Nghiên cứu tình hình hội chứng tiêu chảy ở đàn lợn nuôi trong chuồng nền và chuồng sàn tại huyện Yên Định – tinh Thanh Hóa

Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học Nông nghiệp hà nội ---------------------------------------- Hoàng thị bích Nghiên cứu tình hình hội chứng tiêu chảy ở lợn nuôi trong chuồng nền và chuồng sàn tại huyện yên định tỉnh Thanh hoá luận văn thạc sĩ nông nghiệp Chuyên ngành: Thú y Mã số : 60.62.50 Người hướng dẫn khoa học: PSG. TS. Trương Quang Hà Nội - 2008 Lời cam đoan Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận vă

doc141 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 09/12/2013 | Lượt xem: 1032 | Lượt tải: 9download
Tóm tắt tài liệu Nghiên cứu tình hình hội chứng tiêu chảy ở đàn lợn nuôi trong chuồng nền và chuồng sàn tại huyện Yên Định – tinh Thanh Hóa, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
n là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc. Hà Nội, tháng 8 năm 2008 Tác giả luận văn Hoàng thị bích Lời cám ơn Để hoàn thành luận văn này ngoài sự cố gắng của bản thân tôi luôn nhận được sự quan tâm giúp đỡ của nhà trường,bạn bè đồng nghiệp. Trước tiên tôi xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô giáo khoa Thú y, khoa Sau Đại học- Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội đã dành nhiều thời gian và công sức giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Trương Quang người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong qua trình thực hiện và hoàn thành luận văn. Xin chân thành cám ơn thầy, cô giáo Bộ môn Vi sinh vật- Truyền nhiễm - Bệnh lý - khoa Thú y đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài. Chân thành cám Uỷ ban nhân dân xã Quý Lộc, Uỷ ban nhân dân xẫ Định Long, Định Tường, Bà Nguyễn Thị Phương GĐ Công ty cổ phần đầu tư nông nghiệp Yên Định, các chủ trang trại chăn nuôi lợn, tập thể và các cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài. Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Ban Giám hiệu, Khoa Nông- Lâm – Ngư nghiệp, Bộ môn chăn nuôi thú y Đại học Hồng Đức, đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này Tôi xin gửi lời cám ơn tới ngưới thân trong gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã luôn giúp đỡ, động viên giúp tôi hoàn thành luận văn này. Hà Nội, tháng 8 năm 2008 Tác giả luận văn Hoàng Thị Bích Danh mục các chữ viết tắt CFU: Colonial Forming Unit ST: Heat Stable Toxin LT: Heat Labile Toxin cs: Cộng sự TL: Tỷ lệ TC: Tiêu chảy TN: Thí nghiệm ĐC: Đối chứng TGE: Transmissible Gastro Enteritis Mục lục Lời cam đoan…………………………………………………………………i Lời cám ơn…………………………………………………………………...ii Danh mục các chữ viết tắt…………………………………………………...iii Danh mục các bảng số liệu………………………………………………….vii Danh mục các hình.....……………………………………………………...viii 1. Mở đầu......……………………………………….. ……………….……1 1.1. Tính cấp thiết của đề tài………….……………………..…………1 1.2. Mục tiêu nghiên cứu ……………………………..……………….3 1.3. ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ……………………........3 2. Tổng quan tài liệu…………………………………………….…..5 2.1. Những nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy…… .....…….….…………5 2.1.1. Nguyên nhân gây ra hội chứng tiêu chảy……………..……. .….6 2.1.1.1. Do vi sinh vật………………………………………… ..6 2.1.1.2..Do ký sinh trùng ……………………………… ..……12 2.1.1.3. Nguyên nhân khác ……………………...…….………13 2.1.2 ảnh hưởng của điều kiện chuồng trại và độ ẩm chuồng nuôi đến hội chứng tiêu chảy ở lợn…………………………….. …… …15 2.1.2.1. ảnh hưởng của điều kiện chuồng trại…………………15 2.1.2.2 ảnh hưởng của độ ẩm chuồng nuôi đến hội chứng tiêu chảy ở lợn……………………….……….. …...………………16 2.2. Những nghiên cứu về hệ vi khuẩn đường ruột …………..…………. 18 2.2.1. Họ vi khuẩn đường ruột ……………………………………..…19 2.2.2. Một số giống vi khuẩn đường ruột quan trọng…………..……. 20 2.2.2.1. Vi khuẩn E.coli ……………………………………….20 2.2.2.2. Vi khuẩn Salmonella………………………………..... 26 2.3. Những kết quả nghiên cứu về phòng và trị tiêu chảy ở lợn ………….30 2.3.1. Những nghiên cứu về phòng tiêu chảy ………………..……… 31 2.3.1.1. Phòng tiêu chảy bằng các biện pháp kỹ thuật ………...32 2.3.1.2. Phòng bệnh bằng vaccine…………………………….. 32 2.3.1.3. Phòng bệnh bằng chế phẩm sinh học… …………….....34 2.3.2. Những kết quả nghiên cứu về điều trị tiêu chảy …………..…...36 2.3.2.1. Điều trị hội chứng tiêu chảy bằng kháng sinh…………36 2.3.2.2. Điều trị hội chứng tiêu chảy bằng chế phẩm sinh học...37 2.4. Điều kiện tự nhiên và tình hình chăn nuôi lợn ở Huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá ………………………………………………….. .. .39 2.4.1. Điều kiện tự nhiên………………………..…………………… 39 2.4.2. Tình hình chăn nuôi lợn tại Huyện Yên Định,tỉnh Thanh Hoá. 41 2.4.3. Tình hình dịch bệnh ở đàn lợn …….……………….….………43 3. Nội dung, nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu..44 3.1. Nội dung nghiên cứu …………………..……………………….……44 3.2. Đối tượng, nguyên liệu và địa điểm nghiên cứu ……….…..…….…..44 3.2.1. Đối tượng nghiên cứu …..………………….………….….……44 3.2.2. Nguyên liệu ………..…………..........………….……….……..44 3.2.3. Địa điểm nghiên cứu ……..……...........…………….…………45 3.3. Phương pháp nghiên cứu ……………..………………….…….….…45 3.3.1. Phương pháp lấy mẫu phân …………..……………….……….45 3.3.2. Điều tra tình hình hội chứng tiêu chảy ở lợn …… ……………45 3.3.3. Phương pháp đo độ ẩm chuồng nuôi...........................................45 3.3.4. Xác định tổng số vi khuẩn hiếu khí trong 1 gram phân ……….46 3.3.5. Phân lập, giám định vi khuẩn E.coli và Salmonella……...…… 46 3.3.6. Xác định độc lực của vi khuẩn E.coli và Salmonella..................49 3.3.7. Xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh của vi khuẩn E.coli và Salmonella ……..…………………………………….…….49 3.3.8. Phương pháp bố trí thí nghiệm điều trị lợn bị tiêu chảy.…….…50 3.3.9. Phương pháp xử lý số liệu ………………………..…..….….…51 4. Kết quả và thảo luận……………………….……….……..….. 52 4.1. Kết quả điều tra tình hình tiêu chảy ở lợn nuôi tại huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá ……………………....…............…………………...52 4.1.1. Tình hình hội chứng tiêu chảy ở lợn nuôi trong các kiểu chuồng khác nhau……...........................................................................52 4.1.2. Tình hình tiêu chảy xét theo lứa tuổi ……………………..…56 4.1.3. Tình hình tiêu chảy ở lợn xét theo mùa vụ ………..………… 61 4.1.4. Kết quả đo độ ẩm chuồng nuôi ở hai kiểu chuồng ……............65 4. 2. Biến động tổng số vi khuẩn hiếu khí trong phân lợn bị tiêu chảy và không bị tiêu chảy ở lợn nuôi trong hai kiểu chuồng ………..…..70 4.3. Kết quả xác định tỷ lệ phân lập, số lượng vi khuẩn E.coli và Salmonella trong phân lợn tiêu chảy ở hai kiểu chuồng …………...……… …....74 4.3.1. Vi khuẩn E.coli ………………………………………..……….75 4.3.2. Vi khuẩn Salmonella …………,,.……………………………...78 4.4. Kết quả kiểm tra độc lực của các chủng E.coli và Salmonella ….. ….82 4.4.1. Kết quả kiểm tra độc lực của các chủng E.coli …….……...… 82 4.4.2. Kết quả kiểm tra độc lực của các chủng Salmonella …………. 85 4.5. Kết quả kiểm tra khả năng mẫn cảm kháng sinh của các chủng E.coli và Salmonella phân lập……….…………………………..……87 4.5.1. Với E.coli ……………...………………………………..…… 87 4.5.2. Với Salmonella ……………..…………………………...……..90 4.6. Kết quả điều trị tiêu chảy ở lợn bằng các phác đồ……..…………....92 4.6.1.Điều trị bằng kháng sinh có tác dụng tương đối tốt với vi khuẩn đã kiểm tra……………………....……..……………………...........92 4.6.2.. Điều trị tiêu chảy cho lợn bằng men vi sinh ………………......95 4.6.3. Điều trị bằng kháng sinh mẫn cảm và men vi sinh …………...97 5 Kết luận và đề nghị …………………………………………….100 5.1. Kết luận …………………..………………………………………...100 5.2. Đề nghị ……………………………………...……………………...102 Tài liệu tham khảo ……………………………………………….104 Danh mục các bảng số liệu Bảng 4.1: Tình hình hội chứng tiêu chảy ở lợn nuôi trong các kiểu chuồng nuôi……………………………………………………………… 54 Bảng 4.2: Kết quả điều tra tình hình hội chứng tiêu chảy ở lợn các lứa tuổi khác nhau…………………………………………………………59 Bảng 4.3: Tình hình tiêu chảy ở lợn xét theo mùa vụ ………………………62 Bảng 4.4: Kết quả xác định độ ẩm ở hai kiểu chuồng nuôi…………………68 Bảng 4.5: Biến động tổng số vi khuẩn hiếu khí trong phân lợn bị tiêu chảy và không bị tiêu chảy nuôi trong hai kiểu chuồng…………………..71 Bảng 4.6: Tỷ lệ phân lập và số lượng vi khuẩn E.coli trong phân củalợn bị tiêu chảy và không bị tiêu chảy nuôi trong hai kiểu chuồng ................76 Bảng 4.7: Tỷ lệ phân lập và số lượng vi khuẩn Salmonella trong phân lợn bị tiêu chảy và không bị tiêu chảy nuôi trong chuồng sàn và chuồng nền .……79 Bảng 4.8: Kết quả kiểm tra độc lực của các chủng E.coli phân lập được.......83 Bảng 4.9: Kết quả kiểm tra độc lực của các chủng Salmonella phân lập được.................................................................................................86 Bảng 4.10: Kết quả kiểm tra khả năng mẫn cảm kháng sinh các chủng E.coli phân lập được ...............................................................................89 Bảng 4.11 : Kết quả kiểm tra khả năng mẫn cảm kháng sinh các chủng Salmonella phân lập được............................................................91 Bảng 4.12: Kết qủa thử nghiệm điều trị tiêu chảy cho lợn bằng kháng sinh mẫn cảm........................................................................................93 Bảng 4.13: Kết quả điều trị hộị chứng tiêu chảy bằng chế phẩm sinh học....97 Bảng 4.14: Kết qủa thử nghiệm điều trị tiêu chảy cho lợn bằng kháng sinh mẫn cảm và men vi sinh...............................................................98 Danh mục các hình Hình 4.1: So sánh tỷ lệ lợn bị bệnh tiêu chảy ở lợn nuôi trong các kiểu chuồng nuôi khác nhau…………………………………….……..55 Hình 4.2: So sánh tỷ lệ lợn bị tiêu chảy ở các lứa tuổi lợn nuôi trong hai kiểu chuồng…………………………………………………………….60 Hình 4.3: So sánh tỷ lệ lợn bị bệnh tiêu chảy ở các mùa vụ…………………64 Hình.4.4: So sánh độ ẩm ở hai kiểu chuồng nuôi …………………………. 