Phát triển kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Kiên Giang

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Kiên Giang là một tỉnh lớn và cũng là một trong số ít tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long có điều kiện để phát triển nền kinh tế đa dạng với thế mạnh về nông, công, ngư nghiệp và dịch vụ - du lịch. Với chính sách mở cửa, tăng cường hợp tác và giao lưu quốc tế của Đảng và Nhà nước, đã tạo đà phát triển và mở rộng ra cơ hội, triển vọng phát triển kinh tế. Nhưng hiện nay lĩnh vực nông nghiệp ở tỉnh Kiên Giang phát triển chậm hơn một số tỉnh thành trong cả nước. The

doc102 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 09/12/2013 | Lượt xem: 991 | Lượt tải: 5download
Tóm tắt tài liệu Phát triển kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Kiên Giang, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
o xu hướng phát triển chung việc sử dụng nguồn tài nguyên vốn có của nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Kiên Giang có những vấn đề cần quan tâm là: - Diện tích hoang hóa vẫn còn, xu hướng độc canh cây lúa còn thống trị, cây công nghiệp ngắn ngày, cây màu đã có trồng thử nhưng chưa phát triển được. Người nông dân còn cân nhắc, lựa chọn giữa mô hình trồng lúa và mô hình thủy sản- rừng, song mô hình nào tối ưu vẫn chưa có lời giải đáp rõ ràng. Việc sử dụng đất dưới dạng đa canh hóa vẫn còn khó khăn, do quy trình sản xuất và tiêu thụ chưa khép kín. Trong sản xuất nông nghiệp, nhân dân đã biết tận dụng nguồn nước mưa. Xem đó là một quỹ nước có ý nghĩa chiến lược nhất là đối với vùng ven biển bị xâm nhập mặn như Kiên Giang. Tuy vậy vấn đề thiếu nước ngọt vẫn chưa được giải quyết ở đây. Hệ thống công trình thủy lợi chưa đáp ứng được nhu cầu cho sản xuất nông nghiệp. - Đời sống nhân dân vùng nông nghiệp còn nhiều khó khăn, đời sống văn hóa tinh thần, trình độ dân trí, cơ sở y tế, giáo dục còn thấp. - Sản lượng lương thực hàng năm tăng không ổn định, phát triển nông nghiệp toàn diện chưa được quan tâm đúng mức, nhiều tài nguyên tự nhiên bị lãng phí do khai thác chưa hợp lý, nổi bật là nguồn cá đồng và rừng tràm. Diện tích cây ăn trái và cây công nghiệp chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Những hạn chế về các điều kiện tự nhiên, xã hội và những hạn chế do con người tác động vào thiên nhiên không đúng quy luật đã ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng kinh tế- xã hội trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, đặc biệt là khu vực nông nghiệp. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên và qua những kết quả cũng như kinh nghiệm thực hiện nhiều dự án cho thấy việc điều tra, nghiên cứu cơ sở khoa học của những thành tựu cũng như tồn tại trong khai thác, sản xuất nông nghiệp, tài nguyên, môi trường của tỉnh Kiên Giang là rất cần thiết, nhằm cung cấp những luận cứ khoa học, để định hướng quy hoạch và phát triển vùng nông nghiệp, nông thôn một cách bền vững. Đồng thời, phát triển kinh tế nông nghiệp là nhằm ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đất nước nói chung và tỉnh Kiên Giang nói riêng, khắc phục sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo. Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế phát triển rất nhanh, nếu chỉ chú trọng phát triển kinh tế ở thành thị thì sự phân hóa giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn diễn ra rất nhanh, khoảng cách về mức sống ngày càng lớn, tạo ra sự bất ổn cả về kinh tế lẫn xã hội. Kinh tế nông nghiệp là một lãnh vực sản xuất ra những sản phẩm tất yếu cho xã hội, mà khu vực thành thị không thay thế được, chẳng hạn như lương thực, thực phẩm, nguyên liệu nông nghiệp... Phát triển kinh tế nông nghiệp là cần thiết vì nó là nơi vừa cung cấp nguyên liệu, vừa là thị trường cho phát triển công nghiệp thành thị. Phát triển kinh tế nông nghiệp còn nhằm giải quyết việc làm, hạn chế làn sóng di dân ra các đô thị, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái... Nói chung, phát triển kinh tế nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Kiên Giang là một vấn đề cấp thiết, nổi lên hàng đầu, là một chiến lược lớn nhằm phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa; thực hiện tốt Nghị quyết 06/NQ-TW của Bộ Chính trị về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn. Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài "Phát triển kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Kiên Giang" làm luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế. 2. Tình hình nghiên cứu Thời gian qua, kể từ khi bước vào thời kỳ đẩy mạnh cộng nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn theo đường lối đổi mới của Đảng ở nước ta, vấn đề phát triển kinh tế nông nghiệp với những mức độ khác nhau đã có nhiều công trình, nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu như: - Nguyễn Đình: Công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn các nước châu Á và Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997. - Hồng Vinh (chủ biên): Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998. - Phẩm An Ninh: Xu hướng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đồng Nai, Luận án tiến sĩ kinh tế, Hà nội, 1999. - Hội thảo quốc gia: Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tại Hà Nội từ ngày 16-1-2000 đến ngày 18-1-2000. Tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu sâu về phát triển kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Kiên Giang. 3. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài luận văn Điều tra đánh giá tương đối có hệ thống và toàn diện những thành tựu và những tồn tại trong sản xuất nông nghiệp, nông thôn, tài nguyên môi trường,đưa ra những định hướng và các giải pháp phát triển nông nghiệp toàn diện, nâng cao năng suất và hiệu quả các hoạt động sản xuất, phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hệ thống dân cư, bảo vệ môi trường sinh thái tự nhiên, từng bước hiện đại hóa nông nghiệp ở tỉnh. Bổ sung và hoàn chỉnh các luận cứ khoa học cho công tác quy hoạch phát triển vùng nông nghiệp ổn định trong thời gian tới ở Kiên Giang. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Luận văn tập trung nghiên cứu sự phát triển kinh tế nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, các lĩnh vực khác chỉ đề cập đến chừng mực nhất định để làm rõ thêm lĩnh vực phát triển kinh tế nông nghiệp. Mốc thời gian nghiên cứu chủ yếu kể từ khi đổi mới đến nay và theo suốt quá trình đổi mới đất nước. Địa bàn nghiên cứu: tỉnh Kiên Giang. 5. Những đóng góp mới về khoa học Trên cơ sở vận dụng lý luận chung vào việc phân tích tình hình cụ thể ở một lĩnh vực địa phương, để từ đó nhận định, đánh giá và đề xuất những định hướng, giải pháp có tính khả thi cho việc phát triển kinh tế nông nghiệp, trên địa bàn tỉnh Kiên Giang. 6. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn 6.1. Cơ sở lý luận Luận văn dựa trên cơ sở những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin và những công trình nghiên cứu khoa học có nội dung gần gũi với đề tài làm cơ sở lý luận, đặc biệt là Nghị quyết 06/NQ-TW ngày 10 tháng 11 năm 1998 của Bộ Chính trị về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn. 6.2. Phương pháp nghiên cứu Vận dụng những phương pháp chung của kinh tế chính trị, phương pháp khảo sát thực tế, phân tích, tổng hợp, so sánh, để rút ra kết luận. 6.3. Ý nghĩa của luận văn Luận văn nhằm đóng góp những cơ sở khoa học về đánh giá tình hình, rút ra nguyên nhân, đề xuất những định hướng và giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Kiên Giang, để hoạch định các chính sách và phương pháp tổ chức, quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực này tốt hơn. 7. Bố cục của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương, 6 tiết. Chương 1 VAI TRÒ CỦA KINH TẾ NÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ -XÃ HỘI Ở TỈNH KIÊN GIANG 1.1. NHẬN THỨC LÝ LUẬN THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP VÀ VAI TRÒ CỦA KINH TẾ NÔNG NGHIỆP Sau 15 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng về phát triển kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN, đã làm cho kinh tế nông nghiệp phát triển tốt là nhờ có ba tác nhân quan trọng đã tác động đến nền kinh tế nước ta trong thời gian qua là: - Chỉ thị 100/CT-TW ngày 13-01-1981 của Ban Chấp hành TW Đảng (khóa IV) về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động, có ý nghĩa rất quyết định trong việc xác định quyền tự chủ về sức lao động của nông dân. - Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, tháng 4 năm 1988 với nội dung chủ yếu là khoán hộ, đã xác nhận hộ nông dân được quyền tự chủ ruộng đất lâu dài và làm chủ thêm nhiều tư liệu sản xuất chủ yếu khác như: sức kéo và công cụ sản xuất. - Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VII), ban hành tháng 6 năm 1993 và sau đó là Luật Đất đai ban hành tháng 9/1993 đã chủ trương xây dựng các nông, lâm ngư trại với quy mô thích hợp, tạo thêm cho các tổ chức kinh tế, cá nhân người lao động và hộ nông dân quyền làm chủ đất đai trong khuôn khổ quản lý của Nhà nước. Chính nhờ những chỉ thị, nghị quyết nêu trên, nông dân gần như đã nhận được toàn bộ quyền tự chủ về sức lao động, vốn, đất đai, tư liệu sản xuất nông nghiệp khác. Họ phấn khởi thật sự và sản xuất nông nghiệp tăng rõ rệt, đời sống nông dân ngày một cải thiện, bộ mặt nông thôn có nhiều thay đổi. 1.1.1. Vậy thế nào là nông nghiệp, kinh tế nông nghiệp? - Khái niệm nông nghiệp: Nông nghiệp là một ngành kinh tế quốc dân, một trong những bộ phận chủ yếu của sản xuất vật chất, sản xuất thực phẩm cho nhân dân và nguyên liệu cho công nghiệp. Trong nông nghiệp, việc sản xuất sản phẩm không những gắn liền với quá trình kinh tế, mà cũng gắn liền với quá trình tự nhiên của tái sản xuất. Muốn kinh doanh nông nghiệp một cách đúng đắn điều quan trọng là hiểu biết và khéo sử dụng các quy luật kinh tế của sự phát triển động vật và thực vật. Nông nghiệp bao gồm hai tổng hợp ngành: ngành trồng trọt và chăn nuôi. Ngành trồng trọt bao gồm sản xuất ngũ cốc, cây công nghiệp, khoai tây, trồng rau, làm vườn, nghề trồng cỏ... Ngành chăn nuôi bao gồm việc nuôi súc vật lớn có sừng, cừu, lợn, gia cầm... Trong nông nghiệp ruộng đất là một trong những tư liệu sản xuất chủ yếu. Đặc điểm của ruộng đất với tư cách tư liệu sản xuất là: nếu sử dụng ruộng đất đúng đắn, thì độ phì của đất không bị cạn kiệt, mà tăng lên. Đặc trưng cho nông nghiệp là tính chất thời vụ của những công việc quan trọng nhất về sản xuất, sản phẩm, là sự tách rời khá lớn giữa thời gian sản xuất và thời kỳ làm việc do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp tạo nên. Nông nghiệp truyền thống Việt Nam là một nền nông nghiệp thâm canh lúa nước và trồng màu, nay đã phân chia thành nhiều ngành sản xuất. Từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, nông nghiệp Việt Nam đã đạt được những tiến bộ quan trọng: sản xuất nông nghiệp trở nên phong phú và đa dạng, phát huy được tiềm năng của các vùng tự nhiên đồng bằng, trung du, miền núi, bộ giống cây (nhất là lúa và giống cây lương thực) và vật nuôi được cải biến; hệ thống thủy lợi phát triển; phân bón và thuốc trừ sâu được cung cấp tương đối đầy đủ. Sản lượng và năng suất trồng trọt và chăn nuôi đều tăng rõ rệt. - Khái niệm kinh tế nông nghiệp: Kinh tế nông nghiệp là một ngành kinh tế của quốc dân có chức năng phân tích ảnh hưởng của các quy luật kinh tế trong nông nghiệp, áp dụng những thành tựu kinh tế vào thực tế lãnh đạo các cơ sở nông nghiệp, tạo điều kiện phát triển lực lượng sản xuất. Kinh tế nông nghiệp còn là một môn khoa học nghiên cứu những vấn đề kinh tế của sản xuất nông nghiệp: mối