 45). Và kết quả là, Đại Ngọc nói với Bảo Ngọc “đêm qua cũng yên ổn, nhưng vẫn ho đến hai lần, đến canh tư mới ngủ GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 19 được, sau đó lại thức đến sáng” (hồi 52). Sau đó, dì Tiết đến Đại Quan viên chăm sóc Đại Ngọc (hồi 59) và kết quả là Đại Ngọc than thở với Tương Vân “tôi vẫn ngủ không được, đại khái trong vòng một năm qua, chỉ ngủ hơn mười đêm đẫy giấc thôi” (hồi 76). Ghê gớm hơn, Bảo Thoa cho người mang tặng Đại Ngọc một bình quả vải ướp mật ong thì ngay trong đêm đó Đại Ngọc ho rũ rượi, khạc ra máu, lạnh buốt cả người (hồi 82). Như vậy, rõ ràng Đại Ngọc chết không chỉ vì u uất, không chỉ vì sức khoẻ vốn yếu từ bé mà còn do âm mưu hết sức thâm sâu, hiểm ác của mẹ con Bảo Thoa(♣). Ta thấy, các sự việc rời rạc ở các hồi xa nhau, nhưng vẫn liên kết với nhau hết sức chặt chẽ mà nếu chú ý ta sẽ phát hiện ra sự thật đằng sau cái chết đáng thương của Đại Ngọc. Cuối cùng, phải nói đến thành tựu ngôn ngữ của Hồng lâu mộng, đó là cuốn tiểu thuyết viết bằng tiếng Bắc Kinh thuần tuý. Tác giả đã bỏ nhiêu công sức lựa chọn, trau chuốt nên ngôn ngữ không mang nặng thổ âm mà là một thứ ngôn ngữ phổ thông lưu loát, uyển chuyển và đẹp đẽ. Ngoài ra, tác giả cũng rất giỏi cá tính hoá ngôn ngữ nhân vật làm cho lời nói từng người khác nhau, hợp với tính cách của họ. Tất cả những điều đó đã góp phần đưa Hồng lâu mộng lên vị trí đỉnh cao của tiểu thuyết hiện thực Minh-Thanh. 2.4 VAI TRÒ DỰ BÁO CỦA HỒI THỨ NĂM ĐỐI VỚI SỐ PHẬN CÁC NHÂN VẬT PHỤ NỮ TRONG HỒNG LÂU MỘNG- MỘT CÁCH GIỚI THIỆU NHÂN VẬT Năm hồi đầu của tiểu thuyết Hồng lâu mộng giữ một vai trò hết sức quan trọng đối với toàn bộ kết cấu của tiểu thuyết, trong đó không thể không kể đến vai trò dự báo cũng như tóm tắt của hồi thứ năm đối với số phận của các nhân vật phụ nữ trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng. Giấc mộng “chơi cõi ảo” của Giả Bảo Ngọc trong hồi thứ năm không chỉ đơn thuần là một giấc mộng duy tâm, huyền hoặc mà thông qua giấc mộng ấy với những bài thơ ngắn ngủi trong Chính sách, Phó sách và Hựu phó sách cuộc đời của những người đẹp thành Kim Lăng đã được giới thiệu đến người đọc. Từ Hồi thứ 5, người đọc có thể dự đoán, biết được những sự kiện xảy ra với các nhân vật phụ nữ trong toàn bộ tiểu thuyết. Hựu phó sách viết về số phận của Tình Văn và Tập Nhân - hai a hoàn thân tín của Bảo Ngọc. Hãy xem bài thơ viết về Tình Văn: Trăng thanh khó gặp, mây đa sắc dễ tan Tâm hồn ví như trời cao, thân phận lại thấp hèn Phong lưu, khéo léo khiến người ghen ghét Thọ yểu khác nhau đều bị phỉ báng Công tử đa tình chỉ than phiền. Bài thơ này đã dự báo toàn bộ cuộc đời, số phận và những biến cố mà cô a hoàn xinh đẹp đã trải qua, rõ ràng ở những hồi sau ta bắt gặp một hình ảnh Tình Văn xinh đẹp, ♣ Theo bài viết của Thuỷ Thôn đưa lên mạng đăng trên Quảng Tây báo ngày 17 tháng 5 năm 2003, Phùng Hoài Ngọc dịch. GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 20 khéo léo, ăn nói sắc sảo nên bị ghen ghét và cuối cùng phải chết đi vì những phỉ báng rẻ rúng của đời. Đối với a hoàn Tập Nhân cũng tương tự, bài thơ thứ hai trong Hựu phó sách đã tiên liệu số phận cô: một Tập Nhân lúc nào cũng nhũn nhặn, nhún nhường đối với nguời khác, luôn ấp ủ ước mơ được sánh duyên cùng công tử nhà họ Giả, cuối cùng tất cả cũng bằng không, cô trở thành vợ của “con hát” Tưởng Ngọc Hàm như một mối duyên đã được định trước. Người đọc có thể suy ra những a hoàn xinh đẹp khác cũng được nêu tên trong Hựu phó sách này như: Uyên Ương, Tử Quyên, Tuyết Nhạn, Kim Xuyến, Hồng Ngọc, Bình Nhi,… Phó sách là bài thơ về thân phận của Hương Lăng, vốn xuất thân từ dòng dõi thư hoạn khá giả, nhưng sớm bị bắt cóc phải lìa cha, xa mẹ làm người hầu rồi vợ lẽ cho người ta cuối cùng phải chết trên giường đẻ một cách đau đớn. Người đọc có thể đoán được tên của những nhân vật khác trong Phó sách như Vưu Nhị Thư, Bảo Thiềm,… Chính sách là một loạt bài thơ về số phận của “thập nhị kim thoa”, bài thơ mở đầu như đã khái quát tình thế đối đầu giữa nàng Đại Ngọc và thiên kim Bảo Thoa: Than ôi có đức mà phải dừng khung cửi giữa chừng Đáng tiếc cái tài ngâm thơ vịnh hoa Đai ngọc treo giữa rừng Trâm vàng treo