69 Hình 4.5: So sánh tổng số vi khuẩn hiếu khí trong phân lợn tiêu chảy và không tiêu chảy nuôi trong hai kiểu chuồng……………………...73 Hình 4.6: So sánh số lượng vi khuẩn E.coli trong phân lợn tiêu chảy và không tiêu chảy ở lợn nuôi trong hai kiểu chuồng……………………….81 Hình.4.7: So sánh số lượng vi khuẩn Salmonella trong phân lợn tiêu chảy và không tiêu chảy ở hai kiểu chuồng ………………………………..81 1. Mở đầu 1.1. Tính cấp thiết của đề tài Chăn nuôi ngày càng có vị trí hết sức quan trọng trong cơ cấu của ngành nông nghiệp. Sản phẩm của ngành chăn nuôi là nguồn thực phẩm không thể thiếu được đối với nhu cầu đời sống con người. Chủ trương hiện nay của nhà nước là phát triển ngành chăn nuôi thành ngành sản xuất hàng hóa thực sự nhằm tạo ra sản phẩm chăn nuôi có chất lượng cao phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ trong nước và một phần cho xuất khẩu. Nói đến ngành chăn nuôi phải kể đến chăn nuôi lợn bởi tầm quan trọng và ý nghĩa thiết thực của nó đối với đời sống kinh tế xã hội của nhân dân. Chăn nuôi lợn đã góp phần giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập và là cơ hội làm giàu cho nông dân. Theo thống kê của tổ chức nông lương thế giới (FAO), Việt Nam là nước nuôi nhiều lợn, đứng hàng thứ 7 thế giới, hàng thứ 2 châu á và ở vị trí hàng đầu khu vực đông nam châu á. Hiện nay nước ta đang có gần 23 triệu đầu lợn, bình quân tốc độ tăng hàng năm là 3,9%, đảm bảo cung cấp 80% sản phẩm thịt cho thị trường nội địa và một phần cho xuất khẩu. Kế hoạch đến năm 2010, Việt Nam sẽ có 25 triệu đầu lợn và sẽ đạt sản lượng 2 triệu tấn thịt, chiếm tỷ trọng trên 30% tổng thu nhập của ngành nông nghiệp (Trích theo Đoàn Thị Kim Dung (2004) [3]). Yên Định là huyện đồng bằng cuả tỉnh Thanh Hóa, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu. Trong những năm gần đây, thực hiện mục tiêu Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn theo chủ chương của Đảng và Nhà nước, Yên Định đã tập trung chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu trong nông nghiệp, ngành chăn nuôi từng bước đã có sự đầu tư về khoa học kỹ thuật, vốn, đưa giống mới có giá trị kinh tế cao vào sản xuất góp phần làm thay đổi bộ mặt kinh tế nông thôn. Trong những năm qua tốc độ phát triển chăn nuôi đạt khá cao 18,5%, tỷ trọng giá trị chăn nuôi trong ngành nông nghiệp đến năm 2007 của huyện là 39,5%, Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Yên Định (2006) [34] Với địa hình thuận lợi, chính sách phát triển chăn nuôi phù hợp, đặc biệt địa bàn huyện có Công ty sản xuất giống lợn của tỉnh, nên chăn nuôi lợn phát triển mạnh mẽ. Mấy năm gần đây Yên Định là huyện điển hình của tỉnh trong phong trào chăn nuôi lợn đặc biệt là chăn nuôi lợn ngoại theo mô hình trang trại. Năm 2007, tổng số đầu lợn của huyện là 71.000 con, kế hoạch đến năm 2010 sẽ là 120.000 con chiếm 6% tổng kế hoạch phát triển chăn nuôi đàn lợn của tỉnh. Mô hình chăn nuôi trang trại ngày càng được nhân rộng. Năm 2005, toàn huyện có 49 trang trại chăn nuôi lợn, đến năm 2007 là 95 trang trại và kế hoạch đến năm 2010 sẽ là 168 trang trại. Quy mô cũng ngày càng được mở rộng, đã có trang trại nuôi từ 80 – 100 nái ngoại. Chăn nuôi lợn là thế mạnh trong phát triển nông nghiệp của huyện. Theo kế hoạch đề ra đến, năm 2010 tổng đàn lợn sẽ tăng 49.000 con so với năm 2007 (chiếm 69%). Chăn nuôi lợn theo mô hình trang trại với quy mô lớn với những con giống cho năng xuất chất lượng sản phẩm cao là hướng đi chính trong sản xuất chăn nuôi của huyện thúc đẩy ngành chăn nuôi lợn thành ngành sản xuất hàng hóa thực sự trong những năm tiếp theo. Với sự đầu tư khá lớn về con giống, kỹ thuật, vốn, xây dựng chuồng trại nhưng hiện nay vẫn tồn tại hai kiểu chuồng nuôi là chuồng nền và chuồng sàn. Bên cạnh đó dịch bệnh ở đàn lợn vẫn xảy ra thường xuyên, trong đó hội chứng tiêu chảy với đặc điểm dịch tễ hết sức phức tạp, đã và đang gây nên những thiệt hại to lớn, làm giảm năng xuất và chất lượng sản phẩm vật nuôi. Bệnh thường xuất hiện khi gia súc chuyển vùng, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng không hợp lý, thức ăn kém phẩm chất, do bội nhiễm vi khuẩn E. Coli, Salmonella ...trong đó những bất lợi của điều kiện ngoại cảnh là yếu tố mở đường, đóng vai trò quan trọng trong quá trình bệnh Để đánh giá tình hình hội chứng tiêu chảy ở đàn lợn nuôi trong kiểu chuồng nền và chuồng sàn, giảm tỷ lệ bệnh, tỷ lệ chết, có biện pháp phòng bệnh thích hợp, nâng cao hiệu quả chăn nuôi, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tình hình hội chứng tiêu chảy ở đàn lợn nuôi trong chuồng nền và chuồng sàn tại huyện Yên Định – tinh Thanh Hóa” 1.2. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định tình hình hội chứng tiêu chảy ở lợn theo: lứa tuổi, mùa vụ ở lợn nuôi trong hai kiểu chuồng nuôi. - Đo độ ẩm ở hai kiểu chuồng nuôi. - Xác định sự biến động tổng số vi khuẩn hiếu khí, vi khuẩn E.coli và vi khuẩn Salmonella trong phân lợn tiêu chảy nuôi ở hai kiểu chuồng. - Xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh của E.coli và Salmonella phân lập. - ứng dụng một số phác đồ điều trị bằng kháng sinh. - ứng dụng điều trị bệnh tiêu chảy bằng kháng sinh mẫn cảm kết hợp chế phẩm sinh học. 1.3. ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1.4.1. ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở đánh giá tình hình hội chứng tiêu chảy ở đàn lợn nuôi trong hai kiểu chuồng trên địa bàn huyện Yên Định - Thanh Hoá, ảnh hưởng của mùa vụ, lứa tuổi đến tỷ lệ bị bệnh, tỷ lệ chết. - Đánh giá được tình trạng loạn khuẩn đường tiêu hoá, khả năng mẫn cảm kháng sinh của E.coli và Salmonella phân lập được từ lợn bị tiêu chảy nuôi trong hai kiểu chuồng. 1.4.2. ý nghĩa thực tiễn - Kết quả nghiên cứu về tình hình hội chứng tiêu chảy ở đàn lợn nuôi trong hai kiểu chuồng khác nhau là cơ sở khoa học để xác định các biện pháp phòng bệnh cho đàn lợn, hạn chế ảnh hưởng của các điều kiện ngoại cảnh, chuồng trại đối với từng lứa tuổi, phù hợp với điều kiện của các cơ sở chăn nuôi, nhằm làm giảm tỷ lệ bệnh. - Kết quả xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh của E.coli và Salmonella là cơ sở khoa học cho việc xây dựng các phác đồ điều trị phù hợp và có hiệu quả hội chứng tiêu chảy ở đàn lợn, làm giảm tỷ lệ chết, giảm tỷ lệ còi cọc, nâng cao hiệu quả chăn nuôi. 2. Tổng quan tài liệu 2.1. Những nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy Hội chứng tiêu chảy ở lợn là một bệnh phổ biến đã và đang gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi. Hội chứng tiêu chảy gây chết với tỷ lệ thấp, nhưng tác hại của nó là làm tổn thương hệ nhung mao ruột non, giảm hấp thu thức ăn, làm cho lợn con còi cọc, tăng chỉ số tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng. Nguy hiểm hơn nguyên nhân của hội chứng tiêu chảy rất phức tạp đã gây ra sự nhầm lẫn trong chẩn đoán và điều trị. Qua nhiều nghiên cứu cho thấy, tiêu chảy là một hiện tượng bệnh lý ở đường tiêu hóa, có liên quan đến rất nhiều các yếu tố, có yếu tố là nguyên nhân nguyên phát, có yếu tố là nguyên nhân thứ phát. Tuỳ theo đặc điểm, tính chất, diễn biến; tuỳ theo độ tuổi gia súc; tuỳ theo yếu tố được coi là nguyên nhân chính mà hội chứng ỉa chảy được gọi bằng các tên khác nhau như: Bệnh lợn con ỉa phân trắng, bệnh ỉa chảy ở gia súc sau cai sữa; chứng khó tiêu; chứng rối loạn tiêu hoá… Các nghiên cứu bệnh lý tiêu chảy ở gia súc cho thấy biểu hiện bệnh lý chủ yếu là tình trạng mất nước và chất điện giải và cuối cùng con vật trúng độc, kiệt sức và chết. Vì lẽ đó, trong điều trị tiêu chảy việc bổ sung nước và các chất điện giải là yếu tố cần thiết. Theo Nguyễn Lương (1963) [20], Trịnh Văn Thịnh (1985) [59], Lê Minh Chí (1995) [1], lợn bị tiêu chảy thường mất nước, mất chất điện giải và kiệt sức. Những lợn khỏi bệnh thường chịu hậu quả còi cọc, thiếu máu, chậm lớn dẫn đến tỷ lệ nuôi sống thấp và tỷ lệ chết cao. Đó cũng là nguyên nhân làm cho hiệu quả chăn nuôi không cao. Do điều kiện khí hậu thời tiết thay đổi phức tạp, bệnh tiêu chảy xảy ra quanh năm ở nước ta, đặc biệt khi thời tiết thay đổi đột ngột, lạnh, độ ẩm không khí cao. Theo Đoàn Thị Băng Tâm (1987) [51], Sử An Ninh (1993) [26], Lê Văn Tạo và cộng sự (cs) (1993) [48], Phan Thanh Phượng và cs (1995) [40], ở nước ta bệnh tiêu chảy xảy ra quanh năm, đặc biệt là vào vụ đông xuân, khi thời tiết thay đổi đột ngột và vào những giai đoạn chuyển mùa trong năm. Kết quả nghiên cứu của Hoàng Văn Tuấn, Lê văn Tạo, Trần Thị Hạnh (1998) [62] cho thấy bệnh tiêu chảy xảy ra ở mọi lứa tuổi, sơ sinh, cai sữa và cả lợn sinh sản, nhưng trầm trọng nhất là ở lợn sơ sinh đến cai sữa. 2.1.1. Nguyên nhân gây ra hội chứng tiêu chảy Trong lịch sử nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy, nhiều tác giả đã dày công nghiên cứu, tìm hiểu nguyên nhân gây ra hội chứng tiêu chảy kết quả cho thấy nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy rất phức tạp. Tuy nhiên tiêu chảy là một hiện tượng bệnh lý ở đường tiêu hóa, có liên quan đến rất nhiều các yếu tố, có yếu tố là nguyên nhân nguyên phát, có yếu tố là nguyên nhân thứ phát. Song cho dù bất cứ nguyên nhân nào dẫn đến tiêu chảy thì hậu quả của nó cũng gây ra viêm nhiễm, tổn thương thực thể đường tiêu hoá và cuối cùng là nhiễm trùng. Qua nhiều nghiên cứu cho thấy, hội chứng tiêu chảy ở gia súc xảy ra do các nguyên nhân sau đây: 2.1.1.1. Do vi sinh vật - Do vi khuẩn Khi nghiên cứu về nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy nhiều tác giả đã kết luận rằng trong bất cứ trường hợp nào của bệnh cũng có vai trò tác động của vi khuẩn. Trong đường ruột của gia súc nói chung và của lợn nói riêng, có rất nhiều loài vi sinh vật sinh sống. Vi sinh vật trong đường ruột tồn tại dưới dạng một hệ sinh thái. Hệ sinh thái vi sinh vật đường ruột ở trạng thái cân bằng động theo hướng có lợi cho cơ thể vật chủ. Hoạt động sinh lý của gia súc chỉ diễn ra bình thường khi mà hệ sinh thái đường ruột luôn ở trạng thái cân bằng. Sự cân bằng này biểu hiện ở sự ổn định của môi trường đường tiêu hóa của con vật và quan hệ cân bằng giữa các nhóm vi sinh vật với nhau trong hệ vi sinh vật đường ruột. Dưới tác động của các yếu tố gây bệnh, trạng thái cân bằng này bị phá vỡ dẫn đến loạn khuẩn và hậu quả là lợn bị tiêu chảy. Nhiều tác giả nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy đã chứng minh rằng khi gặp những điều kiện thuận lợi, những vi khuẩn thường gặp ở đường tiêu hóa sẽ tăng độc tính, phát triển với số lượng lớn trở thành có hại và gây bệnh. Trịnh Văn Thịnh (1964) [58], Vũ Văn Ngũ (1979) [29],Trương Quang (2005) [45] cho rằng do một tác nhân nào đó, trạng thái cần bằng của khu hệ vi sinh vật đường ruột bị phá vỡ, tất cả hoặc chỉ một loại nào đó sinh sản lên quá nhiều sẽ gây ra hiện tượng loạn khuẩn. Loạn khuẩn đường ruột là nguyên nhân chủ yếu gây bệnh ở đường tiêu hoá, đặc biệt là gây ỉa chảy. Bình thường vi khuẩn E.coli cư trú ở ruột già và phần cuối ruột non, nhưng khi gặp điều kiện thận lợi sẽ nhân lên với số lượng lớn ở lớp sâu tế bào thành ruột, đi vào máu đến các nội tạng.Trong máu, nhờ cấu trúc kháng nguyên O và khả năng dung huyết, vi khuẩn chống lại các yếu tố phòng vệ không đặc hiệu, khả năng thực bào. ở các cơ quan nội tạng, vi khuẩn này tiếp tục phát triển và sự cư trú của chúng làm cho con vật rơi vào trạng thái bệnh lý. Đào Trọng Đạt và cs (1996) [6] cho biết, khi sức đề kháng của cơ thể giảm sút. E.coli thường xuyên cư trú trong đường ruột của lợn thừa cơ sinh sản rất nhanh và gây nên sự mất cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột, gây tiêu chảy. Khi tiến hành xét nghiệm 140 mẫu phân lợn khoẻ ở các lứa tuổi khác nhau (từ sơ sinh đến lợn nái) Hồ Văn Nam và cs (1997) [24] đã cho biết 100% các mẫu phân lợn ở các lứa tuổi có E.coli, xét nghiệm 170 mẫu phân lợn bị tiêu chảy ở các lứa tuổi tương tự, tỷ lệ này cũng là 100%, nhưng có sự bội nhiễm vi khuẩn đường ruột một cách rõ rệt. Trong phân lợn không tiêu chảy số lượng vi khuẩn 150,70 triệu/1 gram phân, nhưng khi bị tiêu chảy số lượng này đã là 196,35 triệu, tăng hơn 45, 65 triệu. Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2001) [54] ở bệnh phân trắng lợn con, tác nhân gây bệnh chủ yếu là E.coli, ngoài ra có sự tham gia của Salmonella và vai trò thứ yếu là Proteus, Streptococcus. Theo Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (1997) [17] tác nhân gây bệnh lợn con phân trắng chủ yếu là E.coli và nhiều loại Salmonella Radostits O.M. và cs (1994) [82] cho rằng E.coli gây bệnh cho lợn là các chủng có kháng nguyên pili và sản sinh độc tố đường ruột đóng vai trò quan trọng và phổ biến trong quá trình tiêu chảy ở lợn. Hồ Văn Nam, Trương Quang và cs (1997)[23] khi xét nghiệm phân lợn khoẻ và lợn bị tiêu chảy đã nhận thấy trong phân lợn thường xuyên có các loại vi khuẩn hiếu khí: E.coli, Salmonella Streptococcus, Klebsiella, Bacilus subtilis. Khi lợn bị tiêu chảy E.coli, Salmonella tăng lên một cách bội nhiễm. Theo Nguyễn Thị Nội (1985) [33], các tác nhân gây bệnh tiêu chảy cho lợn ngoài Salmonella còn có nhiều loại vi khuẩn khác tham gia như E.coli, Streptococcus, Klebsiella, Proteus, Pseudomonas, trong đó chủ yếu là do E.coli độc, Salmonella và Streptococcus. Trịnh Văn Thịnh (1985) [59] cho rằng tác nhân gây tiêu chảy ở lợn con là E.coli, nhiều loại Salmonella, đóng vai trò phụ là Proteus, trực trùng sinh mủ, Streptococcus. Đoàn Thị Kim Dung (2004) [3] cho biết khi lợn bị tiêu chảy số loại vi khuẩn và tổng số vi khuẩn hiếu khí trong một gram phân tăng lên so với ở lợn không bị tiêu chảy. Khi phân lập tác giả thấy rằng các vi khuẩn đóng vai trò quan trọng trong hội chứng tiêu chảy như E.coli, Salmonella và Streptococcus tăng lên, trong khi Staphylococcus và Bacillus subtilis giảm đi. Theo Nguyễn Thị Oanh (2003) [35] lợn nuôi ở Đắc Lắc nhiễm Salmonella với tỷ lệ 17,2%; trong đó lợn ở lứa tuổi 2- 4 tháng nhiễm Salmonella cao nhất (24,78%). Lợn khoẻ, tỷ lệ nhiễm Salmonella là 11,2%; trong khi đó ở lợn tiêu chảy nhiễm 23,68%. Tạ Thị Vịnh, Đặng Khánh Vân (1996) [65] khi nghiên cứu E.coli và Salmonella cho biết tỷ lệ nhiễm E.coli độc ở lợn bình thường là 14,66%, ở lợn tiêu chảy tỷ lệ này là 33,84%. Vũ Bình Minh, Cù Hữu Phú (1999) [21] khi nghiên cứu về E.coli ở phân lợn tiêu chảy, tỷ lệ phát hiện E.coli độc trong phân là 80- 90% số mẫu xét nghiệm. Nguyễn Thị Nội (1985) [33] nghiên cứu định type kháng nguyên O của 5430 chủng E.coli phân lập ở lợn nuôI tại 8 tỉnh, thành phố trong cả nước cho biết các serotype gây bệnh phổ biến ở lợn là O141, O149, O117, O147, O138, và O139. Ngoài những chủng phổ biến trên, mỗi địa phương còn có những serotype riêng biệt. Lê Văn Tạo (1996) [50] qua phân lập từ bệnh phẩm của lợn dưới 30 ngày tuổi, đã kết luận các chủng E.coli thuộc serotype kháng nguyên O thường gây bệnh phân trắng lợn con ở các cơ sở chăn nuôi phía Bắc là O111, O86, O26 tiếp đó là O141, và O1. Theo Nagy B và cs (1991) [79] tiêu chảy ở lợn con trong thời kỳ bú mẹ phần lớn gây ra do các chủng O8, O129 ,O138 ,O141, O147 ,O149 và O157. Do vậy những nhóm này thường được phân lập từ phân của lợn tiêu chảy. E.coli có sẵn trong đường ruột của động vật, nhưng không phải lúc nào cũng gây bệnh mà chỉ gây bệnh khi sức đề kháng của con vật giảm sút do chăm sóc nuôi dưỡng kém, điều kiện thời tiết thay đổi đột ngột, các bệnh kế phát. Radostits O.M. (1994) [82] cho biết Salmonella là vi khuẩn có vai trò quan trọng trong quá trình gây ra hội chứng tiêu chảy. Hiện nay các nhà khoa học đã ghi nhận có khoảng 2.200 serotype Salmonella và được chia ra 67 nhóm huyết thanh dựa vào cấu trúc kháng nguyên O. Theo Niconxki V.V. (1986) [27], Đoàn Thị Băng Tâm (1987) [51] thì sự xuất hiện bệnh do Salmonella phụ thuộc vào các điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng. Mỗi yếu tố bất lợi làm giảm sức đề kháng của vật nuôi đều phải coi là nguyên nhân tiên phát của sự xuất hiện bệnh. Phùng Quốc Chướng (1995) [2] kết luận Salmonella có vai trò quan trọng gây nên hội chứng tiêu chảy ở lợn, đặc biệt là lợn sau cai sữa tại các tỉnh Tây Nguyên. Tô Thị Phượng (2006) [43] khi nghiên cứu biến động của Salmonella và Ecoli ở lợn qua các lứa tuổi cho thấy, có 100 % các mẫu phân có vi khuẩn E.coli dù lợn bị tiêu chảy hay không tiêu chảy. Lợn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tỷ lệ nhiễm Salmonella là 41,165%, sau đó theo độ tuổi tỷ lệ nhiễm tăng dần từ 58,33% đến 60%. Khi lợn bị tiêu chảy, tỷ lệ Salmonella cũng tăng lên đáng kể, tỷ lệ nhiễm là 81,25% ở lợn 1 – 21 ngày tuổi , 85,71% ở lợn 22 - 60 ngày tuổi và 75% ở lợn > 60 ngày tuổi. Số lượng vi khuẩn Salmonella cũng tăng lên từ 13,91 triệu đến 41,48 triệu vi khuẩn/1gram phân ở lợn từ 1 đến >60 ngày tuổi. Nguyễn Thị Ngữ (2005) [32] khi nghiên cứu về E.coli và Salmonella trong phân lợn tiêu chảy và lợn không tiêu chảy cho biết: ở lợn không tiêu chảy có 83,30% - 88,29% số mẫu có E.coli, 61,00% - 70,50% số mẫu có mặt Salmonella. Trong khi đó ở mẫu phân của lợn bị tiêu chảy thì có tới 93,7% - 96,4% số mẫu phân lập có E.coli, và 75,0%-78,6% số mẫu phân lập có Salmonella. Phan Thanh Phượng và cs (1996) [41] đã xác định vi khuẩn yếm khí Clostridium perfringens là một trong những tác nhân quan trọng gây ra hội chứng tiêu chảy ở lợn lứa tuổi 1 đến 120 ngày. ở lợn con theo mẹ, tỷ lệ mắc bệnh có thể đến 100% và tỷ lệ chết là 60%. Số lượng vi khuẩn Clostridium perfringens trong 1 gam phân lợn tiêu chảy ở lứa tuổi 1 đến 60 ngày dao động từ 106 đến 1010 CFU, số mẫu có lượng vi khuẩn cao (108, 109, 1010) chiếm tỷ lệ 37% đến 45%. ở lợn từ 60 đến 120 ngày tuổi bị tiêu chảy, những mẫu phân có số lượng vi khuẩn /1gram phân ở mức 108; 109 chiếm tỷ lệ 27,14% đến 35,71%. Do virus Đã có nhiều nghiên cứu chứng tỏ rằng vius cũng là nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn. Nhiều tác giả đã nghiên cứu và kết luận một số virus như Rota- virus, TGE, Enterovirus, Parvovirus, Adenovirus có vai trò nhất định gây hội chứng tiêu chảy ở lợn. Sự xuất hiện của vius đã làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa, suy giảm sức đề kháng của cơ thể và gây ỉa chảy ở thể cấp tính. Trước tiên là vius TGE (Transmissible gastro enteritis) được chú ý nhiều trong hội chứng tiêu chảy ở lợn. TGE gây bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm ở lợn, là một bệnh có tính chất truyền nhiễm cao, biểu hiện đặc trưng là nôn mửa và tiêu chảy nghiêm trọng. Bệnh thường xảy ra ở các cơ sở chăn nuôi tập trung khi thời tiết rét, lạnh. Virus chỉ gây bệnh cho lợn, lợn con 2 đến 3 ngày tuổi hay mắc nhất và thường có tỷ lệ chết cao. ở lợn, virus nhân lên mạnh nhất trong niêm mạc của không tràng và tá tràng rồi đến hồi tràng, chúng không sinh sản trong dạ dày và kết tràng. Theo Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung (1997) [18] vius TGE có sự liên hệ đặc biệt với các tế bào màng ruột non. Khi vius xâm nhập vào tế bào nó nhân lên và phá hủy tế bào trong vòng 4 đến 5 tiếng. Sữa và các thức ăn khác ăn vào không tiêu hóa được ở lợn nhiễm vius TGE. Các chất dinh dưỡng không được tiêu hóa, nước không được hấp thu, con vật tiêu chảy, mất dịch, mất chất điện giải và chết. Rotavirus thường gây tiêu chảy cho lợn, bò và người. Lợn con từ 1 đến 6 tuần tuổi hay mắc với các biểu hiện lâm sàng như kém ăn hay bỏ ăn, tiêu chảy nhiều lần trong ngày, gầy sút nhanh chóng do mất nước, nằm bẹp một chỗ. Giai đoạn cuối, con bệnh biểu hiện thiếu máu, truỵ tim mạch và chết trong vòng 2 đến 3 ngày. Lợn hậu bị thường mắc bệnh ở thể nhẹ, tỷ lệ chết ít hơn nhưng để lại những biến chứng. Lecce J.G. (1976) [78], Nilson O. (1984) [80] nghiên cứu về virus gây bệnh đường tiêu hoá đã xác định được vai trò của Rotavirus trong hội chứng tiêu chảy ở lợn. Khoon Teng Hout (1995) [14] đã thống kê được 11 loại virus có tác động làm tổn thương đường tiêu hoá gây viêm ruột ỉa chảy như Adenovirus type IV, Enterovirus, Rotavirus. Theo Bergenland H.U. (1992) [67] trong số những mầm bệnh thường gặp ở lợn trước và sau cai sữa bị bệnh tiêu chảy có rất nhiều loại virus, 29% phân lợn bệnh tiêu chảy phân lập được Rotavirus, 11,2% có virus TGE, 2% có Enterovirus, 0,7% có Parvovirus. 2.1.1.2. Do ký sinh trùng Ký sinh trùng ký sinh trong đường tiêu hóa là một trong những nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy. Khi ký sinh trong đường tiêu hóa ngoài việc chúng cướp đoạt chất dinh dưỡng của vật chủ, tiết độc tố đầu độc cơ thể vật chủ, chúng còn gây tác động cơ giới làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa và là cơ hội khởi đầu cho một quá trình nhiễm trùng. Có rất nhiều loại ký sinh trùng đường ruột tác động gây ra hội chứng tiêu chảy như sán lá ruột lợn (Fasciolopsis busky), giun đũa lợn (Ascaris suum)… Theo Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996) [15] sán lá ruột lợn và giun đũa lợn ký sinh trong đường tiêu hoá, chúng làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hoá gây viêm ruột ỉa chảy. Theo Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung (1997) [18] giun đũa ký sinh trong ruột non của lợn là loài Ascaris suum. Vòng đời giun đũa lợn phát triển và gây bệnh không cần vật chủ trung gian, lợn trực tiếp nuốt phải trứng gây nhiễm và phát triển thành giun trưởng thành ký sinh ở đường tiêu hóa. Số lượng giun có thể từ vài con tới hàng nghìn con trong một cơ thể lợn. Tác giả Nguyễn Kim Thành (1999) [55] cho biết trong đường ruột của lợn tiêu chảy đã tìm thấy giun đũa ký sinh với lượng không nhỏ.Trong quá trình ký sinh, trao đổi chất của giun sán còn thải ra các chất cặn bã gây hại cho cơ thể lợn, làm lợn gày còm, chậm lớn, ảnh hưởng đến năng xuất chăn nuôi. Theo Phan Địch Lân (1995) [16], lợn nhiễm giun đũa với b._.iểu hiện lâm sàng là tiêu chảy vì giun đũa tác động bằng cơ giới gây viêm ruột, tiết độc tố để đầu độc và chiếm đoạt thức ăn của cơ thể lợn, làm cho lợn con gầy yếu, chậm lớn, suy dinh dưỡng, sinh trưởng phát dục chậm và không đầy đủ, sản phẩm thịt giảm đến 30%. 2.1.1.3. Nguyên nhân khác - Do thời tiết khí hậu Ngoại cảnh là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức đề kháng của cơ thể gia súc. Khi điều kiện thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột, quá nóng, quá lạnh, mưa gió, ẩm độ, vệ sinh chuồng trại, đều là các yếu tố stress có hại tác động đến tình trạng sức khỏe của lợn, đặc biệt là lợn con theo mẹ. ở lợn con theo mẹ, do cấu tạo và chức năng sinh lý của các hệ cơ quan chưa ổn định , hệ thống tiêu hoá, miễn dịch, khả năng phòng vệ và hệ thống thần kinh đều chưa hoàn thiện. Vì vậy lợn con là đối tượng chịu tác động của điều kiện ngoại cảnh mạnh nhất, bởi các phản ứng thích nghi và bảo vệ của cơ thể còn rất yếu. Theo Đoàn Thị Kim Dung (2004) [3], các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng, hanh, ẩm thay đổi bất thường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể lợn, nhất là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, các phản ứng thích nghi của cơ thể còn yếu. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy điều kiện môi trường sống lạnh, ẩm đã làm thay đổi các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu của lợn, biến đổi về chức năng và hình thái của hệ tuần hoàn, hệ nội tiết, liên quan đến phản ứng điều hòa nội mô. Trong những trường hợp như thế sức đề kháng của cơ thể giảm đi là điều kiện để cho các vi khuẩn đường ruột tăng số lượng độc tính và gây bệnh. Theo Nguyễn Vĩnh Phước và cs (1978)[37], Đào Trọng Đạt và cs (1996)[6] thì trong những tháng mưa nhiều, độ ẩm cao lợn con bị bệnh phân trắng tăng lên rõ rệt, có khi lên đến 90 – 100% Theo các tác giả Niconxki V.V. (1986) [27], Sử An Ninh (1993) [26], Hồ Văn Nam và cs (1997) [22] khi gia súc bị lạnh, ẩm kéo dài sẽ làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm tác động thực bào, do đó gia súc dễ bị vi khuẩn cường độc gây bệnh. Do kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng Vấn đề chăm sóc nuôi dưỡng có vai trò hết sức quan trọng trong chăn nuôi. Việc thực hiện đúng quy trình kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng trong chăn nuôi sẽ đem lại sức khỏe và tăng trưởng cho lợn. Khi thức ăn chăn nuôi không đảm bảo, chuồng trại không hợp lý, kỹ thuật chăm sóc không phù hợp, là nguyên nhân làm cho sức đề kháng của lợn giảm, tăng nguy cơ mắc bệnh. Thức ăn bị nhiễm độc tố nấm mốc cũng là nguyên nhân gây ra tiêu chảy. Trong các loại độc tố nấm mốc thì Aflatoxin là loại độc tố được quan tâm nhất hiện nay. Hàm lượng Aflatoxin trong các mẫu thức ăn chăn nuôi ở các tỉnh phía bắc biến động từ 10 đến 2800 mg/1kg thức ăn. Có đến 10% các loại thức ăn hiện dùng là không an toàn cho gia súc, gia cầm (Trần Thế Thông, Lã Văn Kính(1996)). Độc tố nấm mốc với hàm lượng cao có thể gây chết hàng loạt gia súc với biểu hiện nhiễm độc đường tiêu hóa và gây tiêu chảy dữ dội. Thức ăn thiếu đạm, tỷ lệ protit và axitamin không cân đối dẫn đến quá trình hấp thu chất dinh dưỡng không tốt. Cơ thể lợn thiếu dinh dưỡng, hàm lượng albumin huyết thanh giảm và kéo theo hàm lương γglobulin huyết thanh cũng giảm. Hệ quả là khả năng miễn dịch của cơ thể giảm đi rõ rệt, tạo điều kiện cho các vi khuẩn phát triển và gây bệnh Nếu khẩu phần thức ăn của lợn thiếu khoáng và vitamin cũng là nguyên nhân làm lợn con dễ mắc bệnh. Chất khoáng góp phần tạo tế bào, điều hoà thức ăn đạm và chất béo. Lợn con thiếu khoáng dễ dẫn đến bị còi xương, cơ thể suy nhược, sức đề kháng giảm tạo điều kiện cho vi khuẩn đường ruột tăng độc lực và gây bệnh. Vitamin là yếu tố không thể thiếu được với mọi cơ thể động vật, nó đảm bảo cho quá trình chuyển hoá trong cơ thể diễn ra bình thường. Thiếu một vitamin sẽ làm cho lợn còi cọc, sinh trưởng kém, dễ mắc bệnh đường tiêu hoá. Laval A. (1997) [77] cho biết, thức ăn thiếu các chất khoáng, vitamin cần thiết cho cơ thể gia súc, đồng thời phương thức cho ăn không phù hợp sẽ làm giảm sức đề kháng của gia súc và tạo cơ hội cho các vi khuẩn gây hội chứng tiêu chảy. Thức ăn kém chất lượng, ôi thiu, khó tiêu, cho lợn ăn quá nhiều đều là nguyên nhân gây ra tiêu chảy ở lợn. Do stress Sự thay đổi các yếu tố khí hậu thời tiết, mật độ chuồng nuôi, vận chuyển đi xa đều là các tác nhân stress quan trọng trong chăn nuôi dẫn đến hậu quả giảm sút sức khỏe vật nuôi và bệnh tật trong đó có tiêu chảy.(Trích theo Đoàn Thị Kim Dung, 2005 [3] ). Theo Phạm Khắc Hiếu và cs (1998) [12] hệ thống tiêu hoá (dạ dày, ruột) của lợn mẫn cảm đặc biệt với stress. Hiện tượng stress thường gây nên biểu hiện chán ăn, nôn mửa, tăng nhu động ruột, có khi tiêu chảy, đau bụng. Theo Sử An Ninh và cs (1981) [25] bệnh phân trắng lợn con có liên quan đến trạng thái stress. Hầu hết lợn con bị bệnh phân trắng có hàm lượng Cholesterol trong huyết thanh giảm thấp. 2.1.2. ảnh hưởng của điều kiện chuồng trại và độ ẩm chuồng nuôi đến hội chứng tiêu chảy ở lợn. 2.1.2.1. ảnh hưởng của điều kiện chuồng trại. Phần lớn thời gian sống cuả lợn là ở trong chuồng do vậy chuồng trại có ảnh hưởng rât lớn đến sức khoẻ của chúng. Chuồng trại xây dựng đúng kiểu, đảm bảo các chỉ tiêu kỹ thuật, cao ráo, thoáng, độ thông khí tốt, kết hợp với chăm sóc quản lý và vệ sinh chuồng trại tốt sẽ ảnh hưởng rất tốt đến khả năng sinh trưởng và sức kháng bệnh tật của gia súc và ngược lại. Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới của nước ta, về mùa hè khí hậu nóng, ẩm, về mùa đông khí hậu lạnh, khô nên yêu cầu chuồng nuôi gia súc luôn phải khô ráo, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông. Do vậy trong xây dựng chuồng trại ngoài việc đảm bảo các yếu tố kỹ thuật cần chú ý đến địa điểm xây dựng chuồng, hướng chuồng, vật liệu xây dựng để dễ dàng khống chế các chỉ tiêu tiểu khí hậu chuồng nuôi phù hợp với từng giai đọan phát triển của lợn. Theo Chu Thị Thơm, Phan Thị Lài, Nguyễn Văn Tó (2006)[61] nếu chuồng nuôi kém thoáng khí, ẩm, tồn đọng nhiều phân, rác, nước tiểu khi nhiệt độ trong chuồng nuôi lên cao sẽ sản sinh nhiều khí có hại NH3, H2S làm con vật bị trúng độc thần kinh nặng, con vật bị stress - một nguyên nhân dẫn đến tiêu chảy. Nếu chuồng nuôi khô ráo thoáng khí, sạch sẽ sẽ làm giảm lượng khí độc trong chuồng nuôi đồng thời hơi nước thừa được thoát ra ngoài làm cho độ ẩm trong chuông nuôi vừa phải. Cũng theo các tác giả trên, trong cùng điều kiện chăn nuôi, thời gian nào độ ẩm cao ở chuồng mà nền không thoát nước, xây dựng ở chỗ đất trũng thì bệnh lợn con phân trắng phát triển mạnh. Theo nghiên cứu Phạm Sỹ Tiệp, Nguyễn Đăng Vang (2006)[64], chuồng công nghiệp (có sàn cao hơn mặt đất 40-70 cm) đã góp phần cải thiện đáng kể tiểu khí hậu chuồng nuôi, hàm lượng các khí độc giảm 14,5-16,0%, ẩm độ giảm 2,5%, nhiệt độ mùa nóng giảm 1,80C; tốc độ gió tăng 62,22%, tổng số vi khuẩn/m3 không khí giảm 1,8 triệu so với ở kiểu chuồng K 64, là các yếu tố làm giảm tỷ lệ tiêu chảy ở lợn. Theo Đào Trọng Đạt và cs (1986) [4] chuồng khô, thoáng, đủ ánh sáng thì tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng thấp hơn so với chuồng ẩm, tối. 2.1.2.2. ảnh hưởng của độ ẩm chuồng nuôi đến hội chứng tiêu chảy ở lợn. Độ ẩm trong chuồng nuôi75% là do sản sinh ra từ cơ thể động vật, 20 – 25% từ mặt đất (ổ lót, tường ẩm) bốc ra và 10 – 15% từ không khí bên ngoài chuồng đưa vào. Trong chuồng nuôi nếu độ ẩm quá cao ảnh hưởng rất xấu đến cơ thể gia súc cho dù nhiệt độ không khí cao hay thấp. Độ ẩm trong chuồng nuôi từ 55 – 85% ảnh hưởng đến cơ thể gia súc chưa rõ rệt nhưng nếu độ ẩm chuồng nuôi > 90% sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến cơ thể gia súc. Nhiều thí nghiệm cho thấy lợn nuôi trong chuồng có độ ẩm cao trong thời gian dài không muốn ăn, giảm sức tiêu hoá thức ăn, giảm sức đề kháng với bệnh tật trong đó có hội chứng tiêu chảy. Bất kỳ mùa nào độ ẩm chuồng nuôi cao cũng có hại. Về mùa nóng, nếu độ ẩm chuồng nuôi cao thì hơi nước trong cơ thể khó thoát ra ngoài làm con vật nóng thêm. Về mùa lạnh, nếu độ ẩm chuồng nuôi cao thì nhiệt độ cơ thể lợn lạnh thêm do không khí ẩm dẫn nhiệt nhanh hơn không khí khô, cơ thể lợn sẽ mất nhiệt nhiều hơn. Đặc biệt, với lợn sơ sinh khi chức năng điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh, lợn con sống trong chuồng có nhiệt độ thấp, ẩm độ cao sẽ làm cho thân nhiệt lợn con hạ xuống nhanh, sau khi đẻ 30 phút thân nhiệt lợn con có thể giảm thấp đến 5 – 6 0 C sau đó mới dần ổn định. Nếu nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp thì thân nhiệt lợn con phục hồi nhanh và ngược lại, nếu nhiệt độ chuồng nuôi quá lạnh hoặc quá nóng sẽ kéo dài thời gian phục hồi thân nhiệt sẽ làm cho con vật suy yếu rõ rệt. Con vật bị stress nhiệt - nguyên nhân gây ỉa chảy. Độ ẩm thích hợp trong chuồng nuôi là từ 80 – 85%. Đào Trọng Đạt và cs (1996) [6], Phạm Khắc Hiếu và cs (1998) [12] cũng cho rằng các yếu tố lạnh, ẩm ảnh hưởng rất lớn đến lợn sơ sinh, lợn con vài ngày tuổi. Trong các yếu tố về tiểu khí hậu thì quan trọng nhất là nhiệt độ và độ ẩm. Độ ẩm thích hợp cho lợn từ 75 đến 85%.Vì thế việc làm khô và giữ ấm chuồng nuôi là vô cùng quan trọng. Theo Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (1997) [17] chuồng trại ẩm, lạnh tác động vào cơ thể lợn gây rối loạn thần kinh từ đó gây rối loạn tiêu hoá. Theo dõi tiểu khí hậu trong các kiểu chuồng khác nhau cho thấy sau những trận mưa hay khi có gió mùa đông bắc thì tỷ lệ lợn con mắc phân trắng tăng lên (trích theo Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung (1997) [18]). Cũng theo các tác giả trên, chuồng trại sạch sẽ, kín, ấm vào mùa đông và vào mùa xuân giữ cho chuồng khô ráo, chống ẩm ướt sẽ giúp lợn con phòng được bệnh lợn con phân trắng. 2.2. Những nghiên cứu về hệ vi khuẩn đường ruột Năm 1966 Dubos và Schacdler đã đưa ra khái niệm về hệ sinh thái đường ruột. Đó là một chỉnh thể hữu cơ cơ có sự tồn tại của các yếu tố: môi trường, hệ vi sinh vật và mối quan hệ giữa chúng. Dr. W. EFC Moore đã ước tính số lượng các loại vi khuẩn trong đường tiêu hóa thay đổi từ vài triệu vi khuẩn / 1gram chất chứa trong dạ dày tới một lượng tập trung rất cao khoảng 200 tỷ vi khuẩn / 1gram chất chứa tại manh tràng. Nguyễn Như Thanh và cs (2001) [54] cho biết bình thường trong ruột của động vật trưởng thành trong chất chứa ở tá tràng có từ 103 đến 106 vi khuẩn /1gram, ở hồi tràng là 108 đến 1010 vi khuẩn/1gram, ở ruột già khoảng 1011 vi khuẩn /1gram. Con vật ở trạng thái sinh lý bình thường khi mà hệ vi sinh vật đường ruột có sự cân bằng. Điều này có được do sự tương tác giữu vi sinh vật, môi trường đường tiêu hóa và giữa các vi sinh vật trong khu hệ vi sinh vật đường ruột với nhau. Theo Lê Khắc Thận và cs (1974) [56], Nguyễn Tài Lương (1982) [19] những vi khuẩn đường ruột giữ chức năng nhất định trong quá trình tiêu hóa và có vai trò sinh lý quan trọng đối với cơ thể. ở trạng thái sinh lý bình thường giữa cơ thể và hệ vi sinh vật đường tiêu hoá luôn ở trạng thái cân bằng và sự cân bằng này là cần thiết cho cơ thể vật chủ. Theo Vũ Văn Ngũ (1979) [29], vi khuẩn trong đường ruột giữ vai trò là một “hàng rào vi khuẩn”, ngăn chặn các vi khuẩn gây bệnh đường ruột xâm nhập và cư trú ở ống tiêu hoá bằng tác động đối kháng giữa các vi khuẩn. Những biến đổi về thức ăn, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, thời tiết khí hậu hay trạng thái cơ thể tác động làm cho trạng thái cân bằng hệ vi sinh vật trong đường ruột bị phá vỡ, vi sinh vật có hại hoặc gây bệnh sẽ tăng cường độc lực sinh ra tiêu chảy. Theo Nguyễn Thị Khanh (1994) [13], loạn khuẩn thể hiện sự biến động về số lượng và chất lượng của các nhóm vi khuẩn. Có thể một loài nào đó tăng về số lượng hoặc tăng về độc lực, cũng có thể có sự đột biến hay sự bội nhiễm. 2.2.1. Họ vi khuẩn đường ruột Họ vi khuẩn đường ruột là một họ lớn , bao gồm các trực khuẩn gram âm, sống ở ống tiêu hoá của người và động vật. Chúng có thể gây bệnh hoặc không gây bệnh. Chúng có chung các đặc tính: Không có oxydaza, hiếu khí hoặc kỵ khí tuỳ tiện, có thể mọc ở các môi trường dinh dưỡng thông thường, có khả năng khử Nitrat thành Nitrit, lên men sinh axit, có hoặc không sinh hơi một số loại đường. Hệ vi khuẩn đường ruột bao gồm hai nhóm vi khuẩn lớn. - Nhóm vi khuẩn vãng lai: chúng xâm nhập vào cơ thể qua thức ăn, nước uống, bao gồm: Staphylococcus, Streptococcus, Bacillus subtilis... Trong đường tiêu hoá của lợn còn có thêm cả trực khuẩn yếm khí gây thối rữa: Chlostridium perfringens, Bacillus faso bacterium, Plantvincentii, B.fuso bacterium pubatun... - Nhóm vi khuẩn định cư vĩnh viễn: nhóm vi khuẩn này thích ứng với môi trường của đường tiêu hoá trở thành vi khuẩn bắt buộc gồm: Escherichia coli, Salmonella, Shigella, Klebsiella, Proteus... Nhóm vi khuẩn định cư vĩnh viễn: chủ yếu thuộc nhóm vi khuẩn đường ruột “Enterobacteriaceae”. Đoàn Thị Kim Dung (2004) [3] khi nghiên cứu biến động về số loại và số lượng vi khuẩn hiếu khí ở phân lợn tiêu chảy đã kết luận: bình thường ở lợn giai đoạn 1 đến 21 ngày tuổi trong phân có 5 loại vi khuẩn và ở lợn 22 đến 60 ngày tuổi là 6 loại. Khi bị tiêu chảy, lợn 1 đến 21 ngày tuổi số lượng vi khuẩn là 261,25x106 vi khuẩn/1gram phân, ở lợn 22 đến 60 ngày tuổi là 237,99 x106 vi khuẩn /1gram phân. Nguyễn Bá Hiên (2001) [9] cho biết trong đường tiêu hoá của gia súc khoẻ mạnh và gia súc tiêu chảy thường xuyên có mặt 6 loại vi khuẩn hiếu khí là Salmonella, E.coli, Klebsiella, Staphylococcus sp, Streptococcus sp, Bacillus subtilis và các loài vi khuẩn yếm khí Clostridium perfringens, Peptococcus sp và Bacteroides fragilis. Họ vi khuẩn đường ruột có vai trò nhất định trong quá trình gây ra hội chứng tiêu chảy ở gia súc nói chung và ở lợn nói riêng. Nhiều tác giả, nhiều công trình nghiên cứu khoa học đưa ra kết luận nguyên nhân gây ra tiêu chảy có vai trò quan trọng của vi khuẩn E.coli và Salmonella.. 