quan hệ giữa người và người, tác động và sự vận dụng cụ thể các quy luật kinh tế về sản xuất và phân phối sản phẩm trong nội bộ ngành nông nghiệp. Kinh tế nông nghiệp theo nghĩa rộng, nghĩa hẹp: Nông nghiệp theo nghĩa rộng (bao gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp) theo nghĩa hẹp nó là một ngành trực tiếp trồng trọt lương thực, chăn nuôi. Ở luận văn này nông nghiệp được nghiên cứu theo nghĩa rộng của nó. 1.1.2. Vấn đề nông nghiệp trong một số lý thuyết kinh tế + Kinh tế học Mác-Lênin - Học thuyết kinh tế của Các Mác Các Mác là người kế thừa có chọn lọc những tư tưởng khoa học của các nhà kinh tế trước đó người đứng gần Mác nhất là Adam - Smít và Ricácđô. - Trong quá trình phân tích Mác đã chỉ ra việc chuyển xã hội từ nền kinh tế tự nhiên, sinh tồn, tự cấp, tự túc sang nền kinh tế hàng hóa là một tất yếu. Kinh tế hàng hóa là nền kinh tế từ chậm phát triển sang phát triển. - Nền kinh tế sinh tồn, tự cấp tự túc đó chính là nền kinh tế mà nông nghiệp là hoạt động sản xuất chủ yếu, vậy để phát triển phải làm chuyển động ngành này. - Trong các lý thuyết của Mác, học thuyết về phân công lao động xã hội và sự hình thành các ngành kinh tế quốc dân có nói tới khía cạnh nông nghiệp là một ngành sản xuất. Mác cho rằng sự phân công lao động đã làm "cơ sở chung của mọi nền sản xuất hàng hóa". Có ba loại phân công: + Phân công lao động chung thành những ngành lớn. + Phân công lao động đặc thù (loại và thứ). + Phân công lao động cá biệt trong xưởng thợ. Và cơ sở của mọi sự phân công đó là: Sự tách rời giữa chăn nuôi và trồng trọt, giữa nông nghiệp và công nghiệp, sự xuất hiện nhiều ngành nghề khác nhau và giữa thành thị với nông thôn. Những sự tách rời đó xảy ra khi nào? Điều đó chỉ có được khi có sự nâng cao năng suất lao động xã hội, đặc biệt là trong nông nghiệp, tức nông nghiệp phải đạt tới một sự phát triển nhất định. - Trong học thuyết về địa tô, Mác chỉ ra tính chất nhiều vẻ của nông nghiệp trong những điều kiện khác nhau, sự khác nhau đó xuất phát không chỉ về vị trí và chất lượng của đất đai mà còn do sự khác nhau về cách thức đầu tư tư bản vào ruộng đất. Và việc đầu tư tư bản vào ruộng đất phụ thuộc vào chính những thay đổi về kỹ thuật, thâm canh... Lý luận về địa tô của Mác là một chỉ dẫn về một nền nông nghiệp phát triển không chỉ tăng quy mô diện tích mà bằng thâm canh cao. Tư bản kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, đã biến hầu hết nông phẩm thành những thương phẩm trong trao đổi hàng hóa đạt đến nền nông nghiệp của kinh tế thị trường. - Học thuyết kinh tế của V.I.Lênin Lênin là người kế thừa học thuyết Mác và phát triển trong điều kiện lịch sử mới. - Trong tác phẩm "Chủ nghĩa tư bản phát triển ở Nga" phân tích sự giải thể của công xã nông thôn dẫn đến một sự phân hóa và phân tầng xã hội của nông thôn, tới sự mở rộng sản xuất hàng hóa và do đó tới chủ nghĩa tư bản. Tư tưởng cơ bản của Lênin ở đây là nhấn mạnh tới tầm quan trọng của sự giải thể nền sản xuất truyền thống và sản xuất hàng hóa là con đường dẫn đến phát triển. Ông còn nhấn mạnh đến sự xuất hiện một thứ chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp tức là phát triển một nền nông nghiệp thương phẩm. - Sau Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại, đất nước Xô viết bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhưng nội chiến lại xảy ra. Chính sách "Cộng sản thời chiến" được thực thi trong thời gian này, đặc điểm nổi bật là dùng chính sách "trưng thu lương thực". Nội chiến kết thúc nước Nga rơi vào một cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng đặc biệt là ngành nông nghiệp bị giảm sút rất nhiều so với trước chiến tranh. Là người rất nhạy cảm về chính trị và kinh tế, đã sớm nhận ra sự suy sụp không tránh khỏi của nền kinh tế nếu cứ duy trì "chính sách cộng sản thời chiến". Mùa xuân 1921 Người đã đề ra "chính sách kinh tế mới" hay mô hình NEP như một chiến lược quá độ dần dần sang chủ nghĩa xã hội. + Về tư tưởng: Nhanh chóng khắc phục sự khủng hoảng kinh tế và chính trị của nước Nga lúc này. Khơi dậy tính năng động trong nông nghiệp và nông dân sau đó đến tiểu thủ công nghiệp và các ngành kinh tế khác qua động lực lợi ích kinh tế, chuyển chế độ trưng thu lương thực sang chế độ thuế lương thực. + Về biện pháp: - Thiết lập quan hệ hàng hóa tiền tệ giữa Nhà nước và nông dân, giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa công nhân và nông dân. - Khôi phục và tổ chức nền sản xuất công nghiệp cho phù hợp với yêu cầu của công nhân và nông dân. - Coi thương nghiệp là "mắt xích đặc biệt" để phục vụ thực hiện những nhiệm vụ phát triển nông nghiệp, liên kết công - nông nghiệp. - Thực hiện hạch toán kinh tế. Hướng hoạt động tài chính tín dụng vào việc khôi phục phát triển nông nghiệp. - Sử dụng sức mạnh của nền kinh tế nhiều thành phần thực hiện rộng rãi các hình thức kinh tế quá độ của chủ nghĩa tư bản nhà nước. Vấn đề hợp tác hóa nông nghiệp: theo nguyên tắc tự nguyện, tiến hành từ thấp đến cao và quản lý dân chủ. Tóm lại: Chiến lược quá độ dần sang chủ nghĩa xã hội trong NEP chính là "bắt đầu từ nông dân", đây là đột phá khẩu để khôi phục và thúc đẩy kinh tế hàng hóa trong nông nghiệp phát triển. Một tiền đề cho sự phát triển kinh tế - xã hội và sự đứng vững của chính quyền Xô viết. - Kinh tế học hiện đại Kinh tế học hiện đại là một trong những trường phái kinh tế lớn nhất hiện nay, gồm nhiều nhà kinh tế học ở các nước tư bản phát triển. Lý thuyết kinh tế của họ giải quyết các vấn đề của nền kinh tế thị trường hiện đại. Đặc trưng của kinh tế học hiện đại là dùng phương pháp toán học để mô tả và tham gia điều hành nền kinh tế. Lý thuyết "bàn tay vô hình" của A.Smith là nguyên lý chi phối trong các nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường. Khi trình độ xã hội hóa cao của sản xuất làm cho nền kinh tế thị trường có nguy cơ thất bại, thuyết "bàn tay hữu hình" của Keynes ra đời nhằm cứu nguy cho chủ nghĩa tư bản. Sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế cho phép kiểm soát được chu kỳ kinh tế và làm cho nền kinh tế tăng trưởng. Sau một thời gian áp dụng rộng rãi học thuyết của Keynes, những nhược điểm của học thuyết bộc lộ ra, đó là sự can thiệp quá sâu của Nhà nước vào nền kinh tế. Những biện pháp can thiệp của Nhà nước làm cho cơ chế linh hoạt vốn có của thị trường bị sơ cứng. Sự phục hồi của trường phái tự do kinh doanh, trường phái thể chế đã phê phán mạnh mẽ lý thuyết của Keynes và giúp cho chủ nghĩa tư bản thích ứng với bước phát triển mới của nó. Ở đây chúng ta lưu ý tới trường phái thể chế mới vì đối tượng nghiên cứu của nó khác hẳn các trường phái lý thuyết kinh tế tư bản khác. Trường phái này đưa yếu tố "thể chế ", yếu tố "kết cấu" vào trong quá trình phân tích xã hội tư bản. Trường phái này cho rằng hệ thống kinh tế chỉ là một bộ phận của tổng hợp nhiều thể chế trong nền văn hóa của con người, do đó nghiên cứu giải quyết vấn đề phát triển phải nghiên cứu cả tổng thể thể chế xã hội. Vai trò của Nhà nước trong đời sống kinh tế là kế hoạch hóa, kiểm soát nền kinh tế bằng các chính sách để khắc phục những khuyết tật của thị trường. Như vậy kinh tế học hiện đại không trực tiếp đề cập tới vấn đề nông nghiệp trong phát triển kinh tế nhưng trong các luận điểm của nó đã chỉ ra cách thức để phát triển đó là nền kinh tế thị trường có sự can thiệp của Nhà nước ở một mức độ nhất định. Việc chuyển sang kinh tế thị trường ở những nước kinh tế kém phát triển, trong đó nông nghiệp là nền tảng thì vai trò của Nhà nước đặc biệt quan trọng. Những thay đổi thể chế trong lĩnh vực nông nghiệp là hết sức cần thiết để gạt bỏ những vật cản bám rễ sâu trong các xã hội này. Thực tiễn lịch sử cho thấy những bài học thành công trong việc chuyển nền kinh tế nông nghiệp kém phát triển trở thành các nền kinh tế nông nghiệp hàng hóa chính là từ những bước khởi đầu của sự thay đổi chính sách đối với nông nghiệp. Tóm lại: Trên đây là những tư tưởng cơ bản của các lý thuyết kinh tế. Các lý thuyết kinh tế kể trên có những quan điểm khác nhau về vai trò của nông nghiệp trong phát triển kinh tế: - Hầu hết các quan điểm đều cho rằng kinh tế nông nghiệp có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, do đó muốn phát triển kinh tế xã hội cần phải chú ý tới phát triển kinh tế nông nghiệp. Trong số những lý thuyết đó còn có thuyết phân tích sâu hơn: cách làm thế nào để kinh tế nông nghiệp phát triển và đi từ đâu. Ngoài ra những lý thuyết không trực tiếp đề cập tới vấn đề kinh tế nông nghiệp, nhưng từ những quan điểm của các lý thuyết này đã đưa ra những gợi ý cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp, chẳng hạn: - Lưu ý tới các "cực tăng trưởng" trong nông nghiệp. - Chú ý tới lợi thế so sánh của nông nghiệp trong trao đổi quốc tế tức chú ý tới những nông sản xuất khẩu đem lại ngoại tệ. - Lưu ý tới sự thay đổi cơ chế, tác động của nó tới sự phát triển của kinh tế nông nghiệp. Việc chắt lọc những ý tưởng trong các lý thuyết kinh tế trên là hết sức cần thiết để hiểu biết và vận dụng vào quá trình đổi mới kinh tế nông nghiệp, phát triển nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay. 1.1.3. Kinh nghiệm về phát triển kinh tế nông nghiệp ở một số nước trên thế giới Nước ta phát triển kinh tế xã hội có những điều kiện bên ngoài và bên trong khác với các nước đã hoàn thành công nghiệp hóa. Tuy vậy, nghiên cứu những bài học lịch sử, nhất là về phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn lại trở nên cần thiết cho sự sáng tạo của nước ta, tránh được những giáo điều sao chép và ảnh hưởng của chủ nghĩa kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn. Trong vấn đề này, chúng tôi chú ý đến bài học phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn của các nước quanh ta và cả những bài học ở những nước xã hội chủ nghĩa trước đây. + Kinh nghiệm về phát triển nông nghiệp nông thôn ở các nước châu Á * Kinh nghiệm Hàn Quốc Nước này mở đầu công nghiệp hóa vào cuối thập kỷ 50, đầu thập kỷ 60 đã hoàn thành công nghiệp hóa khoảng 30 năm. Bài học tổng quát của Hàn Quốc về chính sách nông nghiệp nông thôn trong công nghiệp hóa là giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế với chính trị ở nông thôn, giữa công nghiệp với nông nghiệp. - Lần thứ nhất, với chính sách "hy sinh" nông nghiệp (kèm giá nông sản thấp hơn giá thành) để thực hiện công nghiệp hóa, làm cho mức sống nông thôn giảm sút, nên đã gây ra làn sóng di dân từ nông thôn ra thành thị (khoảng 1,3 triệu người) từ 1955-1960. Bối cảnh đó đã là nhân tố đưa đến cuộc đảo chính quân sự của Pắc Chung Hy (5-1961). Chính quyền mới đã thi hành nhiều chính sách có lợi cho nông nghiệp nông thôn, chủ yếu là về tài chính tín dụng, nên đã ổn định nông nghiệp nông thôn và tạo ra thị trường nội địa rộng lớn cho công nghiệp hóa, cải thiện đời sống cho hàng chục triệu nông dân. - Lần thứ hai, khi chuyển hướng thực hiện chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu, chính quyền thực hiện trả lương thấp cho công nhân và trở lại kìm giá nông sản, hạ thấp mức sống của nông dân nông thôn. Vì vậy, một làn sóng mới chừng 1,4 triệu cư dân nông thôn lại đổ ra thành thị, gây nhiều khó khăn cho đô thị. Bối cảnh đó đã thúc đẩy một cuộc nổi dậy tự phát của dân chúng vào tháng 8-1971. Do sức ép bên trong và bên ngoài (quan hệ Nam - Bắc Triều Tiên) Chính phủ buộc phải trở lại vấn đề nông nghiệp nông thôn với "Chương trình phát triển nông thôn" gồm bốn nội dung chính: + Tăng vốn vay cho nông dân (từ 1,3 tỷ Won năm 1969 lên 78 tỷ Won năm 1974; + Mua ngũ cốc với giá cao ở nông thôn và bán giá hạ cho thành thị; + Thay giống lúa cũ bằng giống lúa mới năng suất cao; + Khuyến khích xây dựng hợp tác xã sản xuất và đội