trong tuyết. Rõ ràng bài thơ ám chỉ cái chết non của Đại Ngọc, cuộc hôn nhân lạnh lùng không hạnh phúc của Bảo Thoa và sự ra đi khỏi chốn trần thế thị phi của Bảo Ngọc. Ba nhân vật chính trong bốn câu thơ, Đại Ngọc và Bảo Thoa ở thế đối xứng với hai vị trí đầu và cuối bài thơ, Bảo Ngọc ở giữa. Ở đây, như ngầm báo hiệu một cuộc xung đột giữa hai người phụ nữ ấy và kết quả tất yếu diễn ra sẽ là bi kịch cho cả ba người. Những bài thơ tiếp theo trong Chính sách lần lượt đề cập đến việc Nguyên Xuân được là vương phi vinh hiển nhưng chết sớm trong nước mắt, Thám Xuân sáng suốt tài cao phải lấy chồng xa đau khổ một đời, Tương Vân côi cút những tưởng tìm được hạnh phúc nào ngờ chồng mất sớm, Diệu Ngọc thích trong sạch mà cuối cùng phải bước ra khỏi cửa tu hành nhuốm vào bùn nhơ của bọn bắt cóc, Nghênh Xuân lấy phải họ Tôn vũ phu mới tròn một năm đã chết trong uất ức, Tích Xuân chán đời nương nhờ cửa Phật, Phượng Thư tài ba cuối cùng cũng mất mạng, Xảo Thư bị anh và cậu ép gả cuối cùng được bà già nhà quê Lưu lão lão cưu mang, Lý Hoàn goá bụa được hưởng chút vinh hiển từ con trai… Bên cạnh đó, Hồng lâu mộng thập nhị khúc cũng góp phần dự báo cuộc đời các nhân vật chính trong tiểu thuyết. Khúc giáo đầu nói về những kẻ si tình nói chung. Khúc thứ nhất “Chung thân ngộ”, một lần nữa Đại Ngọc và Bảo Thoa được đặt trong thế đối xứng cây-ngọc-vàng để cuối cùng là bi kịch tình yêu của Đại Ngọc và bi kịch hôn nhân của Bảo Thoa. Khúc thứ hai “Uổng ngưng mi” như lời dự báo, thở than cho mối tình đầy nước mắt của Bảo Ngọc và Đại Ngọc. Khúc thứ ba “Hận vô thường” nói về tâm tính nàng Đại Ngọc nhạy cảm và kiêu kì, đồng thời báo trước cái chết non nớt của cô gái yếu đuối, cô độc này. Khúc thứ tư “Phân cốt nhục” báo trước đường đời của Thám Xuân: lấy chồng xa xôi, ra đi mà cõi lòng tan nát. Khúc thứ năm “Lạc trung bi” viết về Tương Vân mồ côi, bất hạnh nhưng phóng khoáng, tài hoa, ngỡ đâu GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 21 được duyên lành ai ngờ cuối cùng phải khóc than cho người chồng bạc số. Khúc thứ sáu “Thế nan dung” tiên đoán cuộc đời trần ai của Diệu Ngọc. Khúc thứ bảy “Hỉ oan gia” dự báo cuộc hôn nhân bất hạnh dẫn đến cái chết của Nghênh Xuân. Khúc thứ tám “Hư hoa ngộ” kể về việc Tích Xuân đi tu. Khúc thứ chín “Thôn._.lung linh cuốn hút mọi người khám phá và tìm hiểu vẻ đẹp bất tận của mình.  GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 63 PHỤ LỤC Phác thảo chân dung các nữ nhân vật chính trong Hồng lâu mộng (Hồi 5: có 14 bài thơ đề vịnh và 14 hí khúc miêu tả và dự báo số phận nhân vật nữ chính trong Hồng lâu mộng) 14 BÀI ĐỀ VỊNH NHÂN VẬT CHÍNH Bài 1 đề vịnh Hựu phó sách (Hựu phó sách đề vịnh chi nhất) Nguyên tác , ,   ,  Phiên âm Hán Việt Tế nguyệt nan phùng, thái vân dị tán. Tâm tỉ thiên cao, thân vi hạ tiện. Phong lưu linh xảo chiêu nhân oán. Thọ yểu đa nhân phỉ báng sinh. Đa tình công tử không khiên niệm. Dịch nghĩa Trăng thanh khó gặp, mây rực rỡ dễ tan. Tâm hồn ví trời cao, thân phận thấp hèn. Phong lưu, khéo léo khiến người ghét. Thọ yểu khác nhau đều bị phỉ báng Công tử đa tình chỉ than phiền Dịch thơ Trăng trong khó gặp, mây đẹp dễ tan Lòng sao cao quý, phận lại đê hèn Tinh khôn, đài các tất người ghen Chịu tiếng ong ve đành tổn thọ Đa tình công tử luống than phiền Bài 2 đề vịnh Hựu phó sách (Hựu phó sách đề vịnh chi nhị)     Uổng tự ôn nhu hoà thuận. Không vân tự quế như lan. Kham tiện ưu linh hữu phúc Thuỳ tri công tử vô duyên. Bản tính dịu dàng, hoà thuận cũng vô ích, Nói rằng như hoa quế, hoa lan cũng như không, Khá khen cho con hát có phúc, Ai biết công tử vô duyên nợ ! Nhũn nhặn, ôn hoà đều uổng cả, Lan thơm, quế ngát, thừa thôi. Khen cho ưu linh tốt phúc, Ngờ đâu công tử vô duyên GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 64 Bài 1 đề vịnh phó sách (Phó sách đề vịnh chi nhất)     Căn tịnh hà hoa nhất hành hương, Bình sinh tao tế thực kham thương, Tự tòng lưỡng địa sinh cô mộc, Trí sử hương hồn phản cố hương. Chùm rễ sen gộp sức mọc một nhánh cỏ thơm Đường đời gặp gỡ chịu đau thương Từ lúc cây đơn trồng hai xứ muốn hương hồn trở lại cố hương . Sen thơm liền gốc nở chùm hoa, Gặp gỡ đường đời thật xót xa, Từ lúc cây trồng