Nghiên cứu giải pháp phát triển sản xuất và ổn định đời sống của các hộ dân tại một số khu tái định cư Dự án thủy điện Sơn La

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI ----------&---------- PHẠM THỊ MINH THỦY NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT VÀ ỔN ĐỊNH ĐỜI SỐNG CỦA CÁC HỘ DÂN TẠI MỘT SỐ KHU TÁI ĐỊNH CƯ DỰ ÁN THỦY ĐIỆN SƠN LA LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Chuyên ngành: KTNN Mã số: 60 31 10 Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Minh Hiền HÀ NỘI - 2009 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa

doc119 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 09/12/2013 | Lượt xem: 1176 | Lượt tải: 1download
Tóm tắt tài liệu Nghiên cứu giải pháp phát triển sản xuất và ổn định đời sống của các hộ dân tại một số khu tái định cư Dự án thủy điện Sơn La, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác. Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc. Hà Nội, ngày 20 tháng 9 năm 2009 Học viên Phạm Thị Minh Thủy LỜI CẢM ƠN Qua thời gian học tập chương trình cao học tại trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, tôi đã nhận được sự chỉ dạy nghiêm túc và tận tình của các thầy cô giáo. Các thầy cô đã truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức cần thiết về chuyên môn và xã hội, mà thành quả ngày hôm nay là luận văn thạc sĩ. Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới: TS. Nguyễn Thị Minh Hiền - cô giáo hướng dẫn khoa học, đã nhiệt tình hướng dẫn, góp ý, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn. Các GS, PGS, TS, các thầy cô giáo ở Viện đào tạo sau đại học, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn đã giảng dạy và hướng dẫn tôi hoàn thành chương trình học tập và thực hiện luận văn. Các đồng chí lãnh đạo, cán bộ ở UBND tỉnh Sơn La, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La, Ban Quản lý dự án thủy điện Sơn La đã giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, thu thập tài liệu cho luận văn. Ban lãnh đạo Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường - nơi tôi đang công tác đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn. Những người thân trong gia đình đã động viên, khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi thực hiện và hoàn thành luận văn. Tôi cũng xin chân thành cám ơn các chuyên gia, các nhà khoa học, các đồng nghiệp, bạn bè ở các cơ quan đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này. Hà Nội, ngày 20 tháng 9 năm 2009 Học viên Phạm Thị Minh Thủy DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 3.1 Diện tích đất đai tỉnh Sơn La 31 Bảng 3.2 GDP, cơ cấu, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Sơn La qua các năm 32 Bảng 3.3 Kết quả rà soát số dân phải di chuyển 39 Bảng 4.1 Tình hình nhân khẩu, lao động của các hộ điều tra 51 Bảng 4.2 Tình hình đất đai của hộ tái định cư 53 Bảng 4.3 Diện tích đất đai của hộ trước và sau khi tái định cư 54 Bảng 4.4 Kết quả về bồi thường, hỗ trợ cho hộ tái định cư 57 Bảng 4.5 Những hạn chế trong công tác đền bù, hỗ trợ, tái định cư 59 Bảng 4.6 Cơ cấu ngành nghề của các hộ tái định cư 62 Bảng 4.7 Tình hình trồng trọt của hộ năm 2008 63 Bảng 4.8 Năng suất, sản lượng cây trồng trước và sau khi tái định cư 64 Bảng 4.9 Tình hình chăn nuôi của hộ năm 2008 64 Bảng 4.10 Kết quả chăn nuôi của hộ trước và sau khi tái định cư 65 Bảng 4.11 Chi phí sản xuất của hộ tái định cư 67 Bảng 4.12 Chi phí sản xuất của hộ trước và sau khi tái định cư 67 Bảng 4.13 Kết quả sản xuất của hộ tái định cư 68 Bảng 4.14 Kết quả sản xuất của hộ trước và sau khi tái định cư 69 Bảng 4.15 Các yếu tố gây khó khăn trong sản xuất của hộ 71 Bảng 4.16 Tình hình thu - chi và tích lũy của hộ tái định cư 75 Bảng 4.17 Tình hình thu - chi, tích lũy của hộ trước và sau khi tái định cư 76 Bảng 4.18 Thực trạng về điều kiện sinh hoạt của hộ tái định cư 78 Bảng 4.19 Các khó khăn trong đời sống của hộ 81 DANH MỤC CÁC HÌNH, BẢN ĐỒ Ảnh 3.1 Công trường công trình thủy điện Sơn La 34 Ảnh 4.1 Điểm tái định cư Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 47 Ảnh 4.2 Điểm tái định cư Tra Xa Căn - xã Mường Bon - huyện Mai Sơn 48 Bản đồ 3.1 Xã Mường Chùm - huyện Mường La 40 Bản đồ 3.2 Xã Mường Bon - huyện Mai Sơn 41 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HỘP Biểu đồ 4.1 Cơ cấu về trình độ văn hóa, chuyên môn của hộ điều tra 52 Biểu đồ 4.2 Cơ cấu đất canh tác của hộ tái định cư 54 Biểu đồ 4.3 Quy mô đất đai của hộ trước và sau khi tái định cư 55 Biểu đồ 4.4 Số lượng vật nuôi của hộ trước và sau tái định cư 65 Biểu đồ 4.5 Thu nhập của hộ trước và sau khi tái định cư 70 Hộp 1 Nhận xét của người dân về diện tích đất được giao tại nơi ở mới 55 Hộp 2 Cách thức sử dụng số tiền bồi thường, hỗ trợ của các hộ tái định cư 60 Hộp 3 Nhận xét của người dân về kết quả sản xuất tại nơi ở mới 69 Hộp 4 Nguyện vọng của người dân tại hai điểm tái định cư Nà Nhụng và Tra Xa Căn 79 MỤC LỤC Phần I: Mở đầu 1 1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1 1.2. Mục tiêu nghiên cứu 3 1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4 Phần II: Tổng quan nghiên cứu 5 2.1. Một số lý thuyết liên quan đến vấn đề di dân, tái định cư 5 2.2. Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người có đất bị thu hồi 12 2.3. Kinh nghiệm về tổ chức và thực hiện công tác tái định cư để xây dựng công trình thủy điện tại một số nước Châu Á và Việt Nam 21 2.3.1. Tại một số nước Châu Á 21 2.3.2. Tại Việt Nam 26 2.4. Những kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài 28 Phần III: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu 30 3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 30 3.1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Sơn La 30 3.1.2. Một vài nét về công trình thủy điện Sơn La 34 3.1.3. Đặc điểm vùng tái định cư Dự án thủy điện Sơn La 36 3.2. Phương pháp nghiên cứu 40 3.2.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 40 3.2.2. Phương pháp thu thập tài liệu 41 3.2.3. Phương pháp xử lý thông tin 43 3.2.4. Phương pháp phân tích 43 3.2.5. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 44 Phần IV: Kết quả nghiên cứu 46 4.1. Một vài nét khái quát về hai điểm tái định cư Nà Nhụng, Tra Xa Căn và tình hình cơ bản của các hộ điều tra 46 4.1.1. Điểm tái định cư Nà Nhụng 46 4.1.2. Điểm tái định cư Tra Xa Căn 48 4.1.3. Tình hình cơ bản của các hộ điều tra 49 4.2. Tình hình bồi thường, hỗ trợ cho hộ tái định cư 56 4.2.1. Kết quả bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 56 4.2.2. Thuận lợi, khó khăn trong việc bồi thường, hỗ trợ 58 4.3. Tình hình sản xuất của các hộ tái định cư 61 4.3.1. Thực trạng sản xuất của các hộ tái định cư 61 4.3.2. Những thuận lợi, khó khăn về sản xuất của các hộ tái định cư, nguyên nhân của những khó khăn 70 4.4. Tình hình đời sống của các hộ tái định cư 75 4.4.1. Thực trạng đời sống của các hộ tái định cư 75 4.4.2. Những thuận lợi, khó khăn về đời sống của các hộ tái định cư, nguyên nhân của những khó khăn 79 4.5. Định hướng và giải pháp phát triển sản xuất và ổn định đời sống của các hộ dân tái định cư dự án thủy điện Sơn La 84 4.5.1. Định hướng 84 4.5.2. Giải pháp 87 Phần V: Kết luận và kiến nghị 96 5.1. Kết luận 96 5.2. Đề xuất, khuyến nghị 98 Tài liệu tham khảo 101 Phụ lục 103 PHẦN I MỞ ĐẦU 1.1. Tính cấp thiết của đề tài Năng lượng nói chung và năng lượng điện nói riêng là yếu tố đầu vào quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của bất cứ quốc gia nào. Vì vậy đảm bảo an ninh năng lượng là rất cần thiết và cấp bách, được thực hiện thông qua việc tìm kiếm và đa dạng các nguồn phát năng lượng. Trong kế hoạch phát triển của ngành điện đến năm 2025 thì việc phát triển các nhà máy thủy điện là một giải pháp cấp bách, trước mắt để giải quyết nhu cầu năng lượng của đất nước. Trong 15 năm qua nhiều công trình thủy điện quốc gia đã và đang được xây dựng đã đáp ứng nhu cầu năng lượng và nguồn nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt của nhân dân, đồng thời góp phần vào việc hạn chế lũ lụt cho vùng hạ lưu, nhằm phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [2, tr. 1]. Công trình thủy điện được xây dựng đòi hỏi công tác giải phóng mặt bằng thi công và giải phóng lòng hồ chứa nước phải đi trước một bước. Công tác giải phóng mặt bằng cơ bản liên quan đến vấn đề thu hồi đất và tái định cư các hộ dân sống trong vùng bị ảnh hưởng của công trình thủy điện. Chính vì vậy công tác di dời dân, tái định cư công trình thủy điện giữ một vai trò quan trọng và không thể không tính đến cho mỗi công trình, đồng thời cũng là vấn đề thường xuyên được Đảng, Chính phủ, xã hội, cộng đồng quan tâm. Di dân, tái định cư giải phóng mặt bằng các công trình thủy điện chủ yếu là di dân, tái định cư trong nông nghiệp, nông thôn, đồng thời với tính chất và đặc điểm của công trình thủy điện được xây dựng chủ yếu ở khu vực thuộc địa bàn khó khăn miền núi, vùng sâu vùng xa, nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số đang sinh sống theo cộng đồng và có phong tục tập quán canh tác, văn hóa truyền thống đa dạng. Chính vì vậy đối tượng di dân, tái định cư công trình thủy điện đại đa số là đồng bào dân tộc thiểu số nghèo. Nhìn chung di dân, tái định cư các dự án thủy điện có những đặc điểm khác với các dự án giải phóng mặt bằng khác. Di dân, tái định cư được nhận thức là cơ hội phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng và vùng dự án. Việc di chuyển những người dân bị ảnh hưởng ra khỏi địa bàn cư trú lâu đời dẫn đến thay đổi về môi trường sinh sống, văn hóa và tập quán canh tác, điều kiện khí hậu,…đòi hỏi ngoài việc hưởng lợi từ các chính sách di dân, tái định cư theo quy định chung, các hộ gia đình cần được bổ sung chính sách hỗ trợ khôi phục lại đời sống và nguồn thu nhập để từng bước phát triển sản xuất, ổn định đời sống, góp phần thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo và tiến tới phát triển bền vững. Công tác di dân, tái định cư Dự án thủy điện Sơn La được Đảng và Nhà nước rất quan tâm, Chính phủ và các bộ, ngành đã ban hành nhiều văn bản với những cơ chế hỗ trợ đặc biệt cho người dân phải di dời, tái định cư đến nơi ở mới, với mục tiêu tạo được các điều kiện để đồng bào tái định cư sớm ổn định chỗ ở và đời sống, từng bước thay đổi cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, cuộc sống vật chất tinh thần ngày càng tốt hơn nơi ở cũ, góp phần phát triển kinh tế xã hội vùng Tây Bắc theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Qua thực tiễn cho thấy một bộ phận người dân ở những khu tái định cư Dự án thủy điện Sơn La đã có cuộc sống vật chất và tinh thần tốt hơn nơi ở cũ. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân nên ở nhiều khu tái định cư đồng bào vẫn gặp khó khăn trong cuộc sống, nhà cửa được xây dựng nhưng không phù hợp với phong tục tập quán của đồng bào, thiếu nước sinh hoạt, chưa có đất sản xuất hoặc được giao đất không phù hợp, dẫn đến sản xuất bấp bênh và không có hiệu quả,…Như vậy là chưa đáp ứng được mục tiêu mà chính sách di dân, tái định cư đã đề ra. Cho đến này đã có một số nghiên cứu đánh giá trên một số khía cạnh khác nhau của vấn đề thu hồi đất, di dân, tái định cư và đã cho thấy một phần thực trạng về đời sống của người có đất bị thu hồi nói chung và người dân tại các khu tái định cư nói riêng. Tuy vậy, chưa có một nghiên cứu nào đi sâu phân tích về đời sống kinh tế - xã hội của đồng bào các dân tộc thiểu số tại các điểm tái định cư miền núi, và đặc biệt là đối với một dự án có quy mô tái định cư lớn nhất từ trước đến nay, dự án có sự quan tâm, đầu tư đặc biệt của Đảng và Nhà nước - Dự án thủy điện Sơn La để thấy được tâm tư, nguyện vọng cũng như những khó khăn thực sự mà người dân đang gặp phải, làm cơ sở cho việc tiếp tục đổi mới chính sách liên quan đến di dân, tái định cư. Xuất phát từ ý tưởng trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu giải pháp phát triển sản xuất và ổn định đời sống của các hộ dân tại một số khu tái định cư Dự án thủy điện Sơn La”. 