lao động sửa chữa đường xá, cầu cống, nhà ở. Chính sách này có những kết quả tích cực, nhưng sau đó đã bộc lộ nhược điểm trợ giá mua lúa gạo cao đã gây ra thâm hụt ngân sách lớn, xây dựng hợp tác xã và đội lao động theo mệnh lệnh hành chính khiến nông dân bất mãn. Đó là bối cảnh gây ra tình hình chính trị - xã hội căng thẳng, đưa đến cuộc đảo chính quân sự của Chun Đô Hoan vào 12-1979. Tiếp đó, chịu sức ép của chính sách ngoại thương với Mỹ, đã làm cho nông nghiệp Hàn Quốc đình đốn. Từ năm 1975-1985 bình quân thu nhập của một hộ nông dân tăng 6,6 lần, trong khi số nợ mà họ đi vay tăng 63 lần. Tình hình chính trị căng thẳng đã buộc Chính phủ phải đưa ra "kế hoạch tổng thể về phát triển nông nghiệp nông thôn" tháng 4-1989 và đề ra "Mười năm cải tiến cơ cấu nông thôn" nhằm công nghiệp hóa nông nghiệp, đào tạo lại nguồn nhân lực ở nông thôn, mở rộng quy mô các nông trại, nâng cao đời sống dân cư nông thôn lên ngang với mức bình quân của một hộ làm công ăn lương ở đô thị. * Kinh nghiệm Thái lan Nhìn lại quá trình cải cách, công nghiệp hóa của Thái Lan mấy thập kỷ qua, có thể rút ra mấy vấn đề: - Là nước xuất khẩu gạo lớn nhất châu Á, nhưng phần lớn nông dân nhiều thời kỳ lâm vào thiếu đói, vì 85% số hộ nông dân không có ruộng đất, chịu lĩnh canh và làm thuê. Giai cấp địa chủ chống lại chính sách hạn chế tập trung ruộng đất của Chính phủ. - Thực hiện chiến lược công nghiệp hóa, đã tập trung 95% nguồn vốn Nhà nước cho xây dựng cơ sở hạ tầng và công nghiệp, nên coi nhẹ phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn và bảo vệ tài nguyên. - Tập trung xây dựng công nghiệp ở một số đô thị (80% cơ sở công nghiệp ở Băng Cốc và phụ cận) đã phá hủy sự cân bằng về bố trí không gian lãnh thổ, đưa đến mở rộng sự ngăn cách về trình độ phát triển giữa các vùng, nhất là đô thị với nông thôn. Phần lớn nông dân bị bần cùng hóa, đưa đến phong trào đấu tranh của nông dân. - Tình hình trên là một trong những nhân tố dẫn tới khủng hoảng chính trị - xã hội (5 Chính phủ thay nhau trong vòng 1973-1980). Về sau, nhờ đề xuất của một nhóm nhà khoa học xã hội hàng đầu, Chính phủ đề ra chiến lược mới "Chiến lược phát triển có lựa chọn", đặt trọng tâm vào phát triển nông nghiệp và nông thôn, tạo tiền đề vững chắc cho công nghiệp hóa, trong đó khâu then chốt là phát triển công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm như sợi dây liên kết công nghiệp với nông nghiệp, nhờ đó đã lấy lại thế cân bằng trong phát triển kinh tế trong thập kỷ 80. Như vậy bài học của Thái Lan cũng xoay quanh mối quan hệ nông nghiệp với công nghiệp, nông thôn với đô thị. Mối quan hệ này giải quyết như thế nào tùy thuộc vào giai cấp cầm quyền. Do đó, vấn đề hệ thống chính trị phải trở thành nhân tố bên trong của sự phát triển, chứ không phải là nhân tố bên trên, bên ngoài. * Kinh nghiệm Đài Loan Do địa vị chính trị đặt ra, đòi hỏi chính quyền Đài Loan tìm ra chính sách kinh tế - xã hội phù hợp để tồn tại. Sức ép đó có lẽ là động lực quan trọng để Đài Loan trở thành mô hình giải quyết quan hệ giữa công nghiệp hóa với nông nghiệp - nông thôn thành công hơn cả trong số những nước công nghiệp mới. Chỉ trong vòng 3 thập kỷ, Đài Loan đã từ một vùng nông nghiệp kém phát triển trở thành một trong mấy "con rồng" châu Á. Từ năm 1952-1990, sản lượng nông nghiệp tăng 4,5 lần, về giá trị tăng từ 700 triệu USD lên 12 tỷ USD, riêng nông sản xuất khẩu tăng từ 114 triệu USD lên hơn 4 tỷ USD. - Đem lại ruộng đất cho nông dân, tạo điều kiện hình thành các trang trại gia đình quy mô nhỏ. Đến năm 1991, tổng số trang trại lên đến 823.256 với quy mô trung bình là 1,08 ha. Đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp và công nghiệp hóa nông thôn. Nhờ đó nông dân có tích lũy để thực hiện nền nông nghiệp đa canh, đồng thời mấy chục vạn lao động nông nghiệp đã làm ngành nghề khác. Nhờ cơ sở nông nghiệp nông thôn phát triển đã tạo môi trường vì điều kiện cho sản lượng công nghiệp tăng 50 lần từ 1952-1990. - Đầu tư cho kết cấu hạ tầng kỹ thuật và cả hạ tầng xã hội để phát triển nông nghiệp nông thôn. Nhờ đó kinh tế thị trường nông thôn rộng khắp, điều kiện sản xuất và sinh hoạt ở nông thôn khác trước, giáo dục bắt buộc từ 6-9 năm, tỷ lệ tăng dân số giảm dần (từ 3,2% năm 1962 xuống 1,5% năm 1985). - Chú ý phát triển đồng đều giữa các vùng trong nước, không tập trung quá mức vào các khu công nghiệp và đô thị. Tính đến đầu thập kỷ 80, Đài Loan chỉ có 17,7% cơ sở công nghiệp đặt ở 5 thành phố lớn (trái lại, ở Thái Lan trên 80% cơ sở công nghiệp tập trung ở Băng Cốc...), 42% đặt ở vùng phụ cận, 32% đặt ở nông thôn. Đó là một không gian hợp lý của công nghiệp hóa. Nhờ đó, mức thu nhập không chênh lệch lớn: 20% dân số giàu nhất, dân số nghèo nhất thì năm 1950 là 15/1 đã giảm xuống 4/1 vào những năm 1990. - Phát triển cách sử dụng ruộng đất phù hợp với yêu cầu phát triển nông nghiệp từng bước. Công nghiệp hóa nông nghiệp đòi hỏi mở rộng quy mô sản xuất để ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mà không đụng chạm đến quyền sở hữu ruộng đất trang trại, nhưng chuyển quyền sử dụng cho người khác mở rộng quy mô canh tác. Phương thức này vốn là sáng kiến của nông dân, sau được thể chế hóa trong "Luật phát triển nông nghiệp" (1983). Để mở rộng quy mô sản xuất, ngoài phương thức ủy thác, nông dân còn áp dụng hình thức làm chung các công việc như làm đất, thu hoạch, mua bán giữa các hộ, hình thức tổ chức dịch vụ, hội khuyến nông trở thành phổ biến. Một số nơi đã tổ chức hợp tác xã sản xuất thử nghiệm, nhưng không được nông dân hưởng ứng. * Ngoài kinh nghiệm các nước nói trên, trong định hướng chính sách nông nghiệp của các nước châu Á đang phát triển cũng cho thấy mấy hướng đi. - Coi trọng phát triển nông nghiệp như một bảo đảm cho ổn định kinh tế xã hội. Từ đó có giải pháp đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp cho thị trường trong nước và xuất khẩu, nhằm tiết kiệm ngoại tệ vì bảo đảm được nông phẩm, vừa gia tăng nguồn thu ngoại tệ vì có xuất khẩu. Hơn nữa, phát triển nông nghiệp toàn diện thì mới bảo đảm ổn định kinh tế xã hội nông thôn. - Nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm nhằm cải thiện cơ cấu và chất lượng sản phẩm nông nghiệp. Từ đó đòi hỏi hiện đại hóa nông nghiệp và đa dạng hóa sản phẩm. - Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước theo ba hướng: Phát triển hoạt động đối ngoại nhằm khơi thông và mở rộng thị trường, sử dụng mềm dẻo hàng rào thuế quan; Hỗ trợ ổn định giá nông sản, nhất là mặt hàng chiến lược, đồng thời khuyến khích nông dân đầu tư dài hạn và có lợi; Chính phủ xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư nghiên cứu khoa học và đào tạo nhân lực, đồng thời cấp phát tín dụng cho nông dân vay. * Bài học về phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn ở các nước XHCN trước đây Nét nổi bật và phổ biến trong chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn ở các nước này là đưa nông dân đi vào con đường hợp tác hóa dưới dạng các hình thức nông trang, nông trường, hợp tác xã hay công xã nhân dân tùy theo mỗi nước. Mục đích giống nhau của các hình thức ấy là xóa bỏ mọi hình thức bóc lột trong nông nghiệp nông thôn và ngăn chặn sản sinh mầm mống tư bản chủ nghĩa. Từ mục đích ấy để giải quyết vấn đề quan hệ sản xuất trong nông thôn: Chuyển từ sở hữu cá thể và tư nhân hoàn toàn sang sở hữu tập thể ruộng đất và công cụ sản xuất; thực hiện chủ nghĩa bình quân trong phân phối nhằm ngăn chặn phân hóa giàu nghèo; áp dụng thể chế quản lý do trên quyết định. Về mặt xã hội: vai trò nhà nước có ý nghĩa quyết định về mặt giáo dục, y tế, công việc làm, nhà ở... Nhờ đó tỷ lệ người biết chữ trong nông thôn gần như đạt 100%, số người được học lên các cấp, kể cả đại học ngày càng nhiều. Sức khỏe được chăm sóc, hầu hết miễn phí. Nhìn chung, nông thôn không có tình trạng đói nghèo, nhưng cũng không có người giàu. Đời sống nông thôn ổn định, chầm chậm trôi đi, lặp đi lặp lại những kinh nghiệm đã biết. Sai lầm cơ bản trong chính sách này là ở: Thay đổi quan hệ sản xuất nhưng không dựa trên sự liên tục giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất. Hình thức quan hệ sản xuất ấy đến lúc không phù hợp, đã trở thành cản trở nông nghiệp nông thôn phát triển, mặc dù có một số nước đã công nghiệp hóa nông nghiệp. - Giải quyết vấn đề xã hội đã kéo dài đến mức không gắn liền với phát triển kinh tế. Vì vậy cơ cấu xã hội dân cư đến lúc không gắn với kết quả của chuyển dịch cơ cấu và phân công lao động trong kinh tế thị trường. - Phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn hầu như chỉ là công việc của nhà nước chứ không còn là ._.sự nghiệp của nhân dân. Vì thế mặc dù có lúc được phúc lợi bao cấp tốt, học hành nhiều, nhưng mức sống lại thấp. Chế độ bao cấp kinh tế và giáo dục tư tưởng đã tạo ra tính thụ động theo kế hoạch có sẵn, và tâm lý chịu ổn bề trên. - Không hình thành được động lực cho dân trong sự nghiệp phát triển nông thôn, người dân không thể làm chủ nông thôn như mục tiêu đã định. Vì thế trong hệ thống quản lý nông nghiệp nông thôn sản sinh trì trệ, tham nhũng, lộng quyền và thoái hóa. Như vậy, chính sách kinh tế nông nghiệp nông thôn ấy là xa rời cả về lý luận và thực tiễn, nên không đạt được mục tiêu kinh tế và cả mục tiêu xã hội. 1.2 VAI TRÒ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TRONG SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÓI CHUNG VÀ Ở TỈNH KIÊN GIANG Nông nghiệp là khu vực kinh tế truyền thống, tập trung tuyệt đại đa số lao động của xã hội; nó chịu ảnh hưởng to lớn của điều kiện đất đai, khí hậu và là khu vực duy nhất sản xuất ra lương thực - thực phẩm. Do những đặc điểm nổi bật đó, kinh tế nông nghiệp có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế, đồng thời bản thân nó chịu ảnh hưởng to lớn của quá trình phát triển. Nông nghiệp là thị trường hết sức quan trọng đối với cả tư liệu tiêu dùng. Với 78,5% dân số (hơn 50 triệu người) sống ở nông thôn, khu vực này là thị trường có nhiều tiềm năng. Song điều đó còn phụ thuộc rất lớn vào chính sách thu nhập của Nhà nước. Một chính sách thu nhập không đúng đắn, bất lợi cho nông nghiệp, thu hẹp lợi nhuận của nông dân, tất yếu sẽ làm giảm quy mô tích lũy và tiêu dùng ở khu vực nông thôn sẽ dẫn tới một kết quả là thu hẹp khu vực công nghiệp và dịch vụ. - Hệ sinh thái của nước ta phụ thuộc rất lớn vào nông nghiệp. Trong sản xuất, nông nghiệp sử dụng một khối lượng hóa chất lớn gồm hàng triệu tấn phân bón, hàng chục nghìn tấn thuốc trừ sâu, diệt cỏ. Hoạt động kinh tế nông nghiệp gần như trải rộng trên hầu hết lãnh thổ, tác động mạnh mẽ tới sự hình thành hệ sinh thái từ nguồn nước, không khí, thảm thực vật tới đất đai. Vì vậy, giải quyết vấn đề sinh thái phải gắn liền với chính sách phát triển nông nghiệp. - Ổn định chính trị - xã hội là nhân tố quan trọng bậc nhất đối với sự phát triển. Song, bản thân vấn đề này lại phụ thuộc vào những yếu tố khác, trong đó có vấn đề nông nghiệp. Là ngành kinh tế duy nhất cung cấp lương thực - thực phẩm đáp ứng nhu cầu cơ bản nhất và lớn nhất của tiêu dùng xã hội, nông nghiệp tác động trực tiếp tới trạng thái chính trị - xã hội. Mặt khác, nó là khu vực kinh tế cung cấp 50% toàn bộ thu nhập quốc dân, và thu nhập của 80% dân số nước ta phụ thuộc vào nông nghiệp. Chính vì vậy, sự thịnh, suy của kinh tế nông nghiệp tác động mạnh mẽ tới tâm trạng chính trị của đa số dân cư. Đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp để nó có thể cung cấp lương thực - thực phẩm nuôi sống toàn bộ dân cư, đồng thời có sản phẩm thặng dư xuất khẩu là một giải pháp có ý nghĩa to lớn cả về kinh tế, chính trị, xã hội. Thực tế ở nước ta và các nước khác nông nghiệp đều là cơ sở kinh tế cho sự ổn định