hai chỗ đất, Hương hồn trở lại chốn quê nhà. Bài 1 đề vịnh Chính sách (Chính sách đề vịnh chi nhất)     Khả thán đình cơ đức, Kham liên vịnh nhứ tài. Ngọc đới lâm trung quải, Kim trâm tuyết lý mai. Than ôi có đức mà phải dừng khung cửi giữa chừng, Đáng tiếc cái tài ngâm thơ vịnh hoa. Đai ngọc treo giữa rừng, Trâm vàng vùi trong tuyết. Than ôi có đức dừng thoi, Thương ôi cô gái có tài vịnh bông. Ai treo đai ngọc giữa rừng, Trâm vàng ai đã vùi trong tuyết này. Bài 2 đề vịnh Chính sách (Chính sách đề vịnh chi nhị)     Nhị thập niên lai biện thị phi, lựu hoa khai xứ chiếu cung vi. Tam xuân tranh cập sơ xuân cảnh, hổ thố tương phùng đại mộng quy Sau hai mươi tuổi đã biết suy xét đúng sai, hoa thạch lựu nở soi nơi cung điện Ba xuân khó tranh cảnh đầu xuân, hùm thỏ gặp nhau giấc mộng lớn kết thúc. Sau hai mươi tuổi đã trải đời, kìa hoa lựu nở cửa cung soi. Ba xuân nào được bằng xuân mới, thở gặp hùm kia giấc mộng xuôi. GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 65 Bài 3 đề vịnh Chính sách (Chính sách đề vịnh chi tam)   ,  Tài tự tinh minh, chí tự cao, Sinh vu mạt thế vận thiên tiêu. Thanh minh di tống giang biên vọng, Thiên lý đông phong nhất mộng dao. Tài thì sáng suốt, chí thì cao, Sinh nhằm lúc thời hết, vận tan. Trời đẹp đi ra bến sông trông ngóng Gió đông ngàn dặm (thổi) giấc mộng đi xa. Chí cao tài giỏi có ai bì, Gặp lúc nhà suy, vận cũng suy. Nhớ tiếc thanh xuân ra bến khóc, Gió đông nghìn dặm mộng xa đi. (Bài 4 đề vịnh Chính sách) Chính sách đề vịnh chi tứ     Phú quý hựu hà vi, cưỡng bảo chi gian phụ mẫu vi. Chuyển nhãn điếu tà huy, Tương Giang thuỷ thệ, Sở vân phi. Giàu sang thì đã sao, lúc còn trong nôi đã cách biệt cha mẹ. Quay lại nhìn bóng mặt trời chiều mà thương xót, nước sông Tương chảy không trở lại, mây Sở bay đi không về. Giàu sang cũng thế thôi, từ bé mẹ cha bỏ đi rồi. Nhìn bóng chiều ngậm ngùi, sông Tương nước chảy, mây Sở bay. Bài thứ 5 đề vịnh Chính sách (Chính sách đề vịnh chi ngũ)    . Dục khiết hà tằng khiết, Vân không vị tất không. Khả liên kim ngọc chất, chung hãm náo nê trung. GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 66 Muốn giữ mình trong sạch mà chưa trong sạch, nói rằng không chưa hẳn là không. Đáng thương cho tấm thân vàng ngọc, cuối cùng bị vùi lấp trong bùn nhơ. Muốn sạch mà không sạch, rằng không chửa hẳn không. Thương thay mình vàng ngọc, bùn lầy sa vào trong. Bài 6 đề vịnh Chính sách (Chính sách đề vịnh chi lục)     Tử hệ Trung Sơn lang, đắc chí tiện xương cuồng. Kim khuê hoa liễu chất, nhất tái phó hoàng lương. Giống chó sói núi Trung Sơn, tiện lúc đắc chí càn rỡ ngông cuồng. Tấm thân hoa liễu phòng khuê, Một chuyến đi vào giấc mộng hoàng lương. Rõ ràng giống sói Trung Sơn, gặp khi đắc ý ngông cuồng lắm thay. Làm cho thân hoa liễu này, hoàng lương giấc mộng mới đầy một năm Bài 7 đề vịnh Chính sách (Chính sách đề vịnh chi thất)     Khám phá tam xuân cảnh bất trường, Truy y đốn cải tích niên trang. Khả liên tú hộ hầu môn nữ, Độc ngoạ thanh đăng cổ Phật bà. Biết được mùa xuân không thể kéo dài, Áo tu thay thế quần áo năm xưa Đáng thương người con gái quí tộc thêu thùa. Một ngọn đèn xanh ngồi bên cạnh tượng Phật cổ. Biết rõ ba xuân cảnh chóng già. Thời trang đổi lấy áo cà sa. Thương thay con gái nhà khuê các. Một ngọn đèn xanh cạnh Phật bà. GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 67 Bài 8 đề vịnh Chính sách (Chính sách đề vịnh chi bát)     Phàm điểu thiên tòng mạt thế lai, đô tri ái mộ thử sinh tài. Nhất tòng, nhị lệnh, tam nhân mộc; khốc hướng Kim Lăng sự cánh ai. Loài chim bình thường tới lúc hết thời, (ai nấy) đều biết yêu mến cái tài này. Lúc đầu nói gì ai cũng nghe, sau sai khiến được người, cuối cùng bị người bỏ; ngoảnh về Kim Lăng khóc càng buồn thương Chim phượng kìa sau đến lỗi thời; người người đều yêu mến bậc tài cao. Một theo, hai lệnh, ba thôi cả; nhìn lại Kim Lăng luống ngậm ngùi. Bài 9 đề vịnh Chính sách (Chính sách đề vịnh chi cửu)     Thế bại hưu vân quý, gia vong mạc luận thân. Ngẫu nhân tế thôn phụ, xảo đắc ngộ ân nhân. Tình thế thất bại đừng nói cao sang, nhà mất đừng nghĩ đến họ hàng thân thuộc. Người đàn bà quê mùa tình cờ cứu giúp, khéo gặp được ân nhân. Vận suy