1.2. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu tổng quát: Trên cơ sở phân tích, đánh giá những thuận lợi và khó khăn về tình hình sản xuất, thu nhập, việc làm, đời sống của các hộ dân tại một số điểm tái định cư Dự án thủy điện Sơn La, từ đó đưa ra những khuyến nghị, giải pháp để khắc phục những tồn tại nhằm đảm bảo cho người dân tái định cư có điều kiện phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, có cuộc sống vật chất và tinh thần ngày càng tốt hơn nơi ở cũ. Mục tiêu cụ thể: + Khái quát hóa cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến vấn đề di dân, tái định cư các công trình thủy điện; + Phân tích, đánh giá thực trạng về sản xuất, thu nhập, việc làm, đời sống của các hộ dân tại một số điểm tái định cư tập trung của Dự án thủy điện Sơn La; + Tìm hiểu các nguyên nhân chủ quan và khách quan gây nên những khó khăn, tồn tại trong sản xuất và đời sống của người dân tái định cư; + Đề xuất một số định hướng và giải pháp góp phần ổn định đời sống, phát triển sản xuất, đảm bảo cuộc sống vật chất và tinh thần cho người dân tái định cư. 1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.3.1. Đối tượng nghiên cứu Là các vấn đề về sản xuất, thu nhập, việc làm, đời sống. Chủ thể nghiên cứu tập trung vào các hộ dân phải di dời, được chuyển đến sinh sống tại một số điểm tái định cư thủy điện Sơn La. 1.3.2. Phạm vi nghiên cứu - Về nội dung: Phân tích, đánh giá tình hình sản xuất và đời sống của các hộ dân tái định cư Dự án thủy điện Sơn La. - Về không gian: Đề tài được thực hiện ở một số điểm tái định cư Dự án thủy điện Sơn La trên địa bàn tỉnh Sơn La. Cụ thể là 2 điểm tái định cư: Nà Nhụng thuộc xã Mường Chùm, huyện Mường La Tra Xa Căn thuộc xã Mường Bon, huyện Mai Sơn. - Về thời gian: Đề tài được tiến hành trong vòng một năm từ ngày 15 tháng 12 năm 2008 đến ngày 15 tháng 9 năm 2009. Số liệu thứ cấp là số liệu được thu thập từ năm 2004 đến nay. Số liệu sơ cấp là số liệu điều tra năm 2008. PHẦN II TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1. Một số lý thuyết liên quan đến vấn đề di dân, tái định cư 2.1.1. Vấn đề di dân - Hướng tiếp cận lý thuyết Nghiên cứu di dân trên thế giới mới chỉ bắt đầu dưới thời kỳ phát triển Tư bản chủ nghĩa ở phương Tây với sự hợp tác của nhiều ngành khoa học khác nhau (địa lý nhân văn, kinh tế, lịch sử, xã hội học, thống kê, toán học,…) [4, tr. 42]. Các lý thuyết về di dân gồm: Lý thuyết quá độ di dân; lý thuyết kinh tế về di dân; lý thuyết của Ravenstein; lý thuyết đô thị hóa quá mức; lý thuyết “hút - đẩy”. Lý thuyết quá độ di dân đã chỉ ra tầm quan trọng tương đối của các hình thái di chuyển khác nhau tương ứng với trình độ phát triển của xã hội. Từ hướng tiếp cận của kinh tế học, lý thuyết kinh tế về di dân còn xem xét quá trình di dân từ hai phía là cung và cầu về lao động - việc làm. Lý thuyết đô thị hóa quá mức ra đời nhằm nhấn mạnh mối quan hệ giữa đô thị hóa và thu nhập bình quân. Lý thuyết “hút - đẩy” đã xây dựng trên cơ sở tóm tắt các quy luật di dân và phân loại các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến quá trình di chuyển. Lý thuyết này nhấn mạnh vai trò của các yếu tố cá nhân mang tính đặc thù của người di cư. Thực tế cho thấy con người di cư vì nhiều lý do khác nhau và những lý do có thể hình thành và gây ảnh hưởng ở nơi đi hay nơi đến. Một trong những lý do dẫn đến sự di dân bắt buộc là do nơi ở cũ bị giải tỏa, di dời nhằm mục đích lấy mặt bằng xây dựng đường xá, các công trình công cộng, các dự án phát triển và dân sinh [4, tr. 42 - 47]. - Khái niệm Theo nghĩa rộng, di dân là sự chuyển dịch bất kỳ của con người trong một không gian và thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn. Với khái niệm này di dân đồng nhất với sự di động dân cư. Theo nghĩa hẹp, di dân là sự di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập một nơi cư trú mới trong một khoảng thời gian nhất định. Định nghĩa này được Liên Hợp Quốc sử dụng nhằm khẳng định mối liên hệ giữa sự di chuyển theo một khoảng cách nhất định qua một địa giới hành chính, với việc thay đổi nơi cư trú [5, tr. 137]. Sự vận động và phát triển của xã hội loài người luôn gắn liền với các cuộc di chuyển dân cư. Trong hầu hết các quốc gia trên thế giới, do sự phân bố dân cư không đồng đều nên Chính phủ mỗi nước đều có những biện pháp khác nhau để phân bố lại dân cư nhằm sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên sẵn có. Tại Việt Nam, trong suốt 4.000 năm lịch sử, trải qua các triều đại khác nhau, đặc biệt là triều đại nhà Nguyễn, đã tổ chức nhiều cuộc di dân về phía Nam để phát triển kinh tế, xã hội và củng cố Nhà nước của mình. Từ sau khi giành được chính quyền năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng đã chú ý đặc biệt đến vấn đề phân bố lại lao động và dân cư để phát triển kinh tế - xã hội. Do vậy trong bốn thập kỷ qua, di dân đã trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội quan trọng với quy mô và thành phần ngày càng phức tạp [7, tr. 4]. Như vậy, có thể khái quát rằng di dân là sự di chuyển cư dân từ địa điểm này sang địa điểm khác, đó là một hiện tượng xã hội xảy ra trong suốt quá trình phát triển lịch sử của nhân loại dưới tác động của những nguyên nhân kinh tế, xã hội khác nhau qua các thời kỳ. Trong các nguyên nhân đó thì nguyên nhân kinh tế là nguyên nhân quyết định. Di dân sẽ gây ra những tác động lớn đến các vấn đề dân số, kinh tế - xã hội. Trên phạm vi toàn thế giới, di dân không làm ảnh hưởng đến số lượng dân số nói chung, nhưng đối với từng nước, từng khu vực lại có ảnh hưởng không nhỏ. Di dân có tác động trực tiếp đến quy mô dân số. Sự ra đi của một bộ phận dân cư sẽ làm cho quy mô dân số và sức ép dân số tại nơi đó giảm và ngược lại. Di dân có ảnh hưởng lớn trong việc phân bố lại lực lượng sản xuất, nguồn lao động theo lãnh thổ và khu vực kinh tế. Mỗi nhóm cư dân, mỗi cộng đồng đều có đời sống văn hóa, phong tục tập quán khác nhau, nên khi chuyển đến địa điểm mới dễ gây ra sự xáo trộn, xung đột, phân biệt đối xử trong cộng đồng nơi đến. Trên thực tế có nhiều cách phân loại di dân dựa trên các góc độ khác nhau tùy vào mục đích nghiên cứu. Theo tính chất di dân, sẽ có hai loại là di dân tự nguyện và di dân không tự nguyện (ép buộc). Di dân tự nguyện là trường hợp người di chuyển tự nguyện di chuyển theo đúng mong muốn hay nguyện vọng của mình. Trong khi đó, di dân ép buộc diễn ra trái với nguyện vọng di chuyển của người dân. Theo đặc trưng di dân, được chia thành 2 loại là di dân có tổ chức và di dân tự phát. Di dân có tổ chức là hình thái di chuyển dân cư theo kế hoạch và các chương trình, dự án do nhà nước, chính quyền các cấp vạch ra, tổ chức và chỉ đạo thực hiện với sự tham gia của các tổ chức đoàn thể xã hội. Di dân tự phát là hình thái di dân mang tính cá nhân do bản thân người di chuyển hoặc bộ phận gia đình quyết định, không có và không phụ thuộc vào kế hoạch và sự hỗ trợ của nhà nước và các cấp chính quyền [4, tr. 39 - 41]. Đối với nước ta, công tác di dân luôn nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước thông qua các chương trình, chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, củng cố an ninh quốc phòng. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, sẽ đề cập đến hình thức di dân có tổ chức, cụ thể là di dân để thực hiện dự án xây dựng nhà máy thủy điện, phục vụ mục tiêu quốc gia về an ninh năng lượng. Di dân có tổ chức gắn liền với quá trình tái định cư không tự nguyện (hay tái định cư bắt buộc). 2.2.2. Tái định cư Vấn đề thu hồi đất, tái định cư là vấn đề chung của các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển. Đây là hệ quả tất yếu của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa. Nước ta cũng không nằm ngoài quy luật chung đó khi mà ngày càng có nhiều dự án đầu tư được triển khai trên các lĩnh vực phải trưng thu đất đai như: dự án xây dựng các công trình giao thông, bến cảng, các khu công nghiệp, du lịch, và đặc biệt là các dự án xây dựng các công trình thủy điện,… Điều này kéo theo vấn đề phải tái định cư cho hàng trăm ngàn người và làm thay đổi cuộc sống của họ vốn đã được ổn định nhiều đời. Tái định cư được hiểu theo nghĩa rộng là mọi ảnh hưởng, tác động tới tài sản và tới cuộc sống của những người bị mất tài sản hoặc nguồn thu nhập do dự án phát triển gây ra, bất kể họ có phải di chuyển hay không. Tái định cư theo nghĩa hẹp chỉ sự di chuyển của các hộ bị ảnh hưởng tới định cư ở nơi ở mới [11, tr. 13]. 2.2.3. Đền bù, hỗ trợ Đền bù là việc thay thế một cách tương đương giá trị các tài sản bị mất bằng hiện vật hoặc bằng tiền. Hỗ trợ là việc trợ giúp bằng hiện vật, bằng tiền, hoặc bằng các dịch vụ cho các đối tượng bị thu hồi đất. Đền bù, hỗ trợ là một khâu trong kế hoạch tái định cư. 2.2.4. Chính sách tái định cư Ngân hàng Thế giới là một trong số ít những tổ chức đi đầu trong việc quy định các nguyên tắc tái định cư. Các yêu cầu chính sách tái định cư bắt buộc của Ngân hàng Thế giới được miêu tả chi tiết trong tài liệu hướng dẫn về tái định cư bắt buộc (OP 4.12). Định hướng mục tiêu mà chính sách nêu ra trong tài liệu là: (1) Tránh và hạn chế đến mức thấp nhất việc tái định cư đối với những dự án có thể thay thế; (2) Trong trường hợp bắt buộc tái định cư thì phải có chương trình phát triển bền vững nhằm cung cấp nguồn lực và chia sẻ lợi ích với những người bị ảnh hưởng, tư vấn và tạo điều kiện cho họ tham gia lập kế hoạch và triển khai thực hiện chương trình tái định cư; (3) Cải thiện hoặc ít nhất khôi phục khả năng tạo thu nhập và mức sống của những người bị ảnh hưởng [16]. Trước khi đồng ý cho bất kỳ một dự án phải thu hồi, chiếm dụng đất nào vay vốn, Ngân hàng Thế giới đều yêu cầu bên vay xây dựng một chương trình tái định cư chi tiết nhằm bảo vệ những người có thể phải chịu ảnh hưởng bất lợi của dự án. Chương trình tái định cư được miêu tả trong Kế hoạch hành động tái định cư (RAP). RAP giải thích về các chính sách và thủ tục sẽ được sử dụng trong quá trình di dân, bắt đầu từ khâu lập kế hoạch thu hồi đất đất ban đầu đến khâu di chuyển và khôi phục kinh tế cho những người bị ảnh hưởng. Từ kinh nghiệm thực tiễn về việc quản lý đất đai ở Việt Nam, Ngân hàng Thế giới đã đề xuất rằng việc người dân sống tại khu vực bị ảnh hưởng khi không có đủ giấy tờ sử dụng đất cũng không phải là rào cản; việc đền bù phải tính đến cả những ảnh hưởng vô hình khác. Các chính sách khác về dân tộc bản địa, công khai minh bạch trong phổ biến thông tin được đưa ra như những yêu cầu bắt buộc để đảm bảo mọi người được hưởng lợi, nhằm đảm bảo các cộng đồng dân tộc bản địa được tôn trọng, bảo tồn những nét đặc trưng về văn hóa của họ [8, tr. 19 - 20]. Như vậy, mục tiêu của chính sách tái định cư của Ngân hàng Thế giới là nhằm đảm bảo cho người dân bị ảnh hưởng có được cuộc sống ngang bằng hoặc tốt hơn trước khi dự án được triển khai. Mục tiêu này cũng khá gần với nguyên tắc tái định cư của Việt Nam, mặc dù giữa chính sách và thực tiễn vẫn là một khoảng cách