Nghiên cứu các hệ thống chăn nuôi gia cầm trong nông hộ tại huyện Tam Dương, Tỉnh Vĩnh Phúc

Tài liệu Nghiên cứu các hệ thống chăn nuôi gia cầm trong nông hộ tại huyện Tam Dương, Tỉnh Vĩnh Phúc: ... Ebook Nghiên cứu các hệ thống chăn nuôi gia cầm trong nông hộ tại huyện Tam Dương, Tỉnh Vĩnh Phúc

doc122 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 09/12/2013 | Lượt xem: 1368 | Lượt tải: 9download
Tóm tắt tài liệu Nghiên cứu các hệ thống chăn nuôi gia cầm trong nông hộ tại huyện Tam Dương, Tỉnh Vĩnh Phúc, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o trêng ®¹i häc n«ng nghiÖp hµ néi ----------eêf---------- ®µO THÞ MINH TRANG NGHIÊN CỨU CÁC HỆ THỐNG CHĂN NUÔI GIA CẦM TRONG NÔNG HỘ TẠI HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC LuËn v¨n th¹c sÜ n«ng nghiÖp Chuyªn ngµnh : ch¨n nu«i M· sè : 60.62.40 Ngêi híng dÉn khoa häc: TS. bïi h÷u ®oµn Hµ Néi – 2009 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác. Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc. Tác giả Đào Thị Minh Trang LỜI CẢM ƠN Tôi xin chân trọng cảm ơn TS Bùi Hữu Đoàn, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài cũng như trong quá trình hoàn thành bản luận văn này. Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo ở Viện Đào tạo Sau đại học, Bộ môn Chăn nuôi chuyên khoa- Khoa chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn tốt nghiệp. Xin chân thành cảm ơn Phòng nông nghiệp huyện Tam Dương, UBND huyện Tam Dương, ban khuyến nông các xã, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện, nhiệt tình ủng hộ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp. Tác giả Đào Thị Minh Trang MỤC LỤC Lời cam đoan i Lời cảm ơn ii Mục lục iii Danh mục từ viết tắt v Danh mục các bảng vi Danh mục hình vii DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT HTNN Hệ thống nông nghiệp HSTNN Hệ sinh thái nông nghiệp SXNN Sản xuất nông nghiệp TBKT Tiến bộ kỹ thuật HTCN Hệ thống chăn nuôi ĐBSH Đồng bằng sông Hồng PTNT Phát triển nông thôn ĐTH Đô thị hoá HĐH Hiện đại hóa HST Hệ sinh thái PTNN Phát triển nông nghiệp CNH Công nghiệp hoá TTTA Tiêu tốn thức ăn KL Khối lượng TA Thức ăn CN Công nghiệp HH BTC Hỗn hợp bán thâm canh LN/C/L Lợi nhuận /con / lứa BTC Bán thâm canh LN/H/N Lợi nhuận/hộ/năm V.A.C Vườn – Ao - Chuồng Tr.đ Triệu đồng A/V Ao/vườn CNGC TC Chăn nuôi gia cầm thâm canh DANH MỤC CÁC BẢNG STT Tên bảng Trang 4.1 Dân số, lao động huyện Tam Dương năm 2008 47 4.2 Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế của huyên Tam Dương 51 4.3 Hiện trạng sử dụng đất tự nhiên của huyện Tam Dương qua các năm 2006-2008 53 4.4 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện năm 2008 55 4.5 Hiện trạng ngành chăn nuôi giai đoạn 2006-2008 56 4.6 Tốc độ phát triển đàn gia cầm huyện Tam Dương (1999 -2008) 58 4.7 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của các xã nghiên cứu năm 2008 61 4.8a Các hệ thống chăn nuôi gia cầm tại huyện Tam Dương 63 4.8b Thông tin chung về nông hộ điều tra theo các hệ thống 66 4.8c Cơ cấu đàn gia súc, gia cầm trong các hộ điều tra 68 4.8d Tình hình sử dụng vac xin cho đàn gia cầm của các hộ điều tra 69 4.8e Mức độ mắc bệnh trên đàn gia cầm nuôi trong các nông hộ 70 4.9a. Năng suất chăn nuôi gà, vịt sinh sản trong các hệ thống 80 4.9b Năng suất chăn nuôi gia cầm thịt trong các hệ thống 82 4.10 Hiệu quả chăn nuôi gia cầm theo các hệ thống 86 4.11 Khó khăn chủ yếu của nông hộ trong các hệ thống Chăn nuôi gia cầm 88 DANH MỤC HÌNH STT Tên bảng Trang 2.1 Hệ thống nông nghiệp theo Spedding (1981) 9 2.2 Mô hình hệ thống nông nghiệp theo Đào Thế Tuấn (1989) 10 2.3 Mô hình hoạt động của một cơ sở khai thác NN (Ph. Jouve, 1984) 12 2.4 Các cực của hệ thống chăn nuôi (Lhoste,1986) 19 2.5 Sơ đồ hoạt động của hệ thống chăn nuôi 25 2.6 Các loại hệ thống chăn nuôi trên thế giới 28 4.1 Cơ cấu các ngành kinh tế của huyện Tam Dương năm 2008 51 4.2 Hiện trạng sử dụng đất tự nhiên của huyện Tam Dương 53 4.3 Cơ cấu đất nông nghiệp của huyện Tam Dương năm 2008 55 4.4 Hiện trạng ngành chăn nuôi giai đoạn 2006- 2008 57 4.5. Tốc độ phát triển đàn gia cầm của huyện Tam Dương (1999- 2008) 59 4.6; 4.7; 4.8 Cơ cấu đất đai các xã nghiên cứu 62 4.9 Mô hình hoạt động của tiểu hệ thống chăn nuôi thâm canh gà thịt gia công 74 4.10 Mô hình hoạt động của hệ thống chăn nuôi gia cầm thâm canh 75 4.11 Mô hình hoạt động của hệ thống chăn nuôi gia cầm bán thâm canh 76 4.12 So sánh hiệu quả chăn nuôi gia cầm của các hệ thống (1000đ) 87 1. MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Sản xuất chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi gia cầm mang tính đặc thù vùng miền rất rõ rệt, thể hiện trong sự đa dạng về phương thức chăn nuôi, cơ cấu đàn giống, quy mô, mức độ thâm canh, cách thức tiêu thụ sản phẩm… đó là sự đa dạng các hệ thống chăn nuôi. Ngoài sự ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, sự đa dạng đó còn chịu ảnh hưởng và tác động của điều kiện kinh tế - xã hội, tập quán sản xuất và trình độ khoa học kỹ thuật của cộng đồng dân cư trong khu vực. Trước đây, khi nghiên cứu về chăn nuôi, người ta thường tiếp cận các vấn đề một cách đơn lẻ, cục bộ... tức là nghiên cứu, giải quyết từng vấn đề một, mang tính thời vụ, thường ở quy mô riêng lẻ như thức ăn, con giống hay vấn đề về phòng trừ dịch bệnh… Mặc dù những nghiên cứu theo lối tiếp cận này đã đạt được những thành tựu nhất định, phần nào đáp ứng được các đòi hỏi của thực tiễn và thúc đẩy chăn nuôi từng bước phát triển, nhưng phương pháp tiếp cận đó chưa xem xét các vấn đề chăn nuôi một cách toàn diện, chưa xác định mối quan hệ và tác động hữu cơ của các yếu tố quan trọng trong sản xuất cũng như ngoài sản xuất, nhất là những vấn đề thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội... Để chăn nuôi gia cầm phát triển một cách mạnh mẽ và bền vững, các nhà khoa học nhận thấy ngày nay, chúng ta cần phải áp dụng một phương pháp tiếp cận mới, nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống, đặt sự phát triển của ngành trong nhiều mối quan hệ hữu cơ khác, có tính đến sự đặc thù của mỗi vùng miền nghiên cứu. Trong những năm vừa qua, cùng với sự phát triển chung của đất nước trong thời kỳ hội nhập với nền kinh tế quốc tế, ngành chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi gia cầm ở tỉnh Vĩnh Phúc đã có những bước phát triển mới, góp phần to lớn vào sự phát triển kinh tế chung tỉnh nhà. Tam Dương là một huyện trung du miền núi của tỉnh Vĩnh phúc, có sự đa dạng về địa hình, có tỷ lệ dân số làm nông nghiệp cao nhất trong tỉnh và có phong trào chăn nuôi gia cầm công nghiệp phát triển sớm và nhanh nhất trong cả nước, do được tiếp cận sớm với ngành này nhờ có Trung tâm giống gia cầm Quốc gia trên địa bàn huyện. Bên cạnh đó, ngành chăn nuôi gia cầm của huyện còn chịu tác động tiêu cực của nhiều yếu tố như dịch bệnh thường xuyên đe dọa, giá cả thất thường... làm cho ngành chăn nuôi gia cầm trong huyện phát triển không mang tính bền vững. Việc nghiên cứu chăn nuôi gia cầm theo tư duy hệ thống, tìm ra sự đa dạng, đánh giá được chăn nuôi một cách toàn diện với đầy đủ các mảng sáng, tối ... từ đó, tìm ra các giải pháp để thúc đẩy phát triển chăn nuôi gia cầm một cách đồng bộ, là một nhu cầu bức xúc của địa phương. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu các hệ thống chăn nuôi gia cầm trong nông hộ tại huyện Tam Dương, Tỉnh Vĩnh Phúc” 1.2 Mục tiêu của đề tài - Xác định và đặc điểm hoá các hệ thống chăn nuôi gia cầm của huyện - Đánh giá năng suất, hiệu quả kinh tế của các hệ thống chăn nuôi gia cầm - Chỉ ra được những khó khăn và các cản trở trong các hệ thống - Đề xuất những giải pháp thúc đẩy phát triển chăn nuôi gia cầm của huyện. 1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài Ý nghĩa khoa học: đề tài góp phần hoàn thiện hơn về phương pháp nghiên cứu hệ thống chăn nuôi. Góp phần làm rõ hơn cơ sở khoa học cho việc phát triển chăn nuôi gia cầm trong nông hộ. Ý nghĩa thực tiễn: đề tài góp phần khảo sát, đánh giá thực trạng các hệ thống chăn nuôi gia cầm của huyện Tam Dương, thấy được những mặt mạnh và điểm hạn chế của từng hệ thống, để từ đó có những đề xuất về giải pháp phát triển chăn nuôi gia cầm giúp cho huyện có những định hướng về chính sách phát triển kinh tế, đặc biệt là kinh tế chăn nuôi trong nông hộ một cách hiệu quả và bền vững. 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở lý luận 2.1.1 Lý luận về hệ thống “Hệ thống” là khái niệm từ lâu đã được coi như một bộ phận trong tư duy của nhân loại, nó giúp con người có thể khai thác và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách có hiệu quả hơn. Đồng thời khái niệm này này còn góp phần, để con người hoạch định cho sự phát triển một cách bền vững . Theo L.Von Bertalanffy thì hệ thống có thể hiểu là: “Tập hợp các yếu tố có liên quan với nhau thông qua các mối quan hệ và tạo thành một tổ chức nhất định để thực hiện một số chức năng nào đó”. Theo lý thuyết này, hệ thống là sự logic hoá các mối quan hệ được khẳng định bao gồm sự tổng hoà, sự đa dạng và phát triển cao của các tổ chức, sự tập trung hoá, sự cân bằng và sự phân hạng thứ bậc. Theo Rusell L.A.(1971,dẫn theo [11]), nhận thức về hệ thống đã đóng vai trò rất quan trọng trong nghiên cứu khoa học hiện nay, đó là việc vận dụng các quan điểm hệ thống vào nghiên cứu ứng dụng, là sự quan tâm đồng thời nhiều yếu tố hậy thống ở cùng thời điểm nghiên cứu chứ không phải là sự tách biệt từng yếu tố riêng lẻ. Theo Spedding (1979) [38] thì “Hệ thống là một nhóm các thành phần tác động lẫn nhau, hoạt động cho một mục đích chung, có khả năng phản ứng như một tổng thể với kích thích bên ngoài: nghĩa là hệ thống không những phản ứng trực tiếp với kích thích bên ngoài bằng các đầu ra của nó mà còn thông qua một số các cơ chế thuận nghịch trong phạm vi hệ thống” Thành phần của hệ thống là yếu tố (hay nguyên tố). Trong hệ thống giữa các yếu tố có mối liên hệ hay tác động lẫn nhau và các mối liên hệ hay tác động lẫn nhau bên trong hệ thống mạnh hơn bên ngoài hệ thống. Các mối liên hệ và tác động ấy tạo lên trật tự bên trong hệ thống (Đào Thế Tuấn, Phạm Tiến Dũng, 1993) [9] Theo tác giả Phạm Chí Thành (1996)[22] thì hệ thống là một tập hợp các phân tử có quan hệ với nhau tạo nên một chỉnh thể thống nhất và vận động, nhờ đó làm xuất hiện những thuộc tính mới gọi là tính trồi. Như vậy hệ thống không phải là một phép cộng đơn giản giữa các thành phần mà điều quan trọng là có sự tương tác giữa các phần tử làm xuất hiện các tính trồi Tuy nhiên, bản thân hệ thống không phải là con số cộng của các bộ phận của nó, mà là bộ phận cùng hoạt động, những bộ phận có hể cùng hoạt động theo nhiều cách khác nhau. Chúng cùng hoạt động theo những cách nhất định để sản sinh ra những kết quả nhất định. Và những kết quả này chính là sản phẩm của cả một hệ thống chứ không phải là một bộ phận nào đó trong hệ thống” Như vậy, hệ thống là một tổng thể các liên kết và trật tự sắp đặt mọi yếu tố trong sự tác động qua lại, chúng có thể được xác định như một tập hợp các đối tượng hoặc các thuộc tính và liên kết với nhau bởi nhiều mối liên hệ tương đồng. Một sự thay đổi của một yếu tố có thể trực tiếp hoặc gián tiếp dẫn đến sự thay đổi của nhiều nhân tố khác trong toàn bộ hệ thống. Bởi vậy nếu chúng ta chỉ chú ý tới một khía cạnh hoặc một yếu tố độc lập nào đó của hệ thống thì rất khó đạt được hiệu quả mong muốn. Rusell L.A khẳng định rằng nếu mỗi phần tử riêng lẻ của hệ thống hoạt động độc lập để đạt được mục đích riêng tối đa thì kết quả chung