xã hội - tiền đề quan trọng của sự phát triển và là bước đi ban đầu cho mọi sự phát triển. Về vai trò của nông nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng cũng khẳng định: "Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế - xã hội". Song, phải thấy rằng, đề cao tuyệt đối nông nghiệp cũng sai lầm như coi nhẹ nông nghiệp và đều làm suy yếu nền kinh tế quốc dân. Công nghiệp và dịch vụ mới có thể tạo nên sự phát triển mạnh và mức tăng trưởng cao. Điều cần khẳng định ở đây là, trong tình trạng lạc hậu hiện nay của nước ta, phải biết dựa vào nông nghiệp để xác lập những điều kiện ban đầu cho sự phát triển. Về tầm cỡ quốc gia, theo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới, muốn công nghiệp hóa nhanh và phát triển kinh tế thành công, trước hết phải có nền nông nghiệp mạnh mới đảm bảo tăng trưởng kinh tế, tạo sự phát triển công bằng xã hội, giải quyết vấn đề về nghèo đói, di cư và nhiều vấn đề khác. Đối với tỉnh Kiên Giang, kinh tế nông nghiệp phát triển có tác động trên nhiều mặt: Một là, kinh tế nông nghiệp đã đóng góp rất lớn vào quá trình phát triển kinh tế của tỉnh Kiên Giang Kiên Giang với diện tích 6.224,5km2, trong đó trên 98% diện tích thuộc khu vực nông nghiệp. Hiện nay có 80% dân số và 79,8% lao động sống ở vùng nông nghiệp với sản xuất chính là nông - lâm nghiệp, khai thác và nuôi trồng thủy sản, ngoài ra khu vực này cũng có điều kiện để phát triển nông nghiệp công nghiệp chế biến và dịch vụ. Nông nghiệp Kiên Giang đã đóng góp rất lớn vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Trong những năm qua, GDP từ khu vực nông nghiệp chiếm 70% trong GDP của tỉnh, hàng năm đã sản xuất từ 1,5 - 2 triệu tấn lúa, 25.000 - 30.000 tấn thịt, trên 200.000 tấn tôm cá các loại... trong giai đoạn tới tỷ trọng GDP từ khu vực nông nghiệp sẽ giảm dần còn 50% GDP toàn tỉnh, nhưng nông nghiệp vẫn đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh như: đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm, cung cấp khối lượng hàng hóa lớn về nông hải sản. Hai là, tạo nguồn thu ngoại tệ quan trọng thông qua xuất khẩu hàng nông lâm thủy sản Hàng năm tỉnh cung cấp một lượng lớn lúa hàng hóa từ, 800.000 đến 1 triệu tấn phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Do vậy hàng xuất khẩu nông sản chủ yếu là gạo, chiếm tỷ trọng từ 50% - 70% trong tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, góp phần tiêu thụ sản phẩm ở nông thôn, tăng nguồn thu ngoại tệ cho tỉnh. Kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản năm 1998 đạt 19,4 triệu USD, trong đó gạo 76.224 tấn, tăng gấp 4 lần so với năm 1990. Về giá gạo xuất khẩu còn phụ thuộc nhiều vào thị trường và giá gạo thế giới cũng như chất lượng gạo và công tác tiếp thị của các doanh nghiệp nhà nước. Tình hình sản xuất gạo 1990 - 1998 của tỉnh Hạng mục 1990 1992 1993 1995 1996 1997 1998 Lượng gạo xuất khẩu (tấn) 19.397 23.022 30.738 38.816 159.277 218.461 76.224 Giá trị (triệu USD) 4,65 4,80 5,83 11,0 43,4 51,9 19,4 Giá bán trung bình (USD/ tấn) 240 208 190 283 272 238 255 Nhìn chung, lao động xuất nhập khẩu nông sản trong thời gian qua có nhiều cố gắng nhưng vẫn còn nhiều tồn tại, yếu kém, chưa đáp ứng yêu cầu so với sản lượng hàng hóa của tỉnh (chỉ xuất được khoảng 20% lượng hàng hóa của tỉnh). Mặt khác, một số sản phẩm nông sản có khối lượng hàng hóa lớn nhưng chưa xuất khẩu được như tiêu, hạt điều, hột vịt muối, nước dứa cô đặc và đóng hộp. Hàng tư liệu và vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp như máy móc phân bón, thuốc trừ sâu nhập khẩu còn hạn chế. Ba là, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho lao động nông thôn, một bộ phận lao động của xã hội Năm 1998 dân số tỉnh Kiên Giang là 1.491.998 người, trong đó số dân sống ở vùng nông thôn là 1.187.367 người chiếm tỷ lệ 79,58%, nguồn lao động 870.625 người chiếm 58,32% so với số dân toàn tỉnh (trong đó nguồn lao động khu vực nông thôn có 732.334 người chiếm 84,15% lao động). Theo kết quả điều tra lao động việc làm năm 1997 cho thấy chất lượng lao động của tỉnh còn thấp, nhất là khu vực nông thôn tỷ lệ lao động không có chuyên môn kỹ thuật chiếm 70% - 93%; lao động nông nhàn còn lớn, chỉ mới sử dụng 50% quỹ thời gian trong năm. Nhiệm vụ đào tạo cho lực lượng lao động nông thôn là nhiệm vụ hết sức cần thiết và bức xúc trong giai đoạn sắp tới. Nhìn chung nguồn lao động ở nông thôn của tỉnh rất dồi dào, đây là một lợi thế nhưng cũng là sức ép đối với nền kinh tế, tỉnh sẽ có kế hoạch để đào tạo và giải quyết việc làm cho số lao động nông thôn. Bởi vì đời sống dân cư nông thôn từng bước có được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người tăng, tỷ lệ hộ nghèo đói giảm đáng kể, bộ mặt nông thôn được thay đổi một bước nhưng đời sống của một bộ phận dân cư còn gặp nhiều khó khăn, thu nhập bình quân ở khu vực nông thôn còn thấp khoảng cách xa so với thành thị, tình trạng sang nhượng cầm cố ruộng đất có xu hướng tăng, nhà ở tạm bợ còn nhiều, tỷ lệ sử dụng điện còn thấp, nước sinh hoạt một số còn khó khăn, điều kiện về chăm sóc sức khỏe học hành còn hạn chế. Nhìn chung đời sống vật chất và tinh thần khu vực nông thôn hiện nay còn thấp kém. Bốn là, nơi bảo vệ làm giàu môi trường sinh thái bền vững Ngày nay sự tàn phá môi trường tự nhiên, khí hậu đất đai biến động theo chiều hướng bất lợi - điều kiện ngoại cảnh thay đổi, thì việc cố gắng duy trì một nền nông nghiệp sinh thái bền vững với đối tượng là sinh vật (cây trồng, vật nuôi...) là thử thách có tính chất sống còn của nhân loại. Đối với nước ta nói chung và Kiên Giang nói riêng trong quá trình sản xuất nông nghiệp, về cơ bản, có hai loại tác động tổng hợp sản sinh ra sản phẩm: tác động của con người, bao gồm kết cấu hạ tầng, giống cây, giống con các biện pháp kỹ thuật canh tác, chăn nuôi, công nghệ sau thu hoạch... tác động của tự nhiên, bao gồm khí hậu, đất, nước, rừng và các loại sinh vật tự nhiên. Hai mặt có tính tổng hợp này tác động qua lại lẫn nhau, qua đó con người khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên theo hướng có lợi cho cộng đồng. Các tác động tự nhiên, khí hậu thuộc phạm vi rộng lớn phụ thuộc vào trái đất, khí quyển, bởi tác nhân vũ trụ, đất canh tác, nước tưới cho nông nghiệp, độ che phủ của rừng cây, các tác động vừa phụ thuộc tự nhiên, vừa phụ thuộc con người. Sức con người (lao động trí tuệ và khoa học kỹ thuật) càng lớn mạnh càng có khả năng khống chế, hạn chế được các mặt bất lợi của đất và nước. Đồng thời con người phải bảo vệ quỹ đất nông nghiệp, nguồn nước và mở rộng diện tích rừng. Đó là điều kiện làm cơ sở cho việc bảo vệ làm giàu môi trường sinh thái bền vững. Chương 2 THỰC TRẠNG KINH TẾ NÔNG NGHIỆP Ở KIÊN GIANG NHỮNG NĂM QUA VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN GIẢI QUYẾT 2.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN- XÃ HỘI CÓ ẢNH HƯỞNG TRỰC TIẾP ĐẾN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH KIÊN GIANG 2.1.1. Đặc điểm tự nhiên kinh tế-xã hội ở tỉnh Kiên Giang a) Ranh giới và vị trí tỉnh Kiên Giang Tỉnh Kiên Giang nằm ở phía Tây Bắc vùng đồng bằng sông Cửu Long, ranh giới hành chính được xác định như sau: * Phía Bắc giáp nước Cộng hòa nhân dân Campuchia. * Phía Nam giáp các tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu. * Phía Đông giáp các tỉnh An Giang, Cần Thơ. * Phía Tây giáp Vịnh Thái Lan. Theo ranh giới này, Tỉnh Kiên Giang có diện tích tự nhiên 6.224,5 km2, bao gồm 2 huyện đảo (Phú Quốc, Kiên Hải) và 11 huyện thị ở đất liền (thị xã Rạch Giá, Hà Tiên, các huyện: Kiên Lương, Hòn Đất, Tân Hiệp, Châu Thành, Giồng Riềng, Gò Quao, An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận), trải rộng trên 4 vùng sinh thái: Tứ giác Long Xuyên, Tây sông Hậu, bán đảo Cà Mau và hải đảo. Tỉnh có trên 200 km bờ biển ở đất liền, 105 hòn đảo, 56,8 km đường biên giới quốc gia và nhiều cảnh quan nổi tiếng, cùng với ưu thế về vị trí địa lý và tài nguyên phong phú đã tạo cho Kiên Giang có các lợi thế nổi bật nghề đánh bắt hải sản, phát triển nông nghiệp, công nghiệp và thương mại - du lịch. b) Điều kiện tự nhiên * Khí hậu: Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa gần xích đạo với những đặc trưng chính như sau: Nắng nhiều: Trung bình từ 6,5 - 7,5 giờ/ngày, có chiều hướng tăng dần theo trục từ Tây sang Đông. Năng lượng bức xạ tổng cộng lớn, trung bình từ 150-160kcal/cm2 năm. Nhiệt độ cao và ôn hòa, nhiệt độ trung bình năm từ 27 - 280C, tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là tháng 12 và tháng giêng nhiệt độ cũng nằm trong khoảng 25 - 260C. Tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 4 và tháng 5 nhiệt độ trung bình cũng chỉ khoảng từ 28-290C. Nắng nhiều, bức xạ dồi dào, nhiệt độ cao và ít có thiên tai là những thuận lợi rất cơ bản cho phát triển nông nghiệp của Kiên Giang nói riêng và đồng bằng sông Cửu Long nói chung. Lượng mưa lớn, mùa mưa đến sớm và kết thúc muộn hơn các tỉnh khác ở đồng bằng sông Cửu Long. Hạn chế rõ nét trong chế độ mưa ở đây là trong thời kỳ đầu của mùa mưa thường hay gặp hạn. Hạn đầu vụ ít ảnh hưởng với các vùng phù sa được tưới nhưng lại rất nghiêm trọng với đất mặn, đất phèn nằm ở cuối nguồn nước ngọt. Mưa nhiều trong thời kỳ cuối mùa mưa cũng có tác hại do gây ngập úng, nhất là gặp các năm lũ lớn thì tác hại của mưa nhiều trong thời kỳ này càng rõ. Vì vậy để tăng vụ và sản xuất ổn định cần phải đặc biệt coi trọng biện pháp cung cấp nước vào mùa khô và tiêu tưới trong mùa lũ. * Nguồn nước - thủy văn: + Nguồn nước: Nước mặt: Sông Hậu là nguồn cung cấp nước mặt chủ yếu cho Kiên Giang, theo số liệu của Phân viện khảo sát và quy hoạch thủy lợi Nam bộ lưu lượng sông Hậu đo tại đầu nguồn (Châu Đốc) và cuối nguồn (Cần Thơ) như sau: Bảng 1: Lưu lượng nước sông Hậu tại Châu Đốc và Cần Thơ Chỉ tiêu Đơn vị Châu Đốc Cần Thơ Lưu lượng trung bình Lưu lượng nhỏ nhất Lưu lượng lớn nhất m3/s m3/s m3/s 2.400 300 5.400 835 13.680 - Nước sông Hậu được đưa về Kiên Giang qua các kênh trục chính như: Vĩnh Tế, Tri Tôn, Mười Châu Phú, Ba Thê, Kiên Hảo - Chóc Năng Gù, Rạch Giá - Long Xuyên, Đòn Dông (kênh Tròn), Cái Sắn, Thốt Nốt, Ô Môn, các kênh HK, kênh Xà No. Khi được nạo vét và mở rộng có thể cung cấp nước tưới cho hầu hết diện tích đất nông nghiệp của vùng Tây sông Hậu, tứ giác Long Xuyên và phần phía đông của bán đảo Cà Mau. - Chất lượng nước mặt từ nguồn Sông Hậu nhìn chung là tốt, hàm lượng phù sa trung bình 250g/m3. Nhưng phù sa đã bị kết lắng hầu hết ở các khu vực đầu nguồn thuộc An Giang và Cần Thơ. Hai yếu tố gây ô nhiễm nguồn nước ở đây là phèn và xâm nhập mặn từ biển Tây. Bảng 2: Hàm lượng mặn (S) và độ PH trong nước tại một số khu vực Trạm Năm Tháng 4 Tháng 5 Tháng 6 Tháng 7 PH S PH S PH S PH S Tri Điền Sóc Xoài Kiên Bình Vọng Thê Vĩnh Điều Tri Tôn An Biên 1992 1992 1992 1992 1992 1992 1991 6,2 6,8 6,7 3,5 3,6 4,0 7,0 6,4 7,4 6,2 5,3 0,4 0,3 30,0 3,2 3,9 3,0 4,0 1,6 0,7 23,8 8,6 8,5 19,8 0,4 1,6 0,7 23,8 2,7 3,1 2,5 3,2 3,4 3,7 4,0 9,9 24,1 16,7 0,6 0,4 0,4 17,7 2,8 3,4 3,0 3,3 3,4 3,6 3,7 0,8 2,8 0,9 0,6 0,5 0,4 0,5 + Vùng bán đảo Cà Mau thường bắt đầu bị xâm nhập mặn từ cuối tháng 11, thời kỳ từ cuối tháng 12 đến đầu tháng 5 hầu hết các kênh rạch trong vùng bị nhiễm mặn. + Vùng tứ giác Long Xuyên và Tây sông Hậu xâm nhập mặn diễn ra từ tháng 4 đến tháng 6 đầu tháng 7, trong đó tháng 4 có tần suất lớn và mức độ nặng nhất, trong những năm bình thường mặn xâm nhập sâu từ 7 - 8km (tính từ cửa kênh). Ứng năm hạn nặng nước mặn xâm nhập vào sâu từ 11 - 12 km. Nguồn nước ngầm: Theo số liệu của chương trình cấp nước đô thị Kiên Giang, trong phạm vi của tỉnh có 7 phức hệ chứa nước: (1) Phức hệ chứa nước các trầm tích Hôloxem (Q.IV) (2) Phức hệ chứa nước các trầm tích