Tuyển chọn các giống lúa nếp triển vọng trồng vụ xuân cho huyện Chương Mỹ - Hà Nội

Tài liệu Tuyển chọn các giống lúa nếp triển vọng trồng vụ xuân cho huyện Chương Mỹ - Hà Nội: ... Ebook Tuyển chọn các giống lúa nếp triển vọng trồng vụ xuân cho huyện Chương Mỹ - Hà Nội

doc114 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 09/12/2013 | Lượt xem: 2108 | Lượt tải: 6download
Tóm tắt tài liệu Tuyển chọn các giống lúa nếp triển vọng trồng vụ xuân cho huyện Chương Mỹ - Hà Nội, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI ------------------ NGUYỄN THỊ KHUYÊN TUYỂN CHỌN CÁC GIỐNG LÚA NẾP TRIỂN VỌNG TRỒNG VỤ XUÂN CHO HUYỆN CHƯƠNG MỸ - HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP Chuyên ngành: Di truyền và chọn giống cây trồng Mã số: 60.62.05 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. PHAN HỮU TÔN HÀ NỘI, 2008 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc. Tác giả luận văn Nguyễn Thị Khuyên LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành bản luận văn này, bên cạnh sự nỗ lực phấn đấu của bản thân tôi đã nhận được sự giúp đỡ quý báu tận tình của các cấp lãnh đạo, các tập thể, cá nhân và gia đình. Trước tiên, cho phép tôi bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS. Phan Hữu Tôn đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện cũng như hoàn chỉnh luận văn. Tôi xin gửi lời cảm ơn lãnh đạo trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Ban chủ nhiệm khoa Sau đại học, khoa Nông học, các thầy cô giáo đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn. Luận văn được thực hiện tại trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Tây - xã Thủy Xuân Tiên - Chương Mỹ - Hà Nội. tại đây tôi đã nhận được sự giúp đỡ và tạo mọi điều kiện của Đảng ủy, Ban Giám hiệu, các phòng, khoa, bạn bè đồng nghiệp cũng như giúp đỡ của hợp tác xã Thủy Xuân Tiên, bà con nông dân trong xã trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài. Tôi xin chân thành cảm ơn những sự giúp đỡ quý báu đó. Tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn đến phòng Thống kê, phòng Nông nghiệp, phòng Thủy lợi huyện Chương Mỹ đã giúp tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn này. Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến bố, mẹ, anh, chị em và bạn bè đã luôn quan tâm, động viên khích lệ tôi. Một lần nữa cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tất cả những sự giúp đỡ quý báu này. Hà Nội, ngày 18 tháng 08 năm 2008 Tác giả luận văn Nguyễn Thị Khuyên MỤC LỤC Lêi cam ®oan i Lêi c¶m ¬n ii Môc lôc iii Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t v Danh môc c¸c b¶ng vi DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Cs: cộng sự HV: Hoa vàng Db/cc: Dài bông/chiều cao cây M.độ: Mật độ Hh: Hữu hiệu P1000 hạt: Khối lượng 1000 hạt NSLT: Năng suất lý thuyết NSTT: Năng suất thực thu LSD05: Giá trị sai khác nhỏ nhất ở mức ý nghĩa a = 0,05 BVTV: Bảo vệ thực vật DT: Diện tích TB: Trung bình TLệ: Tỷ lệ S.lượng: Sản lượng DANH MỤC BẢNG STT Tªn b¶ng Trang Bảng 2.1. Kết quả sản xuất nông nghiệp của huyện Chương Mỹ qua 3 năm 2005 - 2007 36 Bảng 3.1. Các dòng, giống tham gia thí nghiêm so sánh giống 41 Bảng 4.1. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa năm 2005 của huyện Chương Mỹ - Hà Nội 47 Bảng 4.2. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa năm 2006 của huyện Chương Mỹ - Hà Nội 51 Bảng 4.3. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa năm 2007 của huyện Chương Mỹ - Hà Nội 53 Bảng 4.4. Đánh giá một số chỉ tiêu mạ trước khi cấy 57 Bảng 4.5. Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng 60 Bảng 4.6. Một số đặc điểm về lá đòng 63 Bảng 4.7. Một số đặc điểm về thân và bông 65 Bảng 4.8. Một số đặc điểm hình thái 69 Bảng 4.9. Khả năng chống chịu sâu bệnh 71 Bảng 4.10. Một số đặc điểm nông học 74 Bảng 4.11. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 76 Bảng 4.12. Đặc điểm hình thái hạt thóc 79 Bảng 4.13. Một số chỉ tiêu chất lượng gạo 81 Bảng 4.14. Kết quả đánh giá một số dòng, giống lúa trên thí nghiệm. 84 Bảng 4.15. Đặc điểm một số giống lúa triển vọng 86 Bảng 4.16. Trình diễn các dòng triển vọng vụ xuân 2008 tại xã Thủy Xuân Tiên - Chương Mỹ - Hà Tây 87 Bảng 4.17. Hiệu quả kinh tế cho 1 ha lúa nếp 88 1. MỞ ĐẦU 1.1. Đặt vấn đề Lúa là cây lương thực chính của hai phần ba dân số thế giới nói chung và của người Việt Nam nói riêng. Từ buổi đầu của nền văn minh, cây lúa đã được chia làm hai loại là lúa nếp và lúa tẻ, cả hai loại lúa này đều đóng góp vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa ẩm thực của người dân Việt Nam. Lúa nếp được trồng từ rất lâu đời và được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau như: nấu xôi, làm các loại bánh trưng, bánh dày, bánh dẻo, làm đồ uống như rượu và nhiều loại đồ ăn khác, đó là những thứ không thể thiếu trong các dịp lễ, tết. Lúa nếp đã góp phần làm nên hương vị độc đáo, giàu tính nhân văn của văn hóa ẩm thực Việt Nam. Lúa nếp chiếm khoảng 10 % diện tích sản xuất lúa và khoảng 10% lượng gạo được tiêu dùng của người Việt Nam. Chương Mỹ là huyện bán sơn địa, nằm ở phía tây nam của tỉnh Hà Tây. Địa bàn huyện Chương Mỹ là cửa ngõ nối liền Hà Nội với các tỉnh miền núi phía Bắc. Là nơi có địa hình khá đa dạng và phức tạp (vừa có đặc trưng của vùng đồng bằng vừa có đặc trưng của vùng đồi núi, có khí hậu nhiệt đới gió mùa của vùng đồng bằng Bắc bộ. Với diện tích đất nông nghiệp là 23.226,51ha, trong đó diện tích đất trồng lúa chiếm tỷ lệ lớn. Chương Mỹ có tiềm năng để phát triền nghề trồng lúa đặc biệt là trồng lúa nếp và lúa chất lượng cao để phục vụ cho thị trường Hà Nội, các tỉnh khác và thị trường trong tỉnh. Tuy nhiên cơ cấu giống lúa trên địa bàn vẫn rất hạn chế, lúa tẻ chủ yếu là các giống KD18, Q5 chiếm trên 90%, lúa nếp chiếm diện tích gieo cấy còn thấp 7 – 8%, chưa tương xứng với tiềm năng tiêu dùng lúa của thị trường trong huyện. Các giống lúa nếp đang sử dụng hiện nay chủ yếu là các giống lúa địa phương như Nếp cái hoa vàng, nếp HB có chất lượng cao, thơm ngon nhưng cao cây, dễ đổ, bị nhiễm sâu bệnh nặng, phản ứng ánh sáng ngày ngắn nên chỉ trồng được trong vụ mùa, một số giống khác không phản ứng ánh sáng ngày ngắn như TK90, nếp IRi352… được trồng từ rất lâu nên bị nhiễm sâu bệnh nhiều, dễ đổ làm giảm năng suất và chất lượng nghiêm trọng. Vì vậy, việc tuyển chọn các giống lúa nếp năng suất cao không phản ứng ánh sáng ngày ngắn để mở rộng diện tích gieo trồng lúa nếp đặc biệt là gieo trồng vào vụ xuân và tăng năng suất lúa nếp của huyện là rất cần thiết. Hiện nay, có khá nhiều giống lúa nếp có tiềm năng năng suất cao và không phản ứng với ánh sáng ngày ngắn được chọn tạo và khảo nghiệm thành công. Để đánh giá khả năng thích ứng của các giống lúa nếp mới này ở điều kiện địa phương, chúng tôi tiến hành đề tài: “ Tuyển chọn các giống lúa nếp triển vọng trồng vụ xuân cho huyện Chương Mỹ - Hà Nội” 1.2. Mục đích - yêu cầu 1.2.1. Mục đích Tuyển chọn được 1- 2 giống lúa nếp mới có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp với điều kiện sinh thái của huyện Chương Mỹ để đưa vào sản xuất. 1.2.2. Yêu cầu - Điều tra điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế xã hội, cơ cấu sản xuất lúa của huyện Chương Mỹ - Hà Nội trong 3 năm trở lại đây. - Khảo sát, đánh giá một số đặc trưng, đặc tính cơ bản, năng suất, sản lượng của các dòng, giống tham gia thí nghiệm trong điều kiện sinh thái vùng Chương Mỹ làm cơ sở khoa học để xác định giống tốt. - Xây dựng mô hình sản xuất giống lúa có triển vọng 1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 1.3.1. Ý nghĩa khoa học Đề tài góp phần cung cấp những thông tin về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế xã hội, cơ cấu giống lúa của huyện Chương Mỹ trong những năm gần đây, những hạn chế của các giống lúa trong cơ cấu sản xuất và đặc biệt cung cấp những thông tin về các đặc trưng và đặc tính của các giống lúa tham gia thí nghiệm trong điều kiện tự nhiên của huyện Chương Mỹ, làm cơ sở xây dựng cơ cấu sản xuất giống lúa mới cho hiệu quả kinh tế cao hơn. 1.3.2. Ý ngĩa thực tiễn Chọn ra được 1 - 2 giống lúa có triển vọng, phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng để đưa vào cơ cấu diện tích và cơ cấu giống lúa của huyện Chương Mỹ mang lại hiệu quả kinh tế cao. 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1. Cơ sở khoa học của việc tuyển chọn các giống lúa cho vùng sinh thái 2.1.1.Các tính trạng của cây trồng là kết quả tương tác giữa kiểu gen và môi trường Kiểu hình là kết quả tác động qua lại giữa kiểu gen và môi trường. Các giống mang thử nghiệm là một quần thể với một kiểu gen xác định. Đối với các dòng thuần thì các cá thể trong quần thể có cùng một kiểu gen xác định. Đối với các dòng thuần thì các cá thể trong cùng một quần thể có cùng một kiểu gen, điều này đã được Johansen chứng minh trong công trình nghiên cứu nổi tiếng của ông về dòng thuần. Kiểu hình của một dòng thuần khi đem thử nghiệm ở những điều kiện môi trường khác nhau có biểu hiện khác nhau là do yếu tố môi trường quyết định (Mather and Jinks, 1971). Tác động qua lại của kiểu gen - môi trường là tương tác hết sức phức tạp, kết quả là những kiểu gen có kiểu hình phù hợp sẽ tồn tại và phát triển được ở môi trường đó. Sau một thời gian dài các kiểu gen này lập nên một kiểu hình đặc thù gọi là kiểu hình sinh thái hoặc gắn liền với một kiểu hình ở một địa phương gọi là kiểu hình sinh thái địa lý. Các tính trạng số lượng là các tính trạng biểu hiện biến thiên liên tục trong các điều kiện môi trường khác nhau thì biểu hiện kiểu hình khác nhau. Đa số các tính trạng kinh tế ở cây lúa đều là các tính trạng số lượng. Nghiên cứu mối quan hệ tương tác giữa kiểu gen và môi trường trên các tính trạng này là rất quan trọng. Một giống thuần bất kỳ khi đem thử nghiệm ở những môi trường khác nhau sẽ thu được các kết quả khác nhau do kết quả của phản ứng kiểu gen - môi trường. Chính vì vậy, các nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu, đánh giá xây dựng mô hình nhằm xác định mối quan hệ kiểu gen - môi trường. Thông qua việc tìm hiểu mối quan hệ giữa kiểu gen và môi trường sẽ giúp cho việc xác định giống tốt cho một vùng sinh thái cụ thể. Khảo nghiệm giống là nhằm mục đích tìm ra vùng sinh thái (điều kiện sinh thái) cho một giống cây trồng mới. Các kết quả của khảo nghiệm giống sẽ phục vụ trực tiếp cho sản xuất nông nghiệp ở môi trường thử nghiệm. Kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy quan hệ giữa các yếu tố di truyền bên trong của mỗi giống chịu ảnh hưởng của môi trường. Môi trường có thể tác động có lợi hoặc không có lợi hoặc không có lợi đến sự biểu hiện của kiểu hình. Trên cơ sở đó tương tác giữa kiểu gen và môi trường đến kiểu hình được biểu thị như sau: (Nguyễn Văn Hiển, 2000) [10] P = G + E + GE Trong đó: P là kiểu hình, E là môi trường và GE là tương tác giữa kiểu gen và môi trường. 