của toàn bộ hệ thống sẽ không tốt như kết quả tương tác của toàn hệ thống. Trong hệ thống, các yếu tố có mối quan hệ và tác động qua lại với nhau và với các yếu tố bên ngoài hệ thống. Các mối liên hệ và tác động bên trong thường mạnh hơn so với mối liên hệ và tác động với các yếu tố bên ngoài hệ thống. Các mỗi quan hệ và tác động đó đều theo một cách thức nhất định nào đó để sản sinh ra những kết quả nhất định. Những kết quả này chính là sản phẩm của cả một hệ thống chứ không phải của một bộ phận nào đó trong hệ thống. Kết quả đó phụ thuộc vào cách thức tác động bên trong và bên ngoài hệ thống. Như vậy mối quan hệ, sự tác động bên trong và bên ngoài hệ thống là điều kiện để duy trì sự tồn tại và phát triển hệ thống. Theo Rusell L.A (1971, dẫn theo [11] “nhận thức hệ thống đã đóng vai trò rất quan trọng trong nghiên cứu khoa học hiện nay. Đó là việc vận dụng các quan điểm hệ thống vào nghiên cứu ứng dụng là sự quan tâm đồng thời nhiều yếu tố trong hệ thống ở cùng một thời điểm nghiên cứu chứ không phải là sự tách biệt từng yếu tố riêng lẻ”. Nhận thức về hệ thống đã được đơn giản hoá là một thực thể bao gồm ít nhất 2 nhân tố và có sự quan hệ qua lại với nhau. Mỗi nhân tố đều có thể liên hệ hoặc bị chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp của nhân tố khác. Chính vì vậy khi nghiên cứu hệ thống chúng ta cần phải quan tâm đến 2 vấn đề đó là: + Nhận dạng cấu trúc của hệ thống, tức là xác định ranh giới của nó, ta phải phân biệt cái gì là bộ phận của hệ thống, cái gì là bộ phận của môi trường hệ thống. Ta làm công việc này như thế nào là phụ thuộc một phần vào cường độ của những liên hệ chức năng giữa những sự vật và một phần phụ thuộc vào mục tiêu nghiên cứu của chúng ta. Đặc điểm hoá các yếu tố cấu tạo nên hệ thống, xác định được mối quan hệ của nó và định vị nó cả về không gian và thời gian. + Nghiên cứu về chức năng của hệ thống, có nghĩa là nghiên cứu về các mối quan hệ các tương tác của các yếu tố với nhau trong hệ thống và với môi trường xung quanh hệ thống. Các mối quan hệ, các mối tương tác giữa các yếu tố khác nhau của một hệ thống thường rất khó mô tả, nên chúng ta thường sử dụng các mô hình đại diện. Những cái mà chúng ta thường sử dụng chính là các yếu tố định tính. Nó cho phép chúng ta hiểu được sự khớp nối, vai trò các quan hệ giữa các yếu tố với nhau và rút ra được định hướng cũng như đưa ra các giả thiết cho sự tiến triển Một hệ thống không phải là một cấu trúc ổn đinh mà là một cấu trúc năng động, cấu trúc này tự điều chỉnh thông qua một yếu tố điều chỉnh thường xuyên của các quan hệ giữa các yếu tố khác nhau. Hệ thống cũng là một cấu trúc mà nó tiến triển và tự biến đổi không ngừng bởi những sự biến đổi bên trong của các yếu tố hệ thống và cũng có các tương tác với bên ngoài. Nghiên cứu hệ thống không phải chỉ giới hạn ở việc mô tả cấu trúc của hệ thống. Nghiên cứu về chức năng và sự biến đổi của hệ thống cho phép chúng ta có thể hiểu về hệ thống. Giữa cấu trúc hệ thống và quá trình của hệ thống có liên quan với nhau. Quá trình được hình thành bởi cấu trúc và đồng thời cấu trúc cũng được hình thành bởi quá trình, chúng là hai mặt của một vấn đề. Phân biệt cấu trúc và quá trình để phân tích hệ thống và đây là một cách để nghiên cứu hệ thống. Nghiên cứu về quá trình của hệ thống chính là khảo sát và ghi lại cách mà hệ thống hoạt động theo thời gian, cách mà các bộ phận tác động lẫn nhau như thế nào. Hiện nay có 2 phương pháp nghiên cứu hệ thống chủ yếu là: - Nghiên cứu nhằm cải tiến và hoàn thiện hệ thống đã có sẵn. Nghĩa là dùng phương pháp phân tích và chẩn đoán hệ thống để tìm ra “điểm hẹp” của hệ thống để từ đó tác động tạo tính “trồi” cao, thúc đẩy hệ thống phát triển. - Nghiên cứu xây dựng hệ thống mới. Trong phân tích hệ thống có 2 công cụ được sử dụng phổ biến là: - Kỹ thuật mô hình hoá (modeles de répesentation): Nghĩa là xây dựng mô hình đại diện thông qua các biến định tính. Thông qua các mô hình này chúng ta có thể hiểu rõ hơn về sự khớp nối, các mối quan hệ bên trong và bên ngoài hệ thống để thấy được những “cản trở”cũng như những “tiềm năng” và đưa ra những định hướng, các giả thiết cho sự tiến triển. - Phương pháp phân tích thống kê 2.1.2 Lý luận về hệ thống nông nghiệp 2.1.2.1 Khái niệm về hệ thống nông nghiệp * Hệ thống nông nghiệp: Khái niệm về hệ thống nông nghiệp có thể nhìn từ nhiều góc độ khác nhau và sự áp dụng vào nghiên cứu phát triển nông thôn cũng khác nhau ở mỗi nước. Trước tiên phải nói đến khái niệm hệ thống nông trại (Farming systems) ở thế kỷ 19 do nhà nông học người Đức Vonwulfen (1823) đề xuất. Ông sử dụng đầu vào, đầu ra của một nông trại, coi là một tổng thể để nghiên cứu độ màu mỡ của đất. Tuy vậy, trong một thời gian dài, tiếp cận này không được phổ biến. Ở các nước nói tiếng Anh còn có khái niệm hệ sinh thái nông nghiệp (Agroecosystems) hay hệ thống nông nghiệp (Agricultural systems) thực chất đồng nghĩa với khái niệm hệ thống nông trại, chỉ các mối liên hệ phức tạp của các quá trình xã hội, sinh học và sinh thái bên ngoài và bên trong. Spedding (1981), Alteri (1987) dẫn theo [16] định nghĩa hệ thống nông nghiệp là các đơn vị hoạt động nông nghiệp bao gồm tất cả các sự thay đổi về kích thước và độ phức tạp mà người ta gọi là doanh nghiệp nông trại, nông nghiệp của một vùng. Mô hình hệ thống nông nghiệp mà Spedding đưa ra được thể hiện qua sơ đồ sau: Qua sơ đồ này tác giả biểu diễn mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào, đầu ra của 2 thành phần chính trong hệ thống là cây trồng và vật nuôi với các yếu tố môi trường và ngoại cảnh. Những yếu tố kinh tế- xã hội ảnh hưởng tới hệ thống chưa được đề cập tới., không phân tích được mối quan hệ bên trong của hệ thống. Vật nuôi Cây trồng Sản phẩm vật nuôi Sản phẩm cây trồng Chất thải Nước và dinh dưỡng Bức xạ mặt trời Sức sản xuất Cây trồng Hình 2.1 Hệ thống nông nghiệp theo Spedding (1981) Khái niệm về hệ thống nông nghiệp (Agricultural systems) được các nhà địa lý dùng từ lâu để phân kiểu nông nghiệp trên thế giới và nghiên cứu sự tiến hoá của chúng. Các nhà kinh tế nông nghiệp khi nghiên cứu quản lý nông trại đã đề xuất khái niệm hệ thống sản xuất (production systems) coi nông trại như một phối hợp của các hệ thống trồng trọt, đồng cỏ, chăn nuôi, quản lý tài chính (Đào Thế Tuấn, 1989) [ 26]. Ở Pháp vào những năm 70 của thế kỷ XX, cũng có xu hướng nghiên cứu mới gọi là nghiên cứu phát triển nhằm thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp. Lúc đầu xu hướng này cũng có những cách hiểu khác nhau, đến năm 1980, sau khi tổng kết 5 năm làm thử ở các nơi mới thống nhất lại định nghĩa: nghiên cứu phát triển ở môi trường nông thôn là một cuộc thử nghiệm ở môi trường vật lý và xã hội thực (quy mô thực). Các khả năng và điều kiện của sự thay đổi thuật (thâm canh, bố trí lại) và xã hội (tổ chức của người sản xuất, hỗ trợ hành chính và nửa hành chính). Các nghiên cứu trên đã dẫn đến hiện nay có một số định nghĩa về hệ thống nông nghiệp như sau: + Hệ thống nông nghiệp là sự biểu hiện không gian của sự phối hợp các ngành sản xuất và các kỹ thuật do một xã hội thực hiện để thoả mãn các nhu cầu. Nó biểu hiện đặc biệt sự tác động qua lại giữa một hệ thống sinh học- sinh thái mà môi trường tự nhiên là đại diện và một hệ thống xã hội- văn hoá, qua các hoạt động xuất phát từ những thành quả kỹ thuật (Đào Thế Tuấn, 1989) [ 26] Lương thực Cây công nghiệp Sản phẩm chăn nuôi Sản phẩm chế biến Xuất nhập Thành thị Trồng trọt Thị trường Dân số Trồng trọt Chăn nuôi Chế biến Đất Lao động Vốn Tiến bộ KT Thu nhập Tích lũy Tiêu dùng Hình 2.2. Mô hình hệ thống nông nghiệp theo Đào Thế Tuấn (1989) Mô hình này đã thể hiện được mối quan hệ giữa các thành phần của hệ thống, bao gồm cả yếu tố tự nhiên, sinh học và kinh tế -xã hội. Vai trò của con người đã chi phối rất nhiều tới sự hoạt động của hệ thống. Trong mô hình hệ thống nông nghiệp, ngoài các yếu tố ngoại cảnh và sinh học (hệ sinh thái nông nghiệp) còn có các yếu tố kinh tế- xã hội chi phối. + Hệ thống nông nghiệp là phương thức khai thác môi trường, được tạo thành mang tính lịch sử, bền vững, với một lực lượng sản xuất phù hợp với các điều kiện sinh khí hậu của một môi trường nhất định và đáp ứng được các điều kiện cũng như yêu cầu của xã hội vào thời điểm đó (Mazoyer,1985, dẫn theo[1] Nói đơn giản HTNN tương ứng với các phương thức khai thác nông nghiệp của một không gian nhất định do một xã hội tiến hành, là kết quả của sự phối hợp của các nhân tố tự nhiên, xã hội- văn hoá, kinh tế và kỹ thuật Theo Trần Danh Thìn, Nguyễn Huy Trí (2006)[23] HTNN là hệ thống liên hệ giữa các HSTNN ở các mức độ không gian khác nhau với các hoạt động kinh tế- xã hội của con người trong phạm vi không gian của hệ thống . Đó là sự kết hợp giữa hệ thống tự nhiên và hệ thống xã hội trong phạm vi sản xuất nông nghiệp. * Hệ thống nông nghiệp bền vững: Theo Eckert và Breitschuh (1994) nông nghiệp bền vững là sự quản lý và sử dụng hệ sinh thái nông nghiệp bằng cách duy trì tính đa dạng, năng suất và khả năng tái sinh và hoạt động của nó, để nó có thể hoàn thành những chức năng kinh tế, xã hội và sinh thái hiện tại và trong tương lai trên phạm vi địa phương, quốc gia và toàn cầu mà không làm tổn hại đến các hệ sinh thái khác (Trần Danh Thìn, Nguyễn Huy Trí (2006) [23] Trong thực tế hiện tại, vẫn còn nhiều quan điểm tồn tại về nhận thức và tiếp cận hệ thống nông nghiệp. Tuy nhiên, mục đích chung của các quan điểm về hệ thống nông nghiệp đều hướng tới việc khai thác có hiệu quả các điều kiện tự nhiên, môi trường xung quanh, đồng thời đảm bảo tính bền vững và lâu dài trong việc khai thác. Một số đặc điểm chung của tiếp cận hệ thống nông nghiệp hiện đại theo Trần Ngọc Ngoạn (1999) [18] là: Những cản trở và khả năng của môi trường KT-XH Những cản trở và khả năng của môi trường tự nhiên của CSSX Nhóm người trong gia đình Những mục tiêu của chủ hộ Các phương tiện sản xuất sẵn có: Đất đai Lao động Vật chất Vốn Các quyết định kỹ thuật Hệ thống kỹ thuật sản xuất HTKTSX= HTTT + HTCN Tiến trình kỹ thuật sản xuất Hệ thống quản lý Dạng thể thức các phương tiện sản xuất Hệ thống sản xuất trồng trọt và chăn nuôi Mua Bán Hình 2.3 Mô hình hoạt động của một cơ sở khai thác NN (Ph. Jouve, 1984) + Sự tiếp cận từ dưới lên (bottom up), sử dụng phương pháp quan sát và phân tích hệ thống nông nghiệp để tìm hiểu các khó khăn, các nhu cầu cấp thiết của nhân dân để có tác động hợp lý. Trong lối tiếp cận này , phương pháp nghiên cứu được áp dụng đó là quan sát và phân tích hệ thống xem hệ thống bị “mắc” ở chỗ nào để tìm cách can thiệp nhằm giải quyết những cản trở. Do vậy cách tiếp cận thường gồm 3 giai đoạn nghiên cứu đó là: chẩn đoán, thiết kế và thử nghiệm triển khai. Tiếp cận “dưới lên” rất quan tâm đến việc tìm hiểu lôgic ra quyết định của người nông dân, qua đó đưa ra được các giải pháp để người nông dân có thể tiếp thu và áp dụng, ra quyết định (Sơ đồ 2.3) + Coi trọng các mối quan hệ xã hội nhân văn như các nhân tố của hệ thống + Phân tích động thái của sự phát triển trong hệ thống. 