Phân hóa giàu nghèo của các hộ nông dân ở tỉnh Kiên Giang - Thực trạng và giải pháp

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Kiên Giang (KG) là một tỉnh trọng điểm lúa của đồng bằng sông Cửu Long. Cùng với cả nước trong công cuộc đổi mới, những năm gần đây tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh đã có nhiều thay đổi cơ bản. Trong nông nghiệp, nông thôn mọi nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội đã được phát huy mạnh mẽ, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung và nông dân nói riêng đã được cải thiện một bước quan trọng. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh trong 5 năm trở lại đ

doc95 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 09/12/2013 | Lượt xem: 1280 | Lượt tải: 2download
Tóm tắt tài liệu Phân hóa giàu nghèo của các hộ nông dân ở tỉnh Kiên Giang - Thực trạng và giải pháp, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ây liên tục tăng trưởng khá. Nông nghiệp có sự phát triển nhảy vọt, nhiều cơ sở vật chất hạ tầng trong nông nghiệp được xây dựng, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu phát triển kinh tế xã hội, trên địa bàn tỉnh KG đã và đang xuất hiện những hiện tượng tiêu cực trong đời sống xã hội. Đáng chú ý là hiện tượng phân hóa giàu nghèo đang có chiều hướng gia tăng tới mức độ có thể xem là trầm trọng. Đại hội đại biểu lần thứ VI của Đảng bộ tỉnh KG đã nhận định: "Phân hóa giàu nghèo trong xã hội... có chiều hướng phát triển" [33, 36]. Phân hóa giàu nghèo (PHGN) trong xã hội nói chung và trong nông nghiệp, nông thôn nói riêng đang là một hiện thực khách quan tác động đến mọi mặt của sản xuất và đời sống của hộ nông dân (HND). Hiện tượng nghèo đói, lạc hậu, thấp kém như là người bạn đường đối với một bộ phận HND trên các địa bàn của tỉnh. Quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương càng mạnh mẽ thì dường như sự PHGN ngày càng sâu sắc thêm, nhất là trong nông nghiệp, nông thôn và đối với HND. Thực tế này đang đặt ra nhiều vấn đề phải giải quyết mới có thể phát triển xã hội theo mục tiêu: Thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh; tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội mà Đảng ta đã đề ra. Không thể xem thường sự phân hóa giàu nghèo, nhất là khi nó đang ảnh hưởng tới quá trình phát triển nhanh và bền vững của xã hội. Từ nhận thức đó, Đảng bộ tỉnh đã vạch ra phương hướng quyết tâm của tỉnh là: "Bằng nhiều biện pháp đồng bộ tích cực hạn chế phân hóa giàu nghèo" [33, 59]. Để góp phần vào thực hiện mục tiêu trên, đề tài: "Phân hóa giàu nghèo của các hộ nông dân ở tỉnh Kiên Giang - thực trạng và giải pháp" là đề tài có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn. 2. Tình hình nghiên cứu Vấn đề giàu nghèo và phân hóa giàu nghèo là đề tài đã có nhiều tác giả đề cập từ nhiều góc độ. Tiêu biểu là một số công trình sau đây: Khuynh hướng phân hóa HND trong phát triển sản xuất hàng hóa, Nguyễn Xuân Khoát (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995; Một số giải pháp giải quyết mâu thuẫn nảy sinh giữa việc phát triển nền kinh tế hàng hóa theo cơ chế thị trường với sự phân hóa giàu nghèo, Nguyễn Huy Oánh;... Vấn đề phân tầng xã hội - một xu thế tất yếu của Việt Nam, Đỗ Nguyên Phương...(Đề tài KX 07-05); Phân hóa giàu nghèo trong nền kinh tế thị trường ở Nhật Bản từ 1945 lại nay, Dương Phú Hiệp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999; Phân hóa giàu nghèo ở một số quốc gia khu vực châu Á - Thái bình Dương, Dương Phú Hiệp, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998; Kinh tế thị trường và sự phân hóa giàu nghèo ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, Lê Du Phong - Hoàng Văn Hoa (đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999.... Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhưng trên địa bàn tỉnh Kiên Giang đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề này dưới góc độ khoa học kinh tế chính trị. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Mục đích nghiên cứu: Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phân hóa giàu nghèo của các HND trong nền kinh tế thị trường (KTTT). Từ đó phân tích thực trạng phân hóa giàu nghèo của các HND ở tỉnh KG hiện nay nhằm đề xuất các giải pháp để hạn chế sự phân hóa này. Nhiệm vụ của đề tài này được cụ thể hóa như sau: Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn vấn đề phân hóa giàu nghèo của các HND với tư cách là những đơn vị sản xuất tự chủ trong quá trình phát triển kinh tế thị trường. Phân tích thực trạng và chỉ rõ nguyên nhân của sự phân hóa giàu nghèo của các HND trên các địa bàn của tỉnh KG. Đề xuất quan điểm, phương hướng và các giải pháp để giải quyết vấn đề phân hóa giàu nghèo đối với các HND KG. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Luận văn lấy đối tượng nghiên cứu là các quan hệ kinh tế trong quá trình tái sản xuất của các HND trong nền KTTT. Những quan hệ này là nguyên nhân dẫn tới sự phân hóa, do đó giải quyết vấn đề phân hóa giàu nghèo, thực chất là điều chỉnh các quan hệ kinh tế để phát triển lực lượng sản xuất của HND nghèo. Luận văn đi sâu phân tích các HND nghèo đói, từ đó, đề ra phương hướng và giải pháp về vấn đề này. Phạm vi nghiên cứu: Vấn đề phân hóa giàu nghèo được tiếp cận từ góc độ kinh tế - chính trị. Về thời gian, luận văn nghiên cứu sự phân hóa chủ yếu từ khi thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, khi HND trở thành đơn vị kinh tế tự chủ trong nền sản xuất hàng hóa (từ 1990 đến nay). 5. Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học, trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử; trong quá trình nghiên cứu, luận văn còn sử dụng các phương pháp bổ trợ khác như thống kê điều tra xã hội học, lập bảng biểu, so sánh, phân tích, tổng hợp v.v... 6. Những đóng góp của luận văn Luận văn hệ thống hóa những cơ sở lý luận và thực tiễn của sự phân hóa giàu nghèo của các HND, phân tích thực trạng PHGN HND trên địa bàn tỉnh KG từ khi chuyển sang cơ chế thị trường và chỉ rõ các nguyên nhân đã dẫn tới sự phân hóa đó; trên cơ sở đó, luận văn đề xuất một số phương hướng và giải pháp từ góc độ kinh tế - chính trị nhằm góp phần hạn chế mặt tiêu cực của sự phân hóa giàu nghèo đối với các HND ở địa phương hiện nay. Với những mức độ đó, luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong việc giảng dạy, hoạch định chính sách đối với hộ nông dân ở tỉnh Kiên Giang. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài lời mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương 6 tiết. Ngoài ra, luận văn còn có thêm phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo. Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHÂN HÓA GIÀU NGHÈO HỘ NÔNG DÂN TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ HÀNG HÓA 1.1. PHÁT TRIỂN KINH TẾ HÀNG HÓA TẤT YẾU DẪN ĐẾN SỰ PHÂN HÓA GIÀU NGHÈO CỦA HỘ NÔNG DÂN VỚI TƯ CÁCH LÀ ĐƠN VỊ SẢN XUẤT TỰ CHỦ 1.1.1. Hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân Trong tiếng Việt, hộ là một danh từ được dùng để chỉ gia đình - được coi như một đơn vị xã hội trong các quan hệ với chính quyền, có liên quan đến tài sản, tư liệu lao động, nhân khẩu [38, 385]. Chính vì vậy mà người ta thường gộp chung hộ và gia đình. Tiêu biểu là cách sử dụng thuật ngữ kép "hộ gia đình" trong khẩu ngữ. Tuy vậy, giữa hộ và gia đình có điểm phân biệt. Cụ thể: gia đình là một nhóm người có quan hệ hôn nhân hoặc huyết tộc. Nó cũng là một loại hộ cơ bản và chứa đựng nhiều yếu tố để hình thành hộ. Song điều mà chúng ta chú ý là mối quan hệ giữa các thành viên của hộ không đơn thuần chỉ là huyết thống. Trên thế giới và ở nước ta đã có nhiều quan niệm về hộ. Theo Liên Hợp Quốc (UN), "Hộ là những người cùng chung sống một mái nhà cùng ăn chung và có chung ngân quỹ" [51, 8]. Quan niệm này nhấn mạnh đến các tiêu thức: cơ sở kinh tế và sinh sống. Tiếp cận khái niệm hộ từ góc độ vai trò và đặc thù của hộ, tại Hội thảo quốc tế lần thứ 4 về quản lý nông trại (Hà Lan, 1980), nhiều đại biểu có đồng quan điểm: "Hộ là đơn vị kinh tế cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất tiêu dùng và các loại hoạt động xã hội khác". Hộ trong nông nghiệp, nông thôn chủ yếu là HND, gắn liền với canh tác nông nghiệp. Nhà khoa học Nga, AV.Traianôp (1889- 1939), cho rằng "HND là đơn vị sản xuất rất ổn định", "HND là phương tiện tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển sản xuất nông nghiệp". Còn hai nhà khoa học Mats Lundahl và Thommy Svensson thì nhấn mạnh: "HND là đơn vị sản xuất rất cơ bản" [22, 15]. Từ một số quan niệm tiêu biểu của các nhà khoa học nước ngoài, ta thấy họ cùng chung những quan điểm sau: Hộ là một đơn vị kinh tế - xã hội cơ bản, sự tồn tại của kinh tế hộ là một khách quan, nó có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội. Các nhà khoa học nước ta cũng đã đưa ra nhiều quan niệm về hộ. Có tác giả cho rằng: "Hộ là một nhóm người cùng huyết tộc hay không cùng huyết tộc, cùng chung sống hay không cùng chung trong một mái nhà. Họ có cùng nguồn thu nhập, cùng ăn chung, cùng tiến hành sản xuất chung" [20, 29]. Một tác giả khác nhấn mạnh tới các tiêu thức: "HND là đơn vị kinh tế mà các thành viên của nó sống chung với nhau trong một mái nhà, liên hệ với nhau bởi hôn nhân, huyết thống, có chung thu nhập, trong đó có thu nhập từ nông nghiệp do lao động sử dụng đất đai đem lại. Trong nền kinh tế hàng hóa, HND là một đơn vị kinh tế độc lập - tự chủ... trong mọi loại hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp" [29, 8]. Có tác giả nhấn mạnh đến hoạt động kinh tế cho rằng, "HND là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường". Một tác giả khác xuất phát từ các tổng kết về mặt lịch sử cũng như thực tiễn, lại cho rằng: "Quan điểm coi HND là đơn vị sản xuất tự chủ là hoàn toàn đúng đắn về lý luận cũng như thực tiễn"... [22, 14]. Để có nhận thức đầy đủ về hộ và kinh tế HND ở nước ta hiện nay, cần tìm hiểu những đặc điểm của kinh tế HND ở các nước kinh tế đang phát triển. Chúng tôi đồng tình với quan điểm cho rằng, ngoại trừ một số nước phát triển, các HND ở khu vực các nước đang phát triển "có mức thu nhập thấp nhất so với các nhóm hộ khác trong xã hội" [22, 16]. Các HND là các nhà sản xuất nhỏ, quy mô ruộng đất của nhiều hộ chỉ cho phép sản xuất ra một lượng sản phẩm đủ nuôi sống các thành viên, tỷ trọng nông phẩm là hàng hóa còn thấp. Các HND có số thu lợi nhuận thấp, phần lớn sản phẩm của họ làm ra khi bán ra chỉ vừa đủ để trang trải chi phí sản xuất. Vì vậy mức độ tích lũy để mở rộng sản xuất hầu như không đáng kể. Các HND thường sản xuất độc canh trên diện tích sản xuất nhỏ, thời gian lao động của họ chưa được tận dụng tối đa, không có thu nhập thêm nếu không tạo ra được việc làm tại chỗ. Cơ cấu kinh tế HND khá đa dạng theo nhiều nghề khác nhau. Tổ chức phân công lao động trong hộ có khả năng linh hoạt, vừa chuyên môn lại vừa có khả năng theo hướng kinh doanh tổng hợp. Kinh tế HND có tính ổn định tương đối cao và có khả năng điều chỉnh linh hoạt phương hướng sản xuất theo mùa vụ, ngành nghề cho phù hợp với thời tiết và nhu cầu của xã hội. Mặt khác, tính khép kín chu trình sản xuất (từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ) lại cho phép HND có tính ổn định tương đối trước những diễn biến bất thường của mùa vụ hay thị trường. Tính độc lập của kinh tế HND tương đối cao, quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ bé, vốn liếng hạn hẹp, trình độ sản xuất còn thấp cũng là những nhân tố khiến cho HND gặp nhiều khó khăn trong ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ nên không có khả năng chuyển hướng sản xuất trước những tác động của thiên tai hay biến động của thị trường. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự PHGN của đối tượng HND mà ở các nhóm xã hội khác không có. Gắn với nông nghiệp và nông thôn, kinh tế HND còn mang trong nó nhiều đặc điểm kinh tế - xã hội, văn hóa của cộng đồng nông thôn được hình thành trong lịch sử. Với nhiều quốc gia, trong đó có nước ta, những đặc điểm này vừa mang lại những thuận lợi (chẳng hạn, làng nghề truyền thống, văn hóa truyền thống, những tục lệ tốt đẹp trong kinh doanh...), và cũng gây ra không ít những trở ngại trên con đường phát triển kinh tế hộ (chẳng hạn, tính chất cô lập của phường hội, những hủ tục, quan niệm lạc hậu trong sản xuất...). Từ những ý kiến trên đây và từ thực tiễn có thể rút ra một số kết luận về hộ và kinh tế HND ở nước ta khi chuyển sang nền kinh tế thị trường như sau: Một là, HND và kinh tế HND là hai khái niệm phân biệt, song HND và kinh tế HND có mối quan hệ chặt chẽ, tương hỗ và quy định lẫn nhau. Đặc biệt là trong điều kiện sản xuất hàng hóa hiện nay, nhiều khi sự hình thành HND là bắt nguồn từ nhu cầu phát triển kinh tế và mặt khác, chính hoạt động sản xuất kinh doanh của HND lại làm cho HND phân biệt với các đơn vị sản xuất khác trong một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. HND và kinh tế HND có mối quan hệ chặt chẽ, và trên thực tế, đã có nhiều trường hợp, hai yếu tố này đóng vai trò là tiền đề và điều kiện cho nhau phát triển. Hai là, HND là đơn vị kinh tế xã hội ở nông thôn, có thể sản xuất kinh doanh độc lập hoặc tham gia các hình thức hợp tác liên doanh, liên kết sản xuất nhằm phát triển kinh tế hộ. Hoạt động kinh tế của HND mang tính độc lập, tự chủ trong quá trình sản xuất, có khả năng linh hoạt, cơ động cao trong việc vạch hướng hay chuyển hướng kinh doanh, có thể tự hình thành những cơ cấu sản xuất phù hợp với mùa vụ và nhu cầu của kinh tế thị trường. Tính năng động, tự chủ của HND trong sản xuất có thể ở hai trạng thái: nó có thể là một tác nhân thúc đẩy sự năng động nhằm kịp thời đáp ứng và hòa nhập vào KTTT. Mặt khác, nó cũng có thể "tự chọn" một hướng vận động được coi như một bước lùi trong sản xuất: HND rất có thể tạm bằng lòng với phương thức khép kín tự cung, tự cấp. Với đặc thù đó, HND có thể là một yếu tố quan trọng trong quá trình khai thác những tiềm năng của nông nghiệp, nông thôn để tạo ra sức sản xuất mới góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Ngoài ra, cũng chính từ đặc thù này, HND có thể tiềm tàng một khả năng kìm hãm quá trình vận động phát triển của kinh tế HND từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn. Với quy mô sản xuất thường là nhỏ, vốn cho tái sản xuất mở rộng không nhiều, năng suất lao động thấp, năng lực sản xuất hàng hóa còn thấp, cho nên nhiều HND ít có khả năng cạnh tranh bình đẳng trong nền kinh tế thị trường. Cũng từ đây, nếu không có sự can thiệp của Nhà nước thì sự PHGN sẽ diễn biến theo chiều hướng xấu: chỉ có một thiểu số hộ giàu lên còn đại đa số thì nghèo đi, thậm chí bị bần cùng. Để hạn chế tác động phân hóa dẫn tới sự phá sản một bộ phận lớn HND, đòi hỏi xuất hiện các hình thức kinh tế hợp tác, liên doanh, liên kết để bảo vệ kinh tế HND. Ba là, kinh tế HND bao gồm toàn bộ tư liệu tiêu dùng bảo đảm cuộc sống các thành viên trong gia đình và những tư liệu sản xuất hoặc vốn bằng tiền mà các thành viên trong hộ sử dụng để đem lại thu nhập, trong đó có thu nhập từ hoạt động kinh doanh nông nghiệp. Từ những phân tích trên chúng tôi quan niệm kinh tế HND là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân, sự phát triển hay trì trệ của nó có tính quy định với quá trình PHGN của các HND. Với nhiều quốc gia đang phát triển có nền kinh tế mà nông nghiệp còn đang đóng vai trò lớn trong nền kinh tế quốc dân, "hình ảnh" HND làm ăn phát đạt có thể được xem là hình mẫu tiêu biểu cho quá trình chống những hậu quả tiêu cực của quá trình PHGN trong xã hội 1.1.2. Sự phân hóa giàu nghèo của các hộ nông dân trong phát triển kinh tế hàng hóa 1.1.2.1. Về phân hóa giàu nghèo Để làm rõ PHGN phải bắt đầu từ các khái niệm giàu, nghèo, phân hóa. Theo Từ điển tiếng Việt, giàu là khái niệm dùng để chỉ tình trạng "có nhiều tiền của, có tài sản lớn hơn mức bình thường" [38, 380]; còn nghèo "là tình trạng không có hoặc có rất ít những gì thuộc yêu cầu tối thiểu của đời sống vật chất", là trái với giàu [38, 653]; phân hóa là "chuyển một khối thành các phần đối lập nhau", khác hẳn nhau [38, 633]. Thu nhập, tài sản, vốn liếng và chi tiêu là những yếu tố cấu thành giàu và nghèo của mỗi cá nhân và hộ gia đình. Trong đó, thu nhập là yếu tố quan trọng nhất, bởi vì nó sẽ quyết định mức độ, cơ cấu của tài sản, vốn liếng và chi tiêu. Như vậy, giữa giàu và nghèo tồn tại một khoảng cách chênh lệch về độ lớn của các yếu tố cấu thành theo hướng đối lập nhau giữa cao và thấp, giữa nhiều và ít... Ở các nước TBCN phát triển người ta cho rằng, thu nhập bình quân đầu người của xã hội là đường ranh giới giữa giàu và nghèo. Nếu cá nhân hộ gia đình nào có mức thu nhập cao hơn thu nhập bình quân của xã hội thì được xếp vào lớp giàu, ngược lại thì xếp vào lớp nghèo [21, 25]. PHGN đã được nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau. Nó được coi là một xu hướng vận động xã hội, trong những điều kiện lịch sử nhất định, là một trong những nguyên nhân cơ bản để dẫn tới phân chia giai cấp, là một hệ quả tất yếu do sự tác động của quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng hóa. PHGN là một hiện tượng kinh tế - xã hội xuất hiện trong quá trình tan rã của các công xã nguyên thủy. Trong điều kiện kinh tế tự cung tự cấp PHGN diễn ra trong phạm vi từng cộng đồng với mức độ hạn chế, sự cách biệt chưa lớn. Song trên phạm vi toàn xã hội, PHGN thường gắn liền với bạo lực và với quyền uy. Trong nền sản xuất hàng hóa, sản xuất và đời sống của mỗi cá nhân và hộ gia đình trong xã hội là khác nhau. Điều đó do "sự không ngang nhau về năng khiếu cá nhân" [25, 479], do có sự khác biệt về thể chất, năng lực, điều kiện sản xuất.... Dưới tác động của các quy luật kinh tế, họ tham gia vào quá trình phân công lao động xã hội khác nhau nên có mức thu nhập khác nhau, mức độ giàu nghèo cũng khác nhau. Từ đó, quá trình PHGN đã diễn ra. Như vậy PHGN gắn liền với điều kiện cụ thể về kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi địa phương, dân tộc, quốc gia trong quá trình tồn tại và phát triển. Nó phản ánh một quan hệ bất bình đẳng giữa người với người trong sở hữu tư liệu sản xuất, tham gia vào phân công lao động xã hội, trong phân phối sản phẩm, thu nhập... Vì vậy, PHGN còn là một phạm trù nghiên cứu của môn kinh tế - chính trị. Từ đó có thể định nghĩa PHGN là khái niệm dùng để chỉ hiện tượng kinh tế- xã hội, trong đó diễn ra quá trình chuyển các cá nhân và hộ gia đình thành các tầng lớp khác hẳn nhau theo chuẩn mực giàu nghèo. Phân tầng xã hội và PHGN đã được nhiều tác giả kinh điển mácxít nghiên cứu. Theo C. Mác (1818-1883) cơ sở của vấn đề này là: "Tư liệu sản xuất, hay quyền sở hữu tài sản là nhân tố đóng vai trò quyết định trong phân chia xã hội thành các giai cấp và tầng lớp". Và C.Mác chỉ rõ: "Chính quan hệ chiếm hữu về tư liệu sản xuất là cơ sở, là cái quyết định quan hệ phân phối để từ đó nảy sinh sự khác biệt về thu nhập", dẫn tới PHGN [16, 11]. Cũng từ quan niệm duy vật lịch sử, V.I. Lênin (1870-1924) chỉ ra: "Sự khác nhau về địa vị trong một hệ thống sản xuất xã hội là khác nhau về quyền sở hữu tư liệu sản xuất và về vai trò trong tổ chức lao động cũng như về cách hưởng thụ và chiếm đoạt lao động, đó là những yếu tố chi phối sự phân hóa xã hội" [16, 15]. Về PHGN, nhiều tác giả khác cũng đã đề cập tới vấn đề này. Nhà xã hội học Max Weber (1864-1920) có cách tiếp cận khác khi nghiên cứu cơ sở của sự PHGN. Theo ông: "Phân công lao động xã hội, quyền lực và uy tín của mỗi cá nhân đều có ảnh hưởng tới PHGN". Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, hoàn cảnh giai cấp, địa vị xã hội xét đến cùng, như một nhận xét của ông, cũng là "hoàn cảnh thị trường" [16, 17]. KTTT là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa. Trong KTTT, lợi nhuận là mục tiêu và động lực của hoạt động kinh tế. Nó đòi hỏi mọi chủ thể của các thành phần kinh tế phải tích cực suy nghĩ, tính toán, tổ chức sản xuất kinh doanh sao cho phù hợp với yêu cầu thị trường. Giá cả hàng hóa - dịch vụ trên thị trường là "mệnh lệnh" đối với người sản xuất. Tiếp cận thị trường được hay không là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến "số phận" mỗi cá nhân. Mỗi người đều có sự khác nhau về năng lực thể chất, trí tuệ, đạo đức. Từ đó khả năng thâm nhập "hoàn cảnh thị trường" là khác nhau và dẫn đến thu nhập, tài sản... khác nhau. Nhờ phát huy được nhân tố con người, tận dụng được thành tựu của khoa học công nghệ, mở rộng được thị trường kinh doanh nên KTTT đã tạo ra sự phát triển vượt bậc của lực lượng sản xuất. Dưới sự tác động của các quy luật kinh tế như quy luật giá trị, quy luật cung cầu... chủ thể sản xuất hàng hóa phải tìm mọi cách thức để nâng cao năng suất lao động trong đó áp dụng khoa học kỹ thuật là cốt yếu nhất. KTTT cũng tạo điều kiện, cơ hội cho mỗi con người phát huy năng lực của mình trong sản xuất và đời sống xã hội. Đây cũng được coi là những cơ sở khách quan cho việc giải quyết PHGN. Nhận định về vấn đề này, có tác giả cho rằng: "Sự PHGN là hệ quả tất yếu của nền kinh tế hàng hóa vận hành theo cơ chế thị trường [18, 199]. Song cũng phải nhận thấy rằng trên nền tảng của quan hệ sản xuất tư hữu không thể giải quyết triệt để vấn đề PHGN trong xã hội. Thậm chí trong KTTT, tác động khách quan của các quy luật kinh tế... lại làm tăng thêm sự bất bình đẳng xã hội. Bởi vì KTTT chỉ thừa nhận những nhân tố phù hợp với nó, loại bỏ không thương xót các yếu tố không phù hợp. Do đó, những người tài giỏi hoặc có những ưu thế vượt trội khác thì trở nên giàu có. Ngược lại, nó cũng đẩy những cá nhân và gia đình hộ gia đình không thích ứng được với yêu cầu của thị trường về phía đối lập. PHGN cũng diễn ra với một quy mô lớn hơn, tốc độ nhanh hơn, mức độ giàu, nghèo, độ chênh lệch giữa giàu và nghèo cũng trở nên cách biệt hơn. Nền KTTT tư bản chủ nghĩa (TBCN) cũng đã đặt ra những thách thức, trở ngại to lớn khi giải quyết vấn đề PHGN. Đó là chế độ tư hữu TBCN về tư liệu sản xuất cùng với mặt trái của cơ chế thị trường. Với chế độ tư hữu TBCN về tư liệu sản xuất, người làm chủ điều hành toàn bộ quá trình sản xuất - kinh doanh và phân chia lợi nhuận là nhà tư bản. Đồng thời, nhà nước TBCN cũng là công cụ quyền lực của giai cấp tư sản bênh vực bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản. Mặt trái của cơ chế thị trường như thất nghiệp, chạy theo lợi nhuận một cách mù quáng, ô nhiễm, tàn phá môi trường môi sinh, suy đồi đạo đức truyền thống, thất học, bệnh tật, bất công... lại càng làm cho tình hình PHGN sâu sắc thêm. Có tác giả cho rằng: "Trong nền kinh tế tư nhân TBCN thì phân hóa giàu nghèo là tất yếu", "Kinh tế thị trường TBCN... không giải quyết được phân hóa giàu nghèo" [17, 23]. KTTT có xu hướng làm cho sự PHGN trở nên ngày càng sâư sắc thêm; PHGN được coi là sản phẩm trực tiếp của sự phát triển KTTT. PHGN hiện đang là vấn đề kinh tế - xã hội đối với hầu khắp các nước trên thế giới, đặc biệt là những nước đang phát triển. Cùng với hiện tượng bùng nổ dân số đô thị, toàn cầu hóa kinh tế, PHGN cũng dường như chuyển sang giai đoạn mới. Những biểu hiện mới của nó là: do thay đổi cơ cấu sản xuất nhanh chóng làm cho số người thất nghiệp tăng lên ở cả nông thôn và thành thị; lao động và dân cư dịch chuyển từ nông thôn ra thành thị, từ các vùng điều kiện kinh tế xã hội khó khăn đến vùng đất mới thuận tiện; nạn chặt phá rừng, khai thác cạn kiệt tài nguyên môi