2.1.2. Mối quan hệ giữa kiểu gen với môi trường của cây lúa, cơ sở để chọn lọc giống lúa tốt cho mỗi vùng sinh thái Giống mang tính chất khu vực hóa, tất cả các tính trạng và đặc tính của giống đều chịu ảnh hưởng của môi trường và được biểu hiện ra trong điều kiện ngoại cảnh nhất định. Một giống có sự đa dạng di truyền lớn, phổ di truyền rộng thì có khả năng thích ứng rộng và phạm vi phân bố rộng, giống có phổ di truyền hẹp thì phạm vi phân bố hẹp hơn. Xác định mối quan hệ giữa kiểu gen và môi trường của các tính trạng trên cây lúa có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc tuyển chọn và phát triển giống lúa ở vùng sinh thái. Những nghiên cứu về mối quan hệ của kiểu gen và môi trường ở cây lúa cho thấy. Mỗi một điều kiện sống khác nhau thì cây lúa có biểu hiện kiểu hình khác nhau. Thời gian sinh trưởng của cây lúa chịu ảnh hưởng lớn bởi yếu tố môi trường. Trong điều kiện nhiệt độ cao thì các giống lúa cảm ôn có thời gian sinh trưởng ngắn hơn, với các giống phản ứng ánh sáng ngày ngắn thì chúng chỉ trỗ bông ở điều kiện ánh sáng ngày ngắn. Các giống phản ứng ánh sáng ngày ngắn chủ yếu là các giống lúa thơm và lúa nếp có chất lượng và giá trị kinh tế cao. Để phát triển được các giống lúa nếp và lúa chất lượng cao trong vụ xuân cần phải chọn được các giống không phản ứng với ánh sáng ngày ngắn. Một đặc tính quan trọng nhất của cây lúa là năng suất, năng suất thóc là đặc trưng tổng hợp của các yếu tố cấu thành năng suất như khối lượng bông và số lượng bông. Các yếu tố này chịu ảnh hưởng rất lớn của môi trường và chúng ảnh hưởng lẫn nhau. Số lượng bông nhiều hay ít phụ thuộc vào giống và điều kiện dinh dưỡng, mật độ cấy …. Khối lượng bông bao gồm số hạt chắc/bông và khối lượng hạt. Số lượng hạt chắc/bông chịu ảnh hưởng rất lớn của yếu tố môi trường đặc biệt là ở giai đoạn làm đòng đến chín. Ở giai đoạn này nếu gặp điều kiện thời tiết bất lợi sẽ làm cho số hạt chắc/bông giảm mạnh. Đặc biệt đối với các giống lúa phản ứng ánh sáng ngày ngắn chặt sau thời điểm trỗ bông nhiệt độ giảm mạnh làm cho số hạt lép lửng nhiều, khối lượng hạt giảm. Khối lượng bông và số lượng bông có ảnh hưởng rất lớn. Khi tăng mật độ cấy nhằm mục đích tăng số bông/đơn vị diện tích thì lại làm giảm nghiêm trọng khối lượng bông.[13] Nakata S và Jackson BR (1973) [62] đã thí nghiệm trồng hai giống lúa Peta và Taichung trong điều kiện môi trường khác nhau và đi đến kết luận: Tương quan di truyền giữa các đặc trưng của cây thay đổi tùy theo giống và điều kiện môi trường (trích theo Nguyễn Văn Hiển và cộng sự, 1976) [13] Mỗi vùng sinh thái đều có những đặc trưng về điều kiện thời tiết, điều kiện đất đai, trình độ thâm canh, tình hình sâu bệnh hại riêng. Từ những lý luận đó và thực tế đã cho thấy có những giống lúa sinh trưởng phát triển tốt, cho năng suất cao ở vùng này nhưng khi trồng ở vùng khác có thể cho kết quả ngược lại. Vì vậy, mỗi nơi, mỗi vùng đều có bộ giống thích hợp khác nhau. Để tuyển chọn được những giống lúa tốt, phù hợp với điều kiện ở vùng Chương Mỹ - Hà Tây thì cần phải nghiên cứu thử nghiệm trước khi đem trồng trên diện rộng. 2.2. Các nghiên cứu về cây lúa 2.2.1. Nghiên cứu về nguồn gốc cây lúa Lúa là cây trồng cổ xưa nhất của loài người do đó thời gian và địa điểm phát sinh của nó có nhiều ý kiến khác nhau. Theo Lu BR và cộng sự (1996) (trích theo Nguyễn Văn Hiển, 2000, [10]) cho rằng: Lúa trồng ở châu Á xuất hiện cách đây 8000 năm. Tổ tiên trực tiếp của cây lúa trồng châu Á (Oryza sativa. L) vẫn chưa có kết luận chắc chắn. Một số ý kiến cho rằng lúa trồng châu Á có nguồn gốc từ loài lúa dại O.rufipongon, một số tác giả khác cho rằng nó có nguồn gốc từ O.nivara. Các nhà khoa học Nhật Bản cho rằng nó là loại hình trung gian giữa O.rufipongon và O.nivara. Về nguồn gốc xuất xứ cũng có nhiều ý kiến khác nhau về vị trí xuất xứ của nó. Theo nghiên cứu của Ting (1933), Sampath và Rao (1951) về xuất xứ của loài lúa trồng châu Á cho rằng O.sativa xuất xứ từ Trung Quốc và Ấn Độ. Theo Chang (1976) thì O.sativa xuất hiện đầu tiên từ chân núi Hymalaya qua Myanma, bắc Thái Lan, Lào đến Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam. Tuy có những quan điểm khác nhau về nguồn gốc xuất xứ nhưng những ý kiến trên đều cho rằng nó có nguồn gốc xuất xứ từ khu vực nóng ẩm phù hợp với điều kiện trồng lúa nhiệt đới hiện nay. Từ các trung tâm này lúa Indica phát tán lên đến lưu vực sông Hoàng Hà và sông Dương Tử rồi sang Nhật Bản, Triều Tiên và biến dị thành loài phụ Japonica. Lúa Javanica được hình thành ở Indonesia là sản phẩm của qúa trình chọn lọc từ loài phụ Indica. [10] 2.2.2. Nghiên cứu phân loại lúa Về phân loại lúa trồng O. sativa có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng trên cơ sở kết quả nghiên cứu trước đây các nhà khoa học Viện nghiên cứu Lúa quốc tế (IRRI) thống nhất xếp lúa trồng châu Á (O.sativa) thuộc họ hòa thảo Poaceae (Gramineae), họ phụ Boideae, chi Oryzae, loài Oryzae sativa, có bộ nhiễm sắc thể 2n = 24 [10]. Các nhà chọn tạo giống sử dụng hệ thống phân loại cây lúa nhằm dễ dàng sử dụng các nguồn gen cây lúa để phục vụ cho các mục tiêu tạo giống khác nhau như giống có năng suất cao, lúa có chất lượng tốt hoặc khả năng kháng một số loại sâu bệnh nguy hiểm, lúa đặc sản, lúa nếp…. Trên cơ sở đó các nhà khoa học phân loại nguồn gen cây lúa trồng theo các đặc điểm khác nhau * Phân loại theo địa hình sinh thái địa lý Dựa trên cơ sở kiểu gen và môi trường là một khối thống nhất các vùng sinh thái địa lý khác nhau với sự tác động của con người tới cây lúa khác nhau thì có các nhóm sinh thái địa lý chứa kiểu gen khác nhau. Theo Liakhovki (1992) (trích theo Nguyễn Văn Hoan, 1994) [12] lúa trồng có 8 nhóm sinh thái địa lý sau đây: 1/ Nhóm Đông Á: Bao gồm Triều Tiên, Nhật Bản, Bắc Trung Quốc. Đặc trưng của nhóm này là chịu lạnh rất tốt và hạt khó rụng. 2/ Nhóm Nam Á: Từ Pakistan sang vùng bờ biển phía nam Trung Quốc đến bắc Việt Nam. Đặc điểm nổi bật của nhóm sinh thái địa lý này là chịu lạnh kém, phần lớn có hạt dài và nhỏ. 3/ Nhóm Philipin: Nhóm lúa điển hình nhiệt đới không chịu lạnh. Toàn bộ vùng Đông Nam Á, miền nam Việt Nam nằm trong nhóm này. 4/ Nhóm Trung Á: Bao gồm các nước Trung Á. Đặc điểm nổi bật của lúa vùng này là hạt to, khối lượng 1000 hạt đạt trên 32 gam, chịu lạnh và chịu nóng khá. 5/ Nhóm Iran: Bao gồm toàn bộ các nước Trung Đông, xung quanh Iran, đây là nhóm sinh thái địa lý với các loại hình chịu lạnh tốt, hạt gạo to, đục, cơm dẻo. 6/ Nhóm châu Âu: Bao gồm các nước trồng lúa ở châu Âu như Nga, Italia, Bungari….. Đây là nhóm sinh thái với các loại hình Japonica chịu lạnh, hạt to cơm dẻo nhưng chịu nóng kém. 7/ Nhóm châu Phi: Nhóm lúa trồng thuộc loại Oryza glaberrima. 8/ Nhóm châu Mỹ La tinh: Gồm các nước Trung Mỹ và Nam Mỹ, là nhóm lúa cao cây, thân to, hạt gạo lớn, gạo trong và dài, chịu ngập và chống đổ tốt. * Phân loại theo nguồn gốc hình thành 1. Nhóm quần thể địa phương 2. Nhóm quần thể lai 3. Nhóm quần thể đột biến 4. Nhóm quần thể tạo ra bằng công nghệ sinh học 5. Nhóm các dòng bất dục đực * Phân loại theo các tính trạng đặc trưng (IRRI – INGER, 1995) 1. Tập đoàn năng suất cao 2. Tập đoàn chất lượng cao 3. Tập đoàn giống chống bệnh 4. Tập đoàn giống chống chịu sâu 5. Tập đoàn chống chịu rét 6. tập đoàn chống chịu hạn 7. tập đoàn chống chịu chua, mặn, phèn 8. Tập đoàn chống chịu úng ngập 9. Tập đoàn giống với thời gian sinh trưởng đặc thù. * Phân loại theo quan điểm canh tác học Cây lúa trồng trải qua quá trình thuần hóa đã thích nghi dần với từng vùng sinh thái cụ thể mà nó được gieo trồng, đồng thời cũng xuất hiện các biến dị do điều kiện canh tác gây nên. Từ đó hình thành nên các nhóm lúa đặc trưng cho từng vùng sinh thái nhất định. Theo quan điểm này cây lúa được chia thành 4 nhóm sau đây: - Lúa cạn: Lúa được trồng trên đất cao, không có khả năng giữ nước, cây lúa nhờ hoàn toàn vào nước trời trong suốt qua trình sinh trưởng phát triển của nó. - Lúa có tưới: lúa được trồng những cánh đồng, có công trình thủy lợi, chủ động về nước trong suốt quá trình sinh trưởng, phát triển của nó. - Lúa nước sâu: Lúa được trồng trên những cánh đồng thấp, không có khả năng rút nước sau mưa hoặc lũ. Tuy nhiên nước không ngập qua 10 ngày và mức nước không cao quá 50 cm. - Lúa nổi: Lúa được gieo trồng trước mùa mưa, khi mưa lớn, cây lúa đã đẻ nhánh, khi nước dâng cao lúa vươn lên khỏi mặt nước khoảng 10cm/ngày để ngoi theo. (Nguyễn Thị Trâm, 1998) [36] Ở Việt Nam tồn tại cả 4 nhóm lúa với các đặc trưng nêu trên. Nhóm lúa cạn tồn tại nhiều ở vùng núi và trung du Bắc Bộ, Trung Bộ, Tây Nguyên. Lúa có tưới được canh tác chủ yếu ở vùng đồng bằng sông Hồng, đồng bằng duyên hải miền trung, đồng bằng sông Cửu Long. Lúa nước sâu phổ biến tại các vùng trũng tại vùng đồng bằng Bắc bộ, các thung lũng khó thoát nước tại trung du và miền núi phía bắc. Lúa nổi chỉ còn tồn tại rất ít ở khu vực Đồng Tháp Mười thuộc đồng bằng sông Cửu Long. * Phân loại theo quan điểm sinh thái học và tiến hóa Kato và cộng sự chia lúa trồng thành 2 loài phụ: Indica và Japonica. Gutchin (1938) chia lúa trồng thành 3 loài phụ là Indica, Japonica và Brevis, trong đó Brevis có hạt ngắn dưới 4mm, Indica có hạt thon dài có tỷ lệ D/R ≥ 3, còn Japonica có hạt to, dày và rộng tỷ lệ D/R là từ 1,5 : 1, đến 2,9: 1. Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu trên các nhà khoa học Viện nghiên cứu Lúa quốc tế thống nhất chia lúa trồng châu Á Oryza sativa thành 3 kiểu sinh thái địa lý hoặc 3 loài phụ là Indica, Japonica, Javanica. Lúa Indica phát sinh từ vùng Nepal, Assam, Myanma, Vân Nam phát tán theo bờ biển lên hạ lưu sông Dương Tử, tại đó đã hình thành các chủng chịu lạnh Japonica. Từ Trung Quốc loài phụ Japonica được hình thành rồi chuyển sang Triều Tiên và Nhật Bản. Lúa Indica phát tán xuống phía nam tới Malaysia và lên phía bắc tới miền trung Trung Quốc. Loài phụ Javanica được hình thành ở Indonesia là sản phẩm của quá trình chọn lọc từ loài phụ Indica. Loài phụ Indica có dạng hạt dài đến ngắn, thon và đôi khi hơi dẹt, loài phụ Japonica có dạng hạt ngắn, to tròn, loài phụ Javanica có dạng hạt dài rộng, dày.