đừng kể rằng sang, nhà suy chớ kể họ hàng gần xa. Tình cờ cứu giúp người ta, khéo sao Lưu thị lại là ân nhân. Bài 10 đề vịnh Chính sách (Chính sách đề vịnh chi thập)     Đào lý xuân phong kết tử hoàn, đáo đầu thuỳ tự nhất bồn lan. Như băng thuỷ hảo không tương đố, uổng dữ tha nhân tác tiếu đàm. Gió xuân hoa đào hoa lê đã kết quả, Gặp xuân đào lý quả muôn vàn, GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 68 Rốt cuộc ai như một chậu hoa lan,. Như băng, nước sạch, không ghen ghét; Mặc kệ người đời cứ chê khen . rốt cuộc sao bằng một chậu lan. Nước sạch, băng trong ghen ghét hão, tiếng tăm còn để lại nhân gian. Bài 11 đề vịnh Chính sách (Chính sách đề vịnh chi thập nhất)     Tình thiên tình hải ảo tình thân, tình ký tương phùng tất chủ dâm. Mạn ngôn bất tiêu giai Vinh xuất, tạo hấn khai đoan thực tại Ninh. Trời tình, biển tình, tình thân cũng ảo, Tình gặp nhau ắt sẽ (làm) cho người dâm dục. Lời nói buông tuồng không hẳn phát ra từ phủ Vinh gây hiềm khích, bày đặt chuyện thực tại phủ Ninh . Trời tình, bể tình là mộng ảo mà tội dâm kia cũng bởi tình. Đầu têu nào phải Vinh hư hỏng, mở lối khơi nguồn thực tại Ninh Œ GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 69 14 bài hí khúc (Khúc giáo đầu, khúc kết + Hồng lâu mộng thập nhị khúc       Khúc giáo đầu Nguyên tác  ,? . , ,, ,  “” Phiên âm Hán Việt Hồng lâu mộng dẫn tử Khai tịch hồng mông, thuỳ vi tình chủng? Đô chỉ vị phong nguyệt tình nùng. Sấn khán giá nại hà thiên, thương hoài nhật, tịch liêu thì, thí khiển ngu trung. Nhân thử thượng, diễn xuất giá bi kim điệu ngọc “Hồng lâu mộng” Dịch nghĩa Lời mở đầu Hồng lâu mộng hí khúc Thuở trời đất mịt mùng, ai gieo trồng giống tình ? Đều chỉ vì gió trăng thương yêu nồng nàn. Đuổi theo cõi trời nào, ngày thương nhớ, lúc lặng lẽ, Thử giãi bày tấm lòng si khờ thành thật của tôi. Nhân đây, diễn xuất vở “Hồng lâu mộng” để thương vàng tiếc ngọc. Dịch thơ Giáo đầu Hồng lâu mộng Mịt mùng khi mới mở toang, giống tình ai đã chịu mang vào mình? Chỉ vì tình lại gặp tình, gió trăng nồng đượm không đành xa nhau. Khi vắng vẻ, lúc buồn rầu, thua trời nên giãi mối sầu thơ ngây. “Mộng hồng lâu” diễn khúc này, Thương vàng tiếc ngọc tỏ bày nỗi riêng. Khúc 1   ,    , Chung thân ngộ Đô đạo thị kim ngọc lương nhân,yêm chỉ niệm mộc thạch tiền minh. Không đối trước, sơn trung cao sĩ tinh oánh tuyết, chung thân bất vong, thế ngoại tiên xu, tịch mịch lâm. Thán nhân gian, mỹ trung bất túc kim phương tín. Túng nhiên thị tề mi cử án, đáo để ý nan bình. GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 70 Suốt đời lầm lẫn Người ta đều nói vàng-ngọc là cuộc hôn nhân tốt; ta đây chỉ nhớ lời thề cây-đá lúc xưa. Khoảng không trước mặt; người cao sĩ trong núi tuyết, ngọc sáng trong; cả đời không quên, nàng tiên xinh đẹp ngoài cõi đời, trong rừng tịch mịch. Than thở (với) cuộc đời, đến nay mới tin trong cái đẹp không hề đủ. Mặc cho như án đặt ngang mày, tận đáy lòng ý nghĩ (vẫn) khó bình lặng. Lầm lỡ suốt đời Ai rằng vàng ngọc duyên ưa, Ta quên cây đá thề xưa được nào. Trơ trơ rừng tuyết trên cao, Ngoài đời rừng vắng khuây sao được nàng. Cuộc đời ngán nỗi tang thương. Đẹp không hoàn đẹp lời càng đúng thay. Dù cho án đặt ngang mày, Cuối cùng vẫn thấy lòng này băn khoăn. Khúc 2  , , ,  , ,  ,  Uổng ngưng mi Nhân cá thị lãng uyển tiên ba, nhất cá thị mỹ ngọc vô hà. Nhược thuyết một kỳ duyên, kim sinh thiên hựu ngộ khán tha. Nhược thuyết một kỳ duyên, như hà tâm sự chung hư hoá ? Nhất cá uổng tự ta nha, nhất cá không lao khiên quải. Nhất cá thị thuỷ trung nguyệt, nhất cá thị kính trung hoa, tương nhãn trung năng hữu đa thiểu lệ châu nhi. Chẩm cẩm đắc thu lưu đáo đông tận, xuân lưu đáo hạ. Chau mày oan ức Một bên là hoa trong vườn thần tiên, một bên là ngọc quý không tì vết. Bảo rằng không có mối duyên lạ, sao kiếp này tình cờ gặp gỡ người ấy ? Bảo rằng có mối duyên lạ, sao cuối cùng lại nói lời thay đổi, giả dối ? Một bên uổng công than thở một mình, một bên làm những việc rắc rối hư không. Một bên là trăng trong nước, một bên là hoa trong gương. Trong mắt có được bao nhiêu giọt lệ (Làm) sao chảy được từ mùa thu đến hết mùa đông, từ mùa xuân đến mùa hạ ? Hoài công biết nhau Một bên hoa nở