trường, những bệnh tật hiểm nghèo... cũng đang gia tăng theo quá trình này. Ở Việt Nam, vấn đề PHGN đã từng diễn ra trong lịch sử nhưng chưa trở thành vấn đề lý luận và thực tiễn nóng bỏng như hiện nay. Những năm trước đổi mới, trong cơ chế quản lý kinh tế tập trung bao cấp, ở nước ta tuy vẫn có sự chênh lệch về thu nhập, tài sản, chi tiêu giữa các cá nhân và hộ gia đình nhưng không lớn. Bởi vì, khi mà "có tới 70% dân số nghèo" [49, 3] ở cả nông thôn và thành thị thì hiện tượng này cũng có thể được coi là kết quả của việc lực lượng sản xuất kém phát triển và chế độ phân phối theo lối "bình quân, cào bằng". Từ khi cả nước tiến hành sự nghiệp đổi mới, một trong những thành tựu nổi bật của công cuộc đổi mới là sự phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Nhờ khai thác giải phóng sức sản xuất của kinh tế HND mà năng suất, sản lượng lương thực liên tục tăng lên. Hơn mười năm qua Việt Nam luôn là nước xuất khẩu gạo có thứ hạng cao trên thế giới. Kinh tế nông nghiệp và nông thôn có những bước phát triển to lớn. Nếu lấy mức tăng giá trị sản lượng nông sản giai đoạn 1976-1980 chỉ đạt 1,7%/ năm, thì giai đoạn 1991-1997 đạt bình quân 4,5%/năm. Sản lượng lương thực năm 1991 là 21,5 triệu tấn. Đến năm 1997 là 30,5 triệu tấn. Năm 1999 giá trị sản xuất nông nghiệp tăng so với năm 1998 là 5,2-5,5%. Sản lượng lương thực ước khoảng 33,8 triệu tấn. Thu nhập của nông dân ngày càng nâng cao. Năm 1995 so với năm 1990 thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn tăng 22,2%, năm 1996 so với năm 1995 là 8,9%. GDP bình quân đầu người năm 1999 cả nông thôn và thành thị tăng 1,7 lần so với năm 1990. Được hưởng thành tựu của công cuộc đổi mới sản xuất và đời sống của nhiều HND được nâng lên rõ rệt. Nhận định tình hình này, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII viết: "Số hộ có thu nhập trung bình và số hộ giàu tăng lên, số hộ nghèo giảm" [48, 59]. Nhiều cơ sở vật chất hạ tầng ở cả nông thôn và thành thị được nâng cấp và xây dựng mới. Cùng với thành tựu khác trong công cuộc đổi mới đã làm cho "lòng tin của nhân dân vào chế độ, vào tiền đồ của đất nước, vào đảng và Nhà nước được nâng lên" [48, 60]. Song cơ chế kinh tế mới cũng bắt đầu làm nảy sinh hiện tượng PHGN với một tốc độ nhanh hơn. Một bộ phận nông dân giàu lên khá nhanh, trong khi đó, một bộ phận nông dân khác do nhiều nguyên nhân, đã nghèo đi. "Cái giàu và cái nghèo là hai cực đã và đang tồn tại ở các vùng nông thôn Việt Nam" [30, 16]. Khoảng cách giàu - nghèo của Việt Nam đã thay đổi trong những năm gần đây: 1994 là 6,48 lần; 1995 là 6,99 lần; 1996 là 7,31 lần và năm 1998 là 11,3 lần. Khoảng cách này ngày càng tăng cả về tốc độ và quy mô ở những địa phương có kinh tế hàng hóa năng động phát triển. Đối với các hộ thuộc nhóm nghèo tốc độ tăng thu nhập chậm hơn so với nhóm giàu. Mức thu nhập của hộ giàu cũng tăng lên. Nếu mức thu nhập bình quân theo đầu người/ tháng, ở hộ giàu năm 1989 là 56.441đ, tương đương 75,4 kg gạo, thì năm 1991 các chỉ tiêu tương ứng là 138.000đ và 81,5 kg gạo. Năm 1992 ở 9 tỉnh trọng điểm là 173.000đ và 8 tỉnh phụ điểm là 227.000đ, tương đương 87,7 kg gạo [6, 49]. Hiện nay, với quy mô hộ trung bình ở nước ta là 4,97 người/hộ, nếu lấy tiêu chí hộ giàu là HND sản xuất giỏi có thu nhập (m) từ 20 triệu đồng năm trở lên [32], thì riêng thu nhập (m) là 335.345đ/người/tháng, tương ứng 95,5 kg gạo. Trong khi đó, mức thu nhập (v + m) của hộ nghèo ở các thời điểm tương ứng là 10,33 kg và 13,2 kg. Giai đoạn 1997-2000 thu nhập của hộ nghèo là 15 kg gạo. "Do vậy, đây cũng là vấn đề đặt ra khi giải quyết xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam" [27, 51]. Trong những khoảng thời gian nhất định, tỷ lệ số hộ giàu và số hộ nghèo mức chênh lệch cũng khá lớn. Năm 1984 số hộ giàu trong nông thôn chiếm tỷ lệ 8,08% số hộ. Năm 1991 tỷ lệ đó là 9,7% và năm 1992 số hộ giàu trong nông thôn chiếm tỷ lệ khoảng 20%, tỷ lệ hộ nghèo 10-25%, tỷ lệ hộ trung bình khoảng 50-60%. Hiện nay, sự chênh lệch giàu - nghèo của các HND nước ta là khá lớn. Nếu so sánh theo tiêu thức: thu nhập bình quân của 20% số hộ nghèo nhất với 20% số hộ giàu nhất thì bội số chênh lệch trung bình là 7 đến 8 lần. Còn nếu so sánh theo tiêu thức thu nhập của hộ giàu nhất và hộ nghèo nhất trong cùng một thời điểm, ở trên cùng một địa phương, như ở Nam Bộ là hàng trăm lần. Chúng ta có thể tham khảo mức chênh lệch về thu nhập giữa các hộ ở nông thôn các vùng trong cả nước ở bảng 1: Bảng 1 So sánh tỷ lệ hộ giàu và hộ nghèo và mức phân tầng trong cả nước Vùng Thu nhập (1.000đ) Tỷ lệ hộ nghèo % Tỷ lệ hộ giàu % Mức phân tầng (lần) Chung cả nước 68-94 12,5-23,1 1,5 5,5 Vùng núi Bắc Bộ 50-71 11,0-31,0 0,8 4,8 Đồng bằng trung du Bắc Bộ 71-93 10,7-17,0 1,3 5,31 Duyên hải Bắc Trung Bộ 60-91 15,2-32,9 2,0 6,42 Tây Nguyên 55-74 14,4-26,5 1,3 7,07 Đông Nam Bộ 80-13,8 18,7-23,7 4,6 7,69 Đồng bằng sông Cửu Long 83,19,3 11,3-17,8 2,7 7,8 Nguồn: Tổng cục Thống kê năm 1996. Trong giai đoạn từ 1990 lại đây, khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa hộ giàu và nghèo vẫn không ngừng tăng lên. Theo công bố của Ban chỉ đạo điều tra mức sống dân cư Trung ương về mức sống hộ gia đình Việt Nam thời kỳ 1997-1998, khoảng cách chênh lệch giàu - nghèo thời kỳ này đã lên tới 11,3 lần. Nhiều tài liệu khác cũng khẳng định xu hướng này [13, 136-138]. Từ những cứ liệu trên, chúng ta có thể nhận xét: PHGN của các HND đã trở nên phổ biến và khá sâu sắc, phản ánh tính hai mặt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn. Về mặt kinh tế, có thể coi mặt tích cực của PHGN là làm biến đổi về chất các yếu tố của lực lượng sản xuất. Nhờ đó các HND đạt được hiệu quả sản xuất - kinh doanh ngày một tăng, kỹ thuật - công nghệ và các tri thức khoa học cũng như kinh nghiệm tổ chức quản lý ngày càng phổ biến, nâng cao. Thu nhập của các hộ ngày càng cao hơn, đời sống vật chất và tinh thần ngày càng được cải thiện. Những dịch vụ về chăm sóc y tế, giáo dục, bảo hiểm xã hội, sử dụng nước sạch mà các HND được hưởng theo hướng đô thị hóa. Điều đó làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội nông thôn, thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa nông thôn và thành thị, phân công lao động ngày càng phát triển; nhiều tiềm năng, lợi thế được khai thác, giải phóng; cơ cấu kinh tế dần dịch chuyển theo hướng hiện đại. Cần lưu ý rằng, ở nông thôn nước ta, HND giàu không phải là do chiếm dụng ruộng đất, bóc lột địa tô mà chủ yếu là do biết cách tổ chức sản xuất, có thuê lao động, thậm chí cả lao động trí tuệ bậc cao như kỹ sư, nhưng "quan hệ chủ - thợ" ở đây là quan hệ "sòng phẳng", bình đẳng theo luật pháp quy định, tạo công ăn việc làm cho người lao động. Bởi vậy, sự tăng số hộ giàu và mức độ giàu trong nông nghiệp, nông thôn là một hiện tượng, về cơ bản có thể coi là tiến bộ, phù hợp với quy luật phát triển của xã hội. HND giàu có thực sự là một nhân tố mới, góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) trong nông nghiệp, nông thôn mà chúng ta cần ủng hộ, nghiên cứu và phổ biến kinh nghiệm. Mặt tiêu cực của PHGN của các HND, làm cho một bộ phận HND mất dần khả năng và cơ hội bình đẳng với các chủ thể khác trên thị trường. Họ không tự vươn lên được theo quỹ đạo của cơ chế thị trường. Vì nhiều lý do khách quan - chủ quan, họ phải cầm cố hết các tư liệu sản xuất, buộc phải đi làm thuê, làm mướn kiếm sống hàng ngày. Bộ phận dân cư này thường gắn với những điều kiện sống tối thiểu: thu nhập thấp, nhà cửa tạm bợ, lụp xụp, con đông, thất học, không điện và nước sạch... Đây cũng là những đối tượng thường xuyên phải cứu trợ giúp đỡ của cộng đồng và xã hội. Rõ ràng, nghèo đói, lạc hậu trong nông nghiệp, nông thôn đang là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp CNH, HĐH cũng như quá trình hội nhập với khu vực và quốc tế. Mặt khác, cũng phải thừa nhận rằng việc xuất hiện ngày càng nhiều hộ giàu, người giàu bằng các hoạt động phi pháp thì công bằng xã hội, lành mạnh xã hội cũng là những vấn đề nhức nhối. Không ít tiêu cực gắn với hộ giàu, cách làm giàu như buôn lậu, ăn cắp, cho vay nặng lãi, coi thường người nghèo v.v... Còn hộ nghèo thì bất lực, an phận, buông xuôi, trông chờ, thậm chí còn sa vào rượu chè, cờ bạc và các tệ nạn xã hội khác. Nổi bật là những hệ quả xã hội: "phân hóa giàu nghèo tạo nên sự bất c._.ông bằng xã hội dẫn đến sự tha hóa con người, môi trường sinh thái mất cân bằng..." [35, 296]. Như vậy, PHGN của các HND nước ta là hiện tượng kinh tế-xã hội trong đó diễn ra quá trình chuyển các HND thành các tầng lớp khác hẳn nhau theo chuẩn mực giàu nghèo. Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên đây có thể rút ra một số kết luận: Thứ nhất: PHGN là một hệ quả tất yếu của sự phát triển kinh tế thị trường. PHGN có liên quan đến tính giai đoạn của KTTT và thay đổi các hình thức tổ chức kinh tế như: kinh tế hộ, kinh tế cổ phần, kinh tế tư bản tư nhân. Thực tế cho thấy từ thể chế kinh tế cũ sang thể chế kinh tế mới, từ kinh tế thị trường sơ khai sang kinh tế thị trường hoàn thiện, cứ sau mỗi bước chuyển như thế, PHGN diễn ra với các mức độ khác nhau. Điều tương tự cũng diễn ra khi từ kinh tế HND cá thể sang kinh tế hợp tác kiểu cũ, rồi sang kinh tế HND tự chủ, kinh tế HND trong các hình thức hợp tác mới... Chính các giai đoạn phát triển của KTTT vừa đặt ra những vấn đề mới, vừa tạo ra những tiền đề cho việc giải quyết vấn đề PHGN. Thứ hai: Sự tác động của các nhân tố kinh tế - chính trị - xã hội là nguyên nhân dẫn đến PHGN. Bởi vậy, chính sách kinh tế xã hội của mỗi quốc gia là một tác nhân tích cực trong việc khắc phục những hạn chế của PHGN. Phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN là yếu tố có tính đặc thù của quá trình phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam và là tiền đề kinh tế - chính trị - xã hội rất quan trọng cho việc giải quyết vấn đề PHGN của HND nước ta. Thứ ba: Sự khác biệt về năng lực thể chất trí lực, điều kiện hoàn cảnh kinh tế xã hội của mỗi cá nhân hộ gia đình trong xã hội là rất khác nhau. Cho nên, sự thích nghi và không thích nghi, thành đạt và không thành đạt, cơ hội và thách thức... không chia đều cho tất cả mọi cá nhân và hộ gia đình. Từ đó, giải quyết vấn đề PHGN chủ yếu là tạo cơ hội thích nghi với cơ chế thị trường cho bộ phận dân cư chưa thành đạt. 1.1.2.2. Tiêu chí phân loại giàu nghèo Hiện chưa có một tiêu chí riêng để đánh giá giàu - nghèo của các HND. Các tiêu chí thường thấy là để dùng cho các đối tượng xã hội như cá nhân và hộ gia đình nói chung. Bởi vậy khi đánh giá vấn đề này, chúng tôi sử dụng tiêu chí chung ấy và, sẽ có một số điều chỉnh, bổ sung. Trong phần đầu, chúng tôi đã trình bày khái niệm giàu nghèo chủ yếu dưới góc độ định tính. Ở đây ta phải làm rõ cả phần định lượng nữa. Tuy nhiên, giàu - nghèo là những khái niệm mang tính chất tương đối. Bởi vậy, việc xác định mức độ giàu - nghèo và ranh giới giữa chúng trở nên khó thống nhất giữa các vùng và các quốc gia trên thế giới. Ngay mỗi quốc gia chuẩn mực này trong từng thời điểm, từng vùng cũng khác nhau. Liên Hợp Quốc đã đề ra không những chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội (GDP) mà còn phải đề ra cả chỉ số phát triển con người (HDI) để đánh giá mức độ giàu - nghèo. Thông thường người ta sử dụng các tiêu chí để đánh giá giàu nghèo như: thu nhập, nhà ở, tiện nghi sinh hoạt gia đình, chi tiêu, hưởng thụ văn hóa... Nhưng tiêu chí thu nhập về kinh tế (thông qua v + m) và nhà ở cùng các tiện nghi sinh hoạt được xem là quan trọng nhất. Hai tiêu chí này phản ánh trực tiếp mức sống của các cá nhân và hộ gia đình. Ngoài ra, còn có tiêu chí tư liệu sản xuất và vốn liếng để dành cũng có ý nghĩa không nhỏ. Như đã phân tích ở trên, thường