[10] 2.3. Nghiên cứu về đặc điểm di truyền cây lúa 2.3.1. Di truyền về chiều cao cây Chiều cao cây là một trong những tính trạng quan trọng nhất quyết định tính chống đổ và khả năng chịu phân của giống. Vì thế chiều cao cây ảnh hưởng đến khả năng thích ứng của cây lúa ở các vùng sinh thái khác nhau. Guliep (1975) [45] xác định có 4 cặp gen trội kiểm tra chiều cao cây và 1 cặp gen lặn, có trường hợp là 2 cặp gen lặn và đa số trường hợp là do 8 cặp gen lặn kiểm tra tính lùn của cây ký hiệu là d1, d2, d3, d4, d5, d6, d7, d8 [45]. Nghiên cứu đặc điểm di truyền tính lùn của lúa các nhà khoa học ở IRRI đã phát hiện ra gen lùn sd1 ở các giống lúa Degeowoogen (DGWG), Taichung Native 1(TN1), Igeotze (IGT). Ở Trung Quốc còn phát hiện ra gen lùn sd1 ở giống lúa Aijonante (Oba và cộng sự, 1990), hai đột biến về gen lùn ở lúa Japonica là Reimei và Calrose ở Mỹ (Kikuchi, 1985). Theo JN Rutger (1986) thì gen lùn sd1 làm giảm chiều cao cây khoảng 25% nhưng không làm giảm chiều dài bông nên gen lùn này rất có ý nghĩa trong chọn giống thấp cây. Rutger và Mackill (1979) cũng phát hiện ra gen lặn sd2, sd4 ở giống CI11033 và CI11034 hoạt động đa hiệu. Gen lùn sd2 làn giảm chiều cao cây khoảng 15% nhưng mẫn cảm với tính đổ, gen lùn sd4 làm giảm chiều cao cây khoảng 15% nhưng đồng thời làm giảm kích thước hạt khoảng 20%. Liên quan đến chiều cao cây lúa người ta còn phát hiện ra gen lặn eui có tác dụng kéo dài lóng đốt cuối cùng. Gen eui hoạt động độc lập với gen sd1 và nằm trên nhiễm sắc thể số 6 dài 620 cặp bazơ. 2.3.2. Di truyền khả năng đẻ nhánh Nhánh lúa là những nhánh được mọc ra từ nách lá của mỗi đốt trên thân chính hoặc nhánh khác nhau ở thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng. Vấn đề lúa đẻ nhánh được nhiều nhà khoa học quan tâm vì đẻ nhánh của cây lúa là một chức năng sinh lý quyết định tới năng suất. Đối với giống lúa khác nhau thì khả năng đẻ nhánh không giống nhau. Khả năng đẻ nhánh có tương quan đến các đặc trưng khác của cây. Theo Nakata, Jackson B.R (1973) [63] cho rằng chiều cao cây thường tỷ lệ nghịch với khả năng đẻ nhánh, các giống cao cây thường đẻ nhánh ít hơn các giống thấp cây. Nghiên cứu về vấn đề đẻ nhánh của cây lúa Vũ Tuyên Hoàng, Luyện Hữu Chỉ và Trần Thị Nhàn (2000)[14] khẳng định “những giống lúa đẻ sớm, tập trung sẽ trỗ dễ và cho năng suất cao hơn”. Còn Đinh Văn Lữ (1978) [18] cho rằng: Những giống lúa đẻ rải rác thì trỗ bông không đều, không có lợi cho quá trình thu hoạch, dẫn đến năng suất giảm. Ngoài ra, Yoshida (1979) [25] cho rằng đẻ nhánh sớm và tập trung sẽ tạo tiền đề cho diện tích lá phát triển nhanh sớm, tỷ lệ nhánh hữu hiệu cao. Đẻ nhánh gọn cho phép tăng mật độ cây mà không làm ảnh hưởng đến quang hợp dẫn đến năng suất cao. Khả năng đẻ nhánh là một tính trạng số lượng do đa gen quy định có hệ số di truyền từ thấp đến trung bình. Di truyền khả năng đẻ nhánh có nhiều kết luận khác nhau ngay cả khi trồng trong một điều kiện. Theo IRRI (1970) trong một phép lai thì thấy đẻ nhánh ít là trội còn trong phép lai khác lại thấy đẻ nhánh nhiều là trội. Theo J.N. Rutger (1998) thì kiểu đẻ nhánh chụm là lặn so với đẻ nhánh xòe. 2.3.3. Di truyền bộ lá lúa và khả năng quang hợp Bộ lá có vai trò rất quan trọng trong quang hợp của cây. Một giống lúa tốt với lúa thông thoáng sẽ tăng cường khả năng hấp thu ánh sáng và quang hợp của cây góp phần là tăng năng suất. Khi nghiên cứu về bộ lá lúa của một giống nào đó phải quan tâm đến một số hình thái cơ bản của bộ lá lúa bao gồm: Góc lá, góc lá đòng, chiều dài, chiều rộng lá đòng, màu sắc phiến lá, độ tàn lá….. Bộ lá cứng dày và tương đối hẹp tạo điều kiện cho việc nâng cao mật độ gieo cấy, đồng thời ánh sáng mặt trời vẫn có thể chiếu sâu qua các tầng lá đến gốc, kích thích quá trình đẻ nhánh, hạn chế sâu bệnh và làm tăng thêm diện tích lá. Nghiên cứu về bộ lá lúa và mối tương quan của chúng tới năng suất, Đào Thế Tuấn (1981) [40] đã kết luận rằng một giống lúa có năng suất cao phải có đủ hai điều kiện: Một là phải có diện tích lá cao trước trỗ để tạo ra nguồn dinh dưỡng dự trữ lớn, muốn vậy lá phải thẳng đứng và nhỏ; hai là phải có hiệu suất quang hợp sau trỗ cao để tạo ra được bông lúa to tức là sức chứa lớn.Yuan LP (1997) [67] cũng đề xuất mô hình cây lúa lý tưởng để đạt năng suất lúa cao là: Ba lá cuối cùng dài: lá đòng dài 50 cm cao hơn tán bông 20cm, lá thứ hai (giáp lá đòng) dài hơn lá đòng khoảng 10% và vươn cao hơn bông, lá thứ ba cao hơn một nửa tán bông, các lá phải đứng cứng, góc lá so với thân theo thứ tự là: 5, 10, 200, lá dày, xanh đậm, chứa nhiều diệp lục. Khi nghiên cứu về chiều dài, chiều rộng và độ dày của lá các nhà khoa học kết luận rằng: chiều dài lá của cây lúa thay đổi theo thứ tự xuất hiện lá ra sau dài hơn lá ra trước, các giống cao cây lá dài hơn các giống thấp cây. Tuy nhiên, chiều dài lá thay đổi khá lớn dưới ảnh hưởng của chế độ phân bón. Trong thời gian phân hóa lá vào thời điểm lá mầm đang vươn dài nếu bón thêm phân đạm sẽ làm cho lá dài hơn bình thường [36]. Chiều rộng lá di truyền ổn định hơn và tương quan không chặt với năng suất. Độ dày bản lá có tương quan chặt với năng suất, các giống có lá dày có hàm lượng diệp lục nhiều hơn, làm cho cường độ quang hợp cao hơn, tích lũy mạnh hơn, độ bền của lá dài hơn các giống có lá mỏng. Về số lá trên cây theo JN Rutger và DJ Mackill (1998) thì số lá/cây là một đặc điểm di truyền đặc trưng của giống, có hệ số di truyền rất cao, số lá/cây có thể biến động từ 9 – 25 lá tùy thuộc vào giống lúa khác nhau, số lá/cây tương quan chặt với thời gian sinh trưởng: thời gian sinh trưởng dài thì số lá nhiều, thời gian sinh trưởng ngắn thì số lá ít. Kết quả nghiên cứu của Jenning (1979) [53] cho rằng: lá đòng dài, đứng, di truyền độc lập, không liên kết với gen lùn điều khiển độ dài thân. Về lá đòng thì chiều dài lá đòng do 1 - 3 cặp gen quy định, lá đòng dài là lặn và trong nhiều trường hợp nó tương tác cộng tính [10]. Còn theo Hoàng Văn Phần (1999) thì lá đòng dài là trội so với lá đòng ngắn [21]. Chiều dài lá đòng có tương quan thuận với chiều dài lá và chiều rộng lá nên một giống lúa có lá dài thì bông to và ít bông, còn giống có lá ngắn thì bông nhỏ và nhiều bông [18]. 2.3.4. Di truyền về thời gian sinh trưởng Thời gian sinh trưởng là khoảng thời gian để cây lúa thực hiện được một chu kỳ sống (được tính từ lúc gieo hạt đến lúc lúa chín hoàn toàn) dao động từ 90 - 180 ngày, tùy thuộc vào giống, điều kiện ngoại cảnh và kỹ thuật canh tác. Thời gian sinh trưởng có ý nghĩa đến phạm vi phân bố, khả năng thâm canh và thời vụ gieo cấy của giống. Nắm được quy luật thay đổi thời gian sinh trưởng của cây lúa sẽ là cơ sở cho việc xác định thời vụ gieo cấy, cơ cấu giống, luân canh tăng vụ ở các vùng trồng lúa khác nhau. Thời gian sinh trưởng của cây lúa biến động trong một phạm vi rất rộng, là tính trạng số lượng do nhiều gen kiểm soát. Theo các nhà khoa học ở IRRI thì thời gian sinh trưởng của cây lúa được điều khiển bởi 2 hệ thống gen đó là: Hệ thống gen quy định thời gian trỗ và hệ thống gen phản ứng ánh sáng ở các giống lúa địa phương. + Hệ thống gen quy định thời gian trỗ: Là hệ thống điều khiển thời gian sinh trưởng quan trọng đối với cây lúa. Đặc tính trỗ sớm hay trỗ muộn của cây lúa là do đa gen quy định, ở thế hệ F2 có sự phân ly thời gian sinh trưởng mạnh về cả hai phía sớm hơn hay muộn hơn so với thời gian sinh trưởng của bố mẹ sớm nhất hoặc muộn nhất (Nguyễn Hồng Minh 1999) [19]. Một số nghiên cứu của Mỹ khi lai giống chín sớm Belle patna, Blue Bllet - 50 với các giống chín trung bình và dài ngày khác cho thấy tính chín sớm được kiểm soát bởi một cặp gen trội. [36]. Theo IRRI (1970) [46] thì thời kỳ sinh dưỡng cơ bản ngắn là trội so với thời kỳ sinh dưỡng dài, có nhiều gen trội tác dụng không ngang nhau nhưng có tác động tích lũy. Tiếp tục nghiên cứu Tsai Kuo Hai (1985) cho rằng thời gian sinh trưởng là do 3 cặp gen trội với các alen khác nhau điều khiển thời kỳ sinh dưỡng cơ bản của lúa, gen Ef - 1 làm cây trỗ sớm khoảng 10 ngày, alen lặn m - Ef - 1 làm tăng ảnh hưởng của alen Ef - 1 làm thời gian trỗ sớm hơn khoảng 20 ngày, gen lặn ef - 1 làm cây trỗ muộn khoảng 20 ngày, gen ef - 1 không biểu hiện hoàn toàn khi có mặt của cả hai alen m - Ef - 1 và Ef - 1. Trong đó gen Ef - 1 nằm trên nhiễm sắc thể số 10 cùng với gen Ef – 2 trên nhiễm sắc thể số 7 gây vỏ lụa màu nâu đỏ. Theo Tsai (1986) có 3 gen hoạt động độc lập quy định thời gian trỗ muộn của cây lúa là gen ef - 2t (lf - 1), gen ef - 3t, gen ef - 4t. Gen ef - 3t làm cây trỗ muộn hơn 10 ngày, gen ef - 4t có ảnh hưởng tương tự như gen ef - 3t. Khi các gen ef - 2t hoặc gen ef - 2t kết hợp với gen Ef - 1 làm ảnh hưởng cân bằng. Khi có mặt cả ba gen trên thì thời gian trỗ là muộn nhất. Gen ef - 2t liên kết với gen phản ứng ánh sáng ngày ngắn. + Hệ thống gen phản ứng quang chu kỳ Di truyền tính phản ứng quang chu kỳ được điều khiển bởi 3 gen E1, E2, E3, trong đó gen E1 có ảnh hưởng lớn nhất và lớn hơn nhiều so với gen E2, E3, gen E2 hoạt động mạnh hơn gen E3, các gen này hoạt động độc lập với gen trỗ muộn. Theo Chandratta (1955), Yookoo và Kikuchi (1977) tính phản ứng ánh sáng ngày ngắn được điều khiển bởi một gen trội chính là gen Se - 1 ở các giống lúa Indica cổ truyền. Cũng theo Yookoo và Kikuchi (1977) có nhiều alen khác nhau ở locus Se - 1 làm cho mức độ phản ứng ánh sáng khác nhau. Sau đó Poon Yarit (1989) và cộng sự gen Se - 3 hoạt động tương tác với gen Se - 1, khi một giống có cả hai gen Se - 1 và Se - 3 thì phản ứng với ánh sáng ngày ngắn và trỗ rất muộn. 2.3.5. Di truyền các tính trạng trên bông lúa - Kích thước bông và số lượng bông: Đây là hai yếu tố chính hình thành “sức chứa” của một giống lúa.số bông hữu hiệu của mỗi cá thể trong quần thể nhiều hay ít phụ thuộc vào đặc tính giống, kỹ thuật trồng trọt, mùa vụ gieo cấy, mật độ. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng giữa kích thước và số lượng bông có mối tương quan ngược chiều nhau trong một phạm vi khá ổn định, các giống bông to thường đẻ ít, các giống nhiều bông thì bông nhỏ. Trong cùng một điều kiện gieo cấy như nhau số bông hữu hiệu trên khóm không giống nhau là do các yếu tố di truyền. Xét về yếu tố di truyền có thể phân ra hai kiểu tác động chính đó là hoạt động của các gen sinh trưởng mạnh sớm và hoạt động của các gen điều khiển sự phát triển cân đối của tán lá [37]. Theo Chang T.T, P.R. Jenning (1970) thì số bông hữu hiệu trên khó._.m là do 3 – 5 locus kiểm tra [7]. - Mật độ hạt/bông hay mức độ xếp sít của hạt/bông: Theo Ramiah (1930) cho rằng số hạt/bông do gen trội CI quy định. Còn theo Hoàng Văn Phần (1999)[21] cho rằng số hạt/bông là do gen trội không hoàn toàn quy định. Theo Chang T.T, Jenning P.R (1970) [7] thì locus “DN” chi phối cách sắp xếp hạt trên bông. Nghiên cứu của Trần Duy Quý (1997) [22] đã kết luận bông ngắn, hạt xếp sít là do các gen lặn di truyền, dn, lp, lx chi phối. Theo Khush và Kinoshta (1991) cho rằng có 3 gen quy định sự xếp sít hạt/bông là Dn1, Dn2, dn3, trong đó gen Dn1 có tác dụng co rút chiều dài bông mạnh nhất. Ngoài ra còn có gen cps quy định tính trạng xếp sít hạt và gen Lx quy định tính trạng hạt xếp thưa, hai gen này hoạt động theo cả ba hiệu ứng trội, siêu trội, và cộng tính, hiệu ứng siêu trội xảy ra khi cả bố và mẹ đều mang gen Lx hoặc cps. 2.3.6. Di truyền tính chống chịu sâu bệnh Lúa là đối tượng phá hoại của nhiều loại sâu bệnh chúng có khả năng gây thiệt hại nặng đến năng suất, chất lượng nông sản. Nhiều năm ở nhiều nơi dịch hại có thể làm mất mùa hoàn toàn, ở một số nước trên thế giới, thiệt hại do sâu bệnh trung bình làm giảm từ 20 - 30% tiềm năng năng suất. Đối với Việt Nam là một nước có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều là điều kiện thuận lợi cho cây lúa sinh trưởng và phát triển đồng thời cũng là điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh phát triển. Theo Hồ Khắc Tín (1982) [33], hàng năm sâu bệnh hại làm giảm năng suất cây trồng tới 26,70%. Còn theo Hà Quang Hùng (1998) [15], ở nước ta hàng năm có khoảng 30 vạn ha lúa bị sâu bệnh phá hại (chiếm 30% diện tích gieo trồng), riêng ở miền Bắc sâu bệnh phá hại làm tổn thất khoảng 1,2 triệu tấn thóc mỗi năm. Theo Phạm Văn Lầm (2002) thì có khoảng 103 loài sâu gây hại trên lúa. Ở Việt Nam, tìm thấy khoảng 43 loài sâu gây hại trên đồng ruộng trong đó có 10 loài gây hại chính là sâu đục thân, sâu cuốn lá lớn, sâu cuốn lá nhỏ, rầy nâu, bọ xít…Có hai bệnh nguy hiểm đối với cây lúa là đạo ôn, khô vằn và bạc lá lúa (Lê Lương Tề, Vũ Triệu Mân, 1999)[29]. Chính vì vậy việc chọn tạo giống lúa chống chịu sâu bệnh được coi là biện pháp có hiệu quả kinh tế nhất để hạn chế sự thiệt hại mùa màng do dịch hại gây ra. 2.3.6.1. Di truyền tính chống bệnh bạc lá Bệnh bạc lá lúa do vi khuẩn Xanthomonas oryzae gây nên. Chúng xuất hiện phổ biến ở 70 nước trồng lúa trên thế giới, song vùng bị phá hoại mạnh nhất là vùng Đông Nam Á và châu Á. Theo Mew và cộng sự (1982)[62], thì