lớn. Tuy nhiên, điểm mấu chốt là chính sách của Ngân hàng Thế giới đòi hỏi bên vay phải xây dựng một chương trình phục hồi thu nhập, sinh kế để thực hiện mục tiêu trên. Việc thoái thác hoặc không cam kết thực hiện chương trình hỗ trợ tái định cư sẽ có thể là nguyên nhân dẫn đến việc rút vốn, dừng công trình dự án. 2.2.5. Người (hộ) dân bị ảnh hưởng Những người (hộ) dân bị ảnh hưởng là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các chính sách an sinh xã hội và môi trường của các tổ chức quốc tế khi đề cập đến những nhóm đối tượng chịu tác động (tiêu cực) của những dự án phát triển, trong đó có tái định cư bắt buộc. Trong các chính sách có liên quan thu hồi đất, đền bù, giải phóng mặt bằng của Việt Nam, đối tuợng bị ảnh hưởng do thu hồi đất được gọi chung là “người bị thu hồi đất”. Đối tượng bị thu hồi đất là thuật ngữ dùng chung cho các tổ chức, các cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân hiện đang định cư trong nước hoặc ở nước ngoài. Theo quy định, những đối tượng này phải là những người đang sử dụng đất mà diện tích đất đó bị thu hồi. Ngoài ra, các tài sản gắn liền với đất bị thu hồi cũng được xem xét bồi thường, hỗ trợ. Trên thực tế, không phải mọi người dân bị ảnh hưởng trực tiếp do việc thu hồi đất của Nhà nước đều có quyền được bồi thường, hỗ trợ và tái định cư giống nhau. Tùy theo từng trường hợp cụ thể, các đối tượng được phân loại rõ ràng nhằm xác định các trường hợp đó có được hưởng đền bù và tái định cư hay không. Những người bị thu hồi đất nhưng không được đền bù thường là những người không có đủ giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất của họ. Đối với những trường hợp này, chính sách cũng cụ thể hóa, phân loại theo thời gian cư trú, loại hình sử dụng đất, trên cơ sở xem xét đất có bị tranh chấp hay không để quyết định mức độ bồi thường, hỗ trợ. Tuy nhiên trên thực tế đây chính là mảnh đất dễ phát sinh tiêu cực, nảy sinh các bất hợp lý trong quá trình lập phương án bồi thường. Đặc biệt khó khăn là việc người dân chuẩn bị được đầy đủ các giấy tờ xác nhận cần thiết cho việc phân loại và quyết định mức độ đền bù. Các khái niệm về tái định cư cụ thể sau đây được trích trong Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Dự án thủy điện Sơn La (Ban hành kèm theo Quyết định số 02/2007/QĐ-TTg ngày 09 tháng 01 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ), đó là: Hộ tái định cư là hộ dân (bao gồm hộ một người hoặc hộ có từ hai người trở lên) và tổ chức hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, ở trong vùng Dự án thủy điện Sơn La bị ảnh hưởng trực tiếp phải di chuyển đến nơi ở mới. Hộ tái định cư tập trung là hộ tái định cư được quy hoạch đến ở một nơi mới tạo thành điểm dân cư mới. Điểm tái định cư là điểm dân cư được xây dựng theo quy hoạch, bao gồm: đất ở, đất sản xuất, đất chuyên dùng, đất xây dựng cơ sở hạ tầng, công trình công cộng để bố trí dân tái định cư. Khu tái định cư là địa bàn được quy hoạch để bố trí các điểm tái định cư, hệ thống cơ sở hạ tầng, công trình công cộng, vùng sản xuất. Trong khu tái định cư có ít nhất một điểm tái định cư. Vùng tái định cư là địa bàn các huyện, thị xã được quy hoạch để tiếp nhận dân tái định cư. Trong vùng tái định cư có ít nhất một khu tái định cư. 2.2. Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người có đất bị thu hồi Trong công tác tái định cư, chính sách tái định cư là khuôn khổ pháp lý quan trọng để tổ chức thực hiện Dự án di dân, tái định cư thành công. Chính sách tái định cư là một nhóm các chính sách liên quan đến việc thu hồi đất, đền bù, hỗ trợ và xây dựng cơ sở hạ tầng các khu tái định cư cho những người bị ảnh hưởng khi nhà nước thu hồi đất cho các hoạt động với mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích công cộng. Các chính sách này có thể được ban hành bởi nhiều cấp chính quyền, các bộ ngành có liên quan. Tại Việt Nam, chính sách tái định cư chủ yếu dừng lại ở việc đền bù các thiệt hại cho người dân khi Nhà nước thu hồi đất, các quy định về hỗ trợ và lập khu tái định cư để tạo nơi ở mới cho các hộ phải di chuyển. Các chính sách liên quan đến các chương trình, biện pháp nhằm giúp những người bị ảnh hưởng khôi phục lại cuộc sống và sinh kế hầu như chưa được đề cập. Qua hoạt động thực tiễn, các chính sách về đền bù, hỗ trợ ở nước ta đã có những thay đổi cơ bản, từng bước được cải thiện, điều chỉnh. Từ việc thu hồi đất đai, nhà cửa không ràng buộc trách nhiệm tái định cư vào trước năm 1993, đến Nghị định 90/CP ngày 17/8/1994, Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 22/4/1998, Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 và gần đây nhất là Nghị định 84/2007/NĐ-CP là một quá trình đổi mới nhận thức về công tác di dân, tái định cư, thể hiện quyết tâm và nỗ lực to lớn của Đảng và Nhà nước trong đổi mới công tác tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phù hợp với quan điểm phát triển và hội nhập quốc tế. Trên cơ sở Luật đất đai năm 1993, Chính phủ đã ban hành Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 giao quyền cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài đất nông nghiệp vào mục đích sản xuất và Nghị định 90/CP ngày 17/8/1994 về đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất. Nghị định này mới nhấn mạnh đến việc đền bù thiệt hại khi thu hồi đất, còn vấn đề tái định cư chưa được đề cập đầy đủ, vì vậy năm 1998 Nhà nước ban hành Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 22/4/1998 về đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh - quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thay thế Nghị định 90/CP, trong đó quy định các dự án có thu hồi đất ở và đất sản xuất phải lập khu tái định cư để đảm bảo những người bị ảnh hưởng có thể ổn định đời sống và khôi phục thu thập. Năm 2003, Nhà nước ban hành Luật đất đai số 13/2003/QH11 quy định Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương lập và thực hiện các dự án tái định cư trước khi thu hồi đất để bồi thường bằng nhà ở, đất ở cho người bị thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở. Khu tái định cư được quy hoạch chung cho nhiều dự án trên cùng một địa bàn và phải có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ. Dựa trên cơ sở Luật đất đai, Chính phủ đã ban hành Nghị định 197/2004/NĐ-CP về bồi thường và hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Một trong những điểm mới của Nghị định này là yêu cầu việc thu hồi đất phải lập dự án tái định cư để đảm bảo người bị ảnh hưởng được hỗ trợ về sản xuất và đời sống ổn định cuộc sống lâu dài. Gần đây nhất là Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai. Nghị định này đã quy định cụ thể đối với một số trường hợp thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ về đất khi nhà nước thu hồi đất. Đối với tái định cư các công trình thủy điện, cho đến nay chưa có chính sách quốc gia về tái định cư các dự án công trình thủy điện. Chính sách tái định cư dự án thủy điện nằm trong khuôn khổ của chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất theo Nghị định 197/2004/NĐ-CP và Nghị định 84/2007/NĐ-CP. Việc di dời dân, giải phóng mặt bằng yêu cầu phải di chuyển nhiều người được quy định tại Điều 38 của Nghị định 197: “Đối với dự án do Chính phủ, Quốc hội quyết định phải di chuyển cả cộng đồng dân cư, làm ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống kinh tế, xã hội, truyền thống văn hóa của cộng đồng thì tùy trường hợp cụ thể Thủ tướng Chính phủ quyết định hoặc trình Chính phủ xem xét quyết định chính sách tái định cư đặc biệt với mức hỗ trợ cao nhất được áp dụng là hỗ trợ toàn bộ chi phí lập khu tái định cư mới, xây dựng nhà ở, cải tạo đồng ruộng, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất và hỗ trợ khác”. Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội năm 1997 cũng quy định các công trình thủy điện lớn, có quy mô di chuyển và tái định cư trên 20.000 người phải được._. Quốc hội xem xét thông qua. Nhận thức mục tiêu di dân, tái định cư không đơn thuần là giải phóng mặt bằng để xây dựng các công trình thủy điện mà còn gắn với phát triển bền vững. Do vậy chính sách tái định cư phải đạt được mục tiêu đảm bảo cho người dân di chuyển có cuộc sống tốt hơn nơi ở cũ và đảm bảo sự phát triển bền vững trong tương lai. Theo Nghị định 197, việc tổ chức tái định cư được Chính phủ giao cho Ủy ban nhân dân các tỉnh nơi có dân phải di chuyển là chủ đầu tư các dự án di dân tái định cư, chủ động lập kế hoạch và tổ chức bộ máy thực hiện. Trình tự các bước lập quy hoạch, thực hiện kế hoạch di dân tái định cư được thực hiện như sau [15, 5]: - Xây dựng quy hoạch định hướng tái định cư Nghiên cứu về tái định cư ở giai đoạn này nhằm phục vụ công tác lập báo cáo đầu tư xây dựng công trình và xin phép đầu tư, các nghiên cứu này nhằm mục tiêu lựa chọn quy mô đầu tư công trình và sơ bộ tổng mức đầu tư, gồm các nội dung: + Xác định quy mô ảnh hưởng và đánh giá thiệt hại do thu hồi đất theo các phương án dự kiến. + Nghiên cứu đề xuất và cân đối địa bàn bố trí tái định cư. + Đề xuất với chủ đầu tư phương án giảm thiểu thiệt hại về kinh tế xã hội và tác động môi trường vùng dự án. + Khái toán sơ bộ nhu cầu vốn đầu tư hạng mục đền bù di dân và tái định cư. - Xây dựng Quy hoạch tổng thể di dân tái định cư Các nghiên cứu về tái định cư trong giai đoạn này phục vụ lập dự án đầu tư xây dựng công trình và được triển khai cụ thể hơn tại địa bàn vùng dự án sau khi đã có phương án chọn ở giai đoạn lập báo cáo đầu tư xây dựng công trình và xin phép đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Các nội dung trong báo cáo: + Tổng hợp và đánh giá thiệt hại của dự án do thu hồi đất theo quy mô đầu tư dự án được phê duyệt. + Xác định quy mô, vị trí, địa điểm và số lượng các vùng, khu, điểm tái định cư. + Đề xuất phương án xây dựng cơ sở hạ tầng và quy hoạch sản xuất phục hồi thu nhập cụ thể cho từng khu tái định cư. + Đề xuất phương án điều chuyển dân cư tái định cư phù hợp với đặc điểm, tập quán, nguyện vọng của đầu đi và nơi đến. + Tính toán chuẩn xác tổng mức đầu tư hạng mục đền bù, di dân và tái định cư. - Xây dựng quy hoạch chi tiết các khu (điểm) tái định cư Căn cứ vào quy hoạch tổng thể, Ủy ban nhân dân các tỉnh cho lập các dự án Quy hoạch chi tiết các khu (điểm) tái định cư theo Quy hoạch tổng thể đã được Chính phủ phê duyệt. Các dự án tái định cư phải đảm bảo nguyên tắc đủ đất sản xuất và nước sinh hoạt cho những hộ bị ảnh hưởng phải di dời. Chính sách Chính phủ cũng yêu cầu việc lựa chọn các điểm tái định cư phải có dân tham gia trong việc lựa chọn nơi đến và thống nhất với phương án di chuyển. Nội dung chính của quy hoạch chi tiết bao gồm: + Quy hoạch chi tiết mặt bằng khu, điểm tái định cư. + Quy hoạch bố trí các điểm dân cư và khu chức năng nông thôn. + Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu cho khu tái định cư: Giao thông, điện, cấp thoát nước sinh hoạt; các công trình kiến trúc công cộng: Trụ sở, trường học các cấp, trạm xá, chợ, bến xe,… + Quy hoạch sản xuất và đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế phục hồi và ổn định thu nhập. + Khái toán tổng dự toán hạng mục bồi thường thiệt hại và xây dựng tái định cư. Quy hoạch chi tiết được phê duyệt là cơ sở pháp lý để triển khai công tác khảo sát thiết kế kỹ thuật hay thiết kế kỹ thuật thi công các hạng mục công trình thành phần. - Triển khai thực hiện quy hoạch chi tiết Sau khi Quy hoạch chi tiết các khu/điểm tái định cư được phê duyệt, các tỉnh lập kế hoạch