2.1.2.2 Phương pháp nghiên cứu hệ thống nông nghiệp Theo quan điểm nghiên cứu hệ thống nông nghiệp của các nhà nghiên cứu hệ thống nông nghiệp hiện đại, mà một trong những đại diện xuất sắc là nhóm nghiên cứu hệ thống nông trại KKV- USAID, Thái Lan đã ứng dụng rộng rãi các khái niệm và phân tích hệ thống sinh thái nông nghiệp theo Conway. Các lý luận để nghiên cứu và ứng dụng được phát triển trên cơ sở của một số lý thuyết hệ thống khác gồm: - Lý thuyết hệ thống sinh thái nhân văn - Lý thuyết hệ thống sinh thái nông nghiệp - Phân tích hệ thống sinh thái nông nghiệp làng. Việc sử dụng khái niệm phân tích các hệ thống nêu trên với công cụ là kỹ thuật đánh giá nhanh nông thôn hoặc đánh giá nông thôn có sự tham gia của nông dân, được coi là điểm mấu chốt trong nghiên cứu hệ thống nông nghiệp. Theo tác giả Đào Châu Thu (2003) [24] Trong lịch sử nghiên cứu phát triển HTNN có rất nhiều quan điểm về tiếp cận hệ thống khác nhau. Khi nghiên cứu mỗi hiện tượng hoặc đối tượng thực tế phải đặt đối tượng đó trong một hệ thống nhất định. Nội dung của quan điểm này là: Khi nghiên cứu một hệ thống không chỉ nghiên cứu riêng rẽ các phần tử mà phải nghiên cứu trong mối quan hệ với các phần tử khác và đặc biệt chú ý đến thuộc tính mới xuất hiện. Khi nghiên cứu hệ thống phải xem xét đến sự tương tác của nó với môi trường để xác định rõ hơn hành vi và mục tiêu hoạt động của hệ thống. Phải xác định rõ mức cấu trúc của hệ thống. Cần kết hợp các mục tiêu của hệ thống để đạt được những mục tiêu đã định. Phải kết hợp giữa cấu trúc và hành vi của hệ thống. Các hệ thống thường là đa cấu trúc, vì vậy cần nghiên cứu theo nhiều giác độ rồi kết hợp lại. Trong nghiên cứu tiếp cận sinh thái vùng tại lưu vực sông Hồng, các tác giả Jean-Christophe Castella, Suan Pheng Kam, Chu Thái Hoành (2002) [13] đã rút ra bài học: Người làm công tác nghiên cứu cần phải chuyển từ vai trò của chuyên gia hay giảng viên sang vai trò của người hướng dẫn trong quá trình học hỏi lẫn nhau, tiếp cận theo kiểu chuyển giao tiến bộ ký thuật sang hướng tiếp cận giải quyết các vấn đề tổng hợp trong quá trình phát triển. Các tác giả Trần Trọng Hiếu, Jean-Christophe Castella, Yann Eguienta (2002) [12], sử dụng mô hình 3D như một công cụ giao tiếp trong quá trình nghiên cứu, nó trợ giúp cho quá trình đối thoại giữa các tác nhân, tạo ngôn ngữ chung liên kết nhà nghiên với người dân địa phương, đảm bảo sự hài hòa trong hoạt động sản xuất mang tính cá thể với vấn đề quản lý cộng đồng các nguồn tài nguyên ở cấp thôn, bản. Thống nhất giữa các nhân tố là điều kiện cốt yếu quyết định sự thành công trong các chính sách của nhà nước, vì các tác nhân tham gia thường nhiều và đa dạng. Các tác giả F.Jesus, R.bourgeois, JF Le Coq, Đào Thế Tuấn và cộng sự (2002) [29], trong khuôn khổ dự án Ecopol đã phát triển một cách tiếp cận độc đáo, nhằm giúp việc ra quyết định được thống nhất trong quá trình xây dựng và thực hiện các chính sách về nông nghiệp. Đó là cách tiếp cận Ecopol. Các bước và công cụ tiếp cận “Ecopol” bao gồm: (1) Xác định mục đích của chính sách nông nghiệp cùng các tác nhân; (2) Xác định các tác nhân có liên quan; (3) Xác định thách thức; (4) Xác định hành động; (5) Xây dựng một chiến lược chung; (6) Theo dõi quá trình cùng ra quyết định. Trong chương trình hợp tác giữa Danida và Chính phủ Việt Nam, các tác giả đã đưa ra quan điểm, biện pháp tiếp cận về phát triển nông thôn: - Nghiên cứu cần phải có tính sáng tạo và từ dưới lên (làm việc xuất phát từ các nhu cầu thực tế của nông dân) - Củng cố phân cấp và dân chủ hóa. - Tăng cường năng lực của chính quyền địa phương. (Báo cáo của Danida trong phiên họp toàn thể ISG, 2007 [2]) Tác giả Nguyễn Cao Thịnh (2008) [46 ] đề xuất 6 phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu phát triển kinh tế trang trại. Đó là: (1) Phương pháp tiếp cận duy vật; (2) Phương pháp tiếp cận dựa trên quan điểm kinh tế; (3) Phương pháp tiếp cận hệ thống; (4) Phương pháp tiếp cận xã hội học; (5) Phương pháp tiếp cận dân tộc học; (6) Phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân (PRA) và phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA). Mỗi phương pháp tiếp cận có ưu, nhược điểm khác nhau, khi sử dụng các phương pháp sẽ có sự bổ khuyết cho nhau, từ đó giúp cho việc nghiên cứu sẽ đảm bảo tính khoa học, toàn diện và chính xác hơn. Theo Trần Lê và Đào Thế Tuấn (2005) [49], từ trước đến nay ta chỉ quen với cách tiếp cận công nghệ thuần tuý, không tiếp cận lôi kéo bằng thị trường. Khiến cho sản xuất ra nhưng không tiêu thụ được sản phẩm. Chúng ta cần có chính sách hướng mạnh vào thị trường trong nước phát triển nhanh chóng, dùng thị trường trong nước để thúc đẩy nông nghiệp phát triển. Theo tác giả Đào Thế Tuấn (2002) [ 30], tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu nông nghiệp là lấy cái tổng thể làm đối tượng nghiên cứu và đi từ cái phức tạp đến cái đơn giản. Phân chia quá trình SXNN ra làm nhiều bộ môn khoa học chuyên ngành ngày càng chi tiết. Các nghiên cứu HTNN đều phải bắt đầu bằng việc mô tả cấu trúc của hệ thống, hộ nông dân đóng vai trò trung tâm và được đặt trong các mối quan hệ của nó với môi trường tự nhiên và rộng hơn là kinh tế – xã hội xung quanh. Trong lịch sử nghiên cứu HTNN đã hình thành nhiều hướng nghiên cứu khác nhau, được tác giả Đào Châu Thu (2003) [24] tổng kết như sau: - Các hướng nghiên cứu cũ: Nghiên cứu và phát triển SXNN theo kiểu áp đặt. - Hướng nghiên cứu theo kiểu chỉ tác động vào một yếu tố kỹ thuật. - Hướng nghiên cứu mới: Lấy nông hộ là đối tượng nghiên cứu, tiếp cận và phục vụ. Trong hướng nghiên cứu mới này, các nhà nghiên cứu không chỉ thông qua hệ thống khuyến nông để chuyển giao TBKT mới đến người dân mà còn tiếp cận trực tiếp với nông dân và đặc biệt rất coi trọng ý kiến phản hồi của họ để tiếp tục hoàn thiện kỹ thuật cho phù hợp với thực tế hơn. Tóm lại, quá trình nghiên cứu có thể chia ra thành 3 bước sau: + Chẩn đoán và phân loại + Thiết kế và làm thử + Mở rộng. Việc chẩn đoán nhằm đặc điểm hóa hệ thống, tìm hiểu hệ thống nông nghiệp, xác định những điều kiện quyết định tới sự phát triển của hệ thống và xác định các hạn chế, cản trở của hệ thống . Hệ thống nông nghiệp, hộ nông dân thường rất phức tạp và không đồng hệ thống nên cần xác định xem kiểu nào chiếm ưu thế trong hệ thống để ưu tiên phát triển. Trong thực tế đựa vào mục đích nghiên cứu mà lựa chọn tiêu chí phân kiểu nông hộ khác nhau. Giai đoan thiết kế làm thử và giai đoạn mở rộng chính là các giải pháp cụ thể tác động vào các“cản trở” và thử nghiệm mở chúng trên địa bàn nghiên cứu Để giải quyết được các vấn đề nêu trên, theo tác giả Đào Thế Tuấn (2002) [30], cần tiến hành nghiên cứu theo các nhóm chủ đề chính sau đây: (1) Nghiên cứu về hoạt động của hộ nông dân; (2) Nghiên cứu các phương thức điều phối trong các ngành hàng nông sản và vấn đề quan hệ của hộ nông dân với thị trường; (3) Nghiên cứu các hình thức hợp tác của hộ nông dân như là những phương tiện để đối phó với thị trường; (4) Nghiên cứu về tổ chức không gian nông thôn và quan hệ của các hoạt động kinh tế; (5) Nghiên cứu tổng hợp và đánh giá ảnh hưởng của các dự án phát triển, chính sách nông nghiệp đến môi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội, con người. 2.1.3 Lý luận về hệ thống chăn nuôi 2.1.3.1 Khái niệm về hệ thống chăn nuôi Hoạt động sản xuất chăn nuôi là do nông dân hay người chăn nuôi tiến hành. Họ sử dụng hai nhóm yếu tố chính cho hoạt động sản xuất này đó là: gia súc và môi trường. Theo M.Sebillotle (1974, dẫn theo [16]) cho rằng khoa học chăn nuôi cần phải nghiên cứu các mối quan hệ được xây dựng lên từ đàn gia súc và môi trường của nó, giữa gia súc và môi trường phải được coi là một tổng thể cùng chịu tác động của con người để hình thành lên các quy luật hoạt động của đàn gia súc này. Như vậy quan điểm hệ thống không những cần phải tổng hợp các yếu tố lại mà còn phải khớp nối các yếu tố đó với nhau. Theo Ph.Lhoste (1986,dẫn theo[11]) HTCN là toàn bộ các kỹ thuật và các thực tiễn được sử dụng bởi một cộng đồng để khai thác một khoảng không nhất định các nguồn tài nguyên thực vật bởi các động vật trong các điều kiện tương ứng với các mục tiêu của cộng đồng và các cản trở của môi trường Hệ thống chăn nuôi là sự kết hợp các nguồn lực, các loài gia súc, các phương tiện kỹ thuật và các thực tiễn bởi một công đồng hay một người chăn nuôi nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ thông qua các gia súc làm giá trị hóa các nguồn lực tự nhiên. Như vậy theo định nghĩa này thì hệ thống chăn._. nuôi bao gồm 3 cực chính: - “Cực con người” đó là tác nhân và gia đình (đôi khi có thể là một cộng đồng) - “Cực đất đai”đó là các nguồn lực mà gia súc sử dụng - “Cực gia súc” đó là gia súc Chúng ta thấy “cực con người” giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống. Cực này có thể là người trực tiếp chăn nuôi, gia đình chăn nuôi, cũng có thể là một cộng đồng những người chăn nuôi. “Cực đất đai” đó chính là các nguồn lực tự nhiên: chủ yếu là đất đai và nguồn nước, ở đó sản xuất ra nguồn thức ăn cho gia súc thông qua thảm thực vật. Con người căn cứ vào điều kiện sinh thái cụ thể mà quyết định sử dụng nguồn lực này như thế nào. “ Cực gia súc” là đối tượng chính trong hệ thống chăn nuôi. Con người quyết định chăn nuôi loại gia súc nào hay kết hợp chăn nuôi các loại gia súc nào phụ thuộc rất lớn vào mục tiêu chăn nuôi hay điều kiện lãnh thổ (hệ thống sản xuất thức ăn), mối quan hệ này rất chặt chẽ nhất là động vật ăn cỏ, còn các loài khác thì mối quan hệ này có phần lỏng lẻo hơn. Ta có thể mô tả khái niệm hệ thống chăn nuôi thông qua sơ đồ các cực của hệ thống chăn nuôi của Lhoste, 1986 như sau Người chăn nuôi Tiến triển theo thời gian Dân tộc, gia đình, hội, nhóm... Cấp đô ra quyết định Các nhu cầu, dự án Địa vị Tổ chức đất đai Quản lý không gian Chiến lược di chuyển Các thực tiễn Các chức năng khác nhau Giá trị hóa Lãnh thổ Cơ cấu Sản xuất sơ cấp Việc sử dụng bởi gia súc Hệ thống sản xuất thức ăn thô xanh ứng xử Thức ăn Không gian Đàn gia súc Loài, giống Số lượng, thành phần Sự thay đổi Năng suất Thời gian Hình 2.4 Các cực của hệ thống chăn nuôi (Lhoste,1986) * Gia súc: Mỗi một hệ thống chăn nuôi có một loài gia súc và một giống gia súc riêng. Song nhìn chung số lượng loài động vật sử dụng trong chăn nuôi ít hơn rất nhiều so với các giống thực vật. Một số loài động vật chính sử dụng trong nông nghiệp theo Ir. Geert Montsma, 1982 (dẫn theo Vũ Đình Tôn, 2003) [25] gồm - Loài ăn cỏ gồm: + Động vật nhai lại: trâu, bò, dê, cừu, lạc đà, voi… + Động vật không nhai lại: ngựa, thỏ - Các loài khác: lợn, gia cầm, các loài cá, côn trùng (ong, tằm)… Sở dĩ có điều này có thể là do những đòi hỏi đặc biệt để động vật có thể trở thành gia súc. Đồng thời trong các loài cũng có sự khác nhau rất lớn. Các loài cũng có thể phân biệt theo khả năng thích nghi với môi trường. * Môi trường: Không chỉ có các điều kiện môi trường làm ảnh hưởng đến việc chăn nuôi mà con người có tác động rất lớn đến chăn nuôi (phương thức chăn nuôi). Nói chung, các hệ thống chăn nuôi quảng canh thì, yếu tố môi trường là tác nhân chọn lọc chính thông qua việc tạo ra các điều kiện thích hợp như chuồng trại, thức ăn, chăm sóc sức khỏe vật nuôi. Trong chăn nuôi các yếu tố môi trường không phải có tác động độc lập mà trái lại nó có tương tác lẫn nhau. Yếu tố môi trường chia ra làm 3 nhóm chính gồm: - Môi trường tự nhiên là: khí hậu, đất đai, nước + Khí hậu bao gồm nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa: Đây là yếu tố rất quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến chăn nuôi thông qua các điều kiện về nhiệt độ và ẩm độ. Thông thường mỗi loài hay giống gia súc có điều kiện nhiệt độ tối ưu, tối thấp và tối đa. Nếu vượt ra khỏi giới hạn này đều có tác động xấu tới năng suất vật nuôi và thậm chí gây chết thông qua thông qua phá vỡ cân bằng thân nhiệt của gia súc. Ngoài tác động trực tiếp thì các tác động gián tiếp cũng không kém phần quan trọng thông