bệnh có thể làm giảm tới 60% năng suất hàng năm. Tại Ấn Độ hàng năm có tới hàng triệu ha lúa bị bạc lá nặng làm cho năng suất giảm 60% (Sarivatava, 1972). Ở Việt Nam bệnh bạc lá đã từng gây hại thành dịch bệnh ở Bắc Giang (1056 – 1957), Quảng Ninh (1961) và trở thành dịch ở đồng bằng sông Hồng những năm 1968 – 1975 (Hà Minh Trung, 1996) [39). Trong những năm gần đây bệnh bạc lá ngày càng nghiêm trọng và có nguy cơ phát triển bề diện tích và mức độ gây hại. Bệnh bạc lá ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng phát triển của cây lúa, làm tăng cường độ hô hấp, giảm cường độ quang hợp, cây mềm yếu, kéo dài thời gian trỗ, tỷ lệ lép cao, gạo nát. (Tạ Minh Sơn, 1987) [24]. Vì vậy việc nghiên cứu chọn tạo các giống lúa kháng bệnh bạc lá luôn là nhiệm vụ cấp bách đặt ra cho các nhà chọn tạo giống lúa. Theo Kinoshita (1990) [56] thì có tới 18 gen chống bệnh bạc lá bao gồm cả gen trội và gen lặn. Có rất nhiều gen kháng ở dạng trội là Xa - 1, Xa - 2, Xa - 3, Xa - 4, Xa - 6, Xa - 7, Xa - 10, Xa - 11, Xa - 12, Xa - 14, Xa - 17, Xa - 18, Xa - 21. Các gen lặn kiểm soát tính kháng bệnh bạc lá là: xa – 5, xa - 8, xa - 13, xa - 19, xa - 20. Trong đó gen Xa - 21 có khả năng kháng tất cả các chủng được tìm thấy ở Philippin (GS. Khush và Ikeda, 1996). Tương tự với những gen chống bệnh trên, người ta đã phát hiện ra 6 nòi sinh lý khác nhau ở Philippin là PXD61 (nòi 1), PXD61 (nòi 1), PXD86 (nòi 2), PXD79 (nòi 3), PXD71 (nòi 4), PXD11 (nòi 5), PXD99 (nòi 6). Theo Ogawa và cộng sự (1988) thì những giống mang gen xa - 1, Xa - 11, Xa - 12 mẫn cảm với 6 nòi sinh lý tìm thấy ở Philippin, các gen này có nguồn gốc từ loài lúa dại Oryzae longistaminata. Sau đó Ikeda và cộng sự (1990) đã phát hiện thấy gen này có liên kết với gen Xa - 3, Xa - 4 ở nhiễm sắc thể số 11. (Trích theo Hà Minh Trung, 1996) [39]. Những năm gần đây, IRRI và một số nước phát triển đã lập bản đồ gen và dùng phương pháp PCR để phát hiện chọn lọc những gen chống bệnh bạc lá của giống lúa đó trên cơ sở đó có thể điều tra phát hiện những gen chống bệnh khác nhau trên cùng một giống một cách chính xác. Theo Phan Hữu Tôn (2000) [34] dùng phương pháp PCR đã phát hiện và chọn lọc những gen chống bệnh bạc lá của lúa. Qua kiểm tra 145 giống lúa địa phương đã phát hiện có 12 giống chứa gen xa - 1, không có giống nào chứa gen Xa – 13 và xa - 21. Hiện nay trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội đã phân lập được 10 chủng đang tồn tại ở miền Bắc Việt Nam (Phan Hữu Tôn, 2002 – 2004) [35]. 2.3.6.2. Di truyền tính kháng bệnh đạo ôn Bệnh đạo ôn do nấm Pyricularia oryzae gây nên, nó được coi là một trong những bệnh nguy hiểm nhất đối với hầu hết các vùng trồng lúa trên thế giới, đặc biệt là ở châu Á. Nấm đạo ôn có khả năng biến dị cao tạo ra nhiều chủng, nòi sinh học mới. (Lã Tuấn Nghĩa, 2001), đã tìm thấy 25 chủng gây đạo ôn ở Mỹ, 22 chủng ở Ấn Độ, 26 chủng ở Philippin, 88 kiểu đơn bội và 24 nhóm nấm gây bệnh đạo ôn ở 7 vùng sinh thái trồng lúa của Việt Nam. Ở cây lúa khi có sự xuất hiện của 3 cặp gen trội là Pi - 1, Pi - 2 và Pi - 3 thì có thể chống được bệnh này. Người ta cũng phát hiện được nhiều gen khác chống bệnh đạo ôn ở lúa, có thể là những gen chính hoặc là những locus tính trạng số lượng và hiện nay có nhiều gen đã được đặc tính hóa ở Nhật Bản. Theo Mackill và cộng sự (1995) thì tính kháng bệnh đạo ôn có thể do gen trội, trội không hoàn toàn hoặc cũng có thể do gen lặn quy định. Theo Kinoshita (1991) thì có ít nhất 30 locus gen kháng bệnh đạo ôn đã được phát hiện. Trong số này có 20 gen chính và 10 gen quy định tính giả định số lượng, 12 trong số 20 gen này dã được khẳng định là chúng không alen với nhau và đã được đặt tên chính thức trong hiệp hội nghiên cứu di truyền lúa (Kinoshita, 1990, 1991). Khi nghiên cứu nhóm liên kết của các gen chống bệnh đạo ôn cho thấy các gen này tập trung vào một số vùng nhất định trong genom. Có 8 locus tập trung trên nhiễm sắc thể số 11 bao gồm Pi - k và một số locus số lượng khác. Do sự đa dạng về kiểu gen cũng như nòi sinh lý nên nhiều phương hướng chống bệnh khác nhau được áp dụng. Hướng chung nhất của các nhà khoa học là tập trung nhiều gen kháng các nòi khác nhau vào một giống để cho nó có khả năng thích ứng rộng và tồn tại lâu dài trong sản xuất. Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của kỹ nghệ di truyền, công nghệ sinh học người ta đã tìm ra nhiều gen liên kết chặt với các gen kháng bệnh, sử dụng phương pháp RFLP và phương pháp PCR để đánh giá nhanh, sớm và chọn lọc chính xác cây mang gen kháng ngay khi hạt mới nảy mầm [35]. 2.3.6.3. Di truyền tính chống bệnh khô vằn Khô vằn do nấm Rhizoctoria solani gây nên, hiện nay vẫn chưa phân lập được gen kháng bệnh khô vằn. Các nghiên cứu chỉ ra rằng giống Tapochoz có khả năng kháng khô vằn khá nhưng vẫn chưa định vị được gen kháng bằng phương pháp chỉ thị phân tử.[37] 2.3.6.4. Di truyền tính chống chịu sâu đục thân Sâu đục thân thường được xem là loại sâu hại quan trọng nhất trên thế giới, nó tấn công cây lúa từ giai đoạn mạ cho đến khi lúa chín. Ở châu Á sâu đục thân hai chấm và sâu đục thân sọc nâu là những loài sâu chính và được phân bố rộng khắp từ Ấn Độ tới Nhật Bản (Heinrichs, 1994). Pathak và Khan (1994) báo cáo rằng những loài sâu hại này gây thiệt hại cho cây lúa từ 5 - 10%, đôi khi có sự bộc phát thiệt hại lên tới 60%. Theo Grist và Lever (1969) đã xếp hạng sâu đục thân là một trong những loài dịch hại trầm trọng nhất cho lúa ở vùng Đông Nam Á. Thiệt hại do sâu đục thân được ghi nhận là 100% ở Nhật (Logethetis, 1951), 50% ở Philippin (Otanes và Sison, 1952), 20% ở Đài Loan (Ou, 1959). Qua nghiên cứu Gootavandos (1952) và Shoki (1978) đã chứng minh rằng những giống lúa có râu mẫn cảm với sâu đục thân hơn là giống không râu. Còn Turat (1947) cho rằng thân lúa cao, đẻ khỏe, lá dài và rộng mẫn cảm hơn với sâu đục thân[33]. Satana Kinijob và Pathak đã đưa ra mối tương quan thuận giữa chiều cao cây, chiều dài lá đòng, chiều rộng lá đòng và độ lớn đường kính thân với tính mẫn cảm sâu đục thân, còn mức độ ráp của bẹ lá, mức độ cuốn chặt lấy thân có mối tương quan nghịch với tính mẫn cảm của sâu đục thân [33]. Theo Yoshida (1979) [25] thì hàm lượng silic trong cây càng cao thì tính mẫn cảm của sâu đục thân càng giảm và càng có khả năng chống chịu sâu đục thân. Các nghiên cứu đã tìm và định vị được các gen có khả năng chống chịu sâu đục thân. Ngày nay, việc chọn giống chống chịu sâu đục thân còn được tiến hành theo hướng chuyển gen kháng Bt từ vi khuẩn Bacilus thuringiensis. Việc chuyển gen kháng Bt vào các giống lúa đã thu được một số kết quả nhất định. Năm 1996, nhiều tác giả công bố sự thành công trong việc chuyển gen mang nội độc tố alpha vào những giống lúa Indica. Wun và công sự (1996) đã chuyển gen cry1ab vào giống lúa Indica IR58 bằng phương pháp bắn gen. Riazuddin (1996) thành công trong việc chuyển gen cry1Ac vào giống lúa Basmati 370. Ở Trung Quốc, (1998) người ta đã tiến hành thử nghiệm ngoài đồng với hai giống lúa chuyển gen Bt tại hai tỉnh Hainan và Zhejiang cho thấy chúng có khả năng kháng cao đối với sâu đục thân và sâu cuốn lá. Tuy nhiên, Ye và cộng sự (2001) nêu ra rằng dòng lúa được chuyển gen đã không biểu hiện được những đặc tính nông sinh học giống như cây lúa không chuyển gen.[3] 2.3.6.5. Di truyền tính chống chịu sâu cuốn lá Sâu cuốn lá phá hoại ở các vùng trồng lúa trên thế giới như: Triều Tiên, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Miến Điện, Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Hawaii, châu Đại Dương và Việt Nam. Sâu cuốn lá gây hại phổ biến trên đồng ruộng. Năm 1968, miền Bắc đã bị sâu cuốn lá phá hoại nặng. Diện tích bị hại lá trắng, cây lúa như bị cháy ảnh hưởng đến quang hợp và năng suất cây trồng [33]. Sâu cuốn lá nhả tơ và dệt thành bao và cuộn lá lúa thành ống, ở trong đó gây hại suốt ngày đêm. Việc phòng trừ sâu cuốn lá rất khó khăn vì chúng có vòng đời ngắn, số lượng lớn. Chọn tạo giống lúa chống chịu sâu cuốn lá là một nhiệm vụ quan trong cho các nhà chọn tạo giống lúa. Tính chống chịu sâu cuốn lá của cây lúa có liên quan đến cấu trúc bộ lá những giống có bộ lá đứng, cứng, dày và nhỏ là những giống ít mẫn cảm với sâu cuốn lá, trồng những giống lúa thích hợp về nông học, có tính chống sâu một cách tự nhiên là nhân tố cơ bản của chương trình phòng trừ dịch hại tổng hợp (Hà Quang Hùng, 1998) [15]. 2.3.6.6. Di truyền tính kháng rầy nâu Ở Việt Nam rầy nâu có ở khắp các vùng trồng lúa, trên thế giới rầy nâu có mặt và gây hại ở Trung quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Ấn Độ… Ngoài cây lúa rầy nau còn gây hại trên nhiều loại cây khác như ngô, lúa mỳ, mạch, cỏ lộng vực… nên việc sử dụng tính kháng đơn gen để chống lại chúng là rất khó khăn. Việc chọn tạo giống kháng rầy bền vừng là rất cần thiết. Trong những năm gần đây rầy nâu gây hại mạnh thành dịch ở đồng bằng sông Cửu Long đã làm nhiều diện tích bị mất trắng. Mặt khác rầy nâu còn là môi giới truyền bệnh virus vàng lùn xoắn lá rất nguy hiểm cho các vùng trồng lúa trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Vấn đề chọn tạo giống chống rầy là một nhiệm vụ rất cấp bách hiện nay. Ở Nhật Bản, việc chọn giống chống rầy nâu được bắt đầu từ năm 1968. Nghiên cứu di truyền tính chống rầy bởi Athawol và cộng sự (1971) đã phát hiện ra hai gen chống rầy nâu đó là: Bph - 1 và bph - 2 trong đó gen Bph1 liên kết rất chặt hoặc alen với gen Bph - 2. Khush (1977) đã phát hiện thêm gen bph - 3 và Bph - 4, chúng phân ly độc lập với Bph - 1 và Bph - 2. Ngày nay, các nhà khoa học đã tìm được rất nhiều gen kháng rầy nâu trên các giống khác nhau như: gen bph - 2 trên giống ASD7, Bph - 3 trên giống Rathu Heenati, bph - 4 trên giống Babawee (Sidhu và Khush, 1978), bph - 5 trên giống ARC10550 (Khush và cs, 1985), Bph - 6 trên giống Swarnalata bph - 7 trên giống T12 (Kabir và Khush, 1988), bph - 8 trên giống Chin Saba, bph - 9 trên giống Pokkali (Ikeda, 1982, Nemoto và cs, 1989), gen Bph - 10 trên loài lúa dại Oryza australiensis (Ishii và cs, 1994), bph - 11, bph 12 trên loài lúa dại Oryza officinalis (Hirabayashi và cs, 1997, 1999) (Trích theo Nguyễn Thị Lang, 2002) [16] Cho đến nay, người ta đã ghi nhận có 4 biotype rầy nâu ở châu Á. Vật liệu cho gen kháng rầy nâu biotype 1 là Mudgo (có gen kháng Bph - 1), kháng biotype 2 là ASD7 (có gen kháng là gen lặn bph - 2), kháng biotype 3 là Rathu Heenati (có gen kháng Bph - 3), kháng biotype 4 là Babawee (có gen bph - 4), biotype 4 chỉ có ở Ấn Độ, không được ghi nhận ở các vùng trồng lúa khác. Giống có chứa gen Bph - 1 mẫn cảm với kiểu 2, chống kiểu 3, giống chứa gen bph - 2 chống kiểu 2 mẫn cảm với kiểu 3, giống chứa cả 2 gen Bph - 3 và bph - 4 thì chống cả kiểu 2 và kiểu 3 [16] 2.3.7. Các chỉ tiêu về chất lượng hạt và đặc điểm di truyền Gạo là lương thực quan trọng trong bữa ăn hàng ngày của nhiều dân tộc trên thế giới. Tại châu Á, gạo là nguồn cung cấp calori chủ yếu, đóng góp 56,2% năng lượng, 42,9% Protein hàng ngày (IRRI, 1984) [49]. Nó đặc biệt quan trọng đối với người nghèo, khi mà cung cấp tới 70% năng lượng và protein thông qua bữa ăn hàng ngày (IRRI, 1991) [50]. Để tạo ra giống lúa chất lượng cao, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng ở các nước khác nhau cần phải nghiên cứu các chỉ tiêu về chất lượng gạo: * Kích thước và hình dạng hạt gạo: Kích thước và hình dạng hạt gạo có liên quan mật thiết với chất lượng gạo. Nghiên cứu di truyền về kích thước hạt gạo chủ yếu tập trung vào chiều dài hạt gạo. Chiều dài hạt gạo là tính trạng ổn định nhất, ít bị ảnh hưởng bởi yếu tố môi trường. Ramiah (1935) [65] cho rằng chiều dài hạt gạo do một kiểu gen kiểm tra. Bollich (1957) [43] cho rằng chiều dài hạt gạo được điều khiển bởi hai gen. Ramiah và cs (1933) cho rằng nó được điều khiển bởi ba gen. một số ý kiến khác cho rằng chiều dài hạt gạo được điều khiển bởi đa gen (Midtra, 1985), theo Morianga và cs (1943) có 5 gen điều khiển chiều dài hạt gạo. Theo Takita (1985), Kato (1989), Murai và Kinoshita (1986) có 2 đến 5 gen điều khiển chiều dài hạt gạo hoạt động cộng gộp. Takeda và Saito (1997) đã xác định có gen trội Lk - f điều khiển chiều dài nội nhũ hoạt động đa hiệu làm tăng chiều cao cây và chiều dài bông. Hình dạng hạt gạo là kết quả của mối quan hệ giữa chiều dài chiều rộng và độ dày của nó. Kết quả nghiên cứu của IRRI cho rằng chiều dài, chiều rộng, tỷ lệ dài/rộng của hạt gạo di truyền trung gian giữa bố và mẹ (Virmani S.S, 1994) [66]. Khi nghiên cứu hình dạng hạt Ramiah (1935) [65] đã chứng minh kiểu hạt ngắn, tròn trội hơn kiểu hạt dài, ôvan. Ông đem giống hạt dài (>10mm) với dạng hạt ngắn (7mm, >6mm, > 5mm với dòng bố có hạt trung bình 6mm cho kết quả 18/62 tổ hợp lai có hạt dài >7mm (siêu trội), 21/62 tổ hợp lai có hạt dài bằng dòng mẹ (trội) [37], số còn lại có chiều dài ngắn hơn hoặc trung gian giữa bố và mẹ. Kết quả này cũng tương tự với kết qủa nghiên cứu của GS Khush và cộng sự (1988). Một số kết quả nghiên cứu khác cho rằng chiều dài và độ thon của hạt gạo di truyền số lượng cho nên hạt lai biểu hiện hiệu ứng cộng tính, ở F2 có sự phân ly tăng tiến theo hướng dài hơn hoặc ngắn hơn bố mẹ. Các tính trạng hình thái hạt có hệ số di truyền cao trong mọi điều kiện môi trường [66]. Nếu những cá thể F2 được chọn có hình dạng hạt đẹp thì rất ít biến đổi ở F3 và các thế hệ sau.(Nguyễn Thị Trâm, 1998)[37]. * Di truyền độ bạc bụng: Bạc bụng ở gạo là một trong những tính trạng rất quan trọng đối với chất lượng thương phẩm. Ở nhiều vùng, nhiều quốc gia hạt gạo bạc bụng không được ưa chuộng. Ngoài ra hạt gạo bị bạc bụng thường bị hao hụt nhiều trong quá trình xay xát và chế biến hơn so với loại hạt trong (Webb, 1980) [68]. Hiện tượng bạc bụng ở lúa gạo do giống và điều kiện ngoại cảnh quyết định. Xét về điều kiện ngoại cảnh bạc bụng là do sự chín không hoàn toàn của nội nhũ. Ngoài ra, sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm lớn làm cho hạt tích lũy tinh bột không được đầy đủ cũng là nguyên nhân gây ra bạc bụng. Bangwaek (1974) [41] khi nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến độ bạc bụng thấy rằng: Nhiệt độ cao và biên độ chênh lệch ngày và đêm nhiều (35/20oC) trong quá trình chín sẽ làm tăng độ bạc bụng, trong khi đó nhiệt độ thấp làm giảm tỷ lệ bạc bụng. Về nguyên nhân di truyền có rất nhiều nghiên cứu khác nhau về tính bạc bụng ở hạt gạo. Lê Doãn Diên (1990) [5] cho rằng độ bạc bụng của hạt gạo do nhiều gen điều khiển vì thế ngoài tác động cộng tính còn có tác động tương hỗ giữa các gen. Khush và cs (1988) [60] đã kiểm tra sự di truyền của tính bạc bụng qua 75 tổ hợp lai từ 18 cặp bố mẹ khác nhau cho thấy: Có 44 tổ hợp bạc bụng ít, 15 tổ hợp bạc bụng nhiều hơn và 16 tổ hợp lai bạc bụng trung gian giữa bố và mẹ. Do vậy muốn cải tiến tính bạc bụng cần phải chọn bố mẹ không bạc bụng. Theo Virmani (1994) [66] độ bạc bụng được chia thành các mức độ sau: bạc bụng ở trọng tâm hạt, vết đục ở phía dưới bụng hạt. Vết đục ở tâm hạt do gen lặn wc điều khiển, vết đục ở bụng hạt do gen lặn wb điều khiển. Webb (1980) [68] chia hạt gạo thành 4 nhóm: nội nhũ trắng đục hoàn toàn) do gen Opaque ký hiệu là O hoặc Waxy ký hiệu là Wx, nội nhũ mờ hoặc trắng đục do gen Dull (D), nội nhũ trắng trong do gen Hazy (H), nội nhũ trong suốt do gen Translucency (T) kiểm tra. GS. Khush (1988) giới hạn phân loại trên có thể được đánh giá thông qua phân tích hàm lượng amylose: với loại hạt có nội nhũ trắng đục hàm lượng amylse từ 0 - 2%, nội nhũ có màu đục là 3 - 9%, hạt gạo trong suốt hàm lượng amylose là 10 - 32%. Các nghiên cứu gần đây vẫn chưa thống nhất về số gen kiểm soát tính trạng nội nhũ trong, nhưng đều có nhận xét là sự di truyền tính trạng này không quá phức tạp. Kết quả nghiên cứu trên các tổ hợp lai của GS Khush chỉ ra rằng: để con lai đồng nhất về màu sắc nội nhũ thì tốt nhất là bố mẹ nên có cùng một kiểu nội nhũ. * Tỷ lệ gạo nguyên: Gạo nguyên là hạt gạo còn nguyên vẹn theo hình dạng tự nhiên của chúng sau khi xay xát. Tỷ lệ gạo nguyên là khối lượng hạt gao nguyên vẹn theo khối lượng xay xát (Lê Doãn Diên, 1984) [4] Theo Lê Doãn Diên (1990) [5] cho rằng xay xát thóc là quá trình loại bỏ vỏ trấu, phôi và vỏ cám với sự hao hụt nhỏ nhất ra khỏi nội nhũ, khi loại bỏ các bộ phận này sẽ làm hàm lượng xellulose và lipit giảm đi rõ rệt. Khi loại bỏ vỏ trấu giàu xellulose ở ngoài sẽ làm tăng tỷ lệ tiêu hóa, còn làm giảm hàm lượng lipit sẽ làm tăng khả năng bảo quản gạo. Loại bỏ phôi và vỏ cám cũng sẽ dẫn đến việc làm giảm hàm lượng protein, để giảm được sự mất mát dinh dưỡng do xay xát có thể xử lý thủy nhiệt, phơi sấy rồi mới đem xay xát. Tỷ lệ gạo nguyên có mối quan hệ chặt chẽ với độ cứng của hạt và dộ bạc bụng. Cho đến nay di truyền về độ cứng của hạt vẫn chưa được biết rõ (Lê Vĩnh Thảo, 2006) [31]. Tỷ lệ gạo nguyên là tính trạng di truyền bị ảnh hưởng rất mạnh mẽ bởi môi trường, đặc biệt là độ ẩm và nhiệt độ trong suốt thời kỳ hạt chín kéo dài cho đến lúc sau thu hoạch. Khi thu hoạch lúa cần xác định đúng thời điểm chín sinh lý thì mới đạt được tỷ lệ gạo nguyên cao. Theo Bangwaek (1974) [41] thời điểm thu hoạch để đạt tỷ lệ gạo nguyên cao nhất là vào ngày thứ 33 - 36 kể từ ngày hạt phơi màu. 2.3.8. Đặc điểm di truyền một số tính trạng liên quan đến chất lượng nấu nướng Các tính trạng liên quan đến chất lượng nấu nướng và ăn uống của lúa gạo bao gồm: hàm lượng amylose, nhiệt độ hóa hồ, mùi thơm, hàm lượng protein… Chất lượng nấu nướng và ăn uống cũng tùy thuộc vào thị hiếu người tiêu dùng. Người dân vùng nông thôn thích loại gạo hơi cứng, khi nấu phải tơi xốp, còn người vùng thành thị lại thích loại gạo hạt nhỏ dài trong, khi nấu cơm mềm, hơi dẻo. Người Nhật Bản, Triều Tiên không thích loại gạo thơm, trái lại vùng Đông Nam Á, Trung Quốc,….lại rất thích ăn gạo thơm.[37] * Hàm lượng amylose: Trong các tính trạng về phẩm chất cơm, amylose được xem là tính trạng quyết định đến sự mềm cơm và ngược lại. Hàm lượng amylose có sự biến động lớn giữa các giống khác nhau và được chia thành các mức như sau: 0 - 2% (waxy), rất thấp (3 - 9%), thấp (10 - 19%, trung bình (20 - 25%), cao (trên 25%). Đối với giống lúa nếp thì hàm lượng amylose ở mức waxy đến thấp. Các giống có hàm lượng amylose ở mức rất thấp và waxy thì xôi mềm và dẻo hơn so với giống có hàm lượng amylose thấp. Theo Kumar và Khush (1986, 1987, 1988) [58], [59], [60] gen điều khiển hàm lượng amylose cao là trội hoàn toàn so với hàm lượng amylose trung bình và thấp. Hàm lượng amylose trung bình và thấp được điều khiển bởi một gen chính và một số gen phụ. Theo kết quả nghiên cứu của Lê Vĩnh Thảo cho rằng sự xuất hiện của một vài cá thể có hàm lượng amylose cao hoặc thấp hơn bố mẹ có hàm lượng amylose rất cao hoặc rất thấp, cho thấy vai trò quan trọng của đa gen [31]. Môi trường cũng có ảnh hưởng đến sự biến động hàm lượng amylose trong hạt gạo của cùng một giống lúa, đặc biệt là vào giai đoạn vào chắc. Hàm lượng amylose cũng liên quan đến đặc điểm của giống: những giống có hạt gạo tỷ lệ dài/rộng cao thì hàm lượng amylose nhỏ hơn 20% và gạo gãy cao (Vũ Văn Liết, 1995) [17] * Di truyền tính trạng mùi thơm: Mùi thơm là một trong những tính trạng quan trọng nhất quyết định đến giá trị thương phẩm và chất lượng gạo. Một số người châu Á rất ưa chuộng loại gạo có mùi thơm. Đây là một tính trạng chất lượng, dễ bị mất sau thời gian bảo quản. Mùi thơm của gạo do các hợp chất hợp chất hóa học tạo nên như este, xeton, aldehyt [4], [5]. Nghiên cứu về di truyền mùi thơm ở lúa gạo, có rất nhiều ý kiến khác nhau. Ramiah và Rao (1953) cho rằng có 2 gen hoạt động tương tác nhau cho tỷ lệ phân ly ở F2 là 9 : 7, 15 : 1, 13 : 3, Nagaraju (1975), Raghuram Reddy (1981) cho rằng mùi thơm của lá lúa được điều khiển bởi 3 gen trội bổ sung hoạt động ở thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng.. Sood và Siddiq (1978) , Hoàng Văn Phần (1999) [21], Đỗ Khắc Thịnh (1995) [30] cho rằng mùi thơm được điều khiển bởi 2 -3 gen lặn bổ sung. Theo Sc. Lih (1990) thì mùi thơm của lúa do 2 gen lặn điều khiển có thể hoạt động tương tác bổ sung hoặc tương tác át chế, Sc. Lih ký hiệu các gen đó là sk1 và sk2, gen sk1 hoạt động độc lập với gen wx, như vậy hoàn toàn có thể tạo ra giống lúa thơm có hàm lượng amylose thích hợp và giống lúa nếp không có mùi thơm. Theo Ahn và cộng sự thì gen gây ra mùi thơm là một gen lặn, ký hiệu là fgr, định vị trên nhiễm sắc thể số 8 và liên kết chặt với marker RG28, khoảng cách di truyền giữa marker này với gen fgr là 4,5 cm. * Nhiệt độ hóa hồ: nhiệt độ hóa hồ của gạo được xác định bởi nhiệt, khi hạt gạo ở khoảng nhiệt độ nhất định tinh bột trong hạt hút nước và trương lên, khi các hạt tinh bột mất đi các đặc trưng của chúng và trở lên trong suốt. Nhiệt độ hóa hồ của hạt gạo từ 55 - 790C (Juliano, 1972) [55]. Dựa vào nhiệt độ hóa hồ người ta chia lúa thành ba loại: giống có nhiệt độ hóa hồ thấp (thấp hơn 700C), trung bình (70 - 740C), cao (trên 740C) (Beachell và Stansel, 1963) [42]. Ảnh hưởng của nhiệt hóa hồ đến chất lượng nấu nướng của gạo chưa được khẳng định chắc chắn, với những giống có nhiệt độ hóa hồ cao thì thời gian đun chín lâu hơn. Có 1 - 3 gen điều khiển tính trạng này (Stansel, 1965, Somrith, 1971, Hue và Choi, 1973). Theo Ghosh và Govindaswami (1972) [44], Puri và Siddiq (1983) [64] cho rằng hoạt động cộng tính đóng vai trò chính trong việc thể hiện của tính trạng này. Nhiệt độ hóa hồ và hàm lượng amylose có liên quan với nhau và liên quan đến chất lượng nấu nướng. Giống có hàm lượng amylose cao 28 - 35%, cơm rất cứng vì nhiệt độ hóa hồ cao, và khi nấu cần nhiều nước, thời gian chín lâu. Amylose từ 25 - 27% cơm khô tơi xốp, khi để nguội cơm cứng. Amylose từ 20 - 24%, nấu cơm nhanh chín, cơm mềm xốp ngon. Amylose 15 - 19% cơm mềm dẻo. Amylose nhỏ hơn 15% cơm dẻo nát. Amylose dưới 2% có nội nhũ đục và dẻo dính [66]. Như vậy hàm lượng amylose càng cao thì nhiệt độ hóa hồ càng cao. * Hàm lượng protein, amyloaxit tự do và kết hợp trong phân tử protein trong lúa gạo. Trong lúa gạo cũng như các loại thực phẩm khác đều chứa các chất dinh dưỡng vốn rất cần thiết cho sức khỏe của con người như: Protein, lipit, gluxit, các chất khoáng và các vitamin. Lúa gạo cung cấp từ 40 - 80% về calori và 40 - 59% lượng protein trong khẩu phần dinh dưỡng hàng ngày của con người. Hàm lượng Protein được điều khiển bởi đa gen, bị ảnh hưởng bởi môi trường khá mạnh. Protein thấp thể hiện tính trội hơn hàm lượng protein cao [31]. 