Pleistoxen (Q.I - III) (3) Phức hệ chứa nước các trầm tích Neogen (N) (4) Phức hệ chứa nước các trầm tích lục nguyên xen phun trào Jura muộn Kreta (J3 - Kpq) (5) Phức hệ chứa khe nứt các trầm tích lục nguyên xen Carbonat triat giữa (T2ht) (6) Phức hệ chứa nước Cac-tơ, khe nứt các trầm tích Carbonat Pec - mi muộn (P2ht) (7) Phức hệ chứa nước khe nứt các trầm tích lục nguyên xen phun trào Pleistoxen sớm giữa (Pz 1 - 2). Trong 7 phức hệ chứa nước nêu trên, chỉ có phức hệ Pleistoxen (QI - III) là đối tượng trực tiếp cấp nước sinh hoạt, đã và đang được khai thác. Có thể phân vùng khả năng cung cấp nước ngầm ở Kiên Giang như sau: Vùng 1: Vùng có nước ngầm với trữ lượng dồi dào và chất lượng tốt (hàm lượng CI<400 mg/lít và độ sâu khai thác từ 80 - 130 m) phân bố ở An Biên, Vĩnh Thuận, Gò Quao, Châu Thành, khu vực giáp An Minh của An Biên, một phần của Giồng Riềng tại khu vực tiếp giáp với Châu Thành và Tân Hiệp. Vùng 2: Vùng có nước ngầm với chất lượng tốt nhưng trữ lượng nghèo (hàm lượng CI<400mg/lít, độ sâu khai thác 50 - 70 m, có nơi 80 - 110 m). Phân bố ở khu vực Bình Sơn. Vùng 3: Vùng có nước ngầm với chất lượng không tốt nhưng tạm sử dụng được (hàm lượng CI 300 - 1.000mg/lít), độ sâu khai thác từ 40 - 60 m. Phân bố trong phạm vi các huyện Hòn Đất, Giồng Riềng, Hà Tiên. Riêng thị xã Rạch Giá, An Minh và khu vực phía tây An Biên có độ sâu từ 80 - 110 m. Vùng 4: Vùng có nước ngầm bị mặn (hàm lượng CI>1.000mg/lít). Phân bố ở phần còn lại thuộc Hà Tiên (Hòa Điền, Phú Mỹ, Tân Khánh Hòa, Mỹ Đức) An Biên (Trung thái và khu vực phía nam kênh thứ 9). Riêng ở Phú Quốc nước ngầm xuất hiện ở độ sâu từ 1 - 3 m, chất lượng tốt, hầu hết nhân dân trong huyện đã đào giếng để sử dụng nguồn nước này. Ngược lại ngầm tầng sâu có lưu lượng nhỏ, việc cung cấp nước cho đô thị và các khu công nghiệp tập trung phải giải quyết bằng biện pháp xây dựng hồ chứa nước mặt. Tình trạng ngập: - Ngoại trừ các đảo và đồi núi, hầu hết diện tích trong đất liền đều bị ngập nước từ giữa mùa mưa đến đầu mùa khô. - Vùng tứ giác Long Xuyên lũ thường xuất hiện vào cuối tháng 8 và đầu tháng 9. Trung bình cứ vài ba năm lại có một trận lũ lớn, nhưng những năm gần đây lũ lớn xảy ra liên tục. Vùng bị ngập sâu phân bổ từ kênh Rạch Giá -Hà Tiên tới giáp An Giang (từ 1m -1,5 m). Vùng ven biển có độ ngập từ 0,5m trở xuống. Thời điểm nước bắt đầu rút thường từ cuối tháng 11 đến cuối tháng 12, thời điểm kết thúc ngập thường vào đầu tháng 1. - Vùng Tây sông Hậu lũ đến muộn hơn (tháng 9) và mức ngập nông hơn (0,5 - 0,7 m) so với vùng tứ giác Long Xuyên nhưng rút nước muộn hơn (từ tháng 12 đến đầu tháng 1). - Với sản xuất nông nghiệp, những khu vực bị ngập từ 0,5m trở lên mà đặc biệt lớn hơn 1m không thể tiến hành làm 3 vụ được, những năm lũ về sớm ảnh hưởng lớn đến thu hoạch lúa Hè thu, nhất là trên các chân ruộng gieo trễ. Tại các vùng ngập dưới 0,5 m tuy không hạn chế bởi yếu tố ngập nhưng do nằm ở cuối nguồn nước ngọt hoặc ở địa hình cao nên bị hạn chế về khả năng tưới vào cuối mùa khô và đầu mùa mưa. Tuy nhiên, lũ cũng có nhiều mặt lợi mà nhất là đối với vùng có nhiều phèn thì lũ có tác dụng tốt để ém phèn, rửa phèn và tiêu độc cho đồng ruộng. Vì vậy, chương trình chống lũ trên đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tứ giác Long Xuyên nói riêng ngoài việc hạn chế tác hại còn phải có các biện pháp khai thác tốt các nguồn lợi từ lũ. - Vùng bán đảo Cà Mau không bị ảnh hưởng trực tiếp từ nguồn nước lũ mà chủ yếu bị ngập úng do mưa. Mức ngập trung bình 30 - 60cm, một khu vực trũng mức ngập trung bình từ 50 - 100cm, thời gian ngập thường từ tháng 7 đến tháng 11. * Điều kiện đất đai: Theo tài liệu và bản đồ đất tỷ lệ 1/100.000 do trường Đại học Cần Thơ xây dựng, toàn tỉnh có 7 nhóm đất chính với 40 đơn vị phân loại đất. Nhóm đất phù sa: Diện tích 137.401 ha, chiếm 22,08% tổng diện tích toàn tỉnh, phân bố tập trung ở khu vực phía nam vùng tứ giác Long Xuyên và phía đông vùng Tây sông hậu, bao gồm 2 đơn vị phân loại đất: (1) Đất phù sa phát triển tầng mặt giàu hữu cơ: 120.509 ha. (2) Đất phù sa phát triển: 16.892 ha. Nhóm đất mặn: Diện tích 87.809 ha, chiếm 14,1% tổng diện tích toàn tỉnh, phân bố tập trung ở vùng bán đảo Cà Mau và ven vùng tứ giác Long Xuyên và Tây sông Hậu, bao gồm 3 đơn vị phân loại đất: (1) Đất phù sa bị ngập mặn thường xuyên: 6.325 ha. (2) Đất phù sa phát triển nhiễm mặn: 67.155 ha. (3) Đất phù sa phát triển tầng mặt giàu hữu cơ nhiễm mặn:14.329 ha. Nhóm đất phèn: Diện tích 319.599 ha, chiếm 51,37% tổng diện tích toàn tỉnh, phân bố tập trung ở khu vực tứ giác Long Xuyên, một phần ở vùng Tây sông Hậu, bao gồm 25 đơn vị phân loại đất: + Đất phèn tiềm tàng: 52.889 ha (8,49%) (1) Đất phát triển, phèn tiềm tàng sâu, tầng sinh phèn 50 - 100 cm: 2.481 ha. (2) Đất phèn tiềm tàng sâu, tầng mặt giàu hữu cơ: 1.853 ha (3) Đất phèn tiềm tàng sâu, nhiễm mặn: 17.342 ha. (4) Đất phèn tiềm tàng sâu, tầng giàu mặt hữu cơ, mặt thường xuyên: 1.000 ha. (5) Đất phèn tiềm tàng nông, tầng mặt giàu hữu cơ: có 4.614 ha. (6) Đất phèn tiềm tàng nông, tầng mặt giữa hữu cơ, mặn thường xuyên: 19.875 ha. (7) Đất phèn tiềm tàng nông, mặn thường xuyên: 5.814 ha. + Đất phèn hoạt động (ĐPHĐ): 266.710 ha (42,88%) (8) ĐPHĐ nặng, có tầng phèn không Jajosite trong vòng 50 cm: 35.708 ha. (9) ĐPHĐ nặng, tầng mặt hữu cơ tầng phèn không Jajosite < 50 cm: 27.697 ha. (10) ĐPHĐ nặng, tầng mặt hữu cơ tầng phèn không Jajosite < 50 cm: 640 ha. (11) ĐPHĐ nặng, tầng mặt hữu cơ tầng phèn không Jajosite < 50, nước mặn: 15.039 ha. (12) ĐPHĐ nặng, có tầng Jajosite trong vòng 50cm nhiễm mặn 15.872 ha. (13) ĐPHĐ nặng, tầng mặt hữu cơ tầng Jajosite trong vòng 50cm, nước mặn: 37.505 ha. (14) ĐPHĐ trung bình, tầng mặt hữu cơ tầng phèn không Jajosite 50 - 100 cm: 2.334 ha. (15) ĐPHĐ trung bình, tầng mặt hữu cơ, tầng phèn không Jajosite 50 - 100 cm: 24.425 ha. (16) ĐPHĐ trung bình, tầng mặt hữu cơ, tầng phèn Jajosite trong vòng 50cm: 5.883 ha. (17) ĐPHĐ trung bình, có tầng Jajosite 50 - 100 cm: 5.083 ha. (18) ĐPHĐ trung bình, tầng sinh phèn từ 50 - 100 cm, nước mặn: 3.852 ha. (19) ĐPHĐ trung bình, tầng phèn không Jajosite 50 - 100, nước mặn: 2.502 ha. (20) ĐPHĐ trung bình, tầng phèn không Jajosite 50 - 100, nước mặn: 810 ha. (21) Đất phát triển, phèn hoạt động trung bình, tầng phèn không Jajosite 50 -100 cm: 10.090 ha. (22) Đất phát triển, phèn hoạt động trung bình, tầng phèn không Jajosite 50-100 cm, tầng mặt hữu cơ: 33.191 ha. (23) Đất phát triển, phèn hoạt động trung bình, tầng phèn Jajosite 50 - 100 cm, nước mặn: 4. 903 ha. (24) Đất phát triển, phèn hoạt động trung bình, tầng phèn Jajosite 50 - 100 cm, nước mặn, hữu cơ tầng mặt: 29.029 ha. Nhóm đất than bùn phèn: Diện tích 2.310 ha, chiếm 0,37% tổng diện tích toàn tỉnh, phân bố rải rác trên các chân đất thấp trũng, bao gồm 2 đơn vị phân biệt loại đất: (1) Đất hữu cơ, phèn hoạt động trung bình, tần phèn>50 cm: 1.250 ha (2) Đất hữu cơ, phèn tiềm tàng, tầng phèn>50 cm: 1.060 ha Nhóm đất cát: Diện tích 8.658 ha, chiếm 1,39 % tổng diện tích toàn tỉnh, phân bố tập trung ven biển Phú Quốc và Hà Tiên, Kiên Lương, chỉ có loại đất là đất cát. Nhóm đất đồi núi và phù sa cổ: Diện tích 60.363 ha, chiếm 9,66% tổng diện tích toàn tỉnh, phân bố tập trung ở các huyện đảo và rải rác ở khu vực ven biển Hòn Đất, Hà Tiên, bao gồm 7 đơn vị phân loại đất. (1) Đất xám phù sa cổ: 14.503 ha (2) Đất phù sa cổ có tầng loang lổ: 640 ha (3) Đất phù sa cổ có tầng loang lổ sâu: 3.372 ha (4) Đất phù sa cổ, tầng mặt hữu cơ, Gley: 1.721 ha (5) Đất vàng xám: 1.940 ha (6) Đất vàng đỏ: 340 ha (7) Đất núi: 37.847 ha Sông, rạch, ao hồ tự nhiên: 8.360 ha (1,1%) Ngoại trừ nhóm đồi núi có thành phần cơ giới nhẹ, độ phì thấp, hầu hết các nhóm đất ở Kiên giang có thành phần cơ giới rất nặng, độ phì tiềm tàng cao. Trong đó đất phù sa có sự đồng nhất giữa độ phì tiềm tàng với độ phì thực tế, các nhóm đất khác bị hạn chế bởi các mức độ khác nhau của các yếu tố phèn và mặn, việc hạn chế một cách hữu hiệu các yếu tố phèn mặn là điều kiện quan trọng đáng để thâm canh tăng năng suất và đa dạng hóa cây trồng. c) Điều kiện kinh tế xã hội * Dân số lao động: Năm 1998 toàn tỉnh có 1.491.998 người, mật độ dân số 240 người/km2, chỉ bằng 60% với mức trung bình toàn đồng bằng sông Cửu Long. Trong 4 năm qua, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên đã giảm từ 2,13% năm 1995 xuống 1,89% năm 1998. Dân sống ở vùng sản xuất nông nghiệp là 1.187.376 người chiếm tỷ lệ 79,58% so với dân trung bình toàn tỉnh. Dân cư phân bố không đều, các huyện Tân Hiệp, Giồng Riềng, Châu Thành có mật độ dân số khá cao: 310 - 460 người/km2, các huyện Hòn Đất, Kiên Lương có mật độ dân số rất thấp 85 - 90 người/km2. Năm 1998 toàn tỉnh có 870.265 người trong độ tuổi lao động, chiếm 58,32% so với tổng dân. Trong đó lao động trong khu vực sản xuất nông nghiệp có 732.334 người, chiếm tỷ lệ 84,15% lao động toàn tỉnh. Bình quân mỗi năm (1995-1998) lao động toàn tỉnh tăng 37.615 người, trong đó khu vực sản xuất nông nghiệp tăng 30.625 người. Theo kết quả điều tra lao động việc làm năm 1997 cho thấy chất lượng lao động ở Kiên Giang còn thấp, nhất là ở khu vực sản xuất nông nghiệp. Qua số liệu ở 4 huyện Hà Tiên (huyện cũ), An Biên, An Minh và Vĩnh Thuận thì tỷ lệ lao động không có chuyên môn kỹ thuật chiếm 70 - 93%. Bình quân mỗi lao động nông nghiệp có 0,38 ha đất nông nghiệp, riêng vùng Tây sông hậu chỉ có 0,32 ha. Với hệ thống quay vòng dưới 2 lần thì lao động nhàn rỗi còn nhiều chiếm tỷ lệ rất cao (lớn hơn 50%). Vì vậy, trong tương lai không nên đưa nhiều lao động từ ngoài tỉnh vào mà chủ yếu là điều phối lại lao động giữa các vùng và các ngành trong nội bộ nền kinh tế của tỉnh. Trong thời gian qua, kinh tế Kiên Giang phát triển nhanh và khá vững chắc. Tốc độ tăng GDP trung bình hàng năm trong thời kỳ 1994 - 1997 đạt 10,3%, trong đó nông - lâm - thủy: 6,97%, công nghiệp - xây dựng: 13,07%, dịch vụ:15,33%. Kinh tế phát triển nên thu ngân sách tăng khá cao, tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh tăng từ 608,45 tỉ đồng năm 1995 lên 869,4 tỉ đồng năm 1997, trong đó thu ngân sách địa phương tăng tương ứng từ 352,6 tỷ đồng. Chi ngân sách thấp hơn thu ngân sách địa phương khoảng 10 tỷ đồng. Đây là một trong những nhân tố quan trọng tạo đà cho phát triển nông nghiệp và nông thôn trong tương lai. Bảng 3: Tổng sản phẩm và cơ cấu theo ngành thời kỳ 1994-1997 tỉnh Kiên Giang (Giá cố định năm 1994. Đơn vị: triệu đồng) Số TT Hạng mục Năm 1994 Năm 1995 Năm 1996 Năm 1997 Tăng BQ (%) I 1 2 3 II 1 2 3 Tổng GDP Nông-lâm-thủy sản Công nghiệp, XDCB Dịch vụ Cơ cấu GDP (%) Nông-lâm-thủy sản Công nghiệp, XDCB Dịch vụ 3810.150 2.256.030 778.605 775.515 100,0 59,2 20,4 24,4 4.359.313 2.650.785 897.229 811.117 100,0 60,8 20,6 18,6 4.850.713 2.796.794 1.013.289 1.040.630 100,0 57,7 20,9 21,4 5.076.142 2.761.111 1.125.469 1.189562 100,0 53,4 22,2 23,4 10,03 6,97 13,07 15,33 Cơ cấu kinh tế đã có bước chuyển đổi xu thế tích cực, ngành nông lâm thủy sản vẫn tăng trưởng khá nhưng tỉ trọng trong nền kinh tế đã giảm từ 59,2% năm 1994 xuống 53,4% năm 1997, ngành công nghiệp - xây dựng tăng tương ứng từ 20,4% lên 22,2%. Ngành dịch vụ phát triển chưa ổn định, riêng xuất khẩu nông sản còn yếu kém, đã ảnh hưởng không nhỏ đến tăng trưởng chung và nhất là với phát triển các loại nông sản chiến lược của tỉnh. 2.1.2. Đặc điểm kinh tế nông nghiệp của tỉnh Kiên Giang Trong những năm qua kinh tế nông nghiệp đã đóng vai trò to lớn và vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội toàn tỉnh. Hiện thu hút 79,8% lao động xã hội, chiếm 80% dân số, đóng góp 70% GDP, đảm bảo an ninh cho trên 99% diện tích lãnh thổ của toàn tỉnh. Trong 5 - 10 năm tới khu vực sản