vườn tiên, một bên ngọc đẹp không hoen ố màu. Bảo rằng chẳng có duyên đâu, thì sao lại đuợc gặp nhau kiếp này. Bảo rằng sẵn có duyên may, thì sao lại đổi lại thay lời nguyền. Một bên ngầm ngấm than phiền, một bên đeo đuổi hão huyền uổng công. Một bên trăng rọi bên sông, một bên hoa nở bóng lồng trong gương. Mắt này có mấy giọt sương, mà dòng chảy suốt năm trường được chăng ? GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 71 Khúc 3          Hận vô thường Hỉ vinh hoa chính hảo, hận vô thường hựu đáo Nhãn tĩnh tĩnh, bả vạn sự toàn phao. Đãng du du, bả phương hồn tiêu hao. Vọng gia hương, lộ viễn sơn cao Cố hương ta nương mộng lý tương tầm cáo: Nhi mệnh dĩ nhập hoàng tuyền, thiên luân a, Tu yếu thoái bộ trừu thân cảo. Oán hận sự đời đổi thay Đang giữa lúc vui vẻ tốt đẹp,nỗi oán giận sự đổi thay lại đến. Mắt trợn trừng, mọi việc đã xong. Hồn thơm tan không hết dằng dặc đu đưa. Trông ngóng quê nhà, đường xa núi cao. Tìm về cha mẹ, trong giấc mộng tìm bảo rằng: Mạng con đã nhập vào suối vàng, chết non, Nên lùi bước, rút lui sớm. Bực tức cuộc đổi thay Đương vui đã chợt buồn ngay, Chợt nhìn mọi việc thôi rày bỏ qua. Hồn thơm dằng dặc bay xa, Non cao trời rộng đây là quê hương, Tìm nơi báo mộng gia nương Suối vàng con đã lỡ đường thần hôn, Mau mau lùi bước là hơn. Khúc 4        , ,     Phân cốt nhục Nhất phàm phong vũ lộ tam thiên, bả cốt nhục gia viên tề lai phao thiểm. Khủng khốc tổn tàn niên, cáo ta nương hưu bả nhi huyền niệm. Tự cổ cùng thông giai hữu định, ly hợp khởi vô duyên Tòng kim phân lưỡng địa, các tự bảo bình an. Nô khứ dã, mạc khiên liên. Thân thích phân ly Một cánh buồm trên đường mưa gió ba ngàn (dặm) đem người thân vườn nhà đều bỏ lại. Sợ hãi khóc cả năm, xin cha mẹ đừng thương nhớ Từ xưa khốn quẫn hay may mắn đã sắp đặt sẵn rồi, chia ly, sum họp lẽ nào không có duyên cớ ? Từ nay chia cách hai nơi, tự mình giữ lấy bình yên. Vậy con đi, (xin) chớ lo phiền . Cốt nhục phân ly Đường xa mưa gió một chèo, Cửa nhà, ruột thịt thôi đều bỏ qua. Con đành lỗi với mẹ cha, Khóc thương chỉ thiệt thân già đấy thôi, Cùng thông số đã định rồi, Hợp tan âu cũng duyên trời chi đây? Phân làm hai ngả từ đây, Dám mong giữ được những ngày bình yên. Con đi, xin chớ lo phiền GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 72 Khúc 5      ,     , Lạc trung bi Cưỡng bảo trung, phụ mẫu thán song vong. Tung cư na ỷ la tùng, thuỳ tri kiều dưỡng? Hạnh sinh lai, anh hào khoát đại khoan hoành lượng. Tòng vị thương nhi nữ tư tình, lược oanh tâm thượng. Hảo nhất tự, tế nguyệt quang phong diệu ngọc đường. Tư phối đắc tài mạo tiên lang, bác đắc cá địa cửu thiên trường. Chuẩn chiết đắc ấu niên thời khảm khá hình trạng.. Chung cửu thị vân tán cao đường, thuỷ hạc Tương Giang. Giá thị trần hoàn trung tiêu trường sổ ưng đương, hà tất uổng bi thương ? Buồn trong cảnh vui Cha mẹ đều đã chết từ lúc (con) còn trong nôi. Dù rằng ở nơi lụa là, ai người yêu thương nuôi nấng ? May được sinh thành, anh hào mang tính phóng khoáng đaị lượng, Từ đó, tình riêng chưa vướng bận trong tâm Con một được cưng chiều, trăng trong nắng gió soi nhà ngọc. Chàng tiên mong được (sống cùng) với trời đất lâu dài. Đã chịu thời niên thiếu gian nan, Cuối cùng thì mây tan quê cũ, nước cạn dòng Tương Cõi trần số phận cũng phôi pha, cớ gì mà phải bi thương ?! Buồn trong cảnh vui Mồ côi từ lúc lọt lòng, Dù nơi khuê các, chớ hòng ai thương. Anh hào được tính hiên ngang, Tình riêng nhi nữ chưa vương vít lòng. Thân này trăng sáng gió trong, Chàng tiên mong được sánh cùng lứa đôi. Những mong trời đất lâu dài, Bõ khi trẻ lại gặp thời gian nan. Ngờ đâu nước cạn mây tan, Tương Giang lạnh ngắt, cao đường vắng tanh. Trần hoàn may rủi đã đành, Việc gì khóc quẩn lo quanh một mình ?!. Khúc 6  ,    , , ,,   ,  Thế nan dung Khí chất mỹ như lan, tài hoa phụ bỉ tiên. Thiên sinh thành cô tích nhân giai hãn. Nhĩ đạo thị đạm nhục thực tinh thiên, Thị ỷ la tục yếm, khước bất tri thái cao nhân dũ đố, quá khiết thế đồng hiềm. Khả thán giá, thanh đăng cổ điện nhân thương lão, cô phụ liễu, hồng phấn chu lâu xuân sắc lan. Đáo đầu lai, y cựu thị phong trần khảng tảng vi tâm nguyện. Hảo nhất tự, vô hà bạch ngọc tao nê hãm, hựu hà tu, vương tôn