những cá nhân và hộ gia đình rơi vào hoàn cảnh nghèo đói chẳng hạn, thì thu nhập hết sức ít ỏi, nhà ở tạm bợ, nghèo nàn cũ kỹ, tư liệu sản xuất và vốn liếng hầu như không có gì. Nhưng với hộ giàu thì những tiêu chí đó có sự cách biệt ngược lại tương ứng rất rõ nét. Để có đơn vị thống nhất, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội nước ta đã quy định lấy mức thu nhập bình quân đầu người/tháng được quy ra gạo và tiền tương ứng... thu nhập bằng tiền quy ra gạo là dựa trên cơ sở mức chi tiêu lương thực, thực phẩm bảo đảm khẩu phần ăn duy trì nhiệt lượng tiêu dùng cho một người, một ngày là 2.100 calo. Căn cứ vào thu nhập, có thể chia các HND thành các mức độ tương ứng với các khái niệm: nghèo tương đối; nghèo tuyệt đối; thiếu đói; đói gay gắt; trung lưu; giàu... [26, 7]. Sự phân loại giàu nghèo ở nông thôn Việt Nam trong cải cách ruộng đất trước đây thường căn cứ vào số ruộng đất, trâu bò, tư liệu sản xuất. Do đó, "xét về cơ cấu sản xuất thì trong giai cấp nông dân có các tầng lớp phú nông, trung nông, bần nông, cố nông" [1, 187] là phù hợp. Trong điều kiện chuyển sang nền KTTT thì tiêu chí thu nhập bằng tiền đang nổi lên để xác định chuẩn mực; chẳng hạn: "Thu nhập bình quân đầu người/tháng ở các loại hộ" năm 1993 được phản ánh trong bảng 2. Bảng 2 So sánh các loại hộ theo địa bàn Loại hộ Nông thôn Thành thị 1. Hộ nghèo, trong đó: Dưới: 50.000đ Dưới: 70.000đ Hộ rất nghèo Dưới: 30.000đ Dưới: 50.000đ 2. Hộ dưới trung bình 50-70.000đ 70-100.000đ 3. Hộ trung bình 70-125.000đ 100-175.000đ 4. Hộ trên trung bình 125-150.000 150-190.000đ 5. Hộ giàu, trong đó Trên 250.000đ Trên: 300.000đ Rất giàu Trên 350.000đ Trên: 400.000đ Nguồn: Điều tra tình trạng giàu nghèo ở Việt Nam năm 1997. Tổng cục Thống kê, tháng 8/1994. Tùy theo sự phát triển kinh tế, xã hội mà tiêu chí có sự thay đổi. Theo Thông báo số: 1175/LĐ-TBXH, ngày 20 tháng 5 năm 1997 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội về việc xác định chuẩn mực hộ nghèo năm 1997-1998 và áp dụng cho đến năm 2000 thì các chuẩn mực thu nhập bình quân đầu người/tháng cụ thể như bảng 3 (phụ lục) Như vậy tiêu chí thu nhập ở các loại hộ được nâng dần lên. Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu và các chuẩn mực chung, chúng tôi đồng tình với phương pháp phân chia các HND thành ba loại hộ với các tiêu chí cụ thể như sau: [39] Hộ nghèo: Bao gồm cả những hộ dưới trung bình, nghèo, nghèo khó với thu nhập bình quân đầu người dưới 180.000đ/tháng (tương đương với các hộ loại 8, 9, 10 - theo cách phân định của UBND tỉnh KG) [40]. Đây là những hộ có thu nhập khoảng dưới 2.000.000đ/người/năm và có các điều kiện kinh tế tài sản như: nhà ở, phương tiện đi lại, sinh hoạt thuộc nhóm I (nhóm có số phương tiện đi lại thô sơ từ 0¸1, số phương tiện sinh hoạt phổ biến từ 0¸1, nhà ở: cột chôn chân, vách lá, mái lá, nhà kê có giá trị thấp...). Mức thu nhập 180.000đ/người/tháng có thể xem đây là đường ranh giới nghèo (Poverty line) của KG, áp dụng cho giai đoạn từ 1997-2000. Hộ khá giả và trung bình: Gọi chung là hộ trung bình, bao gồm cả những loại hộ 4-5-6-7 với thu nhập bình quân từ 2.000.000đ-5.000.000đ/người/năm và các điều kiện như trên thuộc nhóm II (có phương tiện đi lại từ 2-3 loại phương tiện phổ thông, có từ 3-5 loại phương tiện sinh hoạt, nhà "kê" (nhà có nền móng tốt) giá trị cao, nhà cấp 4. Hộ giàu: Bao gồm cả những hộ rất giàu, triệu phú, tức những hộ loại 1-2-3. Với thu nhập bình quân đầu người năm khoảng 5.000.000đ trở lên và các điều kiện như trên thuộc nhóm III (có từ 4 loại phương tiện đi lại trở lên; có từ 6 loại phương tiện sinh hoạt trở lên; nhà ở kiên cố, có lầu (tầng), biệt thự. Cũng có thể tham khảo thêm một số tiêu chí khác để nhận diện rõ hơn PHGN của nông dân KG. Chẳng hạn, xét về thu nhập, HND đạt danh hiệu sản xuất giỏi theo quy định của Bộ và của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn KG giai đoạn 1997-2000 có thể xem là hộ giàu với thu nhập sau khi trừ chi phí sản xuất, từ 20 triệu đồng/năm trở lên [32]. Nếu so sánh với mức tăng GDP bình quân đầu người từ đầu thập kỷ 90 lại đây và giữa các địa phương trong cả nước thì tiêu chí này cũng tương đương như cách đánh giá của một số tác giả khác [37]. Có thể nhận định rằng, nếu đối tượng HND nghèo được phân tích khảo sát tương đối kỹ cả về định tính và định lượng, thì với những hộ giàu, vấn đề giàu ở nước ta chưa thật được rõ, vì còn thiếu nhiều dữ kiện, số liệu chính thức. Một lý do khiến các cuộc điều tra về hộ giàu ở ta chưa chính xác vì chưa có hình thức, biện pháp, cơ chế về kê khai tài sản, thu thập của các cá nhân và HND. Để xác định mức độ PHGN, người ta thường sử dụng hai phương pháp. Một là, xác định tỷ lệ phần trăm của các loại hộ giàu - nghèo trong tổng số hộ khảo sát theo những tiêu chí cụ thể của mỗi thời kỳ để đánh giá xu hướng diễn biến của sự PHGN. Hai là, để đo sự chênh lệch giàu - nghèo trong xã hội thì tiêu chí thường được sử dụng là thu nhập bình quân của 20% tổng số hộ có thu nhập thấp nhất so sánh với thu nhập bình quân của 20% số hộ có thu nhập cao nhất. Từ đó, có bội số thu nhập trung bình giữa hai nhóm. Bội số chênh lệch càng lớn thì khoảng cách giàu - nghèo càng tăng. Với tỷ lệ này thì hệ số chênh lệch giàu nghèo có giá trị phổ biến cho các loại hộ cũng như cho các địa phương, cộng đồng. Nếu chỉ lấy thu nhập bình quân của 5% số hộ giàu nhất với thu nhập bình quân của 5% số hộ nghèo nhất, thì tính đại diện, phổ biến thấp hơn. Còn nếu lấy thu nhập của hộ giàu nhất chia cho thu nhập của hộ mức nghèo nhất thì hệ số chênh lệch đó nó chỉ mang ý nghĩa so sánh hình thức mà thôi. 1.1.2.3. Nguyên nhân của sự phân hóa giàu nghèo của HND Xác định nguyên nhân của PHGN cũng chính là xác định nguyên nhân cơ bản của tình trạng giàu - nghèo của các HND. Vấn đề ở đây cũng chính là việc tìm và trả lời cho câu hỏi vì sao nghèo, vì sao giàu? Vì sao các HND lâm vào nghèo đói ? Những nguyên nhân của PHGN theo một số công trình nghiên cứu, có thể do những tác động sau: do bản thân người nghèo, hộ nghèo; do điều kiện tự nhiên và môi trường và do thể chế, chính sách lạc hậu. Các công trình đều nhất trí rằng, nghèo đói của các HND do một phức hệ các nguyên nhân kinh tế và xã hội, khách quan và chủ quan. Thực tiễn ở nông thôn nhiều địa phương trong cả nước cho thấy, HND nghèo chủ yếu là những hộ thuần nông, không có nghề phụ, ở những địa bàn khó khăn về vị trí địa lý, đất đai thổ nhưỡng cằn cỗi chật hẹp, phèn mặn, khí hậu khắc nghiệt... Mặt khác, trong nhiều trường hợp HND trở thành người nghèo, hộ nghèo còn do thiên tai, bệnh tật thất thường, hoặc do việc điều chỉnh đất đai bất hợp lý. Như vậy, để xác định nguyên nhân của vấn đề này, cần xác định theo các nhóm sau: Nhóm 1: Là những nguyên nhân từ bản thân các cá nhân và HND, phổ biến là: "Thiếu hoặc không có vốn; đông con, ít lao động; không đủ năng lực tổ chức sản xuất - kinh doanh, yếu kém kỹ thuật thâm canh..; chi tiêu không kế hoạch, lãng phí, lười biếng, rượu chè, cờ bạc..." [14, 84]. Có tác giả còn xếp vào nhóm này nguyên nhân: trình độ văn hóa thấp [50, 44]; phong tục tập quán lạc hậu [19]; nhóm này cho thấy: nghèo đói là do những nguyên nhân chủ quan. Nhóm 2: Phản ánh những nguyên nhân khách quan - là những nguyên nhân được xét từ những điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội chưa thuận lợi cho quá trình sản xuất và đời sống của HND. Chẳng hạn, về nguyên nhân tự nhiên, có thể liệt kê như sau: Đất canh tác ít; đất cằn cỗi, sỏi đá, phèn mặn, vị trí xa xôi hẻo lánh; thời tiết khí hậu không thuận lợi cho sản xuất, canh tác; giao thông vận chuyển khó khăn... Những nguyên nhân xã hội là những nguyên nhân liên quan đến chính sách cơ chế của Nhà nước và tác động của cộng đồng đối với hộ nghèo và vấn đề nghèo đói. Ví dụ, chính quyền trung ương, địa phương chưa xây dựng cơ sở hạ tầng: điện, đường, trường, trạm; chưa có chính sách điều chỉnh ruộng đất hợp lý; do thiếu thị trường, giá cả thị trường không ổn định, giá nông sản thấp khó tiêu thụ, bị ép cấp, ép giá, giá vật tư phân bón cao; chưa có biện pháp hành chính, giáo dục thích đáng để hạn chế các tệ nạn xã hội;... [31, 219]. Nhóm 3: Là nhóm các hộ nghèo đói do các nguyên nhân kết hợp. Các nhóm 1, 2 nêu trên là những nguyên nhân trực tiếp có tính chất chủ quan và khách quan, kết hợp lại tạo thành ba dạng nguyên nhân gây nghèo đói. Chẳng hạn: Vì mắc các tệ nạn xã hội; thiếu ruộng đất, do bị thu hồi điều chỉnh bớt ruộng đất; do không biết làm gì khác ngoài nghề nông... Gần đây, chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo giai đoạn 1998 - 2000 đã xác định những nguyên nhân chính và phân thành ba nhóm: * Nhóm nguyên nhân do điều kiện tự nhiên không thuận lợi: khí hậu khắc nghiệt, thiên tai, bão lụt, hạn hán, sâu bệnh, đất đai cằn cỗi, địa hình phức tạp, giao thông khó khăn đã và đang kìm hãm sản xuất, gây ra tình trạng nghèo đói. * Nhóm nguyên nhân do chủ quan của người nghèo: thiếu vốn, đông con, thiếu lao động, không có việc làm, thiếu kiến thức làm ăn, mắc các tệ nạn xã hội hay lười lao động. * Nhóm nguyên nhân thuộc về cơ chế chính sách: thiếu hoặc không đồng bộ về chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu vực khó khăn, chính sách khuyến khích sản xuất, vốn tín dụng, hướng dẫn cách làm ăn, khuyến nông, lâm, ngư, chính sách giáo dục đào tạo, y tế, giải quyết đất đai, định canh định cư, kinh tế mới và nguồn lực đầu tư còn hạn chế... [8, 7]. Đây là những nguyên nhân mang tính tổng hợp phổ quát cho mọi địa phương, mọi tầng lớp xã hội, dĩ nhiên với mỗi đối tượng cụ thể, có thể có một nguyên nhân đóng vai trò chủ đạo. Vì sao có những HND trở nên giàu có ? Qua khảo sát nghiên cứu, có thể thấy được những nguyên nhân cơ bản làm cho nhiều hộ giàu lên như sau: - Do thích ứng nhanh với cơ chế mới trong sản xuất - kinh doanh, những cá nhân và HND biết tính toán, tổ chức điều hành, làm ăn đạt hiệu quả kinh tế cao. Họ không chỉ làm nông nghiệp mà còn biết làm nhiều nghề khác nữa như buôn bán, dịch vụ, làm quản lý... Thu nhập từ đó không những đủ trang trải chi dùng thường ngày trong gia đình, mà còn dùng để mua sắm tài sản, mở rộng sản xuất và tích lũy. - Do họ gặp được cơ hội, tranh thủ được thời cơ, thuận đạt, may mắn trong sản xuất và cuộc sống, hoặc vốn dĩ gia đình thân nhân có điểm xuất phát đã khá giả. - Cũng có một bộ phận nhỏ các HND giàu lên nhờ có người thân sống và làm việc ở nước ngoài thường tài trợ. Nhờ đó mà họ có thêm điều kiện cho sản xuất kinh doanh và tăng thêm thu nhập. Tóm lại, quy mô, tốc độ cũng như động thái của sự PHGN giữa các HND do nhiều nguyên nhân, chịu sự chi phối tác động của nhiều nhân tố khác nhau, có thể xếp vào hai nhóm nhân tố chính sau đây: * Nhóm nhân tố tự nhiên và xã hội. Đó là những nhân tố thuộc về môi trường, và các điều kiện sinh tồn gắn với từng cá nhân và hộ gia đình trong những thời điểm lịch sử nhất định. Theo đó, PHGN là tự nhiên, khó thay đổi vì tính nhẫn nhục, cam chịu của các HND, như thói quen tập tục của cộng đồng" [22, 34]. * Nhóm nhân tố về chính trị - xã hội: Cơ chế chính sách là những nhân tố, những công cụ tác động của thượng tầng kiến trúc đến hạ tầng cơ sở. Đó là mục tiêu chính trị của giai cấp cầm quyền, quan điểm nhận thức, phương thức, phương pháp giải quyết, xử lý vấn đề công bằng xã hội của hệ thống chính trị. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) của Đảng ta đã đề ra trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế, xã hội coi mục tiêu cao nhất là vì con người và do con người, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh. Chính những điều này thể hiện và quán triệt trong mọi văn kiện chỉ đạo và thực hiện của Đảng và chính quyền các cấp. PHGN của các HND cũng như với các đối tượng khác trong xã hội nước ta chịu tác động, chi phối của nhân tố này cả về quy mô, mức độ, xu hướng. 