đền bù và đầu tư để xây dựng các điểm tái định cư. Việc lập kế hoạch đầu tư hàng năm cho công tác di dân, tái định cư được giao cho Ủy ban nhân dân tỉnh. Căn cứ vào kế hoạch hàng năm, Chính phủ giao nguồn vốn để thực hiện. Như vậy, điểm mới của công tác tái định cư là việc lập kế hoạch đã phân cấp cho địa phương. Các địa phương lập kế hoạch trên cơ sở quy hoạch tổng thể đã phê duyệt và chính sách đã ban hành cho từng dự án. Các Bộ, ngành Trung ương chỉ chủ yếu thực hiện chức năng giám sát và kiểm tra việc thực hiện chính sách và kế hoạch đã giao. Trong thời gian qua, Chính phủ đã ban hành chính sách riêng để thực hiện công tác di dân, tái định cư một số công trình thủy điện, hồ chứa có quy mô lớn, đặc biệt là dự án xây dựng Nhà máy thủy điện Sơn La. Đây là một công trình lớn, trọng điểm quốc gia, có tác động đến nhiều mặt kinh tế xã hội, văn hóa và môi trường, nhiều vấn đề phức tạp phải đồng thời giải quyết, nên dự án này được Quốc hội, Đảng, Chính phủ hết sức quan tâm. Để có mặt bằng xây dựng, công trình sẽ phải di chuyển một số lượng lớn hộ dân, đa phần là đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn ba tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu. Công tác di dân, tái định cư được xác định là vô cùng phức tạp. Chính phủ và các bộ ngành đã ban hành nhiều văn bản liên quan đến công tác di dân, tái định cư Dự án thủy điện Sơn La. Qua thực tiễn từ năm 2004 đến nay cho thấy việc thực hiện công tác di dân, tái định cư Dự án thủy điện Sơn La diễn ra chậm hơn so với tiến độ. Để đáp ứng tiến độ của công trình và có những thay đổi cho phù hợp với yêu cầu thực tế, Chính phủ và các bộ ngành đã ban hành mới, bổ sung và thay thế một số văn bản cũ. Tính đến thời điểm hiện nay, đã có rất nhiều văn bản quy định về vấn đề di dân, tái định cư Dự án thủy điện Sơn La, trong đó có các văn bản chính sau: - Quyết định số 31/2008/QĐ-TTg ngày 25 tháng 02 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Dự án thủy điện Sơn La, ban hành kèm theo Quyết định số 02/2007/QĐ-TTg ngày 09 tháng 01 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ. Có 2 điểm nổi bật được quy định trong Quyết định này để khắc phục những tồn tại trong thực tiễn, đó là: “Trường hợp hộ tái định cư có đất sản xuất ở vị trí trên cốt ngập, chuyển đến điểm tái định cư xa nơi sản xuất cũ thì đất sản xuất tại nơi ở cũ bị thu hồi, được bồi thường thiệt hại về đất và giao đất sản xuất tại điểm tái định cư”. Quy định này được đưa ra nhằm chấm dứt tình trạng người dân tái định cư quay về nơi ở cũ để trồng trọt trên phần đất trên cốt ngập chưa bị thu hồi. Ngoài ra, để đảm bảo công bằng cho cả hộ tái định cư và hộ dân sở tại phải chia sẽ nguồn lực, văn bản trên cũng quy định: Hộ sở tại bị thu hồi đất và bị ảnh hưởng nguồn nước sinh hoạt, nguồn điện sinh hoạt để xây dựng điểm tái định cư tập trung nông thôn được hỗ trợ đầu tư nước sinh hoạt, điện sinh hoạt như đối với hộ tái định cư. - Thông tư số 138/2007/TT- BTC ngày 29/11/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn quản lý, thanh toán, quyết toán vốn đầu tư bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Dự án Thủy điện Sơn La. Đây là văn bản pháp quy hướng dẫn về trình tự, thủ tục thực hiện quản lý, thanh toán, quyết toán vốn đầu tư bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án thủy điện Sơn La bao gồm các bước từ đăng ký, thẩm tra vốn đầu tư hàng năm; chuyển vốn đến thủ tục tạm ứng, thanh toán, thu hồi tạm ứng và quyết toán vốn đầu tư. - Quyết định số 141/2007/QĐ-TTg ngày 24/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Dự án thủy điện Sơn La, ban hành kèm theo Quyết định số 02/2007/QĐ-TTg ngày 09 tháng 01 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ. Quyết định này bổ sung quy định về mức hỗ trợ sản xuất cho hộ tái định cư và quy định để đảm bảo quyền lợi cho hộ sở tại bị thu hồi đất để xây dựng khu tái định cư. - Quyết định số 02/2007/QĐ-TTg ngày 09 tháng 01 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Dự án thủy điện Sơn La. Nội dung trong quyết định này bao gồm các quy định về nguyên tắc, điều kiện, mức bồi thường thiệt hại về đất, thiệt hại về tài sản (nhà ở, cơ sở hạ tầng, cây trồng vật nuôi, …), các quy định về xây dựng khu tái định cư; Quy định các mức hỗ trợ xây dựng nhà ở, hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ đời sống, hỗ trợ sản xuất, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề,… Trong đó có một số nội dung cụ thể liên quan đến hộ tái định cư tập trung nông thôn như sau: Một trong những nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là: “Bảo đảm người dân tái định cư ổn định chỗ ở, ổn định cuộc sống, có điều kiện phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, từng bước hoàn thiện cơ sở hạ tầng, cuộc sống vật chất và văn hoá tốt hơn nơi ở cũ…”. Về bồi thường, trường hợp hộ di chuyển đến điểm tái định cư tập trung nông thôn “… được bồi thường thiệt hại về đất bằng việc giao đất ở, đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản và đất chuyên dụng (nếu có) theo quy hoạch điểm tái định cư được duyệt và theo quỹ đất của điểm tái định cư”. Về việc giao đất ở được quy định: “Hộ tái định cư đến điểm tái định cư tập trung nông thôn được giao đất ở tại điểm tái định cư từ 200 m2 - 400 m2/hộ. Trường hợp có điều kiện về quỹ đất thì có thể giao mức cao hơn”. Đối với đất sản xuất lương thực và trồng cây công nghiệp quy định giao cho mỗi hộ từ 1 ha trở lên, trong đó có ưu tiên bố trí diện tích đất trồng lúa nước để hộ tái định cư tự túc được lương thực sau khi hết thời gian được hỗ trợ lương thực. Về hỗ trợ đời sống: “Mỗi nhân khẩu hợp pháp của hộ tái định cư được hỗ trợ lương thực bằng tiền có giá trị tương đương 20 kg gạo/người/tháng trong 02 năm”; về hỗ trợ sản xuất: “hộ tái định cư được hỗ trợ tiền mua giống cây trồng, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật để trồng cây hàng năm, cây lâu năm và chăn nuôi. Mức hỗ trợ như sau: Hộ có 1 người được hỗ trợ 5 triệu đồng; Hộ có nhiều người thì từ người thứ 2 trở lên, mỗi người tăng thêm được hỗ trợ 2 triệu đồng”. - Quyết định số 39/2005/QĐ-BNN ngày 7/7/2005 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc Quy định áp dụng đơn giá lập quy hoạch chi tiết khu (điểm) tái định cư Dự án Thủy điện Sơn La. Định mức được nêu ra trong văn bản trên là căn cứ để lập dự toán chi phí cho công tác lập, thẩm định quy hoạch chi tiết các khu, điểm tái định cư Dự án thuỷ điện Sơn La. Đơn giá quy định tại quyết định này làm căn cứ để lập dự toán, thẩm định và nghiệm thu thanh quyết toán chi phí lập, thẩm định quy hoạch chi tiết các khu, điểm tái định cư thuộc dự án thuỷ điện Sơn La. - Quyết định số 207/QĐ-TTg, ngày 11/12/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành cơ chế quản lý và thực hiện Dự án thủy điện Sơn La. Đây là văn bản quy định các cơ chế đặc thù áp dụng riêng cho quản lý và thực hiện Dự án thủy điện Sơn La, trong đó có cơ chế đặc thù quản lý và thực hiện dự án di dân tái định cư. - Quyết định số 196/QĐ-TTg, ngày 29/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể di dân, tái định cư Dự án thủy điện Sơn La. Nội dung của Quyết định nêu lên mục tiêu, nhiệm vụ, yêu cầu, phương án tổng thể quy hoạch, di dân, tái định cư thủy điện Sơn La, trong đó xác định thiệt hại và số dân phải di chuyển đến năm 2010, phương án bố trí tái định cư, dự kiến tiến độ di dân, tổng mức vốn đầu tư. 2.3. Kinh nghiệm về tổ chức và thực hiện công tác tái định cư để xây dựng công trình thủy điện tại một số nước Châu Á và Việt Nam 2.3.1. Tại một số nước Châu Á Thực tiễn thực hiện chính sách đền bù và tái định cư đối với người dân bị ảnh hưởng của các dự án phát triển, nhất là dự án thủy điện ở một số nước Châu Á rất đa dạng. Yêu cầu cơ bản cần thực hiện trong chính sách này là nhận thức đúng tầm quan trọng của chính sách, trách nhiệm của Nhà nước, chủ dự án và các cấp chính quyền trong việc thực hiện tái định cư. Những điều đó nhằm đảm bảo những lợi ích của những người dân bị di chuyển và cả người dân bản địa của các vùng được chuyển đến trong việc đảm bảo những điều kiện môi trường sống, sản xuất và ổn định cuộc sống. Mọi nỗ lực để giảm thiểu bất lợi, có kế hoạch và phương án hợp lý cho tái định cư, xây dựng các chính sách hỗ trợ đồng bộ, phát triển kinh tế xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm cải thiện cách kiếm sống cho toàn bộ những người bị ảnh hưởng để từng bước ổn định cuộc sống,… hiện tại đang là mối quan tâm, trách nhiệm của Nhà nước và các cấp chính quyền địa phương nước ta. Do đó, việc tìm hiểu những kinh nghiệm tái định cư, đặc biệt là tái định cư các công trình thủy điện ở một số nước Châu Á có điều kiện tương đồng với Việt Nam là rất cần thiết để rút ra bài học kinh nghiệm, góp phần tổ chức và thực hiện công tác tái định cư các công trình thủy điện ở nước ta được tốt hơn. Kinh nghiệm tái định cư bắt buộc của một số nước đang phát triển rất khác nhau. Trung Quốc là nước có số người bị di chuyển là khá lớn. Từ năm 1980 nước này đã đưa ra nhiều luật và quy định ở các cấp khác nhau về gần như mọi khía cạnh của công tác tái định cư. Luật Quản lý đất đai của Trung Quốc năm 1986 và các điều sửa đổi, bổ sung năm 1988 đã làm rõ quyền về đất và đảm bảo quyền sử dụng đất thuộc sở hữu Nhà nước. Cá nhân không thể mua hay bán quyền sở hữu đất. Luật này hướng dẫn các tỉnh, thành phố, quận, huyện và thị trấn chịu trách nhiệm thực hiện chiếm dụng đất và tái định cư, chính thức hóa các thủ tục, tham khảo ý kiến và giải quyết khiếu nại của những người bị ảnh hưởng. Trong quá trình cải cách kinh tế, Trung Quốc đã xây dựng rất nhiều công trình thủy lợi, thủy điện lớn, trong đó phải kể đến việc xây dựng đập chắn nước Tam Hiệp. Bên cạnh lợi ích mà công trình tạo ra như tăng công suất điện, kiểm soát lũ…, việc xây dựng công trình này cũng có những tác động kinh tế, xã hội trực tiếp và gián tiếp mà điển hình là việc di dời dân bởi xây dựng đập và hồ chứa lớn cần rất nhiều đất. Việc di dân có liên quan chặt chẽ tới vấn đề tái định cư. Từ năm 1950-1990, theo ngân hàng Thế giới, Trung Quốc có tới 10,2 triệu người phải di dời, trong đó riêng dự án đập Tam Hiệp phải di dời tới 1,3 triệu người. Dự án này kéo dài 13 năm với hơn 3.000 công nhân tham gia. Đây là công trình bao gồm 3 đập chắn nước lớn bắc qua sông Hoàng Hà, đó là đập Xiaolangdi, đập Shuikou và đập Yantan. Trong đó đập Xiaolangdi được xem là đập có số lượng người tái định cư lớn nhất và thành công nhất lên tới 180.000 người. Số lượng người tái định cư của đập Xiaolangdi được giải quyết trong giai đoạn 1992 - 2012, phần lớn nguồn kinh phí này sẽ được WB tài trợ. Mục đích là giải quyết thu nhập và đảm bảo mức sống tối thiểu cho người dân tái định cư thông qua việc xây dựng mới khoảng 10 thị trấn và 276 làng tái định cư. Để tạo công ăn việc làm cho người tái định cư khi chuyển từ nghề nông sang làm tại các vùng công nghiệp, Chính phủ đã khuyến khích phát triển ngành nghề kinh doanh địa phương. Các ngành nghề này sẽ được miễn thuế trong vòng 3 - 5 năm. Các doanh nghiệp công nghiệp tại các vùng tái định cư được vay vốn với lãi suất ưu đãi. Đến nay, theo báo cáo của WB, trong số 2.000 người đầu tiên được di dời thành công thì có tới 60% đã có mức thu nhập cao hơn. Tại các vùng tái định cư đã hoàn thành có 766 người đã được làm việc trong các nhà máy [10, tr. 64 - 65]. Có thể nói, chương trình tái định cư Đập Tam Hiệp được xem là chương trình tái định cư lớn nhất từ trước đến nay ở Trung Quốc