qua sự phát triển của thảm thực vật, sự phát triển của các tác nhân gây bệnh. + Đất, nước: cũng có tác động trực tiếp và gián tiếp đến sự phát triển gia súc thông qua sự phát triển của thảm thực vật, nguồn nước uống. - Môi trường sinh học gồm thực vật, động vật: + Thực vật (Flora): là nguồn cung cấp thức ăn quan trọng cho gia súc. Chất lượng của cây trồng sẽ có ảnh hưởng rõ rệt tới năng suất vật nuôi. Một số loại cây trồng có giá trị dinh dưỡng cao đã được phát triển nhằm nâng cao năng suất chăn nuôi, hay sự kết hợp các cây họ đậu và cây ho hòa thảo nhằm đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho vật nuôi đang rất phổ biến. + Động vật (Fauna): Ở đây đề cập chủ yếu đến những động vật ký sinh hay vật truyền mầm bệnh (các loài hút máu như côn trùng và ve là những tác nhân truyền bệnh chính). - Môi trường kinh tế- xã hội: + Quyền sở hữu đất đai: thường có 2 loại đó là sở hữu cộng đồng (tập thể) và sở hữu cá nhân. Ở Việt nam khái niệm được nhắc đến chủ yếu là quyền sử dụng. Với các hình thức hữu khác nhau sẽ dẫn đến quyền chăn thả, cũng như mức đầu tư khác nhau. Đất thuộc quyền sở hữu của tư nhân thường được đầu tư thâm canh tạo ra năng suất cao hơn và như vậy có điều kiện phát triển chăn nuôi hơn + Vốn: có thể là tự có hoặc nguồn vốn vay. Nhìn chung việc tiếp cận vốn vẫn là điều kiện quan trọng ảnh hưởng tới phương thức cũng như quy mô chăn nuôi. Nguồn vốn dồi dào sẽ có điều kiện đầu tư thâm canh hơn trong chăn nuôi như hình thức chăn nuôi trang trại, chăn nuôi công nghiệp quy mô lớn. Đồng thời cũng mang lại những hiệu quả cao hơn do sử dụng con giống tốt, thức ăn chất lượng cao, quy trình vệ sinh, chuồng trại hợp lý… + Lao động: là yếu tố rất quan trọng trong phát triển chăn nuôi, nhất là tại những nước phát triển, sự thiếu hụt lao động thường xuyên xảy ra. Lao động được đề cập tới không chỉ là số lượng mà còn cả chất lượng thông qua trình độ khoa học kỹ thuật. Lực lượng lao động trong chăn nuôi, nhất là chăn nuôi thâm canh, quy mô lớn lại càng yếu cầu chất lượng cao. Hiện tại lao động chăn nuôi tại Việt nam còn ít được chú trọng đến việc đào tạo tay nghề một cách chính quy, có hệ thống (qua trường lớp). Đồng thời khi chăn nuôi quy mô lớn thì việc sử dụng máy móc lại càng nhiều và điều đó cũng đòi hỏi người lao động càng phải có tri thức cao hơn. + Năng lượng: Nông nghiệp nói chung hay chăn nuôi nói riêng là thực hiện việc chuyển hóa năng lượng thành dạng có ích cho con người (thức ăn, sợi, lực…). Có rất nhiều dạng năng lượng khác nhau như năng lượng mặt trời, năng lượng sử dụng của con người, súc vật và năng lượng hóa thạch. Ở đây đề cập chủ yếu đến năng lượng hóa thạch. Nguồn năng lượng này trong chăn nuôi được sử dụng như sau: Sử dụng để làm đất, vận chuyển; Xây dựng chuồng trại, sưởi ấm ; Sản xuất thức ăn công nghiệp; Phục vụ cơ giới hóa chăn nuôi; Sản xuất phân, thuốc hóa học phục vụ cho cây trồng… Nhìn chung các cơ sở chăn nuôi càng hiện đại thì nguồn năng lượng này được sử dụng càng nhiều. + Cơ sở hạ tầng: đề cập ở đây bao gồm nhiều yếu tố như hệ thống đường bộ, đường sắt, hệ thống thông tin, nguồn nước, các cơ sở thụ tinh nhân tạo, thị trường … Các điều kiện này ảnh huởng rất lớn đến phát triển chăn nuôi thông qua dịch vụ cung cấp đầu vào, đầu ra, sự tiếp cận với các thông tin (khoa học kỹ thuật, thị trường) và có ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển đàn gia súc thông qua dịch vụ chăm sóc sức khỏe, nguồn thức ăn thô xanh…Đương nhiên sự phát triển các cơ sở hạ tầng chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các chính sách liên quan. + Thị trường: luôn là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi thông qua nguồn cung cấp đầu vào và tiêu thụ đầu ra, nhất là khi chuyển từ sản xuất tự cung tự cấp lên sản xuất hàng hóa. Khi còn sản xuất tự cấp tự túc thì nguồn đầu vào rất hạn chế, chủ yếu sử dụng những nguồn sẵn có của cơ sở, và tương tự như vậy sản phẩm đầu ra còn ở mức rất khiêm tốn, chủ yếu phục vụ cho nhu cầu nông hộ. Chuyển lên sản xuất hàng hóa số lượng đầu vào, đầu ra rất lớn và cơ sở sản xuất ngày càng phụ thuộc vào thị trường nhiều hơn. Đồng thời, ta còn thấy thị trường được tổ chức ngày càng chặt chẽ, lúc đầu còn có nhiều người mua và bán, các sản phẩm đầu vào và đầu ra được đưa đến cũng như đưa đi xa hơn và số người tham gia vào các kênh cung cấp và phân phối cũng trở nên ít hơn thông qua các công ty đa quốc gia. Ngoài ra mức độ ảnh hưởng đến các cơ sở sản xuất cũng ngày càng lớn hơn khi có những biến động trên thị trường không những ở trong nước mà còn cả thị trường quốc tế. * Ngoài ra các yếu tố văn hóa, tín ngưỡng cũng có ảnh hưởng đễn sự phát triển chăn nuôi. Đạo Hồi là một ví dụ, họ kiêng thịt lợn và sử dụng thịt cừu rất nhiều vào các dịp lễ hội. Từ đó dẫn đến giá thịt cừu thường rất cao và thịt lợn hầu như không phát triển tại các nước này. Ở một số nước thuộc Châu Mỹ la tinh thì số lượng đàn gia súc được coi như là một yếu tố để phân biệt đẳng cấp xã hội. 2.1.3.2 Phương pháp nghiên cứu hệ thống chăn nuôi Những phương pháp sử dụng để nghiên cứu các Hệ thống chăn nuôi đã thừa hưởng được những tiến bộ về tiếp cận hệ thống của những lĩnh vực khác. Trước đây các nghiên cứu về chăn nuôi chủ yếu tập trung vào những vấn đề cấp thiết cần giải quyết ở quy mô đơn vị sản xuất như vấn đề bệnh tật của gia súc, vấn đề nuôi dưỡng, cây thức ăn, giống…Những nghiên cứu như trên đã mang lại những kết quả đáng khích lệ tạo ra những con giống có năng suất chất lượng cao. Thức ăn hoàn chỉnh đáp ứng nhu cầu sinh trưởng phát triển của gia súc. Tuy nhiên những nghiên cứu tiếp cận cục bộ như trước không còn hoàn toàn phù hợp với những đòi hỏi của thực tiễn ngày nay nữa khi chúng ta nghiên cứu chăn nuôi vùng nhiệt đới (Lhoste,1987, dẫn theo[11]). Như vậy, cần phải đưa ra một kiểu tiếp cận mới đó là: tiếp cận hệ thống Phương pháp này không phải là tách biệt mà cũng không phải là đối lập tiếp cận cục bộ truyền thống mà trái lại hai phương pháp này bổ xung cho nhau giúp chúng ta có thể hiểu rõ hơn về tình hình phát triển chăn nuôi và nhất là đưa ra các can thiệp vào thực tế một cách hợp lý và có hiệu quả. Tiếp cận nghiên cứu hệ thống chăn nuôi cần tập trung vào những vấn đề sau: - Nghiên cứu tập trung vào con người tác nhân trung tâm của hệ thống; Hệ thống chăn nuôi có thể chia thành hai tiểu hệ thống (Sơ đồ 2.5) + Hệ thống quản lý hay điều hành (người chăn nuôi): là nơi hình thành nên các mục tiêu, các thông tin về môi trường và về cấu trúc và sự vận hành của hệ thống. Đó là các dạng và các thể thức tổ chức cũng như sự huy động các phương tiện sản xuất và các quyết định quản lý (huy động sử dụng đất đai, lao động và vốn sẵn có) + Hệ thống kỹ thuật sinh học của sản xuất: là nơi hình thành các quá trình sản xuất và phương thức chăn nuôi cho phép đạt được mục tiêu của các thực tiễn và các chiến lược của người sản xuất. Từ các thông tin thu thập được về khía cạnh sinh học đã giúp cho người chăn nuôi đưa ra các quyết định sản xuất thông qua các chiến lược, sách lược và các thực tiễn. Như vậy chỉ có tiến hành phân tích sự tương tác giữa các quyết định và các điều kiện kỹ thuật thì mới cho phép nhận ra được các điểm mạnh cũng như các điểm yếu của hệ thống. Cho nên nghiên cứu hệ thống chăn nuôi cần phải tập trung vào hệ thống điều hành tức là người chăn nuôi. Hệ thống điều hành do một tác nhân hay nhóm tác nhân điều khiển. Quan tâm đến yếu tố con người (tức là người chăn nuôi) một mặt là gắn với khoa học nhân văn, nhưng đồng thời cũng quan tâm đến mục đích chủ yếu của nghiên cứu hệ thống chính là tham gia vào công tác phát triển. Thực tế, phát triển chính là công việc của con người và tác dụng của nghiên cứu này là sự hiểu biết sâu sắc về chính các tác nhân và sự huy động của họ, thông qua đó có thể tác động một cách hiệu quả nhất đến việc cải thiện hiệu quả của hệ thống chăn nuôi. Cực người chăn nuôi Các chiến lược, sách lược Các thực tiễn Các nguồn lực (Cực đất đai) Đàn gia súc (Cực gia súc) Sản phẩm Hình 2.5 Sơ đồ hoạt động của hệ thống chăn nuôi Dựa trên quan điểm này thì các nghiên cứu về thực tiễn của người chăn nuôi không chỉ để biết sự đa dạng mà cần phải hiểu biết các yếu tố quyết định và đánh giá các tác động của nó. Phân tích các thực tiễn của các tác nhân là phục vụ cho công tác phát triển. Các thực tiễn chăn nuôi là những cái mang tính cá nhân của những người chăn nuôi mà ta có thể quan sát được trên thực tiễn, đó chính là những cái có liên quan đến kinh nghiệm mang tính cá nhân của các tác nhân trong khi thực hiện một kỹ thuật cụ thể, những thực tiễn này có thể cho chúng ta biết được những dự kiến và các cản trở của những hộ liên quan. - Tiến hành nghiên cứu đa ngành: tức là nghiên cứu tổng hợp, quan tâm chủ yếu đến các mối tương tác hơn là các yếu tố cấu trúc. Đó chính là sự quan tâm đến các đặc điểm về sự vận hành của một hệ thống chăn nuôi hơn là quan tâm đến cấu trúc của hệ thống. Nó có tác cho triển vọng phát triển, nhận dạng được những bế tắc ở hệ thống cung cấp thức ăn, hệ thống đất đai hay việc tổ chức xã hội của những người chăn nuôi. Những nghiên cứu về các mối tuơng tác trong hệ thống chăn nuôi cũng nhằm để giải thích được và hiểu được các mối quan hệ nhân quả, đó chính là sự quan tâm đến các thực tiễn chăn nuôi, việc quản lý các nguồn nhân lực (đất đai, lao động, vốn,…) dành cho chăn nuôi, tổ chức của những người chăn nuôi và phương thức giá trị hóa sản phẩm,… ngoài ra còn cần phải quan tâm đến các yếu tố rủi ro về bệnh tật và thị trường tiêu thụ sản phẩm (môi trường). Nghiên cứu hệ thống tập trung vào phối hợp các “chuyên ngành” khác nhau, nó cho phép thực hiện chẩn đoán tổng thể và phân cấp các cản trở chủ yếu trong một môi trường nhất định. Chăn nuôi thường gắn vào các hệ thống sản xuất hỗn hợp. Cho nên trước hết cần đánh giá cách kết hợp của “ tiểu hệ thống chăn nuôi” trong một đơn vị sản xuất. Vì vậy cần có sự trao đổi giữa các nhà kinh tế, các nhà nông học và các nhà chăn nuôi… Mặt khác, quy mô quan sát nghiên cứu đối với người chăn nuôi đó là vật nuôi, đàn, quần thể kết hợp với đơn vị sản xuất, cộng đồng, vùng… Đồng thời kết hợp với cả các thời gian khác nhau (quan sát hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng hay hàng năm). Do đó một phương pháp tiếp cận nghiên cứu thứ ba đó là: - Nghiên cứu trên các quy mô khác nhau: đó chính là xác định các cấp độ quan sát, liên quan đến đàn gia súc như cấp độ cá thể gia súc, đàn gia súc rồi quần thể gia súc. Việc quan sát các cấp độ này còn phải gắn với quy mô chăn nuôi (hộ nông dân chăn nuôi, cộng đồng những người chăn nuôi trong làng, xã, vùng). Dựa vào mục tiêu nghiên cứu cụ thể để quyết định lựa chọn cấp độ quan sát. Việc thay đổi cấp độ quan sát là một trong những yếu tố quy định trong khi tiến hành nghiên cứu hệ thống chăn nuôi, bởi vì nó có thể giúp ta giải thích những hiện tượng quan sát được ở một cấp độ nhất định thông qua sự hiểu biết của chúng ta ở cấp độ khác (Bourboure, 1986, dẫn theo [18]) Như vậy, nếu chúng ta chỉ quan sát ở một cấp độ thì rất khó có thể lý giải được sự phức tạp này, vì vậy phải tiến hành phân kiểu các thực tiễn chăn nuôi. Các trung tâm quyết định thường gắn với các cấp độ quyết định (cá nhân, cộng đồng…). Tuy nhiên, việc ra quyết định không phải độc lập mà trái lại nó chịu ảnh hưởng lẫn nhau. Thông thường các cấp cao hơn sẽ kiểm soát và quyết định các cấp bên dưới, đồng thời các cấp bên dưới trong một chừng mực nào đó cũng có ảnh hưởng lại các cấp bên trên. Việc quan sát và nghiên cứu trên các quy mô khác nhau rất quan trọng để có thể hiểu được các hiện tượng nghiên cứu do giữa các cấp độ này có quan hệ với nhau. Việc quan sát ở cấp độ này có thể tìm ra câu giải thích cho cấp độ khác. 2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 2.