1.2. PHÂN HÓA GIÀU NGHÈO CỦA HỘ NÔNG DÂN VÀ KINH NGHIỆM GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ NÀY Ở MỘT SỐ NƯỚC TRONG KHU VỰC 1.2.1. Phân hóa giàu nghèo hộ nông dân ở Trung Quốc Khi nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời, một trong những mục tiêu mà Đảng Cộng sản Trung Quốc xác định là xóa bỏ nghèo đói, tiêu diệt áp bức bóc lột, đem lại hạnh phúc no ấm cho nhân dân. Tuy nhiên, cho đến đầu những năm 70 của thế kỷ XX mục tiêu đó cũng chưa đạt được. Đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn. Cuối năm 1978 từ công cuộc cải cách do Đảng cộng sản khởi xướng, Trung Quốc sửa chữa được những sai lầm, từng bước xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Kể từ Đại hội lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Trung Quốc (1992) Trung Quốc chính thức khẳng định mục tiêu cải cách theo cơ chế KTTT XHCN. Nhờ vậy Trung Quốc đã giải phóng được tiềm năng kinh tế xã hội, thúc đẩy tốc độ tăng trưởng mau chóng, vượt qua khủng hoảng và đạt bước phát triển thần kỳ liên tục trong nhiều năm gần đây. Cuộc cải cách và mở cửa ở nông thôn đã "cởi trói" cho hàng triệu HND, tạo ra một động lực hết sức mạnh mẽ trong phát triển kinh tế xã hội ở Trung Quốc. Nếu sản lượng lương thực năm 1978 là 300 triệu tấn thì đến năm 1995 là 465 triệu tấn, năm 1997 là 492,5 triệu tấn. Sản lượng thủy sản thời gian tương ứng trên cũng đã tăng từ 4 triệu tấn lên 28 triệu tấn. Nông dân đã làm ra một khối lượng của cải to lớn và ngày càng tăng. Thu nhập của họ theo đó cũng được nâng lên. Song bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì hiện tượng PHGN trong xã hội cũng đã diễn ra, đó là sự chênh lệch về thu nhập ngày càng tăng giữa thành thị và nông thôn: Từ 1983 đến nay thì mức độ chênh lệch thu nhập giữa nông thôn và thành thị lại mở rộng theo xu hướng chung ngày càng lớn. Năm 1983 là 1,69 lần, năm 1990 là 2,02 lần và 1997 là 2,47 lần, giữa các vùng kinh tế khu vực, giữa các ngành nghề và giữa các cá nhân trong xã hội cũng xuất hiện những vấn đề tương tự...[16, 46]. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến phân hóa về thu nhập giữa nông thôn và thành thị là do tăng năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh giữa các ngành nghề trong nông nghiệp không thể bằng trong công nghiệp hoặc dịch vụ. Có những nguyên nhân do thể chế chính sách gây ra như tiến trình cải cách không đồng đều giữa nông thôn và thành thị. Nếu trước 1985, Trung Quốc chú ý tập trung thực hiện trong khu vực nông nghiệp, nông thôn thì sau đó lại tập trung ở thành thị hướng vào công nghiệp. Khi xem xét sự chênh lệch giàu nghèo, giữa các cá nhân và hộ gia đình ở Trung Quốc, theo tờ "Cải cách Trung Quốc" số 1-1988 thì có trên 1000 "tỉ phú", 3 triệu "triệu phú", đồng thời cũng còn 58 triệu người nghèo khổ. Năm 1996, điều tra ở một huyện điểm, thì trong số 441 hộ, số giàu nhất có 8 hộ, thu nhập thuần của mỗi người đạt 18.309 nhân dân tệ (NDT). Trong khi đó nghèo nhất là 89 hộ thì thu nhập thuần của mỗi người là 385 NDT. Chênh lệch về thu nhập đầu người là 46,6 lần, về hộ là 48,8 lần [16, 58]. PHGN trong xã hội ngày càng trở thành vấn đề nhức nhối, bức xúc. Vấn đề là ở chỗ công nhân và nông dân trước đây là chỗ dựa vững chắc của cách mạng thì nay trở thành những tầng lớp nghèo khổ nhất. Do đó, họ có thái độ phản ứng không chấp nhận tình trạng chênh lệch quá đáng về thu nhập. Tỷ lệ chênh lệch ở công nhân là 47,51% và ở nông dân là 41,13% [16, 62]. Ở một số vùng nông thôn đã nổ ra các cuộc biểu tình, manh động. Các phần tử quá khích nêu khẩu hiệu "Sát phú tế bần" kích động nông dân. Xung đột xã hội có nguy cơ bộc phát. Trước quá trình PHGN như vậy, thái độ của xã hội là rất khác nhau. Từ chỗ nghèo nàn, đói khổ những năm 1960-1970, sản xuất và đời sống vụt biến đổi trong một thời gian ngắn. Thay đổi về thu nhập và mức sống quá nhanh khiến không ít người rơi vào tình trạng tâm lý mất cân bằng, nghi ngờ, phẫn uất, bất mãn. Mặc dù mức sống được nâng cao phổ biến, nhưng đa số vẫn cho rằng mình là người nghèo, nghèo đi tương đối. Có tới 15,11% số người được hỏi tỏ ý không thể chấp nhận sự chênh lệch này, 26,84% cho rằng khó chấp nhận. Có 41,95% số người có thái độ phản ứng, không muốn có sự PHGN. Như vậy, cũng có nghĩa từ trong thể chế kinh tế cũ sang thể chế kinh tế mới - đa số các tầng lớp dân cư trong xã hội vẫn mong muốn rằng tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với công bằng và tiến bộ xã hội. Đảng Cộng sản và Nhà nước Trung Quốc sớm quan tâm chú ý đến vấn đề phân hóa nói trên và đã có nhiều chủ trương, biện pháp để khắc phục. Về chủ trương, kế hoạch, Trung Quốc đề ra chính sách chống nghèo đói mang tên "chênh lệch 8-7", tức là trong vòng 7 năm từ 1994, giải quyết nạn nghèo khổ cho 80 triệu người. Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc tháng 9.1996 đã chỉ rõ: Dù nhiệm vụ gian khổ như thế nào, thì mục tiêu đến thế kỷ này phải giải quyết vấn đề ăn no, mặc ấm cho những người nghèo khổ ở nông thôn nước ta cũng không được thay đổi [16, 63]. Kinh nghiệm của Trung Quốc là: huy động vốn từ nhiều nguồn, từ nhiều hình thức, biện pháp để xóa đói giảm nghèo. Có phân cấp, phân nhiệm rõ ràng, quản lý kiểm tra nghiêm khắc việc thực hiện. Một mặt, Nhà nước tăng cường xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng cho những vùng nghèo. Mặt khác, có chính sách điều phối, phân bổ nguồn lực hợp lý giữa các vùng để thúc đẩy sự phát triển công bằng. Đồng thời tìm ra hướng giải quyết căn bản vấn đề bằng cách vừa "tiếp máu" vừa "tạo ra máu mới" tại các địa phương trọng điểm [16, 65]. 1.2.2. Phân hóa giàu nghèo hộ nông dân ở Malaixia Malaixia là một quốc gia đa sắc tộc ở khu vực Đông Nam Á, với dân số 8,8 triệu người (1970) trong đó người Mã Lai chiếm 50%, người Hoa chiếm 36% và người Ấn Độ chiếm 11%. Năm 1957, sau khi giành được độc lập, Malaixia có một nền nông nghiệp lạc hậu, gồm 13 bang, chia thành hai miền Đông và Tây. Thị trường trong nước nhỏ bé và nền kinh tế phụ thuộc nặng nề vào nước ngoài. Khác với nhiều nước trong khu vực sau khi giành được độc lập dân tộc thường phát triển kinh tế bằng con đường công nghiệp, Malaixia đã tập trung phát triển nông nghiệp và nông thôn, đồng thời phát triển công nghiệp. Do điều kiện tự nhiên nên Malaixia đã tập trung phát triển cây cọ và cây cao su làm cây trồng chủ đạo để xuất khẩu. Bên cạnh đó công nghiệp cũng được chú trọng phát triển để thay thế hàng nhập khẩu và từng bước hướng ngoại. Kết quả là thời kỳ 1957-1970 ngành nông nghiệp đạt 102,5% kế hoạch, còn công nghiệp đạt 167,2% kế hoạch, trong đó xuất khẩu sản phẩm cao su chiếm tới một nửa giá trị xuất khẩu. Tuy vậy nông nghiệp vẫn đóng vai trò chủ chốt trong nền kinh tế quốc dân, chiếm tới 30,78% GDP và công nghiệp chiếm tỷ trọng 12,21% GDP [36, 145]. Ngay từ giai đoạn này, bức tranh về PHGN trong xã hội Malaixia đã phong phú đa dạng. Tình trạng nghèo khổ là hiện tượng phổ biến ở mọi địa phương trong cả nước. Sự bất bình đẳng về thu nhập kinh tế đã dẫn tới sự bất ổn định của xã hội ở giai đoạn này mà tiêu biểu là những va chạm sắc tộc sâu sắc ngày 13/5/1969 để lại những hậu quả nặng nề về chính trị xã hội của đất nước. Giai đoạn từ 1970-1990 là giai đoạn nền kinh tế của Malaixia có sự thay đổi cơ cấu kinh tế mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu, lấy xuất khẩu làm động lực chính để phát triển nông nghiệp và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó, các kế hoạch, chính sách của Nhà nước cũng hướng vào giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế. Kết quả, đây là giai đoạn Malaixia đạt tốc độ tăng trưởng cao và trở thành một nền kinh tế mạnh trong khu vực. Bình quân thu nhập đầu người từ 390 M$ (1970) đã lên tới 2.700 M$ (1990), gấp 7 lần trong vòng 20 năm. Nghèo đói đã giảm một cách đáng kể, tuy nhiên PHGN vẫn còn ở nhiều vùng. Chẳng hạn khi các bang như Kuala lumpur, Fereugganu thu nhập bình quân đầu người tăng 10 lần thì các bang Perak, Pahang, Kelantan chỉ tăng có 3 đến 3,5 lần [36, 150]. Giai đoạn từ 1991 lại nay, Chính phủ Malaixia đưa ra chiến lược phát triển kinh tế nhằm trở thành nước công nghiệp phát triển vào năm 2020. Kết quả 5 năm đầu thực hiện chiến lược "Tầm nhìn năm 2020" tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 8,6%/năm. Sự thành công này đã nâng cao được tính hiệu quả, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, tự do hóa hơn nữa trong môi trường đầu tư, thị trường vốn; ổn định và tạo lập sự thống nhất và công bằng hơn về xã hội. Nhờ thực hiện đồng bộ chính sách phát triển kinh tế - xã hội như trên - Malaixia đã đạt được những thành tựu to lớn - GDP bình quân đầu người đạt 4022 USD (1995), tỷ lệ thất nghiệp giảm còn 2,8% (1995). Tỷ trọng của nông nghiệp giảm còn 15% GDP và vẫn đạt tốc độ tăng trưởng bình quân/năm giai đoạn này là 3,5%. Malaixia đã trở thành nước có nền công nghiệp kỹ thuật cao, nông nghiệp phát triển trong khu vực. Là một quốc gia đa sắc tộc, nhìn lại quá trình phát triển bốn thập niên qua dễ nhận thấy Nhà nước Malaixia rất chú trọng đến việc giải quyết công bằng xã hội. Đặc biệt có những biện pháp mạnh như cấu trúc lại dân cư theo sắc tộc, để từ đó có chủ trương chính sách xóa đói giảm nghèo hợp lý. Chú trọng phát triển nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt là những giống cây trồng để xuất khẩu. Từ năm 1986, Chính phủ đẩy mạnh chương trình đô thị hóa nông thôn nhằm tạo ra các trung tâm tăng trưởng ở nông thôn. Chương trình này tạo ra "hiệu ứng lan tỏa" [36, 163] góp phần to lớn vào việc xóa đói giảm nghèo của nông dân. Để xóa đói giảm nghèo, tăng trưởng và phát triển kinh tế, Chính phủ Malaixia rất chú trọng lĩnh vực giáo dục đào tạo để phát huy nguồn nhân lực. Kinh nghiệm có thể tóm tắt ở những điểm chính sau: Thứ nhất, kết hợp tăng trưởng kinh tế nhanh với phân phối thu nhập công bằng. Thứ hai, chú trọng phát triển nông nghiệp, coi phát triển nông nghiệp là khâu đột phá, là điểm đầu cầu để công nghiệp hóa, hiện đại hóa và giải quyết các vấn đề xã hội khác. Thứ ba, coi giáo dục là nền tảng để tiến hành phân phối thu nhập bình đẳng. 1.2.3. Quá trình phân hóa giàu nghèo của các hộ nông dân Thái Lan Đầu những năm 50, nền kinh tế Thái Lan sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng khoảng 45%trong cơ cấu GDP. Lúc bấy giờ 85% dân cư Thái Lan sống và làm việc ở nông thôn với thu nhập thấp như nhau. Chênh lệch về thu nhập giữa thành thị và nông thôn chưa cách biệt lắm. Năm 1954 thu nhập lương trung bình của một lao động ở Thủ đô Bangkok là 137 baht thì ở vùng Đông Bắc Thái Lan (nơi xa xôi khó khăn nhất) là 109 baht. Nhờ quỹ đất đai khá phong phú nên vấn đề bất bình đẳng về thu nhập, xung đột xã hội tuy có nhưng không gay gắt như ở các quốc gia khác. Vào giai đoạn có cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam, nhờ việc quân đội Mỹ đã xây cất nhiều công trình hạ tầng cho việc đồn trú, đã tạo ra cơ hội việc làm, cải thiện thu nhập cho thành phố Bangkok và các vùng phụ cận. Do đó tạo ra một cách biệt về sự phát triển giữa thủ đô và các vùng còn lại của đất nước, nhất là Đông Bắc. Nông dân ở vùng Trung và Nam Thái Lan có điều kiện tự nhiên khí hậu thuận lợi cho việc canh tác nông nghiệp, lại được sự hỗ trợ của Nhà nước nên đã tận dụng được lợi thế này. Sản xuất nông nghiệp của Thái Lan nhờ đó phát triển mạnh mẽ, đưa sản lượng lương thực, gạo xuất khẩu đứng đầu trên thế giới đã nhiều năm qua. Đời sống của nông dân nhờ thế được cải thiện rõ rệt. Trong khi đó, điều kiện tự nhiên, khí hậu ở vùng phía Bắc, nhất là Đông Bắc Thái Lan lại khó khăn hơn nhiều. Sản xuất và đời sống của nông dân vùng này chậm phát triển. Chênh lệch về thu nhập và mức sống của nông dân trên cùng một vùng, giữa các vùng và giữa nông thôn và thành thị là khá rõ. Năm 1988 trên quy mô cả nước tỷ lệ người nghèo khổ ở vùng nông thôn lên tới 26,3% dân số. Nếu lấy chuẩn nghèo khó ở thành thị là 5.834 baht/người/năm (23 bath = 1USD) thì ở nông thôn chỉ có 3.823 baht/người/năm. Tỷ lệ hộ nghèo khổ ở thủ đô là 3,5% còn ở nông thôn vùng xa là 35,8%, điều đó phản ánh mức độ chênh lệch quá lớn giữa nông thôn mà chủ yếu là nông dân với thành thị với các tầng lớp dân cư khác. Đầu những năm 90 lại đây, kinh tế Thái Lan đạt tốc độ tăng trưởng khá. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 21.000 baht (1986) lên 41.000 baht (1991); tạo ra hàng trăm ngàn chỗ làm việc, tỷ lệ thất nghiệp còn 0,6% năm 1991 [36, 181]. Tuy vậy, tình trạng khác biệt về thu nhập giữa các cá nhân và hộ gia đình trong xã hội Thái Lan lại tăng lên đến "mức báo động", đặc biệt là giữa nông thôn và thành thị. Lao động trong nông nghiệp vẫn luôn là nhóm có thu nhập thấp nhất trong xã hội, thu nhập chỉ bằng một nửa mức thu nhập bình quân của xã hội. Ngay cả người lao động làm thuê, nặng nhọc trong các nghề dịch vụ dân sự vẫn có thu nhập cao hơn lao động nông nghiệp. Để giải quyết vấn đề PHGN, tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội, Chính phủ Thái Lan tập trung vào một số chủ trương chính sách sau: cải cách ruộng đất, giao quyền sử dụng đất trong nông nghiệp nhằm tạo ra sự bình đẳng xã hội trong nông thôn. Bên cạnh đó, là chính sách phát triển công nghiệp nông thôn, chính sách khuyến khích đầu tư khu vực, phi tập trung hóa nhằm tạo ra nhiều công ăn việc làm cho nông dân, nông thôn. Đồng thời, thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc y tế cho cộng đồng những người có thu nhập thấp, đặc biệt là nông dân. Qua thực tiễn và kinh nghiệm giải quyết vấn đề PHGN của các nước xung quanh, cho thấy, PHGN không phải là hiện tượng kinh tế- xã hội đơn lẻ mà phổ biến cho tất cả các nước trong quá trình phát triển. Đó là vấn đề mà Chính phủ các nước khi bắt tay xây dựng đất nước phải đối mặt giải quyết. Có điểm chung là tình hình nghèo đói, PHGN khoảng cách chênh lệch thu nhập giữa các địa phương trong khu vực, giữa các ngành nghề của các nước ở nông thôn gắn với đối tượng HND vẫn là trầm trọng nhất, tiêu biểu nhất. Chính phủ các nước này đã tập trung mọi nỗ lực cố gắng để giải quyết vấn đề PHGN. Cách làm, biện pháp chỉ đạo mỗi nước một kiểu, nhưng chung quy lại cho thấy đều đã tập trung điều chỉnh các quan hệ kinh tế- xã hội phát sinh trong quá trình phát triển. Đó là các quan hệ về sở hữu ruộng đất, công bằng thu nhập, phân phối bình đẳng về văn hóa, giáo dục. Về giải pháp có những kinh nghiệm như: phát triển và xây dựng các dự án hỗ trợ về vốn, hướng dẫn áp dụng tiến bộ kỹ thuật cho HND nghèo, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn... Từ đó, chuyển dịch cơ cấu sản xuất của nông dân từ tự cung, tự cấp, thuần nông sang sản xuất hàng hóa với cơ cấu đa dạng và hướng ngoại. Điều chỉnh ruộng đất cho những hộ thiếu đất hoặc không đất. Mở rộng quỹ tín dụng trong nông thôn, đa dạng hóa nguồn vốn cho HND nghèo vay và đẩy mạnh hoạt động bảo hiểm xã hội trong nông thôn. Đây là những giải pháp chúng ta cần phải tham khảo để vận dụng. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Nhận thức đúng đắn những cơ sở lý luận về hộ, kinh tế hộ, sự phân hóa kinh tế HND do những nguyên nhân với mức độ khác nhau là hết sức cần thiết để giải quyết vấn đề này. Những đúc kết lý luận trên đây nhằm tạo cơ sở cho việc phân tích thực tiễn và đề xuất giải pháp cho vấn đề này ở Kiên Giang. PHGN bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân song nó được thể hiện khá rõ nét và tác động sâu sắc trên bình diện xã hội. Giải quyết vấn đề này đòi hỏi sự quan tâm chung của cả xã hộ._.và có chính sách đãi ngộ thích đáng cho họ" [8, 26]. Phải huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị của cả cộng đồng xã hội về nhân tài, vật lực, kể cả của người Kiên Giang ở nước ngoài vào việc xóa đói giảm nghèo, "xã hội hóa" vấn đề xóa đói giảm nghèo. Chúng tôi đồng tình với quan điểm: Đảng viên phải đi đầu trong xóa đói giảm nghèo [12]. Chỉ có như thế mới đạt kết quả là hạn chế đến mức thấp nhất sự cách biệt giàu nghèo. Quán triệt hơn nữa quan điểm "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh". Xóa đói giảm nghèo đi đôi với khuyến khích làm giàu chính đáng theo đúng tư tưởng Hồ Chí Minh: "Làm cho người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá lên, người giàu thì giàu thêm" [15, 85] và tăng thêm diện giàu và đủ ăn, thu hẹp diện nghèo và vùng nghèo. Đi đến xây dựng một cơ cấu giàu nghèo của các tầng lớp xã hội trong nông nghiệp, nông thôn tương đối hợp lý. Muốn làm được điều đó phải có một cơ chế chính sách và môi trường đầu tư phát triển phù hợp với thực tiễn của tỉnh. Xóa đói là một vấn đề cấp bách nên đã được Đảng bộ và nhân dân KG giải quyết dứt điểm từ năm 1994. Nhưng giảm nghèo, chống tái nghèo, tăng hộ khá giả và giàu có vẫn là một chương trình lâu dài và cần phải được thực hiện một cách kiên trì, thường xuyên và liên tục. Đây là những tác động tổng hợp trên nhiều mặt kinh tế - chính trị - xã hội. Bởi vậy phải thực hiện "lồng ghép", kết hợp với các chương trình kinh tế xã hội khác: về giáo dục, y tế, bảo hiểm, môi trường, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở v.v... Tóm lại, để giải quyết vấn đề phân hóa giàu nghèo của các HND phải triển khai thực hiện trên nhiều phương hướng nhiều với nhiều chương trình phát triển kinh tế xã hội trước mắt và lâu dài. Nhờ đó mà các HND KG phát triển được sản xuất, nâng cao được đời sống vật chất văn hóa, thu hẹp được cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, thực hiện được tiến bộ và công bằng xã hội. 3.2. NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM HẠN CHẾ MẶT TIÊU CỰC CỦA PHÂN HÓA GIÀU NGHÈO ĐỐI VỚI CÁC HỘ NÔNG DÂN KIÊN GIANG PHGN ở nông thôn hiện đang tác động vào đời sống của nông dân bằng cả hai mặt tích cực và tiêu cực. Các giải pháp được đề xuất ở đây nhằm hạn chế mặt tiêu cực của sự PHGN HND, đó là nghèo đói và bất bình đẳng xã hội. Nguyên nhân dẫn đến nghèo đói của các HND ở KG hội tụ cả nhân tố khách quan, chủ quan. Song trên mỗi địa bàn nông thôn, mỗi thành phần dân tộc, sự phân hóa của HND có những nét khác biệt nhất định. Bởi vậy từ những giải pháp chung phải có những giải pháp riêng phù hợp cho từng đối tượng. Bởi vậy, chúng tôi đề xuất một số giải pháp lồng ghép giữa giải pháp chung và giải pháp cụ thể. 3.2.1. Giải pháp về lao động việc làm của các hộ nông dân Lao động và việc làm là vấn đề xã hội bức xúc hiện nay trong nông nghiệp, nông thôn cả nước và của các HND KG. Lao động vùng nông thôn KG hiện tại có khoảng 731.000 người và giai đoạn 2010 sẽ là khoảng 900000 người. Đây là nguồn lực to lớn để phát triển kinh tế, nhưng nếu không chuyển nguồn lực này thành việc làm thì nó sẽ trở thành "sức ép" trong phát triển. Để giải bài toán này, trước hết phải có kế hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn nói riêng và kế hoạch bố trí sử dụng lao động cụ thể trong nông nghiệp, nông thôn. Nông nghiệp KG, phải được đặt trong quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng CHN, HĐH. Thực hiện phương hướng phát triển chung của Đảng, chính quyền các cấp, HND cần tính toán kế hoạch, hình thành mô hình, cách thức tổ chức sản xuất kinh doanh nông nghiệp phát triển toàn diện và hiệu quả. Cần quan tâm, chú ý đến các HND nghèo, phát triển kinh tế VAC, VACR, mô hình lúa cá, lúa tôm, kinh doanh tổng hợp bằng cách hỗ trợ vốn, kỹ thuật cho họ và đưa họ vào các hình thức kinh tế hợp tác. Nâng cao chất lượng lao động là biện pháp cơ bản để nâng cao thu nhập đời sống của các HND. Chất lượng lao động ở nông thôn KG hiện nay còn thấp, làm hạn chế hiệu quả sản xuất. Do vậy cần phải tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng nâng cao kiến thức kinh nghiệm cho người lao động thông qua nhiều hình thức và biện pháp. Phải coi sản xuất nông nghiệp là một nghề, cần có chuyên môn, cần qua đào tạo huấn luyện. Chẳng hạn khâu giống, khâu phòng trừ bảo vệ thực vật, khâu thu hoạch, khâu chế biến, khâu vận chuyển... trong sản xuất nông nghiệp là một quy trình công nghệ. Trước mắt cũng như trong nhiều năm tới, phải tăng cường công tác khuyến nông, khuyến ngư, nâng cao chất lượng công tác giáo dục đào tạo, nâng cao dân trí và phát triển văn - giáo dục cho khu vực nông thôn. Cần quan tâm hơn việc quản lý, hướng dẫn cách làm ăn, chuyển giao công nghệ, đào tạo tay nghề, giải quyết việc làm cho HND nghèo. Cần chú ý mối quan hệ giữa lao động nông nghiệp với các loại lao động tiểu thủ công khác. Đối với những HND có đủ điều kiện chuyển hoàn toàn thành gia đình làm nghề tiểu thủ công nghiệp, phát triển họ thành các làng nghề. Đối với HND coi lao động trong lĩnh vực thủ công nghiệp như một công việc làm thêm trong thời gian nông nhàn, cần tạo thêm các cơ sở công nghiệp chế biến và dịch vụ ngay trong địa bàn nông thôn. Đây có thể coi là giải pháp hợp lý để giải quyết vấn đề lao động việc làm tại chỗ. Cũng phải lưu ý rằng, sức lao động trong nông nghiệp đã trở thành hàng hóa, bởi vậy phải nghiên cứu cơ chế chính sách để vận hành thị trường sức lao động, để thu hút chất xám, trí tuệ, tay nghề cao phục vụ phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn. Cho phép những cá nhân tổ chức có điều kiện đứng ra lập những trung tâm dạy nghề để xuất khẩu lao động, cung cấp lao động cho các khu công nghiệp dưới nhiều hình thức, theo quy định của luật pháp hiện hành. Phân bố lại lao động phải gắn với quy hoạch dân cư. Phân bố lại lực lượng lao động và dân cư ở KG không chỉ có nội dung là giải quyết công ăn việc làm, hình thành và phát triển các vùng kinh tế mới mà còn có ý nghĩa quan trọng về an ninh quốc phòng đối với một tỉnh có hầu hết các địa hình phức tạp: biên giới, hải đảo, thành thị, nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ, vùng núi... Những huyện như Tân Hiệp, Châu Thành, Giồng Riềng, Gò Quao, An Biên phải được chuyển bớt lao động về khu vực tứ giác Hà Tiên. Hướng tháo gỡ khó khăn chung trong nông nghiệp, nông thôn KG hiện nay có ba nội dung đáng chú ý. Một là: từng bước tăng thu nhập cho một bộ phận HND từ hoạt động phi nông nghiệp thông qua chuyển dịch cơ cấu lao động tại chỗ để giải quyết việc làm. Đưa lao động dư dôi ở nông thôn sang các ngành công nghiệp chế biến, khai thác, dịch vụ, xuất khẩu, trong đó quan tâm công tác đào tạo nghề để đưa một bộ phận lao động của con em HND đi xuất khẩu lao động. Hai là, phát triển công nghiệp nông thôn để thực hiện CNH, HĐH tại chỗ, xây dựng các ngành nghề mới trong nông nghiệp, nông thôn. Thực hiện bố trí lại lao động theo phương châm "rời đất chứ không rời làng". Ba là, để khai thác mọi tiềm năng như đất đai, lao động, ngành nghề tại chỗ cần nghiên cứu và ban hành những chủ trương phù hợp và thông thoáng cùng với việc chuẩn bị những tiền đề vật chất để khuyến khích các HND mạnh dạn làm ăn. Giải quyết một cách đồng bộ những biện pháp trên thì mới khai thác được tiềm năng thế mạnh, về lao động, đất đai, ngành nghề trên cả ba mặt kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng. 3.2.2. Tiếp tục hoàn thiện chính sách ruộng đất trong nông nghiệp, nông thôn Ruộng đất là TLSX cơ bản của HND, là tiềm năng nguồn lực, là điều kiện sống còn của sản xuất nông nghiệp và đời sống nông dân. Bởi vậy chính sách ruộng đất có ảnh hưởng tới PHGN của HND. Chính sách ruộng đất đối với HND ở KG cần hướng vào việc giải quyết những điểm sau: Một là, có kế hoạch khai thác sử