2.2.2. Một số giống vi khuẩn đường ruột quan trọng 2.2.2.1. Vi khuẩn E.coli Vi khuẩn E.coli được Escherich phân lập năm 1885 từ phân trẻ em. E.coli thường xuất hiện rất sớm ở đường ruột của người và động vật sau khi đẻ vài giờ và tồn tại đến khi con vật chết. Nguyễn Vĩnh Phước (1976) [36], Nguyễn Như Thanh và cs (1997)[53] (2001) [54] cho biết E.coli thường có ở phần sau của ruột, ít khi ở dạ dày hay ruột non, đôi khi còn thấy ở niêm mạc của nhiều bộ phận trong cơ thể. Trong đường ruột của động vật, E.coli chiếm khoảng 80% quần thể các vi khuẩn hiếu khí. Dựa vào tính chất huyết thanh học, E.coli được chia thành những serotype riêng, trong số này có một số type đóng vai trò quan trọng trong việc gây bệnh cho người và gia súc. Theo Nguyễn Thị Nội (1985) [33] khi bệnh phát ra, E.coli có mặt ở khắp đường tiêu hoá. Trong các phủ tạng cũng có thể phân lập được E.coli, nhưng thường ở giai đoạn cuối của bệnh. - Hình thái và tính chất bắt màu E.coli là trực khuẩn hình gậy ngắn, kích thước 2-3 x 0,6, bắt màu Gram âm (-). Trong cơ thể, vi khuẩn có hình cầu trực khuẩn, đứng riêng lẻ, đôi khi xếp thành chuỗi. Vi khuẩn có lông nên có khả năng di động được, không hình thành nha bào. - Đặc tính nuôi cấy Trực khuẩn E.coli phát triển dễ dàng trên các môi trường nuôi cấy thông thường, một số chủng phát triển tốt trên môi trường nuôi cấy tổng hợp đơn giản. E.coli là trực khuẩn hiếu khí hay yếm khí tuỳ tiện, có thể sinh trưởng ở nhiệt độ 5 - 400C, nhiệt độ thích hợp là 370C, pH thích hợp nhất ở pH 7,2 - 7,4. Trong môi trường nước thịt: Sau khi nuôi cấy 24 giờ, bồi dưỡng trong tủ ấm 370C, vi khuẩn E.coli phát triển rất nhanh, môi trường đục đều có lắng cặn ở đáy, màu tro nhạt, trên mặt môi trường hình thành lớp màng mỏng màu ghi dính vào thành ống nghiệm, canh trùng có mùi phân thối. Trên môi trường thạch thường: Sau khi cấy 24 giờ, bồi dưỡng trong tủ ấm 370C, vi khuẩn hình thành khuẩn lạc dạng S, tròn ướt, màu tro nhạt, hơi lồi. Nếu nuôi cấy lâu, khuẩn lạc rộng ra, có thể quan sát thấy khuẩn lạc dạng M, R. Trên môi trường thạch Brilliant green: Sau khi cấy 24 giờ, bồi dưỡng trong tủ ấm 370C, vi khuẩn hình thành khuẩn lạc không màu trên nền lục xanh. Trên môi trường Macconkey: Sau khi cấy 24 giờ, bồi dưỡng trong tủ ấm 370C, vi khuẩn hình thành khuẩn lạc màu hồng cánh sen, tròn nhỏ, hơi lồi, không nhầy, rìa gọn, không làm chuyển màu môi trường. Trên môi trường thạch máu: Sau khi cấy 24 giờ, bồi dưỡng trong tủ ấm 370C, vi khuẩn hình thành khuẩn lạc to, ướt, lồi, viền không gọn, màu xám nhạt, không gây dung huyết (một số chủng gây dung huyết). - Đặc tính sinh hoá Phản ứng lên men đường: E.coli lên men sinh hơi các loại đường glucose, fructose, galactose, xylose, ramnose, manitol, mannit, lactose. Hầu hết vi khuẩn E.coli đều lên men đường lactose nhanh và sinh hơi. Có lên men không sinh hơi đường saccarose, glyxerol. Các phản ứng sinh hoá: Phản ứng sinh indol dương tính (+), phản ứng VP (+), phản ứng MR (+), phản ứng sinh H2S (+), hoàn nguyên Nitrat thành Nitrit. - Sức đề kháng Vi khuẩn E.coli bị diệt ở nhiệt độ 550C trong vòng 1 giờ, ở 600C trong thời gian 15 đến 30 phút. Các chất sát trùng thông thường như axit phenic, clorua thuỷ ngân, Formol có thể tiêu diệt vi khuẩn sau 5 phút. - Cấu trúc kháng nguyên Cấu trúc kháng nguyên của E.coli rất phức tạp, thường gắn liền với đặc tính độc lực của vi khuẩn, có đủ kháng nguyên O,H,K. Người ta đã xác định được các loại kháng nguyên của E.coli bằng phương pháp định type huyết thanh. Kháng nguyên O (Somatic): Nằm ở lớp màng ngoài tế bào vi khuẩn và cũng được coi là một yếu tố độc lực của vi khuẩn. Kháng nguyên O có những đặc tính sau: Chịu được nhiệt độ, kháng cồn và axit, axit HCl nồng độ 1N chịu được 2 giờ nhưng dễ bị ị phá huỷ bởi formol 0,5%. Kháng nguyên O rất độc, khi kháng nguyên O gặp kháng thể tương ứng sẽ xảy ra hiện tượng ngưng kết dưới dạng hạt nhỏ. Kháng nguyên O có chức năng của nội độc tố, khi cấu trúc kháng nguyên O thay đổi thì độc lực của vi khuẩn cũng thay đổi. Kháng nguyên H (Flagellar): Kháng nguyên H nằm trên lông của vi khuẩn, có bản chất là protein. Có đặc tính kém chịu nhiệt bị phá huỷ ở 600C trong 1 giờ, dễ bị tác động bởi cồn 50% và các enzym phân huỷ protein, bền vững ở nồng độ formol 0,5%. Khi gặp kháng thể tương ứng sẽ xảy ra hiện tượng ngưng kết H tạo cục bông nhỏ lắc dễ tan. Kháng nguyên K (Kapsular): Kháng nguyên K còn gọi là kháng nguyên bề mặt, chúng bao quanh tế bào vi khuẩn và có bản chất hoá học là polysaccharide. Kháng nguyên K có vai trò hỗ trợ phản ứng kết hợp với kháng nguyên O, tạo ra hàng rào bảo vệ giúp vi khuẩn chống lại tác động ngoại lai và hiện tượng thực bào. Kháng nguyên F: Pili của vi khuẩn có bản chất là protein bao phủ trên toàn bộ bề mặt tế bào. Kháng nguyên pili là giúp vi khuẩn bám giữ vào giá thể (màng nhày của đường tiêu hoá ruột), đây là yếu tố bám dính của vi khuẩn. - Các yếu tố gây bệnh của E.coli Khả năng bám dính: Khả năng bám dính của vi khuẩn là yếu tố gây bệnh quan trọng để thực hiện bước đầu tiên của quá trình gây bệnh. Nhờ khả năng bám dính, vi khuẩn bám được vào tế bào niêm mạc ruột của vật chủ để xâm nhập vào tế bào. Quá trình này thực hiện nhờ một hay nhiều yếu tố bám dính, các yếu tố bám dính quan trọng là F4 (K88), F5 (K99), F6 (987p) và F41. Khả năng xâm nhập: Khả năng xâm nhập của E.coli giúp vi khuẩn xuyên qua được lớp màng nhầy của ruột xâm nhập vào tế bào biểu mô, đồng thời sinh sản và phát triển trong lớp tế bào này, tránh được các đại thực bào của tổ chức hạ niêm mạc. Khả năng dung huyết: E.coli có khả năng sản sinh ra Haemolysin có tác dụng dung giải hồng cầu giải phóng sắt trong nhân hem và transferin. Khả năng gây dung huyết là yếu tố độc lực quan trọng của vi khuẩn E.coli gây bệnh đường tiết niệu và E.coli phân lập từ cơ quan cảm nhiễm ngoài đường ruột thường có khả năng gây dung huyết cao hơn E.coli phân lập từ phân (49% so với 8 -18%). Smith H.W. (1967) [83] phát hiện ra Hlyplasmid di truyền khả năng sản sinh Haemolysin gây dung huyết. Các serotype E.coli gây bệnh cho lợn thường chủ yếu là các serotype kháng nguyên O như O8; O138; O147. Yếu tố kháng khuẩn (Colicin V): Theo Đào Trọng Đạt và cộng sự (1996) [6] trong quá trình cư trú ở đường ruột, vi khuẩn E.coli phát triển, tồn tại cộng sinh với nhiều loại vi khuẩn đường ruột khác. Để tạo thuận lợi cho quá trình phát triển của mình và trở thành vi khuẩn chiếm ưu thế trong đường ruột, vi khuẩn E.coli thường sản sinh ra một loại chất kháng khuẩn có khả năng ức chế hoặc tiêu diệt các loaị vi khuẩn khác, đó là Colicin V; E.coli sản sinh Colicin V thông qua plasmid col. Colicin V được coi là một bacteriocin, có tác dụng độc với các các vi khuẩn thuộc họ Enterobacteriaceae. Có khoảng 40% các chủng E.coli của người và động vật có đặc tính sản sinh Colicingenic hay còn gọi là các E.coli col Brown V. (1981) [68] cho biết khi Colicin được sản sinh từ các chủng vi khuẩn E.coli cường độc trong cơ thể vật chủ thì lúc này Colicin V được coi là một yếu tố gây bệnh, Hầu hết các E.coli gây bệnh đều chứa các gen mã hoá cho Colicin V nằm trên plasmid. Độc tố: E.coli có khả năng sản sinh ra hai loại độc tố, độc tố chịu nhiệt và độc tố không chịu nhiệt. Độc tố chịu nhiệt ST (Stabile toxin): Độc tố ST chịu được nhiệt độ 1210C/15 phút, Dựa vào đặc tính hoà tan trong Methanol và hoạt tính sinh học ngươi ta chia độc tố ST thành hai nhóm STa và STb. Trong đó STa là một protein không có tính kháng nguyên, STb là protein có tính kháng nguyên yếu. Gyles G.L. and C.O. Thoen (1993) [74] cho biết STa là độc tố có khả năng gây ỉa chảytheo cơ chế: STa kích thích vào hệ thống men guanylate cyclase có trong tế bào biểu mô ruột, làm chuyển GTP thành cGMP. Khi hàm lượng cGMP trong tế bào tăng cao dẫn đến làm tăng hàm lượng Ca2+, Ca2+ ngăn cản quá trình hấp thu Na+, Cl-, ngăn cản hấp thu nước từ xoang ruột, làm cho hàm lượng chất điện giải và nước trong xoang ruột tăng lên, ruột tăng cường co bóp, kết quả là gây hiện tượng ỉa chảy. STb được tạo ra bởi một số serotype E.coli gây tiêu chảy ở người và ở lợn. STb được cấu tạo bởi chuỗi peptid gồm 48 axit amin với hai cầu nối disulfua. STb kích thích bài xuất các muối bicarbonate làm cho nước từ tế bào vào xoang ruột nhiều, STb kích thích vòng Nucleotid làm phân tiết dịch ở ruột. Theo Carter G.R. (1995) [69] thì STb được tìm thấy ở 75% các chủng E.coli phân lập từ lợn con, 32% số chủng ETEC phân lập được từ lợn cũng thấy có mặt của STb. Vai trò của STb trong tiêu chảy chưa được biết đến, mặc dù STb có thể kích thích gây tiêu chảy ở lợn con khi gây bệnh thực nghiệm, STb gây hiện tượng teo lông nhung ở ruột non của lợn. Độc tố không chịu nhiệt LT (Labile toxin): Độc tố này bị vô hoạt ở nhiệt độ 600C/15 phút. Độc tố LT có phân tử lượng lớn, có hai tiểu phần A và B. Trong đó tiểu phần B gồm 5 tiểu phần nhỏ khác nhau, tiểu phần này có khả năng gắn với thụ thể của tế bào biểu mô ruột. Tiểu phần A mới mang hoạt tính sinh học. Độc tố LT gây ỉa chảy theo cơ chế : Trong vi khuẩn, tiểu phần A và tiểu phần B được tổng hợp trong tế bào và được dịch chuyển đến gần màng tế bào vi khuẩn, chúng được kết hợp với nhau để tạo thành độc tố hoàn chỉnh và được tiết ra bên ngoài. Khi tác động vào tế bào, tiểu phần B sẽ gắn vào Receptor của màng tế bào biểu mô ruột, tiểu phần A sẽ có chức năng hoạt hoá hệ thống enzym Adenylate Cyclaza để chuyển ATP thành cAMP. Khi cAMP tăng cao gây hiện tượng tăng việc bài xuất nước và các chất điện giải từ trong mô bào vào trong xoang ruột, cản trở sự hấp thu nước từ xoang ruột vào mô bào, làm cho nước trong xoang ruột tăng cao từ đó gây ỉa chảy. - Tính kháng kháng sinh của E.coli Ngày nay đã có hàng ngàn chất kháng sinh được con người tìm ra, chúng có tác dụng to lớn trong việc hạn chế và tiêu diệt mầm bệnh là các vi sinh vật nhưng chúng ta chỉ sử dụng được một phần hạn chế các loại kháng sinh này bởi trong thực tế điều trị bệnh, do sự lạm dụng kháng sinh, sử dụng kháng sinh tràn lan và tuỳ tiện đã dẫn đến hiện tượng quen thuốc, nhờn thuốc và kháng thuốc của vi khuẩn. Nhiều kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới đã công nhận rằng, hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn cũng là một trong những yêú tố độc lực của vi khuẩn. Theo Jacob C.O. (1986) [75] khi nghiên cứu về E.coli đã đưa ra kết luận E.coli có khả năng kháng thuốc rất mạnh. Tính kháng thuốc của E.coli do các gen nằm trên plasmid qui định. E.coli độc có thể chứa một hay nhiều gen kháng thuốc. Trong quá trình di truyền của vi khuẩn, các plasmid kháng thuốc này có thể được trao đổi cho nhau theo phương thức tải nạp hoặc tiếp hợp. Quá trình trao đổi này có thể thực hiện theo phương thức truyền dọc hay truyền ngang, làm cho hiện tượng kháng thuốc ngày càng trở nên phổ biến và phức tạp. Phạm Khắc Hiếu và cs (1996) [11] nghiên cứu tính mẫn cảm và tính kháng thuốc của E.coli phân lập được từ bệnh lợn con phân trắng đã kết luận có 40% E.coli kháng với streptomycin, 50% kháng với sulfamid, 12% kháng với chlotetracyclin. Lê Văn Tạo và cs (1993) [48] khi tìm hiểu các yếu tố độc lực của vi khuẩn E.coli gây bệnh đã cho biết có 12 chủng E.coli đa kháng với 7 loại