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới Các nghiên cứu về hệ thống chăn nuôi trên thế giới chủ yếu tập trung vào 2.2.1.1 Nghiên cứu phân loại hệ thống chăn nuôi Tiêu chuẩn phân loại hệ thống chăn nuôi dựa vào sự tương quan và chia thành 3 nhóm chính đó là + Tương quan với trồng trọt + Tương quan với đất + Tương quan với vùng sinh thái Các hệ thống chăn nuôi Các HTCN chuyên canh (L) Các HTCN hỗn hợp (M) Không phụ thuộc vào đất (LL) Phụ thuộc vào đất (LG) Có mưa tự nhiên (MR) Phải tưới tiêu (MI) Loài dạ dày đơn ( thịt và trứng) (LLM) Vùng ôn đới và núi cao nhiệt đới (LLT) Vùng ôn đới và núi cao nhiệt đới (MRT) Vùng ôn đới và núi cao nhiệt đới (MIT) Loài nhai lại (thịt ,chủ yếu thịt bò) (LLR) Vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới ẩm/ bán ẩm (LGH) Vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới ẩm/ bán ẩm (MRH) Vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới ẩm/ bán ẩm (MIH) Vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới khô cằn/ bán khô cằn(LGA) Vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới khô cằn/ bán khô cằn(MRA) Vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới khô cằn/ bán khô cằn(MIA) Nguồn: (FAO,1996) [33] Hình 2.6 Các loại hệ thống chăn nuôi trên thế giới Theo quan điểm của một số tác giả (Ruthenberg, 1980; Janhnke,1980; FAO, 1994; De Boer, 1992; FAO, 1996) (dẫn theo [11] đều cho rằng hầu hết nông trại không được xếp loại theo các tiêu chuẩn về số lượng gia súc mà những tiêu chuẩn để xếp các trường hợp vào cùng một nhóm chủ yếu là dựa vào dạng thức của hệ thống. 1. HTCN chuyên canh * Hệ thống chăn nuôi không phụ thuộc nhiều vào đất + Hệ thống chăn nuôi động vật dạ dày đơn không phụ thuộc nhiều vào đất được xác định thông qua việc chăn nuôi các loài động vật dạ dày đơn, chủ yếu là gia cầm và lợn, con giống thay thế được cung cấp từ hệ thống có uy tín cùng loại; thức ăn cho gia súc được cung cấp từ bên ngoài nông trại do đó những quyết định về việc sử dụng thức ăn gia súc không phụ thuộc nhiều vào việc sản xuất thức ăn gia súc, hai quá trình này độc lập với nhau do vậy phân gia súc được lợi dụng để bón ruộng hoặc bán; + Hệ thống chăn nuôi động vật nhai lại không phụ thuộc nhiều vào đất Được xác định thông qua việc chăn nuôi các loài động vật nhai lại chủ yếu là trâu, bò và thức ăn của chúng cũng được cung cấp từ bên ngoài nông trại. Hệ thống này chủ yếu là chăn nuôi các giống gia súc cao sản và con lai của chúng. Hệ thống đòi hỏi thâm canh cao về vốn, thức ăn và lao động. Liên quan chặt chẽ tới hệ thống chăn nuôi cần đất về việc cung cấp con giống. * Hệ thống chăn nuôi phụ thuộc vào đất Gồm có các HTCN ở vùng ôn đới và vùng núi cao nhiệt đới; Ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới nóng ẩm/bán ẩm; Ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới khô căn/bán khô cằn. Các hệ thống phụ thuộc vào đất cung cấp một phần lớn trong tổng sản lượng sản phẩm chăn nuôi: 88,5% sản lượng thịt bò và bê, 61% sản lượng thịt lợn và 26% sản lượng thịt gia cầm, tính chung đạt 60% trong tổng số cả ba loại thịt này. 2. Hệ thống chăn nuôi hỗn hợp * Các HTCN hỗn hợp có mưa tự nhiên Gồm HTCN ở vùng ôn đới và núi cao núi cao nhiệt đới; Ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới ẩm/bán ẩm; ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Trong các HTCN hỗn hợp có mưa tự nhiên thì hệ thống chăn nuôi ở vùng ôn đới và núi cao nhiệt đới trên quy mô toàn cầu, chính là nguồn cung cấp sản phẩm lượng thịt cừu và 63% tổng lượng sữa sản xuất ra trên thế giới. * Các HTCN hỗn hợp được tưới tiêu Gồm HTCN hỗn hợp ở vùng ôn đới và ở các khu vực núi cáo nhiệt đới; Ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới khô/bán khô cằn; Ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới khô cằn/bán khô cằn. Trên quy mô toàn thế giới, các hệ thống hỗn hợp đóng góp một phần lớn nhất (53%) trong tổng sản lượng thịt và 90% trong tổng sản lượng sữa. 2.2.1.2 Nghiên cứu trường hợp về hệ thống chăn nuôi Nghiên cứu của tác giả Jonathan Timberlake (1981)[35] về các thành tố chăn nuôi trong hệ thống kết hợp trồng trọt- chăn nuôi đã được tiến hành ở huyện Chokwe, miền Nam MoZambique. Hệ thống này đang trải qua những thay đổi trong nnhững năm gần đây do sự tràn vào của làn sóng những người nhập cư cùng đàn trâu bò của họ và sự quy hoạch lại đất đai khu vực tưới tiêu đang dẫn đến sự quá tải về diện tích chăn thả một cách trầm trọng ở địa phương này. Trâu bò bị chết nhiều và nhu cầu về sức kéo gia súc tăng lên. Khả năng chăn thả gia súc của một số dạng bãi chăn được tính toán. Tổng khả năng chăn thả của những bãi chăn này đã được tính toán khoảng 50.340 đơn vị đông vật (Animal Unit- AU) và như vậy nguồn thức ăn từ các khu vực được tưới tiêu (các vùng đất luân canh và các bãi trồng ngô) là đủ cho hơn 15.700 AU, và tổng đàn trâu bò hàng năm của vùng là 37.400 AU. Vấn đề này là sự phân bố của đàn trâu bò chứ không hoàn toàn là về số lượng, đàn trâu bò tập trung quá nhiều ở quanh làng và quanh các khu vực được tưới tiêu. Từ đó tác giả đi đến kết luận, việc khuyến khích sử dụng rơm rạ và nguồn thức ăn cây họ đậu trong hệ thống chính là cách để thâm canh hóa sản xuất và vấn đề sử dụng này cần có những nghiên cứu và thử nghiệm. Kết quả nghiên cứu ở Đông Bắc Thái Lan và ở Banglades của tác giả John Sollow (1995)[34] về hệ thống kết hợp lúa – cá cho thấy hệ thống này thường không ổn định, khi thì rất phát triển, khi thỉ bị suy giảm. Hệ thống này phát triển khi nguồn cá trong tự nhiên phong phú và ngược lại khi có các hoạt động khác có khả năng cạnh tranh được với hệ thống này, về các nguồn lực thiết yếu thì chúng lại kém phát triển. Tác giả đã đưa ra một số ưu điểm của hệ thống kết hợp này là rủi ro thấp, kỹ thuật phù hợp với trình độ người dân địa phương, sản lương lúa sẽ tăng lên khi nuôi cá với mât độ phù hợp. Một cuộc điều tra về hai hệ thống có chăn nuôi gà, thực hiện năm 1999 ở một huyện thuộc miền Trung của Burkina Faso, phía Tây châu Phi, sử dụng phương pháp RRA theo các tiêu chuẩn định trước nhằm mô tả chăn nuôi gà ở hai hệ thống này. Ở cả hai hệ thống chăn nuôi gà đều là chăn thả quảng canh với đầu vào và đầu ra rất thấp. Chuồng trại chăn nuôi của hệ thống chăn nuôi thô sơ, đơn giản hơn so với hệ thống kết hợp trồng trọt - chăn nuôi. Tỷ lệ chết ở đàn gà cao và tỷ lệ ấp nở thấp một phần là do điều kiện chuồng trại thấp kém. Nghiên cứu chỉ ra mức độ kém hiệu quả của hệ thống này. Cần có thêm khảo sát nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố gây ra sự kém hiệu quả này, từ đó thúc đẩy hệ thống chăn nuôi gia cầm của vùng phát triển bền vững (Kondombo, 1999) [36]. Ở huyện Dodola thuộc miền Nam Ethiopia, tác giả Matewos (2000)[37] đã nghiên cứu về hệ thống kết hợp trồng trọt- chăn nuôi đã thực hiện với mục tiêu khảo sát việc sử dụng nguồn lực và mối quan hệ giữa hệ thống trồng trọt và chăn nuôi với nhau trong quá trình thâm canh sản xuất nông nghiệp và đóng góp của mỗi thành phần đó vào vấn đề an ninh lương thực. Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng phần lớn diện tích chăn thả của vùng đồng bằng này đã chuyển sang đất canh tác nông nghiệp. Diện tích đất chăn thả giảm đã kéo theo sự suy giảm năng suất và số đầu gia súc. Thu nhập từ chăn nuôi chỉ chiếm 17,7%, trong khi đó từ trồng trọt là 79% vào năm 1998. Thiếu vốn, giá bán các nông sản thấp và không có quyền sở hữu đất đai lâu dài là những nguyên nhân làm cho sản lượng của các nhóm cây trồng chính bị giảm. Phụ phẩm cây trồng trở thành nguồn dự trữ cỏ khô quan trọng trong suốt mùa khô khi mà diện tích chăn thả bị giảm. Từ đó tác giả đi đến kết luận, để nâng cao mức sống của cộng đồng nông thôn và đáp ứng được nhu cầu hiện tại về lương thực, năng lượng và sợi thì việc cung cấp đủ vốn, đa dạng hóa các cây trồng và sản xuất thức ăn gia súc dự trữ, tăng cường tính hiệu quả của công tác khuyến nông; khuyến lâm, đào tạo và nâng cao trình độ của người nông dân là những biện pháp cần được tăng cường thực hiện. 2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước Trong bài “hệ thống nông nghiệp đồng bằng sông Hồng”, tác giả Đào Thế Tuấn (1989) [26] đã nêu các vấn đề tồn tại của hệ thống và nguyên nhân của một số tồn tại như: tốc độ tăng sản lượng lương thực không cao (1,9%năm), diện tích thâm canh ít, chưa có tiến bộ kỹ thuật thích hợp cho vùng khó khăn, sản lượng lương thực không ổn định (biến động 6,9%) do thiên tai, sâu bệnh, sản lượng hàng hóa không cao, tỷ lệ nông sản xuất khẩu thấp, lao động nông nghiệp tăng nhanh (2,7% năm), ngành nghề kém phát triển và ông đã đề ra mục tiêu cho sự phát triển của hệ thống nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng là: + Tăng nhanh sản lượng lương thực, nhất là lương thực hàng hóa, sản xuất màu kèm với chế biến. + Tăng sản lượng thực phẩm cho xuất khẩu, phát triển nông sản nhưng không mâu thuẫn với lương thực, hỗ trợ cho chăn nuôi. + Mở rộng diện tích vụ đông, phát triển ngành nghề nhất là ngành nghề chế biến. + Tăng thu nhập bình quân đầu người Để đạt được mục tiêu trên, ông đã dự kiến các biện pháp: - Mở rộng diện tích vụ đông - Phát triển chăn nuôi ngành nghề để tận dụng lao động - Huy động vốn từ dân, đẩy mạnh xuất khẩu - Bố trí hệ thống trồng trọt với vùng sinh thái - Phát triển giống lợn có tỷ lệ nạc cao Phạm Chí Thành, Trần Văn Diễn, Phạm Tiến Dũng, Trần Đức Viên (1993), trên cơ sở tổng hợp các luận điểm về các công trình hệ thống nông nghiệp, ngoài phần hệ thống hoá kiến thức về hệ thống nông nghiệp, các tác giả đã đề xuất hướng chiến lược phát triển, dự kiến cấu trúc và thứ bậc hệ thống nông nghiệp Việt Nam gồm các hệ phụ: trồng trọt, chăn nuôi, chế biến, ngành nghề, quản lý, lưu thông, phân phối. Công trình đã hỗ trợ đắc lực cho công tác nghiên cứu nông nghiệp trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn. Về hệ thống cây trồng, đầu thập kỷ 60 của thế kỷ trước, Đào Thế Tuấn cùng các nhà nghiên cứu của Viện Khoa học và Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam đã nghiên cứu đưa lúa xuân với các giống ngắn ngày và tập đoàn cây trồng vụ đông vào chân đất hai vụ lúa, đưa cây màu vụ đông xuân vào chân đất một vụ lúa mùa… đã tạo nên sự chuyển biến rõ nét về sản xuất lương thực, thực phẩm, trước hết là đồng bằng sông Hồng, sau đó là các vùng phụ cận góp phần tăng năng suất và hiệu suất sử dụng đất nông nghiệp. Khả năng SXNN của nông hộ là một vấn đề quan trọng. Để có thể nâng cao được khả năng sản xuất của hộ thì vấn đề cần quan tâm là làm thế nào xác định được cụ thể khả năng của hộ cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng này . Kết quả nghiên cứu của Phạm Tiến Dũng (1993)[9], khi phân tích các hệ thống nông nghiệp vùng Nam Thanh và Tam Đảo với các đặc trưng đưa vào phân tích là mục tiêu, nguồn lực (nhân tố sản xuất), cấu trúc (cơ cấu chiến lược) của các hệ thống thông qua việc phân loại các hệ thống. + Các điểm nghiên cứu nhỏ tương ứng với thôn, xã trong một vùng lớn tương đương với huyện thường có cùng các kiểu hệ thống nông hộ với các mục tiêu khác nhau; + Trong vùng sinh thái – kinh tế xã hội tương đương phạm vi huyện khác nhau có kiểu nhóm hệ thống nông hộ với các mục tiêu khác nhau là khác nhau; + Trong vùng ĐBSH có thể coi điểm nghiên cứu tương đương cấp huyện