xuất nông nghiệp vẫn còn chiếm tỉ trọng cao (từ 50% trở lên) trong tổng GDP toàn tỉnh. Nông nghiệp và nông thôn phát triển sẽ đảm bảo cung cấp lương thực thực phẩm một cách vững chắc cho nhu cầu trong và ngoài tỉnh, cung cấp nguyên liệu và nguồn lao động cho phát triển công nghiệp, tạo nguồn cho xuất khẩu, tạo thu hút cho nhập khẩu. Mặt khác vùng sản xuất nông nghiệp là thị trường tiêu thụ ổn định cho các sản phẩm công nghiệp nội tỉnh. Phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa và bền vững sẽ là nhân tố quyết định cho bảo vệ và làm giàu môi trường sinh thái, góp phần bảo vệ an ninh quốc phòng và trật tự xã hội ở một tỉnh có vị trí rất quan trọng về quốc phòng của Tổ quốc. Vị trí của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn đối với phát triển nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long (bảng 4). - Phát triển nông nghiệp ở Kiên Giang còn có vị trí quan trọng trong phát triển nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long - vùng trọng điểm số 1 về lương thực - thực phẩm của cả nước. - Kiên Giang là tỉnh lớn nhất vùng đồng bằng sông Cửu Long lại có tiềm năng to lớn về phát triển sản xuất các loại nông sản thế mạnh của đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt về sản xuất lúa, mía, khóm, tiêu, nuôi trồng và đánh bắt hải sản, bảo tồn loại hệ sinh thái rừng đặc sắc của đồng bằng sông Cửu Long. Đẩy mạnh khai thác các tiềm năng to lớn của Kiên Giang sẽ là một trong những nhân tố quan trọng để duy trì tốc độ tăng trưởng cao về nông nghiệp của toàn vùng. Bảng 4: Một số chỉ tiêu so sánh về nông nghiệp đồng bằng sông cửu Long với cả nước Chỉ tiêu Số lượng % kg so với Đơn vị Cả nước ĐBSCL Kiên Giang Cả nước ĐBSCL 1. Đất đai - Tổng diện tích - Đất nông nghiệp - Đất lúa - Đất rừng 2. Dân số NN 3. Sản phẩm - Lúa - Mía - Khóm - Heo hơi - Khai thác cá 103 ha 103 ha 103 ha 103 ha 103 ng 103 tấn 103 tấn 103 tấn 103 tấn 103 tấn 32.688 7.843 4.200 10.169 52.668 29.155 13.844 1.228 1.320 3.956 2.632 2.008 283 11.996 15.306 5.539 188 270 658 622 388 304 113 1.187 1.912 396 93 12 156 1,90 4,95 7,42 1,06 2,25 6,56 2,86 0,98 11,82 15,72 14,74 15,14 39,93 9,89 12,49 7,15 49,46 4,44 23,71 Kết cấu hạ tầng: Kết cấu hạ tầng còn rất yếu và nhất là các vùng sâu, vùng xa Thủy lợi: Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, trong điều kiện cụ thể của tỉnh, đã đặt ra cho công tác thủy lợi các yêu cầu chính như sau: + Tiếp, trữ, giữ nước ngọt cho sản xuất và sinh hoạt. + Tiêu úng và thoát lũ. + Tiêu độc, ém phèn. + Ngăn mặn, hạn chế mất nước vào mùa kiệt. Để đáp ứng yêu cầu trên, phải triển khai một số lượng công việc đồ sộ, được tiến hành trong nhiều năm và với sự cố gắng vượt bậc của ngành thủy lợi và các địa phương trong tỉnh. Tính đến năm 1998 tỉnh đã tập trung đầu tư xây dựng mới và nạo vét 590 công trình thủy lợi với tổng chiều dài là 1.625 km, phục vụ tưới tiêu trên 200.000 ha đất canh tác lúa. Hiệu quả đạt được do đầu tư xây dựng hệ thống thủy lợi là diện tích tăng vụ từ 95.000 ha lên 207.000 ha, năng suất lúa trung bình mỗi năm tăng 0,1 tấn/ha. Ngoài ra còn góp phần vào việc bố trí dân cư, cải tạo mạng lưới giao thông thủy bộ, cải tạo môi trường... So với yêu cầu, đến nay đã xây dựng các công trình quan trọng như sau: Đã hình thành được hệ thống kênh trục có chức năng dẫn ngọt, tiêu úng và thoát lũ cho vùng tứ giác Long Xuyên, Tây sông Hậu, bán đảo Cà Mau. Hình thành mạng lưới kênh cấp II và kênh nội đồng. Cùng với các đường trục chính đã hình thành hệ thống đê bao ven kênh trục và kênh cấp II nhưng năng lực chống lũ còn hạn chế, chưa đủ sức bảo vệ cơ sở hạ tầng khi gặp lũ lớn. Chưa có sự kết hợp tốt giữa các công trình dẫn ngọt, ngăn mặn, thoát lũ và hạn chế thất thoát nước trong mùa kiệt. Đã hình thành được tuyến đ._.vì lợi ích của nông dân mà là lợi ích của địa phương, của cả vùng và cả nền kinh tế quốc dân. Mục đích của chính sách đầu tư cho kinh tế trang trại là thúc đẩy phát triển nền nông nghiệp hàng hóa bao gồm tạo ra nguồn vật chất, tiền vốn, tổ chức hệ thống cung ứng vật tư, phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển công nghiệp chế biến, bảo quản, mở rộng thị trường tiêu thụ, đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu triển khai. Vấn đề cấp thiết hiện nay đối với kinh tế nông nghiệp là xây dựng cơ sở hạ tầng bao gồm: Thủy lợi, đường giao thông, đường điện, công nghiệp chế biến. Đường giao thông yếu kém sẽ hạn chế phát triển kinh tế hàng hóa, đặc biệt sản phẩm của kinh tế trang trại nếu vận chuyển, chế biến, tiêu thụ không kịp thời sẽ dẫn đến kém chất lượng, kém phẩm chất, không sử dụng được gây lãng phí tài sản của nhân dân, của cải vật chất xã hội. Một khi kinh tế nông nghiệp phát triển thì vấn đề bảo quản, chế biến là một trong những yêu cầu cấp thiết và đây cũng chính là điều kiện để tạo việc làm, chủ động thời vụ và nâng cao giá cả của nông sản hàng hóa, làm tốt các yêu cầu trên là hợp với xu hướng phát triển công nghiệp hóa trong lĩnh vực nông nghiệp như kinh nghiệm của các nước có nền nông nghiệp tiên tiến, đó là một khi đưa cơ giới vào nông nghiệp để giải phóng sức lao động, chuyển người lao động sang phục vụ ở các lĩnh vực khác, nhất là chế biến trong nông nghiệp; đây cũng chính là thực hiện theo phương châm "ly nông bất ly hương". Ngoài ra cũng cần đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, áp dụng kỹ thuật mới. Một yêu cầu rất lớn để phát triển nông nghiệp là đầu tư phát triển sản xuất bao gồm: khai hoang, kiến thiết đồng ruộng, trồng cây, chăm sóc, xây dựng các cơ sở vật chất kỹ thuật như hệ thống tưới tiêu, kho tàng, nhà xưởng, các công trình phúc lợi thuộc về hạ tầng vừa phục vụ cho sản xuất vừa phục vụ cho khu vực dân cư trong cộng đồng; làm đường giao thông, điện nước... Tất cả những chi phí cho đầu tư này là yêu cầu về vốn rất lớn. Trong những năm qua ngoài vốn tự có, vốn huy động trong dân, vốn ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh cho vay, song chỉ đáp ứng một phần rất nhỏ so với yêu cầu vốn của các hộ gia đình sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, cần tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa trong việc đầu tư vốn. Có thể xem xét, cho phép nông dân được vay vốn thông qua việc lập các dự án khả thi được cấp thẩm quyền phê duyệt, mức vốn đầu tư phải đảm bảo tiến độ thực hiện dự án, tạo môi trường pháp lý trong quá trình giao dịch dân sự thông qua đăng ký kinh doanh. Dự kiến tổng vốn cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nông nghiệp thời kỳ 2000 - 2010 là 3.487 tỷ đồng, trong đó vốn Trung ương đầu tư là 1.249,1 tỷ đồng, vốn ngân sách địa phương là 1.393,5 tỷ đồng, vốn dân đầu tư là 519,3 tỷ đồng và vốn khác là 325,2 tỷ đồng. Thủy lợi: Nhiệm vụ chính của phát triển thủy lợi ở Kiên Giang là cung cấp đầy đủ nước cho sản xuất và sinh hoạt, hạn chế tác hại lũ, tiêu ngập tháo chua, chống xâm nhập mặn, với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, Trung ương đầu tư xây dựng các công trình đầu nguồn, kênh cấp I, cống và đê biển... địa phương làm kênh cấp II và thủy lợi nhỏ và nội đồng. Dự kiến đầu tư thủy lợi cho từng vùng như sau: + Vùng tứ giác Long Xuyên: Tiếp tục đầu tư các công trình thoát lũ, ngăn mặn, trong đó tiếp tục đầu tư các kênh trục, các cống ngăn mặn và đê biển, xây dựng hệ thống kênh cấp II, kênh nội đồng và cải tạo mặt bằng đồng ruộng. Đối với vùng này về mùa lũ là chung sống với lũ nhưng cũng phải có các biện pháp để hạn chế một phần tác hại của lũ sớm, kết hợp với biện pháp bố trí mùa vụ hợp lý để chống lũ đảm bảo sản xuất hai vụ ổn định. Vốn đầu tư khoảng 380 tỷ đồng, trong đó thời kỳ 1999-2000 là 74 tỷ đồng. + Vùng bán đảo Cà Mau: Thực hiện chương trình ngọt hóa của Chính phủ, đầu tư xây dựng một số công trình dẫn nước ngọt về vùng, xây dựng các công trình ngăn mặn ven biển, ven sông Cái Lớn như đê biển và cống. Xây dựng kênh cấp II để thau chua, tiêu úng, đẩy mạnh thủy lợi nội đồng, chủ động giữ nước ngọt từng khu vực để sản xuất, khai hoang mở rộng một số diện tích đất nông nghiệp, từng bước phát triển tăng vụ, thâm canh tăng năng suất. Vốn đầu tư thủy lợi tại vùng khoảng 460 tỷ đồng, trong đó thời kỳ 1999-2000 là 160 tỷ đồng. + Vùng Tây sông Hậu: Hoàn chỉnh hệ thống kênh cấp II, chống mặn xâm nhập, chống lũ cho vườn cây lâu năm, đảm bảo an toàn cho 3 vụ. tập trung xây dựng các bờ bao chống lũ, thủy lợi nội đồng và mặt bằng đồng ruộng. Vốn đầu tư khoảng 350 tỷ đồng trong đó thời kỳ 1999-2000 là 11 tỷ đồng. Kết hợp giữa đầu tư xây dựng thủy lợi với triển khai thực hiện các dự án bố trí dân cư, vốn đầu tư thực hiện các dự án bố trí dân cư là 51 tỷ đồng. + Vùng hải đảo: Riêng các huyện đảo mà chủ yếu là Phú Quốc sẽ được đầu tư xây dựng các hồ chứa nước cung cấp cho phát triển nông nghiệp và đô thị kết hợp với cải tạo môi trường, làm đẹp cảnh quan của huyện đảo vốn rất giàu tiềm năng về du lịch. Dự kiến trong những năm trước mắt sẽ xây dựng hồ Dương Đông và Suối Lớn, về lâu dài sẽ xây dựng các hồ: Cửa Cạn, Rạch Gốc, Cửa Lắp. Tổng vốn đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi ở Phú Quốc là: 233,64 tỷ đồng, trong đó: hồ Dương Đông 57,55 tỷ đồng, hồ Suối Lớn 46,54 tỷ đồng, hồ Cửa Cạn 93,79 tỷ đồng, hồ Rạch Gốc: 17,3 tỷ đồng, hồ Cửa Lắp 18,34 tỷ đồng. - Như vậy, vốn đầu tư cho công trình thủy lợi và thực hiện dự án bố trí dân cư thời kỳ 1999 - 2010 là 1.440 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư của Trung ương: 933 tỷ đồng, vốn ngân sách địa phương 321 tỷ đồng, vốn dân 186 tỷ đồng. Riêng thời kỳ 1999-2000: 191 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư của Trung ương: 128 tỷ đồng, vốn ngân sách địa phương 34 tỷ đồng, vốn dân: 23 tỷ đồng và vốn khác là 6 tỷ đồng. Giao thông: Để đạt được mục tiêu đến hết năm 2000 có 100% số xã có đường ô tô đến được trung tâm xã, đến 2010 có mạng lưới giao thông xuống tới các ấp, cần phải tập trung đầu tư nâng cấp các tuyến đường trục (tỉnh lộ), làm mới - cải tạo - nâng cấp 2.516 km đường và 1.209 cây cầu. Tổng vốn đầu tư là 686,4 tỷ đồng, trong đó trung ương: 78,41 tỷ đồng (cho các tuyến tỉnh lộ và hỗ trợ các tuyến khác), vốn ngân sách tỉnh: 399,91 tỷ đồng, vốn dân đóng góp: 206,08 tỷ đồng và vốn khác là 2 tỷ đồng. - Thời kỳ 1999-2000: đầu tư 481 km đường giao thông và 110 cây cầu với tổng vốn đầu tư là 199,167 tỷ đồng, trong đó vốn Trung ương: 78,41 tỷ đồng, vốn ngân sách: 75,993 tỷ đồng, vốn dân đóng góp: 42,764 tỷ đồng và vốn khác 2 tỷ đồng. - Thời kỳ 2001-2010: đầu tư cho 1023 km đường giao thông và 567 cây cầu với tổng vốn đầu tư là: 253,933 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách: 165,653 tỷ đồng, vốn dân đóng góp: 82,28 tỷ đồng. - Thời kỳ 2005-2010: đầu tư cho 1.011 km đường giao thông và 532 cây cầu với tổng vốn đầu tư là 233,303 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách: 158,266 tỷ đồng, vốn dân đóng góp: 75.037 tỷ đồng. Điện: Tập trung đầu tư xây dựng điện khí hóa nông nghiệp, năm 2000 số hộ sử dụng điện đạt 56%, năm 2005: 75%, năm 2010: 90% (toàn tỉnh là 95%). Dự kiến thời kỳ 1999-2010 đầu tư xây dựng 1936 km đường dây trung thế, 3.260 km đường dây hạ thế và các trạm biến áp với công suất 40.004 KVA. Tổng vốn đầu tư là 441,8 tỷ đồng, trong đó vốn ngành điện: 143,3 tỷ đồng, vốn ngân sách tỉnh: 107 tỷ đồng, vốn dân 132,2 tỷ đồng và vốn khác: 68,3 tỷ đồng. - Thời kỳ 1999-2000: Đầu tư xây dựng 798 km đường dây trung thế, 1.567 km đường dây hạ thế và 20354 KVA với tổng vốn đầu tư là 203,4 tỷ đồng, trong đó có 43,5 tỷ đồng vốn ngành điện, vốn ngân sách tỉnh: 46,8 tỷ đồng, vốn dân 44,7 tỷ đồng và vốn khác 68,3 tỷ đồng. - Thời kỳ 2001-2005: Thực hiện chương trình điện khí hóa với quy mô đầu tư điện khí hóa toàn xã, xây