và cũng tốn kém nhất. Trong đó ngoài nguồn vốn ngân sách, nguồn tài trợ WB, còn bao gồm vốn vay ngân hàng, vốn huy động từ các doanh nghiệp địa phương và các nguồn khác. Những giải pháp đưa ra trong quá trình tổ chức thực hiện tái định cư được dựa trên đặc điểm sau: Những khó khăn của vùng tái định cư sẽ tăng lên do một tỷ lệ lớn người chuyển cư đa số là dân làm nông nghiệp; Do phần lớn người chuyển đến vẫn tiếp tục làm nông nghiệp, vì vậy cần chú trọng đa dạng hóa nông nghiệp phù hợp với nguyện vọng của dân; Dân cư vùng tiếp đón thông thường không hợp tác với các kế hoạch tái định cư nên phải có các giải pháp tìm kiếm sự hợp tác của dân vùng tiếp đón. Một kinh nghiệm của Tam Hiệp là thông thường các nhà lập kế hoạch tái định cư đánh giá thấp các chi phí cho tái định cư, thường bỏ qua các dự tính cho phát triển, vì thế rất cần phải lập các Quỹ phát triển, những quỹ này cần thiết cho mục tiêu phát triển trước khi các hộ dân tái định cư có thể có lãi ròng từ sản xuất. Để chương trình tái định cư thành công, cần có quy hoạch tổng thể về giải phóng mặt bằng, xây dựng các thị trấn, các làng tái định cư (trong đó bao gồm cả quy hoạch phát triển ngành nghề) trước khi tiến hành tái định cư. Tránh tình trạng các khu tái định cư xây xong, nhưng dân tái định cư không thể ổn định cuộc sống do thiếu các công trình hạ tầng cơ sở như điện, nước…, thiếu đất sản xuất… Để tạo cuộc sống ổn định cho người dân trong diện tái định cư, điều quan trọng là tạo việc làm cho họ tại nơi tái định cư. Bên cạnh việc cấp tiền bồi thường cho người dân, Trung Quốc đặc biệt chú trọng tới việc tạo công ăn việc làm cho người tái định cư thông qua việc quy hoạch lại các ngành nghề, khuyến khích phát triển các doanh nghiệp thuộc các vùng tiếp nhận dân tái định cư, gắn kết giữa sản xuất nông nghiệp với sản xuất công nghiệp, tạo điều kiện cho người dân tái định cư mà phần lớn là nông dân có thể tìm được việc làm phù hợp. Một kinh nghiệm rất đáng tham khảo đó là sự phối hợp giữa hỗ trợ của chính quyền sở tại với đóng góp kinh phí của chính những người dân tái định cư. Tại Indonexia, theo quy định số 1/1994 của Bộ trưởng Các vấn đề ruộng đất và cơ quan Đất quốc gia hướng dẫn thực thi Nghị định 55/1993 về Chiếm dụng đất vì sự phát triển lợi ích công cộng. Thống đốc mỗi tỉnh sẽ thành lập một Ban Chiếm dụng đất theo từng cấp (I hoặc II). Ban này có quyền kiểm kê đất đai và các tài sản khác trên đất bị chiếm dụng, kiểm tra tình trạng pháp lý của đất, thông báo và thương lượng với những người bị ảnh hưởng và cơ quan sử dụng đất, ước tính đền bù, ghi lại và chứng kiến việc trả đền bù [9, tr. 23 - 24]. Tại Philipin, Hiến pháp năm 1997 định ra chính sách cơ bản về đất đai và đòi hỏi đền bù công bằng cho đất tư nhân bị Nhà nước xung công. Lệnh Hành pháp 1035 (1985) của Chính phủ, hướng dẫn việc thu hồi tài sản tư nhân vì mục đích phát triển, theo đó Chính phủ có thể sử dụng biện pháp mua theo thỏa thuận hoặc trưng dụng. Việc đền bù hoa màu bị thiệt hại của người thuê đất, các cộng đồng văn hóa và người dân phải chuyển cư do Bộ Cải cách ruộng đất và các cơ quan chiếm dụng đất tiến hành [9, tr. 24]. Đối với Thái Lan và Malaixia, cả hai nước này đều không có luật tái định cư, nhưng việc tổ chức, thực hiện công tác di dân, tái định cư trong ngành điện của cả hai nước tỏ ra rất hiệu quả. Trong dự án thủy điện Batang Ai ở Malaixia, các chính sách và kế hoạch di chuyển người bản địa được nghiên cứu và chuẩn bị kỹ càng. Cơ quan sản xuất điện ở Thái Lan, khu vực Nhà nước, đã liên tục cải tiến các hoạt động tái định cư ngay từ khi thành lập (năm 1968), chính sách tái định cư cho mỗi dự án đều dựa trên các bài học từ những dự án trước. Chiến lược tái định cư của nhà cầm quyền dựa trên cơ sở thương lượng trực tiếp với các cộng đồng bị ảnh hưởng và đền bù trọn gói [9, tr. 24]. Tóm lại, các nguyên tắc chung cần phải tuân thủ khi tổ chức, thực hiện công tác tái định cư nói chung và tái định cư các công trình thủy điện nói riêng được các nước áp dụng là: - Đền bù đất đai và tài sản bị mất theo giá trị thay thế. Đền bù các công trình kiến trúc bao gồm cả chi phí tháo dỡ, vật liệu hư hỏng, vận chuyển đến nơi mới, lắp đặt theo phong tục tập quán văn hóa dân tộc. - Coi trọng đặc biệt việc giải quyết đất sản xuất cho hộ tái định cư trong nông nghiệp. Việc chuyển đổi nghề nghiệp chỉ thực hiện khi không thể tìm được đất canh tác. Các tổ chức Tài chính như WB, ADB cũng khuyến khích chủ trương “đất đổi đất” trong các dự án cho vay cũng như các dự án phát triển nói chung. - Các chương trình di dân, tái định cư phải chú trọng việc đầu tư khai hoang, chuyển nhượng hoặc trưng thu đất, đầu tư các công trình thủy lợi, thâm canh đa dạng hóa sản xuất, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp là giải pháp căn bản để phục hồi thu nhập cho hộ gia đình sau tái định cư. Nhận thức việc phục hồi thu nhập cho hộ tái định cư là quá trình trong nhiều năm, Chính phủ Trung Quốc đã lập ra quỹ phục hồi thu nhập sau tái định cư để hỗ trợ cho người dân 10 năm, thậm chí 20 năm cho hộ gia đình sau tái định cư. Nguồn vốn hỗ trợ cho tái định cư được trích từ thuế tài nguyên của các công trình thủy điện. 2.3.2. Tại Việt Nam Ngoài việc học tập kinh nghiệm về di dân, tái định cư ở nước ngoài, việc đúc rút kinh nghiệm trong việc di dân, tái định cư từ chính các công trình thủy điện trước đây ở nước ta là rất cần thiết. Một kinh nghiệm đáng lưu tâm là từ thực tiễn và kết quả công tác tái định cư dự án thủy điện Hòa Bình. Công tác di chuyển và tái định cư người dân vùng lòng hồ sông Đà Hòa Bình là một công việc rất quan trọng trong tiến trình xây dựng nhà máy thủy điện, lại được tiến hành trong những năm đất nước gặp nhiều khó khăn về kinh tế và ở một tỉnh miền núi có nền kinh tế chậm phát triển, cơ sở hạ tầng chưa phát triển, đời sống nhân dân đa số rất khó khăn. Đây là lần đầu tiên tỉnh Hòa Bình phải tổ chức di chuyển dân với số lượng lớn nên chưa có kinh nghiệm và gặp nhiều lúng túng. Địa bàn di chuyển và tái định cư các hộ dân diễn ra trong phạm vi 25 xã, phường ven hồ và sát ven hồ cùng 18 điểm đón nhân dân di chuyển ra ngoài vùng. Phương thức di dân, tái định cư được áp dụng là: chuyển đến xen ghép với các điểm dân cư cũ; tổ chức hình thành những điểm dân cư mới theo quy hoạch trong nội bộ tỉnh; di vén dân tại chỗ lên khu vực cao hơn (hình thức này chiếm gần 50% số hộ phải di chuyển). Sau khi di chuyển và tái định cư thực trạng đời sống của đồng bào đa số còn gặp nhiều khó khăn. Phần lớn hộ dân được di vén tại chỗ sống co cụm tạo ra nhiều chòm xóm rải rác dọc 2 bên ven hồ (khoảng 140 điểm), nhiều điểm mật độ dân quá đông, thiếu đất bằng để ở, không có đất sản xuất, địa hình chia cắt, độ dốc lớn đã làm hàng ngàn hộ dân lâm vào cảnh cực kỳ khó khăn, thu nhập đầu người năm 1990 - 1991 bình quân 70 kg lương thực/người, nạn đói diễn ra triền miên trên diện rộng, vấn đề nước sinh hoạt, phương hướng sản xuất cho dân ven hồ đặt ra hết sức nóng bỏng, do đói nghèo nên nạn phá rừng làm nương rẫy rất gay gắt và ngày càng phức tạp trực tiếp đe dọa an toàn của hồ thủy điện [1]. Trước tình hình đó, tỉnh Hòa Bình đã tổ chức điều tra cơ bản hiện trạng dân sinh vùng chuyển dân sông Đà và từ đó xác định nhiệm vụ cấp bách là giải quyết những vấn đề tồn đọng sau khi chuyển dân, tiếp tục hình thành và củng cố các điểm dân cư. Sau khi đã di chuyển, tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng tạo điều kiện cho phát triển sản xuất, ổn định đời sống nhân dân nhất là các xã ven hồ. Những bài học rút ra từ công tác tổ chức và thực hiện di dân, tái định cư thủy điện Hòa Bình là: - Làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến thông tin về công tác di dân, tái định cư đối với quần chúng nhân dân để người dân tự giác chấp hành chủ trương của Đảng và Nhà nước. - Chính sách đền bù, bồi thường thiệt hại cho dân phải hợp lý, dân chủ và công bằng, tránh nhiều tầng nấc trung gian, thủ tục phiền hà, ở công trình này việc xây dựng và duyệt chế độ đền bù cho dân không nhất quán, đơn giá rất thấp, thực hiện kéo dài nhiều đợt, thay đổi nhiều lần, giảm lòng tin đối với người dân. - Quá trình di dân, tái định cư phải gắn liền với quá trình tổ chức lại sản xuất để nơi dân đến có cuộc sống bằng hoặc cao hơn nơi ở cũ. Muốn vậy công tác quy hoạch phải đi trước và điều tra kỹ lưỡng, quy hoạch hoàn chỉnh về phương hướng sản xuất, xây dựng đồng bộ về cơ sở hạ tầng. - Quy hoạch địa bàn đón dân phải tính đến việc phù hợp với phong tục tập quán của đồng bào. Ngoài việc đảm bảo điều kiện sinh hoạt và sản xuất của dân phải xây dựng được chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đảm bảo ổn định đời sống lâu dài của người dân. Tóm lại, từ thực tiễn di dân, tái định cư công trình thủy điện Hòa Bình cho thấy di dân và quy hoạch phát triển, tổ chức lại sản xuất phải tiến hành đồng bộ, bảo đảm chính sách thỏa đáng, kịp thời trong đền bù, di dân và tái tạo sản xuất thì người dân tái định cư mới sớm ổn định cuộc sống và phát triển tốt hơn nơi ở cũ. 2.4. Những kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài Theo quy định của pháp luật nước ta thì đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Theo Luật đất đai năm 2003: Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho các đối tượng có nhu cầu thông qua quyết định giao đất, hợp đồng cho thuê đất. Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất ổn định bằng việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người đó. Khi Nhà nước cần sử dụng đất vào các mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, lợi ích kinh tế thì Nhà nước sẽ tiến hành thu hồi đất đã giao và bồi thường, hỗ trợ cho các đối tượng bị thu hồi đất. Vấn đề đang rất được quan tâm hiện nay là những người bị thu hồi đất, đặc biệt là những người ở nông thôn, đồng bào vùng sâu vùng xa có thu nhập thấp phải di dân tái định cư đến nơi ở mới đã, đang được “an cư lạc nghiệp” chưa hay vẫn phải sống trong điều kiện khó khăn về vật chất và tinh thần? Hiện tại đã có một số báo cáo, đề tài nghiên cứu về vấn đề trên ở khía cạnh đánh giá về thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các công trình phục vụ lợi ích quốc gia (chủ yếu là khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội) thông qua số liệu điều tra trên địa bàn một số tỉnh thuộc vùng Đồng bằng Bắc bộ, Đông Nam bộ, Đồng bằng sông Cửu Long. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có báo cáo đánh giá chung về tình hình thực hiện công tác di dân, tái định cư các công trình thủy điện, thủy lợi giai đoạn 1992 - 2006. Trên giác độ cơ quan quản lý Nhà nước, báo cáo đánh giá về những thuận lợi, khó khăn, những mặt được và chưa được của công tác di dân, tái định cư các công trình thủy điện, thủy lợi, chứ chưa đề cập nhiều đến cuộc sống của người dân tái định cư. Ngoài ra cũng có đề tài nghiên cứu về đời sống của người dân tái định cư trên góc nhìn tác động của chính sách tái định cư với cách đánh giá nghiêng về mặt đời sống xã hội của người dân. Đề tài được nghiên cứu ở một dự án cụ thể là Dự án thủy điện Bản Vẽ - Nghệ An. Những công trình nghiên cứu nêu trên đã phân tích, đánh giá được những mặt tích cực và tiêu cực trong quá trình thu hồi đất hiện nay để xây dựng các công trình phục vụ lợi ích quốc gia nói chung và công trình thủy điện nói riêng. Qua đó đã phản ánh được phần nào cuộc sống của người dân bị thu hồi đất đang sống tại các khu tái định cư, đời sống của họ đa số còn gặp rất khó khăn về vật chất và tinh thần. Mặc dù vậy hiện nay chưa có một nghiên cứu nào đi sâu phân tích, đánh giá một cách toàn diện về đời sống của đối tượng bị thu hồi đất là đồng bào dân tộc thiểu số tại các điểm tái định cư miền núi phía Bắc, đặc biệt là một số lượng lớn người dân phải tái định cư trong Dự án thủy điện Sơn La. Về mặt chính sách, các cơ chế về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người dân bị thu hồi đất ở dự án này có thể nói là tốt nhất so với các dự án cùng loại khác. Vì vậy những khuyến nghị, giải pháp được nêu ra sau khi nghiên cứu đề tài sẽ là những kinh nghiệm thiết thực cho việc lập và thực hiện các dự án tái định cư công trình thủy điện khác nói riêng và dự án tái định cư các công trình công cộng nói chung ở nước ta. PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 3.1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Sơn La * Điều kiện tự nhiên Sơn La là một tỉnh miền núi Tây Bắc Việt Nam, cách Hà Nội 320 km, có toạ độ địa lý: 20039’ - 22002’ vĩ độ Bắc và 103011’ - 105002’ kinh độ Đông. Phía bắc giáp các tỉnh Yên Bái, Lai Châu; phía đông giáp các tỉnh Phú Thọ, Hoà Bình; phía tây giáp với tỉnh Điện Biên; phía nam giáp với tỉnh Thanh Hoá và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào. Là tỉnh nằm trong khu vực khí hậu gió mùa nhiệt đới với những đặc điểm: nhiệt độ thấp, lương mưa thấp và nhiều sương muối vào mùa đông nhưng vào mùa hè lại có lượng mưa lớn và nhiệt độ cao. Diện tích tự nhiên của toàn tỉnh là 1.417.444 ha, trong đó đất đang được sử dụng là 883.912 ha (chiếm 62,4% diện tích tự nhiên), so với cả nước tỷ lệ này là 85,7%. Diện tích đất sản xuất nông nghiệp chiếm 17,4% diện tích tự nhiên, chủ yếu trồng lúa, ngô và sắn. Sơn La là một trong những tỉnh có diện tích rừng và đất có khả năng phát triển lâm nghiệp khá lớn (chiếm 70% diện tích tự nhiên), đất đai phù hợp với nhiều loại cây, có điều kiện xây dựng hệ thống rừng phòng hộ và tạo các vùng rừng kinh tế hàng hoá có giá trị cao. Rừng Sơn La có nhiều thực vật quý hiếm, có các khu đặc dụng có giá trị đối với nghiên cứu khoa học và phục vụ du lịch sinh thái trong tương lai. Hiện nay diện tích đất lâm nghiệp của tỉnh là 587.375 ha, trong đó rừng phòng hộ chiếm 83%. Bảng 3.1: Diện tích đất đai tỉnh Sơn La Loại đất Diện tích (ha) Cơ cấu (%) Tổng diện tích tự nhiên 1.417.444 Đất nông nghiệp 836.734 59,03 Đất sản xuất nông nghiệp 247.224 29,55 Trong đó: Đất trồng lúa 31.352 Đất lâm nghiệp 587.375 70,20 Trong đó: Rừng phòng hộ 490.384 Đất phi nông nghiệp 47.178 3,33 Trong đó: Đất ở 6.793 14,40 Đất chuyên dùng 15.725 33,33 Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 21.816 46,24 Đất chưa sử dụng 533.532 37,64 Trong đó: Đất đồi núi chưa sử dụng 491.041 59,03 (Nguồn: Số liệu thống kê năm 2008) Về tài nguyên nước: Sơn La có tiềm năng về tài nguyên nước với 35 suối lớn; 2 sông lớn là sông Đà dài 280 km với 32 phụ lưu và sông Mã dài 90 km với 17 phụ lưu; 7.900 ha mặt nước hồ Hoà Bình và 1.400 ha mặt nước ao hồ. Mật độ sông suối 1,8 Km/km2 nhưng phân bố không đều, sông suối có độ dốc lớn, nhiều thác ghềnh do địa hình núi cao, chia cắt sâu. Đây cũng là lợi thế để Sơn La phát triển ngành công nghiệp thủy điện, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, của vùng Tây Bắc và nâng cao sản lượng điện quốc gia. * Kinh tế - xã hội Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và cùng với xu thế phát triển chung của cả nước, những năm gần đây nền kinh tế của Sơn La đã có những chuyển biến tích cực, sản xuất phát triển theo hướng hàng hóa, đã xuất hiện những nhân tố mới tạo đà để tiếp tục đổi mới và phát triển. Bảng 3.2: GDP, cơ cấu, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Sơn La qua các năm Năm, Chỉ tiêu Tổng GDP theo giá so sánh (tỷ đồng) Nông, lâm nghiệp và thủy sản Công nghiệp và xây dựng Dịch vụ Giá trị (tỷ đồng) ._.g bào tiếp cận dần với nếp sống văn minh. * Về chính sách đền bù, hỗ trợ Chính sách đền bù hỗ trợ cần được ban hành thống nhất, công khai, minh bạch trước nhân dân và trên các phương tiện thông tin đại chúng, có chế độ kiểm tra đôn đốc thường xuyên. Đối với đất sản xuất, về nguyên tắc phải bảo đảm cấp cho hộ tái định cư đất sản xuất có chất lượng tốt với diện tích nhất định phù hợp với từng địa phương. Về lâu dài cần phải quy định bảo đảm diện tích sản xuất lúa nước vừa đủ để các hộ tái định cư có diện tích sản xuất ổn định. Tăng mức hỗ trợ về ổn định đời sống người dân sau tái định cư như hỗ trợ về lương thực cần được kéo dài từ 3 - 5 năm, tăng và kéo dài thời gian hỗ trợ về y tế, giáo dục, … Việc phục hồi thu nhập cho hộ tái định cư là công tác đòi hỏi phải có thời gian và nguồn kinh phí lớn. Cần có chính sách quy định việc hình thành một quỹ phục hồi thu nhập sau tái định cư để hỗ trợ lâu dài cho người dân trong khoảng thời gian dài từ 10 năm, thậm chí 20 năm. Nguồn kinh phí này có thể được trích ra từ việc kinh doanh điện của các chủ đầu tư với một tỷ lệ hợp lý. Phần nhỏ còn lại sẽ do Nhà nước bù đắp bằng ngân sách do việc các công trình thủy điện thường là các công trình đa mục tiêu, trong đó có cả việc phục vụ nước tưới cho hạ lưu và điều tiết lũ. Cần có chính sách phù hợp khuyến khích dân chuyển đổi sang phi nông nghiệp để giảm áp lực yêu cầu đất dành cho tái định cư. Đồng thời có cơ chế, chính sách hấp dẫn các doanh nghiệp đầu tư vào khu vực tái định cư để giải quyết việc làm cho các hộ dân sau tái định cư. Đặc biệt phải có cơ chế tổ chức có hiệu quả và giám sát việc giải quyết việc làm sau tái định cư để đảm bảo người bị ảnh hưởng có khả năng phục hồi thu nhập sau tái định cư. * Về vốn và cơ chế điều hành nguồn vốn Để đảm bảo đủ kinh phí cho hỗ trợ ổn định sản xuất và đời sống, cần thay đổi cơ cấu đầu tư bằng việc tăng tỷ lệ vốn cho các chi phí đền bù, hoạt động hỗ trợ sản xuất để ổn định và cải thiện đời sống người dân tái định cư. Bổ sung ngân sách Nhà nước thông qua các chính sách hiện hành phối hợp với nguồn vốn đền bù tái định cư của chủ đầu tư để cải thiện đời sống xã hội, nâng cao dân trí và đảm bảo ổn định cuộc sống bền vững cho nhân dân. 4.5.2.2. Nhóm giải pháp phát triển sản xuất * Phát triển sản xuất nông nghiệp Đối với loại cây trồng mà người dân đang canh tác hiện nay là cây ngô, để nâng cao năng suất và chất lượng ngô, phòng nông nghiệp kết hợp với tổ chức khuyến nông cần lựa chọn giống ngô mới có năng suất cao, chất lượng tốt, khả năng chịu hạn tốt, phù hợp với đất dốc để trồng thử nghiệm và nếu thành công sẽ hướng dẫn người dân canh tác nhằm nâng cao năng suất loại cây này. Bên cạnh đó, các nhà khoa học cũng như những ban ngành chức năng (Hội nông dân, Tổ chức khuyến nông, Phòng nông nghiệp cấp huyện cấp xã) cần vào cuộc để tìm hiểu, nghiên cứu giúp người dân tìm ra hệ thống cây trồng (có thể là loại cây hoặc giống cây mới) phù hợp với điều kiện tự nhiên của bản tái định cư, có thể là một số loại cây hàng năm (như cây lạc, đậu tương,…) hoặc một số loại cây ăn quả hoặc cây công nghiệp lâu năm có giá trị kinh tế cao (như chè, cao su, nhãn, mận,…) đáp ứng nhu cầu của thị trường nhưng phải phù hợp với trình độ và tập quán sản xuất của người dân, nhằm đa dạng hóa cây trồng, tránh tình trạng độc canh cây ngô như hiện nay. Đặc điểm địa hình tại hai điểm tái định cư là khá cao và dốc, diện tích đất trồng lúa nước rất ít, hầu hết là đất nương rẫy trồng ngô, tưới tiêu tự nhiên. Do đó chính quyền địa phương cần phải chú ý đến việc đầu tư hệ thống thủy lợi dự trữ và dẫn nước cho sản xuất tạo điều kiện thuận lợi cho thâm canh, đa dạng hóa sản xuất trên địa bàn tái định cư (bằng cách đào hồ trữ nước, lắp đặt hệ thống đường ống dẫn nước đến từng thửa đất, dùng máy bơm tưới nước cho cây khi nào mùa khô). Chính quyền địa phương nên phối hợp với người dân sở tại tìm kiếm những diện tích đất trống, chưa sử dụng có thể trồng trọt được để giao thêm diện tích đất sản xuất cho đồng bào tái định cư và người dân sở tại bị thiếu đất sản xuất. Các tổ chức đoàn thể như Hội nông dân, Hội phụ nữ, Tổ chức khuyến nông cần có các biện pháp giúp đỡ người dân trong việc bổ túc và nâng cao kỹ năng trong sản xuất như mở các lớp tập huấn hướng dẫn người dân kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi những cây con phù hợp với tập quán sản xuất của đồng bào và điều kiện tự nhiên của địa phương. Hướng dẫn các hộ dân trong việc phòng ngừa dịch bệnh cho gia súc gia cầm, nhất là khi thời tiết quá lạnh hoặc quá nóng. Công tác khuyến nông cần được đẩy mạnh các hoạt động cung cấp, phổ biến thông tin giúp người dân nắm bắt được chủ trương, chính sách của Nhà nước về nông nghiệp nông thôn có liên quan đến đối tượng đồng bào dân tộc; những thông tin về kỹ thuật trong sản xuất; thông tin về thị trường các yếu tố đầu vào trong sản xuất cũng như những sản phẩm nông nghiệp. Đây cũng là một cách nâng cao trình độ sản xuất cho người dân trong vùng. Khi chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho dân, chính quyền địa phương nên mở các lớp tập huấn để hướng dẫn người dân trong việc sử dụng hợp lý và có hiệu quả số tiền bồi thường, hỗ trợ, định hướng cho người dân dành phần lớn số tiền cho việc đầu tư phát triển sản xuất nhằm ổn định cuộc sống lâu dài, chứ không nên chỉ dùng số tiền đó để mua sắm đồ dùng sinh hoạt. * Phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ Chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất cần được vận dụng linh hoạt. Chính quyền địa phương không nên chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ bằng tiền mà nên có hình thức hỗ trợ thích hợp có thể bằng việc giao đất phi nông nghiệp hoặc đào tạo nghề mang tính bắt buộc. Xây dựng hệ thống đào tạo nghề cho những người trong độ tuổi lao động trong bản, việc này cần có sự hỗ trợ chính của trường dạy nghề của huyện; Mở các lớp dạy nghề mộc, điện dân dụng, sửa chữa xe máy,… cho những người chưa có việc làm hoặc những người có nhu cầu thay đổi việc làm để người dân có thể tự mở cơ sở sản xuất hoặc làm thuê bên ngoài. Do trình độ dân trí cũng như chuyên môn của người dân còn hạn chế nên song song với việc giao đất phi nông nghiệp thì Chính quyền địa phương và phòng công thương cấp huyện, xã cần có sự hướng dẫn, tập huấn cho đồng bào về những kỹ năng trong sản xuất kinh doanh, dịch vụ. Có thể bắt đầu từ những việc kinh doanh những mặt hàng đơn giản để phục vụ người dân trong bản và những bản lân cận như cửa hàng tạp hóa, cửa hàng thực phẩm, vật liệu xây dựng, các yếu tố đầu vào cho sản xuất nông nghiệp,… Bên cạnh đó, các tổ chức đoàn thể như hội nông dân, hội phụ nữ, tổ chức khuyến nông trên địa bàn xã nên tìm hiểu tập quán sản xuất truyền thống của đồng bào dân tộc Thái để có thể phục hồi và phát triển một số nghề truyền thống sản xuất ra những sản phẩm mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc như nghề dệt thổ cầm,… đồng thời tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm. Từ đó có thể giúp đồng bào có thêm thu nhập ngoài sản xuất nông nghiệp mà vẫn giữ được nét truyền thống văn hóa dân tộc. Để có thể tổ chức sản xuất, kinh doanh dịch vụ ngoài kỹ năng chuyên môn thì vấn đề quan trọng là cần có vốn để thực hiên. Do đó chính quyền địa phương cần phối hợp cùng với các tổ chức tín dụng, hội nông dân, hội phụ nữ trên địa bàn để trợ giúp cho người dân bằng cách cho vay không lấy lãi hoặc với lãi suất thấp,... Ngoài ra, chính quyền địa phương nên có những ưu đãi trong việc thu hút doanh nghiệp từ bên ngoài vào đầu tư sản xuất kinh doanh tại địa phương (như miễn giảm tiền sử dụng đất, miễn giảm