và dùng một vùng như vậy để nghiên cứu các hệ thống nông hộ. + Trong phân tích phân loại các hệ thống nông hộ không cần thiết phải phân tích riêng từng nhóm đặc trưng của hệ thống theo trình tự của lý thuyết phân tích hệ thống, vì giữa nhóm đặc trưng này có quan hệ một cách có quy luật với các đặc trưng khác, nên chỉ cần phân tích phân loại theo nhóm, biến mục tiêu ra các kiểu nhóm theo mục tiêu khác nhau, sau đó tính toán các đặc trưng về cấu trúc, nguồn lực của mỗi kiểu nhóm theo muc tiêu để phân tích và hiểu chúng; Khi nghiên cứu về các hệ thống chăn nuôi lợn ở vùng ĐBSH năm 1995, tác giả Vũ Trọng Bình (1995) [32] nhận thấy phần lớn chăn nuôi lợn ở vùng này là chăn nuôi quy mô nông hộ với số lượng trung bình là 1-4 con/hộ. Sự tăng lên của đàn lợn trong vùng không phải do tăng quy mô ở các nông hộ mà chủ yếu là do tăng số nông hộ nuôi lợn. Số lợn nuôi ở mỗi hộ phụ thuộc vào số nhân khẩu, sản lượng các hoạt động thứ cấp (như chế biến nông sản) và mức độ thâm canh của ngành trồng trọt. Mục tiêu chủ yếu của chăn nuôi lợn vùng ĐBSH là tận dụng chất thải cho trồng trọt, sau đó mới là tạo ra sản lượng thịt lợn cung cấp cho thị trường. Tác giả Phạm Văn Hùng (2006) [47] đã đề xuất mô hình thực nghiệm để ước lượng khả năng SXNN của nông hộ. Mô hình được xây dựng dưới dạng hàm sản xuất kết hợp giữa hàm siêu việt, hàm Translog biến đổi và hàm Cobb-Douglas. Sự tham gia của hộ vào các lớp tập huấn có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sản xuất của hộ. Như vậy, hệ thống khuyến nông hay tăng cường các lớp đào tạo, tập huấn cho nông dân là điều cần thiết trong việc nâng cao nhận thức và khả năng sản xuất của hộ, nhằm nâng cao năng suất và thu nhập cho hộ nông dân. Hệ thống nông nghiệp nước ta muốn phát triển nhanh, cần phải đạt được mục tiêu sau Đạt tốc độ phát triển cao và ổn định. Theo quy luật sinh thái, hệ thống càng đa dạng thì tính ổn định càng cao. Do vậy, cần đa dạng hoá hệ thống vừa thoả mãn nhu cầu phát triển vừa làm tăng tính ổn định. Cần tiến hành tăng vụ sản xuất, đa dạng hoá sản xuất, đẩy mạnh chăn nuôi và chế biến, đẩy mạnh áp dụng TBKT, phát triển ngành nghề nông thôn nhằm giải quyết khó khăn về dư thừa lao động, tăng thu nhập bình quân cho nông dân. Việt Nam đã đạt được sự phát triển chưa từng có trong lịch sử với mức tăng trưởng kinh tế nhanh và mạnh mẽ. Đi cùng với đó là tốc độ ĐTH nhanh và sự bất bình đẳng giữa khu vực nông thôn và thành thị. Mức độ phát triển cũng diễn ra không đều ngay chính trong khu vực nông thôn. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản đang gặp phải những thách thức lớn khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Những khó khăn vĩ mô đang cản trở sự phát triển của khu vực nông thôn. Nơi có tỷ lệ đói nghèo và tỷ lệ thất nghiệp cao, ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên nghiêm trọng, diện tích đất nông nghiệp đang ngày càng bị thu hẹp do quá trình CNH, dịch vụ nông thôn chậm phát triển, các chính sách tài chính cho PTNN còn nhiều bấp hợp lý. Đất đai nhỏ lẻ, manh mún, phân loại đất đai phức tạp đang cản trở cơ hội tăng thu nhập thông qua quá trình chuyên môn hoá. Theo tác giả Nguyễn Mạnh Dũng (2006) [10] để đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong quá trình CNH - HĐH cần thực thi một số giải pháp chủ yếu sau đây: Một là, nhận thức rõ đặc trưng của nước ta, từ một nền nông nghiệp tự cung tự cấp chuyển sang một nền nông nghiệp hàng hoá, cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường trong nước và xuất khẩu, đòi hỏi phải định hướng lại SXNN theo yêu cầu của thị trường. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp và dịch vụ ở khu vực nông thôn. Hai là, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn là một trong những giả pháp quan trọng của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. CNH đi đôi với ĐTH. Việc hình thành mạng lưới đô thị có điều kiện tạo thêm nhiều việc làm, thu hút phần lớn lao động nông nghiệp, bước đầu giải quyết vấn đề dư thừa lao động ở nông thôn. Ba là, tiếp tục đổi mới và hoàn thiện các chính sách kinh tế vĩ mô như chính sách tín dụng, chính sách thuế, chính sách đất đai…nhất là hệ thống luật pháp kinh tế nhằm phát triển mạnh mẽ nền kinh tế nhiều thành phần. Tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của kinh tế hộ – với tư cách là đơn vị sản xuất hàng hoá trong nền kinh tế thị trường._.hực hiện kỹ thuật, nhưng đòi hỏi nông hộ phải có diện tích đất chăn nuôi lớn, có vốn để đầu tư xây dựng chuồng trại kiên cố, có lao động kỹ thuật và phải có lòng tin với đối tác gia công. Tóm lại: các tiểu hệ thống chăn nuôi thâm canh có mức lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư cao nhất, nhưng phải đầu tư nhiều vốn và sác xuất rủi ro cao. Các tiểu hệ thống chăn nuôi hỗn hợp bán thâm canh, mức độ đầu tư thấp, tỷ suất lợi nhuận thấp, mức độ rủi ro thấp, phù hợp với các nông hộ ít vốn, diện tích đất dành cho chăn nuôi nhỏ và trình độ kỹ thuật thấp. Các hộ chăn nuôi trong hệ thống 3, quy mô chăn nuôi nhỏ, tận dụng, mức độ đầu tư không cao, tính chất hàng hóa nhỏ, không tính được lợi nhuận. Bảng 4.10 Hiệu quả chăn nuôi gia cầm theo các hệ thống ĐVT: 1000đ Chỉ tiêu Giống Thức ăn Thú y Chi khác Tổng chi Tổng thu Lợi nhuận /hộ/năm Tỷ suất LN /Vốn ĐT Hệ thống Chi phí  % Chi phí   % Chi phí   % % % Chăn nuôi thâm canh (hệ thống 1) Gà thịt gia công - - - - - - - - - - - - Gà sinh sản 41434,08 12,2 261665,6 76,7 21654,85 6,4 16266,71 4,8 341021,24 432607,1 91585,86 26,86 Vịt sinh sản 11460,38 10,6 83165,92 77,1 6048,23 5,6 7137,13 6,6 107811,67 126864,6 19052,93 17,67 Bình quân hệ thống 1 26447,23 11,4 172415,76 76,9 13851,54 6,0 11701,92 5,7 224416,5 279735,9 55319,4 22,26 Chăn nuôi BTC (Hệ thống 2) HH gà và vịt sinh sản 6819,4 14,3 35649,44 74,9 2314,4 4,9 2838,24 5,96 47621,48 52169,1 4547,62 9,55 HH gà và vịt thịt 2697,6 13,5 15077,42 75,5 1028,32 5,2 1164,1 5,8 19967,45 21955,88 1988,44 9,96 HH gà và ngan thịt 4363,5 15,3 21731,67 75,9 1241,81 4,3 1276,15 4,5 28613,13 33168 4554,87 15,92 Bình quân hệ thống 4626,83 14,3 24152,84 75,4 1528,18 4,78 1759,5 5,42 32067,35 35764,33 3254,74 11,81 Chăn nuôi nhỏ lẻ (hệ thống 3) 234,45 8,57 2399 87,76 6,66 0,24 28,17 3,43 2733,53 3776,7 1043,17 - Hiệu quả chăn nuôi của các hệ thống được thể hiện qua biểu đồ 4.4 Hình 4.12 So sánh hiệu quả chăn nuôi gia cầm của các hệ thống (1000đ) So sánh hiệu quả kinh tế chăn nuôi gia cầm trong các hệ thống, dựa trên lợi nhuận thuần (1000đ) ta thấy, ở hệ thống chăn nuôi thâm canh có quy mô chăn nuôi lớn, đầu tư lớn, thì lợi nhuận cũng lớn nhất. Lợi nhuận tương quan với mức đầu tư. Do vậy, muốn tăng hiệu quả kinh tế, thì trước tiên các nông hộ cần phải có vốn đầu tư, tăng quy mô, áp dụng các biện pháp kỹ thuật để nâng cao năng suất, làm sao để đạt tỷ suất lợi nhuận cao nhất. Ở hệ thống chăn nuôi thâm canh, do áp dụng tốt các biện pháp kỹ thuật nên năng suất cao, mặt khác giá bán sản phẩm cũng cao hơn và ít biến động hơn rất nhiều so với các hệ thống bán thâm canh và nhỏ lẻ. 4.6 Những khó khăn và cản trở chủ yếu trong phát triển chăn nuôi nông hộ ở các hệ thống chăn nuôi gia cầm. * Khó khăn Mỗi nông hộ trong các hệ thống chăn nuôi gia cầm có những khó khăn khác nhau. Những khó khăn rất đa dạng và trong thực tiễn đã gây cản trở không ít cho sản suất. Tuy nhiên, những khó khăn chung mà các nông hộ gặp phải thường có các dạng đặc trưng, kết quả điều tra được thể hiện trên bảng 4. 11 Bảng 4.11 Khó khăn chủ yếu của nông hộ trong các hệ thống Chăn nuôi gia cầm (% hộ) Hệ thống Tiểu hệ thống Về vốn Về đất đai Về chất lượng con giống Về giá thị trường Về kiểm soát dịch bệnh V ề kỹ thuật Thị trường tiêu thụ sản phẩm 1 Gà thịt 72,22 22,22 0 0 0 0 0 Gà sinh sản 83,33 43,75 56,25 100 75,00 0 50,00 Vịt sinh sản 80,00 50,00 0 100 66,66 33,33 20,00 2 HH gà và vịt SS 71,43 0 46,4 100 85,71 28,57 25,00 HH gà và vịt thịt 50,00 0 57,14 100 92,85 35,71 42,85 HH gà và ngan thịt 50,00 0 40,00 50,00 80,00 20 50,00 3 Chăn nuôi nhỏ lẻ 85,00 0 0 0 100 80 25 Kết quả cho thấy: - Về vốn: Nhìn chung các nông hộ trong hệ thống chăn nuôi gia cầm đều thiếu vốn. Tỷ lệ các hộ thiếu vốn từ 50- 85%, thiếu vốn nhiều nhất là các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ (85%), mức độ thiếu vốn ở các hộ này không cao, do điều kiện kinh tế hạn hẹp, cho nên các hộ này chỉ cần vay một số vốn rất thấp để chăn nuôi với quy mô nhỏ. Ở hệ thống thâm canh gà sinh sản (83,3%) số hộ trong hệ thống này đều thiếu một số vốn khá lớn để đầu tư mở rộng sản xuất, chăn nuôi vịt sinh sản 80%, các hộ chăn nuôi gà, vịt và gà, ngan thiếu vốn ít hơn (bình quân 50%). Việc thiếu vốn chủ yếu để duy trì, mở rộng và phát triển sản xuất. Nhất là những địa phương miền núi và trung du của huyện Tam Dương như xã Hướng Đạo và Thanh Vân có diện tích đất lớn, (xã Hướng Đạo, 450,57 ha đất phi nông nghiệp, xã Thanh Vân, 273,19 ha đất phi nông nghiệp). Mặt khác do giá cả thức ăn biến động thất thường, thị trường tiêu thụ nhiều lúc gặp khó khăn, các hộ chăn nuôi phải có vốn để duy trì sản xuất. Kết quả điều tra của Hán Quang Hạnh và Vũ Đình Tôn năm 2007 tại huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương cho biết tỷ lệ các hộ thiếu vốn trong hệ thống chăn nuôi lợn thâm canh (80%), hệ thống chăn nuôi lợn bán thâm canh (66,7%), hệ thống chăn nuôi gia cầm thâm canh (88,9%), hệ thống chăn nuôi gia cầm bán thâm canh (72,41%), hệ thống chăn nuôi hỗn hợp bán thâm canh (65,00%). Như vậy, so với các địa phương khác những khó khăn về vốn của các hộ nông dân trong các hệ thống chăn nuôi gia cầm ở huyện Tam Dương ít trầm trọng hơn, điều này có thể do quy mô chăn nuôi trong các hệ thống chăn nuôi còn nhỏ và mức độ đầu tư thâm canh chưa cao. - Về đất đai: tỷ lệ các hộ thiếu đất để sản xuất vẫn tập trung ở hệ thống chăn nuôi thâm canh ( 22,22- 50%), những hộ này cần một diện tích đất để mở rộng sản xuất, nhất là những diện tích đất ở xa khu dân cư. - Về chất lượng con giống: quan tâm đến vấn đề chất lượng con giống chỉ có ở những hộ nằm trong hệ thống chăn nuôi thâm canh gà và vịt sinh sản ( 56,25%), đặc biệt ở những hộ chăn nuôi gà sinh sản, ở hệ thống này con giống gà sinh sản đang được các nông hộ nuôi là giống Ai Cập, xong việc quản lý về giống chưa được tốt, cho nên trong một số hộ đã cung cấp giống từ việc cho ấp trứng thương phẩm, dẫn tới giảm năng suất. Còn ở hệ thống nhỏ lẻ và hệ thống chăn nuôi bán thâm canh, các nông hộ đều ít quan tâm đến vấn đề chất lượng giống. - Về giá thị trường: sự biến động mạnh của giá vật tư đầu vào như thức ăn là một khó khăn đáng kể cho các nông hộ chăn nuôi trong hệ thống chăn nuôi thâm canh vì thức ăn chiếm một tỷ lệ lớn (trên 70%) chi phí chăn nuôi chăn nuôi gia cầm. Cho nên, khi giá thành thức ăn tăng cao, dẫn đến chi phí thức ăn tăng cao, do đó có tới 75% số hộ chăn nuôi trong hệ thống quan tâm đến vấn đề này. Mặt khác giá bán sản phẩm chăn nuôi không ổn định, thường xuyên lên, xuống làm ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi, cũng như quyết định quy mô chăn nuôi của từng hộ. Tuy nhiên để giải quyết vấn đề này cần phải có sự can thiệp của Nhà nước. - Về kỹ thuật: tỷ lệ các hộ thiếu kỹ thuật bình quân là 22,9%, ở tiểu hệ thống bán thâm canh gà và vịt thịt 35,71%, hệ thống chăn nuôi thâm canh vịt sinh sản 33,33%, thấp nhất ở hệ thống chăn nuôi hỗn hợp gà, vịt sinh sản và gà, ngan thịt 25%. Hệ thống chăn nuôi thâm canh gà thịt gia công và hệ thống chăn nuôi thâm canh gà sinh sản, quy mô sản xuất lớn, mức độ đầu tư thâm canh cao, được