dụng theo hướng tích cực nâng cao hiệu quả nhưng không lạm dụng, "bóc lột" đất đai. Hai là, chính sách đất đai đang chạm đến những vấn đề lợi ích nhạy cảm, nhất là ở nông thôn. Nó cần đạt tới mục tiêu là ổn định được tình hình xã hội, phát triển được kinh tế, giữ được đoàn kết trong nội bộ nông dân và nông thôn. Với ý nghĩa đó, cần tiếp tục hoàn thiện chính sách đất đai theo những nội dung chủ yếu sau: Thứ nhất: Tăng cường quản lý Nhà nước về đất đai theo quy hoạch để kiểm soát các biến động và khai thác có hiệu quả nhất về tài nguyên này. Ổn định tình hình ruộng đất trong nông thôn, sớm hoàn thành việc giao đất cấp, giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho các HND, tạo điều kiện cho họ yên tâm mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất. Cần bảo vệ diện tích đất màu mỡ, những diện tích nuôi trồng, diện tích rừng phòng hộ đặc dụng theo đúng quy hoạch. Hiện tượng tập trung, sang nhượng ruộng đất phải được nghiên cứu, kiểm soát và đặt dưới sự quản lý của Nhà nước. Quá trình này phải phù hợp yêu cầu của chuyển đổi cơ cấu kinh tế của phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn. Nắm chắc tình hình sử dụng ruộng đất của HND, đặc biệt đối với HND không đất sản xuất, cần phân loại theo nguyên nhân để có biện pháp phù hợp. Tập trung chỉ đạo việc giao đất hoang ở vùng tứ giác Hà Tiên, bán đảo Cà Mau cho những HND không đất sản xuất nhằm bảo đảm đến cuối năm 2000 không còn đất hoang nữa. Thứ hai: Trước mắt quỹ đất của tỉnh vẫn còn. Nhưng để khai thác được nguồn lực đó phải tốn không ít công sức tiền của đầu tư như đào kênh, thau chua rửa mặn và và xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng khác. Khai thác nguồn lực đất đai theo hướng mở rộng diện tích đã đạt đến những giới hạn cuối của nó. Cho nên về lâu dài, để giải quyết việc làm thu nhập của HND phải đi vào thâm canh, tăng vụ, kinh doanh tổng hợp. Phải đặc biệt quan tâm đến những mô hình tổ chức sản xuất nông nghiệp mà không cần nhiều diện tích vẫn cho năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao. Thứ ba: Trong thời gian tới phải tính đến việc công khai giá trị đất sản xuất ở từng vùng và địa bàn trong tỉnh để hình thành thị trường ruộng đất, hoàn thiện biểu thuế sử dụng đất nông nghiệp theo giá trị và khả năng sinh lời của nó nhằm thúc đẩy kinh tế thị trường và khai thác tốt tiềm năng nguồn lực này. Điều này cũng liên quan đến sự phân công lại lao động trong nông nghiệp bố trí lại dân cư nông nghiệp, nông thôn KG. Thứ tư: Trong những năm tới, tiếp tục nghiên cứu chính sách mới về giảm thuế sử dụng đất cho những vùng khó khăn. Chẳng hạn, vùng tứ giác Hà Tiên, An Minh, Vĩnh Thuận, An Biên, Gò Quao... cần có quy định riêng về thuê đất. Nới rộng hạn điền để khuyến khích đầu tư và trao quyền sử dụng đất theo những thời hạn lớn hơn so với các quy định hiện hành. Giảm thuế sử dụng đất với những vùng này. Đây cũng là những nơi cần được Nhà nước trợ giúp về cơ sở hạ tầng như hệ thống thủy lợi, điện, đường giao thông v.v... Thứ năm: Có các chính sách ưu tiên về hỗ trợ vốn, dịch vụ kỹ thuật, chính sách về thuế... cho các HND nghèo tự nguyện tập trung ruộng đất thông các các hình thức kinh tế hợp tác. Kinh tế nông trại, trang trại cần được khuyến khích phát triển tổ chức rút kinh nghiệm, uốn nắn những lệnh lạc. Bên cạnh đó, vấn đề cảnh quan môi trường và các yếu tố về kinh tế sinh thái nhân văn cũng cần được chú ý để nông nghiệp, nông thôn phát triển toàn diện và đời sống mọi mặt của HND được nâng lên. 3.2.3. Huy động vốn cho hộ nông dân nghèo vay từ nhiều nguồn, dưới nhiều hình thức Vốn là một điều kiện cơ bản để HND thực hiện xóa đói giảm nghèo. Vốn mà chúng ta đề cập ở đây là vốn tiền tệ. Thiếu vốn là nguyên nhân hàng đầu của tình trạng nghèo đói của phần lớn các HND. Do đó để giải bài toán về PHGN nhằm khắc phục mặt tiêu cực của nó, giải pháp về vốn cho HND nghèo có ý nghĩa rất to lớn. Những năm qua HND nói chung và HND nghèo của tỉnh nói riêng được sự quan tâm hỗ trợ của các cấp, các ngành đã nhận được những nguồn vốn tín dụng để phát triển sản xuất, cải thiện đời sống. Tuy nhiên, nhu cầu về vốn cho sự phát triển và để thực hiện chương trình, xóa đói giảm nghèo của các HND KG vẫn rất lớn và hết sức cần thiết. Thực hiện giải pháp về vốn cho các HND nghèo cần quan tâm những nội dung sau: Thứ nhất: nâng dần số vốn vay của HND nghèo và sử dụng có hiệu quả đồng vốn. Phải thống nhất về nhận thức rằng, vốn cho HND nghèo - dù là vốn cho xóa đói giảm nghèo - thì đó vẫn là vốn tín dụng có vay và có hoàn trả. HND phải có trách nhiệm vay, sử dụng có hiệu quả đồng vốn đó và phải hoàn trả để có thể vay tiếp ở chu kỳ sau hoặc để cho hộ khác vay. Không được phép coi rằng đó là một khoản tiền Nhà nước cho để chi xài hoặc vay làm có hiệu quả thì trả, thất bại thì thôi. Phải thấy đó là sự quan tâm của cộng đồng xã hội đối với HND nghèo. Sử dụng có hiệu quả đồng vốn xóa đói giảm nghèo và hoàn trả vốn đúng hạn là cách tốt nhất HND thực hiện trách nhiệm đối với chính gia đình mình và xã hội. Cho vay vốn và chỉ vẽ cách thức làm ăn đối với HND nghèo chính là sắm cho họ chiếc câu và hướng dẫn cách câu để họ tự câu được cá cho mình. Đó là cách để HND nghèo vừa "được tiếp máu", vừa "tạo ra máu mới" nhằm vượt qua hoàn cảnh khó khăn. Lãi suất cho vay trước mắt cho đến hết năm 2000 vẫn nên giữ ở mức khoảng 0,5% tháng, và từng bước hạ thấp trần lãi suất theo quy định của Chính phủ. Hiện nay bình quân HND nghèo được vay khoảng 500.000 đồng, cần nâng số vốn vay bình quân mỗi hộ lên khoảng 1 triệu đồng và tiến tới cho vay theo dự án có hiệu quả. Cần chú ý một điểm là hiện nay có những hộ trong tình trạng thiếu ăn do thiên tai hoặc hoạn nạn, bởi vậy cho vay vốn phải chú ý tới cả phương diện trợ cấp đột xuất, nhằm giúp họ ổn định đời sống. Với những hộ này, không chỉ là "chiếc cần câu" mà nhiều khi là cả "con cá". Trợ giúp vốn ban đầu là để họ chủ động làm ăn sinh lợi, có hiệu quả thiết thực, để từ đó quyết tâm phấn đấu thoát khỏi tình trạng nghèo đói. Thứ hai: Mở rộng nguồn huy động vốn để bảo đảm cho các HND nghèo có nhu cầu vay đều được đáp ứng về cơ bản. Thực hiện đa dạng các phương thức hỗ trợ vốn, gắn giải pháp về vốn với các giải pháp khác, phục vụ có hiệu quả các nhu cầu về vốn trong sản xuất và đời sống của HND nghèo phù hợp với từng giai đoạn giảm nghèo, thoát nghèo để vươn lên trung bình khá giả. Mặt khác, trợ vốn cho các HND làm ăn đã có hiệu quả đặc biệt là những HND sản xuất giỏi có thêm điều kiện để phát huy kinh nghiệm, về quản lý tổ chức sản xuất kinh doanh và cuộc sống để những HND này hỗ trợ cho các HND vượt qua khó khăn. Đầu tư vốn cho các cơ sở sản xuất, các tổ chức kinh tế hợp tác, các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả trên các địa bàn huyện, thị, xã, phường cũng là cách để giúp HND nghèo. Nhờ đó, những đơn vị trên có thêm điều kiện để giải quyết lao động. HND nghèo nhờ đó có thu nhập, ổn định đời sống. Đầu tư vốn cho các trung tâm đang dạy nghề của các huyện thị hoặc của các ngành để các cơ sở này đào tạo ngành nghề miễn phí, hoặc phí thấp nhằm tạo cơ hội tìm kiếm, giới thiệu việc làm cho con em các HND nghèo. Ngoài ra, đầu tư vốn vào các chương trình dự án khai thác đất sản xuất, đánh bắt nuôi trồng thủy sản, giãn dân, di dân cũng góp phần không nhỏ giúp tháo gỡ khó khăn, tạo việc làm, tăng thu nhập cho các HND. Việc huy động vốn phải được thực hiện từ nhiều nguồn, qua nhiều "kênh". Trước hết là ngân hàng phục vụ người nghèo, tín dụng Nhà nước, tín dụng do các DNNN đầu tư, nguồn từ đầu tư tài trợ của nước ngoài. Các kênh vốn thực hiện thông qua các tổ chức, các đoàn thể, hội. Ngoài các nguồn trên, các HND nghèo còn nhận được sự tài trợ đầu tư gián tiếp chưa thể tính ra giá trị cụ thể, như nguồn đầu tư vào hệ thống kết cấu hạ tầng về giao thông, chợ búa, điện, nước sinh hoạt, giáo dục, đào tạo, y tế... từ Nhà nước. Tổ chức quản lý và theo dõi việc sử dụng vốn từ các nguồn, các hình thức này là rất quan trọng và cần thiết. Thứ ba: Cải tiến cơ chế thủ tục vay vốn đối với các HND nghèo nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các tiêu cực phát sinh trong việc cho vay, thu hồi nợ. Cần có biện pháp nhằm hạn chế tối đa tệ cho vay nặng lãi trong nông thôn. Thủ tục cho vay hiện nay đối với HND nghèo ở nhiều địa bàn trong tỉnh vẫn mang tính chất hành chính nên rườm rà, gây không ít phiền hà cho hộ vay. HND muốn vay phải qua nhiều khâu, nhiều cửa từ chính quyền xã, ấp, khu phố đến cán bộ tín dụng và cơ quan ngân hàng... Mặt khác, danh sách các HND nghèo luôn biến đổi hàng năm làm cho việc nắm đối tượng cho vay luôn phức tạp. Bởi vậy quản lý và nắm chắc tình hình nghèo đói, vùng và HND nghèo đói, hiệu quả và xu hướng tháo gỡ cho họ là hết sức cần thiết đối với chính quyền và cơ quan cho vay. Tệ cho vay nặng lãi hiện nay ở nông thôn KG vẫn khá phổ biến. Mặc dù tác động của nhiều kênh về nguồn vốn tín dụng có làm cho "trần lãi suất" của tệ nạn này có xu hướng giảm xuống, nhưng nó vẫn là thứ "vòi bạch tuộc" cột chặt HND vào vòng nghèo đói. Dưới nhiều hình thức như mua vật tư, giống má trả tiền sau; bán lúa non; cầm ruộng, cầm đất đai nhà cửa; lấy tiền công trước... Tệ cho vay nặng lãi đang khoét sâu bất bình đẳng, công bằng xã hội trong nông thôn và làm phá sản không ít HND nghèo. Cần chú trọng phát triển hệ thống quỹ tín dụng nhân dân tới khắp các địa bàn huyện thị trong tỉnh, coi đó là một nguồn vốn quan trọng để hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp của các HND một cách tại chỗ. Do vậy cần cải tiến thủ tục vay vốn thuận lợi, dễ dàng, cho vay đủ mức nhằm tháo gỡ tình hình khó khăn, đẩy mạnh khuyến nông, hướng dẫn cách thức làm ăn và kinh nghiệm tổ chức sản xuất là những công việc mà quản lý Nhà nước thường xuyên phải quan tâm. Chính quyền cần quản lý chặt chẽ quỹ xóa đói giảm nghèo, xử lý nghiêm những tiêu cực gắn với việc cho vay. Đó là một hệ thống các mắt xích liên kết chặt chẽ với nhau mà chúng ta cần đạt tới. 3.2.4. Kết hợp giải quyết vấn đề xóa đói giảm nghèo với các chương trình dự án phát triển kinh tế - xã hội Trong thời gian qua, ngoài những giải pháp đã trình bày trên địa bàn tỉnh còn thực hiện nhiều chương trình dự án phát triển kinh tế - xã hội khác. Đó là các chương trình như di dân, nước sạch nông thôn, xóa mù chữ, chống suy dinh dưỡng, dân số kế hoạch hóa gia đình, quỹ đền ơn đáp nghĩa, xây dựng nhà tình nghĩa, nhà ở cho nhân dân, đánh bắt xa bờ, quỹ tái định cư của người hồi hương, dự án tổng quan đầu tư xây dựng cụm xã vùng dân tộc Khmer, dự án CARE, chương trình hợp tác quốc tế, các tổ chức phi chính phủ... Những chương trình dự án này không triệt tiêu lẫn nhau mà trái lại hỗ trợ, tạo tiền đề tác động tích cực cho nhau, thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao đời sống mọi mặt của HND. Mỗi chương trình, dự án tác động tích cực vào một đối tượng lĩnh vực hẹp. Tuy số vốn ban đầu góp chưa nhiều vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội cho đối tượng HND, nhưng khi tính đồng bộ của chúng tăng lên thì chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội rất to lớn. Mặt tiêu cực của PHGN đối với các HND KG nhất định sẽ được đẩy lùi, hạn chế một cách thấp nhất và ngược lại mặt tích cực sẽ được phát huy. Cần chú trọng công tác kiểm tra, theo dõi để việc thực hiện các chương trình dự án đạt kết quả tốt, hạn chế tối đa các thất thoát, tiêu cực trong công tác xóa đói giảm nghèo. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 Muốn giải quyết vấn đề xóa đói giảm nghèo một cách vững chắc, phải có một hệ thống các quan điểm, phương hướng và giải pháp. Để thực hiện các giải pháp trên đây phải nâng cao hơn nữa vai trò lãnh đạo định hướng của Đảng và tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách trong chức năng điều tiết vĩ mô của Nhà nước. Việc kiện toàn tổ chức bộ máy, công tác cán bộ - con người, xét đến cùng là nhân tố quyết định việc thành công hay thất bại của mọi chủ trương chính sách phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của địa phương KG. Giải quyết vấn đề PHGN là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của cả cộng đồng. Đó không chỉ là trách nhiệm, tình thương mà còn là truyền thống nhân văn cao cả của toàn Đảng, toàn dân ta, của Đảng bộ và nhân dân KG. Nâng cao năng lực và phẩm chất của cán bộ ngang tầm công việc để đội ngũ cán bộ hoàn thành được tốt nhiệm vụ là một yêu cầu vừa cấp bách trước mắt vừa cơ bản lâu dài không chỉ riêng KG. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ PHGN của các HND là một hiện tượng kinh tế xã hội khá phổ biến trong các quốc gia đi từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn. Song do những đặc điểm tự nhiên và xã hội ở các quốc gia khác nhau cho nên tình hình phân hóa HND ở các quốc gia có những mức độ khác nhau với những nguyên nhân đặc thù nên phải có phương pháp giải quyết đặc thù bên cạnh giải pháp phổ biến. Ở Việt Nam nói chung và ở Kiên Giang nói riêng, PHGN đối với HND hiện nay vừa là kết quả trực tiếp của việc thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần, vừa là kết quả của quá trình phát triển các quan hệ KTTT trong nông nghiệp, nông thôn. Đây là vấn đề bức xúc hàng ngày của các cấp, các ngành, của Đảng và Nhà nước ta. Những năm qua Kiên Giang cũng có thể xem là một điển hình về quy mô, tốc độ PHGN của các HND và việc khắc phục hậu quả tiêu cực của PHGN trong nông thôn vùng đồng bằng sông Cửu Long. Song thực tiễn ở Kiên Giang đang đòi hỏi phải giải quyết nhiều vấn đề lý luận để từng bước thực hiện mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Để góp phần vào việc tháo gỡ vấn đề này ở Kiên Giang, luận văn đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề PHGN, phân tích thực trạng chỉ rõ nguyên nhân giàu nghèo ở Kiên Giang, từ đó đề xuất các quan điểm phương hướng và giải pháp giải quyết vấn đề này ở Kiên Giang. Để thực hiện các giải pháp trên, chúng tôi xin đề xuất một số kiến nghị sau: 1. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách nhằm đẩy mạnh công cuộc xóa đói giảm nghèo. Hệ thống đó phải đồng bộ, phù hợp với thực tiễn của các địa phương và từng nhóm đối tượng xã hội, trong đó có nhóm đối tượng HND. 2. Phát huy hơn nữa vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước. Kiện toàn tổ chức, cơ chế hoạt động của bộ máy nhà nước, sử dụng có hiệu quả lực lượng kinh tế đó vào việc xóa đói giảm nghèo. Thông qua việc xây dựng quy hoạch sử dụng đất đai, giao đất cho HND sử dụng, các nguồn tài chính, các quan hệ tín dụng ưu đãi với HDN nghèo, các dự án... mà thực hiện tốt nhất sự nghiệp xóa đói giảm nghèo trong nông thôn. Trong những hình thức biện pháp... cần có những hình thức, biện pháp đem lại kết quả mang tính chất đột phá, bước ngoặt. 3. Cần nhanh chóng đào tạo hai loại cán bộ: cán bộ xây dựng và phát triển kinh tế hợp tác và cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo để về cắm chốt ở các địa bàn cơ sở trọng yếu trong toàn tỉnh, gắn hoạt động chuyên môn của họ với hoạt động của tổ chức khuyến nông, của ngân hàng phục vụ người nghèo, quỹ tín dụng nhân dân và hoạt động của hệ thống chính trị.... 4. Kiện toàn và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức chỉ đạo xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh, huyện, thị, xã, phường, hướng hoạt động vào các trọng tâm, trọng điểm. Đặc biệt phát huy vai trò đảng viên trong việc tập hợp các HND nghèo vào các hình thức kinh tế hợp tác để giúp họ vĩnh viễn thoát khỏi nghèo đói. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Chung Á - Nguyễn Đình Tấn, Nghiên cứu xã hội học. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997. ĐBA, Bài 1, Những nghịch lý thừa và thiếu, giàu và nghèo. Tại sao? Báo Sài Gòn giải phóng, 26/9/1999 ĐBA, Tập trung mọi nguồn lực xóa đói giảm nghèo. Báo Sài Gòn giải phóng, 30/9/1999. Ban chỉ đạo điều tra hộ nghèo, Báo cáo kết quả điều tra biến động hộ nghèo và một số đối tượng xã hội năm 1997 tỉnh An Giang. Ban nghiên cứu lịch sử đảng tỉnh Kiên Giang, Tìm hiểu Kiên Giang. Ấn hành 1986. Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội, Văn phòng chương trình quốc gia xóa đói giảm nghèo, Tài liệu tập huấn sử dụng cho cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo, các đoàn thể cấp tỉnh, thành phố và huyện. Hà Nội, 1999. Bộ Lao động - Thương Binh - Xã hội, Hệ thống văn bản pháp luật hiện hành về xóa đói giảm nghèo. Nxb Lao động xã hội, Hà Nội, 1999. Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo, Kỷ yếu: Hội nghị triển khai chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo và chương trình phát triển kinh tế, xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa. Nxb Lao động xã hội, Hà Nội, 1999. Cục Thống kê Kiên Giang, Thông báo tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Kiên Giang năm 1999. Cục thống kê Kiên Giang, Thực trạng người nghèo. tháng 10/1997. Cục Thống kê Kiên Giang, Báo cáo kết quả điều tra HND không đất sản xuất. Báo cáo số 17 BC/TK, ngày 22/9/1998. Ngọc Dung, Đảng viên phải đi đầu trong xóa đói giảm nghèo. Báo Kiên Giang, số 1204, ngày 6-1-1999. Đominique Haughton, Jonathan Haughton, Sarah Bales, Trương Thị Kim Chuyên, Nguyễn Nga, Hoàng Văn Kỉnh, Hộ gia đình Việt Nam nhìn qua phân tích định lượng. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999. Nguyễn Thị Hằng, Vấn đề xóa đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997. Vũ Hiền - Trịnh Hữu Đản, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa VIII) và vấn đề tín dụng nông nghiệp, nông thôn. Dương Phú Hiệp, Phân hóa giàu nghèo ở một số quốc gia khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998. Dương Phú Hiệp, Phân hóa giàu nghèo trong nền kinh tế thị trường Nhật Bản từ 1945 đến nay. Nxb Chính trị quốc gia, 1999. Lê Văn Hồng, Nông nghiệp, nông thôn Kiên Giang - thực trạng và phương hướng phát triển đến năm 2000 và 2010. Tạp chí Nông nghiệp, công nghiệp, thực phẩm, số 8, 1999. Nguyễn Tất Huấn, Báo Nhân Dân, ngày 28/12/1999. Nguyễn Văn Huấn, Khái niệm nông hộ. Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 6/1993. Nguyễn Đình Kháng - Vũ Văn Phúc, Những nhận thức kinh tế, chính trị trong giai đoạn đổi mới. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998. Nguyễn Xuân Khoát, Khuynh hướng phân hóa HND trong phát triển sản xuất hàng hóa. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995. Sơn Nam, Đất Gia Định xưa và nay. Nxb Thành phố Hồ chí Minh, 1984. Sơn Nam, Đồng bằng sông Cửu Long, nét sinh hoạt xưa. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1985. C. Mác - Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1978. Đỗ Nguyên Phương, Phân tầng xã hội - một xu thế tất yếu của xã hội Việt Nam. Đề tài KX 07-05. Vũ Thị Phùng, Tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và vấn đề xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999. Phụ lục kèm theo dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội VII Đảng bộ tỉnh Kiên Giang. Nguyễn Văn Thành, Kinh tế nông dân ngoại thành Hà Nội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Luận văn Thạc sĩ khoa học kinh tế, Đại học quốc gia Hà Nội, 1998. Nguyễn Thị Thơm, Tạp chí phát triển kinh tế, số 99, 1/1999. Trương Thị Tiến, Đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp ở Việt Nam. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999. Tiêu chuẩn HND sản xuất giỏi tỉnh Kiên Giang giai đoạn từ 1995 - 2000. Tỉnh ủy Kiên Giang, Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ VI (1996). Tỉnh ủy Kiên Giang, Ban Kinh tế tỉnh ủy, Báo cáo số 43 BC/BKT, 24/11/1998, Tình hình thực hiện Chỉ thị 68/CT/TW của Ban Bí thư (khóa VII). Trung tâm Thông tin tư liệu, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Một số vấn đề lý luận kinh tế chính trị và phát triển kinh tế Việt Nam, Hà Nội, 1995. Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Lê Bộ Lĩnh (chủ biên): Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở một số nước châu Á và Việt Nam. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998. Nguyễn Như Tùng, Xóa đói giảm nghèo ở nông thôn tỉnh Thừa Thiên Huế, thực trạng giải pháp. Luận văn thạc sĩ Triết học chuyên ngành CNXH khoa học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1996. Từ điển tiếng Việt. Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1999. Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang, Báo cáo sơ kết, số 29/BC/UB 14/10/1998. Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang, Chương trình xóa đói giảm nghèo đến năm 2000. Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang, Sở Nông nghiệp và phát triển nông nghiệp, nông thôn, Báo cáo rà soát bổ sung quy hoạch nông nghiệp, nông thôn tỉnh Kiên Giang, thời kỳ 1999 - 2010, 8/1999. Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang, Ban Dân tộc tỉnh, Dự án tổng quan đầu tư xây dựng trung tâm cụm xã vùng dân tộc Khmer, tỉnh Kiên Giang giai đoạn 1999 - 2000, 5/1999. Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang, Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch Nhà nước năm 1999. Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang, Ban Chỉ đạo phong trào sản xuất giỏi, Báo cáo tổng kết 10 năm phong trào thi đua sản xuất nông nghiệp giỏi (1989 - 1999), 25/11/1999. Ủy ban nhân dân thị xã Hà Tiên, Báo cáo sơ kết một năm thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo và chương trình công tác xóa đói giảm nghèo từ nay đến cuối năm 2000, 22/10/1999 Văn kiện Đại hội hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991. Văn kiện Hội nghị Trung ương 5 (khóa VII). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996. Viện Thông tin Khoa học xã hội và nhân văn, Nông thôn trong bước quá độ sang kinh tế thị trường, tập 1. Nxb Thông tin khoa học, Chuyên đề, Hà Nội, 1999. Bạch Hồng Việt, Vấn đề giàu nghèo ở nước ta hiện nay. Tạp chí Cộng sản, số 8, 7/1995. Chu Văn Vũ, Kinh tế hộ trong nông thôn Việt Nam. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995. PHỤ LỤC Bảng 3 Tiêu chí so sánh thu nhập của loại hộ đói và nghèo trên các vùng của nước ta Loại hộ Nông thôn Thành thị 1. Hộ đói 45.000đ 45.000đ 2. Hộ nghèo: Miền núi 55.000đ đồng bằng 70.000đ Thành thị 90.000đ Nguồn: Tổng cục Thống kê năm 1994. Bảng 9 Tình hình PHGN của một số địa bàn tiêu biểu của Kiên Giang Địa bàn Số hộ SXNN Phân loại Nghèo Khá giả Giàu Tân Hiệp 21.274 2.467 12.702 6.105 Hòn Đất 23.000 2.307 18.093 2.600 An Minh 21.187 4.555 13.445 3.187 An Biên 26.457 5.028 16.138 5.291 Vĩnh Thuận 19.658 4.804 13.756 1.098 Nguồn: Phòng thống kê của các huyện trên, 1999 Bảng 11 Phân loại hộ giàu, nghèo xét theo thành phần dân tộc Loại hộ Địa bàn Tổng số hộ Phân loại hộ theo mức thu nhập Hộ giàu Hộ trung bình Hộ nghèo Tổng số Hộ DT Tổng số Hộ DT Tổng số Hộ DT Tân Hiệp 21.274 6.105 2 12.702 118 2.467 125 Hòn Đất 23.000 2.600 763 18.093 1.907 2.307 1.144 Nguồn: Phòng thống kê huyện Tân hiệp, Hòn Đất, 1999 Bảng 14 Thống kê về tình trạng ruộng đất của HND Số diện tích canh tác Dưới 2 ha Từ 2 - 3 ha Trên 3 ha SL hộ % SL hộ % SL hộ % Tình trạng ruộng đất 1036 70,42 313 21,27 122 8,29 Tình trạng PHGN 852 57,9 456 30,78 120 8,15 Phân loại hộ Nghèo Khá Giàu Nguồn: Cục Thống kê KG năm 1998 Bảng 15 Số hộ nông dân qua các năm từ 1991 - 1998 Năm 1991 1993 1995 1997 1998 Số HND 152.449 166.474 174.570 180.125 197.085 ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docLVTS7.DOC
Tài liệu liên quan