thuế,…), nhằm tạo cơ hội việc làm cho thanh niên trong bản. 4.5.2.3. Nhóm giải pháp ổn định đời sống * Cơ sở hạ tầng kỹ thuật Chính quyền địa phương cần có sự đầu tư để đảm bảo cung cấp đủ về số lượng và chất lượng nước sinh hoạt cho đồng bào tái định cư, vì thiếu nước sinh hoạt và chất lượng nước không đảm bảo vệ sinh sẽ gây ra những ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người dân. Trước mắt, cần hướng dẫn người dân xây dựng bể hứng nước mưa để dữ trữ phòng khi thiếu nước về mùa khô. Về lâu dài để đảm bảo đủ nước sinh hoạt cho người dân tránh phụ thuộc vào nước từ đầu nguồn hoặc nước mưa thì cần có sự đầu tư xây dựng một nhà máy lọc nước sử dụng ngay nguồn nước sông Đà, tùy thuộc vào quy mô của nhà máy sẽ đảm bảo cung cấp đủ nước sinh hoạt cho đồng bào tái định cư và người dân sở tại trên địa bàn huyện hoặc tỉnh. * Cơ sở hạ tầng xã hội Để giảm bớt khoảng cách từ nhà đến trường của học sinh trong bản, Chính quyền địa phương phối hợp với phòng giáo dục, phòng tài nguyên và môi trường để mở thêm một số lớp học cắm bản, lớp mẫu giáo, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại của học sinh. Để đảm bảo sức khỏe cho người dân trong bản, chính quyền địa phương, cơ quan y tế, hội phụ nữ nên mở các lớp tập huấn về sức khỏe cộng đồng nhằm cung cấp cho người dân những kiến thức cơ bản trong việc bảo vệ sức khỏe của chính mình và người thân. Ngoài ra, chính quyền cần có sự đầu tư cơ sở vật chất, đặc biệt là phương tiện và thuốc men trong việc khám chữa bệnh cho người dân trong bản. Hướng dẫn người dân từ bỏ những tập quán sản xuất không đảm bảo vệ sinh như làm chuồng trại chăn nuôi ngay cạnh nhà ở gây mất vệ sinh và ô nhiễm môi trường. Đồng thời từng bước khuyến khích người dân tạo dựng nếp sống văn minh hiện đại. Chính quyền địa phương cần đặc biệt quan tâm đến phong tục tập quán, văn hóa truyền thống của đồng bào. Để một số loại hình sinh hoạt văn hóa cộng đồng của đồng bào Thái không bị mai một do thay đổi môi trường sống như tục lệ cầu mùa, hình thức mùa xòe, múa sạp,… thì ngoài ý thức tự bảo tồn của người dân, rất cần sự vào cuộc của các cơ quan có liên quan như chính quyền địa phương; phòng văn hóa huyện, xã bằng các hình thức khác nhau như tổ chức lễ hội, sinh hoạt văn hóa thường kỳ,… nhằm bảo tồn và phát triển hình thức sinh hoạt cộng đồng mang đậm bản sắc văn hóa độc đáo của người Thái, đây là một yếu tố góp phần đảm bảo tái định cư bền vững. Trên đây là hệ thống các biện pháp, nếu thực hiện tốt sẽ góp phần giúp đồng bào tái định cư có được việc làm, phát triển sản xuất và ổn định cuộc sống theo hướng phát triển bền vững. PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 5.1. Kết luận Công tác di dân, tái định cư các công trình thủy điện được xác định là nhiệm vụ chính trị của toàn Đảng, toàn dân, là nhiệm vụ chung của toàn xã hội phải tham gia đóng góp nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Di dân, tái định cư nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối cho công trình thủy điện, đồng thời đảm bảo cho người tái định cư có chỗ ở ổn định, có đất sản xuất, nâng cao thu nhập, từng bước ổn định cuộc sống vật chất, tinh thần theo hướng tốt hơn nơi ở cũ và phát triển bền vững góp phần xây dựng mô hình nông thôn mới, giảm thiểu tác động xấu đối với môi trường sinh thái. Nhìn chung, các chính sách về tái định cư đã và đang được hoàn thiện dần theo chiều hướng có lợi cho những người bị ảnh hưởng. Qua thực tế triển khai công tác giải phóng mặt bằng và thu hồi đất vì những mục đích khác nhau, Chính phủ đã và đang xây dựng các chính sách, pháp lý hoàn thiện hơn cho công tác này. Đối với công trình mang tính đặc thù như thủy điện Sơn La, Chính phủ đã quy định chính sách riêng cho việc di dân, tái định cư. Đặc điểm của người dân tái định cư các công trình thủy điện nói chung đa số là đồng bào dân tộc thiểu số, cụ thể tại hai điểm điều tra 100% là đồng bào dân tộc Thái, trình độ dân trí còn khá thấp, sản xuất nông nghiệp thuần tùy theo kinh nghiệm với truyền thống là canh tác lúa nước, không có sự am hiểu về kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi. Diện tích đất sản xuất tại điểm tái định cư chủ yếu là đất nương rẫy thích hợp với việc trồng màu, cụ thể là cây ngô, thực tế cho thấy đồng bào trồng ngô đã thu hoạch với năng suất khá cao. Tuy nhiên với việc độc canh một loại cây trồng và với diện tích đất đai có hạn (thấp hơn so với nơi ở cũ) nên thu nhập của người dân còn khá thấp (thấp hơn so với nơi ở cũ). Bên cạnh đó người dân chưa nhận được sự hướng dẫn về kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi từ tổ chức khuyến nông, các tổ chức đoàn thể xã hội chưa vào cuộc để giúp người dân trong việc tổ chức sản xuất sao cho có hiệu quả. Đến nơi ở mới có thể nói người dân đã được thụ hưởng một cơ sở hạ tầng khá tốt, đường xá hầu hết được rải nhựa, điện sinh hoạt đến từng hộ, nước sinh hoạt được dẫn từ đầu nguồn qua hệ thống ống dẫn nước đến tận nhà. Tuy nhiên, vẫn còn một số bất cập như về mùa khô vẫn xảy ra tình trạng khan hiếm, thiếu nước sinh hoạt; Công tác giáo dục, y tế tuy đã được chú ý nhưng chưa thực sự phát huy tác dụng, quãng đường từ nhà đến trạm y và trường học vẫn còn khá xa; Sinh hoạt văn hóa truyền thống của đồng bào tuy vẫn được duy trì nhưng có phần bị mai một,… Do vậy, để đảm bảo phát triển sản xuất và ổn định cuộc sống cho đồng bào theo hướng bền vững thì ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân người dân, còn cần có sự hỗ trợ, giúp đỡ của các cơ quan có chức năng, các tổ chức xã hội ở địa phương bằng các việc làm thiết thực như hướng dẫn người dân sử dụng số tiền đền bù sao cho có hiệu quả; mở các lớp đào tạo dạy nghề cho thanh niên trong bản, mở các lớp tập huấn về kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi những cây con phù hợp với tiềm năng của địa phương; cung cấp các thông tin về sản xuất kinh doanh, thị trường đầu vào và đầu ra cho người dân; tuyên truyền phổ biến thông tin về chính sách pháp luật của Nhà nước có liên quan đến đồng bào dân tộc. Ngoài ra, chính quyền địa phương cần có các chính sách ưu đãi thu hút các doanh nghiệp bên ngoài đầu tư vào nhằm tạo việc làm cho người dân trong bản; Có chính sách ưu đãi về vốn cho người dân vay để tổ chức sản xuất, kinh doanh, dịch vụ… Về cơ sở hạ tầng, chính quyền địa phương cần đầu tư để đảm bảo đủ nước sinh hoạt cho người dân vào mùa khô, tổ chức thêm các lớp học cắm bản để giảm bớt khoảng cách đi lại cho học sinh, tổ chức y tế xã, bản cần chú trọng đến việc chăm sóc sức khỏe cho đồng bào. 5.2. Đề xuất, khuyến nghị * Đối với Nhà nước và các ban ngành Tái định cư công trình thủy điện có tính đặc thù nên cần có một chính sách chung cho việc đền bù và tái định cư của các dự án thủy điện. Chính sách này phải đặc biệt chú trọng đến việc đảm bảo sinh kế lâu dài cho người dân tái định cư. Cần có một quy trình chặt chẽ cho việc xây dựng quy hoạch tái định cư cho công trình thủy điện với những đòi hỏi chặt chẽ và thống nhất về quy trình lập kế hoạch, khung thời gian, kết quả đạt được cho những hoạt động khác nhau của chương trình tái định cư. Việc lập kế hoạch tái định cư phải được chuẩn bị sớm từ giai đoạn tiền khả thi với những chi tiết rõ ràng về các hoạt động và trách nhiệm của các bên liên quan. Cần xác định một cơ quan, tổ chức để thực hiện giám sát và đánh giá độc lập việc thực hiện kế hoạch tái định cư cho dự án. Các cơ quan giám sát độc lập phải nộp báo cáo định kỳ về tiến độ thực hiện và đề xuất những kiến nghị liên quan tới những vấn đề phát hiện được. Cơ chế đầu tư cho công trình thủy điện cần phân định rõ nguồn kinh phí: Kinh phí đầu tư của công trình trong đó bao gồm kinh phí xây dựng nhà máy, kinh phí đền bù, tái định cư cho các hộ bị ảnh hưởng trực tiếp do yêu cầu di dân, tái định cư. Nguồn kinh phí này do doanh nghiệp xây dựng nhà máy thủy điện chịu trách nhiệm và được hạch toán vào công trình; Kinh phí đầu tư cho phát triển đồng bào dân tộc và phát triển vùng do ngân sách Nhà nước đầu tư. Đồng bào các dân tộc và cộng đồng các vùng thuộc khu vực có dự án đều được hưởng lợi. Ngoài ra, đơn vị vận hành công trình, kinh doanh điện (hiện nay là Tập đoàn Điện lực Việt Nam) phải có trách nhiệm cao trong việc hoàn trả những thiệt hại cho người dân tái định cư. Để được sử dụng tài nguyên đất và tài nguyên nước thì cần phải trả mức bồi hoàn xứng đáng. Do đó việc gắn trách nhiệm của Tập đoàn Điện lực Việt Nam với công tác phục hồi sinh kế cho người dân tái định cư là cần thiết, nhằm đảm bảo công bằng cho những hy sinh về vật chất và tinh thần của đồng bào phải di chuyển chỗ ở nhường đất xây dựng nhà máy thủy điện. Công trình thủy điện thường được xây dựng tại khu vực miền núi phần lớn là nơi sinh sống của đồng bào các dân tộc thiểu số nên trước khi thực hiện nên có những điều tra kỹ lưỡng về nhu cầu, nguyện vọng cũng như phong tục, lối sống, thực trạng sử dụng đất và sinh kế của người dân nhằm đảm bảo xây dựng được một kế hoạch tái định cư thật rõ ràng và khoa học. Trên cơ sở đó, sẽ tiến hành tổ chức thực hiện với mục tiêu đảm bảo cho người dân tái định cư các công trình thủy điện nói chung và thủy điện Sơn La nói riêng nhanh chóng ổn định cuộc sống và tiến tới phát triển bền vững. * Đối với địa phương Chính quyền địa phương (cấp huyện, cấp xã) nơi có bản tái định cư cần lập dự án xây dựng hệ thống cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương, kỹ thuật không quá phức tạp và tìm được thị trường tiêu thụ sản phẩm nhằm giúp đồng bào đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp, tiến tới sản xuất hàng hóa. Hội nông dân, tổ chức khuyến nông cần đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền phổ biến, mở các lớp tập huấn về kỹ năng sản xuất cho nông dân trong bản. Chính quyền cấp xã phối hợp chính quyền cấp huyện giữ lại một phần kinh phí tái định cư kết hợp với kinh phí từ các chương trình dự án xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số để mở các lớp dạy một số nghề cơ bản thông dụng cho thanh niên trong bản. Ngoài ra, cơ quan chức năng về văn hóa nên đầu tư một thư viện, trong đó có sách, báo, máy vi tính nối mạng internet và hướng dẫn, khuyến khích người dân trong bản tham gia đọc và sử dụng nhằm góp phần nâng cao trình độ dân trí cho đồng bào nơi đây. * Đối với người dân tái định cư Bên cạnh sự hỗ trợ giúp đỡ từ bên ngoài thì bản thân người dân trong bản cần có sự nỗ lực vươn lên bằng cách động viên con em đến trường đầy đủ học tập để nhanh chóng nâng cao trình độ dân trí cho tầng lớp thanh thiếu niên. Tự nâng cao kiến thức cho bản thân qua các kênh thông tin khác nhau như đài truyền thanh địa phương, sách báo, Ti vi, Internet,...; Tích cực tham gia các lớp đào tạo, tập huấn do chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể tổ chức. Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp như các lễ hội, sinh hoạt văn hóa cộng đồng mang bản sắc văn hóa của dân tộc Thái, đồng thời cần hạn chế tiến tới xóa bỏ những hủ tục lạc hậu như thói quen làm chuồng trại chăn nuôi ngay cạnh nhà ở. TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG VIỆT 1. Ban Quản lý dự án vùng hồ sông Đà (2006), “Tình hình ổn định đời sống nhân dân tái định cư thủy điện Hòa Bình sau 15 năm”, Tài liệu hội thảo về chính sách di dân, tái định cư các công trình thủy điện, thủy lợi, Cục Hợp tác xã và phát triển nông thôn - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tháng 6 - 2006, Hà Nội; 2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2006), “Báo cáo tổng kết đánh giá tình hình 15 năm thực hiện công tác tái định cư các công trình thủy điện”, Tài liệu hội thảo về chính sách di dân, tái định cư các công trình thủy điện, thủy lợi, Cục Hợp tác xã và phát triển nông thôn - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tháng 6 - 2006, Hà Nội; 3. Cục Thống kê tỉnh Sơn La (2009), Niên giám thống kê tỉnh Sơn La năm 2008, NXB Thống kê, Hà Nội; 4. Đặng Nguyên Anh (2006), Chính sách di dân trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở các tỉnh miền núi, NXB Thế giới, Hà Nội; 5. Đặng Nguyên Anh (2007), Xã hội học dân số, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội; 6. Đỗ Văn Hòa (2006), Chính sách tái định cư các dự án thủy điện theo định hướng phát triển bền vững, Tạp chí xã hội học số 3 - 2006; 7. Đỗ Văn Hòa, Trịnh Khắc Thẩm (1999), Nghiên cứu di dân ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội; 8. Khúc Thị Thanh Vân (2007), Ảnh hưởng của chính sách tái định cư đến đời sống người dân sau tái định cư nghiên cứu trường hợp thủy điện Bản Vẽ, Luận văn thạc sỹ xã hội học, Viện Xã hội học, Hà Nội; 9. Nguyễn Ngọc Tuấn (2004), Một số kinh nghiệm tái định cư trong các dự án phát triển tại một số nước trên thế giới, Tạp chí Địa lý nhân văn số 7 tháng 12 năm 2004; 10. Nguyễn Thị Thanh Thảo (2006), “Tái định cư khu đập Tam Hiệp kinh nghiệm Trung Quốc”, Kỷ yếu hội thảo khoa học tài chính đối với vấn đề tái định cư thực trạng và giải pháp, Viện Khoa học tài chính - Bộ Tài chính, 2006, Hà Nội; 11. Phạm Hồng Hoa, Lâm Mai Lan (2000), Tái định cư trong các dự án phát triển chính sách và thực tiễn, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội; 12. Phòng Thống kê huyện Mường La - Cục Thống kê tỉnh Sơn La (2009), Niên giám thống kê huyện Mường La năm 2008, Mường La - Sơn La; 13. Phòng Thống kê huyện Mường La - Cục Thống kê tỉnh Sơn La (2009), Niên giám thống kê huyện Mai Sơn năm 2005 - 2008, Mai Sơn - Sơn La; 14. Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2008), Báo cáo tổng hợp rà soát bổ sung quy hoạch tổng thể di dân tái định cư dự án thủy điện Sơn La, Hà Nội; 15. Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp (2006), “Tham luận quy hoạch và phát triển khu tái định cư các công trình thủy điện, thủy lợi”, Tài liệu hội thảo về chính sách di dân, tái định cư các công trình thủy điện, thủy lợi, Cục Hợp tác xã và phát triển nông thôn - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tháng 6 - 2006, Hà Nội; TIẾNG ANH 16. Worldbank (2001), OP 4.12 - Involuntary Resettlement, PHỤ LỤC Phụ lục 1 Thông tin về mẫu phiếu điều tra 96 Phụ lục 2 Danh sách các hộ điều tra 101 Phụ lục 3 Một số hình ảnh về cuộc sống của người dân tại hai điểm tái định cư Nà Nhụng và Tra Xa Căn 104 Phụ lục 1 PHIẾU ĐIỀU TRA Đề tài: “Nghiên cứu giải pháp phát triển sản xuất và ổn định đời sống của các hộ dân tại một số khu tái định cư Dự án thủy điện Sơn La” PHẦN I. THÔNG TIN CƠ BẢN CỦA HỘ: Họ tên chủ hộ: Tuổi: Nam Nữ Giới tính: Dân tộc: Trình độ văn hoá: Địa chỉ khu tái định cư: Thôn……………. Xã …………… Huyện …………… Tỉnh ……….. Số nhân khẩu của hộ gia đình:………..người Số lao động của hộ gia đình:…………..người PHẦN II. THÔNG TIN CHI TIẾT A. Quá trình bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Ông (bà) được bồi thường như thế nào với đất đai/tài sản bị thu hồi ? STT Loại đất/tài sản Bồi thường bằng đất (m2) Bồi thường, hỗ trợ bằng tiền (triệu VNĐ) Bồi thường 1 Đất ở 2 Đất sản xuất 3 Nhà ở 4 Khác:cây trồng, vật nuôi Hỗ trợ 1 Sản xuất 2 Đời sống 3 Di chuyển 4 Chuyển đổi nghề Tổng cộng Ông/bà có được đào tạo chuyển đổi nghề Có, cụ thể về nội dung:…………………………………………………...... ……………………………………………………………………………. Không So với nhu cầu thì diện tích đất sản xuất của gia đình hiện tại là: Thừa Đủ Thiếu Thuận lợi Khó khăn Cao Thấp Kịp thời Chậm trễ Theo ông (bà), hiện nay gia đình có khó khăn gì liên quan đến công tác đền bù, tái định cư: - Khâu thống kê diện tích đất để tính hỗ trợ: - Mức hỗ trợ ổn định đời sống - Thời gian nhận hỗ trợ B. Hoàn cảnh kinh tế của các gia đình tái định cư Hoạt động kinh tế của gia đình Ông (bà) hiện nay Làm ruộng: Công thức luân canh: Loại cây trồng Diện tạ (ha) Năng suất (tạ/ha) Số lượng bán ra (tạ) Lúa nước Ngô ………… Chăn nuôi: Loại vật nuôi Số lượng (con) Sản lượng (kg) Số lượng bán ra (con) Lợn Trâu, bò Gia cầm …………………. Chăn nuôi: Gia đình Ông (Bà) có tham gia làm nghề phụ gì không? Có, nghề……………………………………………. Không Chi phí cho trồng trọt: Loại chi phí Số lượng Giá trị Tổng chi phí Giống Phân bón Đạm Lân Ka li Thuốc trừ sâu …………………… Chi phí cho chăn nuôi: Loại chi phí Số lượng Giá trị Tổng chi phí Giống Thức ăn cám rau …… Thu nhập, chi tiêu: Loại Giá trị Tổng thu nhập Từ trồng trọt Từ chăn nuôi Từ nghề phụ Chi tiêu Ăn mặc Giáo dục, y tế Mua sắm đồ dùng Khác ………………….. Thiếu đất sản xuất Đất canh tác bị xói lở Hạn chế về kỹ thuật sản xuất Thiếu vốn sản xuất Dịch bệnh đối với vật nuôi Khác:…………. Các khó khăn trong sản xuất của hộ hiện nay: C. Điều kiện sinh hoạt, môi trường sống hiện nay của các gia đình tái định cư Thực trạng nhà ở của gia đình: Nhà tạm Nhà kiên cố Nhà bán kiên cố Khác…………………………. So với trước khi di dời, thực trạng nhà ở: Tốt hơn Như cũ Kém đi Tủ, bàn ghế Giường Ti vi, đài Xe máy, xe đạp Khác…………………………. Thực trạng đồ dùng, phương tiện sinh hoạt của gia đình: Nguồn nước sinh hoạt hiện tại của gia đình: Nước máy Nước giếng đào Nước giếng khoan Nước suối/ao/hồ Nước mưa Khác Các khó khăn trong đời sống của hộ Thiếu nước sinh hoạt Diện tích đất ở thấp Thiếu thông tin Sinh hoạt văn hóa hạn chế Đi lại khó khăn Khác…………. Tốt hơn Giữ nguyên Kém đi Hệ thống điện, điện thoại thay đổi như thế nào so với nơi ở cũ? Hoạt động sinh hoạt văn hóa truyền thống có được duy trì như trước đây ? Có Không D. Mong muốn và kiến nghị của các gia đình tái định cư về việc phát triển sản xuất và ổn định đời sống tại nơi ở mới Nguyện vọng của ông (bà) về sản xuất và đời sống của gia đình: Về sản xuất: - ………………………………………………………………………………... - ………………………………………………………………………………... - ………………………………………………………………………………... - ………………………………………………………………………………... - ………………………………………………………………………………... - ………………………………………………………………………………... Về đời sống: - ………………………………………………………………………………... - ………………………………………………………………………………... - ………………………………………………………………………………... - ………………………………………………………………………………... - ………………………………………………………………………………... - ………………………………………………………………………………... Ông (bà) có những kiến nghị gì với Nhà nước và các ban ngành, địa phương trong việc giúp đỡ, hỗ trợ sản xuất và ổn định đời sống cho đồng bào ……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………. Kết thúc phỏng vấn Xin trân trọng cán ơn Ông(bà)./. Phụ lục 2 DANH SÁCH CÁC HỘ ĐIỀU TRA STT Tên chủ hộ Địa chỉ tái định cư 1 Cà Văn Ọi Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 2 Cà Văn Hặc Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 3 Cà Văn Hùng Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 4 Cà Văn Hiểng Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 5 Cà Văn Hợp Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 6 Cà Văn Long Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 7 Cà Văn Quyết Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 8 Cà Văn Hoan Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 9 Cà Văn Tía Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 10 Lò Đức Xuẩn Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 11 Lò Văn Xoan Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 12 Lò Văn Sương Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 13 Lò Văn Hặc Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 14 Lò Văn Pha Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 15 Lò Sươi Xuẩn Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 16 Lò Văn Ố Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 17 Lò Văn Đôi Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 18 Lò Văn Luẩn Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 19 Lò Văn Đổi Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 20 Lò Văn Boi Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 21 Lò Văn Bun Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 22 Lò Văn Cậu Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 23 Lò Văn Dũng Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 24 Lò Văn Hương Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 25 Lò Văn Hà Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 26 Lò Văn Hảy Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 27 Lò Văn Hội Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 28 Lò Văn Hưởng Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 29 Lò Văn Hinh Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 30 Lò Văn Hoản Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 31 Lò Văn Huẩn Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 32 Lò Văn Kem Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 33 Lò Văn Lánh Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 34 Lò Văn Lả Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 35 Lò Văn La Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 36 Lò Văn Liên Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 37 Lò Văn Mường Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 38 Lò Văn Minh Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 39 Lò Văn Muổi Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 40 Lò Văn Nam Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 41 Lò Văn Oan Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 42 Lò Văn Phái Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 43 Lò Văn Phóng Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 44 Lò Văn Phớ Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 45 Lò Văn Phong Bản Nà Nhụng - xã Mường Chùm - huyện Mường La 46 Hoàng Thị Ón Bản Tra Xa Căn - xã Mường Bon - huyện Mai Sơn 47 Điêu Chính Kết Bản Tra Xa Căn - xã Mường Bon - huyện Mai Sơn 48 Lò Văn Xu Bản Tra Xa Căn - xã Mường Bon - huyện Mai Sơn 49 Đinh Trung Sơn Bản Tra Xa Căn - xã Mường Bon - huyện Mai Sơn 50 Nùng Văn Nhấu Bản Tra Xa Căn - xã Mường Bon - huyện Mai Sơn 51 Lò Văn Thiên Bản Tra Xa Căn - xã Mường Bon - huyện Mai Sơn 52 Lừ Văn Lớn Bản Tra Xa Căn - xã Mường Bon - huyện Mai Sơn 53 Lò Văn Đôi Bản Tra Xa Căn - xã Mường Bon - huyện Mai Sơn 54 Nùng Văn Thái Bản Tra Xa Căn - xã Mường Bon - huyện Mai Sơn 55 Nùng Văn Liên Bản Tra Xa Căn - xã Mường Bon - huyện Mai Sơn 56 Lò Thị Lan Bản Tra Xa Căn - xã Mường Bon - huyện Mai Sơn 57 Lò Văn Dận Bản Tra Xa Căn - xã Mường Bon - huyện Mai Sơn 58 Lò Văn Ngân Bản Tra Xa Căn - xã Mường Bon - huyện Mai Sơn 59 Lò Văn Dâm Bản Tra Xa Căn - xã Mường Bon - huyện Mai Sơn 60 Lừ Văn Sức Bản Tra Xa Căn - xã Mường Bon - huyện Mai Sơn 61 Lò Văn Phát Bản Tra Xa Căn - xã Mường Bon - huyện Mai Sơn 62 Hoàng Văn Song Bản Tra Xa Căn - xã Mường Bon - huyện Mai Sơn 63 Điêu Chính Phọng Bản Tra Xa Căn - xã Mường Bon - huyện Mai Sơn 64 Nùng Văn Sướng Bản Tra Xa Căn - xã Mường Bon - huyện Mai Sơn 65 Nùng Văn Tấm Bản Tra Xa Căn - xã Mường Bon - huyện Mai Sơn 66 Điêu Chính Lượng Bản Tra Xa Căn - xã Mường Bon - huyện Mai Sơn 67 Lò Văn Sâm Bản Tra Xa Căn - xã Mường Bon - huyện Mai Sơn 68 Lò Văn Thương Bản Tra Xa Căn - xã Mường Bon - huyện Mai Sơn 69 Lò Văn Đán Bản Tra Xa Căn - xã Mường Bon - huyện Mai Sơn 70 Lường Văn Ướng Bản Tra Xa Căn - xã Mường Bon - huyện Mai Sơn ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docLuận văn up.doc
Tài liệu liên quan