dựng 693 km đường dây trung thế, 1009 km đường dây hạ thế và 10190 KVA với tổng vốn đầu tư 95,9 tỷ đồng. Thời kỳ 2006-2010: đầu tư xây dựng 444 km đường dây trung thế, 604 km đường dây hạ thế và 10190 KVA với tổng vốn đầu tư 95,9 tỷ đồng. Để có đủ nguồn vốn cho việc xây dựng các công trình điện nói trên đòi hỏi tỉnh phải có các giải pháp cụ thể về vốn, đặc biệt là trong 2 năm 1999 và 2000, có vậy mới có thể nâng được số hộ nhân dân ở vùng sản xuất nông nghiệp được sử dụng điện nhiều hơn. Hiệu quả: Các chỉ tiêu về hiệu quả của phương hướng phát triển nông nghiệp và nông thôn tỉnh Kiên Giang thời kỳ 1999-2010 được thể hiện cho thấy: Đất nông nghiệp tăng từ 388.538 ha lên 438.339 ha, diện tích gieo trồng cây hàng năm tăng từ 498.036 ha lên 734.693 ha, hệ số lần trồng tăng tương ứng từ 1,58 lần lên 2,02 lần. Tổng giá trị sản phẩm ngành nông nghiệp tăng từ 6.917 tỷ đồng lên 13.158 tỷ đồng. Bình quân giá trị sản phẩm trồng trọt trên 1 ha đất canh tác tăng tương ứng từ 10 triệu đồng lên 18,7 triệu đồng. Bình quân giá trị sản lượng nông nghiệp trên 1 lao động nông nghiệp tăng từ 9,6 triệu đồng lên 15,6 triệu đồng. Sản lượng lúa tăng từ 1,91 triệu tấn lên 3,2 triệu tấn, sản lượng thóc tăng bình quân đầu người tăng từ 1.282 kg lên 1.763 kg. Sản lượng thịt heo các loại tăng từ 19.000 tấn lên 56.000 tấn, các loại sản phẩm khác như khóm, mía, điều, tiêu cũng được tăng nhanh. Kết cấu hạ tầng nông nghiệp được phát triển một cách khá cơ bản, cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển đổi đúng theo định hướng, các nguồn tài nguyên lao động và đất đai được sử dụng với hiệu quả cao và lâu bền, đáp ứng được yêu cầu đặt ra cho phát triển nông nghiệp trên phạm vi toàn tỉnh, đóng góp vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp toàn đồng bằng sông Cửu Long. Chính sách khuyến nông: Để kinh tế nông nghiệp phát triển có hiệu quả, đặc biệt là để sản phẩm có thể tiêu thụ được, cần được sự hỗ trợ của Nhà nước về nhiều mặt, trong đó vấn đề khoa học-công nghệ là cần thiết và cấp bách, vì nếu chính sách khoa học-công nghệ đúng sẽ đóng góp phần giúp kinh tế nông nghiệp tiến hành sản xuất hàng hóa, làm ra sản phẩm có năng suất và chất lượng cao đáp ứng được yêu cầu của thị trường. Nó góp phần quan trọng cho các hộ nông dân chuyển dịch cơ cấu cây trồng, chuyển đổi nền nông nghiệp theo hướng CNH-HĐH. Hơn lúc nào hết, trong giai đoạn này, đòi hỏi các nhà khoa học, các nhà kỹ thuật nông học nghiên cứu, chọn lọc, lai tạo các giống cây, con có giá trị, thích nghi với điều kiện sinh thái của từng vùng với quy trình canh tác, chăm sóc, thu hoạch, chế biến, bảo quản, cung cấp và hướng dẫn cho các nông dân thực hiện thông qua các hợp đồng giữa trí thức với nông dân, nhằm xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa hiện đại. Phát triển các vùng chuyên canh tập trung lớn đặt ra rất nhiều vấn đề với khoa học-kỹ thuật và công nghệ như phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng, dịch bệnh cho vật nuôi, vấn đề tưới tiêu, chăm sóc cây trồng. Phát triển kinh tế nông nghiệp cũng đặt ra yêu cầu về công nghệ sau thu hoạch như bảo quản, sơ chế, vận chuyển, chế biến nông sản, là một đòi hỏi lớn của các hộ nông dân nếu không làm tốt khâu này thì thu được từ hàng nông sản sẽ không là bao so với giá trị thực tế và công sức bỏ ra của nông dân, của các chủ trang trại. Kinh tế nông nghiệp phát triển còn có tác dụng lớn đối với công tác bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần quan trọng vào việc phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, chống xói mòn, giữ độ ẩm cho đất bảo vệ nguồn nước. Đây là một giải pháp quan trọng và hữu hiệu để khôi phục vốn rừng bằng cây ăn quả, góp phần thực hiện thắng lợi dự án trồng 5 triệu ha rừng của Chính phủ đã đề ra. Trong chính sách khoa học-công nghệ đối với nông nghiệp, trong đó rất coi trọng công tác khuyến nông, khuyến lâm, bao gồm việc tuyên truyền, chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp, truyền bá những tiến bộ kỹ thuật, phổ biến những kinh nghiệm trong sản xuất, bồi dưỡng về kiến thức quản lý, tổ chức sản xuất cho nông dân, cần đẩy mạnh công tác ứng dụng khoa học công nghệ về giống có năng suất chất lượng phù hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng, ứng dụng công nghệ tiên tiến trong khâu chế biến nông hải sản, phơi sấy... Hoàn thiện mạng lưới khuyến nông đến từng xã, mạng lưới kỹ thuật viên đến từng ấp, vì qua khảo sát thực tế, phần lớn các hộ nông dân ở tỉnh Kiên Giang còn làm theo kinh nghiệm cổ truyền, kiến thức về kỹ thuật và quản lý còn ít, do vậy không ít hộ nông dân phải trả giá đắt cho vấn đề này: trồng lúa thì năng suất kém trồng ngô chỉ có cùi không có hạt, hoặc đầu tư nhiều nhưng hiệu quả thấp. Công tác khuyến nông ở Kiên Giang được tập trung chỉ đạo triển khai từ năm 1993 gắn với việc giao đất, giao rừng và làm công tác quy hoạch bố trí cơ cấu cây trồng đến chăm sóc, bảo vệ nên ít nhiều đã có kết quả bước đầu. Nhưng để đáp ứng yêu cầu phát triển của kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay, thì hình thức và nội dung của công tác khuyến nông, phải đa dạng, phong phú, lại vừa ngắn gọn dễ hiểu, dễ làm, phù hợp với trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật của đại bộ phận chủ hộ nông dân trên địa bàn của tỉnh. Do vậy, nên chăng mở rộng các hình thức mô hình trình diễn, hội nghị đầu bờ... thành lập các hội chuyên cây, chuyên con để các nông dân có điều kiện giúp nhau nâng cao trình độ kỹ thuật và quản lý, giúp nhau mua sắm các loại thiết bị cần thiết phục vụ cho sản xuất, tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm... Chính sách đào tạo: Tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ các loại cho phát triển nông nghiệp. Tập trung đào tạo cán bộ chuyên trách đại học ngành trồng trọt, chăn nuôi, quản lý kinh tế nông nghiệp cho cán bộ ngành nông nghiệp và cán bộ lãnh đạo cơ sở. Đến năm 2010 cán bộ lãnh đạo Đảng chính quyền cấp huyện có trình độ đại học, cấp xã có trình độ đại học hoặc trung cấp kỹ thuật nông nghiệp trở lên, cần tăng cường đào tạo và bố trí cán bộ khoa học kỹ thuật, quản lý nông nghiệp cho cấp huyện, cơ sở và tổ chức kinh tế. Đến năm 2005 cấp xã có đủ cán bộ trình độ đại học hoặc trung cấp kỹ thuật nông nghiệp bao gồm khuyến nông bảo vệ thực vật, thú y... Có chính sách khuyến khích cán bộ khoa học kỹ thuật về công tác ở huyện xã, các cơ sở kinh tế, đồng thời với kế hoạch bồi dưỡng. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ có kế hoạch luân chuyển cán bộ khoa học kỹ thuật về cơ sở giúp cơ sở phát triển nông nghiệp. - Tăng cường đào tạo dạy nghề và nâng cao kiến thức làm ăn cho nông dân, trước mắt đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến ngư, khuyến lâm, phổ cập kỹ thuật cho nông dân. Từng bước mở các trung tâm dạy nghề ở tỉnh, huyện nhằm đáp ứng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp. Chú trọng đào tạo nghề cơ khí, công nghiệp chế biến, các nghề truyền thống, điện dân dụng... 3.2.5. Tăng cường năng lực quản lý nhà nước đối với kinh tế nông nghiệp - Các cấp các ngành cần nhận thức rõ ý nghĩa chiến lược phát triển tăng cường quản lý điều hành phát triển nông nghiệp theo quy hoạch, kế hoạch. Nâng cao vai trò quản lý toàn diện về tài nguyên của nông nghiệp nhất là tài nguyên đất, nước, rừng...và xây dựng nông thôn mới. Tăng cường chỉ đạo và theo dõi sâu sắc kịp thời các khó khăn trong sản xuất nông nghiệp, thực hiện tốt quy chế dân chủ, không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động của tổ nhân dân tự quản. - Các đoàn thể nhân dân cùng tăng cường phối hợp với chính quyền các cấp tham gia, vận động hội viên, đoàn viên và nhân dân thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn, tuyên truyền giáo dục cho nhân dân thay đổi tập quán sản xuất, nêu cao ý thức tự lực vươn lên vượt qua đói nghèo vươn lên khá, nông nghiệp ngày càng phát triển, nông thôn ngày càng đổi mới. Nhà nước tạo điều kiện và hỗ trợ cơ chế chính sách để mọi người dân phát huy được nội lực của mình. Đồng thời ngoài những chính sách đất đai, đầu tư, khuyến nông, đào tạo... đã nêu ở phần (3.2.4) ở trên sẽ thiếu sót không nhỏ nếu bỏ qua một số chính sách để thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp ở tầm vĩ mô như: cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm, xuất nhập khẩu, tỷ suất hối đoái, kế hoạch hóa và hợp tác hóa... Những vấn đề vừa nêu, nếu không có chính sách rõ ràng sẽ là trở ngại cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp. - Trong lĩnh vực cung ứng vật tư và tiêu thụ nông sản có ba mối quan hệ về giá trị hàng hóa cần được xem xét khi xác định một mức giá phù hợp. Đó là mối quan hệ giá đối với nông dân và giá đối với người tiêu dùng; giữa giá mua nông sản và giá vật tư nông nghiệp, đặc biệt là phân bón; giữa giá trong nước và giá xuất khẩu để cạnh tranh về chất lượng và chủng loại như giá gạo trong nước chịu sự chi phối trực tiếp giá gạo trên thị trường quốc tế; hạn chế chủ yếu trong xuất khẩu gạo của ta hiện nay là công nghệ chế biến từ lúa ra gạo đang sử dụng ở nước ta hiện nay chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường thế giới, nhất là về quy cách, màu sắc, độ bóng, chọn lựa hạt... do vậy nên giá xuất khẩu gạo của ta thường thấp hơn giá cùng loại trên thị trường quốc tế. - Việc mở cửa kinh tế ở nông thôn làm cho phân bón và các vật tư nông nghiệp khác dồi dào hơn, nhất là những nơi thuận tiện cho việc giao thông và gần thành phố, đô thị, và ngược lại, nông dân có nhiều cơ hội hơn để bán nông sản của họ. Do vậy, giá cả hàng hóa nông sản của nông dân cũng biến động theo giá của thị trường thế giới (khi gạo thế giới lên cao nhất thì giá gạo trong nước cũng tăng lên cao nhất và ngược lại).. Cao trào xuất khẩu gạo vào những năm 1996 trở lại đây, một phần là do tích cực và khả năng lưu thông trong khu vực tư nhân thông qua việc thu gom hàng từ trong nông dân bảo quản vận chuyển và điều tiết giá cả thị trường của thành phần kinh tế Nhà nước, mà nhất là thương nghiệp Nhà nước đối với các mặt hàng vật tư nông nghiệp, giá nông sản ở vào các thời điểm cần thiết. - Kinh nghiệm của nhiều nước châu Á cho thấy không có nước nào có thể hiện đại hóa nền nông nghiệp của mình trong khi độc quyền phân phối phân bón, hạt giống, thuốc trừ sâu và nhiên liệu; đồng thời cũng không có nước nào chuyển toàn bộ nhiệm vụ này cho khu vực kinh tế tư nhân. Cách tiếp cận tốt nhất có thể là khuyến khích cạnh tranh giữa hai khu vực Nhà nước và tư nhân để phục vụ lợi ích của nông dân được tốt hơn. - Đối với hàng nông sản xuất khẩu, chúng ta thường chấp nhận giá thấp hơn các nước láng giềng cho những mặt hàng có chất lượng tương tự, là do có sự cạnh tranh ráo riết giữa các đơn vị xuất khẩu và sự thiếu thông tin của họ về thị trường xuất khẩu. Như vậy giải pháp có tính khả thi là gom các nông sản xuất khẩu vào một đầu mối để giảm bớt sự cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường trong nước và trên thế giới. - Hiện nay giữa lợi ích của nông dân và lợi ích của khách hàng có một khoảng chênh lệch. Để thu hẹp khoảng chênh lệch này, bí quyết là giảm chi phí tiếp thị. Nếu không nông dân phải bán sản phẩm với giá thấp, còn người tiêu dùng thì phải trả giá cao. Điều bất hợp lý này có thể do: Chi phí cao trong quá trình vận chuyển từ nơi thu hoạch đến nơi chế biến, cũng có thể một phần do lãi suất tín dụng cao, khấu hao thiết bị..., đó là những khoản chi phí thật sự và hữu hình, để giảm bớt chi phí này có thể bằng cách đầu tư vào cơ sở hạ tầng và cơ sở chế biến, thay thế những thiết bị lỗi thời bằng thiết bị hiện đại để nâng sức cạnh tranh của sản phẩm. Nhưng chi phí tiếp thị cao một phần còn do tính vô