công tử thán vô duyên. O GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 73 Đời không ưa Phẩm chất đẹp như hoa lan, tài hoa lớn như tiên Người cô độc bẩm sinh thật hiếm. Anh nói rằng ăn thịt sống hôi tanh. Xem lụa gấm là thô tục, chối từ (mà) không biết rằng cao nhân bị người ghét, trong sáng bị người xung quanh bực mình. Đáng thương, đèn xanh điện cổ, người càng già, phụ lòng rồi, phấn hồng lầu đỏ nhan sắc đều tàn. Đã đến rồi, vẫn là dơ dáy phong trần trái với tâm nguyện. Com một cưng, ngọc trắng không vết rớt xuống bùn, làm sao chùi ? Thật buồn cho vương tôn công tử vô duyên . Đời không ưa Lan ví chất, tiên ví tài Chỉ hiềm cô tịch, tính trời bẩm sinh. Cho là ăn thịt hôi tanh Lụa the, là lượt coi khinh không thèm. Biết đâu cao quá đời ghen, Biết đâu sạch quá đời khen da mà. Đèn xanh, đền cổ, người già Uổng công trang điểm, xuân đà kém xuân. Ngán cho cái kiếp phong trần , Sau này cũng lại xấu dần mãi đi Ngọc kia bùn trét đen sì, Vương tôn công tử còn gì là duyên. Khúc 7     ,   Hỉ oan gia Trung sơn lang, vô tính thú, toàn bất niệm đương nhật căn do. Nhất vị đích kiều xa dâm đãng tham hoan cấu. Thứ trước na, hầu môn diễm chất đồng bồ liễu, tác tiện đích, công phủ thiên kim tự hạ lưu. Thán phương hồn diễm phách, nhất tái đãng du du. Mừng lầm oan gia Giống sói Trung Sơn, loài thú vô tình, ngày ấy chẳng ai nghĩ đến nguồn cội. Chỉ một thích xa xỉ, dâm đãng tham lam gây nên. Hãy nhìn xem, nhà công hầu toàn thân gái đẹp thơ ngây, chà đạp lên, ngàn vàng quí tộc như hạ lưu. Hỡi vía đẹp hồn thơm, hãy đi du ngoạn một phen. Gặp oan gia không đáng lại mừng Người đâu hung ác lạ lùng, Khác gì giống sói ở vùng Trung San. Bấy lâu tình ái quên tràn, Kiêu dâm chỉ việc mê man tháng ngày. Cửa hầu bồ liễu thơ ngây, Thân ngàn vàng nỡ đọa đày cho đang. Một năm duyên đã bẻ bàng, Hồn thơm phách đẹp suối vàng rong chơi. GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 74 Khúc 8  ,  , , ,  ,,     ,    ,, Hư hoa ngộ Tương na tam xuân khán phá, đào hồng liễu lục đãi như hà ? Bả giá thiều hoa đả diệt, mịch na thanh đạm thiên hoà. Thuyết thậm ma thiên thượng yêu đào thịnh, vân trung hạnh nhị đa. Đáo đầu lai, thuỳ bả thu nhai quá ? Tắc khán na, bạch dương thôn lý nhân minh yết, thanh phong lâm hạ ngâm nga. Canh kiêm khán, liên thiên suy thảo già phần mộ. Giá đích thị, tác bần kim phú nhân lao lụu. Xuân vinh thu tạ hoa chiết ma. Tự giá bàn, sinh quan tử kiếp, thuỳ năng đoá ? Văn thuyết đạo, tây phương bảo thụ hoán sa bà, thượng kết trường sinh quả. Biết tuổi hoa là không đúng Sắp thấy rõ mùa xuân rồi, đào hồng liễu xanh hãy đợi chờ. Vứt bỏ hết cảnh hoa đẹp, tìm nơi trời đất thanh đạm. Kể chi đào non nở rộ trên trời, trong mây nhị hoa hạnh nở nhiều. Rốt cùng, ai đã kéo mùa thu đến mau. Thử coi xem, trong xóm bạch dương có người kêu khóc . Rừng phong xanh xuống ngâm nga Đêm thấy cảnh cỏ gai ngút trời che phầm mộ. Đây chính là, đã nghèo nay người chịu lao lực. Xuân tốt tươi, thu đến hoa héo dập vùi. Như sự quẩn quanh, sống hết chết cướp đi, ai trốn được ? Nghe nói rằng, cõi Tây phương có nơi gọi là Bà sa, có cây quí sau kết quả tên là “trường sinh”. Biết tuổi hoa là không thật Cảnh xuân nhìn đã rõ rồi, Liễu xanh, đào thắm hãy ngồi xem sao. Thiều hoa đuổi sạch đi nào, Tìm nơi nhã đạm thanh cao khác đời. Kể chi nhị đào nở trên trời, Kể chi nhị hạnh lựng mùi trong mây ? Rốt cùng nào có ai hay Tiết thu đâu đã kéo ngay đến rồi. Xóm dương than khóc tiếng người Rừng phong vẳng tiếng ma ngồi ngâm nga. Lại còn cảnh khác bày ra, Ngút trời cỏ héo che qua nấm mồ. Đó là biến đổi lắm trò, Trước nghèo sau có chăm lo suốt đời. Dày vò hoa cũng thế thôi, Xuân mời hoa đến thu mời hoa đi. Tử sinh lẽ ấy đem suy, Dù ai muốn trốn, trốn chi được mà. Phương Tây có cõi Bà Sa, Nghe đồn có quả tên là Trường Sinh. GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 75 Khúc 9  ,  ,  ,  ,   ,    Thông minh luỵ Cơ quan toán tận thái thông minh, phản toán liễu khanh khanh tính mệnh. Sinh tiền tâm dĩ toái, tử hậu tính không linh. Gia phú nhân ninh, chung hữu cá gia vong nhân tản, các bôn đằng. Uổng phí liễu ý huyền huyền bán thế tâm. Hảo nhất tự, đãng du du tam canh mộng. Hốt lạt lạt tự đại hạ khuynh, hôn thảm