thuốc kháng sinh, 32% đa kháng với 6 loại thuốc, 40% đa kháng với 5 loại thuốc, 10% đa kháng với 4 loại và 6% đa kháng với 3 loại. Theo Phạm Khắc Hiếu (1979) [10], khi sử dụng kháng sinh hay hoá trị liệu điều trị bệnh do E.coli trong một thời gian dài thì vi khuẩn sẽ có tính kháng thuốc, có thể là đa kháng hay đơn kháng, tính kháng thuốc của E.coli ngày càng tăng. Bùi Thị Tho (1996) [60] cho biết việc sử dụng thuốc trong điều trị bệnh ở các địa phương khác nhau nên dẫn đến tính kháng thuốc của vi khuẩn ở các địa phương này cũng rất khác nhau. Do vậy việc làm kháng sinh đồ nhằm lựa chọn được kháng sinh có tác dụng tốt sử dụng trong điều trị là cần thiết nhằm nâng cao hiệu qủa điều trị. 2.2.2.2. Vi khuẩn Salmonella Năm 1885 vi khuẩn Salmonella được phát hiện do D.E Salmon và Smith T. phân lập lần đầu tiên từ lợn mắc bệnh dịch tả và coi đây là nguyên nhân gây ra bệnh dịch tả lợn. Đến năm 1903 các nhà khoa học đã xác định được nguyên nhân gây ra bệnh dịch tả lợn là do virus và cho rằng Salmonella chỉ có vai trò kế phát. Năm 1933 các nhà khoa học đã chính thức đặt tên cho vi khuẩn là Salmonella cùng với sự công bố của Kauffman và White về cấu trúc kháng nguyên của vi khuẩn này. Salmonella choleraesuis được coi là loài điển hình của giống. Theo Woolcok (1973)[85] hiện nay người ta đã phân lập được trên 2000 chủng Salmonella, nhưng thực tế chỉ có khoảng 5% trong số đó gây bệnh cho người và động vật. Salmonella thường gây bệnh cho lợn lứa tuổi 45 đến 90 ngày tuổi. Lợn các lứa tuổi khác cũng mắc bệnh nhưng ít hơn. Bệnh rất hiếm xảy ra ở lợn sơ sinh. Lợn chăn nuôi tập trung bệnh thường có tỷ lệ cao hơn chăn nuôi riêng lẻ. - Đặc tính về hình thái và tính chất bắt màu Salmonella là trực khuẩn ngắn, , hai đầu tròn, bắt màu gram âm, kích thước 1-3 x 0,4 -0,6, có khả năng di động nhờ có từ 7-12 lông xung quanh thân (trừ Salmonella pullorum và Salmonella gallinarum). Vi khuẩn Salmonella không hình thành nha bào và giáp mô. - Đặc tính nuôi cấy Vi khuẩn Salmonella là loại vi khuẩn hiếu khí hoặc yếm khí tuỳ tiện. Nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển là 370C và pH thích hợp là 7,2. Trên môi trường Macconkey: Bồi dưỡng trong tủ ấm 35-370C thời gian 18-24 giờ, Salmonella phát triển thành những khuẩn lạc tròn, trong, không màu, nhẵn bóng và hơi lồi ở giữa. Trên môi trường Brilliant Green: Salmonella hình thành khuẩn lạc màu đỏ. Trên môi trường BGA: Salmonella hình thành khuẩn lạc màu đỏ, bao bọc xung quanh bởi môi trường màu hồng nhạt. - Đặc tính sinh hoá Phần lớn Salmonella lên men có sinh hơi các đường glucoz, mannit, mantoz, galactoz, levuloz, arabioz. Một số loài lên men đường nhưng không sinh hơi. Tất cả các trủng Salmonella không lên men đường lactoz, saccaroz . Các phản ứng sinh hoá : sinh indol âm tính (-), H2S dương tính (+), VP (-), ureaza (-), không làm tan chảy gelatin. - Sức đề khángcủa Salmonella Salmonella có sức chịu đựng khá lớn với tác động của môi trường bên ngoài. Trong nước thường, Salmonella tồn tại 1 tuần. Trong nước đá có thể sống 2-3 tháng. Trong phân rác chúng sống trong vòng 4 tháng. Trong xác động vật chết có thể sống từ 2-3 tháng. ở 500C vi khuẩn bị diệt sau 1 giờ, 700C trong vòng 20 phút, đun sôi trong 5 phút. Với hoá chất, Salmonella tỏ ra có sức chịu đựng cao: dung dịch HgCl2 1%, formon 0,2%, axit phenic 3% diệt Salmonella sau 15-20 phút. Dung dịch muối ăn 19%, ở nhiệt độ 80C Salmonella tồn tại 4-8 tháng. - Cấu trúc kháng nguyên Kháng nguyên O:được coi là yếu tố độc lực của vi khuẩn, nằm ở lớp ngoài của màng tế bào vi khuẩn, được đặc trưng bởi lipopolysaccharit và được giải phóng ra môi trường nuôi cấy trong trạng thái thuần khiết. Kháng nguyên O có khả năng chịu nhiệt, ở 1000 C vần bền vững trong nhiều giờ, kháng cồn và axit. Kháng nguyên O của Salmonella rất phức tạp, hiện nay các nhà khoa học đã tìm thấy 65 yếu tố khác nhau. Kháng nguyên O giúp vi khuẩn chống lại khả năng phòng vệ của cơ thể và hiện tượng thực bào. Kháng nguyên H: là kháng nguyên chỉ có ở vi khuẩn có lông, có bản chất là protein, kém bền vững, dễ bị phá huỷ ở nhiệt độ cao hoặc xử lý bằng cồn và axit yếu. Kháng nguyên K: đây là kháng nguyên vỏ, được phân thành nhiều nhóm dựa vào các đặc điểm sinh hoá khác nhau. Kháng nguyên K của Salmonella được coi là không phức tạp, gồm 3 loại: 5-antigen, Vi-antigen và M-antigen, trong đó Vi-antigen không tham gia vào quá trình gây bệnh. - Các yếu tố gây bệnh của Salmonella Salmonella là vi khuẩn sống hoại sinh trong đường tiêu hoá của người và gia súc. Quá trình tác động gây bệnh của Salmonella có sự tham gia của độc tố và các yếu tố không phải là độc tố. Kháng nguyên O, yếu tố bám dính, khả năng xâm nhập vào tế bào, được coi là các yếu tố không phải là độc tố, chúng gây bệnh gián tiếp bằng cách tác động gây bất lợi cho vật chủ, mặt khác chúng tạo điều kiện cho vi khuẩn tác động và gây bệnh. Độc tố của vi khuẩn gồm nội độc tố và ngoại độc tố, trong đó nội độc tố đóng vai trò quan trọng trong quá trình gây bệnh. Kháng nguyên O: được coi là yếu tố độc lực của vi khuẩn, nằm ở phần ngoài màng tế bào vi khuẩn, có tác dụng giúp cho vi khuẩn phát triển trong tế bào tổ chức, cơ quan, chống lại sự thực bào của các đại thực bào. Yếu tố bám dính: là một trong những yếu tố gây bệnh quan trọng của vi khuẩn đường ruột giúp vi khuẩn bám được vào tế bào vật chủ, yếu tố bám dính còn gọi là kháng nguyên bám dính. Khi vi khuẩ._.,79%; tỷ lệ chết 1,32%. * Vụ đông xuân tỷ lệ lợn bị tiêu chảy cao hơn nhiều vụ hè thu: Kiểu chuồng sàn: tỷ lệ mắc là 25,36% (đông xuân) so với 22,32% (hè thu). Kiểu chuồng nền: có kết quả là 33,43% (đông xuân) và 28,25% (hè thu). * Độ ẩm ở hai kiểu chuồng nuôi khác nhau, độ ẩm trong chuồng nền luôn cao hơn ở kiểu chuồng sàn. Độ ẩm đo được ở kiểu chuồng sàn các tháng 1,2,3,4 và 5 năm 2008 lần lượt là: 87,05%, 90,00%, 88,10%, 86,03%, và 85,03%. ở kiểu chuồng nền là :89,05%, 92,14%, 89,74%, 87,78% và 86,33%. 2. Khi lợn bị tiêu chảy, có sự loạn khuẩn rõ, tổng số vi khuẩn hiếu khí/1gram phân tăng lên gấp 2 đến 3 lần so với lợn không bị tiêu chảy cùng lứa tuổi ở lợn nuôi trong cả hai kiểu chuồng. Lợn nuôi trong chuồng sàn: - Lợn sơ sinh – cai sữa: khi tiêu chảy tổng số vi khuẩn hiếu khí gấp 2,63 lần - Lợn cai sữa - 60 ngày tuổi: gấp 2,33lần Lợn nuôi trong chuồng nền: - Lợn sơ sinh – cai sữa: khi tiêu chảy gấp 2,48 lần - Lợn cai sữa - 60 ngày tuổi: gấp 2,08 lần 3. Số lượng vi khuẩn E.coli và Salmonella trong phân lợn bị tiêu chảy luôn cao hơn ở lợn không bị tiêu chảy dù lợn nuôi trong chuồng nền hay chuồng sàn. Số lượng vi khuẩn E.coli trong 1gram phân lợn bị tiêu chảy nuôi chuồng sàn là 121,71 triệu vi khuẩn so với 46,21 triệu vk ở lợn không tiêu chảy và ở kiểu chuồng nền cho kết quả tương ứng là 129,71 triệu và 51,05 triệu vi khuẩn Với vi khuẩn Salmonella ở lợn bị tiêu chảy nuôi chuồng sàn có số lợng vi khuẩn là 39,75 triệu , khi không bị tiêu chảy lợng vi khuẩn này trong 1 gram phân là 11,19 triệu . Lợn nuôi chuồng sàn có kết quả tơng ứng là 41,49 triệu vi khuẩn và 17,07 triệu vi khuẩn. 4. Các chủng E.coli và Salmonella phân lập đợc ở lợn bị tiêu chảy nuôi trong hai kiểu chuồng có độc lực khá mạnh. Đối với chuồng sàn có 68,42% số chủng E.coli và 63,16% số chủng Salmonella giết chết 100% số chuột thí nghiệm trong vòng 24 – 72 giờ và ở kiểu chuồng nền tơng ứng là 71,43% và 66,67%. 5. Các chủng E.coli và Salmonella phân lập được trong phân lợn bị tiêu chảy ở lợn nuôi trong hai kiểu chuồng mẫn cảm mạnh với Nofloxacine và Enrofloxacin. 6. Kháng sinh Nofloxacin Enrofloxacinee dùng điều trị tiêu chảy ở lợn nuôi trong cả hai kiểu chuồng cho kết quả cao. Tác dụng điều trị cao hơn khi kết hợp với chế phẩm sinh học, bổ xung nước và chất điện giải. Điều trị tiêu chảy riêng lẻ bằng chế phẩm sinh học cho kết quả điều trị không cao. 5.2. Đề nghị 1.Chuồng trại ảnh hưởng khá lớn đến sức khoẻ và tỷ lệ mắc tiêu chảy do vậy cần đầu tư nâng cấp chuồng trại, nên xây dựng kiểu chuồng sàn, nếu chuồng kín, có hệ thống làm mát là tốt nhất. Cần chú ý vệ sinh chuồng trại, đảm bảo các yêu cầu tiểu khí hậu chuồng nuôi: t0, A0, độ thoáng khí thích hợp, khống chế tốt độ ẩm chuồng nuôi, độ ẩm chuồng nuôi không nên > 85%. 2. Nghiên cứu xác định một số yếu tố độc lực của vi khuẩn E.coli và Salmonella: ST, LT, verotoxin, khả năng bám dính, khả năng xâm nhập, đặc tính gây dung huyết và định type vi khuẩn phân lập được tại Yên Định - Thanh Hoá. 3. Trong điều trị nên thử kháng sinh đồ để lựa chọn thuốc mẫn cảm, kết hợp kháng sinh với chế phẩm men vi sinh điều trị tiêu chảy, đặc biệt là đối tượng lợn con theo mẹ. tài liệu tham khảo Tiếng Việt 1 .Lê Minh Chí (1995), Bệnh tiêu chảy gia súc. Tài liệu của Cục thú y Trung ương, Tr.16 – 18. Phùng Quốc Chướng (1995), Tình hình nhiễm Salmonella ở lợn vùng Tây Nguyên và khả năng phòng trị. Luận án PTS khoa học NN, Hà Nội. Đoàn Thị Kim Dung (2004), Sự biến động một số vi khuẩn hiếu khí đường ruột, vai trò của E.coli trong hội chứng tiêu chảy của lợn con, các phác đồ điều trị. Luận án tiến sỹ nông nghiệp , Hà Nội. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng (1986), Bệnh lợn con ỉa phân trắng. NXB Nông thôn, Hà Nội. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ (1995), Bệnh đường tiêu hoá ở lợn. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng (1996), Bệnh ở lợn nái và lợn con. NXB Nông nghiệp, Hà Nội. Đỗ Ngọc Hoè, Nguyễn Minh Tâm (2005), Giáo trình vệ sinh vật nuôi. NXB Hà Nội. Nguyễn Bá Hiên, Trần Thị Lan Hương (2001), “Khả năng mẫn cảm của Salmonella, E.coli phân lập từ gia sức tiêu chảy nuôi tại ngoại thành Hà Nội với một số loại kháng sinh, hóa dược và ứng dụng kết quả để điều trị hội chứng tiêu chảy”. Kết quả nghiên cứu KHKT, Khoa Chăn nuôi Thú y 1999 - 2001. Đại học Nông nghiệp I, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, Tr.156-161. Nguyễn Bá Hiên (2001), Một số vi khuẩn đường ruột thường gặp và biến động của chúng ở gia súc khoẻ mạnh và bị tiêu chảy nuôi tại vùng ngoại thành Hà Nội, điều trị thử nghiệm. Luận án Tiến sỹ Nông nghiệp, Hà Nội. Phạm Khắc Hiếu, Bùi Thị Tho (1979), “Kiểm tra tính mẫn cảm và tính kháng thuốc của E.coli gây bệnh lợn con”, Hội nghị công tác khoa học kỹ thuật năm 1976 - 1978, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội. Phạm Khắc Hiếu, Bùi Thị Tho và cs (1996), “Kết quả kiểm tra tính kháng thuốc của E.coli trong 20 năm”. Kết quả nghiên cứu khoa học, Khoa Chăn nuôi-Thú y, Đại học Nông nghiệp I (1975-1995). Tạp chí KHKT Thú y (số 4) Phạm Khắc Hiếu, Lê Thị Ngọc Diệp, Trần Thị Lộc (1998), Stress trong đời sống con người và vật nuôi. NXB Nông nghiệp, Hà Nội. Nguyễn Thị Khanh (1994), Chế phẩm vi sinh Biolactyl trong khống chế hội chứng tiêu chảy ở lợn con. Luận án PTS khoa học Nông nghiệp, Hà Nội. Khoon Teng Hout (1995), Những bệnh đường hô hấp và tiêu hoá của lợn. Hội thảo khoa học thú y, Cục thú y, Hà Nội. Phạm Văn Khuê, Phan Văn Lục (1996), Giáo trình ký sinh trùng thú y. NXB Nông nghiệp, Hà Nội. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, (1995), Cẩm nang chăn nuôi lợn. NXB Nông nghiệp, Hà Nội. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (1997), Cẩm nang bệnh lợn. NXB Nông nghiệp, Hà Nội. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân,Trương Văn Dung (1997), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị. NXB Nông nghiệp, Hà Nội. Nguyễn Tài Lương (1982), Sinh lý và bệnh lý hấp thu. NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội. Nguyễn Lương (1963), Bệnh của gia súc non. NXB Nông thôn, Hà Nội. Vũ Bình Minh, Cù Hữu Phú (1999),“ Kết quả phân lập E.coli và Salmonella ở lợn mắc bệnh tiêu chảy, xác định một số đặc tính sinh vật hoá học của các chủng phân lập được”. Tạp chí KHKT thú y, tập 6 (3), NXB Nông nghiệp, Hà Nội, Tr. 47-51. Hồ Văn Nam, Nguyễn Thị Đào Nguyên, Phạm Ngọc Thạch (1997), Giáo trình bệnh nội khoa gia súc. NXB Nông nghiệp, Hà Nội. Hồ Văn Nam, Nguyễn Thị Đào Nguyên, Trương Quang, Phùng Quốc Chướng, Chu Đức Thắng, Phạm Ngọc Thạch (1997), “Hệ vi khuẩn gây bệnh viêm ruột ỉa chảy ở lợn”. Tạp chí KHKT thú y. Tập IV (số 1), Tr. 15- 22. Hồ Văn Nam và cs (1997), “Tình hình nhiễm Salmonella và vai trò của Salmonella trong bệnh viêm ruột ỉa chảy ở lợn”. Tạp chí KHKT thú y, Hội thú y Việt Nam (số 2), Tr.39-45. Sử An Ninh, Dương Quang Hưng, Nguyễn Đức Tâm (1981), “Tìm hiểu hội chứng Stress trong bệnh phân trắng lợn con”. Tạp chí nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm. Sử An Ninh (1993), “Kết quả bước đầu tìm hiểu nhiệt độ, độ ẩm thích hợp phòng bệnh lợn con phân trắng”. Kết quả nghiên cứu khoa học, Khoa Chăn nuôi thú y, Đại học Nông nghiệp I (1991-1993)., NXB Nông nghiệp, Hà Nội, Tr 48. Niconxki.V.V (1986), Bệnh lợn con (Phạm Quân, Nguyễn Đình Trí dịch). NXB Nông nghiệp, Hà Nội. Vũ Văn Ngũ, Nguyễn Hữu Nhạ (1976), “Tìm hiểu nguyên nhân bệnh ỉa phân trắng ở lợn con và sơ bộ đánh giá tác dụng điều trị của lợi thuốc vi sinh vật Subcolac”. Tạp chí Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp, số 9. NXB Hà Nội, Tr.369-371. Vũ Văn Ngũ và cs (1979), Loạn khuẩn đường ruột và tác dụng điều trị của Colisuptyil. NXB Y học, Hà Nội. Vũ Văn Ngũ và cs (1982), “tác dụng của Subcolac trong việc phòng và trị bệnh lợn con ỉa phân trắng”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật, (8). NXB Hà Nội, Tr.370-374 Vũ Văn Ngũ và cs (1992), “Xác định hiệu quả của Subcolac trong điều trị bệnh ỉa chảy ở lợn”, Tạp chí Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, (2). NXB Hà Nội, Tr.142-143. Nguyễn Thị Ngữ (2005), Nghiên cứu tình hình hội chứng tiêu chảy ở lợn tại huyện Chương Mỹ-Hà Tây, xác định một số yếu tố gây bệnh của vi khuẩn E.coli và Samonella, biện pháp phòng trị. Luận văn Thạc sỹ Nông nghiệp, Hà Nội. Nguyễn Thị Nội (1985), Tìm hiểu vai trò của E.coli trong bệnh phân trắng lợn con và vác xin dự phòng. Luận án PTS Khoa học Nông nghiệp, Hà Nội. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Yên Định (2006), Báo cao tổng kết về phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm thời kỳ 2004 – 2010. Nguyến Thị Oanh (2003), Tình hình nhiễm và một số yếu tố gây bệnh của vi khuẩn Salmonella ở vật nuôi (Lợn, trâu, bò, nai, voi) tại Đắc Lắc. Luận án tiến sỹ nông nghiệp, Hà Nội. Nguyễn Vĩnh Phước (1976), Một số phương pháp nghiên cứu vi sinh vật học, Tập II. NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội. Nguyễn Vĩnh Phước (1978), Giáo trình bệnh truyền nhiễm gia súc. NXB Nông nghiệp, Hà Nội. Phan Thanh Phượng, Nguyễn Thị Khanh, Thái Kim Thanh (1981), “ Hiệu lực phòng bệnh đường ruột lợn của chế phẩm Biolactyl đông khô phòng trị bệnh ỉa chảy ở lợn”. Tạp chí Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp, (2). 1981, Tr.159 – 160. Phan Thanh Phượng (1988), Phòng và chống bệnh phó thương hàn lợn. NXB Nông nghiệp, Hà Nội. Phan Thanh Phượng và cs (1995), “Nghiên cứu xác định hệ vi khuẩn chủ yếu gây tiêu chảy ở lợn”. Báo cáo khoa học thú y, Viện Thú y, Hà Nội. Phan Thanh Phượng, Trần Thị Hạnh, Phạm Thi Ngọc, Ngô Hoàng Hưng (1996), “ Nghiên cứu xác định vai trò của vi khuẩn yếm khí Clostridium pefringens trong hội chứng tiêu chảy của lợn”. Tạp chí Nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm (số 12), Hà Nội, Tr. 495-496. Phan Thanh Phượng, Nguyễn Thị Khanh, Nguyễn Thị Vân (1997), “Khống chế lợn con ỉa phân trắng bằng chế phẩm sinh học”. Tạp chí Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp (số 12), 1997, Tr. 9-13. Tô Thị Phượng (2006), Nghiên cứu tình hình hội chứng tiêu chảy ở lợn ngoại hướng nạc tại Thanh Hoá và biện pháp phòng trị. Luận văn Thạc sỹ Nông nghiệp, Hà Nội. Trương Quang (2004), “Kết quả nghiên cứu tình trạng loạn khuẩn đường ruột, các yếu tố gây bệnh của Salmonella trong hội chứng tiêu chảy lợn 1-60 ngày tuổi“. Tạp chí KHKT Thú y (số 1), Hội Thú y Việt Nam, Tr. 27-32. Trương Quang (2005), “Kết quả nghiên cứu vai trò gây bệnh của E.coli trong hội chứng tiêu chảy lợn 3 tháng tuổi và lợn nái“. Tạp chí KHKT Nông nghiệp , Tập II (số 1), Hội Thú y Việt Nam, Tr. 255-260. Lê Thị Tài và cs (1996), “Kết quả thử nghiệm Biosubtyl trong điều trị loạn khuẩn đường ruột gia súc non”. Tạp chí Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, (6). NXB Hà Nội, Tr. 263-264. Lê Thị Tài và cs ((1997), “Sản xuất viên Subtilis để phòng và điều trị chứng nhiễm trùng đường ruột”. Tạp chí KHKT Nông nghiệp, Tr. 453-458. Lê Văn Tạo và cs (1993), “Nghiên cứu chế tạo vác xin E.coli uống phòng bệnh phân trắng lợn con”. Tạp chí Nông nghiêp Công nghiệp thực phẩm. NXB Hà Nội, Tr. 324-325. Lê Văn Tạo, Khương Bích Ngọc, Nguyễn Thị Vui, Đoàn Băng Tâm (1993), Xác định yếu tố gây bệnh di truyền bằng Plasmid trong vi khuẩn E.coli phân lập từ lợn con bị bệnh phân trắng để chọn chủng sản xuất vác xin. Hội nghị trao đổi khoa học REI-HAU Lê Văn Tạo (1996), “Cấu trúc Fimbriae, kháng nguyên bám dính K88 của vi khuẩn E.coli và vai trò của chúng trong quá trình gây bệnh phân trắng lợn con”. Tạp chí Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, (số 2), Tr. 62-63. Đoàn Băng Tâm (1987), Bệnh ở động vật nuôi. Tập I. NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội, Tr 119-135. Nguyễn Như Thanh (1974), Giáo trình thực tập vi sinh vật thú y. Trường Đại học Nông nghiệp 1. Nguyễn Như Thanh (1997), Giáo trình Vi sinh vật thú y. NXB Nông nghiệp, Hà Nội. Nguyễn Như Thanh, Nguyễn Bá Hiên, Trần Lan Hương (2001), Giáo trình Vi sinh vật thú y. NXB Nông nghiệp, Hà Nội. Nguyễn Kim Thành (1999), Bệnh giun tròn ký sinh. NXB Giáo dục Hà Nội. Lê Khắc Thận và cs (1974), Sinh hoá động vật. NXB Nông thôn, Hà Nội Nguyễn Văn Thắng (2001), Nguyên lý sử dụng các chế phẩm E.M trong phòng và trị bệnh tiêu chảy ở lợn. ”. Kết quả nghiên cứu KHKT, Khoa Chăn nuôi Thú y 1999 - 2001 Đại học Nông nghiệp I, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, Tr.139-143. Trịnh Văn Thịnh (1964), Giáo trình bệnh nội khoa và bệnh ký sinh trùng thú y. NXB Nông thôn, Hà Nội. Trịnh Văn Thịnh (1985), Bệnh lợn con ở Việt Nam. NXB Khoa học kỹ thuật Hà Nội, Tr.90-95. Bùi Thị Tho (1996), Nghiên cứu tác dụng của một số thuốc hoá học trị liệu và phytoncid đối với E.coli phân lập từ bệnh lợn con phân trắng. Luận án PTS khoa học Nông nghiệp, Hà Nội. Chu Thị Thơm, Phan Thị Lài, nguyễn Văn Tó (2006), Hướng dẫn vệ sinh chăm sóc gia súc.NXB Lao động Hà Nội. Hoàng Văn Tuấn, Lê Văn Tạo, Trần Thị Hạnh (1998), “Kết quả điều tra tình hình bệnh tiêu chảy ở lợn trong một trại giống lợn hướng nạc”. Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, Tập V (số 4), Tr. 61-64. Hoàng Văn Tuấn (1998), Bước đầu tìm hiểu một số nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy ở lợn hướng nạc tại trai lợn Yên Định và biện pháp phòng trị, Luận án thạc sỹ khoa học nông nghiệp, Hà Nội. Phạm Sỹ Tiệp, Nguyễn Đăng Vang (2006), Sinh thái vật nuôi và ứng dụng trong chăn nuôi gia súc, gia cầm. . NXB Lao động xã hôi, Tr.92. Tạ Thị Vịnh, Đặng Khánh Vân (1996), “Bước đầu thăm dò xác định E.coli và Salmonella trên lợn bình thường và lợn mắc hội chứng tiêu chảy tại Hà Tây và Hà Nội”, Tạp chí KHKT thú y, Tập III (số 1), Tr. 40-43. B. Tiếng anh Barrow P.A. (1990), Immunity to experimental fowl typhoid in chickens induced by a virulence plasmid – cured derivative of Salmonella gallinarum, Infection and immunity, pp. 2283 -2288 Bergeland H.U., Fairbrother J.N., Nielsen N.O., Pohlenz J.F. (1992), Escherichia coli infection Diseases of swine, Iowa stale University press/AMES, IOWA U.S.A.7th Edition, pp. 487-488. Brown V. (1981), “Escherichia coli cells centaning The Col.v.Plamid produce The Iron ionophore aerobactin”. FEMS Microbicl.lett,p.225-228. Carter G.R., Chengappa M.n and Roberts A.W (1995), Essentialss of veterinary Microbiolegy, copyright 1995 Wiliams and Wilkins, Rose Tree Corporale center Buiding 21400 North providence Rd. suite 5025 Media P.A 19063 -2043. Awaverly company. Cabrera J.F., Gonzalez M (1989), Neccrotic enteritis due to Zygomycosis (Mucormycossis) in a pig farm. Revists-de salud-aminal 11.9 ref.P1, pp.89-90. Evans D.G., Evan D.J., Gorbch S.L.(1973), “Production of vascular permeability factor by enterotoxigenic Escherichia coli isolated fromman”. Infect.Immun,V8, pp.725-730. Faibrother J.M. (1992), Enteric Colibacillosos Diseases of Swine. IOWA. State University press/amess. IOWA. USA.7 th edition, pp. 489-497 Fairbrother J.M, Betscherger H.U, Nielsen O.N (1992),”Enteric colibacillosis”, In A.DLleman.B.E.straww.L.menngeling.S.D allare et D.J. taylor, Diseases of swine, iowa state University prres, Ames, p.489. Gyles G.L. and C.O. Thoen (1993), “Pathogenesis of Bacterial infection in animals”, Ames Iowa State University Press, pp.109-123. Jacob C.O, R.Arnon and R.A.Finkelstein (1986), “Immunity to heat-labile enterotoxins of porcine and human Escherichia coli strains achieved with cholera toxin peptides”. Immune.52,pp.562-567. Jones G.W., Richardson A.L. (1981), “The attachment to Invasion of hela cells by Salmonella Typhimurium the contribution of manose sensitive and manose-sensitive haemalutinate aetivities”, J.Gen. Mcrobiol, V127, pp.. 361 -370. Laval A (1997), Incidence des Enterites du porc. Báo cáo tại hội thảo thú y về bệnh lợn do Cục thú y tổ chức, Hà Nội, 14/11. Lecce J.G., Kinh M.W, Mock R. (1976), “Rotavirus-like agent asociated with fatal diarrhoea in neonotal pigs”. Infec. Immun, pp. 816-825. Nagy B. Et al (1991), Vet. Pathol, 28. p. 66 – 73. Nilson O. et al (1984),” Epidemilogy of porcine Neonatal Steatorrhoea in Swedwen. I. prevalence and clinical significance of coccidal and rotaviral infection”. Scan. J. of Vet Sciende, pp 103-110. Peterson J.W. (1980), Salmonella toxin, Pharm Ather, VII, pp. 719-724. Radostits O.M., Blood D.C. and Gay C.C. (1994),” Veterinary medicine”, A textbook of the Diseases of cattle,Sheep, Pigs, Goats and Horses. Set by paston press L.t.d London, norfolk, Eighth edition. Sperti G.S. (1997), Probiotics, Avi Publishing Co. Westpoint, Conbecticut. Smith H.W. Halles Salmonella (1967), “The transmissinble nature of genetic factor in E.coli that control hemolyson production”, J. gen Mcrobiol 47, pp.153-161. Woolcok. Austral (1973), “ Vet”. Jour, 49, pp. 307. Phụ lục Phụ Lục 1 Bảng 1: Kết quả điều tra tình hình tiêu chảy theo lứa tuổi ở lợn nuôi trong chuồng sàn các tháng năm 2006   Tháng Tuổi lợn 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Tổng hợp Sơ sinh – cai sữa Số điều tra (con) 240 254 260 247 258 262 258 235 220 250 232 218 2934 Số bị T/C (con) 77 77 73 61 67 65 66 70 58 70 70 70 824 Tỷ lệ T/C (%) 32,08 30,31 28,08 24,70 25,97 24,81 25,58 29,79 26,36 28,00 30,17 32,11 28,08 Số chết do T/C (con) 6 7 5 6 4 5 5 6 4 4 5 6 63 Tỷ lệ chết (%) 2,50 