2.4. Mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành năng suất và môi trường Các yếu tố cấu thành năng suất bao gồm: Số bông trên đơn vị diện tích, số hạt trên bông, tỷ lệ hạt chắc và khối lượng 1000 hạt. Trong các yếu tố cấu thành năng suất thì số bông trên đơn vị diện tích có tính quyết định 74 % năng suất lúa và hình thành sớm nhất. Số bông trên đơn vị diện tích phụ thuộc nhiều vào mật độ cấy, khả năng đẻ nhánh và khả năng chịu thâm canh. Các giống lúa mới thấp cây, lá đứng, đẻ khỏe, chịu đạm có thể cấy dày để tăng số bông trên đơn vị diện tích (Nguyễn Hữu Tề và cs, 1997) [28]. Tuy nhiên số bông trên đơn vị diện tích chỉ tăng đến mức độ nào đó sẽ không tăng thêm đồng thời khi tăng số bông trên đơn vị diện tích sẽ kéo theo làm giảm số hạt trên bông (bông bé đi). Như vậy cần phải điều khiển để đạt được số bống tối ưu mà không làm giảm số hạt trên bông mới đạt được năng suất cao. Số hạt trên bông cũng là một yếu tố phụ thuộc nhiều vào đặc tính của giống và điều kiện ngoại cảnh. Số hạt trên bông được quyết định ở giai đoạn làm đòng, tỷ lệ hạt chắc được quyết định ở thời điểm trước và sau trỗ bông. Nếu ở thời kỳ này mà nhiệt độ, độ ẩm không khí thấp quá hoặc cao quá làm cho hạt phấn sức nảy mầm, hoặc vòi nhụy phát triển không hoàn toàn. Do vậy để có tỷ lệ hạt chắc cao cần bố trí thời vụ sao cho thời kỳ trỗ và làm đòng thuận lợi. Theo Nguyễn Văn Hoan (1995) [13] thì sự tương quan giữa năng suất và số bông trên khóm của mỗi giống lúa là khác nhau, giống lúa lùn có tương quan chặt (r= 0,85), giống bán lùn r = 0,62 và nhóm cao cây r = 0,54. Sự tương quan giữa năng suất và số hạt trên bông thì ngược lại, nhóm cao cây r = 0,96, nhóm bán lùn r = 0,66, nhóm lùn r = 0,62. Khối lượng 1000 hạt chủ yếu là phụ thuộc vào giống và ít chịu sự tác động của điều kiện ngoại cảnh. Giai đoạn từ lúa trỗ bông cho đến lúc chín sữa có ảnh hưởng rõ rệt đến khối lượng 1000 hạt, nếu giai đoạn này điều kiện nhiệt độ thích hợp cho quá trình tổng hợp và vận chuyển chất khô từ thân lá về hạt thì khối lượng 1000 hạt sẽ cao. Xét tổng thể trên quan điểm chọn giống các nhà khoa học đã đưa ra mô hình cây lúa lý tưởng để cân bằng được nguồn và sức chứa nhằm tạo ra giống lúa có câu trúc bộ lá và thân cây thích hợp, có hiệu suất quang hợp cao và có số bông, số hạt trên bông đủ lớn để tạo ra năng suất cao nhất. 2.5. Những nghiên cứu về nguồn gen di truyền lúa nếp ở Việt Nam 2.5.1. Nguồn gen di truyền lúa nếp ở Việt Nam Nguồn gen di truyền lúa nếp ở Việt Nam lần đầu tiên được Lê Quý Đôn mô tả trong cuốn “Vân đài loại ngữ” (trích theo Bùi huy Đáp, 1980) [6] với 70 giống lúa cổ truyền trong đó có 29 giống lúa nếp. Ngân hàng gen quốc gia tại Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam đã bảo quản 1200 mẫu giống lúa nếp bản địa được thu thập trên toàn quốc, trong số này có khoảng 200 mẫu giống thu thập trước năm 1990 chủ yếu là lúa ruộng ở đồng bằng còn hơn 1000 mẫu giống được thu thập sau năm 1990 chủ yếu là lúa nương ở khu vực miền núi. Theo Lưu Ngọc trình và các cộng sự (1995) [38] dựa trên các mẫu isozym để phân loại 643 giống lúa cổ truyền đại diện cho các hệ sinh thái của Việt Nam đã phát hiện ra rằng lúa Indica chiếm 91,9% nguồn gen lúa Việt Nam, lúa Japonica là 6,8% và 1,3% là không xác định được. Trong số lúa Japonica phân loại được thì lúa nếp chiếm tỷ lệ cao hơn so với cấu trúc di truyền chung của nguồn gen lúa Việt Nam [38]. Trong số 359 mẫu giống nếp địa phương bảo quản tại ngân hàng gen quốc gia được phân loại bằng phản ứng phenol cho thấy 54,6% là lúa Japonica, 45,4% là lúa Indica (Lưu Ngọc Trình, 1995). Một nghiên cứu khác của Lưu Ngọc Trình sử dụng phương pháp RADP để xác định sự đa dạng di truyền trên 29 mẫu giống lúa nếp địa phương đại diện cho các vùng sinh thái khác nhau của Việt Nam cho thấy có 20 mẫu giống chiếm 68,9% là lúa Japonica. Sự phân bố của các giống lúa nếp ở các vùng có sự khác nhau. Ở đồng bằng Bắc bộ, lúa nếp dạng Japonica nhiều hơn giống Indica. Lúa nếp ở hệ sinh thái này dẻo và mùi thơm như các giống nếp cái, nếp cái hoa vàng, nếp hạt to…được Lê Quý Đôn ghi chép từ thế kỷ 18. Ở khu vực miền nam Việt Nam không có lúa Japonica (Trần Danh Sửu, 1997) [27].Ở khu vực này lúa nếp ít da dạng di truyền, lúa nếp thơm hơn, ít dính hơn. Ở khu vực đất nương rẫy, tài nguyên di truyền lúa nếp rất phong phú và đa dạng. Nguyễn Phùng Hà (1996) đã sử dụng các loại isozym esterase để nghiên cứu đa dạng di truyền của lúa dịa phương thu thập từ các khu vực miền núi đã phát hiện ra rằng lúa nếp rất đa dạng và có mặt trong 7 nhóm isozym. Phần lớn lúa nếp ở khu vực đất nương rẫy của Bắc Việt Nam là lúa Japonica (Nguyễn Thị Quỳnh, 1998). Những nghiên cứu này góp phần vào việc giữ gìn và khai thác nguồn gen lúa nếp có hiệu quả hơn trong các chương trình cải lương giống lúa nếp. Như vậy có thể thấy nguồn gen di truyền lúa nếp ở Việt Nam khá phong phú đa dạng. Nguồn gen lúa nếp thuộc loài phụ Japonica chiếm tỷ lệ cao hơn loài phụ Indica, loài phụ japonica có khả năng chịu rét khỏe, chống chịu khá với bệnh đạo ôn và bạc lá, các yếu tố cấu thành năng suất cao sẽ là vật liệu cho các mục tiêu chọn tạo giống lúa nếp hiện nay. 2.5.2. Chọn tạo và sử dụng nguồn tài nguyên di truyền lúa nếp trong sản xuất lúa của Việt Nam Ở Việt Nam, lúa nếp được trồng chủ yếu ở vùng miền núi nơi điều kiện sinh thái bất lợi, thậm chí ở các khu vực thâm canh cao. Ở các vùng trồng lúa nếp thì chất lượng, hương vị ngon là tiêu chuẩn ưu tiên để người nông dân chọn một giống lúa nếp. Ở các khu vực miền núi và khu vực đồng bằng nông dân đều chọn các giống lúa bản địa với chất lượng cao [30] ._.,65 65,50 Trung bình - Thơm N56 5,30 ± 0,21 2,90 ± 0,10 1,83 78,10 71,14 Cao>75oC 12,25 Thơm NV9 6,00 ± 0,10 3,00 ± 0,00 2,00 77,63 60,57 Trung bình 4,27 Thơm N87 5,23 ± 0,06 2,56 ± 0,05 2,04 74,23 65,34 Cao>75oC 8,89 Không thơm N97 5,27 ± 0,05 2,64 ± 0,05 2,00 77,52 68,56 Cao>75oC 7,72 Hơi thơm N.xoắn 5,34 ± 0,16 2,8 ± 0,00 1,91 73,21 65,56 Trung bình - Thơm Nếp LL 5,21 ± 0,13 3,0 ± 0,05 1,74 77,24 64,91 Trung bình 4,58 Thơm BIV4 5,83 ± ,018 3,0 ± 0,05 1,94 78,68 69,45 Trung bình 5.67 Thơm TK90 5,90 ± 0,10 2,97 ± 0,09 2,00 75,58 63,85 Trung bình - Thơm 4.2.10.3. Tỷ lệ dài/rộng hạt gạo Chiều dài/chiều rộng hạt gạo biến động từ 1,71 (NV1) đến 2,04 (N87). Như vậy theo tiêu chuẩn phân loại của IRRI (1996) thì tất cả các giống đều có dạng hạt gạo to bầu, không có giống nào thuộc loại hình trung bình, hoặc tròn. 4.2.10.4. Tỷ lệ gạo lật Tỷ lệ gạo lật không những phụ thuộc vào đặc điểm di truyền của giống mà còn phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh ở giai đoạn chín. Những giống có vỏ trấu mỏng thì tỷ lệ gạo lật cao hơn và ngược lại. Tỷ lệ gạo lật cao còn phản ánh độ chắc mẩy của hạt thóc, qua đó nó biểu hiện sự cân bằng về quá trình tổng hợp dinh dưỡng ở lá và quá trình vận chuyển dinh dưỡng vào hạt.. Qua số liệu thu được ở bảng 4.13 cho thấy: Tỷ lệ gạo lật của các dòng, giống biến đổi từ 74,23 đến 80,10%. Đối chứng.có tỷ lệ gạo lật là 75,58%. NV1 có tỷ lệ gạo lật cao nhất, thấp nhất là giống N87. 4.2.10.5. Tỷ lệ gạo xay xát Tỷ lệ gạo xay xát không những phụ thuộc vào bản chất di truyền của giống, mà còn phụ thuộc vào thời gian thu hoạch, độ ẩm của hạt trước khi xay sát và trang thiết bị xay sát. Tỷ lệ gạo sát của các dòng, giống biến động từ 57,03% (NV2) đến 71,14% (N56). NV1 có tỷ lệ gạo lật là 68,54%, N97 là 68,56%. 4.2.10.6. Hàm lượng amylose Sau khi thu hoạch vụ xuân 2008 chúng tôi tiến hành phân tích hàm lượng amylose của các dòng giống và thu được kết quả ở bảng 4.13. Kết quả phân tích cho thấy các dòng, giống lúa nếp có hàm lượng amylose khác nhau nhiều: có 3 giống có hàm lượng amylose rất thấp là NV3, Nếp xoắn và TK90. Giống có hàm lượng amylose cao nhất là N56. NV1 có hàm lượng amylose là 4,36%, N97 là 7,72%. 4.2.10.7. Nhiệt độ hoá hồ Nhiệt độ hoá hồ là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng của gạo nếp. Nhiệt độ hoá hồ cao, xôi thường cứng, thời gian nấu chín lâu. Nhiệt độ hoá hồ của các dòng, giống ở mức trung bình đến cao, có ba giống có nhiệt độ hoá hồ cao là N56, N87, N97, các giống còn lại có nhiệt độ hoá hồ trung bình. 4.2.10.8. Mùi thơm Mùi thơm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, quyết định chất lượng của gạo nếp. Qua đánh giá mùi thơm của xôi chúng tôi nhận thấy các dòng giống lúa đều có mùi thơm, chỉ có giống N87 là không thơm và N97 là hơi thơm. 4.2.11. Hội nghị đầu bờ đánh giá, cho điểm đối với một số giống lúa triển vọng ở vụ xuân 2008 Để đánh giá khách quan các giống lúa tham gia khảo nghiệm chúng tôi tiến hành hội thảo đầu bờ để nông dân trong vùng đánh giá cho điểm. - Thời gian đánh giá: Khi lúa chín, chuẩn bị thu hoạch. - Chọn người đánh giá: Nông dân có trình độ hiểu biết về thâm canh lúa. - Hướng dẫn người dân cách thức đánh giá, cho điểm một giống. - Thực hiện đánh giá, bỏ phiếu cho một giống lúa (tốt hơn đối chứng, tốt bằng, không tốt bằng so với đối chứng) Kết quả đánh giá được trình bày ở bảng 4.14. Từ kết quả đánh giá khách quan trên cho thấy các dòng, giống lúa mới đem thí nghiệm đều được nông dân đánh giá cao hơn so với TK90, trong đó NV1 và N97 là được nông dân đánh giá cao nhất, chỉ có NV9 do thời gian sinh trưởng dài hơn, trỗ vào đợt mưa nên tỷ lệ hạt lép cao là không được nông dân đánh giá cao. Riêng giống Nếp xoắn có chất lượng rất cao, tuy nhiên biểu hiện năng suất thấp hơn: Cây ngắn, bông nhỏ, sâu bệnh nhiều nên không đánh giá. Bảng 4.14. Kết quả đánh giá một số dòng, giống lúa trên thí nghiệm. STT Dòng, giống Tỷ lệ phiếu bầu tốt hơn TK90 Tỷ lệ phiếu bầu tốt bằng TK90 Tỷ lệ phiếu bầu kém hơn 1 NV1 28/30 2/30 0/30 2 NV2 24/30 2/30 4/30 3 NV3 20/30 3/30 7/30 4 N56 22/30 5/30 3/30 5 NV9 10/30 10/30 10/30 6 N97 28/30 2/30 0/30 7 N87 23/30 4/30 3/30 8 Nếp Lang Liêu 20/30 4/30 6/30 9 BIV4 22/30 3/30 5/30 Như vậy các dòng giống lúa có năng suất vượt trội, kiểu hình hạt đẹp, chất lượng cao hơn hoặc tương đương có thể thay thế giống lúa TK90 và IRi352 đang được trồng phổ biến ở huyện. 4.2.12. Giới thiệu một số dòng triển vọng Mục đích của thí nghiệm khảo nghiệm giống là theo dõi đặc điểm nông sinh học và sự sinh trưởng phát triển qua từng giai đoạn của các dòng, giống để từ đó chọn ra các dòng giống triển vọng phù hợp với điều kiện thâm canh và điều kiện ngoại cảnh của huyện. Các dòng, giống này phải có thời gian sinh trưởng tương đương TK90, IRi352, năng suất cao, chất lượng tốt, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt hơn TK90. Qua các kết quả nghiên cứu chúng tôi đề nghị chọn ra 2 giống lúa nếp có năng suất vượt trội để thay thế cho 2 giống lúa đang được dùng phổ biến của huyện là TK90, IRi352. Đặc điểm chính của các dòng được thể hiện ở bảng 4.15. So sánh với các đặc điểm của đối chứng cho thấy: - Thời gian sinh trưởng: NV1 và N97 đều có thời gian sinh trưởng dài hơn TK90 5 ngày. - Chiều cao cây: NV1 cao hơn TK90 9,8cm, N97 thấp hơn TK90 3,9cm như vậy, có thể coi chiều cao của 2 giống này tương đương TK90. - Chiều dài bông: Cả hai giống đều có chiều dài bông cao hơn TK90 và thuộc bạng bông trung bình. - Chiều dài cổ bông của hai giống đều ở mức tốt hơn so với đối chứng TK90 có cổ bông quá dài. - Số bông hữu hiệu trên khóm: Cả hai giống có số bông hữu hiệu trên khóm tương đương với đối chứng. - Số hạt/bông: cả hai giống NV1 và N97 đều có số hạt/bông lớn hơn đối chứng - Khối lượng 1000 hạt: NV1 thuộc dạng hạt to bầu giống đối chứng, N97 thuộc dạng hạt trung bình. - Năng suất lý thuyết: Năng suất lý thuyết của NV1 là 63,51 tạ/ha, N97 là 69,10 tạ/ha cao hơn nhiều so với đối chứng (56,11 tạ/ha) - Năng suất thực thu: Năng suất thực thu của NV1 là 54,16 tạ/ha, N97 là 60,99 tạ/ha so với đối chứng là 45,73 tạ/ha. - Về hàm lượng amylose: NV1 có hàm lượng amylose là 4,35%, N97 là 7,72% - Về mùi thơm: NV1 có mùi thơm đậm, N97 hơi thơm. Về khả năng chống chịu sâu bệnh của 2 giống này đều ở mức tốt hơn so với đối chứng. Tỷ lệ gạo lật: Tỷ lệ gạo lật của NV1 là 80,10%, N97 là 77,52% cao hơn so với đối chứng ở mức là 75,58%. Tỷ lệ gạo sát: Tỷ lệ gạo sát của NV1 là 68,54%, của N97 là 68,56% cao hơn so với đối chứng TK90 (63,85%). Bảng 4.15. Đặc điểm một số giống lúa triển vọng Dòng, giống TGST (ngày) Chiều cao cây (cm) Chiều dài bông (cm) Chiều dài cổ bông (cm) Số bông hh/khóm Số hạt/bông TLệ hạt chắc (%) P1000 hạt (g) NSLT (tạ/ha) NSTT (tạ/ha) TLệ gạo lật (%) TLệ gạo sát (%) Mùi thơm NV1 147 111,7 23,8 7,9 5,10 110,7 92,61 30,2 63,53 54,16 80,10 68,54 Thơm N97 147 101,9 23,9 4,4 5,5 127,9 94,45 26,0 69,10 60,67 77,52 68,56 Hơi thơm TK90 142 104,8 21,4 10,9 5,4 89,6 96,65 30,0 56,11 45,73 75,58 63,85 Thơm 4.2.13.