đối tác đầu tư về kỹ thuật và nông hộ buộc phải đầu tư nên không thiếu lao động kỹ thuật. Riêng hệ thống chăn nuôi nhỏ lẻ, tham gia lao động chăn nuôi hoàn toàn là lao động nông nhàn, tuổi cao, là phụ nữ, chăn nuôi hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm. Do vậy mức độ thiếu về kỹ thuật là cao nhất (80%) trong tất cả các hệ thống. - Về kiểm soát dịch bệnh: các hộ chăn nuôi bán thâm canh và chăn nuôi nhỏ lẻ, thường ít chú trọng tới công tác phòng bệnh. Mặt khác cũng do điều kiện thời tiết thay đổi thất thường, tạo điều kiện cho các bệnh dịch phát triển, trong khi đó điều kiện chăn nuôi gia cầm ở các hộ này không đảm bảo về vệ sinh thú y, cho nên khi dịch bênh xảy ra họ khó kiểm soát được. - Thị trường tiêu thụ: mức độ thiếu thị trường tiêu thụ tương đối cao, bình quân 32,14%, tập trung ở các hệ thống chăn nuôi thâm canh vịt sinh sản và hệ thống chăn nuôi hỗn hợp bán thâm canh 50% ở hệ thống chăn nuôi thâm canh vịt sinh sản và hệ thống chăn nuôi hỗn hợp gà, vịt bán thâm canh, sau đó đến hệ thống chăn nuôi hỗn hợp gà và vịt thịt 40%, thấp nhất là hệ thống chăn nuôi hỗn hợp gà và vịt sinh sản 25%). Tiểu hệ thống chăn nuôi gia công và hệ thống thâm canh gà sinh sản do có quy mô sản xuất lớn, sản phẩm hàng hóa nhiều, thường có địa chỉ tiêu thụ rõ ràng, khách hàng tiêu thụ thứờng xuyên, nên việc tiêu thụ sản phẩm ít gặp khó khăn hơn. Các hệ thống khác do quy mô nhỏ, sản phẩm hàng hóa không thường xuyên, do vậy việc tiêu thụ sản phẩm gặp nhiều khó khăn. Tóm lại, những khó khăn của các hộ trong hệ thống chăn nuôi gia cầm là vốn, kỹ thuật và thị trường tiêu thụ. Mức độ thiếu vốn là trầm trọng, tập trung ở tiểu hệ thống chăn nuôi gia công, chăn nuôi gà và vịt sinh sản (72,22- 83,33%). Mức độ thiếu kỹ thuật và thị trường tiêu thụ vừa phải tập trung các hệ thống chăn nuôi thâm canh vịt sinh sản và ở hệ thống chăn nuôi hỗn hợp bán thâm canh. Hệ thống nuôi nhỏ lẻ, mức độ thiếu kỹ thuật rất lớn 80%. Các loại khó khăn này có thể coi là rào cản cho sự phát triển cho các hệ thống chăn nuôi gia cầm ở Tam Dương với các mức độ khác nhau. 4.7 Các giải pháp phát triển chăn nuôi gia cầm Thông qua thực tiễn và phân tích số liệu thống kê chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp cụ thể như sau: * Giải pháp về đất đai: Nhà nướccần có quy hoạch cụ thể vùng chăn nuôi tập trung cho từng loại gia cầm để đảm bảo tính an toàn bền vững, với địa hình các xã miền núi và trung du của huyện như xã Hướng Đạo và Thanh Vân có nhiều diện tích đất chưa sử dụng lớn, không sử dụng cho trồng trọt có thể quy hoạch thành vùng chăn nuôi gà thịt và gà sinh sản thâm canh. * Giải pháp về vốn: Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ cho người chăn nuôi ( từ chăn nuôi nhỏ chuyển sang quy mô lớn), đặc biệt với những xã có số diện tích đất ở , đất vườn và đất chăn nuôi cao ở xã Hướng Đạo và o Thanh Vân có thể mở rộng quy mô chăn nuôi. * Giải pháp về kỹ thuật: cần tăng cường mở các lớp huấn luyện kỹ thuật cho người chăn nuôi, trong đó có các kỹ thuật cụ thể như kỹ thuật về giống, thức ăn, chuồng trại, các kỹ thuật thú y và đặc biệt là các kỹ thuật công nghệ mới trong chăn nuôi và các kỹ thuật hệ thống , giúp cho người chăn nuôi, đặc biệt là người chăn nuôi trong hệ thống chăn nuôi bán thâm canh có thể nâng cao hiệu quả chăn nuôi từ những hiểu biết của mình. * Giải pháp về thị trường: thành lập và phát triển những hiệp hội chuyên môn, nhằm ổn định sản xuất, bảo vệ quyền lợi của người sản xuất và người tiêu dùng, tổ chức sản xuất theo chuỗi khép kín và tìm thị trường đầu ra ổn định trên cơ sở tạo ra chuỗi mắt xích hàng hóa giữa người sản xuất, thu mua, giết mổ và bán hàng. 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 5.1 Kết luận 1, Huyện Tam Dương có 3 kiểu hệ thống chăn nuôi gia cầm chủ yếu. Các hệ thống và tiểu hệ thống có các đặc điểm hoạt động khác nhau. * Hệ thống chăn nuôi thâm canh có 3 tiểu hệ thống: Chăn nuôi gà thịt gia công, chăn nuôi gà sinh sản, chăn nuôi vịt sinh sản * Hệ thống chăn nuôi bán thâm canh bao gồm 3 tiểu hệ thống chăn nuôi hỗn hợp gà với một loại thủy cầm. . * Hệ thống chăn nuôi nhỏ lẻ 2, Năng suất sinh sản, năng suất thịt của các đàn gia cầm trong hệ thống chăn nuôi thâm canh luôn cao hơn hệ thống chăn nuôi bán thâm canh hỗn hợp, và nhỏ lẻ 3, Hệ thống chăn nuôi thâm canh gà sinh sản, có mức lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư cao, phải đầu tư nhiều vốn và sác xuất rủi ro cao. Các tiểu hệ thống chăn nuôi hỗn hợp bán thâm canh và chăn nuôi nhỏ lẻ, mức độ đầu tư thấp, tỷ suất lợi nhuận thấp, mức độ rủi ro cũng thấp hơn. 5.2 Đề nghị Từ kết quả phân tích tình hình hoạt động trong các hệ thống chăn nuôi gia cầm ở các nông hộ, chúng tôi xin đưa ra một số đề nghị sau: - Tỉnh và huyện cần xúc tiến nhanh hơn, sớm hoàn thành việc quy hoạch sử dụng đất, dồn vùng đổi thửa để có diện tích đất dành cho chăn nuôi tập trung thâm canh, ở những xã miền núi và các đồi gò có ở các xã vùng trung du của huyện, tạo điều kiện cho những hộ có điều kiện kinh tế có dùng vốn tự có của chính họ, để xây dựng chuồng trại, tham gia chăn nuôi gia công cho doanh nghiệp đóng tại địa bàn. Tạo đà cho các hộ chăn nuôi trong tiểu hệ thống này, từ kinh nghiệm có thể tham gia vào tiểu hệ thống chăn nuôi thâm canh gà sinh sản ở những năm tiếp theo. - Với những hộ trong tiểu hệ thống chăn nuôi gà sinh sản, Nhà nước nên có chính sách hỗ trợ vốn giúp cho họ có thể phát triển quy mô và liên kết thành hiệp hội để có thể phát triển bền vững hơn. Đặc biệt từ chăn nuôi gà sinh sản thương phẩm, tiến tới có thể tham gia vào hệ thống cung cấp giống đạt tiêu chuẩn cho chăn nuôi. - Có những giải pháp về vốn, về kỹ thuật để duy trì hoạt động của hệ thống chăn nuôi bán thâm canh, đặc biệt ở các trang trại VAC đảm bảo có hiệu quả và bền vững, phù hợp ở các xã vùng đồng bằng có diện tích nuôi trồng thủy sản lớn như xã Vân Hội. . TÀI LIỆU THAM KHẢO A. TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 1. Trần Ngọc Bính(2008), Nghiên cứu hiện trạng hệ thống cây trồng và đề xuất một số giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế tại huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, Luận văn Thạc sỹ nông nghiệp, đại học Nông nghiệp Hà Nội. 2. Viện chăn nuôi (6/2007), Báo cáo khoa học- công nghệ năm 2006 3. Trạm Khuyến nông Tam dương (2008), Báo cáo công tác khuyến nông năm 2008 phương hướng nhiệm vụ năm 2009, Số 11 BC/KN, ngày 20/11/2008. 4. Trạm Khuyến nông Tam dương (2007), Báo cáo công tác khuyến nông năm 2007 phương hướng nhiệm vụ năm 2008, Số 09 BC/KN, ngày 29/11/2006. 5. Ban tư tưởng văn hoá Trung ương (2002), “Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam” 6. Trường Đại học Lâm nghiệp (1998), Tóm tắt báo cáo khảo sát đợt 1 về Lâm nghiệp xã hội nhóm luật và chính sách, Hà Tây. 7. Đỗ Kim Chung (2007), Những vấn đề cơ bản của kinh tế thị trường, Đại học Nông nghiệp Hà Nội. 8. Vũ Xuân Đề (2006), Bối cảnh đô thị hoá với phát triển nông nhiệp sinh thái đô thị, NXB Nông nghiệp, Hà Nội 9. Phạm Tiến Dũng (1993), Vận dụng lý thuyết hệ thống để phân tích các hệ thống nông nghiệp nông hộ nông dân vùng đồng bằng sông Hồng, Luận án phó tiến sĩ khoa học nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội. 10. Nguyễn Mạnh Dũng(2006), Phong trào “ Mỗi làng một sản phẩm”- Một chiến lược phát triển nông thôn trong quá trình công nghiệp hoá, NXB Nông nghiệp, Hà Nội 11. Hán Quang Hạnh (2007), Nghiên cứu các hệ thống chăn nuôi ở huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương, Luận văn Thạc sỹ nông nghiệp, đại học Nông nghiệp Hà Nội. 12. Trần Trọng Hiếu, Jean-Christophe Castella, Yann Eguienta (2002), ("Mô hình không gian 3 chiều" Phổ biến tiếp cận mới trong nghiên cứu và phát triển nông nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr.13 13. Chu Thái Hoành, Jean-Christophe Castella, Suan Pheng Kam, (2002), ("Tiếp cận sinh thái vùng tại lưu vực sông Hồng", Phổ biến tiếp cận mới trong nghiên cứu và phát triển nông nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr.4 14. Đỗ Long, Vũ Dũng (2002), “Tâm lý nông dân trong thời kỳ đầu phát triển kinh tế thị trường” 15. Lê Hồng Mận, Trần Công Xuân, Nguyễn Thiện, Hoàng Văn Tiêu,Phạm Sỹ Lăng (2007), Sổ tay chăn nuôi gia cầm bền vững 16. Hoàng Thị Tố Nga (2007), Nghiên cứu các hệ thống chăn nuôi ở Huyện Ý Yên- tỉnh Nam Định, Luận văn Thạc sỹ nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp Hà Nội. 17. Lê Thị Nghệ, Lương Như Oanh, Phạm Quốc Trị và cộng sự ,(2006), Phân tích thu nhập của hộ nông dân do thay đổi hệ thống canh tác ở đồng bằng sông Hồng. 18. o Trần Ngọc Ngoạn, Nguyễn Hữu Hồng, Đặng Văn Minh (1999), giáo trình “Hệ thống Nông nghiệp”, Đại học Nông Lâm Thái nguyên 19. Nguyễn Văn Ngọc, Patrice Lamballe, Chu Văn Sáu, Nguyễn Ngọc Hải, Tô Quang Hoà (2000), Báo cáo kết quả bốn năm hợp tác Chương trình Sông Hồng – Trạm Khuyến nông Tam Dương 20. Pham Văn Phê, Nguyễn Thị Lan (2001), Sinh thái học nông nghiệp và bảo vệ môi trường, NXB Nông nghiệp, Hà Nội 21. Vũ Đình Tôn, Võ Trọng Thành (2006), Hiệu quả kinh tế chăn nuôi lợn trong nông hộ vùng đồng bằng sông Hồng, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp, tập IV, số 1/2006 22. Phạm Chí Thành (1996), Hệ thống nông nghiệp, (Bài giảng cao học nông nghiệp) NXB Nông ngiệp, Hà Nội 23. Trần Danh Thìn, Nguyễn Huy Trí (2006), Hệ thống trong phát triển nông nghiệp bền vững, NXB Nông nghiệp, Hà Nội 24. Đào Châu Thu (2003), Giáo trình hệ thống nông nghiệp ( dùng cho đào tạo cao học) Trường ĐHNN I Hà Nội 25. Vũ Đình Tôn, Vũ Duy Giảng, Đặng Vũ Bình, Phan Đăng Thắng (2003), Theo dõi khả năng sinh trưởng, phát triển và hiệu quả chăn nuôi gà Kabir thả vườn trong điều kiện xã Xương Lâm, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, Trung tâm nghiên cứu liên ngành và phát triển nông thôn, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội. 26. Đào Thế Tuấn (1989), Hệ thống nông nghiệp đồng bằng sông Hồng, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, 1989. 27. Đào Thế Tuấn (1998),Các tiếp cận trong việc nghiên cứu về nông nghiệp và nông thôn, Viện chiến lược và chính sách nông nghiệp, Hà Nội. 28. Đào Thế Tuấn (1998), Tìm hiểu khả năng ứng dụng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân vào việc đánh giá hiện trạng quy hoạch sử dụng đất tại thôn Cơ Giới, lâm trường Hương Sơn, Hà Tĩnh, Khoá luận tốt nghiệp, Trường ĐHLN, Hà Tây 29. Đào Thế Tuấn, F.Jesus, R.bourgeois, JF Le Coq (2002), Công cụ và phương pháp Ecopol" Phổ biến tiếp cận mới trong nghiên cứu và phát triển nông nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr.13 30. Đào Thế Tuấn (2002), “Tình hình nông Nghiệp ở Việt Nam gần đây và các thách thức của phát triển nông thôn”, Phát triển nông thôn, số 9 (34), Tháng 10, tr 6-8 31. Nguyễn Đăng Vang (2006), Những vấn đề cần ưu tiên nghiên cứu nhằm nâng cao thu nhập trong chăn nuôi nông hộ, Viện chăn nuôi quốc gia, Hà Nội B. TÀI LIỆU TIẾNG ANH 32. Vu Trong Binh(1995), Hog-rearing systems in the Red River delta, Vietnamese studies, special new peasants of the Red River delta, Published in English and French No 115. 33. FAO(1994), Information system for Agricultural Statistics (Agrosat) Database, Food and Agricultural Organization of the United Nations, Rome, 1994 34. John Sollow (1995), Rice-fish culture: Where and could it work?, Mekong Fisheries Network Newsletter. 