2,76 1,92 2,43 1,55 1,91 1,94 2,55 1,82 1,60 2,16 2,75 2,15 Cai sữa – 60 ngày Số điều tra (con) 208 215 202 217 204 212 198 213 201 203 219 218 2510 Số bị T/C (con) 49 48 42 37 33 39 40 50 42 38 44 50 512 Tỷ lệ T/C (%) 23,56 22,33 20,79 17,05 16,18 18,40 20,20 23,47 20,90 18,72 20,09 22,94 20,39 Số chết do T/C (con) 2 3 2 1 2 1 2 3 2 3 2 3 26 Tỷ lệ chết (%) 0,96 1,40 0,99 0,46 0,98 0,47 1,01 1,41 1,00 1,48 0,91 1,38 1,04 Bảng 2: Kết quả điều tra tình hình tiêu chảy theo lứa tuổi ở lợn nuôi trong chuồng sàn các tháng năm 2007   Tháng Tuổi lợn 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Tổng hợp Sơ sinh – cai sữa Số điều tra (con) 264 257 260 265 258 266 252 249 259 255 264 277 3126 Số bị T/C (con) 80 82 77 74 59 55 65 67 74 68 77 86 864 Tỷ lệ T/C (%) 30,30 31,91 29,62 27,92 22,87 20,68 25,79 26,91 28,57 26,67 29,17 31,05 27,64 Số chết do T/C (con) 6 5 4 4 3 4 4 6 4 5 5 5 55 Tỷ lệ chết (%) 2,27 1,95 1,54 1,51 1,16 1,50 1,59 2,41 1,54 1,96 1,89 1,81 1,76 Cai sữa – 60 ngày Số điều tra (con) 220 218 215 230 217 222 221 225 205 219 224 236 2652 Số bị T/C (con) 43 46 39 37 37 34 38 41 34 36 40 45 470 Tỷ lệ T/C (%) 19,55 21,10 18,14 16,09 17,05 15,32 17,19 18,22 16,59 16,44 17,86 19,07 17,72 Số chết do T/C (con) 2 2 1 1 2 1 2 1 2 2 2 1 19 Tỷ lệ chết (%) 0,91 0,92 0,47 0,43 0,92 0,45 0,90 0,44 0,98 0,91 0,89 0,42 0,72 Tháng  Tuổi lợn 1 2 3 4 5 6 Tổng hợp Sơ sinh – cai sữa Số điều tra (con) 357 308 327 175 198 209 1574 Số bị T/C (con) 107 102 99 44 47 41 440 Tỷ lệ T/C (%) 29,97 33,12 30,26 25,14 23,74 19,62 27,95 Số chết do T/C (con) 6 10 5 3 2 2 28 Tỷ lệ chết (%) 1,68 3,25 1,53 1,71 1,01 0,96 1,78 Cai sữa – 60 ngày Số điều tra (con) 267 246 254 185 176 209 1337 Số bị T/C (con) 50 50 43 27 28 31 229 Tỷ lệ T/C (%) 18.73 20.33 16.93 14.59 15.91 14.83 17.13 Số chết do T/C (con) 3 2 2 2 1 1 11 Tỷ lệ chết (%) 1,12 0,81 0,79 1,08 0,57 0,48 0,82 Bảng 3: Kết quả điều tra tình hình tiêu chảy theo lứa tuổi ở lợn nuôi trong chuồng sàn các Tháng năm 2008 Bảng 4: Kết quả điều tra tình hình tiêu chảy theo lứa tuổi ở lợn nuôi trong chuồng nền các tháng năm 2006   Tháng Tuổi lợn 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Tổng hợp Sơ sinh – cai sữa Số điều tra (con) 223 219 215 230 237 224 221 243 210 215 224 239 2700 Số bị T/C (con) 102 98 94 91 88 80 78 84 80 88 96 107 1086 Tỷ lệ T/C (%) 45,74 44,75 43,72 39,57 37,13 35,71 35,29 34,57 38,10 40,93 42,86 44,77 40,22 Số chết do T/C (con) 8 7 6 6 6 5 6 7 6 7 8 8 80 Tỷ lệ chết (%) 3,59 3,20 2,79 2,61 2,53 2,23 2,71 2,88 2,86 3,26 3,57 3,35 2,96 Cai sữa – 60 ngày Số điều tra (con) 187 197 192 183 188 176 197 196 167 196 202 199 2280 Số bị T/C (con) 50 54 50 42 38 34 41 48 38 42 47 50 534 Tỷ lệ T/C (%) 26,74 27,41 26,04 22,95 20,21 19,32 20,81 24,49 22,75 21,43 23,27 25,13 23,42 Số chết do T/C (con) 3 3 2 2 2 2 3 3 2 2 3 3 30 Tỷ lệ chết (%) 1,60 1,52 1,04 1,09 1,06 1,14 1,52 1,53 1,20 1,02 1,49 1,51 1,32 Bảng 5: Kết quả điều tra tình hình tiêu chảy theo lứa tuổi ở lợn nuôi trong chuồng nền các tháng năm 2007   Tháng Tuổi lợn 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Tổng hợp Sơ sinh – cai sữa Số điều tra (con) 247 249 235 225 215 246 198 219 254 248 250 268 2854 Số bị T/C (con) 108 105 100 84 78 86 73 83 90 92 104 117 1120 Tỷ lệ T/C (%) 43,72 42,17 42,55 37,33 36,28 34,96 36,87 37,90 35,43 37,10 41,60 43,66 39,24 Số chết do T/C (con) 7 7 6 5 5 5 7 6 5 6 7 8 74 Tỷ lệ chết (%) 2,83 2,81 2,55 2,22 2,33 2,03 3,54 2,74 1,97 2,42 2,80 2,99 2,59 Cai sữa – 60 ngày Số điều tra (con) 205 224 212 215 269 216 204 235 252 197 243 228 2700 Số bị T/C (con) 48 55 47 40 50 37 38 48 49 43 53 52 560 Tỷ lệ T/C (%) 23,41 24,55 22,17 18,60 18,59 17,13 18,63 20,43 19,44 21,83 21,81 22,81 20,74 Số chết do T/C (con) 3 3 3 3 3 2 2 2 2 2 3 3 31 Tỷ lệ chết (%) 1,46 1,34 1,42 1,40 1,12 0,93 0,98 0,85 0,79 1,02 1,23 1,32 1,15 Bảng 6: Kết quả điều tra tình hình tiêu chảy theo lứa tuổi ở lợn nuôi trong chuồng nền các tháng năm 2008 Tháng  Tuổi lợn 1 2 3 4 5 6 Tổng hợp Sơ sinh – cai sữa Số điều tra (con) 335 327 341 175 208 243 1629 Số bị T/C (con) 143 154 148 64 74 77 660 Tỷ lệ T/C (%) 42,69 47,09 43,40 36,57 35,58 31,69 40,52 Số chết do T/C (con) 11 15 12 4 4 4 50 Tỷ lệ chết (%) 3,28 4,59 3,52 2,29 1,92 1,65 3,07 Cai sữa – 60 ngày Số điều tra (con) 253 246 224 182 179 224 1308 Số bị T/C (con) 58 62 49 33 35 39 276 Tỷ lệ T/C (%) 22,92 25,20 21,88 18,13 19,55 17,41 21,10 Số chết do T/C (con) 4 2 2 3 2 1 14 Tỷ lệ chết (%) 1,58 0,81 0,89 1,65 1,12 0,45 1,07 Phụ lục 2 Bảng theo dõi tình hình mắc hội chứng tiêu chảy và độ ẩm chuồng nuôi Tháng: 1 năm 2008 Lứa tuổi: Sơ sinh – cai sữa Kiểu chuồng : Nền Ngày Số theo dõi (con) Nhập vào (con) Chuyển đi (con) Độ ẩm (%) Số măc (con) Số chết ()con Ghi chú 1 153 79 2 153 80 1 3 152 84,5 2 1 4 152 80,5 5 168 16 84 6 168 89 2 7 190 22 88 7 8 158 32 92,5 3 2 9 156 93 5 10 156 91 11 170 14 88 12 178 8 93 3 13 187 9 92,5 4 14 186 80 2 1 15 185 85 16 164 21 85,5 4 17 174 10 93 2 18 182 8 92 5 19 182 93 5 20 182 93 3 21 166 15 89,5 1 1 22 192 26 87,5 23 192 92,5 4 24 192 91 25 137 55 92,5 6 26 163 26 93 4 27 162 90,5 5 1 28 180 18 93 3 29 159 21 93,5 30 159 91,5 31 159 89,5 T.hợp 169 89,05 71 6 Bảng theo dõi tình hình mắc hội chứng tiêu chảyvà độ ẩm chuồng nuôi Tháng: 2 năm 2008 Lứa tuổi: Sơ sinh – cai sữa Kiểu chuồng : Nền Ngày Số theo dõi (con) Nhập vào (con) Chuyển đi (con) Độ ẩm (%) Số măc (con) Số chết ()con Ghi chú 1 159 93 4 2 159 93 3 3 159 93,5 4 4 180 22 94,5 2 1 5 159 21 93 6 159 93 2 7 159 92 6 8 167 8 96 5 9 151 14 91,5 4 2 10 151 94 11 151 90 12 161 18 8 91 4 13 161 93,5 3 14 161 91,5 4 15 151 10 91 1 16 143 8 86 17 167 24 83 18 152 15 87,5 1 19 151 88 4 20 126 25 94 6 21 126 94,5 3 22 145 19 93 4 23 145 94 3 24 144 93,5 3 1 25 126 18 95 1 26 137 11 92 27 137 94,5 2 28 137 94 3 29 137 92,5 T.hợp 150 92,14 70 6 Bảng theo dõi tình hình mắc hội chứng tiêu chảy và độ ẩm chuồng nuôi Tháng: 3 năm 2008 Lứa tuổi: Sơ sinh – cai sữa Kiểu chuồng : Nền Ngày Số theo dõi (con) Nhập vào (con) Chuyển đi (con) Độ ẩm (%) Số măc (con) Số chết ()con Ghi chú 1 137 90 3 2 165 28 90 2 3 164 79 1 1 4 164 82,5 5 134 30 84 6 134 1 90 7 144 10 88,5 3 8 152 8 87 4 9 152 93 2 10 151 91,5 3 1 11 177 16 93 5 12 155 12 90 1 13 145 10 90 14 153 8 93 3 15 153 93,5 5 16 153 92 2 17 153 90 4 18 146 7 90 19 165 19 94,5 3 20 164 91,5 6 1 21 163 96 5 22 163 92 2 23 156 9 87,5 1 24 156 84,5 25 146 10 86 26 146 85 27 146 93 5 28 168 22 91,5 3 29 168 91 2 30 168 8 92,5 2 31 160 90 T.hợp 155 89,74 67 3 Bảng theo dõi tình hình mắc hội chứng tiêu chảy và độ ẩm chuồng nuôi Tháng: 4 năm 2008 Lứa tuổi: Sơ sinh – cai sữa Kiểu chuồng : Nền Ngày Số theo dõi (con) Nhập vào (con) Chuyển đi (con) Độ ẩm (%) Số măc (con) Số chết ()con Ghi chú 1 160 90 2 150 10 93 2 3 150 89,5 3 4 150 91,5 3 1 5 158 8 89 6 158 88 1 7 158 9 84 3 8 149 82,5 1 9 134 15 90 10 134 1 88,5 1 11 134 87 2 12 126 8 94,5 4 13 126 93 5 14 143 17 90,5 3 15 133 10 87 2 16 124 9 83 17 124 86 2 18 124 87 1 19 124 91,5 4 20 124 88 3 21 124 90 3 22 114 10 80 23 144 30 83,5 24 144 83,5 25 132 12 84 2 26 130 10 90 2 27 148 18 84,5 2 28 148 87 29 148 90,5 2 30 148 87 1 T.hợp 139 87,78 51 2 Bảng theo dõi tình hình mắc hội chứng tiêu chảy và độ ẩm chuồng nuôi Tháng: 5 năm 2008 Lứa tuổi: Sơ sinh – cai sữa Kiểu chuồng : Nền Ngày Số theo dõi (con) Nhập vào (con) Chuyển đi (con) Độ ẩm (%) Số măc (con) Số chết (con) Ghi chú 1 148 92 3 2 140 8 94 5 3 158 18 89 2 4 164 8 89 5 163 93 2 1 6 153 10 92,5 3 7 153 87,5 3 8 190 27 87 1 9 190 84 10 180 10 85 11 173 7 82 2 12 173 75,4 1 13 173 81 14 173 84,5 1 15 172 86 2 1 16 172 87 17 172 89,5 2 18 152 20 85 4 19 152 10 83 2 20 152 92 21 152 93 5 22 152 79 2 23 142 10 80 24 125 17 84 25 125 85,5 3 26 135 10 89 4 27 135 83 28 128 8 85 2 29 128 90 2 30 128 83 2 31 128 86 T.hợp 154 86,32 53 2 Bảng theo dõi tình hình mắc hội chứng tiêu chảy và độ ẩm chuồng nuôi Tháng: 1 năm 2008 Lứa tuổi: Sơ sinh – cai sữa Kiểu chuồng : Sàn Ngày Số theo dõi (con) Nhập vào (con) Chuyển đi (con) Độ ẩm (%) Số măc (con) Số chết ()con Ghi chú 1 152 78 1 2 152 78,5 3 3 152 83 4 151 79 1 5 163 12 82,5 6 163 87 2 7 163 86 8 163 90,5 3 9 155 8 90 5 10 155 89 2 11 154 86 2 1 12 172 18 90 3 13 172 90 14 172 78,5 15 172 83,5 16 194 22 84 1 17 194 90 3 18 194 89,5 3 19 193 90,5 4 1 20 177 16 91 2 21 177 88 22 177 85 1 23 177 91 4 24 177 8 89,5 2 25 185 8 91 3 26 185 9 91 4 27 175 9 88 2 1 28 175 90,5 29 192 17 91 2 30 192 89 31 192 88 T.hợp 173 87,05 52 4 Bảng theo dõi tình hình mắc hội chứng tiêu chảy và độ ẩm chuồng nuôi Tháng: 2 năm 2008 Lứa tuổi: Sơ sinh – cai sữa Kiểu chuồng : Sàn Ngày Số theo dõi (con) Nhập vào (con) Chuyển đi (con) Độ ẩm (%) Số măc (con) Số chết (con) Ghi chú 1 192 91 2 2 192 91 5 3 192 90 3 4 180 12 92 5 5 205 25 90 1 1 6 205 91 7 196 9 90,5 2 8 187 9 93 3 9 187 89 10 187 91 1 11 187 88 1 1 12 202 16 89,5 13 188 14 88 2 14 180 8 89,5 4 15 179 90 3 1 16 179 85 17 179 82 18 196 18 86 19 196 87 1 1 20 196 92 3 21 181 15 92 5 22 181 91,5 4 23 181 92 3 24 190 9 91 5 1 25 189 93 26 189 89 3 27 175 14 92 4 28 175 91 3 29 185 10 90 T.hợp 188 90,00 63 5 Bảng theo dõi tình hình mắc hội chứng tiêu chảy và độ ẩm chuồng nuôi Tháng: 3 năm 2008 Lứa tuổi: Sơ sinh – cai sữa Kiểu chuồng : Sàn Ngày Số theo dõi (con) Nhập vào (con) Chuyển đi (con) Độ ẩm (%) Số măc (con) Số chết (con) Ghi chú 1 185 89 2 2 160 25 88 3 3 160 22 78,5 1 1 4 181 80 5 181 82,5 1 6 181 18 88 2 7 199 87 8 199 8 85,5 1 9 191 8 91 3 1 10 182 15 89 4 11 197 91 2 12 197 89 2 13 197 89,5 14 197 10 91 4 15 187 8 92 4 16 179 24 90 3 17 203 88,5 18 203 88 1 19 203 92 20 203 89 2 21 194 9 93 3 22 194 90 4 23 202 8 86,5 5 24 202 84 25 193 9 85 1 26 193 83,5 27 207 14 91 3 28 207 90 5 29 186 21 89 2 30 186 91 2 31 186 89,5 1 T.hợp 193 88,10 60 3 Bảng theo dõi tình hình mắc hội chứng tiêu chảy và độ ẩm chuồng nuôi Tháng: 4 năm 2008 Lứa tuổi: Sơ sinh – cai sữa Kiểu chuồng : Sàn Ngày Số theo dõi (con) Nhập vào (con) Chuyển đi (con) Độ ẩm (%) Số măc (con) Số chết (con) Ghi chú 1 186 88 1 2 168 18 91 2 3 168 88 4 4 168 89,5 3 5 159 9 88 1 6 153 6 86,5 7 152 83 1 8 159 7 81,5 9 159 88 10 159 87 11 142 17 85,5 1 12 135 7 92 3 13 133 90 4 1 14 133 89 3 15 149 16 85,5 1 16 149 82 17 149 84 2 18 149 85,5 19 141 8 89 2 20 141 86 2 21 141 87,5 1 22 141 79 23 141 82 24 146 5 81 25 132 14 82 26 132 87,5 2 27 132 83 3 28 132 85 3 29 141 9 89 30 141 86 T.hợp 147 86,03 38 2 Bảng theo dõi tình hình mắc hội chứng tiêu chảy và độ ẩm chuồng nuôi Tháng: 5 năm 2008 Lứa tuổi: Sơ sinh – cai sữa Kiểu chuồng : Sàn Ngày Số theo dõi (con) Nhập vào (con) Chuyển đi (con) Độ ẩm (%) Số măc (con) Số chết (con) Ghi chú 1 141 90 2 2 141 92 2 3 144 3 88 3 4 144 87,5 1 5 137 7 91 6 137 90 3 1 7 136 86 1 8 136 85,5 9 147 11 83 10 147 84,5 2 11 131 16 81 2 12 131 75 13 131 80,5 14 128 8 84 15 140 17 84,5 16 140 86 17 140 88,5 2 18 125 15 83,5 3 19 125 82 1 20 125 90 21 144 20 90,5 1 22 139 5 78 3 23 139 80 24 139 82,5 25 130 9 84 1 26 130 87 3 27 130 82,5 2 28 175 35 84 29 175 88 30 175 82 31 175 85 T.hợp 135 85,03 31 2 ảnh 1: Lợn nuôi trong chuồng nền ảnh 2: Lợn nuôi trong chuồng sàn ảnh 3: Lợn nuôi chuồng nền bị tiêu chảy ảnh 4: Lợn nuôi trong chuồng sàn bị tiêu chảy ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docbao cao cao hoc da sua.doc
Tài liệu liên quan