hình, để khắc phục phải tìm kiếm thông tin về các cơ hội buôn bán. Vấn đề này có vai trò trọng yếu để nâng cao hiệu quả của việc định giá trong nền kinh tế thị trường. Điều đó đòi hỏi phải có hệ thống thông tin liên lạc hiện đại để nắm bắt một cách kịp thời về diễn biến thị trường. - Một vấn đề quan trọng nữa đối với kinh tế nông nghiệp là vấn đề hợp tác và hợp tác xã của các hộ nông dân. - Các hộ nông dân sản xuất hàng hóa, vì vậy có nhu cầu hợp tác để giúp nhau cạnh tranh thắng lợi trên thị trường và giải quyết các nhu cầu xã hội. Qua khảo sát một số hộ nông dân ở Kiên Giang cho thấy các hộ có yêu cầu hợp tác với nhau trên nhiều mặt, từ xây dựng kết cấu hạ tầng như mở đường từ nơi cư trú đến nơi tổ chức sản xuất; chế biến nông, lâm sản như gạo, khóm, mía; tiêu thụ sản phẩm (nếu không hợp tác thì sẽ bị tư thương ép giá); áp dụng kỹ thuật, phòng trừ sâu bệnh, vận chuyển hàng hóa và cả bảo vệ tài sản và thành quả lao động... Với xu hướng này, trong tương lai sẽ hình thành các hợp tác xã chuyên nghiệp nhằm đáp ứng các nhu cầu mà nếu không có bộ phận chuyên nghiệp thì từng hộ nông dân không có khả năng đảm trách được như: dịch vụ cây trồng, dịch vụ kỹ thuật bảo vệ cây trồng, thủy lợi, vận chuyển, chế biến, sửa chữa... Do vậy, có thể kết luận rằng: Khi kinh tế nông nghiệp phát triển thì nhu cầu hợp tác, hợp tác xã là tất yếu, vấn đề này phù hợp với quy luật phát triển của xã hội, một khi lực lượng sản xuất được giải phóng, và phát triển đến một chừng mực nhất định, thì yêu cầu quan hệ sản xuất cũng phải phát triển đến quy mô và trình độ thích hợp. Kinh nghiệm nhiều nước trên thế giới cho thấy: Để tăng thêm sức mạnh và có khả năng đối phó lại sức ép kinh tế các thành thị, các trang trại đã từng bước liên kết lại nhiều lĩnh vực như công nghiệp chế biến, tín dụng, bảo hiểm... hình thành những tổ hợp nông-công nghiệp (Tây Âu giữa thế kỷ XIX, Nhật Bản đầu thế kỷ XX còn các nước trong khu vực có chậm hơn) và quá trình đó kéo dài từ 100-150 năm. Ở nước ta, những yếu tố vật chất của các tổ hợp nông-công nghiệp đã có sẵn, nhưng ở trình độ thấp và rời rạc, còn mang tính tự phát. Nếu tìm được hình thức tổ chức thích hợp, để kết hợp những yếu tố đó lại thì con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn sẽ được rút ngắn. Về quan hệ pháp lý - xã hội chính trị: Từ cơ chế cũ chuyển sang cơ chế mới, nông thôn nước ta đang hoán đổi về hình thức kinh tế, về cơ cấu thành phần, về phân tầng thu nhập... đó là kết quả tất yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất và tác động của cơ chế thị trường. Tất cả các yếu tố đó hợp lại trong mối quan hệ tương tác sẽ làm biến đổi cơ cấu xã hội nông thôn. Do đó chính sách xã hội nông thôn hình thành trong cơ chế cũ không còn phù hợp, không có cơ sở kinh tế để thực hiện. Sự phân hóa giàu nghèo sẽ còn tồn tại trong một thời gian khá dài. Để giải quyết chính sách xã hội phải quán triệt quan điểm dân giàu, nước mạnh đi đôi với xóa đói giảm nghèo. Chính vì lẽ đó, phát triển kinh tế nông nghiệp với mức độ giàu có của nó sẽ không mâu thuẫn với chính sách xã hội của Đảng ta, và bản thân nó sẽ là nhân tố tích cực góp phần thực hiện tốt chương trình xóa đói giảm nghèo ở nông thôn. Tuy nhiên, đất đai là tài sản quý hiếm của Quốc gia, nó không sinh sôi nảy nở thêm trong khi dân số sống về lĩnh vực nông nghiệp vẫn còn chiếm tỷ trọng tương đối lớn (gần 80%) nên cần có chính sách khống chế mức tích tụ ruộng đất sao cho hợp lý. Đây là vấn đề cần đặc biệt quan tâm trong quá trình chỉ đạo điều hành.  KẾT LUẬN Kinh tế nông nghiệp ở nước ta nói chung, Kiên Giang nói riêng đã có từ lâu nhưng chỉ mới phát triển mạnh gần đây. Có thể xem việc thực hiện Chỉ thị 100 của Ban Bí Thư Trung ương Đảng (khóa IV), Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (khóa VI) về phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ nông dân là khởi đầu của việc đặt nền móng cho sự phát triển mạnh mẽ kinh tế nông nghiệp. Với những thành tựu của việc thực hiện chính sách đổi mới, trong đó sản xuất nông nghiệp có bước phát triển vượt bậc, nhiều hộ nông dân bước đầu đã có tích lũy, tạo tiền đề phát triển kinh tế. Sau Nghị quyết Trung ương 5 khóa VII (1993) và đặc biệt là sau khi Luật Đất đai ra đời quy định 5 quyền sử dụng đất, thì kinh tế nông nghiệp thực sự có bước phát triển khá nhanh và đa dạng. Cùng với kinh tế hộ nó góp phần chuyển nền kinh tế từ tự cung cấp sang nền kinh tế hàng hóa, tạo điều kiện cho công nghiệp và dịch vụ phát triển; chuyển dịch cơ cấu ngành mà rõ nhất là cây, con trong nông nghiệp và lãnh thổ hướng khai thác có hiệu quả tiềm năng và thế mạnh của tỉnh. Phát triển kinh tế nông nghiệp còn tạo ra việc làm, có thêm điều kiện tích tụ vốn, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, góp phần bảo đảm an ninh quốc phòng; thực hiện có kết quả kế hoạch định canh định cư, xóa đói giảm nghèo; nâng cao trình độ dân trí, trình độ tiếp cận và vận dụng các tiến bộ về khoa học kỹ thuật vào cuộc sống và sản xuất, từ đó rút ngắn được khoảng cách về thu nhập, về trình độ nhận thức mọi mặt giữa nông thôn và thành thị. Kết quả việc phát triển kinh tế nông nghiệp trong những năm qua là bằng chứng hùng hồn để khẳng định chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước là đúng đắn và đã đi vào lòng dân, được nhân dân đón nhận một cách tự giác và vận dụng sáng tạo mang lại lợi ích cho bản thân, gia đình và cho xã hội. Kiên Giang là một tỉnh lớn có tài nguyên đa dạng và phong phú, có nhiều tiềm năng về mở rộng diện tích tăng vụ, tăng năng suất và đa dạng hóa sản xuất, vì vậy đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp không chỉ có vai trò quan trọng tạo nền tảng cho sự phát triển nông thôn và nền kinh tế đa dạng của tỉnh mà còn có vai trò to lớn trong việc thực hiện các chỉ tiêu phát triển nông nghiệp toàn đồng bằng sông Cửu Long. Nền kinh tế nông nghiệp tỉnh Kiên Giang sẽ tiếp tục tăng trưởng nhanh, bền vững, cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn sẽ có bước chuyển biến lớn; cùng với sự phát triển chung của cả nước, sẽ có sức cạnh tranh mới trong quá trình hòa nhập vào nền kinh tế thị trường của khu vực và thế giới. Giải quyết tốt quan hệ đất đai, tạo điều kiện cho mỗi hộ có quy mô đất đai liền vùng, liền khoảnh, để mở rộng sản xuất. Đồng thời cần có biện pháp tích cực để ngăn chặn tình trạng mua bán, sang nhượng, đất đai trái phép trong nhân dân và trong các đơn vị kinh tế, không để tình trạng nông dân, nhất là người dân tộc, trắng tay không có đất sản xuất. Cần đẩy mạnh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bao gồm đất ở và đất nông nghiệp), giúp các hộ nông dân có thêm điều kiện để vay vốn ngân hàng hoặc sử dụng như là tài sản trong quá trình sản xuất kinh doanh. Kinh tế Nhà nước phải vươn lên phát huy vai trò chủ đạo, thực sự là chất xúc tác để định hướng các thành phần kinh tế khác phát triển theo những bước đi vững chắc. Ra sức xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nông nghiệp, nông thôn, đẩy mạnh công nghiệp chế biến, mở rộng thị trường nông sản, thực hiện tốt những chính sách kinh tế lớn đối với nông nghiệp, nông thôn. Tăng cường vai trò quản lý Nhà nước trên lĩnh vực kinh tế nông nghiệp. Công cuộc đổi mới của đất nước nói chung của Kiên Giang nói riêng, có tiến triển hay không còn tùy thuộc vào quá trình tìm tòi sáng tạo ra các bước đi mới khoa học, phù hợp quy luật phát triển chung của nhân loại với các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả. Việc chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp đúng hướng là một trong những nhân tố góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhanh chóng đưa nước ta tới dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh tiến bộ. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Báo cáo quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội tỉnh Kiên Giang thời kỳ 1996 - 2010. UBND tỉnh Kiên Giang, 1995. Chương trình của an ninh lương thực tỉnh Kiên Giang đến năm 2010. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Kiên Giang, 1999. Dự thảo đề án công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn thời kỳ 1998 -2020. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 1998. Đảng Cộng sản Việt Nam, Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2000. Nxb Sự thật, Hà Nội 1991. Đề án chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn tỉnh Kiên Giang đến năm 2010. UBND tỉnh Kiên Giang, 1999. Nguyễn Điền. Công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn các nước châu Á và Việt Nam. Nxb Chính trị Quốc gia, 1990. Định hướng phát triển nông nghiệp giai đoạn 1996-2000 và 2010 tỉnh Kiên Giang. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Kiên Giang, 1995. Đổi mới và phát triển nông nghiệp nông thôn. Nxb Nông nghiệp, 1996. Đổi mới và hoàn thiện một số chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 1996. Đông Á con đường dẫn đến phục hồi. Nxb Chính trị Quốc gia, 1999. Hoàng Hải. Nông nghiệp Châu Á, những kinh nghiệm phát triển. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1996. Chử Văn Lâm. Những vấn đề kinh tế cơ bản trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1991. V.I. Lênin. Toàn tập. Vấn đề ruộng đất và những kẻ phê phán Mác, tập 5. Nxb Tiến bộ Matxcơva, 1975. Các- Mác. Tư Bản, quyển 3, tập 1. Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1993. Các Mác. Tư Bản, quyển 1, tập 2. Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1993. Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 8. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 328. Một số vấn đề then chốt, cấp bách thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và nông thôn của Ban Kinh tế Trung ương. Nguyễn Thế Nhã. Những vấn đề lý luận cơ bản về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, Hà Nội, 1996. Nguyễn Thế Nhã, Hoàng Văn Hoa. Vai trò Nhà nước trong phát triển nông nghiệp Thái Lan, Nhà xuất bản nông nghiệp 1995. Nghị quyết 06 / NQ-TW ngày 10/11/1998 của Bộ Chính trị về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn. Nguyễn Xuân Nguyên. Khuynh hướng phân hóa hộ nông dân trong phát triển sản xuất hàng hóa. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995. Niên giám thống kê tỉnh Kiên Giang năm 1996, 1997, 1998 của Cục Thống Kê tỉnh Kiên Giang. Nguyễn Huy Oánh. Kinh tế trang trại với vấn đề thực hiện CNTB Nhà nước trong nông nghiệp. Tạp chí NCKT, số 5 năm 1998. Vũ Văn Phúc. Một số vấn đề công nghiệp hóa hiện đại hóa nông thôn. Tạp chí Nghiên cứu trao đổi số 7, tháng 4-1999. Chu Hữu Quý. Phát triển toàn diện kinh tế nông thôn, nông nghiệp Việt Nam. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996. Tài liệu tập huấn phát triển nông nghiệp và nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tập I, II. Nxb Chính trị Quốc gia 1998. Hữu Thọ. Một số vấn đề quan trọng đối với nông nghiệp và nông thôn và nhiệm vụ công tác tư tưởng. Tạp chí Công tác tư tưởng văn hóa. Thúc đẩy phát triển nông thôn Việt Nam từ viễn cảnh tới hành động; Việt Nam vượt lên thử thách. Báo cáo của Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam, ngày 7-8 tháng 12-1998. Nguyễn Văn Tiêm. Chính sách Nhà nước đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp nông thôn ở nước ta. Hội thảo khoa học về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Việt Nam, 1994. Đào Thế Tuấn. Những lý thuyết về kinh tế nông thôn. Tạp chí thông tin lý luận, tháng 11-1991. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1986. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996. Văn kiện Đại hội Đại biểu tỉnh Kiên Giang lần thứ VI. ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docLUANVAN.DOC
Tài liệu liên quan