Đề xuất Trên cơ sở điều tra cơ cấu giống lúa của huyện Chương Mỹ trong 3 năm và kết quả thí nghiệm so sánh giống chúng tôi đề nghị: - Dần dần thay thế diện tích cấy giống TK90 bằng giống lúa NV1 có chất lượng gạo cao, khả năng chống chịu sâu bệnh khá cho giống TK90 được trồng lâu ngoài sản xuất nên năng suất thấp, tỷ lệ nhiễm sâu bệnh nhiều. - Dần dần thay thế một phần diện tích cấy IRi352 bằng các giống lúa N97 có năng suất cao hơn và chất lượng gạo cao hơn. 4.3. Mô hình trình diễn một số dòng, giống triển vọng tại địa phương Song song với thí nghiệm so sánh giống, chúng tôi tiến hành cấy mô hình trình diễn một số dòng triển vọng trên 2 cánh đồng khác nhau: Cánh đồng khu A và cánh đồng khu B (hay còn gọi là cánh đồng ông Trung). 4.3.1.Diện tích, năng suất của các dòng, giống lúa triển vọng Bảng 4.16. Trình diễn các dòng triển vọng vụ xuân 2008 tại xã Thủy Xuân Tiên - Chương Mỹ - Hà Tây Dòng, giống Khu A Khu B Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) N97 0,2 55,5 0,2 55,8 NV1 0,2 49,0 0,2 49,6 TK90 0,2 43,7 0,2 43,5 Qua bảng cho thấy cả 2 giống lúa thí nghiệm đều cho năng suất cao hơn đối chứng và ở mức khá cao. Cụ thể Cánh đồng khu A: N97 cho năng suất trung bình là 55,8 tạ/ha, NV1 cho năng suất trung bình là 49,0 tạ/ha. Cánh đồng khu B: N97 cho năng suất trung bình đạt 55,8 tạ/ha, NV1 năng suất trung bình đạt 48,6 tạ/ha. Trên cả hai cánh đồng cấy thử nghiệm 2 giống này đều cho năng suất cao hơn hẳn đối chứng, độ thuần đồng ruộng cao, tỷ lệ mạ sống sót sau đợt rét tháng 1 - 2 cao hơn nhiều so với TK90, đặc biệt là mức độ nhiễm sâu bệnh hại thấp hơn so với đối chứng. Các giống lúa này được người nông dân tham gia cấy lúa trình diễn rất ưa thích và mong muốn được trồng ở các vụ tiếp theo. 4.3.2. Tính toán hiệu quả kinh tế của 2 giống so với đối chứng Bảng 4.17. Hiệu quả kinh tế cho 1 ha lúa nếp Giống Năng suất (kg) Giá thóc (đ/kg) Tổng thu (triệu đồng) Tổng chi (triệu đồng) Thu nhập thuần (triệu đồng) N97 5560 6000 33,36 17,06 16,30 NV1 4880 7000 34,16 17,12 17,04 TK90 4360 7000 30,52 17,77 12,75 Như vậy, với mức đầu tư tương đương nhau, mặc dù NV1 có năng suất thấp hơn nhưng gạo chất lượng cao hơn, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng nên giá bán cao hơn, nên hiệu qủa kinh tế của NV1 cao hơn so với N97. Cả hai giống lúa NV1 và N97 đều cho thu nhập thuần cao hơn so với TK90 nhiều. NV1 và N97 có nhiều ưu điểm như: năng suất cao, chất lượng gạo tốt, khả năng chống bệnh tốt đáp ứng được nhu cầu của nông dân trong huyện có thể thay thế cho 2 giống lúa đang được trồng phổ biến ở địa phương. 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 5.1. Kết luận 1/ Cơ cấu giống lúa nếp năm 2005 - 2007: Vụ xuân diện tích cấy lúa nếp rất ít, chủ yếu sử dụng 2 giống TK90 và IRi352, năng suất không cao và có xu hướng giảm dần do được sử dụng nhiều năm nên tỷ lệ nhiễm sâu bệnh hại nhiều. Vụ mùa diện tích gieo cấy lúa nhiều hơn, khoảng 10% diện tích gieo cấy vụ mùa. Phần lớn diện tích gieo cấy lúa nếp vụ mùa được sử dụng để gieo cấy giống lúa địa phương là những giống có chất lượng cao nhưng năng suất thấp, dễ đổ trong điều kiện vụ mùa.Trong cả hai vụ chúng tôi nhận thấy diện tích và năng suất của giống TK90, IRi352 giảm dần thay vào đó là giống N87, N97 có năng suất cao hơn. 2/ Kết quả khảo nghiệm 11 dòng, giống chúng tôi tuyển chọn được 2 giống lúa có năng suất vượt trội là NV1 (54,16 tạ/ha) và N97 (60,99 tạ/ha). Những giống này có thời gian sinh trưởng dài hơn TK90 5 ngày. Tuy nhiên, hai giống này lại có cấu trúc kiểu cây tốt, bông dài, chiều dài cổ bông thích hợp, số hạt/bông cao, khả năng chống chịu sâu bệnh khá hơn và năng suất cao hơn hẳn so với TK90. NV1 có dạng hạt bầu, thơm phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. N97 hơi thơm nhưng năng suất cao vượt trội. 3/ Kết quả triển khai mô hình trình diễn cho thấy các giống NV1, N97 có năng suất cao hơn TK90, NV1 có ưu điểm năng suất cao, ít bị nhiễm sâu bệnh, dạng hạt to bầu được người dân rất ưa thích. N97 có năng suất cao vượt trội so với TK90, dạng hạt trung bình cũng được nông dân đánh giá rất cao. 5.2. Đề nghị 1/ Tiến hành trình diễn hai giống lúa trên diện tích rộng để đánh giá khả năng thích ứng của hai giống trên trên các vùng sinh thái khác 2/ Tiếp tục phát triển 2 giống NV1, N97 ở cả vụ xuân và vụ mùa trên toàn huyện dần dần thay thế hai giống lúa cũ là TK90 và IRi352. 3/ Tiếp tục nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật canh tác đối với các giống lúa này đặc biệt là đối với 2 giống NV1, N97 để phát huy hết tiềm năng năng suất của giống. 4/ Đề nghị các cơ quan có thẩm quyền công nhận NV1 là giống mới để tạo điều kiện pháp lý cho việc sản xuất giống nhằm cung cấp hạt giống chất lượng cho nông dân. TÀI LIỆU THAM KHẢO I. Tài liệu tiếng Việt Bùi Chí Bửu, Nguyễn Thị Lang (2002), Cơ sở di truyền tính kháng sâu bệnh hại cây trồng, NXB Nông nghiệp TP.HCM. Luyện Hữu Chỉ, Trần Như Nguyện (1978), Chọn tạo và sản xuất giống cây trồng, NXb Khoa học kỹ thuật. Ngô Lực Cường (2002), Đặc điểm sinh học của sâu đục thân sọc nâu liên quan đến việc quản lý tính kháng sâu đối với giống lúa chuyển gen Bt, luận văn tiến sĩ, Viện Lúa Quốc tế. Lê Doãn Diên, Nguyễn Bá Trình (1984), Nâng cao chất lượng nông sản, (Tập 1), NXB Nông nghiệp, Hà Nội. Tr 201 - 210. Lê Doãn Diên (9/1990), Vấn đề chất lượng lúa gạo, Tạp chí Nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm, tr 96 - 98. Bùi Huy Đáp (1978), Cây lúa Việt Nam trong vùng Nam và Đông Nam Á, NXB Nông nghiệp, Hà Nội. Chang TT, Jenning PR (1970), Lúa xuân người khổng lồ châu Á, (bản dịch), NXB Khoa học kỹ thuật Hà Nội. Nguyễn Văn Hiển, Trần Thị Nhàn, (1982), Giống lúa miền Bắc Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr 102 - 104 Nguyễn Văn Hiển (1992), Khảo sát phẩm chất tập đoàn giống lúa địa phương và nhập nội miền Bắc Việt Nam, Luận văn PTS khoa học Nông nghiệp, ĐHNNI, Hà Nội. Nguyễn Văn Hiển (2000), Giáo trình chọn giống cây trồng, NXB giáo dục, tr 11 - 39. Nguyễn Xuân Hiển, Trần Long, Vũ Thu Trang (1976), Nghiên cứu lúa ở nước ngoài, NXB KHKT, Hà Nội. Nguyễn Văn Hoan (1994), Một số kết quả nghiên cứu chọn tạo giống lúa bằng phương pháp lai hữu tính, Luận án PTS khoa học Nông nghiệp. Nguyễn Văn Hoan (1995), Kỹ thuật thâm canh lúa ở hộ nông dân, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr 91 - 101. Vũ Tuyên Hoàng, Luyện Hữu Chỉ, Trần Thị Nhàn (2000), Chọn giống cây lương thực, NXB KHKT, Hà Nội. Hà Quang Hùng (1998), Phòng trừ tổng hợp dịch hại cây trồng nông nghiệp, Giáo trình giảng dạy sau đại học, NXB Nông nghiệp. Nguyễn Thị Lang, Bùi Chí Bửu, (2002), Chọn tạo giống lúa kháng rầy nâu có gen Bph - 10 nhờ marker phân tử, NXB Nông nghiệp, TP. HCM. Vũ Văn Liết và cs (1995), Kết quả nghiên cứu khoa học 1994 - 1995, ĐHNNI, NXB Nông nghiệp, Hà Nội. Đinh Văn Lữ (1978), Giáo trình cây lúa, NXB Nông nghiệp, Hà Nội. Nguyễn Hồng Minh (1999), Giáo trình di truyền học, NXB Nông nghiệp, Hà Nội. Phòng Thống kê huyện Chương Mỹ. Hoàng Văn Phần (1999), Nghiên cứu đặc điểm di truyền tính trạng của con lai thế hệ F1 ở lúa, Kết quả nghiên cứu khoa học, Viện KHKTNN Việt Nam. Trần Duy Quý (1997), Các phương pháp mới trong chọn tạo giống cây trồng, NXb Nông nghiệp, Hà Nội. Tạ Minh Sơn (1978), Kết quả nghiên cứu bệnh bạc lá lúa và chọn giống hống bệnh, Báo cáo khoa học tại hội đồng nghiệm thu đề tài nghiên cứu. Tạ Minh Sơn (1987), Bệnh bạc lá vi khuẩn Xanthomonas oryzae) và tạo giống chống bệnh, Luận án PTS khoa học, Viện KHKTNN Việt Nam. Suichi Yoshida (1979), Những kiến thức cơ bản nghề trồng lúa, NXB Nông nghiệp, Hà Nội. Suichi Yoshida (1985), Những kiến thức cơ bản của khoa học trồng lúa, NXb Nông nghiệp. Trần Danh Sửu (1997), Genetic variation within and among aromatic rice cultivar revealed by RADP markers. Research study in NIAR, Japan. Nguyễn Hữu Tề và cộng sự (1997), Giáo trình cây lương thực, Tập 1, NXB Nông nghiệp, Hà Nội. Lê Lương Tề, Vũ Triệu Mân và cộng sự (1999), Bệnh vi khuẩn và vi rút hại cây trồng, NXB Giáo dục. Lê Vĩnh Thảo (2004), Các giống lúa đặc sản, giống lúa chất lượng cao và kỹ thuật canh tác, NXB Nông nghiệp. Lê Vĩnh Thảo (2006), Công tác chọn tạo giống lúa và kỹ thuật canh tác, Hà Nội. Đỗ Khắc Thịnh và cộng sự (1995), Một số kết quả nghiên cứu di truyền tính thơm ở các giống lúa nếp, Tạp chí Nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm, số 9. Hồ Khắc Tín (1982), Giáo trình côn trùng Nông nghiệp, NXB Nông nghiệp Hà Nội. Phan Hữu Tôn (2000), Application of PCR - based marker to identify rice bacterial blight resitance genes, xa- - 5, xa - 13 and xa 21 in Viet Nam gerplasm collection, Tạp chí khoa học nônng nghiệp (1), 9/2000, Đại học NNI, Hà Nội. Phan Hữu Tôn (2002 - 2004), Xác định các chủng vi khuẩn Xanthomonas oryzae gây bệnh bạc lá lúa đang tồn tại ở miền Bắc Việt Nam, Tạp chí khoa học Nông nghiệp, ĐHNNI, Hà Nội. Nguyễn Thị Trâm(1998), Chọn tạo giống lúa - Bài giảng cao học chuyên ngành chọn giống cây trồng, Hà Nội. Nguyễn Thị Trâm (2002), Lúa lai ở Việt Nam, (chương VII), NXB Nông nghiệp, Hà Nội. Lưu Ngọc Trình (1995), Phân loại nhanh lúa Indica và Japonica lúa trồng châu Á oryza sativa. Thông tin công nghệ sinh học và ứng dụng. Hà Minh Trung (1996), Hiện trạng và triển vọng nghiên cứu bệnh virus, vi khuẩn hại cây trồng ở Việt Nam, Tạp chí Bảo vệ thực vật, tháng 4, tr 22 - 25. Đào Thế Tuấn (1977), Cuộc các mạng về giống cây lương thực, NXb Nông nghiệp, Hà Nội. II. Tài liệu tiếng Anh Bangaek C.B.S Vagana and Robles (1974), effect of temperature regime on gain chalkiness in rice, IRRI, pp:8 Beach HM, Stansel JW (1963), Selecting rice for specific cooking characteristics in a breeding program, Int Rice Comm Newsl 6 (2):1. Bollich CN (1957), Inhertance of several economic quantitative characters in rice. Diss Abstr 17: 1638. Ghosh and Govindaswamy S (1972), Inherritance of sarch iodine blue value and alkali digestion value in rice and their genetics association, Riso. Gilieb.GV, Gujop IU.L (1978), Chọn giống và công tác giống cây trồng, (Bản dịch), NXB Nông nghiệp. IRRI (1970), Annual report, pp 21, 30. IRRI (1972) Annual report, pp 18 - 19. IRRI (1978), Annual report, pp 43,50,56. IRRI (1984), Rice