thảm tự đăng tương tận. Nha! Nhất trường hoan hỉ hốt bi hạnh Thán nhân thế, chung nan định! O Nỗi khổ nhọc bởi thông minh Tính toán hết rồi, thông minh quá thì bị phản lại. Cuộc sống đã nghĩ nát ruột, chết rồi tiếng khôn rỗng tuếch. Nhà giàu người an khang, cuối cùng một nhà tan, người mất, kẻ bỏ chạy nhanh. Uổng phí tâm trí nửa đời hồ đồ, Đúng là giấc mộng suốt ba canh lo lắng. Bỗng kèn thổi như ngôi nhà lớn nghiêng đổ, Tối thảm đạm như đèn cạn dầu. A ha, một cảnh sân khấu đời hoan hỉ bỗng buồn vui Ôi đời người, khó biết biết hồi kết cục ra sao ! Mắc lụy bởi thông minh Việc đời tính rất thông minh, Còn mình,mình tính phận mình vẫn sai. Sống lần ruột đã nát rồi Chết mang tiếng hão là người tinh ranh. Trước kia giàu có khang ninh, Bây giờ cơ nghiệp tan tành khắp nơi. Uổng công áy náy nửa đời, Khác gì một giấc mộng dài thâu canh. Ầm ầm như sấm đổ đình Chập chờn như ngọn đèn xanh cạn dầu. Vừa vui vẻ, đã âu sầu, Đời người biến đổi biết đâu mà lường. Khúc 10  ,, ,, ,  , Lưu dư khánh Lưu dư khánh, lưu dư khánh, hốt ngộ ân nhân. Hạnh nương thân, tích đắc âm công. Khuyến nhân sinh, tế khốn phù cùng. Hưu tự yêm na ái ngân tiền vong cốt nhục đích ngoan cữu gian huynh! Chính thị thừa trừ gia giảm, thượng hữu thương khung. O GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 76 Phúc thừa sót lại Phúc thừa còn sót, bỗng gặp ân nhân May có chỗ nương thân, giữ được phúc sau khi chết. Khuyên người đời giúp kẻ khốn, đỡ người cùng Đừng như ta đây yêu tiền, anh gian cậu ác bán người thân ! Chính là luật bù trừ, trên đầu còn có trời xanh. Phúc thừa sót May sao gặp được ân nhân Là nhờ dư phúc nương thân đó mà. Âm công vun lấy phúc nhà Hết lòng cứu giúp người ta khi nghèo. Anh gian, cậu ác chớ theo Nhãng tình máu mủ chỉ yêu bạc tiền. Có trời báo ứng ở trên. Khúc 11  ,   ,, ,, ,, ,,     Vãn thiều hoa Cảnh lý ân tình, canh na kham mộng lý công danh! Na mỹ thiều hoa khứ chi hà tấn ! Tái hưu đề tú trướng uyên khâm. Chỉ giá đới châu quan, phi phụng áo, dã để bất liễu vô thường tính mệnh. Tuy thuyết thị, nhân sinh mạc thụ lão lai bần, dã tu yêu âm chất tích nhi tôn. Khí ngang ngang, đầu đới trâm anh quang xán xán, hung huyền kim ấn. Uy hách hách, tước lộc cao đăng, hôn thảm thảm, hoàng tuyền lộ cận. Vấn cổ lai tương tướng khả hoàn tồn ? Dã chỉ thị hư danh nhi hậu nhân khâm kính. Cảnh xuân về cuối Ân tình trong gương, trải qua sao được công danh trong mộng ! Cảnh hoa đẹp sao trôi đi nhanh thế ! Lại bỏ qua thêu chăn uyên màn gấm. chỉ mũ châu, áo phượng sao chống lại tính mệnh vô thường. Tuy nói rằng, người ta không chịu già vẫn nghèo, cũng nên tu lấy âm đức cho con cháu về sau. Tính ngang tàng đầu đội trâm ngọc sáng lấp lánh, ngực đeo ấn vàng. Uy quyền hống hách, tước lộc cao sang, trời tối sầm đường xuống suối vàng kề bên Hỏi xưa nay khanh tướng có còn ai ? Cũng chỉ là cái hư danh vậy đời sau kính trọng. Cảnh xuân về cuối Còn gì ân ái trong gương Còn gì giấc mộng trên đường công danh. Cảnh thiều hoa đi sao nhanh, Chăn uyên màn gấm thôi đành bỏ qua. Mũ châu áo phượng thướt tha, Chống làm sao nổi vận nhà bấp bênh. Già, nghèo khó chịu đã đành, Cũng nên tích đức để dành về sau. Ngông nghênh trâm ngọc trên đầu Ấn vàng trước ngực muôn màu sáng trưng. Uy quyền lộc vị lẫy lừng, Suối vàng buồn thảm đường chừng gần thôi. Xưa nay khanh tướng còn ai, Hoạ còn tiếng hão cho đời ngợi khen. Khúc 12 GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 77  , ,, ,   Hảo sự chung Hoạ lương xuân tận lạc hương trần. Thiện phong tình, bỉnh nguyệt mạo, tiện thị bại gia đích căn bản. Cơ cừu đồi đoạ giai tòng Kính, gia sự tiêu vong thủ tội Ninh. Túc nghiệt tổng nhân tình. Việc hay chấm dứt Hoa văn mùa xuân tàn, rụng bụi hương Gây việc trai gái, giữ vẻ trăng, muốn yên là nguyên nhân căn bản khiến bại gia. Áo cừu rách mướp đều do Kính, việc nhà tiêu vong là tội Ninh. Gây nghiệt đều vì tình Việc hay chấm dứt Xuân đi hương vẫn còn tươi, Nguyệt hoa gây vạ suy đồi vì ai? Nhà suy bởi tại Kính rồi Nhà tan truớc hết tội thời tại Ninh. Gây nên oan trái vì tình. Khúc kết  ,,,, ,,, ,   , ,, , Thu vĩ. Phi điểu các đầu lâm Vi quan đích, gia nghiệp điêu linh, phú quý đích, kim ngân táng tận, hữu ân đích, tử lý đào sinh, vô