35. Jonathan Timberlake (1981), Livestock production system in Chokwe, southern Mozambique, UNDP/FAO Project MOZ/81/015, Land and Water Department, National Agronomic Research Institute (INIA), C.P.3658, Maputo, Mozambique 36. Kondombo S.R., R.P. Kwakkel, M.W.A. Verstegen, M. Slingerland, A.J. Nianogo(1999), Village chicken production system in the central region of Burkina Faso, Department of Animal Science, Wageningen University, The Netherlands 37. Matewos Tera Bussa 2000), Resource Use in Crop-livestock Farming system and its Implication on Household Food Security of Smallholder Farmers: A Case of Dodola District, Bale Zone, Ethiopia. Centre for International Environment and Development Studies, NORAGRIC, Aas, Norway 38. Speding. C-R.W – ”An Indtroduction to Agricultural Systems”, 1979), Applied Science Publisher Ltd London, 1979 C. TÀI LIỆU TÙ INTERNET 39. "Biện pháp tiếp cận, các nỗ lực và định hướng tương lai của Danida”, Báo cáo của Danida trong phiên họp toàn thể ISG năm 2007 Phát triển nông thôn hướng tới bình đẳng và bền vững, 40. Cục thống kê Vĩnh Phúc, Niên giám thống kê, 41. "Một số vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn Vĩnh Phúc thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế" view - 48k 42. Rudengre Jan (2008), Chính sách phát triển nông thôn mới, 43. "Phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu các vấn đề môi trường nông thôn" 44. Uỷ ban Nhân dân huyện Tam Dương, Báo cáo kết quả phát triển kinh tế xã hội huyện năm 2008 và phương hướng nhiệm vụ năm 2009. Số:133 /BC-UBND, ngày 20 tháng 12 năm 2008, 45. Mahmud Munir (2008), Sự chuyển đổi trong nông nghiệp và sự phát triển nông thôn, (Lê Thu dịch) 46. Nguyễn Cao Thịnh (2008), Kinh tế trang trại phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu phát triển kinh tế trang trại của hộ dân tộc thiểu số, 47. Phạm Văn Hùng (2006), Phương pháp xác định khả năng sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân, 48. Đỗ Đức Khôi, Ngô xuân Hoàng, Nguyễn Xuân Trạch (2004), Tài liệu tập huấn Phương pháp và kỹ năng tiếp cận cộng đồng, 49. Trần Lê, Đào Thế Tuấn (2005), Nông nghiệp cần bám chặt thị trường trong nước, MÉu phiÕu ®iÒu tra n«ng hé 2009 Thôn……………… Xã ……………… Huyện Tam Dương - Tỉnh Vĩnh Phúc Họ tên người được phỏng vấn: ………………………………………… Họ tên người phỏng vấn: ………………………………………............. PhÇn I.Th«ng tin chung Họ, tên chủ hộ: ………………… ...................Dân tộc: ……………….. Tuổi chủ hộ:......... Trình độ học vấn........................................................ Số khẩu:………… Số lao động/hộ:.......................................................... 1. Sử dụng đất Loại đất Diện tích(m2) Thu nhập/năm Ghi chú Đất ở ( Thổ cư) Vườn Nông nghiệp Đất màu Lâm nghiệp Ao Chăn nuôi Đấu thầu 2. Loại hình chăn nuôi ? Loại vật nuôi Số lượng/năm Thu nhập/năm Ghi chú Lợn nái Lợn thịt Trâu Bò Gà Ngan 3. C¸c ho¹t ®éng phi n«ng nghiÖp NghÒ §Çu t Tg ho¹t ®éng Thu nhËp/n¨m Ghi chó Bu«n b¸n Thñ c«ng VËn chuyÓn Lµm thuª C«ng chøc §îc cho PhÇn 2. Ch¨n nu«i gia cÇm 1. Diễn biến chăn nuôi gia cầm - Quy mô chăn nuôi gia cầm như trên được nuôi từ khi nào? Tóm tắt quá trình chăn nuôi, tại sao lại chọn chăn nuôi gia cầm? ............................................................................................................................ - Số lượng gia cầm nuôi:( trước, trong và sau dịch cúm H5N1) Trước:..................................................................................................................Trong:..................................................................................................................Sau:...................................................................................................................... 2. C¬ cÊu ch¨n nu«i Loµi gia cÇm Tªn gièng Tuæi TrÞ gi¸/con Løa/n¨m 3. Gia cÇm sinh s¶n * C¬ cÊu gi¸ trÞ Gièng Sè lîng Gi¸ mua Tg nu«i % sèng Klg lo¹i Gi¸ b¸n Thêi gian ®Î Tû lÖ ®ùc/c¸i * Kh¶ n¨ng s¶n xuÊt Gia cÇm Trøng/m¸i/n¨m Trøng/®µn /n¨m Trøng Êp/ n¨m Trøng TP/n¨m Tû lÖ ®Î/®µn Gi¸/qu¶ - Gia cÇm gièng ®îc mua ë ®©u?:.. □ Tù cã □ Ngêi bu«n □ Doanh nghiÖp □ §¹i lý □ Chî □ Ngêi b¸n rong □ N«ng hé kh¸c - Nguån gèc con gièng (nÕu biÕt):................................................................ - T¹i sao mua ë ®ã? □ ChÊt lîng □ Gi¸ c¶ □ Kh¸c * Chi phÝ thøc ¨n Thøc ¨n sö dông kg/løa hoÆc kg/ giai ®o¹n C¸m g¹o G¹o Ng« Thãc Hçn hîp Tæng chi phÝ - Nguån thøc ¨n tù cã:........................... kg, chiÕm sè lîng(%)............. - NÕu ch¨n th¶ lîng thøc ¨n cho ¨n chiÕm bao nhiªu % so víi nhu cÇu? - Chi phÝ kho¸ng, vitamin, thó y. thuèc s¸t trïng/ løa/n¨m?........................... - Chi phÝ kh¸c ( chÊt ®én chuång..../ løa/ n¨m?) 4. Gia cÇm nu«i thÞt Gièng/løa Sè lîng Gi¸ mua Tg nu«i % nu«i sèng KL b¸n Gi¸ b¸n Chu kú Løa/n¨m 4.1. N¬i mua con gièng: □ Tù cã □ Ngêi bu«n □ Doanh nghiÖp □ §¹i lý □ Chî □ Ngêi b¸n rong □ N«ng hé kh¸c - Nguån gèc con gièng (nÕu biÕt):.................................................................. - T¹i sao mua ë ®ã? □ ChÊt lîng □ Gi¸ c¶ □ Kh¸c 4.2. Chi phÝ thøc ¨n ch¨n nu«i Thøc ¨n sö dông kg/løa hoÆc kg/ giai ®o¹n C¸m g¹o G¹o Ng« Thãc Hçn hîp Tæng chi phÝ - Nguån thøc ¨n tù cã:........................... kg, chiÕm sè lîng(%)..................... - NÕu ch¨n th¶ lîng thøc ¨n cho ¨n chiÕm bao nhiªu % so víi nhu cÇu? - Chi phÝ kho¸ng, vi ta min, thó y. thuèc s¸t trïng/ løa/n¨m?......................... - Chi phÝ kh¸c ( chÊt ®én chuång..../ løa/ n¨m?)............................................. - Nguån thu tõ b¸n s¶n phÈm phô(ph©n.../ ®µn/n¨m)?..................................... 5. Thêi gian ch¨n nu«i (con/ th¸ng): sè lîng tèi ®a, tèi thiÓu Tg Loµi 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Gµ Ngan VÞt Gc kh¸c - T¹i sao l¹i nu«i, b¸n nhiÒu vµo thêi gian ®ã?............................................... - T¹i sao l¹i nu«i vµ b¸n Ýt vµo thêi gian ®ã?................................................ - Gia ®×nh b¸n gia cÇm, trøng gia cÇm ë ®©u? □ Trang tr¹i, □ Chî gia cÇm, □ Chî x·, huyÖn, □ Ven ®êng, □ Kh¸c - N¬i b¸n, tû lÖ (%) □ Trang tr¹i.....; □ Chî.......; □ ThÞt ¨n, cho......; □ Kh¸c......... - Ph¬ng tiÖn vËn chuyÓn? □ §i bé, xe ®¹p; □ Xe m¸y □ ¤ t« □ Kh¸c - ¤ng, bµ thêng b¸n gia cÇm cho cïng ngêi mua bu«n hay kh¸c nhau? □ Kh«ng gièng nhau ; □ Cïng mét ngêi 6. Chuång tr¹i, khÊu hao chuång tr¹i, c«ng cô s¶n xuÊt 6.1. Lo¹i h×nh chuång tr¹i trong ch¨n nu«i. Gµ: □ Chuång kiªn cè □ Chuång tre, nøa □ Chuång t¹m bî □ Chung □ Kh¸c VÞt □ Chuång kiªn cè □ Chuång tre, nøa □ Chuång t¹m bî □ Chung □ Kh¸c Ngan □ Chuång kiªn cè □ Chuång tre, nøa □ Chuång t¹m bî □ Chung □ Kh¸c 6.2. Lo¹i h×nh chuång tr¹i trong ch¨n nu«i C«ng cô/chuång Sè lîng/DiÖn tÝch TrÞ gi¸ N¨m sö dông Söa ch÷a/n¨m KhÊu hao/n¨m Chuång nu«i Chuång óm Kho chøa HÖ thèng m¸t M¸y nghiÒn Qu¹t ®iÖn M¸ng ¨n M¸ng uèng B×nh b¬m Dông cô TY D©y, bãng ®iÖn 1. Sè lao ®«ng ®¶m nhËn ch¨n nu«i gia cÇm/hé.............................................. 2. Tæng thêi gian(cña tÊt c¶ lao ®éng) cho ch¨n nu«i gia cÇm(giê/ngµy/hé).. 3. PhÇn thu nhËp tõ ch¨n nu«i gia cÇm trong tæng thu nhËp cña hé(%)......... 4. Thuª lao ®éng ch¨n nu«i gia cÇm..................., l¬ng( ®ång/ngêi/n¨m).... 5. Thuª ®Êt lµm chuång tr¹i (sµo).......................,Chi phÝ thuª, thuÕ/n¨m....... 6. Mua ®Êt x©y dùng chuång tr¹i(sµo)................, Chi phÝ mua....................... 7.Chi phÝ ®iÖn, níc/th¸ng/n¨m?....................................................................; 8. Chi phÝ x¨ng, dÇu cho m¸y ph¸t ®iÖn, vËn chuyÓn gia cÇm/th¸ng/n¨m?....; 9. Chi phÝ thuª xe vËn chuyÓn trøng, gia cÇm con/th¸ng/n¨m?......................; 10. Chi phÝ thuÕ, lÖ phÝ hµng th¸ng, n¨m?......................................................; 11. Chi phÝ kh¸c, ghi cô thÓ tõng kho¶n?......................................................... PhÇn 3. DÞch bÖnh trong ch¨n nu«i gia cÇm 1. DÞch tÔ 1.1. An toµn sinh häc □ Gia cÇm ®îc nu«i nhèt trong chuång c¶ ngµy □ Gia cÇm võa ®îc nu«i nhèt võa cã diÖn tÝch ch¨n th¶ □ Gia cÇm ®îc nu«i nhèt buæi tèi vµ ch¨n th¶ ban ngµy theo kªnh, m¬ng □ Gia cÇm ®îc ch¨n th¶ chñ yÕu ngoµi ®ång □ Gia cÇm ®îc ch¨n th¶ tù do □ Lo¹i h×nh kh¸c:............................................................................................ □ Cã sù tiÕp xóc thêng xuyªn gi÷a ngan, gµ, vÞt,chim trong hé gia ®×nh; □ Cã sù tiÕp xóc gi÷a gia cÇm cña hé víi hé kh¸c; □ Cã sù tiÕp xóc gi÷a gia cÇm víi c¸c lo¹i vËt nu«i kh¸c; □ Cã sù tiÕp xóc gi÷a gia cÇm víi chim hoang d·; □ Cã sù tiÕp xóc gi÷a gia cÇm víi ngêi ngoµi trang tr¹i; □ Gia cÇm ®îc nu«i riªng rÏ ( trong cïg n«ng hé nÕu cã nhiÒu lo¹i gia cÇm) □ Gia cÇm ®îc nu«i hçn hîp, hoÆc trªn cïng diÖn tÝch nhá cña n«ng hé; □ Gia cÇm ®îc nu«i riªng rÏ víi sù tiÕp xóc nhau thêng xuyªn; 1.2. Ph¬ng ph¸p xö lý chÊt th¶i, ph©n gia cÇm □ HÇm Biogaz □ Cho ao c¸ □ Bãn ruéng □ B¸n □ Kh¸c 1.3. Sö dông vaccin phßng bÖnh ¤ng, bµ cã tiªm vaccin phßng bÖnh cho gia cÇm kh«ng? □ Kh«ng bao giê □ Theo ®Þnh kú □ §«i khi T¹i sao?........................................................................................................... Lo¹i vaccin Sè lÇn tiªm/løa Gi¸ mua (liÒu/løa) Newcastle Gumboro §Ëu gµ Marek H5N1, H5N9; H5N2 DÞch t¶ ngan, vÞt Viªm gan ngan, vÞt Tô huyÕt trïng 1.4. DÞch bÖnh trªn ®µn gia cÇm BÖnh Gia cÇm §é tuæi Sè lÇn % chÕt Xö lý Chi phÝ/®µn Newcastle Gumboro §Ëu gµ Marek H5N1 DÞch t¶ vÞt Viªm gan THT 1. §µn gia cÇm ®· bÞ dÞch bÖnh chÕt nhiÒu cha, lo¹i gia cÇm nµo, khi nµo?.. □ BÞ råi □ Cha bÞ □ Kh«ng b 2. DÞch bÖnh thêng x¶y ra vµo c¸c th¸ng nµo trong n¨m?............................. 3. Khi bÞ dÞch «ng, bµ cã th«ng b¸o víi c¬ quan thó y c¬ së kh«ng? □ Cã □ Kh«ng □ C¸ch kh¸c 1.5.VÖ sinh, khö trïng chuång tr¹i * Sö dông c¸c chÊt lãt chuång □ Kh«ng sö dông chÊt lãt chuèng, hoÆc rÊt Ýt( giai ®o¹n gia cÇm con) □ Gµ □ Ngan □ VÞt □ Kh¸c □ Cã sö dông chÊt lãt chuång, lo¹i ( r¬m, phoi bµo, vá trÊu)........................ □ Gµ □ Ngan □ VÞt □ Kh¸c Nguån gèc c¸c chÊt lãt chuång nµy?............................................................ * Thêi gian ®Õ trèng chuång gi÷a c¸c løa □ Kh«ng cã thêi gian trèng chuång □ Gµ □ Ngan □ VÞt □ Kh¸c □ Cã thêi gian trèng chuång: Thêi gian( ngµy):........................................... □ Gµ □ Ngan □VÞt □ Kh¸c 1.6. Trêng hîp gia cÇm cña m×nh bÞ bÖnh, chÕt nhiÒu trong ch¨n nu«i, «ng(bµ) lµm thÕ nµo? □ Thiªu huû, ch«n x¸c chÕt □ Vøt bá x¸c chÕt □ Mæ thÞt gia cÇm □ Cè g¾ng ®iÒu trÞ, tiªm vac-xin □ B¸n ch¹y nh÷ng con cßn sèng □ B¸n gia cÇm chÕt □ B¸o víi c¸n bé thó y □ C¸ch kh¸c...................... T¹i sao?........................................................................................................... Nh÷ng hé ch¨n nu«i gia cÇm l©n cËn cã bÞ dÞch bÖnh kh«ng? □ Cã □ Kh«ng □ Kh«ng biÕt 1.7. Trong trêng hîp gia cÇm hµng xãm chÕt nhiÒu, «ng (bµ) lµm thÕ nµo? □ GiÕt thÞt, cho gia cÇm sî bÞ l©y □ B¸n ch¹y gia cÇm sî bÞ nhiÔm bÖnh □ Tiªm phßng b»ng vac-xin □ Cho uèng kh¸ng sinh phßng bÖnh □ Nhèt gia cÇm □ B¸o víi c¸n bé thó y □ Kh«ng lµm g× c¶ □ C¸ch kh¸c........................................ T¹i sao?........................................................................................................... 2. Kho¶ng c¸ch tõ chuång nu«i ®Õn c¸c ®iÓm (m/ km2) Chuång Nhµ ë C.l¬n C.gµ Hé 1 Hé 2 Hé 2 Hé 4 §êng Gµ VÞt Ngan 3. VÊn ®Ò kh¸c, ®¸nh gi¸ cña ngêi ®iÒu tra §¸nh gi¸ cña ngêi ®iÒu tra (§iÒu kiÖn ch¨n nu«i, lo¹i hé, møc thu nhËp,...)........................................................................................................... ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docCHCN007.doc
Tài liệu liên quan