improvement eater in central at Southern Africa, pp 18, 25. IRRI (1991), Rice agrai marketing and quality issue, pp 23, 27, 36, 60 - 63. IRRI (1996), Report of the Inger monitoring visit on finnegrain aromatic rice in India, Iran, Pakistan and Thailand, pp 115, 120. IRRI (1996), Standard evaluation system for rice,Manila Philippines. Jenning PR. (1979), Rice improvement IRRI, Phillipines. Jenning PR, Coffmant WR and Kauffman H.E (1997), Rice improvement, IRRI Los Banos, Philippines, pp. 101 - 120. Juliano BO (1972), Physiocochemical properties of starch and protein in relative to grain quality and nutritional value of rice. In : Rice breeding, IRRI, Los Banos Phipipines, pp 69 - 90. Khush GS (2000), Taxonomy and origin of rice. Aromatic Ricis Science Publishers, Inc . USA. Pp 13. Khush GS, Kinoshita T (1990), Report of the committee on gene symbolization, nomenclature and linkage group. Rice Genet Newsl 7: 16 - 50. Kumar I, Khush GS (1986), Genetisc of amylose content in rice (Oryza sativa L). J Genet 65 (142): 1-11. Kumar I, Khush GS (1987) Genetisc analysis of diffirent amylose levels in rice. Crop Sci 27: 1167 - 1172. Kumar I, Khush GS (1988), Inheritance of amylose content in rice (Oryza sativa L) Euphytica 38: 261 - 269. Mackill DJ, Rutger JN (1992) Public sector research on hybrid rice in the United States, Paper presented at the 2nd Int symp on Hybrid rice, IRRI, Manila, Philippin, April. Mew T.W, Wu S.Z and Hizino O (1982), Pathotypes of Xanthomonas ampestris py Oryzae in Asia, IRRI Research Paper Series, No 75, May, pp 7. Nakata S, Jackson BR (1973), Inheritance of some physical grain quality characteristics in a cross between a Thai and Taiwainese rice, Thai J Agric Sci 6: 223 - 235. Puri RP, Siddiq EA (1983) Studies on cooking and nutritive qualities of cultivated rice (Oryza sativa L). IV. Quantitative genetic analysis of gelatinization temperature, Genet Agric 37: 335 - 344. Ramiah K (1935), Rice genetics, Proc Assn Econ Biol combatore 3: 51 - 65. Vimarni SS (1994). Heterosis and hybrid rice breeding. Monograph on Theoretical and applied genetisc 22, IRRI, Manila, Philippin. Yuan. LP (1997), exploiting crop heterosis by two - line system hybrids: current status ang future prospects. Pro. Inter. Symp. On two - line system herterosis breeding in crops. September 6 - 8, 1997, Changsha. PR. China, pp 1 - 6. Webb BD (1980), Rice quality and grades. In: Luh BS (ed), Rice production and utilization. Avi, Westport, conneticut, pp 543 - 565. Phụ lục 2. Chi phí đầu tư cho 1 ha lúa nếp Nội dung chi Đơn vị Giống N97 Giống NV1 Giống TK90 Số lượng Thành tiền (1000đ) Số lượng Thành tiền (1000đ) Số lượng Thành tiền (1000đ) I. Chi phí vật tư 1. Giống Kg 54 540 40 600 54 540 2. Phân hữu cơ Kg 1000 600 1000 600 1000 600 3. Phân đạm Kg 195 1.560 195 1560 165 1320 4. Phân lân Kg 400 1.200 400 1200 400 1200 5. Phân Kali Kg 165 1650 165 1650 165 1650 6. Thuốc BVTV Gói, lọ 100 500 100 500 150 750 II. Chi phí lao động 7. Chi phí làm đất Sào 27 1.620 27 1620 27 1620 8. Chi phí tuốt lúa Sào 27 810 27 810 27 810 9. Chi phí vận chuyển Sào 27 500 27 500 500 10. Công lao động công 200 7.000 200 7.000 220 7.700 III. Chi phí khác Sào 27 1.080 27 1080 27 1080 Tổng chi phí 17.060 17.120 17.770 Phụ lục 3. Phân tích IRRISTART cho các công thức thí nghiệm vụ xuân 2008 BALANCED ANOVA FOR VARIATE NS FILE TNLN 20/ 8/ 8 9:10 -------------------------------------------------------------: PAGE 1 VARIATE V002 NS LN SOURCE OF VARIATION DF SUMS OF MEAN F RATIO PROB ER SQUARES SQUARES LN ======================================================================= 1 CT$ 10 699.161 69.9161 24.16 0.000 3 2 LN 2 19.7752 9.88758 3.42 0.052 3 * RESIDUAL 20 57.8849 2.89424 ---------------------------------------------------------------------- * TOTAL (CORRECTED) 32 776.821 24.2756 ---------------------------------------------------------------------- TABLE OF MEANS FOR FACTORIAL EFFECTS FILE TNLN 20/ 8/ 8 9:10 --------------------------------------------------------------- PAGE 2 MEANS FOR EFFECT CT$ --------------------------------------------------------------------- CT$ NOS NS NV1 3 54.1667 NV2 3 53.6667 NV3 3 52.0000 N56 3 52.3333 NV9 3 50.6667 N87 3 55.0000 N97 3 60.6667 N.xoa´n 3 42.3333 Nê´p LL 3 49.3333 BIV4 3 50.3333 TK90 3 45.7333 SE(N= 3) 0.982216 5%LSD 20DF 2.89751 ---------------------------------------------------------------------- MEANS FOR EFFECT LN ---------------------------------------------------------------------- LN NOS NS 1 11 50.4273 2 11 51.7273 3 11 52.2727 SE(N= 11) 0.512946 5%LSD 20DF 1.51317 --------------------------------------------------------------------- ANALYSIS OF VARIANCE SUMMARY TABLE FILE TNLN 20/ 8/ 8 9:10 ------------------------------------------------------------------ :PAGE 3 F-PROBABLIITY VALUES FOR EACH EFFECT IN THE MODEL. SECTION - 1 VARIATE GRAND MEAN STANDARD DEVIATION C OF V |CT$ |LN | (N= 33) -------------------- SD/MEAN | | | NO. BASED ON BASED ON % | | | OBS. TOTAL SS RESID SS | | | NS 33 51.476 4.9270 1.7012 3.3 0.0000 0.0519 Phụ lục 4. Số liệu khí tượng Số liệu các yếu tố khi tượng tháng 1 năm 2008 Yếu tố Ngày Nhiệt độ không khí TB (oC) Nhiệt độ không khí Max (oC) Nhiệt độ không khí Min (oC) Độ ẩm không khí TB (%) Số giờ nắng (giờ) Lượng mưa (mm) 1 15,1 19,7 11,4 90 - 1.6 2 13,5 19,6 9,2 92 0.3 3.1 3 13,5 20,7 7,8 94 0.0 1.2 4 11,5 18,3 9,4 92 0.2 5.2 5 15,4 18,50 9,3 89 - 0.8 6 18,6 19,5 15,6 88 0.2 0.0 7 19,6 20,7 18,3 84 0.3 0.0 8 20,5 21,6 15,6 86 0.2 0.0 9 21,8 24,5 18,9 92 0.3 0.0 10 22,0 25,3 21,3 97 1.6 0.0 11 23,5 29,8 20,3 97 1.9 0.0 12 23,0 29,2 20 96 1.7 0.0 13 21,5 25,6 16,2 97 1.3 0.0 14 13,9 16,3 12,2 95 0.0 0.0 15 11,5 12,6 10,4 94 0.0 1.4 16 13,3 16,3 11,2 95 0.1 0.0 17 14,4 15,5 13,8 98 8.5 0.0 18 14,9 17,3 12,9 97 5.8 0.0 19 14,5 15,5 13,3 86 4.8 0.0 20 15,4 19,2 15,2 81 0.2 2.6 21 13,6 18,3 11,0 84 - 1.1 22 10,5 11,4 9,8 97 1.2 0.0 23 14,1 15,8 12,0 94 1.5 0.0 24 12,3 15,1 10,6 94 - 0.0 25 11,0 12,3 9,8 96 - 0.0 26 12,2 14,8 11,0 92 0.0 1.7 27 11,0 12,8 9,5 90 - 2.0 28 9,5 10,6 8,6 83 - 2.5 29 9,6 9,9 8,9 92 - 0.0 30 9,2 27.5 24.2 93 - 0.3 31 8,0 29.0 23.8 91 - 1.5 Sè LIÖU C¸C YÕU Tè KHÝ T¦îNG TR¹M Hµ §¤NG TH¸NG 2 N¡M 2008 YÕu tè NhiÖt ®é NhiÖt ®é NhiÖt ®é §é Èm Sè giê L­îng Ngµy Trung b×nh Max Min Trung b×nh n¾ng m­a 1 7.3 8.1 6.8 89 0.0 0.4 2 9.2 12.5 6.8 85 0.0 5.6 3 11.6 13.5 10.4 75 0.0 - 4 12.1 14.2 10.3 70 0.0 - 5 12.5 14.2 11.0 83 0.0 0.1 6 12.7 14.4 11.8 76 0.0 - 7 12.5 14.0 11.9 72 0.0 - 8 12.6 14.6 11.2 74 0.0 - 9 12.7 15.4 11.5 55 0.0 - 10 11.8 13.0 11.4 63 0.0 - 11 10.8 11.6 10.4 78 0.0 - 12 12.0 14.4 10.3 61 0.0 - 13 12.0 13.8 10.0 52 0.0 - 14 11.6 14.8 9.4 59 0.0 - 15 13.3 16.8 11.1 66 0.0 0.0 16 14.2 16.5 12.8 68 0.0 - 17 11.6 14.3 11.2 93 0.0 2.6 18 12.0 13.0 11.2 90 0.0 0.8 19 12.3 13.2 11.8 91 0.0 0.3 20 13.8 16.1 12.5 88 0.0 - 21 16.2 22.5 10.6 81 8.1 - 22 17.8 24.9 12.3 80 8.0 - 23 19.8 25.8 14.8 80 6.7 - 24 18.9 22.4 17.5 88 0.0 1.4 25 18.4 19.8 17.4 95 0.0 1.5 26 17.1 19.1 15.5 86 0.0 - 27 14.7 17.0 13.2 55 0.0 - 28 14.3 15.9 13.6 69 0.0 1.7 29 14.8 19.7 11.8 75 5.7 [ Sè LIÖU C¸C YÕU Tè KHÝ T¦îNG TR¹M Hµ §¤NG TH¸NG 3 N¡M 2008 YÕu tè NhiÖt ®é NhiÖt ®é NhiÖt ®é §é Èm Sè giê L­îng Ngµy Trung b×nh Max Min Trung b×nh n¾ng m­a 1 15.7 22.5 10.3 74 7.8 - 2 17.2 24.9 12.0 74 8.8 - 3 18.7 25.4 12.8 71 8.0 - 4 18.9 25.6 13.4 67 8.0 - 5 18.2 22.3 14.4 80 1.9 - 6 19.3 23.0 17.3 84 1.4 - 7 19.7 22.8 18.5 87 1.4 - 8 20.0 24.1 16.7 84 1.1 - 9 19.7 22.0 18.5 83 0.0 - 10 19.2 21.2 18.0 88 0.0 - 11 21.0 23.9 18.5 83 0.0 - 12 20.3 25.3 18.0 88 4.9 0.0 13 19.7 21.5 18.2 94 0.0 0.1 14 20.5 22.4 19.5 95 0.0 1.4 15 21.0 24.5 18.9 90 0.0 0.0 16 21.7 24.0 20.6 95 0.0 0.4 17 22.8 27.0 21.1 90 0.2 0.3 18 23.1 26.0 21.9 92 0.4 10.2 19 22.2 23.8 21.5 91 0.0 - 20 23.2 27.6 20.8 90 3.3 - 21 24.4 26.5 22.8 89 0.3 - 22 22.7 24.6 21.8 93 0.0 8.9 23 21.8 26.3 18.9 73 6.4 0.8 24 21.3 25.1 18.3 72 6.7 - 25 21.4 24.4 19.3 76 0.2 - 26 21.4 24.3 20.0 79 1.1 0.3 27 20.0 22.8 18.4 88 0.2 - 28 21.9 26.7 19.2 89 1.8 0.1 29 24.6 28.8 22.0 88 0.3 0.1 30 24.7 27.8 23.4 92 0.0 0.2 31 22.4 23.0 21.4 95 0.0 4.6 Sè LIÖU C¸C YÕU Tè KHÝ T¦îNG TR¹M Hµ §¤NG TH¸NG 4 N¡M 2008 YÕu tè NhiÖt ®é NhiÖt ®é NhiÖt ®é §é Èm Sè giê L­îng Ngµy Trung b×nh Max Min Trung b×nh n¾ng m­a 1 19.9 21.7 18.3 91 0.0 1.8 2 18.4 20.7 17.3 89 0.0 1.2 3 18.3 20.3 16.6 93 0.0 0.2 4 20.6 23.6 18.5 95 0.0 0.2 5 22.8 25.5 21.1 95 0.8 0.3 6 25.1 29.5 22.8 89 1.7 - 7 26.0 29.9 24.3 90 4.4 - 8 26.4 31.7 23.3 88 5.1 - 9 27.2 32.4 23.7 85 6.5 - 10 25.3 27.5 24.1 93 0.0 0.0 11 25.5 27.4 24.3 94 0.0 - 12 25.9 28.3 24.7 93 0.0 0.0 13 24.6 26.5 24.3 96 0.0 3.4 14 25.3 30.4 22.2 85 7.5 0.7 15 24.8 29.4 20.6 89 5.7 13.2 16 25.6 28.7 23.7 87 5.1 - 17 25.6 30.4 22.4 85 6.7 - 18 26.2 31.1 22.3 83 7.6 - 19 26.5 30.5 23.9 81 5.5 - 20 27.2 31.0 24.6 87 5.0 - 21 27.7 31.0 25.6 87 4.7 - 22 26.0 28.2 24.0 92 0.0 4.1 23 21.7 24.5 19.8 85 0.0 0.5 24 20.8 23.8 19.3 81 0.3 0.7 25 22.1 26.4 20.5 82 2.3 - 26 22.6 26.1 19.7 83 2.7 - 27 23.5 27.8 21.2 87 0.2 - 28 23.8 27.9 22.2 81 1.7 - 29 24.8 29.0 21.5 83 1.5 - 30 25.4 29.0 22.7 86 0.6 0.9 Sè LIÖU C¸C YÕU Tè KHÝ T¦îNG TR¹M Hµ §¤NG TH¸NG 5 N¡M 2008 YÕu tè NhiÖt ®é NhiÖt ®é NhiÖt ®é §é Èm Sè giê L­îng Ngµy Trung b×nh Max Min Trung b×nh n¾ng m­a 1 26.3 30.7 24.2 90 1.5 17.8 2 27.7 31.9 25.2 86 6.3 - 3 27.4 31.5 24.9 90 3.0 0.0 4 28.1 32.7 25.5 87 8.2 - 5 23.3 28.5 27.0 95 0.0 4.0 6 24.5 28.0 21.8 89 1.6 4.6 7 26.9 32.0 23.5 87 7.6 - 8 28.2 32.8 25.2 87 7.2 0.4 9 26.7 32.5 23.3 89 3.0 13.0 10 24.2 27.4 22.2 75 0.7 8.3 11 23.6 27.2 20.9 77 0.0 - 12 26.2 30.1 21.9 78 6.9 - 13 25.9 30.4 22.7 81 2.9 - 14 26.1 30.4 22.0 76 10.4 - 15 25.7 30.8 21.6 79 7.1 - 16 26.5 31.2 23.1 80 8.2 - 17 26.9 30.9 23.7 79 1.5 - 18 26.8 32.4 24.3 89 4.1 74.8 19 22.2 24.8 21.0 95 0.0 90.2 20 24.4 29.2 21.9 87 4.4 - 21 26.1 30.5 22.9 85 7.9 - 22 26.3 30.0 23.8 89 0.5 - 23 27.8 32.9 25.0 87 5.6 - 24 28.5 33.3 26.0 88 5.2 - 25 28.6 34.0 26.2 85 6.4 - 26 29.2 34.4 26.0 87 8.5 0.0 27 30.7 36.4 27.0 81 9.4 - 28 30.4 34.3 26.5 73 6.1 - 29 31.2 35.8 27.5 76 9.5 - 30 27.8 33.0 25.0 85 2.4 3.2 31 25.5 30.0 23.3 81 3.3 14.2 Sè LIÖU C¸C YÕU Tè KHÝ T¦îNG TR¹M Hµ §¤NG TH¸NG 6 N¡M 2008 YÕu tè NhiÖt ®é NhiÖt ®é NhiÖt ®é §é Èm Sè giê L­îng Ngµy Trung b×nh Max Min Trung b×nh n¾ng m­a 1 27.2 30.7 24.8 85 1.0 - 2 26.8 30.4 23.5 87 0.6 2.5 3 26.8 32.4 23.5 81 3.2 0.5 4 27.2 31.4 25.4 89 0.2 - 5 27.0 31.6 25.2 88 3.1 - 6 27.0 31.4 24.9 87 2.3 0.6 7 27.3 33.0 24.4 88 5.3 3.8 8 27.9 34.0 24.3 87 3.1 8.9 9 30.7 32.2 25.1 82 7.4 0.4 10 27.6 30.2 24.8 89 2.1 0.0 11 27.7 32.2 25.4 84 5.6 - 12 27.9 33.0 25.0 90 1.8 1.1 13 27.5 31.3 25.7 89 1.2 1.8 14 27.5 32.2 24.7 89 2.9 31.3 15 28.5 33.6 26.0 91 6.1 25.8 16 27.8 30.8 25.5 89 0.0 1.0 17 27.8 30.0 26.5 90 0.9 0.0 18 26.0 31.2 23.8 93 0.5 136.7 19 26.0 27.8 24.3 95 0.0 15.7 20 27.5 33.2 24.5 88 6.8 18.3 21 29.0 34.4 24.6 81 8.4 0.2 22 30.6 35.5 27.2 82 10.5 - 23 31.4 37.2 27.7 82 10.7 - 24 28.2 33.2 24.5 89 5.6 123.0 25 30.2 34.4 27.3 81 2.7 - 26 31.2 36.0 28.5 79 7.4 0.9 27 27.2 32.0 25.1 88 2.3 25.4 28 25.0 27.6 24.0 93 0.0 27.9 29 25.4 32.8 23.8 83 9.5 - 30 29.5 34.9 27.0 84 8.4 6.3 ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docLuận văn up.doc
Tài liệu liên quan