tình đích, phân minh báo ứng. Khiếm mệnh đích, mệnh dĩ hoàn, khiếm lệ đích, lệ dĩ tận. Oan oan tương báo thực phi khinh, phân ly tụ hợp giai tiền định. Tri mệnh đoản vấn tiền sinh, lão lai phú quý dã chân nghiêu hạnh. Khán phá đích, độn nhập không môn, si mê đích, uổng tống liễu tính mệnh. Hảo nhất tự, thực tận điểu đầu lâm, lạc liễu phiến bạch mang mang đại địa chân can tịnh. O GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 78 Gác bút. Chim bay tất cả về rừng Làm quan thì gia nghiệp điêu tàn, giàu có thì tiền bạc cạn hết; Có ơn thì trong cái chết sinh ra sự sống, vô tình thì báo ứng phân minh. Nợ số mệnh thì vận mệnh trở lại, nợ nước mắt thì lệ chảy cạn. Oán lại báo oán thực không nhẹ, chia ly gặp gỡ đều định trước. Biết mệnh ngắn hỏi kiếp trước, tuổi già giàu có thật là may mắn. Nhìn rõ thì vào được nơi cửa Phật, si mê thì uổng phí cả tính mệnh. Có thể nói rằng, hết lộc chim bay về rừng, nơi đất rộng man mác một màu yên tĩnh. Chim bay về rừng Quan thì cơ nghiệp suy tàn, Giàu thì vàng bạc cũng ta hết rồi. Có ơn, chết để trốn đời Rành rành báo ứng những ai phụ lòng. Mạng đền mạng đã trả xong. Lệ đền lệ đã ròng ròng tuôn rơi. Oan oan đừng lấy làm chơi Hợp tan đã trốn được trời hay chưa? Gian nan là bởi kiếp xưa Già mà phú quý là nhờ vận may. Khôn thì vào cửa không này Dại thì tính mệnh có ngày mất toi. Như chim khi đã mệt rồi. Bay về rừng thẳm đậu nơi yên lành  Chép nguyên tác Hán văn, phiên âm Hán Việt và dịch nghĩa: Nguyễn Hoàn Anh, Phùng Hoài Ngọc Phần dịch thơ: rút trong bản Hồng lâu mộng, Nxb Văn học, Hà Nội, 1996 GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 79 TÀI LIỆU THAM KHẢO Lâm Ngữ Đường. Nhân sinh quan và thơ văn Trung Hoa. 1994. Hà Nội. NXB Văn Hóa. Lê Nguyên Cẩn, Nguyễn Thị Diệu Linh. 2006. Tác gia tác phẩm văn học nước ngoài trong nhà trường - Tào Tuyết Cần. Hà Nội. NXB Đại học Sư phạm Hà Nội. Lê Tiến Dũng. 1998. Giáo trình lý luận văn học phần tác phẩm văn học. Hà Nội. NXB Giáo dục. Lỗ Tấn. 1996. Sơ lược lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc. Hà Nội. NXB Văn hóa. Lương Duy Thứ. 2002. Bài giảng văn học Trung Quốc.Thành phố Hồ Chí Minh. NXB Đại học Quốc gia TPHCM. Phan Thanh Anh. 2006. 60 cuốn sách nên đọc. Hà Nội. NXB Hà Nội. Phùng Hoài Ngọc. 2005. Đề cương Văn học Trung Quốc. Đại Học An Giang, Phùng Hoài Ngọc. 2008. Thi ca từ Trung Hoa. Thành phố Hồ Chí Minh. NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh. Nguyễn Gia Phu, Nguyễn Huy Quý. 2001. Lịch sử Trung Quốc. Hà Nội. NXB Giáo dục. Nguyễn Khắc Phi, Lương Duy Thứ. 1998. Văn học Trung Quốc (tập 2). Hà Nội. NXB Giáo dục. Nguyễn Khắc Phi, Lưu Đức Trung, Trần Lê Bảo. 2002. Lịch sử văn học Trung Quốc (tập 2). Hà Nội. NXB Đại học sư phạm Hà Nội. Nguyễn Thị Thu Giang. 2007. Hình tượng nhân vật nho sinh và hình tượng nhân vật phụ nữ trong Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh. Luận văn tốt nghiệp đại học Sư phạm Ngữ văn. GV hướng dẫn: Phùng Hoài Ngọc, Đại học An Giang. Nguyễn Thị Thu Thủy. 2000. Một vài phương diện nghệ thuật của kết cấu Hồng lâu mộng. Luận văn tốt nghiệp đại học sư phạm Ngữ Văn. Đại học Sư phạm Hà Nội. Nhật Chiêu. 2003. Câu chuyện văn chương phương Đông. Hà Nội. NXB Giáo dục. Nhiều tác giả. 1997. Lịch sử văn học Trung Quốc (tập 2). Hà Nội. NXB Giáo dục. Nhiều tác giả. 2004. Từ điển văn học bộ mới. Hà Nội. NXB Thế giới. Tào Tuyết Cần (người dịch: nhóm Vũ Bội Hoàng). 1996. Hồng lâu mộng,. Hà Nội. NXB Văn học. GVHD: Th.s Phùng Hoài Ngọc SVTH: Nguyễn Hoàn Anh 80 Trần Thị Thu Hiền.2001. Nghệ thuật xây dựng nhân vật chính diện trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng . Luận văn tốt nghiệp đại học sư phạm Ngữ Văn. Đại học Sư phạm Hà Nội Trần Xuân Đề. 2002. Tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc. Hà Nội. NXB Giáo dục Trịnh Ân Ba, Trịnh Thu Lôi. 2002 Văn học Trung Quốc. Hà Nội. NXB Thế giới. Trương Khánh Thiện, Lưu Vĩnh Lương. 2001. Mạn Đàm Hồng lâu mộng. Thừa Thiên- Huế. NXB Thuận Hóa. Trương Quốc Phong. Tiểu thuyết sử thoại các thời đại Trung Quốc. Thành phố Hồ Chí Minh. NXB Văn nghệ TPHCM WWW.VNTHUQUAN.NET Hết ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfXT1253.pdf
Tài liệu liên quan